Rồng Tiên lược truyện

104. SƠN TINH THỦY TINH

Vào những thập niên cuối niên đại Hùng Vương, không biết bao nhiêu chuyện xảy ra, không những chiến tranh loạn lạc, mà nơi triều đình thời bè phái đấu đá nhau, tranh giành quyền lực cũng như bất đồng chính kiến. Còn đường tình duyên thời lắm chuyện ly kỳ xảy ra, nào là Chữ Đồng Tử, nào là Mai An Tim. Nhưng ở đây chỉ kể về câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh.

– Trước công nguyên 270 tại nơi làng chài Hải Nam, xã Đức Minh, Châu Ninh Hải. Có cặp vợ chồng làm nghề chài lưới, sinh được một người con trai đặt tên là Thủy Tinh, vì khi Bà mang thai thấy một người từ dưới nước bay lên nói Ta là Thủy Tinh. Nên Ông Bà chài lưới đặt tên cho con là Thủy Tinh.

– Thủy Tinh lớn lên lặng dưới nước còn hơn loài rái có khi lặng cả buổi trời mới trồi lên, Ông Bà chái lưới từ đó cá ăn không hết còn dư đem bán mua những thứ khác gia đình trở nên ăn no mặc ấm không thua kém gì những gia đình khấm khá ở làng chài. Thủy Tinh càng lớn càng khôi ngô tuấn tú năm 17 tuổi Thủy Tinh đang lặng xuống sông thời thấy một người mặt Rồng hiện ra, con hãy theo Ta. Thủy Tinh liền theo người mặt Rồng đến một cung điện dưới thủy cung.

– Ở nơi đây có đầy đủ quân binh, binh tôm, tướng cá, nghêu, sò, ốc, hến, Tướng cá mập, tướng cá Xà nhìn cung điện, cũng như đủ loại quân binh thời ai cũng biết chính là vua Thủy Tề nơi Nam Hải.

– Ở cung Thủy Tề Nam Hải, Thủy Tinh được vua Thủy Tề truyền dạy cho pháp thuật thần thông, hơn năm thời trở lại dương trần trở về xóm chài.

Nói về hai Ông Bà làng chài tưởng Thủy Tinh chết rồi, phần nhớ con phần tuổi già hai vợ chồng sinh bệnh rồi qua đời. Thủy tinh trở về thấy không còn Cha Mẹ liền chu du dưới lòng sông đáy biển.

– Cùng thời ấy ở làng Tản Sơn, Huyện Hòa Viên, Hà Châu, có vợ chồng tiều phu nghèo nhưng ăn ở có đức Ông Bà họ Nguyễn. Bà tiều nằm mộng thấy một vị Thần oai phong khôi ngô tuấn tú nói rằng Ta sẽ làm con Bà. Ta là Sơn Tinh. Từ đó Bà Tiều Phu mang thai, rồi sanh ra một cậu con trai đặt tên là Sơn Tinh.

– Sơn Tinh càng lớn càng khôi ngô tuấn tú sức mạnh như hổ như voi một mình làm bằng ba bốn người từ đó gạo nấu dư thừa đồ ăn thức uống lúc nào cũng có trong nhà Ông Bà tiều phu nhàn hạ không còn lo gì nữa. Năm Sơn Tinh lên 15 tuổi bị một trận gió cuốn đi đâu mất sau mới biết thì ra được một vị Tiên Ông đưa đi đến đỉnh núi Trung Sơn truyền dạy cho pháp thuật thần thông, võ công tâm pháp thượng thừa. Sau ba năm tu luyện thành tài. Tiên Ông nói Ta ở trên cung Trời Đao Lợi Thiên có cơ duyên với con nên Ta mới xuống trần truyền thụ võ công và pháp thuật cho con, nói xong thời Tiên Ông biến mất.

– Nói về Ông Bà tiều phu họ Nguyễn sinh con đã muộn khi Sơn Tinh 15 tuổi Ông Bà tiều phu cũng đã già thấy Sơn Tinh bị một trận gió lạ đưa đi đâu mất hơn một năm không thấy biệt tăm biệt tích buồn thương nhớ con lâm bệnh mà qua đời. Sơn Tinh trở về thời thấy mồ mả Cha Mẹ mọc cỏ đã xanh. Bằng bỏ nhà lên vùng núi ba vì sanh sống, làm bạn với gió núi, mưa rừng. Bầu bạn với thú cầm chim muôn suối, thác.

– Ở vào thời ấy Vua Hùng Vương thứ 18 Hùng Duệ Vương đời cuối của Niên Đại Hùng Vương, Hùng Duệ Vương có một người con trai nhưng chết yểu năm 14 tuổi. Hùng Duệ Vương không còn con trai nối dõi, còn lại hai người con gái xinh đẹp hai Mẹ khác nhau. Tiên Dung lớn tuổi hơn gọi là chị. Kết duyên cùng Chử Đồng Tử.

Mị Nương nhan sắc đẹp tuyệt trần, không thua gì Tiên Dung. Tiên Dung vì ưng Chử Đồng Tử không còn trở về cung, chỉ còn lại Mị Nương. Hùng Duệ Vương thương yêu hết mực, Mị Dung muốn gì được nấy. Hùng Duệ Vương muốn tìm một người chồng cho Mị Nương thật xứng đáng, liền ra thông cáo kén rể truyền đi khắp nơi khắp chốn. Tin kén rể lọt vào lỗ tai hai chàng trai tài giỏi Thần Thông Pháp Thuật Võ Nghệ Cao Cường.

– Hai chàng trai liền đến cầu hôn Vua Hùng hỏi danh tánh, tên họ là gì ở đâu?

Thủy Tinh quỳ lạy tấu trước Thưa Quốc Vương Thần là Thủy Tinh quê ở Làng Chài Hải Môn.

Đến lượt Sơn Tinh, Sơn Tinh quỳ lạy tâu rằng Thần là Sơn Tinh quê ở Tản Sơn, Huyện Hòa Viên, Hà Châu. Vua Hùng hỏi hai chàng trai có tài gì?

Thủy Tinh tâu trước bằng nói. Thưa Quốc Vương Bệ Hạ Thần có thể làm cho nước dâng lên tràn ngập hết thảy. Kéo mây kéo gió, sấm sét ầm ầm, mưa xuống như trút chỉ trong chốc lát là trôi sạch nhà cửa. Thủy Tinh nói xong thời chỉ tay lên trời niệm chú tức thời mây đen kéo tới che phủ cả bầu trời. Thủy Tinh chỉ tay thêm cái nữa tức thời sấm sét nổi lên đùng đùng làm cho cả triều thần khiếp kinh hồn vía. Thủy Tinh phất tay một cái tức thời mưa như trút xu, mang theo gió bão kinh hồn chỉ trong vòng tích tắc ngập bờ ngập sá nước càng lúc càng dâng cao. Vua Hùng thấy thế lấy làm vừa lòng nhưng sợ nước dâng cao ngập tràn chết dân, cũng như nhà cửa, gà, vịt, heo, dê, trâu, bò trôi hết. Bằng nói bấy nhiêu đó là đủ chàng trai thâu phép lại đi. Thủy Tinh liền phất tay một cái tức thời trời quang mây tạnh, mặt trời ló dạng ánh nắng tràn về không còn mưa gió gì nữa. Ai nấy cũng làm khiếp sợ tài phép của Thủy Tinh.

– Vua Hùng nhìn Sơn Tinh rồi hỏi chàng trai có tài phép gì? Sơn Tinh quỳ xuống tâu rằng Thần chỉ cần phất tay một cái, tức thời biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay một cái là mọc lên hàng dãy núi, Sơn Tinh nói xong liền phất tay về hướng đông thời kỳ diệu thay biến thành đồng lúa xanh bát ngát, chỉ tay về hướng tây tức thời núi non mọc lên san sát, Vua Hùng nhìn thấy cũng phải hãi kinh, bằng nói thôi dừng lại Ta nhìn thấy tài của Sơn Tinh rồi.

– Vua Hùng nói hai chàng trai không ai tài hơn ai Một là Chúa miền non cao. Một là Chúa của vùng nước thẩm. Cả hai đều xứng đáng làm con rể của Ta.

Hùng Duệ Vương rất khó chọn lựa, không biết chọn người nào, nhận lời ai, từ chối ai.

– Hùng Vương cho mời các quan Lạc Hầu. Lạc Tướng, Lạc Vương, bàn luận tìm ra kế sách ai làm phò mã. Cuối cùng cũng tìm ra kế sách các quan Lạc Hầu, Lạc Tướng, Lạc Vương tâu rằng.

– Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ: Bệ Hạ hạ chỉ ngày mai, nếu ai đem đồ sánh lễ đến đây trước, sánh lễ gồm một trăm ván cơm nếp, hai trăm cặp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi thời được rước dâu về.

– Trời vừa hừng đông Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước lúc mặt trời chưa lên tỏa ánh dương quang. Và được phép đưa Mị Nương về núi.

– Thủy Tinh đến sau chậm hơn vài ba mươi phút, nghe Sơn Tinh rước mất Mị Nương. Bằng nổi giận đùng đùng đem quân đuổi theo đòi cướp lại Mị Nương. Thế là trận giao tranh xảy ra kinh hồn bạt vía

– Thủy Tinh hô mưa gọi gió cuồng phong bão tố mưa trút xuống không ngớt, sấm sét kinh hồn chuyển trời rung đất, nước dâng lên cuồn cuộn sóng vỗ ầm ầm binh tôm tướng cá thét gào rền trời rền đất.

Về sau có thơ rằng:

Thủy Tinh đến sau mất vợ

Nổi giận đùng đùng

Đưa quân rượt đuổi đánh liền Sơn Tinh

Thế là trận đánh xảy ra

Thủy Tinh hóa phép gió mưa ầm ầm

Sấm rền sét nổ vang trời

Nước dâng cuồn cuộn ngập tràn núi non

Nhà cửa xóm làng vùi chôn

Trâu, bò, gà, vịt trôi đi chẳng còn

Mây đen phủ khắp bịt bùng

Binh tôn tướng cá sáng ngời gươm đao

Cá xà cá mập ốc, ngao

Tấn công lớp lớp xiết bao kinh hồn

Cát bay đá chạy mịt mù

Khắp nơi cây cối đổ nhào ngã lăn

Thần thông pháp thuật Thủy Tinh

Mấy ai chống nổi khiếp kinh tiêu đời.

Nói về Sơn Tinh tới trước rước được vợ, đưa Mị Nương về núi đi chưa được bao xa, thời nghe quân binh từ xa rượt tới mây đen che kín phủ khắp bầu trời. Mưa bão nổi lên ầm ầm. Trước cũng nước mà sau cũng nước, binh tôm tướng cá thi nhau lao tới, gươm đao loang loáng nhìn thấy khiếp kinh. Sơn Tinh không hề nao núng tay bắt ấn miệng lâm râm niệm chú, dùng pháp di sơn dời từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ, hóa phép hổ, báo, hiện ra, xé xác binh tôm tướng cá, đại bàng chim điểu, diều hâu, bay chật kín bầu trời từ trên không lao xuống mổ nuốt quân Thủy Tề, hai bên giao tranh ác liệt. Nước dân cao bao nhiêu, thời núi non mọc cao lên bấy nhiêu.

Về sau có thơ rằng:

Được vợ nào chịu thua ai

Không hề nao núng ra tay trổ tài

Hóa phép hổ báo khắp cùng

Đại bàng, chim điểu nào là diều hâu

Lao vào ăn nuốt cá tôm

Nghêu sò, ốc, hến, cũng như mập xà

Di sơn chận nước khắp cùng

Núi cao chót vót nước đành phải thua

Giao tranh tới bảy ngày đêm

Thủy Tinh thua cuộc hết mong tranh giành

Thủy Tinh lòng giận vô cùng

Thường gây lụt bão trả thù Sơn Tinh

Sơn Tinh dẫn Mị Nương về núi sống với nhau hạnh phúc. Không bao lâu Hùng Duệ Vương kêu Sơn Tinh về nhường ngôi. Sơn Tinh còn có bí danh là Nguyễn Tuấn. Sơn Tinh họ Nguyễn lại khôi ngô tuấn tú. Nên có bí danh là Nguyễn Tuấn.

– Nguyễn Tuấn hiểu rõ Huyền Cơ niên đại Hùng Vương sắp đi vào kết thúc. Nên không tranh giành với Thục Phán. Vì lúc đó Thục Phán có nhà Khoa Học là Cao Lỗi đã tìm ra bí pháp luyện kim thời dựng nước chế tạo ra những mũi tên thép bắn xuyên thủng áo giáp. Đó cũng là Ý Trời. Nên Nguyễn Tuấn, không chịu tiếp nhận sự nhường ngôi của Vua Hùng, mà chỉ sống với vợ là Mị Nương hai người cùng tu tiên học đạo, không bao lâu thời vợ chồng Nguyễn Tuấn bay về trời. Đi theo con đường của vợ chồng Chử Đồng Tử.

– Về sau dân chúng suy tôn Sơn Tinh Nguyễn Tuấn là Tản Viên Sơn Thánh.
 
105. CÂU CHUYỆN TÂM ĐIỀN

Ngày xửa ngày xưa có một vị Thiền Sư tên là Văn Ba, tu hành đắc Đạo thu nhận được ba người đệ tử đều là bậc kỳ tài. Người đệ tử lớn tên là Chu Thông, người đệ tử kế tên là Tử Nho, người đệ tử thứ ba tên là Ái Nhu.

– Thiền Sư Văn Ba thường dạy với các đệ tử rằng. Tâm con người chính là Tâm Điền. Ví như cánh đồng rộng lớn, nếu biết canh tác gieo trồng. Nhất là chọn giống tốt chất lượng cao thời các con sẽ giàu to muốn gì được nấy.

– Còn như biếng nhác không gieo trồng gì cả, để cỏ dại mọc lên, thời các con phải chịu cảnh nghèo đói, thành ruộng hoang uổng phí biết là bao.

– Còn ra sức gieo trồng mà không phân biệt được giống nào tốt giống nào xấu cứ gieo bừa vào cánh đồng, ra công sức thời nhiều nhưng đến khi gặt hái thời rất thấp. Có khi mất trắng trở thành công cốc, khổ cực tốn kém mà chẳng được gì. Thiền Sư Văn Ba dạy thời nhiều nhưng chính yếu vẫn là Tâm Điền. Thiền Sư Văn Ba nhìn ba người đệ tử nói các con đã thành tài tự mình chọn cho mình một hướng đi, theo sự hiểu biết của các con. Ba đệ tử lạy Thầy rồi xuống núi mỗi người đi mỗi ngã luôn ghi nhớ lời thầy dạy, chú trọng vào Tâm Điền.

– Người đệ tử lớn tên là Chu Thông hiểu rõ lời Thầy dạy nên chọn những hạt giống có chất lượng gieo vào Tâm Điền những hạt giống Thiên Ý tức là Văn Hóa Cội Nguồn. Hạt Giống Kinh, Thơ, Văn, Sử, Triết, Truyện. Hiến Pháp Luật Tạng, Giới Đức Đại Thừa ra sức học hành nghiên cứu không mệt mỏi hầu làm cho Tâm Điền của mình về sau kết trái đơm hoa rực rỡ.

– Người đệ tử thứ hai tên là Tử Nho vốn ưa thích Pháp Thuật Thần Thông, cũng như sự linh ứng nhiệm mầu nên chọn những hạt giống bùa chú gieo vào Tâm Điền của mình, sự vọng cầu chứng đắc.

– Còn người để tử thứ ba tên là Ái Nhu xu hướng theo vật chất tham gia đảng phái, gieo trong Tâm Điền những sự cạnh tranh, ác, thiện lẫn lộn tuy làm quan tới hàng Bộ Trưởng, nhưng nói đến phúc quả thời chẳng được là bao.

– Nói về Chu Thông gieo trong Tâm Điền những hạt giống Thiên Ý. Một màu xanh Âm Đức tràn ngập linh hồn, đi tới đâu cũng được Hộ Pháp Long Thần hộ trì che chở, Cha Mẹ Trời thường phù hộ vượt qua tất cả những chướng ngại gặp toàn những chuyện may mắn trong đời. Nhờ gieo trồng trong Tâm Điền Văn Hóa Cội Nguồn Kinh, Thơ, Văn, Sử, Triết, Truyện, những hạt giống Thiên Ý đã mọc lên thành rừng kim cương ngọc ngà châu báu. Kết tụ thành dòng cam lộ nước thánh. Nên Chu Thông nói tới đâu người ta hiểu đến đó độ người vô số, danh tiếng lẫy lừng.

– Một hôm có một tên Quan nổi tiếng là hách dịch, mời Chu Thông đến với lời xúc phạm. Chu Thông chẳng giận lại nói có phúc mới được làm Quan, nhưng phúc đức không phải tự nhiên mà có, phải làm phước giúp người mới có, đã không làm ra phúc đức mà tiêu xài quá lớn. Hết phúc thời tai họa theo đó hiện ra, không mời không biểu nói cứ lết la đeo bám người hết phúc, gây ra bao phiền phức cũng như hiểm họa khôn lường. Nảy giờ quan hù dọa chửi mắng tôi, theo luật chửi một người không tu thời tội 10, chửi một người tu thời tội 100, chửi một người hành sự theo Thiên Ý thời tội lên đến 1000, có nghĩa tự nảy giờ quan đã làm tổ đức cho mình biết là bao.

Ở đời sự tổn đức cao nhất chính là bất hiếu với Cha Mẹ. Cũng như xem thường Trời không coi Trời ra gì thời dù cho phúc đức như núi thời Quan cũng xài nhanh hết trong bỗng chốc liền tiêu tan theo mây khói. Phúc hết thời họa ập đến rất nhanh. Cây cỏ do Trời tạo lúa gạo cũng do Trời sanh. Không khí, nước uống, đất đai, mây gió những thứ đó đều là của Trời. Kinh trời thời Trời lấy lại tất cả,

Tôi nói ra đây không phải là đặc điều. Vì trên đầu chúng Ta là Trời dưới chân Ta là Đất. Mỗi lời nói ra Trời Đất đều nghe thấy. Nếu Quan không từ bỏ những lời phỉ báng Thiên Ý thời tai họa nhất định phải đến không sớm thời chầy mà thôi. Vị Quan nghe xong sừng sộ đòi bắt nhốt Chu Thông. Tao là Trời, Trời là Tao. Tao muốn trắng là trắng, Tao muốn đen là đen. Tao cấm truyền Thiên Ý nếu còn tái phạm thời ở tù mọt gông.

Chu Thông ra về nghĩ thương cho vị Quan ngu si đần độn dựa hơi chút Quan coi Trời bằng nắp vung. Được mấy hôm nghe đâu vị Quan hách dịch không biết ai xui khiến ký chú sai sót đi đến phạm pháp, có công văn đình chỉ công tác đuổi cổ về dân còn may đi tù nữa là khác, xưa nay ỷ quyền ỷ thế muốn làm gì thời làm, nay chẳng còn gì tự treo cổ nơi cơ quan mà chết. Những người hùa theo Quan không hiểu vì sao có người trào máu họng rồi đời, có người bị đuổi cổ về vườn, trở thành điên điên khùng khùng mách mách, trước đây thấy dân làm như cọp sói, giờ thấy dân như con chuột thấy mèo khép nép sợ hãi, hậu quả của hành ác đương nhiên tai ương sẽ tới, nhất là phỉ báng Ông Trời, xem thường Thiên Ý. Ông Trời chưa làm việc thời Thiên Thần, Địa Thần Hộ Pháp đã ra tay.

Về sau có thơ rằng:

Chống ai không chống, chống Ông Trời

Phước đức chẳng còn, họa đến rất nhanh

Trên đầu thời có Trời xanh

Dưới đất thời có Thần Linh khắp cùng

Mấy ai lạm dụng chức quyền

Xem thường Trời, Đất lên đời mấy ai

Luật Trời Thiên Ý Hóa Công

Làm đều bất chính hết mong an lành

Nhất là phá hoại Cội Nguồn

Tiêu tan cơ nghiệp đọa đày hồn Linh

Cũng do nhạo bán Thơ, Kinh

Tự mình treo cổ đi tiêu xác hồn

Họa tai khắp lối khắp cùng

Phúc đà cạn kiệt khó mòng bình yên

Tai ương dồn dập triền miên

Không người che chở đi tiêu cuộc đời

Xem thường nhạo bán Ông Trời

Kết cuộc thê thảm rồi đời con ma

Nói về người đệ tử thứ hai là Tử Nho gieo vào Tâm Điền của mình những hạt giống bùa chú vọng cầu chứng đắc, cứu nhân độ thế bằng sự linh ứng của bùa phép trở thành Thầy Pháp, tuy được nhiều người sùng kính, tiền của ăn không hết, nhưng trong Tâm Điền của Tử Nho không phải là cánh đồng màu mở sự đơm hoa kết trái của hạt giống bùa chú vọng cầu chỉ là quả bạc quả đồng, không phải là quả vàng quả kim cương như Chu Thông. Phần nhiều làm cho con người trở thành mê tín dị đoan. Nên độ người chẳng được bao nhiêu.

– Nói về đệ tử thứ ba là Ái Nhu, gieo trong Tâm Thức của mình, những hạt giống tranh bá, thắng là vua thua là giặc, mưu mô tính toán những sự bất chính trái Lương Tâm. Trước mắt là có quyền có thế trở thành giàu có, ăn sung mặc sướng, tiền hô hậu ủng bề thế chẳng ai bằng. Nhưng, gieo hạt giống Thiện Lành trong Tâm Điền chẳng được là bao, đi tới đâu cũng tom góp đô la, ngà voi, sừng tê giác, chim trỉ trắng, gà chín cựa. Những hạt giống Tâm Thức trong Tâm Điền toàn là tham lam không có giá trị cho sự giải thoát. Lẫn quẩn trong đường sanh tử.

– Một hôm ba người học trò về thăm Văn Ba Sư Phụ. Văn Ba Sư Phụ nhìn ba đệ tử người nào cũng nên danh rực rỡ thời lấy làm mừng nói không uổng công thầy dạy bảo bấy lâu. Ba người học trò liền hỏi về tương lai của mình, Thiền Sư Văn Ba liền nhập thiền xem ba đệ tử gieo những gì trong Tâm Điền của mình. Thiền Sư Văn Ba xem xong rồi nói. Các con gieo trong Tâm Điền mình mỗi người mỗi khác, nói về sự gặt hái hiện tại thời Ái Nhu là thành tựu hơn hết. Với con mắt đời thời ai cũng phải thừa nhận Ái Nhu thành đạt địa vị công danh rất cao. Nhưng đó là chỉ nói nơi trần gian. Còn sau khi mãn trần Linh Hồn nhận lãnh được gì thời theo Luật gieo trồng gieo Nhân kết Quả mà thọ hưởng thiên cơ bất khả lậu không nói được.

– Thầy Văn Ba nhìn Tử Nho rồi nói ở thế gian nầy phần đông là chạy theo bùa chú, cầu sự linh ứng, cũng như quả vị nầy quả vị kia. Sự thành tựu của Tử Nho là thiên hạ bái sống thành công như thế thời chẳng được mấy người. Nhưng ở tương lai đương nhiên sẽ được về trời. Nhưng làm gì trên trời, thiên cơ bất khả lậu không thể nói trước được.

– Thầy Văn Ba nhìn Chu Thông rồi nói, trước mắt hiện tại con hưởng lộc không lớn, có kẻ chê nầy người chê kia, nhưng trong Tâm Điền Con toàn là ngọc ngà, kim cương châu báu. Trong tương lai con giàu lắm, nhưng không phải nơi trần gian mà ở trên cõi Thiên Đàng. Thiên Cơ đâu thể nói nhiều Thầy cho biết bấy nhiêu là được. Đất, Trời tuy rộng lớn nhưng tất cả đều theo Định Luật. Các con gieo trong Tâm Điền những gì thời các con hưởng cái nấy. Có những hạt giống gieo ra thời gặt liền theo đó, như làm quan, làm vua làm chúa chốn nhân gian. Có thứ gieo ra phải chờ thời gian hoặc khi mãn kiếp trần mới được hưởng. Các đệ tử chú ý lắng nghe nhưng không được rõ. Chỉ có Chu Thông là thấy rõ mà thôi.

– Ngày qua tháng lại cái già đã đến không bao lâu bỏ lại xác trần, Ái Nhu Linh Hồn không mang theo được gì của trần trả lại cho trần chỉ là hai bàn tay trắng. Trong khi ấy trong Tâm gieo toàn những hạt giống thất đức. Tuy không đọa đày xuống cõi Âm Ti, ở lại trần gian làm Ma Âm Cảnh, nhờ không làm hại dân hại nước, nên hưởng được sự cúng thí của người trần, chờ nhân duyên đầu thai trở lại làm người hưởng theo phước, họa. Thiện, Ác những gì mình đã gieo ra.

Nói về Tử Nho khi mãn kiếp trần, nơi Tâm Điền gieo trồng bùa chú, vọng cầu sự chứng đắc linh ứng, thường hay giúp người, được siêu sanh về trời, làm Thiên Chúng, thành dân trời như bao người khác, một mình tự hát tự ca, cô đơn trên cõi bao la xứ trời.

– Nói về Chu Thông gieo trong Tâm Điền những hạt giống có chất lượng hạt giống Kinh, Thơ, Văn, Sử, Triết, Truyện, Hiến Pháp Luật Tạng. Giới Đức Thượng Thừa. Toàn là Thiên Ý lời dạy Cha Trời. Một màu xanh Âm Đức tràn ngập Linh Hồn, kết thành dòng cam lộ nhiệm mầu. Chu Thông độ người vô số. Mãn kiếp trần siêu sanh Thiên Giới làm Vua một cõi trời. Thiên Chúng Chư Thiên đông vô số vô biên.

Thơ rằng:

Thiên Ý Cội Nguồn

Văn Thơ của Trời

Gieo vào Tâm Điền

Mọc lên cánh đồng châu báu

Hào quang tỏa sáng

Phúc Đức Phước Báo không thể nghĩ bàn

Mãn trần về trời

Làm Vua làm chúa uy quyền oai linh

Cõi nước châu báu trang nghiêm

Vĩnh hằng sống mãi ở trên cõi trời
 
106. PHƯỚC HỌA DO MÌNH

Ngày xưa có một người làm quan tên là Nhạo, làm đủ thứ điều ác vợ ông Ngạo là Bà Hậu khuyên can không nên làm nhiều chuyện thất đức. Ông Nhạo không nghe mà còn rầy la Bà Hậu, thiệt thà như Bà hạt muối cũng không có ăn nói gì đến cơm với cá. Từ khi Ông Nhạo làm quan đến giờ nào là tham nhũng tham ô, nào là móc ngoặc tay trong tay ngoài, nào là lạm dụng chức quyền ký chú không nằm trong chủ trương chính sách, ăn tiền chạy chọt đút lót, tiền quà cáp, tiền biếu thi nhau lũ lược chảy vào túi bầy bầy, lại hay bài bác những người hành thiện, cho những người hành thiện là một lũ ngu. 20 năm làm đủ chuyện ác nhưng nào có sao đâu.

– Một hôm Ông nhìn Bà Hậu rồi nói tu như bà thời được cái gì thằng Dậu nó theo Bà thời coi như đời nó chấm hết. Bà coi con Liên, thằng Quan, thằng Quản đi theo chí hướng của tôi đứa nào đứa nấy thi nhau hốt của.

– Xưa theo Phật coi bộ chưa đã, nay Bà lại tin theo Văn Hóa Cội Nguồn suốt ngày mê say đọc tụng kinh thơ, tổ chỉ làm khổ thân Bà thôi. Bà Hậu nghe chồng bài xích Văn Hóa Cội Nguồn thời sợ hãi nói tôi xin Ông, Ông đừng có xúc phạm đến Văn Hóa Cội Nguồn vì Văn Hóa Cội Nguồn chính là Văn Hóa Thiên Ý. Ông bài xích Phật thời Phật không làm gì được Ông, còn bài xích Văn Hóa Cội Nguồn thời lại là một chuyện khác tai họa ập xuống tình lình không ai cứu nổi.

Ông Nhạo cười châm biếm nói tôi xúc phạm đó thời ai làm gì được tôi. Bà Hậu nói với chức quan của Ông chưa phải là Vua, dù cho Vua quyền lực to lớn đến đâu mà xem thường phỉ báng Văn Hóa Cội Nguồn thời không sao tránh khỏi tai họa.

Văn Hóa Cội Nguồn chính là Văn Hóa Thiên Ý Cha Trời. do Anh Linh Huệ Mạng Quốc Tổ thừa hành nói ra, phạm vào Văn Hóa Cội Nguồn là phạm vào Thiên Ý, phước đức mau hết, Quốc Tổ quở phạt, Hồn Thiên Dân Tộc nhà nước tâm linh Văn Lang giáng họa. Thần, Thánh chẳng để yên cho Ông. Ông Nhạo chồng Bà hậu nghe Bà Hậu nói thế thấy trong người hơi ớn lạnh. Nhưng ngoài mặt vẫn làm cứng nói tôi không sợ.

– Qua mấy bửa sau Ông Nhạo đang đi trong nhà bỗng nổi lên choáng váng quay đòng đòng đánh đầu xuống nền nhà cái rầm, lăn đùng ra bất tỉnh. Thời ôi thôi tê liệt nửa thân người, nằm hết bệnh viện nầy đến bệnh viện kia chẳng hề thiên giảm. Trong nháy mắt quyền lực tan theo mây khói chẳng còn, chẳng thấy con ma nào đến thăm, trước đây thời chúng nó quỳ lạy từ ngoài sân vào nhà. Mình chưa nói gì chúng thi nhau đưa phong bì mà đút lót. Đến bây giờ mới biết tiền vô như nước đâu không thấy. Mà chỉ thấy ăn uống đái ỉa đều nhờ Bà Hậu và thằng Dậu luôn bên cạnh không nề khổ nhọc hết lòng chăm sóc. Còn Liên, Quan, Quản, tới nhìn Cha hỏi qua loa rồi bỏ đi nói là đang bận việc.

– Ông Nhạo lúc nầy mới suy nghĩ nhớ lại những gì Bà Hậu nói càng nghĩ càng thêm sợ. Còn khỏe mạnh thời cậy quyền cậy chức, dưới con mắt xem ai chẳng ra gì, kể cả Thánh Thần cũng xem thường nốt. Đến khi ngã bệnh quyền thế biến mất bất lực nằm một chỗ, con ruồi cũng đuổi không nổi, đến lúc nầy mới biết chức danh quyền lực chỉ là hư ảo. Chỉ cần đột quỵ là nó biến mất không còn. Ông Nhạo lẩm bẩm thế là hết đời đã tàn, đến lúc nầy tiền vô túi bầy bầy đâu không thấy mà thấy tiền ra như nước lũ một mũi thuốc chích tiền triệu, đến vài triệu.

Ông Nhạo tuy hai tay cử động được, như ăn phải nhờ người ta đút. Miệng nói lơ lớ Ông nói con gà người ta tưởng là Ông nói con vịt. Quan và Quản lại đến thăm Ông nhìn thấy không có Bà Hậu, chỉ có Dậu, bằng hỏi Mẹ đi đâu rồi Dậu. Dậu thật thà nói. Mẹ đi đến đền thờ cầu nguyện xin Trời Phật, Hồn Thiên Dân Tộc phù hộ cũng như tha tội phỉ bán của Cha.

Quan, Quản, nghe xong nói Mẹ lúc nào cũng làm những chuyện không đâu. Ở vào thời đại ngày nay chứng bệnh đột quỵ là chuyện thường, Phật, Trời nào làm chuyện đó cầu xin vô ích. Ông Nhạo nghe Quan và Quản nói thế trong lòng lấy làm kinh hãi miệng lơ lớ nói. Hai con không nên đụng tới Văn Hóa Cội Nguồn. Quan và Quản tưởng Cha dặn rằng là không tin Văn Hóa Cội Nguồn. Bằng nói Cha yên trí đi Cội Nguồn là cái gì mà con phải tin theo. Ông Nhạo nghe Quan, và Quản nói thế liền tái mặt sợ hãi miệng nói lơ lớ tiếng được tiếng mất.

Lúc ấy Bà Hậu cũng đã về nhìn thấy mặt mày Ông Thâm tái miệng lơ lớ nói bà không biết Ổng nói gì. Quan và Quản nói Cha khuyên chúng con không nên tin theo Văn Hóa Cội Nguồn. Bà Hậu nghe xong thời sững sờ nhìn Ông Nhạo lắc đầu rồi nói, Ông nói với các con như vậy sao? Ông Nhạo lắc đầu như nói rằng mình không nói thế mà là nói khác.

– Quan và Quản nói Mẹ lúc nào cũng tin sự linh thiêng của ông nầy bà nọ còn chúng con thời không tin những ch.uyện ấy chỉ tin theo những gì mình làm, sống mà không có mưu mô thời tiền của lấy đâu vô mà tiêu xài ăn sung mặc sướng.

Bà Hậu nghe Quan, Quản nói thế thời la rầy, im cái miệng lại cho tao nhờ, hai đứa mầy có thấy Cha mầy không, nghiệp cũng từ miệng mà ra, họa cũng từ miệng mà vào. Gieo nhân nào thời gặt quả nấy. Nhạo báng Ông Cha Ác khẩu sanh ra thời bình yên làm sao được.

Ông Nhạo giờ đây đã tin nhân quả cũng như tin sự linh thiên của Văn Hóa Cội Nguồn nhưng đã muộn màng vì tai họa đã ập đến. Ông ráng ra sức lơ lớ nói với Quan và Quản không nên xem thường Văn Hóa Cội Nguồn tai họa sẽ ập đến hãy tin lời Mẹ con nói.

Nhưng miệng Ông không theo ý Ông lơ lớ nói các con hãy ném mấy quyển kinh thơ vào sọt rác. Bà Hậu nghe xong thời mặc mày tái mét la rầy Ông Nhạo. Ông đã nằm liệt gi.ường mà còn chưa tỉnh ngộ sao? Quan và Quản nói Mẹ thấy chưa Cha nào có tin, con phải học theo lòng kiên định của Cha dù nằm liệt gi.ường cũng vậy mà thôi.

– Ông Nhạo nghe Quan, và Quản nói thế lòng hoang mang sợ hãi vô cùng cứ lắc đầu thở dài.

Dậu là người tinh ý biết là lời nói của Cha có vấn đề liền đưa cây viết cho Cha, Cha muốn nói gì thời viết ra đây. Ông ra ni biểu đỡ mình ngồi dậy Ông viết liền một hơi đưa cho Bà Hậu. Ông nói rằng không hiểu vì sao tôi muốn nói con gà, nhưng khi nói ra là con vịt. Tôi khuyên Quan và Quản không nên phỉ báng Văn Hóa Cội Nguồn, nhưng miệng lại nói ra là không tin Cội Nguồn. Nên chúng nó mới hiểu lầm lời nói của tôi. Quan và Quản trong lúc Ông Nhạo đang viết thời đã ra khỏi phòng viện lý do là có công việc gấp. Bà Hậu chỉ biết thở dài ra là thế Trời đã khốp họng, ý muốn nói cái nầy nhưng miệng lại nói ra cái kia. Có lẽ nằm viện đã ớn, Ông Nhạo đòi về nhà.

– Ông Nhạo về nhà chưa lâu, Bà Hậu đang chăm sóc cho chồng nghe điện thoại reo. Bà Hậu bắt điện thoại A Lô nghe đây. Mẹ đó hả tiếng nói của Liên, thằng Quan bị tai nạn rồi đã chuyển vào bệnh viện sống chết chưa rõ. Bà Hậu tái mặt hốt hoảng trời ơi là trời. Ông Nhạo mở mắt ra hỏi chuyện gì vậy. Bà Hậu hớt ha hớt hãi nói thằng Quan bị tai nạn rồi chưa biết sống chết ra sao. Tiếng điện thoại lại reo Bà Hậu hồi hộp hỏi nó sao rồi, bên kia đầu điện thoại Liên nói Quan đã qua khỏi cơn nguy kịch, nhưng xét nghiệm máu bị dương tính HiV bị sê đa rồi. Bà Hậu rụng rời tay chân như muốn quỵ xuống. Ông Nhạo lúc đó cũng nghe như muốn ngừng thở thều thào nói tai họa ập đến rồi.

– Ông Nhạo giờ đây vô cùng thấm thía hồi nào sừng sộ ra oai như con hổ, giờ đây con ruồi bâu vào mặt đuổi cũng không nổi còn thua cả con ruồi. Quan bị tai nạn, lòi ra mang bệnh HiV coi như đi tiêu cuộc đời. Bịnh Ông càng thêm nặng lòng đau như xé thấm thía cho cuộc sống ở đời không như mình nghĩ muốn làm gì thời làm. Hậu quả đến rồi dù ăn năn cũng không còn kịp.

điện thoại lại reo lên, Bà Hậu như không muốn nghe, nhưng điện thoại reo mãi không nghe cũng không được, đánh bắt máy lên A Lô A Lô. Bên kia đầu giây không phải là tiếng nói của Liên mà là một người khác. Bà Hậu hỏi ai vậy. Tôi là Cảnh Sát An Ninh, Quản đã bị bắt vì tội làm thất thoát tiền của Nhà Nước. Bà Hậu hốt hoảng la lên trời ơi là trời, tai họa nầy chưa hết, tai họa khác lại ập đến trời ơi là trời. Ông Nhạo tưởng đâu là thằng Quan có vấn đề, bằng hỏi chuyện gì vậy.

– Bà Hậu nói thằng Quản bị bắt rồi cái tội làm thất thoát tiền nhà nước Bà như muốn quỵ xuống. Ông Nhạo miệng thờ lơ lớ không biết nói gì nước mắt chảy ròng ròng. Bỗng nghe tiếng chân vội vàng chạy vào nhà thì ra là Dậu mặt mày tái mét không còn chút máu hớt ha hớt hãi nói Công An đã bao vây nhà mình. Không biết có chuyện gì mà Công An kéo đến nhà bao vây như vậy.

Bà Hậu còn đang ngơ ngác thời đồng chí Công An bước vào nhà đọc lệnh khám xét nhà, lục lạo một hồi lôi ra một đống giấy tờ, liên quan đến nhiều vụ lạm dụng chức quyền ký nhiều giấy tờ liên quan đến làm ăn phi pháp, dính liếu đến vàng, bạc, đô la. Đồng chí Công An đọc lệnh bắt khẩn cấp, nhưng thấy Ông Nhạo nằm bất động trên gi.ường liền cho hai đồng chí Công An hầu hạ moi ra nhiều tội trạng.

Xử luôn một thể.

– Gia đình bỗng chốc trở nên tan nát, đứa thời lây lất, đứa thời vào nhà tù. Đám cưới con Liên bên đàng trai đã hủy bỏ. Họa chồng lên họa, tai chồng lên tai. Rằng đời được có mấy ai. Gieo ác gặt phúc có đâu ở đời. Gieo ác gặt họa sự thường, Bài xích Văn Hóa Cội Nguồn tránh đâu cho khỏi trùng trùng họa tai.

– Gia đình Ông Nhạo trong phút chốc tiêu tan tất cả Ông buồn rầu nếu sống thời cũng vào tù Ông nghẹn ngào bức xúc quá mạnh vốn đã đột quỵ liền trút hơi thở lìa đời.

Ông Nhạo chết chưa đầy năm mươi ngày, thời có lệnh tịch thu gia sản. Bà chị cả là Liên tinh thần suy sụp, nhiều lần đòi tự tử Bà Hậu khuyên can Liên mới tỉnh tâm mà sống.

Ngôi biệt thự to lớn đâu còn Liên liền thuê nơi ở trọ. Quan ra viện điên điên khùng khùng. Quản ngồi trong tù thấm thía việc giàu sang bất chính, làm nhiều điều ác đức bỗng chốc hóa thành mây khói trắng tay.

– Bà Hậu cùng Dậu vào tù ghé thăm, Bà nhìn Quản rồi nói con nên ăn năng sám hối, khinh thường Văn Hóa Cha Ông, trở thành người Bất Trung, Bất Nghĩa, Bất Nhân, phước đức tiêu tan. Hồn Thiêng Dân Tộc, Khí Thiêng sông núi chuyển xoay gián họa. Không tai nạn nầy thời cũng tai nạn khác, đâu phải chết là hết hồn sa đọa âm ti khốn khổ gấp vạn lần tù chốn nhân gian. Nếu con còn bướng bỉnh không tin Văn Hóa Cội Nguồn thời làm thinh chỉ cần nghĩ bậy là họa chồng lên họa. Quản ương bướng nói ở tù rồi còn họa gì nữa. Dậu nghe xong nói anh còn chưa tỉnh thời khó mà được bình yên. Quả đúng như lời Dậu nói Quản bị bọn tù đánh suýt chết, bị bọn tù hành hạ tối ngày bắt đi dọn cầu tiêu dội nước đái. Suốt ngày sống trong sự hôi thúi. Bà Hậu cùng Dậu không đến thăm nữa nên cuộc sống của Quản vô cùng thiếu thốn. Muốn ăn năn sám hối nhưng tất cả đều muộn cả rồi đôi lúc ngồi một mình tủi buồn rơi lệ.

– Nói về Bà Hậu cùng Dậu tìm một nơi ở khác không còn ở trong thành phố. Ra ngoài thành phố mua mấy sào đất rẽ thúi, do ông chủ kẹt tiền bán đổ bán tháo. Bà Hậu nghĩ có sự may mắn nầy là do Hồn Thiêng Dân Tộc phù trì, Cha Trời ban phước chỉ lối, muôn cái may đem đến, nghìn cái lợi bất ngờ, không bao lâu thời nhà nước mở đường ngang qua khu vườn Bà Hậu, đất lên giá vùn vụt một lô đất năm mét ngang cũng được vài tỉ. Bà Hậu bán bớt một lô mua bán kinh doanh làm ăn, nhờ quới nhơn giúp đỡ Bà Hậu giàu lên thấy rõ cửa hàng bảng hiệu thuộc loại tầm cỡ khách ra khách vào xe cộ tấp nập. Chỉ một hai năm Bà xây một ngôi nhà ba tần mô đênh đời mới, sang trọng còn hơn ngôi nhà trước đây Bà ở. Dậu mở công ty chế biến Mì Quảng công nhân có đến mấy trăm.

– Đơn xin làm việc càng lúc càng tăng, một hôm Dậu coi đơn xin việc thấy có tên Liên nghề nghiệp tuổi đều trùng hợp với chị của mình, liền nghi ngờ là chị của mình. Dậu nhận Liên vào làm nhưng không ra mặt. Đứng trên lầu quan sát người đến làm việc chính là Liên. Qua mấy bửa sau thấy người xin việc lái xe cho công ty có tên Quản. Dậu nhận vào làm cũng nhận ra đó là anh quản có lẽ đã ra tù.

– Nói về Liên làm việc cho công ty Thịnh Phúc Liên vốn là người có tài nhưng không gặp thời cái tài cũng đành bỏ xó với cái tài hai bằng đại học kỹ sư hóa, cử Nhân Kinh Tế Liên phát minh ra nhiều phương thứ mới làm cho công ty ngày càng làm ăn phơi phới, vì thế mà lương Liên tăng lên vùn vụt. Tháng lãnh gần trăm triệu đứng đầu trong công ty.

– Nói về Quản vô cùng chịu khó chạy xe cho công ty không quản ngày đêm không đòi hỏi gì, không đòi tăng lương. Làm ở công ty Thịnh Phúc hơn một năm nhưng chưa lần nào Liên và Quản thấy mặt Ông Chủ. Ông Chủ Thịnh Phúc đi đến bằng xe con nên không thể nào nhìn mặt được.

– Một hôm Dậu từ công ty về hai mẹ con ăn cơm vui vẻ Bà Hậu nói thành phố mở rộng thêm quận mới, nhà mình loạt vào trung tâm một lô năm mét thời điểm bữa nay không phải là năm ba tỉ mà là mười tỉ chưa chắc đã bán. Vườn mình còn tới mấy sào đất cái giàu không tưởng chỉ trong vòng có mấy năm. Nghĩ mà xót xa cho các anh chị các con không biết bây giờ lưu lạc nơi đâu. Mẹ có vào trại giam, nhưng trại giam cho biết Quản đã ra tù hơn một năm rồi, không biết giờ nầy nó sống ra làm sao. Còn thằng Quan nữa không biết sống chết ở đâu. Đáng thương cho con Liên tài năng nào phải kém thua ai một thời làm mưa làm gió, bao nhiêu chàng trai chạy theo sốt vó, xui thời bề thế gia đình suy sụp bị chồng bỏ không cưới, thân gái bơ vơ không biết có chồng khác chưa.

– Dậu nghe Mẹ nói thế thời cười anh Ba Quan thời con không biết ở đâu, còn Chị Liên, Anh Quản thời con tìm thấy rồi. Để khi nào con đưa Chị Liên cùng Anh Quản về nhà, nhưng Anh Quản, Chị Liên không tin Văn Hóa Cội Nguồn sợ đưa anh chị về gây thêm buồn phiền, nên con chưa đưa anh chị về nhà đấy thôi, Để con thăm dò thử xem sao, sau đó mới tính.

– Nói về Liên phấn đấu không ngừng nghỉ, thiếu điều leo lên ghế phó giám đốc. Tan sở Liên vội vã về nhà ghé vào một quán bình dân, bữa cơm vô cùng đạm bạc. Liên ăn xong thời vội về nhà. Một chiếc xe con theo sau Liên vào một con hẻm xe con vào không được. Dậu liền tấp ở ngoài đường, cũng may nơi đây vỉa hè đường khá rộng. Dậu đi theo Liên vào một quán trọ giá rất rẻ. Dậu không cầm được giọt nước mắt. Đã từng là quan của một cấp cao ăn trên ngồi trước ở nhà lầu cao cấp, áo quần mặt không hết còn có cả xe con riêng cho mình thế mà giờ đây không thuê nổi nhà ngon để ở. Nhìn kiểu ăn mặc cũng như ăn uống đạm bạc của Chị Liên cũng biết Chị Liên để dành tiền mua một căn nhà để ở. Dậu thở dài quay trở ra lên xe trở về nhà. Thời thấy một xe đang chạy phía trước chính là xe công ty của mình. Dậu theo sau xe quản chạy vào con hẻm lớn dừng lại một căn nhà nhỏ sụp xệ, thời thấy một người con gái từ trong nhà chạy ra hình như là vợ của Quản nói với Quản bà chủ nói nếu còn nợ tiền nhà thời bà chủ lấy lại. Dậu nghe thấy những lời ấy chua xót vô cùng quay xe trở ra.

– Qua ngày hôm sau chờ cho Liên đi làm Dậu liền đến nhà Liên. Chào Bà Chủ chị Liên thuê phòng trọ ở đây phải không ạ. Bà Chủ Nhà nhìn dậu một hồi thấy Dậu ăn mặc lịch sự liền nói phải cô Liên thuê phòng trọ ở đây. Đậu nói tôi là em của Chị Liên từ dưới quê lên Chị Liên thuê nhà ở đây lâu chưa. Bà Chủ nói hơn hai năm rồi Bà Chủ nghe Dậu giới thiệu mình là em của Liên thời mời vào nhà. Dậu vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy Bà Chủ thờ Cha Trời Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Bà Chủ nhìn thấy Dậu nhìn mãi Cha Trời Lạc Long Quân và Mẹ Trời Âu Cơ liền nói thờ hai đấng Cội Nguồn nầy linh lắm Cô Liên chỉ cho tôi thờ đấy. Quả đúng như lời Cô Liên nói từ ngày tôi thờ Cha Trời Lạc Long Quân, Mẹ Trời Âu Cơ. Làm đâu được đó tính đâu được đó. Cô Liên cũng thường nói với tôi Cô luông tưởng niệm Cha Trời Mẹ Trời nên cô xin được chỗ làm phải nói là như ý. Lương Cô Liên nay rất cao không bao lâu nữa Cô mua nhà để ở. Dậu nghe Bà Chủ nói vô cùng mừng rỡ trước khi ra về Dậu nói nhờ Bà Chủ nói với Chị Liên là có người em tên Dậu đến thăm.

– Dậu lái xe đến con hẻm chạy vào ngôi nhà sụp xệ ngừng xe lại, Từ trong nhà một người con gái chạy ra Dậu đã biết trước người con gái chính là vợ của Anh Quản. bằng chấp tay thi lễ nói em là Dậu em của Anh Quản từ quê lên thăm. Người con gái kinh ngạc nhìn Dậu nói Anh Quản nói có người em tên Dậu rất nghèo có khi nào Ông lầm nhà không? Dậu nói không lầm đâu, người con gái mời Dậu vào nhà, chú út ngồi đây, tôi đi mua ly nước. Dậu nói nước gì uống cũng được cần gì phải mua. Nhìn lên bàn thờ thấy có bức ảnh người Cha Ông Nhạo. Trên bàn thờ Ông Nhạo có mấy quyển kinh thơ. Dậu tò mà xem thử thời ra đây toàn là Kinh Thơ Văn Hóa Cội Nguồn. Dậu kinh ngạc Anh Quản cũng xem Kinh Thơ nầy sao? Người con gái nói Anh Quản siêng coi Kinh Thơ Văn Hóa Cội Nguồn lắm. Dậu hỏi Anh Quản coi Kinh Thơ Văn Hóa Cội Nguồn bao lâu rồi người con gái nói cũng đã hơn một năm. Dậu ngồi chơi một lát rồi ra về.

– Một hôm Dậu cho người mời Liên cũng như Quản đến văn phòng giám đốc. Hai người không biết có chuyện gì không lẽ bị đuổi việc nên lo lắng vô cùng nhất là Liên đang ở mức lương cao. Liên và Quản bước vào phòng giám đốc có một người chờ sẵn. Liên, Quản tưởng đâu là Ông Chủ khúm núm thưa Ông Chủ gọi chúng tôi có chuyện gì sai bảo. Người ấy nói tôi không phải Ông Chủ đâu Ông Chủ đang về nhà chở Mẹ Ông Chủ đến, mời hai người ngồi.

Quản và Liên ngồi chưa lâu thời thấy một chiếc xe con từ ngoài cổng chạy vào công ty. Từ trên xe con hai người bước xuống Liên và Quản như không tin ở mắt mình Mẹ và em Dậu. Người trong phòng nói Ông Chủ và Mẹ Ông Chủ đã đến. Liên và Quản tưởng đâu mình nghe lầm hỏi lại Ông Chủ, và Mẹ của Ông Chủ. Người trong phòng nói hai người làm ở công ty nầy hơn năm rồi mà không biết sao. Người trong phòng nói hai người theo tôi đến gặp Tổng Giám Đốc Ông Chủ. Người trong phòng dẫn Liên và Quản đến một văn phòng dành riêng cho Tổng Giám Đốc an nghỉ mà thôi. Vừa bước vào văn phòng Liên nhìn thấy người đàn bà khi nảy bước xuống xe liền chạy tới ôm khóc ròng Bà Hậu ôm lấy con cũng khóc. Dậu và Quản ôm nhau cũng vậy nước mắt tuôn rơi lã chã. Bà Hậu nói các con đã tin Cội Nguồn nên Cha Trời, Mẹ Trời mới cho gia đình mình đoàn tụ. Anh Linh Quốc Tổ phù hộ, Hồn Thiên Sông Núi phù trì nên mới được như ngày nay.

– Nằm ở ngã tư đại lộ Hùng Vương Liên và Quản nhìn thấy một ngôi nhà lầu ba tần rộng lớn xây dựng theo kiểu vừa Ta vừa Tây trông lộng lẫy nguy nga xinh đẹp. Bề thế còn hơn ngôi nhà năm xưa của Cha Mẹ. Chiếc xe con chạy vào cổng, người ăn kẻ ở ra đón Liên bước xuống xe nhìn ngôi nhà không khỏi trằm trồ, ai thiết kế ngôi nhà nầy không phải tay vừa. Bà Hậu nhìn Dậu nói chính nó đấy. Con quên rồi sao Dậu là kiến trúc sư, khi con đang làm cho công ty La Sa. Công Ty lớn nhất thành phố.

– Bửa cơm thân mật đoàn tụ gia đình, Bà Hậu nói ước chi có thằng Quan thời vui biết mấy. Quản nói anh Ba Quan đã qua đời sau những ngày dầm mưa dãi nắng lang than. Cốt tro tàn con đem về thờ chung bàn thờ với Cha. Bà Hậu nghe xong không cầm được giọt nước mắt.

– Bà Hậu nhìn Dậu nói năm cổ phần trong công ty của Mẹ một cổ phần tới mười tỉ Mẹ cho Liên một cổ phần, Quản một cổ phần. Liên và Quản quá bất ngờ với cổ phần to lớn nầy. Dậu nói anh em Ta gắng sức làm ăn mở rộng công ty.

Công ty Thịnh Phúc thêm hai giám đốc mới là Giám Đốc Bà Chủ Liên, Giám Đốc Ông Chủ Quản.

– Liên hôm nay khác Liên hôm trước đi chiếc xe đắt giá mới cáu, ăn mặc sang trọng trông xinh đẹp mặn mà hơn cách đây bảy năm về trước. Quản cũng thế dời gia đình về ở chung với Mẹ. Liên cũng vậy. Vợ Quản sanh được cháu trai dễ thương. Công ty từ đó làm ăn lớn nhanh như dưa mở rộng công ty cùng khắp.

– Trong buổi hộp mặt liên doanh nhiều công ty khá, Dậu có biết một công ty ông ta tên Việt, ngày xưa đeo đuổi mãi chị Liên, đến khi nghe Liên sắp có chồng Ông Việt vô cùng đau khổ, nhưng sau đó thời nghe Liên bị từ hôn. Việt cố tìm Liên nhưng không biết ở đâu chỉ ở vậy tuổi đã 35 mà chưa có vợ.

– Cuộc họp liên doanh liên kết công ty do Liên giải trình những mặt lợi mặt hại của đôi bên, nhất là thống nhất giá cả, cũng như sự cung cầu ra thị trường tránh đi những cạnh tranh không đáng có dễ đi đến phá sản.

– Chiếc áo đen ôm sát thân mình, phải nói là gợi cảm vô cùng, nổi bậc làng da trắng nuốt trông Liên như một nàng tiên. Liên Thuyết giải lưu loát, phân tích sâu sắc, mặt lợi mặt hại đều rõ ràng. Không dài dòng những cô đọng then chốt. Làm thám phục nhiều công ty. Riêng giám đốc công ty Hưng Việt ngây ngất nhìn mãi Liên. Liên bắt gặp đôi mắt say mê mình như ngày nào trong lòng dấy lên một niềm vui lẫn xúc động.

– Liên cũng nhìn thấy trong số người đến tham dự có cả người phụ bạc mình năm xưa. Người ấy thấy Liên nhìn mình, liền cúi mặt như luyến tiếc vì đã bỏ rơi một báu vật vô giá trên đời.

– Giám đốc Hưng Việt lên tặng hoa cho Liên. Liên đón nhận như đón nhận một tình yêu mới, mà Dậu đã sắp xếp cho hai người gặp nhau.

* * *

Hết Quyển 3, xem tiếp Quyển 4

* * *
 
QUYỂN 4

107. SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG BÁNH DÀY

Vào thuở xa xưa thời Hùng Huy Vương, Pháp Hải Lang đời thứ 6 Hạ Hùng Vương 961 đến 893 trước công nguyên. Hùng Huy Vương thấy mình tuổi đã cao sức khỏe mỗi ngày một suy yếu, không biết chọn ai là người nối ngôi kế vị. Các bà vợ của Vua sanh được hai mươi hai người con, phần đông đều là văn võ song toàn, người nào cũng anh hùng khôn lớn. Con đông lại là con của nhiều bà phải làm thế nào cho chúng nó không tranh giành, sanh ra cảnh tương tàn nồi da nấu thịt. Đây là điều vô cùng quan trọng nhờ các viên quan Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng bày kế cho Trẫm chọn người kế vị ngôi Vương.

– Các quan tâu rằng thời Quốc Tổ Tiên Đế dựng nước Văn Lang. Hàng năm đầu xuân thường cúng Tổ Tiên Đất Trời ngày hội của Bách Việt Văn Lang.

– Quốc Vương ra đề thi, cho tất cả Hoàng Tử mỗi người tự bày ra mâm cỗ, dâng cúng Tổ Tiên Trời Đất. Mâm cỗ nào nói lên đầy đủ ý nghĩa của đạo làm người, bao hàm những triết lý sâu xa Cội Nguồn, cũng như sự sanh thành dưỡng dục của Mẹ Cha. Phải có sự hùng biện nói ra những suy nghĩ triết lý về phẩm vật mà mình đã dâng lên. Được sự thừa nhận các quan trong triều thời người đó sẽ là người kế vị ngôi Quốc Vương.

– Hùng Huy Vương nghe các quan tâu có lý, cách chọn người kế vị bằng khen rằng cách nầy hay lắm đây.

Người thua cuộc sẽ tùng phục sát đất. Hùng Huy Vương bằng kêu các Hoàng Tử đến nói rằng. Cha nay tuổi cũng đã cao, mặt trời sắp lặn về Tây gần đất xa Trời. Cha muốn truyền ngôi lại cho các con, nhưng không biết chọn ai trong các con, vì các con đứa nào cũng tài giỏi.

Tục truyền từ thời Tiên Tổ truyền lại, từ thời dựng nước đến nay. Cứ hàng năm vào đầu xuân là dân lên mâm cỗ cúng Cha Mẹ, Ông Bà, Tổ Tiên, Trời, Đất, tưởng nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục.

– Các con hãy tự làm mâm cỗ, tìm những món ăn lạ để dâng cúng Tổ Tiên. Ai có món ăn ngon độc lạ, và có nhiều ý nghĩa Cha sẽ truyền ngôi cho người đó.

– Các Hoàng Tử nghe Vua Cha bảo thế liền thi nhau trổ tài với hy vọng mình là người thắng cuộc.

– Mỗi Hoàng Tử đều về bàn với vợ nhờ người đi khắp chân trời góc bể, tìm kiếm món ngon vật lạ, thuộc hàng hiếm quý trên đời, kẻ lên non, người xuống biển, không bỏ sót nơi nào, bỏ công ra sức tìm cho bằng được, những món ăn vừa ngon vừa hiếm quý dâng lên Vua Cha.

– Trong số 22 vị Hoàng Tử có Hoàng Tử Lang Liêu đứng hàng thứ mười tám. Mồ cô Mẹ từ thuở nhỏ ở với Mẹ nuôi là Cao Thị. Cao Thị ở vậy nuôi Lang Liêu. Cao Thị là người phụ nữ hiền lương, nên Lang Liêu cũng hấp thụ tính Mẹ tính tình hiền lành sống có Đạo có Đức nhất là sự hiếu thảo ít người bằng. Lang Liêu có vợ hơn năm thời Cao Thị qua đời. Vợ chồng còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm, vợ Lang Liêu là người con gái tuy xinh đẹp thông minh, nhưng không có lòng cạnh tranh, lại chẳng hiểu gì về mấy món ngon vật lạ, nên đành bó tay chẳng giúp gì được cho chồng nên vô cùng lo lắng không biết phải làm sao thở vắn than dài. Lang Liêu thấy vậy nói mọi việc trên đời đều có số Tiên Vương Quốc Tổ thường dạy như thế truyền mãi cho đến ngày nay.

– Lang Liêu biết mình không tài nào theo kịp các anh, phải chi thi bắn cung, múa kiếm, đua ngựa, thời còn hi vọng đôi chút, đằng nầy dâng mâm cỗ, của ngon vật lạ thời đành chịu thua. Cha vợ Lang Liêu là một vị quan trong triều làm đến chức Ngự Sử, đến thăm con gái, con gái mừng quá ra đón vào nhà rồi hỏi cách nầy cách kia, món nào ngon, món nào độc lạ. Quan Ngự Sử cũng phải đành lắc đầu, không biết làm sao giúp được cho Lang Liêu.

– Trong khi đó các Hoàng Tử cho người chạy nam tìm bắc, hết đông tới tây, thậm chí nhờ người nước ngoài tìm những món ngon độc lạ.

– Còn Lang Liêu thời nằm khểnh ở nhà coi như là bỏ cuộc. Chỉ còn ba ngày nữa là đến đầu xuân, cũng là ngày dâng mâm cỗ cúng Tổ Tiên Trời Đất. Lang Liêu vẫn chưa có gì, vợ Liêu cũng rất buồn.

– Đêm hôm ấy Lang Liêu biết mình đã thua cuộc, nhưng không lẽ chẳng có gì dâng cúng Tổ Tiên Trời Đất. Tục lệ từ khi dựng nước mở mang bờ cõi cho đến ngày nay.

Lang Liêu ráng nhớ lại những món ăn thường dùng, bảo vợ làm ít món dâng cúng Tổ Tiên Trời Đất. Mãi suy nghĩ đi vào giấc ngủ lúc nào không biết. Bỗng Lang Liêu thấy một vừng hào quang sáng chói từ trên trời bay xuống hiện ra một người phụ nữ xinh đẹp vô cùng, không thể nào diễn tả nổi sắc đẹp ấy. Lang Liêu chưa kịp thi lễ thời người ấy nói Ta là Tổ Mẫu Phụng Cơ. Vương Mẫu Nương Nương xuống dạy cho con cách làm bánh chưng bánh dày.

– Vương Mẫu nói to lớn nơi vũ trụ không gì bằng Trời, chỉ có Trời mới chứa hết thiên hạ nhân loại.

– Muôn sanh linh vạn vật không gì bằng Đất. Chỉ có Đất mới dưỡng nuôi hết thảy sanh linh vạn vật.

– Đất dưỡng nuôi thể xác.

– Trời dưỡng nuôi linh hồn

– Của báu nhất trần gian không gì bằng Gạo Nếp. Gạo Nếp chính là hạt ngọc của Trời và Đất, nuôi sống con người.

– Con hãy lấy Gạo Nếp đêm ngâm rồi làm bánh Hình Tròn tượng trưng cho Trời. Làm bánh hình Hình Vuông tượng trưng cho đất. Trời màu xanh, sự phì nhiêu của Đất cũng màu xanh. Non xanh nước biếc đậm tình quê hương.

Hãy lấy lá xanh bọc ngoài Càn, gạo nếp Khôn. Trong Càn Khôn. Lấy năm loại đậu làm nhưng tượng trưng cho ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nói về Đạo ngũ thường năm loại đậu tượng trưng cho Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nói về Đạo ngũ luân năm loại đậu tượng trưng cho Cha, Con, Anh, Em, Chồng Vợ. Nói về Nhân Loại năm loại đậu tượng trưng cho năm màu da cùng chung một thể Đồng Bào.

– Năm loại đậu trộn chung giã nhuyễn tượng trưng cho sự gắn bó hòa hợp cùng nhau, chung sống yên vui đoàn kết.

– Pha trộn vào ít thịt bò, heo, dê, gà, vịt. Tượng trưng cho đời sống thịnh vượng.

– Thêm gia vị Đường, Muối, chanh, Tiêu, Hành, Tỏi. Tượng trưng cho Chua, Ngọt, Mặn, Đắng, Cay, cùng chia cùng hưởng gánh gồng có nhau đậm đà cuộc sống ấm no. Mặn nồng tình nghĩa keo sơn thuận hòa.

– Gạo nếp trắng tinh là con Dân. Bọc ngoài lá xanh ví như Vua, Quan bảo bọc cho Dân Chúng.

– Gạo nếp trắng tinh là con cái. Bọc bên ngoài lá xanh ví như Cha Mẹ bảo bọc ôm trọn đàn con trong lòng, thương yêu đùm bọc che chở. Truyền dạy xong cách làm bánh chưng bánh dày cũng như triết lý sâu xa của nó. Vương Mẫu Nương Nương Phụng Cơ Quốc Tổ Mẫu liền biến mất.

– Lang Liêu tỉnh giấc mừng rỡ vô cùng kêu vợ dậy kể lại câu chuyện mình vừa nghe. Hai vợ chồng cùng nhau ra sức, hối thúc người ăn kẻ ở. Kẻ chọn Gạo Nếp thật tốt, người chọ lá gói thật xinh, kẻ lo năm loại đậu, người lo gia vị, thịt tươi Lang Liêu đi vào làm bánh y như những gì Vương Mẫu Nương Nương truyền dạy.

– Đến ngày dâng cỗ đem cúng Tổ Tiên Trời Đất, vào dịp đầu xuân. Các Hoàng Tử đưa món ăn về dự thi, ngày hội đầu xuân náo nhiệt tưng bừng, khắp cả nước nói chung Phong Châu nói riêng. Người đông nghìn nghịt dân Kinh Đô Văn Lang đều nao nức xem Hoàng Tử nào là người được chọn kế vị ngôi Vương. Những món ngon vật lạ do các Hoàng Tử dâng lên.

– Đầu giờ thìn vua cùng các quan đi kiệu đến làm lễ gia tiên, chiêng trống nổi lên, lọng, phướn, cờ xí tưng bừng, rộn tai sáng mắt mọi người, tất cả đều ngong ngóng. Giờ phút quan trọng đã đến, hai mươi hai Hoàng Tử đều dâng lễ cúng. Cỗ nào cỗ nấy sang cả mùi thơm nức mũi trông đẹp mắt vô cùng.

– Lang Liêu bưng mâm cỗ, trông rất tầm thường chẳng có gì là sang cả, cũng chẳng nghe mùi thơm nức mũi, thoạt nhìn ai cũng lắc đầu bĩu môi. Vẻ chê bai hiện ra trong đôi mắt các chị dâu cũng như các Hoàng Tử.

– Lễ dâng hương xong Vua Hùng ném trước, các quan nếm thử sau qua các món ăn, chỉ còn lại món bánh chưng bánh dày. Vua Hùng nói với các quan giờ chỉ còn lại một mâm cỗ nữa là chưa nếm thử. Ta cùng các khanh đồng ném thử mâm cỗ phẩm vật cuối cùng, tức thời Vua cùng các quan mỗi người ăn mỗi miếng ai nấy đều gật gù tán thưởng khen ngon. Các quan Lạc Hầu. Lạc Tướng nói.

– Đây là một thứ bánh hương vị khác thường, làm từ những thực liệu bình thường, nhưng cách làm ra cũng như cách pha trộn vô cùng đặc biệt.

– Các hoàng tử thay đổi hẳn thái độ không còn coi thường bánh dày bánh chưng của Lang Liêu. Chỉ còn chờ ban giám khảo các Vương, Quan Lạc Hầu. Lạc Tướng bình giá các món ăn, ai là người thắng cuộc. Tất cả đều chờ đợi kết quả quan trọng nầy.

– Riêng Vua Hùng lấy làm ngạc nhiên về bánh lạ vừa nếm qua thấy vô cùng khác lạ, bằng nếm đi nếm lại đến mấy lần, lật bánh lên, lật bánh xuống, lật qua, lật lại ngắm nghía. Một bánh hình tròn, một bánh hình vuông là ý nghĩa gì đây.

– Vua cho gọi Lang Liêu đến hỏi ai bày cho con làm ra hai loại bánh nầy. Triết lý hai loại bánh nầy ra sao, con hãy trình bay ra đây cho Cha cùng bá quan văn võ nghe.

Lang Liêu bằng triết giải những triết lý về Bánh Chưng, Bánh Dày sự cao thâm huyền diệu sâu xa của nó.

– Lang Liêu quỳ lạy thưa.

Muôn tâu Phụ Vương trong giấc ngủ mơ màng con thấy Vương Mẫu Nương Nương chính là Quốc Tổ Mẫu từ trên trời bay xuống truyền dạy cho con làm Bánh Dày, Bánh Chưng.

– Vương Mẫu nói to lớn nơi vũ trụ không gì bằng Trời, chỉ có Trời mới chứa hết thiên hạ nhân loại.

– Muôn sanh linh vạn vật không gì bằng Đất. Chỉ có Đất mới dưỡng nuôi hết thảy sanh linh vạn vật.

– Đất dưỡng nuôi thể xác.

– Trời dưỡng nuôi linh hồn

– Của báu nhất trần gian không gì bằng Gạo Nếp. Gạo Nếp chính là hạt ngọc của Trời và Đất, nuôi sống con người.

– Con hãy lấy Gạo Nếp đêm ngâm rồi làm bánh Hình Tròn tượng trưng cho Trời. Làm bánh hình Hình Vuông tượng trưng cho đất. Trời màu xanh, sự phì nhiêu của Đất cũng màu xanh. Non xanh nước biếc đậm tình quê hương.

Hãy lấy lá xanh bọc ngoài Càn, gạo nếp Khôn. Trong Càn Khôn. Lấy năm loại đậu làm nhưng tượng trưng cho ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nói về Đạo ngũ thường năm loại đậu tượng trưng cho Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nói về Đạo ngũ luân năm loại đậu tượng trưng cho Cha, Con, Anh, Em, Chồng Vợ. Nói về Nhân Loại năm loại đậu tượng trưng cho năm màu da cùng chung một thể Đồng Bào.

– Năm loại đậu trộn chung giã nhuyễn tượng trưng cho sự gắn bó hòa hợp cùng nhau, chung sống yên vui đoàn kết.

– Pha trộn vào ít thịt bò, heo, dê, gà, vịt. Tượng trưng cho đời sống thịnh vượng.

– Thêm gia vị Đường, Muối, chanh, Tiêu, Hành, Tỏi. Tượng trưng cho Chua, Ngọt, Mặn, Đắng, Cay, cùng chia cùng hưởng gánh gồng có nhau đậm đà cuộc sống ấm no. Mặn nồng tình nghĩa keo sơn thuận hòa.

– Gạo nếp trắng tinh là con Dân. Bọc ngoài lá xanh ví như Vua, Quan bảo bọc cho Dân Chúng.

– Gạo nếp trắng tinh là con cái. Bọc bên ngoài lá xanh ví như Cha Mẹ bảo bọc ôm trọn đàn con trong lòng, thương yêu đùm bọc che chở. Truyền dạy xong cách làm bánh chưng bánh dày cũng như triết lý sâu xa của nó. Vương Mẫu Nương Nương Phụng Cơ Quốc Tổ Mẫu liền biến mất.

– Nghe Hoàng Tử Lang Liêu kể lại sự truyền dạy của Vương Mẫu Nương Nương, cũng chính là Phụng Cơ Quốc Tổ Mẫu. Cũng như lý giải những ý nghĩa sâu xa của hai loại Bánh Chưng, Bánh Dày. Các quan nghe say sưa, Vua Hùng thời càng thấm thía gật đầu lia lịa đúng là Quốc Tổ Mẫu dạy rồi chỉ có đôi Bánh Chưng, Bánh Dày mà mang triết lý cả trời đất, vạn vật, cũng như con người, cái triết lý bao trùm cả Đời lẫn Đạo không ai có thể nghĩ ra đạt đến cảnh giới như vậy, đúng là Quốc Tổ Mẫu hiện về dạy rồi. Đây cũng là Ý Trời.

– Vua Hùng nói rằng Bánh Chưng Bánh Dày không những ngon, cái quý của bánh chưng bánh dày mang nhiều ý nghĩa đặc biệt, không làm mất đi nền Văn Minh lúa nước, còn bày tỏ lòng tôn kính đối với Trời Đất. Cũng như công Cha nghĩa Mẹ đùm bọc nuôi nấng các con. Tình hòa thuận đoàn kết anh em, mặn nồng cay đắng có nhau, Trắng tinh bảo bọc Mẫu Hoàng, xanh non xanh nước Phụ Hoàng chở che. Bò, Heo, Gà, Vịt chăn nuôi. Ngô, khoai nếp đậu càng thêm sang giàu. Hai loại bánh nầy không thể xem thường, của ngon vật quý Đất, Trời ban cho.

– Hoàng Tử thứ 18 Lang Liêu thắng cuộc được truyền ngôi.

– Vua Hùng truyền dạy khắp chúng dân, hàng năm cứ đến đầu xuân, theo niên lịch Đại Nam Văn Lang trở thành ngày hội tết nền Văn Minh Lúa Nước. Làm Bánh Chưng, Bánh Dày cúng Tổ Tiên Trời, Đất. Hoàng Tử Lang Liêu trở thành Hùng Vương thứ bảy Hạ Hùng Vương thay Cha là Hùng Huy Vương trị vì thiên hạ.

– Kể từ đó tục làm Bánh Chưng Bánh Dày đã trở thành tục lệ trong dịp tết nguyên đán để cúng Ông Bà, Cha Mẹ, Tổ Tiên, Trời, Đất.
 
108. MÀI ĐAO TRÊN ĐÁ

Ngày xửa ngày xưa vào thời Thượng Hùng Vương, truyền ngôi đến đời Hùng Thục Lang, đời Hùng Vương thứ mười tám.

Khi ấy ở phương bắc Nhà Thương, Vua Thành Thang nối truyền đến đời thứ mười ba Tổ Dân Thiên Tử. Có mộng xâm lấn nước Văn Lang, luôn cho người theo dõi nước Văn Lang.

– Lúc bây giờ nước Văn Lang vẫn còn hùng mạnh thái bình an lạc no cơm ấm áo. Tại làng Tân Khánh, Xã Đồng Văn, Huyện An Trạch, Tây Trung Châu.

– Có chàng thanh niên mồ côi tên là A Mẫn không còn cha mẹ xin đi ở đợ cho một nhà giàu. Nhưng ông chủ từ chối A Mẫn buồn quá lang thang khắp núi rừng, đào củ mài để mà ăn, tối ngủ trong hang đá cho đến một hôm, trời hừng hừng sáng cây cỏ núi đồi vẫn còn chìm trong sương mù, nhưng chim đã kêu, vượn đã hú như chào mừng một ngày mới, mở màn cho cuộc sống tiếp nối hết ngày nầy sang ngày kia.

– A Mẫn trên đường trở lại thôn làng sau đó tìm kiếm việc làm trên Thị Trấn, vì ở trên rừng vừa buồn vừa hiu quạnh suốt ngày chỉ làm bạn với chim, trái rừng và suối chảy. A Mẫn vừa đi vừa suy nghĩ cầu gặp sự may mắn đến với mình, đang đi trên đường A Mẫn nhìn thấy một cụ già ăn mặc rách rưới, cụ run rẩy đi không nổi liền chạy nhanh tới nói, để con cõng cụ đi, nhà cụ ở đâu sao chẳng có con cháu nào theo, để cụ đi một mình như thế nầy, tuổi già như trái mít chín trên cây dễ rụng lắm.

Cụ già nghe A Mẫn nói thế càng thêm run rẩy.

A Mẫn nói

Cụ có sao không?

Cụ già chỉ lắc đầu mà không đáp

A Mẫn hỏi tiếp

Cụ đi tìm ai lặn lội cực khổ thế nầy

Ông cụ trả lời thân một mình chẳng còn ai là người thân. A Mẫn nghe xong thương cụ vô cùng, hoàn cảnh giống như mình chẳng còn ai.

Bỗng nghe cụ la đói, đói quá đi thôi, đói quá đi thôi, tay xoa bụng miệng thời lẩm bẩm, đói quá trời ơi đói quá.

– Nhìn dáng đói run run của cụ A Mẫn động lòng liền lấy trong mình ra củ mài, không dám ăn để dành trên đường đi tìm công việc lúc đói quá mới dám ăn. A Mẫn cầm củ mài nướng từ sớm khi mặt trời chưa lên, dâng hai tay đưa cho cụ nói, cụ ăn đi.

– Cụ già đưa tay cầm lấy ăn ngấu nghiến, nhìn cụ ăn ngấu nghiến, bụng A Mẫn cũng đã sôi lên vì đói.

A Mẫn nhìn cụ rồi hỏi

Cụ có nhà không?

Ông cụ vừa trả lời vừa tiếp tục ăn, cụ nói cụ không có nhà chỉ đi lang thang, ai cho gì ăn nấy.

A Mẫn nói cháu cũng chẳng còn ai, thôi thì cụ theo cháu, cháu có gì thời cụ ăn nấy.

Ông cụ nói một mình cháu đã khó sống, làm sao nuôi thêm một người như cụ, chỉ biết ăn mà chẳng làm ra tích sự gì.

– A Mẫn nói cháu sẽ xin việc làm cụ đừng lo, thế là A Mẫn đi đâu dắt theo Ông cụ đi đó, xin được gì A Mẫn đều dành cho cụ ăn trước, còn mình thời ăn sau, nếu cụ ăn hết thời nhịn đói vậy.

– Thời gian trôi qua được hơn tháng A Mẫn vẫn chưa tìm ra được việc làm. Một hôm Ông Cụ nhìn A Mẫn rồi nói tấm lòng thương người của con đã động đến lòng Trời. Cụ có hai vật báu cụ sẽ cho con. Ông cụ lấy trong người ra một thanh đao nhỏ, cụ hô lớn tức thời thanh đao lớn lên cụ mài vào phiến đá, tức thời tiếng mài đao vang dội núi rừng. Cụ lại móc trong người ra tấm lưới nhỏ. Cụ nói tấm lối nầy khi quăng xuống sông liền hô biến, tức thời tấm lới bung ra phủ khắp lòng sông kéo lên thời đầy tôm đầy cá. Cụ lại lấy trong người ra một chiếc hộp nhỏ. Cụ nói trong hộp nầy có ba viên Thần Châu Đơn. Cứ một tháng con uống một viên, uống hết ba viên, thời con hãy ra vùng biên giới nơi có giặc đóng quân, lấy đao ra mài trên núi, chừng nào thấy quân giặc rút lui, thời con tìm đến những dòng sông bên kia có quân giặc đồn trú, liền quần lưới xuống sông bắt cá. Khi nào thấy giặc bên kia đồn trú biến hết thời về Tây Trung Châu làm ăn sinh sống, phát rẫy, chài lưới giúp dân, mở mang thêm ruộng đồng rộng lớn. Ông cụ trao cho A Mẫn ba vật báu vài lượng bạc truyền cho nội công tâm pháp. rồi biến mất.

– A Mẫn mới biết Ông Cụ là Thánh Tiên hiện ra thử lòng tốt của mình.

– A mẫn có bạc có tiền liền mua bộ quần áo mới, việc ăn tiêu vô cùng tiếc kiệm, không dám ăn thịt cá, chỉ ăn bát cơm với quả cà. A Mẫn tìm nơi vắng vẻ uống Thần Châu Đơn luyện nội công tâm pháp, được ba tháng Thần Đơn cũng không còn A Mẫn thấy người khỏe mạnh lạ lùng bằng nhổ thử một gốc cây bằng bắp chân như nhổ cây bắp. A Mẫn kinh ngạc vô cùng như không tin ở đôi mắt mình, bằng nhổ cây to lớn hơn nhẹ như không. A Mẫn đến lúc nầy mới tin mình có sức mạnh vô cùng.

– A Mẫn xuống thị trấn nghe người ta xì xào sắp có chiến tranh, vì quân giặc Nhà Thương đã kéo sát biên giới. Hùng Thục Lang đã chuẩn bị quân binh sẵn sàng chiến đấu. A Mẫn nhớ lại lời chỉ dạy của cụ Ông liền đến biên giới, đi mấy ngày đêm không hề ngủ nghỉ cuối cùng cũng đến được biên giới. A Mẫn nghe bên kia ngựa hí vang trời. A Mẫn liền leo lên một sừng đồi tìm vị trí thích hợp để cho quân giặc dễ nghe thấy. Bằng rút đao Thần ra ngồi mài trên phiến đá, tức thời tiếng mài Đao rung trời chuyển đất vang dội núi rừng.

– Tướng quân Thương tên là Vu Đà đang luyện tập quân binh, chờ lệnh đưa quân vào tấn công nước Văn Lang. Nghe tiếng mài Đao rung trời chuyển đất không hiểu là chuyện gì. Bằng cho quân binh đi thị sát xem chuyện gì đã xảy ra.

– Quân binh phi ngựa đến sườn đồi dọ thám nơi phát ra tiếng động dữ dội, thời thấy một người tiều phu trai trẻ đang mài đao trên đá, phát ra tiếng động ầm ầm. Rền trời rền đất thời vô cùng kinh hãi. Phi ngựa về báo lại cho chủ soái. Chủ soái tướng quân nhà thương là Hầu Đôn nghe quân binh báo như vậy thời kinh hãi nhưng chưa tin lắm bằng cùng tướng quân Vu Đà đến sườn đồi nơi phát ra tiếng động xem thử thiệt hư ra sao. Chủ Soái Hầu Đôn cùng tướng quân Vu Đà nhìn thấy một chàng trai trẻ đang mài đao tiếng mài đao vang động dậy núi rừng, thời khiếp vía kinh hồn. Nghĩ một người dân tầm thường mà cũng có Thần Thông như vậy. Ôi nước Văn Lang quả thật là nhân tài khắp nơi khắp chốn, không thể nào lường hết được, liền hạ trai rút lui binh, không còn chiếm đóng nơi biên giới nữa.

– A Mẫn thấy quân Thương đường bộ rút hết. Chỉ còn cánh quân binh đường thủy, do tướng soái Dương Phàm chỉ huy nơi khúc sông gần thượng nguồn thuyền bè qua lại lớp lớp. A Mẫn đến chỗ khúc sông ấy quăng lưới bắt cá, lưới chài vừa quăn ra bỗng to lớn phủ muốn hết cả lòng sông. A Mẫn niệm chú kéo lưới, tôm cá cả tấn chất đống trên bờ. Thuyền dọ thám quân Thương nhìn thấy kinh hồn bạt vía. Cá tôm bắt xong liền thả hết xuống sông.

– Tướng Soái chỉ huy thủy quân là Dương Phàm, nghe quân binh dọ thám về báo có người chài lưới tài giỏi như vậy liền kinh hãi, Dương Phàm chọn vài ba tướng lĩnh tài giỏi đi thuyền con đến xem thật hư. Khi chứng kiến tận mắt A Mẫn quăng lưới bắt cá, Dương Phàm tái mặt nói chỉ là người dân chài lưới bình thường, mà tài nghệ đến kinh hồn bạt vía như vậy thời làm sao xâm lược được nước Văn Lang. Bằng thu quân trở về đất bạc liền tâu lên Vua Thiên Tử Tổ Dân. Bản tấu trình nói nước Văn Lang nhân tài như nấm chỉ một người dân chài cũng đã làm khiếp hồn khiếp vía quân binh. Chỉ cần quăn mẻ lưới là phủ hết thuyền quân binh.

– Dương Phàm vừa tấu trình xong, thời có một vị tướng soái vào tấu trình là Hầu Đôn. Hầu Đôn tấu trình Thưa Bệ Hạ nước Văn Lang không thể suy lường, chỉ nội một người tiều phu khi mài đao thần lực phát ra rung chuyển đất trời. Làm cho quân binh kinh sợ. Nước Văn Lang quả là nhân tài như rừng khó mà xâm lược nỗi e bỏ mạng có đi mà không có về. Đưa quân xâm lược nước Văn Lang khác nào lùa dê vào miệng hổ.

– Vua Tổ Dân nghe hai vị nguyên soái tâu như vậy lấy làm khiếp hãi run sợ, từ đó không dám nói tới xâm lược nước Văn Lang nữa.

– Nói về A Mẫn thấy quân Thương rút lui không còn một tên binh lính, liền trở về quê hương Đồng Văn, An Trạch Tây Châu. Giúp dân phát rẫy khai hoang vỡ hóa đất đai thổ canh rộng lớn ngô bắp, lúa thóc đầy đồng. Tiếng tăm A Mẫn vang lừng.

– Nói về Hùng Thục Lang, biết được A Mẫn đẩy lui quân giặc, liền ban cho vàng, bạc, lụa là, châu báu mười xe. Phong cho chức tước làm Đại Nhân Tri Huyện An Trạch. Tây Trung Châu. Thế cho Đại Nhân Tri Huyện Phùng Lương tuổi già về hưu.

– Phùng Lương Đại Nhân Tri Huyện có người con gái xinh đẹp tên là Hạnh Châu gả cho A Mẫn.

– A Mẫn từ đó sống cuộc đời hạnh phúc bên người vợ xinh đẹp, hết lòng vì dân vì nước. Hạnh Châu sanh được sáu người con. Khi mãn kiếp trần gian hai vợ chồng A Mẫn siêu sanh về Non Tiên, Cực Lạc.
 
109. THIÊN ẤN

Ở vào thời Hồng Hoang, khi tuổi thọ con người tăng lên tám mươi tuổi, thọ một trăm tuổi, yểu sáu mươi tuổi là thời kỳ Ma, Quỉ hưng thịnh, có nhiều làng Ma làng Quỉ khắp mọi nơi. Ma, Quỉ đánh nhau nổi giông nổi gió, khắp mặt địa cầu không chỗ nào yên.

– Khi ấy nơi Làng Phù Sa dân chúng phải nói là rất đông, đông hơn cả một xã, hàng năm đủ loại cúng nào là cúng Thần, cúng Ma, cúng Quỉ, cho đến cúng yêu tinh quỉ dữ, ở mới yên. Bằng không thời chúng quấy phá, không những chúng bắt hết gà, vịt, trâu, bò, dê, heo, ngựa, mà còn nhập hồn vào xác người, làm cho con người điên loạn, vì thế mà con người vô cùng lo sợ.

– Khi ấy có một gia đình lập bàn thờ, thờ Trời đó là gia đình Ông Bà Tân Gia Bá. Ông Bà Tân Gia Bá sanh được một người con trai tên là Gia Khá, gia đình Gia khá nghèo vốn bửa đói bửa no, ở vào thời điểm ấy thời tiết khắc nghiệt nắng hạn suốt ba năm, không trồng được ngô, khoai, lúa, nói chung là không khô hạn không trồng được ngũ cốc nên đói cả làng. Nhà Gia Khá vốn đã nghèo lại hạn suốt ba năm không lấy đâu ra hạt thóc hạt ngô để mà ăn. Tuy mới mười tuổi nhưng Khá cũng theo cha vào rừng hái lượm, hoa quả, đào củ mài, đem về nhà cho cả gia đình ăn.

– Dân chúng Làng Phù Sa do hạn hán kéo dài không trồng gì được, đồng khô cỏ cháy bửa đói bửa no, trâu, bò, heo, dê, gà, vịt cũng chết theo, nếu con nào còn sống cũng ốm tong ốm teo lấy đâu ra mà cúng. Ma, Quỉ thường làm mưa làm gió nhưng cơ trời hạn hán chúng cũng đành bó tay không làm mưa làm gió gì được. Cũng phải đành đói lây vì dân chúng không còn gì để cúng.

– Ma thời ít quậy phá, nhưng Quỉ thời lại khác quấy phá dân lành không lúc nào yên, dân làng chỉ biết khóc than đâu có cách gì khác.

– Một hôm có bầy yêu tinh từ Ngạo Lai kéo đến nói với dân Làng nếu Yêu Tinh tôi làm cho mưa thời dân làng phải dâng nạp người sống để cúng. Nhưng người đó phải sanh vào giờ Dậu tháng Dậu, năm Dậu, chỉ mười tuổi trở lại không quá mười hai, cùng một con heo, con bò, con dê, con gà, con vịt đủ những lễ vật ấy thời dân Làng không lo chi nước.

Dân Làng bị hạn ba năm thiếu nước uống có người đã bỏ mạng nói chi đến chuyện canh tác trồng hoa màu. Lũ Yêu Tinh nói Trời còn hạn thêm một năm nữa. Dân làng nghe xong kinh hoảng nếu hạn thêm một năm nữa chết hết cả Làng. Bằng ưng thuận theo lời của Yêu Tinh.

– Lũ Yêu Tinh về tâu với chúa Yêu Tinh loài người đã chấp nhận lời của Yêu Tinh Ta. Chúa Yêu Tinh nói Ta chỉ uống máu ăn thịt người sanh vào giờ Dậu, tháng Dậu, năm Dậu, để tu luyện pháp thuật thần thông, còn các ngươi thời nhận lấy phẩm vật heo, bò, dê, gà, vịt mà thưởng thức. Lũ Yêu Tinh mừng rỡ reo hò.

– Chúa Yêu Tinh liền bay đến Làng Phù Sa, hô mây gọi gió, tức thời mây đen phủ kín mịt trời, cuồng phong, sấm sét nổi lên ầm ầm sau đó là trận mưa như trút ngập đồng ngập sá. Dân chúng mừng quá nhưng cũng rất đau lòng, vì phải nạp mạng cho Yêu Tinh một người.

– Dân chúng tìm người có tuổi Dậu sanh vào tháng Dậu, năm Dậu tìm mãi phát hiện ra chính là con Ông Bà Tân Gia Bá, cậu con trai tên Gia Khá phải nạp mạng cho Yêu Tinh.

– Đúng vào giờ dậu tối mai Gia Khá sẽ không còn trên đời vào bụng con Chúa Quỷ Yêu Tinh, mấy tháng nay người trong làng đói, khác chết cũng khá đông, đối với cái chết thời không gì đáng nói nếu hạn thêm năm nữa thời cả làng chết hết, nhưng cái chết nạp mạng cho yêu tinh ăn thịt thời đau đớn thê thảm vô cùng. Đêm hôm ấy Bà Tần Gia Bá thắp hương cầu Trời lạy sáng đêm không ngủ. Khấn nguyện rằng con chỉ có một đứa con duy nhất sắp bị Chúa Quỷ Yêu Tinh ăn thịt coi như nhà Họ Tân Gia Bá đi vào tuyệt tự. Gia đình con thờ Trời gần ba mươi năm. Xin Trời gia hộ cứu giúp.

– Nói về Gia Khá sợ Yêu Tinh ăn thịt quỳ lạy theo mẹ khóc lóc sáng đêm Gia Khá mệt quá ngủ đi lúc nào không biết. Trong lúc mơ màng Khá thấy một người uy nghi hào quang rực rỡ. Nói rằng công lao thờ Trời của Cha Mẹ con gần ba mươi năm nên Ta không thể để cho gia đình tuyệt tự. Ta vân lệnh Đức Chí Tôn Thiên Đế xuống trần cứu giúp con, con đưa bàn tay đây cho Ta. Ta vẽ Thiên Ấn vào lòng bàn tay con Ma, Quỉ, Yêu Tinh nhìn thấy Thiên Ấn liền tan biến hết. Chúng sợ hãi và không bao giờ đến Làng nầy nữa.

– Con vẫn để cho dân Làng đem con dâng cúng cho yêu tin. Sau nầy dân chúng Làng Phù Sa sẽ đi theo con hết. Con trở thành chúa Làng Vua một vùng rộng lớn. Cơ Trời niên hạn kéo dài nắng hạn đã hết mưa thuận gió hòa dân chúng sẽ sống trong yên bình no cơm ấm áo. Nói xong vị Thần phất tay một cái tức thời hai lòng bàn tay của Khá có hình quả tim, trong quả tim có hình thập giá. Có năm nút từ trên xuống dưới. Nút thứ năm có nền vuông, tròn.

– Chỉ một mình Gia Khá nhìn thấy không ai có thể nhìn thấy, Gia Khá nhìn thấy Thiên Ấn trong lòng hai bàn tay thời không còn lo sợ khóc lóc nữa mà tươi cười vui vẻ. Ông Bà Tân Gia Bá lấy làm lạ, cả xóm cũng kinh ngạc không kém. Không lẽ Gia Khá không sợ Yêu Tinh ăn thịt sao mới đây khóc lóc cả đêm lẫn ngày.

– Ánh nắng chiều dần dần lịm tắt hoàng hôn buông xuống màn đêm bao phủ khắp đất trời, nơi đâu cũng thấy một màu đen, chớp mắt giờ Dậu cũng sắp đến. Những ngọn đuốc sáng bừng soi bóng Khá đang ngồi cúi mặt ai nhìn thấy cũng đứt ruột có người không cầm được giọt nước mắt, xung quanh Khá nào là bò, heo, dê, gà, vịt đã quay chín bốc mùi thơm phức mùi gia vị. Ai nhìn thấy không thèm mới lạ.

Dân chúng không ai dám thò đầu ra để nhìn. Vì sợ Yêu Tinh bắt mất, giờ Dậu đã tới, trên bầu trời mây đen cuồn cuộn, một trận gió nổi lên làm cho đèn đuốc tắt ngúm bóng Yêu Tinh chập chờn. Trên không chúa Yêu Tinh bay xuống nhìn vào con mồi lè lưỡi liếm mép, nanh vuốt dài thoàng thấy mà ghê. hai con mắt như hai ngọn đèn pha Chúa Yêu Tinh dơ tay chụp bắt Gia Khá. Gia Khá lấy hết can đảm sè hai lòng bàn tay về Chúa Quỷ Yêu Tinh tức thời hai đạo hào quang từ Thiên Ấn phóng ra vang lên những tiếng sấm Chúa Yêu Tinh sợ quá biến mất lũ yêu tinh vừa nhìn thấy Thiên Ấn thời đau nhức như kim đâm vô cùng kinh hãi chịu không nổi bỏ chạy biến mất.

– Khá lấy làm khoái chí, bụng lại đói cồn cào nghe mùi thịt nướng từ xưa tới nay mấy khi được ăn. Nhìn bê quay, heo quay, dê quay, gà, vịt quay, vẫn còn bốc hơi Khá không bỏ lỡ cơ hội ăn một ruột. Nào thịt bò, thịt heo, thịt dê, thịt gà, thịt vịt no nê. Khá đánh một giấc cho tới sáng.

Chừng nghe tiếng ồn ào Khá mở mắt ra thấy Cha Mẹ bà con lối xóm vây quanh nhìn Khá chăm chăm. Khá bật ngồi dậy Ông Bà Tân Gia Bá mừng quá thì ra con chưa chết. Bà con Làng xóm ngơ ngác không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Khá nói bà con hãy yên tâm lũ yêu tinh không dám đến đây nữa đâu. Từ đây về sau mưa thuận gió hòa. Không còn sợ nắng hạn nữa. Khá dơ hai bàn tay ra nói bà con Làng xóm có thấy gì không. Trong lòng bàn tay có Thiên Ấn đấy. Không những Yêu Tinh mà Ma Quỉ nhìn thấy cũng bỏ chạy. Nhưng nào ai có thấy Thiên Ấn gì đâu chỉ thấy hai lòng bàn tay không của Gia Khá. Dân Làng chỉ biết Yêu Tinh Quỷ Dữ không ăn thịt được Khá mà còn bỏ chạy. Cho Khá là con Trời nên Quỷ, Ma, Yêu Tinh mới không ăn thịt được. Liền suy tôn Khá lên làm chúa Làng.

– Khá ra lệnh cho dân chúng chia phần bê quay, heo quay, dê quay, gà quay, vịt quay cho mỗi gia đình. Khá họa Thiên Ấn treo trước cổng Làng từ đó cả Quỉ lẫn Ma cũng như Yêu Tinh không dám tới quấy phá dân làng nữa. Làng Phù Sa yên ổn bình yên no cơm ấm áo dân số phát triển rất nhanh, các Làng xa gần theo về sau nầy trở thành Bộ Lạc Da Ba hùng mạnh
 
110. SỰ TÍCH THÀNH CỔ LOA

Nói về thời xa xưa Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, trong đó có nước Việt Trung Nguyên.

Nước Việt Trung Nguyên chính là Bắc Văn Lang, cha con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy, đến đời Việt Vương Câu Tiễn, thời nước Việt Trung Nguyên đã quy thuận Nhà Chu. Ở vào thời Chu Nguyên Vương. Đến cuối đời Việt Vương Câu Tiễn thời nước Việt Trung Nguyên mất về tay Tần Thủy Hoàng.

– Ở thời Việt Vương Câu Tiễn quân binh phần lớn nằm trong tay họ Triệu. Nước Việt Trung Nguyên mất về tay quân Tần. Tàn dư quân Việt Trung Nguyên chạy vào Trung Văn Lang chiếm lĩnh một vùng rộng lớn, vùng Đông Hải, Quân Triệu Đà. Còn các cánh quân họ Triệu khác thất bại chạy tản lạc khắp nơi.

– Các cánh quân họ Triệu chạy tản lạc khắp nơi, khi biết Triệu Đà đã có đất dụng võ chiếm lĩnh Đông Nam Hải Trung Văn Lang, liền kéo đến gia nhập với quân Triệu Đà. Quân Triệu Đà vì thế lớn mạnh như thổi không bao lâu lên đến hơn mười vạn quân. Dân Chúng vùng Nam Hải cũng như các vùng khác ở Trung Văn Lang theo về rất đông quân Triệu vì thế trở nên hùng mạnh, có hơn mười lăm vạn quân.

– Khi ấy con cháu Tây Thục Vương, là Thục Phán ở phía Tây Nam, Văn Lang nổi danh như cồn vì có Cao Lỗ theo trợ giúp. Và nhiều tướng tài khác như Dương Sàn, Tây Lương, Dương Lương. Cao Lỗ là nhà khoa học, nhà binh pháp kỳ tài. Lại hiểu rõ cách luyện thép tốt nhất chế tạo mũi tên bắn xuyên thủng áo giáp đồng mũ đồng.

– Thục Phán là con cháu nhiều đời của Tây Thục Vương. Tây Thục Vương đã từng đánh bại quân Ân xâm lược lần thứ nhất thời Hùng Tiên Lang. Mẹ Thục Phán là Công Chúa Mị Hoa con của Hùng Nghị Vương anh em với Hùng Duệ Vương. Thục Phán kêu Hùng Duệ Vương bằng cậu.

– Thục Phán họ An rất thông minh cơ trí hơn người thạo nghề cung, nỏ. Có thể đứng xa một trăm mét bắn trúng vào hồng tâm năm 26 tuổi Thục Phán trở thành một vị Tây Vương.

– Có lẽ niên đại Hùng Vương sắp kết thúc, nên đến đời Hùng Duệ Vương luôn ở trên đà suy vong. Năm giáp thìn 257 trước công nguyên nước Văn Lang chỉ còn lại Nam Văn Lang là nằm trong vòng kiểm soát của Hùng Duệ Vương. Nam Văn Lang liên tiếp xảy ra mất mùa dân chúng khốn khổ đói kém, giặc đói, giặc cướp, giặc nội loạn thường nổi lên. Nhất là nạn quan liêu, nạn tham nhũng, giặc ngoại xâm tìm trăm phương nghìn kế thôn tính Nam Văn Lang. Dân chúng khổ chồng lên khổ, họa chồng lên họa, trăm họ lầm than mệt mỏi mong cầu có sự thay đổi.

– Hùng Duệ Vương không có con trai nối dõi luôn buồn phiền lấy rượu ca múa hát thay thế, thường lơ là việc triều chính, các quan thi nhau mà vơ mà vét khiến lòng dân bất mãn vô cùng.

– Thục Phán khi ấy ra sức chống giặc Tần. giặc Triệu từng ngày xâm lấn đất đai. Công khổ nhọc biết bao, nhiều tướng tài bỏ mạng nơi sa trường.

– Bỗng một hôm Thục Phán nghe Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho cho con rể là Tản Viên Sơn Thánh, thời hét lớn. Ta là con cháu trong nhà, biết bao công lao cực khổ giữ gìn tất đất của Ông Cha. Không nhường ngôi cho Ta, mà lại nhường ngôi cho người ngoài. Ta phải giành lấy không thể để mất vào tay người khác.

– Trước tình hình như vậy các tướng lĩnh đều hợp lại nói với Thục Phán.

Bẩm Thục Vương hãy kéo quân vào kinh đô Văn Lang ép Vua Hùng nhường ngôi. Hùng Duệ Vương thấy quân binh Thục Vương kéo về cung thành đông như kiến lấy làm kinh hãi, bằng cho người mời Sơn Tinh đến nói. Ta sẽ nhường ngôi cho con, con hãy hóa phép đánh tan quân Thục Phán.

– Sơn Tinh thấu rõ cơ Trời bằng tâu rằng. Con đủ sức đánh tan quân binh Thục Phán. Nhưng Ý Trời không cho làm thế đành phải thuận theo Ý Trời.

– Hùng Duệ Vương nghe Tản Viên Sơn Thánh nói thế, bằng nói như vậy Cha phải nhường ngôi cho Thục Phán.

Sơn Tinh nói muôn tâu Phụ Hoàng đúng như vậy. Dù cho Phụ Hoàng triệu hết quân đóng phía Nam Văn Lang, quân đóng phía Đông Nam Văn lang lên đến 20 vạn quân cũng không đánh lại quân Thục Phán đâu. Vì Thục Phán đã ngấm ngầm chế tạo mũi tên thép, bắn xuyên thủng áo giáp đồng, mũ đồng. Trở thành những nỏ Thần vô cùng lợi hại.

– Hơn nữa khi xảy ra chiến tranh, nhất là anh em tương tàn, nồi da xáo thịt. Không bên nào có lợi sự hi sinh chết chóc vô ích. Lưỡng hổ tranh nhau thợ săn đắp lợi. Quân Triệu đang rình rập, quân Tần trăm mưu nghìn kế nuốt trọn đất nước Văn Lang. Chi bằng nhường ngôi cho Thục Phán là thuận theo ý Trời.

– Hùng Duệ Vương không còn con đường nào khác, mở cổng thành đón quân Thục Phán, rồi nhường ngôi cho Thục Phán. Thục Phán quá bất ngờ trước sự thay đổi ý định của Hùng Duệ Vương, không nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh mà nhường ngôi cho mình.

– Thục Phán chính thức lên ngôi báu, chuyển đổi niên đại Hùng Vương thành niên hiệu An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc.

– Cùng vào thời gian ấy quân Tần đã gồm thâu lục quốc Việt Trung Nguyên đã thuộc về nhà Tần, với tham vọng chiếm trọn nước Văn Lang.

– Năm 218 trước công nguyên Vua Tần sai tướng Đồ Thư thống lãnh 50 vạn quân đánh tiến vào Trung Văn Lang ồ ạt thế mạnh như chẻ tre. Quân Tần giáp trụ đầy mình, nón đồng phủ kín, nào kị binh, bộ binh, chiến xa, trang bị ná phóng đá, xe chống tên vô cùng lợi hại. Chia ra làm hai đạo quân, một đạo quân tiến đánh Triệu Đà đang ở Nam Hải. Đạo Quân chủ lực do Thống Soái Đồ Thư trực tiếp chỉ huy thống lãnh 30 vạn quân tiến đánh Nam Văn Lang.

– Trước thế giặc hung hãn An Dương Vương ra lệnh cho Dương Sàn cùng Tây Lương, bình tỉnh vừa đánh vừa chủ động vừa rút lui. Dân chúng ở mọi Châu mọi vùng miền tạm thời duy cư sâu vào Nam Văn Lang, theo kế sách ( Vườn không nhà trống)

– Giặc Tần đi đến đâu cũng không thấy dân, nên không cướp bóc được gì, chờ cho quân Tần chia ra nhiều nhánh tiến sâu vào các châu quận địa phận Nam Văn Lang. Thống soái Dương Sàn, cùng phó thống soái Tây Lương, cho quân Văn Lang mai phục những nơi địa hình hiểm trở nơi sông suối, đèo, dốc mai phục, bất ngờ tấn công quân Tần. Đại quân di chuyển nhanh chóng, nhất là đội quân cung nỏ, phóng lao tinh nhuệ, cũng như áp dụng chiến thuật bắn tỉa, dồn quân Tần vào nơi phục kích, dùng nỏ tên hạ gục chúng.

– Với chiến thuật trên kéo dài trận chiến, dưới dồn ép quân Tần vào chỗ hiểm nghèo quân Tần chết vô số kể, lại không cướp bóc được gì của dân. Đứng trước nguy cơ thiếu lương thực. Quân Tần không làm chi được, tiến đánh không xong mà lùi cũng bị kẹt, tình thế vô cùng bất lợi, càng kéo dài càng nguy, hơn nữa quân dân Bách Việt tinh thần yêu nước quật khởi rất cao. Có thể nói là không sao quân Tần đánh bại được.

– 211 trước công nguyên Tướng Đồ Thư quyết định rút lui về Việt Trung Nguyên, không tiến đánh Nam Văn Lang nữa. Quân Tần rút lui vừa tới nơi hiểm trở. An Dương Vương trực tiếp thống lãnh đại quân xạ thủ đuổi theo truy kích, quân Tần quay lại chống trả. Quân Âu Lạc nhiều ngã kéo tới xáp chiến. Quân Tần bị động, lại thêm thiếu lương thực nhiều ngày đã mệt mỏi, tinh thần chiến đấu không còn cao. Quân Âu Lạc thời khí thế dâng trào. Những mũi tên thép bắn ra từ quân Âu Lạc. Xuyên thủng giáp thủng nón đồng quân Tần chết như rạ. Tướng giặc Đồ Thư chỉ huy la hét. An Dương Vương liền bắn một phát tên thép xé gió vút nhanh cắm thẳng vào cổ tướng giặc Đồ Thư. Thống soái Đồ Thư tướng giặc ngã nhào. An Dương Vương nhanh như con mèo phi ngựa lao tới vớt cho một đao, tướng Đồ Thư đầu lìa khỏi cổ.

– Đại quân binh mã nhà Tần như rắn mất đầu khiếp kinh hốt hoảng tháo chạy dẫm đạp lên nhau lớp chết lớp bị thương vô số những quân binh sống sót chạy về Việt Trung Nguyên Bắc Văn Lang hú hồn hú vía.

– Sau lễ ăn mừng đánh đuổi quân Tần. An Dương Vương chọn đất Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa) lập kinh đô. Phòng thủ trước âm mưu xâm lược từ phương bắc.

– Khu vực chọn để đắp thành là một quả đồi Rắn. Quân binh cùng dân chúng ra sức hì hục đắp lũy đào hào hết ngày nọ sang ngày kia. Thành rộng hơn nghìn trượng, gồm lớp tường thành quây tròn lại với nhau giống hình trôn ốc. Dân quen gọi là loa thành. Việc xây dựng An Dương Vương ủy quyền cho vị tướng thân tín là Cao Lỗ. Vị Tướng học rộng hiểu nhiều, lại lắm biệt tài không ai sánh kịp toàn quyền xây dựng.

– Kiến trúc thành cổ loa vô cùng phức tạp xen giữa khu chung cư là lũy hào chiến đấu. Nền móng của tòa thành vừa có nước vừa có thành, lũy. Nên việc đào, đắp vô cùng công phu. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm, việc khó khăn chi cũng làm nổi. Tòa thành cao lần, hào càng sâu thẳm. An Dương Vương cùng các quan đến xem lấy làm hài lòng. Cho rằng một tòa thành có thể đứng vững muôn đời, không ai có thể làm cho nó sụp đổ được, mưa bão sấm sét không lay chuyển, quân giặc cũng không thể nào phá nổi.

– Nhưng ai ngờ sau một đêm, cả tường thành quanh co đều sụp đổ xuống như đất bằng. An Dương Vương đến xem vô cùng tức giận. Cho người dò hỏi chúng dân gần đó cũng như quân dân đắp lũy xây thành kể lại rằng ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập có thể nói là rất đông khắp các ngã kéo đến, với những tiếng xì xào. Quân dân sợ quá nên không dám ra nhìn, chỉ nghe những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy.

– An Dương Vương sai các tướng lĩnh đốc thúc quân dân đắp lại, nhưng hổi ôi xây lên rồi lại đổ xuống chỉ trong vòng một đêm. An Dương Vương lại sai người dọ hỏi, thời dân chúng vẫn kể y như những lời kể trước, ban đêm họ nghe thấy rầm rầm như thiên binh vạn mã đi qua, rồi lại nghe những tiếng huỳnh huỵch ầm ầm đùng đùng như sấm dậy.

– Dân chúng nói đã lâu rồi, ở núi Thất Diệu có con Ma Quỷ hiện con gà trắng đêm đêm hiện về phá quấy phá cuộc sống an lành dân chúng, nhất là gần đây quấy phá dân quân đắp thành. Những người có trách nhiệm trong công cuộc xây thành nghe dân địa phương nói thế thời lấy làm chán nản sợ hãi.

– An Dương Vương không nản lòng, Vua động viên ba quân tướng sĩ cũng như những người có trách nhiệm đôn đốc xây thành nhất tâm không bỏ cuộc, nhất là động viên Cao Lỗ tiếp tục công trình. An Dương Vương nói với quân binh cùng dân chúng “sống chết có số ma quỷ làm gì nổi chúng ta”

– An Dương Lập đàn cầu Trời phù hộ đắp cho được loa thành. Cao Lỗ nói hãy cầu Thần Kim Quy sẽ có cách chỉ cho Bệ Hạ xây thành. An Dương Vương theo lời Cao Lỗ vừa cầu Trời vừa cầu Thần Kim Quy. Quả đúng như lời Cao Lỗ nói Thần Kim Quy xuất hiện chắp tay bái lạy An

Dương Vương rồi nói. Thần là Thần Kim Quy, ở vào thời dựng nước. Thần được Cao Tổ cứu sống nên nhớ mãi ơn người, nay có Cao Lỗ con cháu nhiều đời của Cao Tổ mách bảo Bệ Hạ cầu Thần, Thần liền xuất hiện.

– Tâu Bệ Hạ ở núi Thất Diệu có một con Gà Trắng to lớn Hồn của con Gà Trắng chính là Hồn Hồ Tinh có phép biến hóa khôn lường, nó thường hảm hại dân lành nhất là những cô gái đẹp, cũng như những khách trọ trong vùng nầy.

– Ở vào thời dựng nước Bách Việt Văn Lang giết chết không biết bao nhiêu là yêu tinh quỷ dữ trong đó có họ nhà Hồ Tinh. Đến thời Hậu Hùng Vương thời Hùng Vân Lang yêu tinh lại nổi lên quấy phá, bị quân dân Bách Việt tiêu diệt chôn lấp dưới núi Thất Diệu có đến hàng vạn, những u hồn yêu tinh quỷ quái đến nay vẫn chưa tan. Lẩn khuất trong khe đá, ở hang sâu có cơ hội là phục thù.

– Con Gà Trắng sống ở núi Thất Diệu vì có chơn dương rất cao nên bị Hồ Tinh cướp xác tu luyện thành Tinh, có pháp thuật thần thông biến hóa khôn lường, tụ tập những linh hồn tiểu yêu tiểu quỷ. Chúng có mối thù truyền kiếp với Bách Việt Văn Lang nay là Bách Việt Âu Lạc.

– Chính con Gà Trắng nầy điều động những u hồn đến chân thành xúm nhau phá đổ tường thành gần sáng lại kéo về núi. Nếu không có cách thời không dễ gì tiêu diệt được chúng. Hồ Tinh Gà Trắng vốn thích gái. Thường hiện ra chàng trai, đến nhà lão chủ quán, ân ái với con gái lão chủ quán gần chân núi Thất Diệu.

– Bệ Hạ muốn xây được thành thời phải trừ khử cho được con Gà Trắng, và giết đứa con gái của lão chủ quán kia đi. Con gái của lão chủ quán chính là Hồ Tinh Cái đầu thai. Thần Kim Quy tấu trình xong thời biến mất.

– Nghe theo lời Thần Kim Quy mách bảo An Dương Vương liền sai vài viên tướng có võ công cao cường, dẫn quân vào rừng mai phục. Những mũi tên tẩm máu chó mực. An Dương Vương cùng hai vị tướng có tài trừ yêu diệt quỷ cải trang làm khách bộ hành, đến quán xin ngủ trọ qua đêm viện cớ là trời sắp tối. Chủ quán từ chối lấy cớ nói là trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách trọ.

– An Dương Vương cùng hai vị tướng nói to nói nhỏ năn nỉ chủ quán, cũng như trả vàng bạc với giá cao, cuối cùng chủ quán đành phải chiều theo ba vị khách lạ.

– Đêm đến An Dương cùng hai vị tướng nghe thấy bước chân rầm rập mỗi lúc một rộn ràng. Một con Gà Trắng to lớn xuất hiện hóa ra chàng trai lao nhanh vào buồn người con gái ông chủ quán. Theo lời dặn của Thần Kim Quy trời hừng sáng mới ra tay.

– An Dương cùng hai vị tướng vẫn chờ đợi tiếng gà đã gáy, không bao lâu nơi phương đông hừng sáng. Liền thấy một con Gà Trắng từ trong phòng con gái ông chủ quán đi ra, có lẽ suốt đêm thỏa giấc vu sơn chàng trai đã hiện nguyên hình là con Gà Trắng, thần thông pháp thuật đã giảm sút. Đây chính là cơ hội để giết chết con Gà Trắng.

– Không thể bỏ lỡ cơ hội An Dương Vương liền bắn một phát tên trúng ngay vào con Gà. Con Gà không chết kêu quát quát cất cánh bay lên, hai vị tướng liền phối hợp nhau nhanh như chớp phi tới chém mỗi người mỗi đao giết chết con Gà Trắng. Con Gà Trắng vừa chết thời người con gái ông chủ quán cũng lăn đùng ra chết. Hóa thành con chim lớn từ trong phòng bay ra. An Dương Vương liền bắn một phát con chim trúng tên chết ngay lập tức.

– An Dương Vương ra lệnh cho quân binh đuổi theo đám u hồn yêu tinh mà bắn. Cứ một loạt tên bay đi, liền nghe thấy tiếng Ma kêu Quỷ khóc vô cùng rùng rợn. Tiếng thét hãi hùng mỗi lúc một thưa dần.

– Đến khi mặt trời mọc thời yêu khí tan biến hết, quân binh theo lệnh của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt bỏ vào từng đống, chất thành đống cao, đốt đi rồi đổ tro xuống suối, không cho u hồn trụ bám tan biến hết.

– Yêu Ma đã trừ xong An Dương Vương ra lệnh cho quân, dân, cùng binh lính xây lại thành. Dưới sự chỉ huy của Cao Lỗ dùng những tảng đá lớn chèn vào chân thành. Lũy Thành xây đến đâu, hệ thống sông đào đến đó. Tạo thành vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ Thủy Binh, Bộ Binh, Kỵ Binh, hùng mạnh. Cuối cùng thành Cổ Loa cũng xây xong. Vua, Vương, Quan, nhân dân vui mừng khôn xiết thành Cổ Loa rộng tới nghìn trượng, Tường thành vừa dày vừa cao, sông hào vừa sâu vừa rộng. xoáy tròn như hình trôn ốc nên gọi là Loa Thành.

– Thành Cổ Loa là một công trình Văn Hóa vào loại phi thường nhất trong lịch sử Văn Minh nhân loại vào thời cổ đại của người Việt.

– Thành Cổ Loa có chín vòng, chu vi vòng ngoài cùng 8km2 vòng giữa 6,5 km2. Vòng trong cùng 1,6 km2 Diện tích trung tâm thành lên tới 2km2 lũy cao 4, 5 m, có chỗ cao đến 8m đến 12 m. Mặt lũy rộng đến 6- 12 m chân lũy tường thành rộng đến 20- đến 30 m. Đây là một duy chứng, di tích lịch sử quý báu nhất. Nhiều lớp tường cổ vẫn còn.

– Nói về An Dương Vương xây xong thành Cổ Loa ra sức tổ chức quân đội, tập dợt chiến đấu. Tướng Lĩnh và Binh Lính hàng ngày cần mẫn thao luyện.

– Những đội thợ chuyên rèn vũ khí, sản xuất hàng loạt mũi tên đồng. Cũng như, lao, côn, kiếm, thương, đao, giáo, mác đều đạt đến kỹ thuật cao.

Nhất là kỹ thuật chế tạo mũi tên thép là cả sự bí mật của Âu Lạc. Chỉ riêng Cao Lỗ mới chế tạo được những mũi tên thép nầy, trên toàn thế giới ở vào thời kỳ ấy chưa có nước nào sản xuất được.

– Cao Lỗ không những chế tạo ra mũi tên thép, mà còn phát minh ra liên châu nỏ thần. Loại vũ khí bắn ra một lần hàng trăm mũi vô cùng lợi hại. Tên đồng, tên sắt, tên thép bay thẳng vào mục tiêu.

– An Dương Vương làm chủ hai thứ vũ khí vô cùng lợi hại đó là mũi tên phép, và nỏ thần liên châu.

– An Dương Vương đặc nỏ Thần Liên Châu vào những chỗ trọng yếu loa thành. Để thử sự lợi hại nỏ Thần Liên Châu bằng ra lệnh cho Cao Lỗ bắn thử. Đám mưa tên dày đặc bắn ra, sức mạnh thật kinh hồn, hàng trăm mũi tên xé gió đến rợn người. An Dương Vương lấy làm hài lòng lắm, không hết lời khen tài bác học Cao Lỗ.

* Đây nói về Hồ Tinh Gà Trắng cùng con gái Ông Chủ quán chết. Thân Gà tuy chết nhưng Linh Hồn Hồ Tinh Gà Trắng vẫn còn do tu luyện nghìn năm Linh Hồn chúng vô cùng lợi hại bám sát An Dương Vương, có cơ hội là báo thù. Hồ Tinh Gà Trắng nói với Hồ Tinh cái muốn diệt được An Dương Vương thời chúng Ta phải đầu thai làm người một đàng làm con Triệu Đà, một đàng làm con An Dương Vương. Hai ta sẽ có cơ hội trả thù. Thế là Hồ Tinh Gà Trắng đầu thai làm con Triệu Đà trở thành Trọng Thủy. Hồ Tinh cái trước đây cướp xác người con gái Ông Chủ Quán, trở thành con gái Ông Chủ Quán, đêm nào cũng ái ân với Hồ Tinh Gà Trắng, bị An Dương Vương giết chết, Liền đầu thai làm con An Dương Vương trở thành Mỵ Châu.

– Nói về An Dương Vương có người con gái xinh đẹp tuyệt trần mắt phụng mày ngài giọng nói ngọt ngào như mật rót vào tai. Một hôm Mỵ Châu đang ngồi soi mặt xuống giếng thời thấy một con Chồn xuất hiện dưới mặt giếng. Mỵ Châu hoảng sợ thét ré lên nhưng thật ra con chồn cái Mỵ Châu thấy khi soi mặt dưới giếng chính là tiền Thân của Mỵ Châu Hồ Tinh Cái. Mỵ Châu sau cơn thấy Chồn liền trở nên khôn khéo hơn xưa nhất là càng về sau càng xinh đẹp. Lúc nào cũng dạ dạ vâng vâng ngọt ngào còn hơn lúc trước. An Dương Vương lấy làm mừng lắm nghĩ mình có phúc mới mới có đứa con như Mỵ Châu. Vừa thông minh, vừa xinh đẹp, vừa có hiếu. An Dương Vương coi Mỵ Châu hơn châu báu, còn quý hơn sanh mạng của mình.

– Nói về Triệu Đà có nhiều người con nhưng Trọng Thủy là khôi ngô tuấn tú thông minh hơn cả. Một hôm Trọng Thủy thấy mình biến thành con Chồn to lớn bị người ta chém máu me đầy mình con Chồn thét lên Trọng Thủy liền mê mang không biết gì nữa. Khi tỉnh dậy như người bịnh nặng tính tình Trọng Thủy đổi khác, đôi lúc làm phật ý Triệu Đà. Triệu Đà không mấy quan tâm về tánh tình Trọng Thủy. Vì nghĩ Trọng Thủy là người tài giỏi lại khôi ngô tuấn tú nên tánh tình kiêu căng là chuyện bình thường. Quả đúng như vậy Trọng Thủy từ khi thấy Chồn trở nên khôn lanh đáo để, ma mị ít ai bì kịp.

– Quân Triệu càng ngày càng trở nên hùng mạnh lên đến 30 vạn quân Triệu Đà trực tiếp chỉ huy, nhờ có móng Rồng đội lên đầu Triệu Đà đánh bại quân Tây Lương, bắn chết Dương Sàn vị thống soái tài ba của An Dương Vương Thục Phán qua trận giao tranh khốc liệt chiếm trọn Trung Văn Lang. Quân Triệu vì thế mạnh lên gấp bội.

– Triệu Đà lên ngôi xưng Triệu Việt Vương rắp tâm chiếm nước Âu Lạc, tức là Nam Văn Lang.

– Triệu Đà ngày đêm luyện tập binh mã, cách đánh thành, những binh pháp được coi như là tối ưu nhất.

– Mùa đông năm 210 trước công nguyên Triệu Đà thống lãnh ba quân Bộ Binh, Thủy Binh, Kị Binh, tấn công vào Nam Văn Lang, thế mạnh như chẻ tre. Tướng Tây Lương chống cự không lại đành bỏ mạng. Quân Triệu hung hãn tiến quân vào thành Cổ Loa. Triệu Đà xua quân công thành hai bên xáp chiến long trời lở đất. Bao chiến thuật cao nhất Triệu Đà bằng sử dụng hết.

Thơ rằng:

Thang lớp lớp bắt lên tường đất

Người trùng trùng lớp lớp leo lên

Máy xe đá bắn lên không ngớt

Tiếng gươm đao, dậy sóng cùng tên

Mù trời mịt đất tấn công

Long trời lở đất khiếp kinh hãi hùng

Nói về An Dương Vương thấy quân Triệu trèo lên tường lớp lớp đông như kiến cỏ. Liền ra lệnh cho Cao Lỗ sử dụng nỏ Thần Liên Châu.

– Cao Lỗ phất cờ ra hiệu bắn tức thời nỏ Thần Liên Châu phản pháo nhã tên quân Triệu chết thôi là chết chỉ trong nháy mắt quân Triệu đi tiêu hơn mười vạn quân. Triệu Đà khiếp vía hoảng kinh. Đánh trống thổi kèn lui binh.

Thơ rằng:

Quân Âu Lạc bừng bừng khí thế

Thành Cổ Loa, huyền bí lạ lùng

Quân Triệu khiếp vía kinh hồn

Chết không kịp ngáp tàn đời xác thân

Thành trôn ốc, vòng quanh khép kín

Lũy tường thành nào khác mê cung

Có vào thời hết đường ra

Ăn tên ăn giáo gươm đao tàn đời

Thân trúng tên ngã nhào như rạ

Khiếp kinh hồn bỏ mạng vùi thây

Loa thành bí hiểm biết bao

Chỉ trong chớp mắt đi tiêu mười vạn quân binh không còn

Triệu Đà khiếp vía kinh hồn

Thua to nhục nhã hết còn xâm lăng.

Triệu Đà thua to nhục nhã rút quân về. An Dương Vương đại thắng mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm. Không bao lâu Triệu Đà sai sứ cầu hòa. Hai bên thỏa thuận lấy sông Thiên Đức làm ranh giới. An Dương Vương lấy đó cho là thắng lợi mới, mở tiệc chiêu đãi ăn mừng cả tháng, quần thần trong triều ai nấy cũng hào hứng say sưa.

– Cao Lỗ thấy vậy lo lắng bằng quỳ xuống tâu rằng.

– Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Quốc Vương nên bớt tiệc tùng, hãy chăm lo chận đứng mưu đồ của quân Triệu.

– An Dương Vương nghe Cao Lỗ tâu như thế liền cười lớn nói “Ta có loa thành hiểm hóc lại có nhiều dàn nỏ Thần Liên Châu vô địch bày binh bố trận” kẻ nào dám gây sự với Ta.
 
111. TRỌNG THỦY MỴ CHÂU

Nói về Triệu Đà thua trận Cổ Loa đi tiêu hơn mười vạn quân, nếu tiếp tục tấn công thời chết sạch. Bằng rút quân về đầm Nhất Dạ. Biết mình khó đánh bại được quân Âu Lạc nhất là có thành trì vững chắc, nỏ thần kinh khiếp. Bằng sai sứ cầu hòa, lấy sông Thiên Đức làm ranh giới.

– Đã hơn một năm Triệu Đà ngày đêm buồn bực âu sầu nghĩ đến nỏ thần mà ớn lạnh da gà, nghĩ đến Cổ Loa thành mà rợn tóc gáy, không biết làm sao đánh bại được nước Âu Lạc. Triệu Đà bằng nghĩ ra một kế, muốn thắng được Âu Lạc thời phải biết được bí mật luyện thép, cách làm nỏ Thần Liên Châu. Cũng như vẽ được sơ đồ Cổ Loa thành.

– Triệu Đà liền gọi con trai là Trọng Thủy vừa thông minh lại khôi ngô tuấn tú, có tài ăn nói lưu loát ít ai bằng. Nhất là hai năm vừa rồi Trọng Thủy học đâu nhớ đó cái gì cũng biết quả là một nhân tài khôn khéo ít ai bì. Triệu Đà bằng tính kế với Trọng Thủy là phải tiêu diệt cho được An Dương Vương Thục Phán. Trọng Thủy nghe nói lấy làm ưng ý, bằng nói Cha có kế sách gì chưa. Triệu Đà nói kế sách thời có nhưng con có chịu giúp Cha không? Trọng Thủy nói miễn là tiêu diệt được An Dương Vương Thục Phán thời chuyện gì con cũng làm. Triệu Đà bằng nói nhỏ với Trọng Thủy chỉ thấy Trọng Thủy gật đầu lia lịa.

– Nói về Triệu Đà với âm mưu thôn tính nước Âu Lạc liền đem lễ vật thật hậu nào là gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, nhân sâm nghìn năm, chim trĩ trắng, nào là vàng bạc châu báu, ngà voi, sừng tê giác, nhiều vô số kể chính thức cầu hôn công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy. Cũng như ở rễ làm phò mã nước Âu Lạc.

– An Dương Vương nào biết mưu sâu kế độc của Triệu Đà. Triệu Đà lúc nào cũng nói cầu hòa, nhưng trong lòng lại khác. An Dương Vương luôn tự đắc ỷ vào cung thành cũng như nỏ Thần không sợ Triệu Đà bằng vui vẻ nhận lời gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy. Với những lời cam kết, đất ai nấy ở, nước ai nấy lo, nước ao không phạm nước giếng.

– Cao Lỗ có vẻ nghi ngờ thận trọng khuyên An Dương Vương, không nên chấp nhận vội việc Triệu Đà cầu hôn Mỵ Châu cho Trọng Thủy, đề phòng âm mưu của Triệu Đà.

– An Dương Vương không nghe, Cao Lỗ chỉ biết thở dài dù sao đề phòng cũng là tốt hơn.

– Mỵ Châu gặp Trọng Thủy liền say đắm. Trọng Thủy cũng thế chẳng khác gì Mỵ Châu vừa gặp Mỵ Châu liền say đắm. Hai người tâm đầu ý hợp chớp nhoáng đã yêu nhau quên trời quên đất. Như đã từng yêu nhau ở kiếp trước giờ gặp lại nhau như keo, sơn, bám chặt dính nhau.

– Trọng Thủy ở lại thành cổ loa say đắm Mỵ Châu đến nổi quên mất lời Cha dặn suốt ngày quấn quít bên Mỵ Châu. Vốn Linh Hồn Hồ Tinh về đường ái dục thời khỏi chê suốt ngày suốt đêm không biết ớn.

– Nói về Triệu Đà lúc bây giờ là Chúa Tể đất Nam Hải quân binh hùng mạnh, nhưng lại sợ tên thép, nỏ Thần, loa thành vô cùng bí hiểm. Ngày đêm trông đợi sự thành công của Trọng Thủy. Nhưng không thấy Trọng Thủy báo tin gì, bằng cho người giả làm thường dân đến Cổ Loa đưa cho Trọng Thủy một phong thơ, hối thúc Trọng Thủy làm theo kế hoạch như đã bàn trước đây. Trọng Thủy xem thơ xong liền giật mình gần một năm trôi qua chỉ lo yêu đương chưa làm gì cả.

– An Dương Vương cho người theo dõi Trọng Thủy thấy gần một năm, thấy Trọng Thủy ngoài yêu thương Mỵ Châu ra không hề để ý đến chuyện gì khác An Dương bắt đầu tin tưởng nên lơ là đề phòng. Trọng Thủy Mỵ Châu hai người yêu nhau đến nổi Trọng Thủy làm gì, nói gì Mỵ Châu cũng nghe theo, làm theo.

– Một hôm Trọng Thủy nói với Mỵ Châu em dẫn anh đi dạo trong trong thành. Trọng Thủy đòi xem hết chỗ nầy đến chỗ kia không chỗ nào mà Mỵ Châu không dẫn đến. Trọng Thủy là người có trí nhớ vô cùng chỉ cần xem qua một lần là nhớ rõ in không sót một chi tiết. An Dương Vương không nghi ngờ gì cả. Thấy đôi trẻ yêu nhau đến nổi không còn xa nhau được nữa.

– Từ đó Trọng Thủy Mỵ Châu hai người như một không chuyện gì bí mật mà dấu nhau.

– Một đêm trăng sao vằng vặc bầu trời rất đẹp, muôn vạn vì sao nhấp nháy, một cơn gió lạnh lùa qua. Mỵ Châu nép sát vào người Trọng Thủy. Đây là cơ hội cho Trọng Thủy khai thác bí mật luyện thép. Cũng như nỏ Thần Liên Châu.

– Trọng Thủy hỏi vợ

Nàng ơi bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được. Mỵ Châu nói:

Có bí quyết gì đâu, chẳng qua là có thành cao, hào sâu, lại có tên thép cũng như nỏ Thần Liên Châu, bắn một phát chết hàng trăm quân địch, thời có kẻ nào đánh được.

– Trọng thủy nhìn Mỵ Châu vờ như lần đầu mới nghe nói đến tên thép cũng như nỏ Thần Liên Châu bằng nói ước gì được nhìn xem qua. Mỵ Châu nói muốn xem thời mai thiếp dẫn chàng đi xem chuyện nhỏ nhoi như thế có gì là mơ ước.

– Đêm ấy Trọng Thủy nhìn Mỵ Châu trằn trọc không ngủ được, vì nghĩ đến tương lai u ám không biết sẽ ra sao. Trọng Thủy vờ như ngủ Linh Hồn Trọng Thủy chính là Linh Hồn Hồ Tinh Gà Trắng tu luyện hàng nghìn năm. Nên trí nhớ không ai bằng chỉ cần một con cọp nhảy ngang qua là vẽ lại y chang.

– Mặt trời đã lên cao hơi ấm tràn về khắp lối, ánh nắng ngập tràn khắp quê hương ruộng đồng sông núi. Mỵ Châu dẫn Trọng Thủy đi xem nỏ Thần Liên Châu. Trọng Thủy chú tâm khám phá cấu trúc hình thành lên nỏ Thần Liên Châu. Cũng như nơi vị trí hiểm yếu đặc nỏ Thần trong loa thành. Mỵ Châu giải thích không thiếu sót bày cách bắn, cách lắp tên.

– Trọng Thủy thành công khám phá hai phần ba sự bí mật của Âu Lạc. Chỉ còn lại phương pháp bí quyết luyện thép nữa là xong. Trọng Thủy là người rất thông minh sau khi khám phá hai phần ba bí mật của Âu Lạc liền nghĩ ra một kế đang đi chơi với Mỵ Châu liền ôm bụng đau đớn rên la Mỵ Châu hoảng kinh đưa Trọng Thủy về phòng chăm sóc. Cứ lâu lâu chứng bệnh lại tái phát Mỵ Châu vô cùng lo lắng hỏi Chàng bị chứng bệnh gì Trọng Thủy chỉ lắc đầu làm thinh không nói. Trọng Thủy lại lên cơn đau dữ dội Mỵ Châu phát hoảng nói đã là vợ chồng anh đau cũng chính là em đau. Bệnh của Chàng không có thuốc chữa sao? Trọng Thủy ngập ngừng không nói. Mỵ Châu hỏi đến lần thứ năm sắc mặt vô cùng lo lắng. Trọng Thủy biết đã đến lúc cần nói chỉ cần một ít bột trong lò luyện thép pha chế uống vào là khỏi. Mỵ Châu ngần ngừ đôi chút. Trọng Thủy nói nàng là Công Chúa thời nơi nào mà đến không được.

Mỵ Châu nói không vào chỗ đó được đâu, đó là chỗ Cao Lỗ luyện kim một nơi bí mật, quân canh lính giác khó vào.

– Trọng Thủy ôm bụng la đau Mỵ Châu hốt hoảng nói vào đó hốt nhanh rồi rút lẹ không được ở lâu.

– Mỵ Châu dẫn Trọng Thủy đến một nơi bí mật vào chỗ luyện kim của Cao Lỗ. Quân binh canh giữ nhìn thấy Công Chúa không ai ngăn cản chỉ cúi đầu.

– Trọng Thủy xem qua nơi luyện thép có mấy thùng đựng bột kim loại pha chế, cũng như cách thức đắp lò luyện kim, Trọng Thủy liền hốt nhanh mỗi thứ một ít rồi đi ra.

– Nói về Trọng Thủy đã được cả ba, bằng nói với Mỵ Châu ở đây không có dụng cụ để sắc uống. Một dụng rất đặc biệt. Trọng Thủy lại nói đã có những thứ bột đặc biệt nầy thời không còn tái đi tái lại nữa. Anh về Nam Hải mấy ngày sẽ trở lại ngay. Mỵ Châu không muốn chia tay nhưng chàng về bên ấy chữa bệnh, nên không có cách gì giữ Trọng Thủy ở lại bằng chấp thuận cho chàng về bên Nam Hải.

– Qua hôm sau Mỵ Châu xin phép An Dương Vương cho Trọng Thủy về bên ấy chữa bệnh. An Dương Vương liền chấp thuận, vì lúc nầy An Dương Vương đã tin Trọng Thủy. Trọng Thủy vô cùng khôn khéo lại có trí nhớ đến kinh người, chỉ cần nhìn qua là trở thành bản in sao chép không bỏ sót một chi tiết nhỏ. Coi như những bí mật Âu Lạc không còn che dấu được nữa. Kinh Dương Vương không ngờ Trọng Thủy lại tài giỏi như vậy ăn cắp nghề nhưng không lộ ra cho người ta thấy.

– Lúc chia tay với Mỵ Châu Trọng Thủy nói “Anh về bên ấy rồi nhỡ có chuyện gì xảy ra, thời làm thế nào để tìm được nàng”. Mỵ Châu sụt sùi đáp, thiếp có chiếc áo lông ngỗng sáng rực khác thường, nếu phải đi đâu thiếp sẽ rút lông ngỗng thả dọc đường chàng cứ theo dấu lông ngỗng mà tìm.

– Trọng Thủy trở về Nam Hải họa lại sơ đồ thành Cổ Loa. Chỗ đặt nỏ Thần Liên Châu, họa lại nỏ Thần Liên Châu và cách sử dụng.

– Trọng thủy lấy trong người ra những thứ bột pha chế, cũng như cách thức luyện kim, lò luyện kim cấu kết thành thép.

– Triệu Đà dồn hết thợ luyện kim. Thợ pha chế, Thợ rèn kiếm, thợ rèn đao, nghiên cứu suốt tháng, chỉ luyện được thép, nhưng chưa đạt được đến đỉnh cao, không bằng những mũi tên thép do Âu Lạc chế ra. Nhưng so với mũi tên đồng tên sắt thời hơn xa. Triệu Đà lấy làm mừng.

– Nói về Triệu Đà gấp rút hơn tháng chửng bị quân hùng tướng mạnh, tập dợt phá thế trận Cổ Loa, Tránh né thế trận nỏ Thần Liên Châu. Đánh đúng lúc, chiếm đúng chỗ, sử dụng chiêu thức phá trận đúng nơi. Tiến quân lui quân đúng cách. Quân lương vận hành thông suốt, phát động chiến tranh lâu dài.

– Triệu Đà dốc toàn lực lượng hùng mạnh nhất chưa từng có tiến đánh thành Cổ Loa.

– Cao Lỗ nghe tin vào tâu An Dương Vương, chuẩn bị quân cơ sẵn sàng chiến đấu.

An Dương Vương nghe xong cười ngất nói rằng. Giặc không muốn sống nữa hay sao, có lẽ hơn hai năm chúng đã quên nỏ thần, kệ chúng, chúng đến sẽ đánh lo gì

– An Dương Vương tiếp tục đánh cờ, không lo lắng gì cả, không đầy ba ngày quân giặc kéo tới vây kín loa thành.

– Nhờ có bản đồ loa thành do Trọng Thủy vẻ ra, chỗ nào đặc nỏ Thần Liên Châu, quân địch đều rõ hết. Triệu Đà xua quân đánh chỗ không phải tầm ngắm nhả tên của nỏ Thần. Biết chỗ nào bắc thang trèo tường, lại hiểu rõ đường đi nước bước trong loa thành. Quân Triệu trèo tường như nước lở. An Dương Vương ra lệnh dùng nỏ Thần Liên Châu bắn quân địch. Tên bắn ra nhiều mà chẳng trúng được bao nhiêu. Quân Triệu tràn vào thành như nước lũ. Quân nội thành chỉ hơn ba vạn, còn đại quân ở xa làm sao cứu được lửa. Chống làm sao lại tên sắt, tên thép, tên đồng quân Triệu bắn ra. Quân Triệu phá cổng thành tiến sâu vào trong. Hàng trăm nỏ Thần Liên Châu bị những tay cao thủ thượng đẳng phá nát. Thế là hết quân Triệu từ các ngã tiến vô ồ ạt như nước vỡ bờ. Quân Âu Lạc trở thành con mồi cho hổ báo.

– Vị Trung Thần Cao Lỗ khuyên vua chạy về phương nam, điều động quân binh chống trả lại quân Triệu. Cao Lỗ xông lên phía trước ngăn cản quân giặc không cho đuổi theo An Dương Vương, một mình Cao Lỗ cùng một số quân binh tả xông hữu đột liều thân ngăn sự rượt đuổi quân Triệu đông như kiến cỏ.

Sau có thơ rằng;

Ôi khí phách, trung thần Cao Lỗ

Cùng quân binh, quyết tử hi sinh

Chận đứng quân Triệu rượt theo

Để An Dương Vương thoát khỏi vòng vây quân thù

– Trận đánh không cân sức cuối cùng Cao Lỗ chết một cách hiên ngang, người cắm đầy mũi tên Quân Triệu cũng phải khiếp kinh.

Vì nước non, một lòng dốc sức

Thà chết đi, trọn hiếu trọn trung

Sợ gì cái chết vì non

Một lòng một dạ trung kiên anh hùng

Người đời sau có thơ kính tặng ông

“Thành Ốc Treo Cao Vầng Nhật Nguyệt

Tất dạ Trung Trinh Thục Sử Truyền”

– Nói về An Dương Vương giục ngựa ngõ sau phi nước đại chạy về biển đông.

– Mỵ Châu ngồi sau lưng Cha bứt lông ngỗng ở áo thả khắp dọc đường. Trời tối mù tối mịt Trọng Thủy đang lúc hoang mang không biết tìm Mỵ Châu nơi đâu, bỗng nhìn thấy lông ngỗng. Trọng Thủy nhớ tới lời Mỵ Châu, bằng dẫn theo một toán quân binh cứ theo vết lông ngỗng mà truy đuổi. Đường núi gập ghềnh hiểm trở ngựa chạy cả trong ngày lẫn đêm, đến dạ sơn gần biển. Hai cha con định xuống ngựa ngơi nghỉ, thời quân giặc đã đuổi tới gần.

– Trời đã hừng đông đường núi quanh co dốc ngược không còn lối nào chạy. An Dương Vương liền hướng ra biển khấn vái Thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vừa khấn xong tức thời một cơn gió nổi lên cát bụi mịt mù Thần Kim Quy hiện ra nói với An Dương Vương rằng giặc ở sau lưng nhà vua đấy.

– An Dương Vương liền tỉnh ngộ rút gươm chém Mỵ Châu một luồng khí xanh bay lên hiện ra con chồn rồi biến mất, An Dương Vương vô cùng sửng sốt. Nhìn Mỵ Châu không hiểu nó là yêu tinh hay con mình. Nếu con mình sao làm hại mình như vậy.

– An Dương Vương nhìn thấy từ xa cát bụi mịt mù biết là số mình đã tận liền nhảy xuống sông tự tử.

– Nói về Trọng Thủy dẫn theo một toán quân rượt đuổi theo sau An Dương Vương theo dấu lông ngỗng đi tìm Mỵ Châu. Đến gần bờ biển thấy xác vợ nằm trên đám cỏ. Tuy chết mà nhan sắc không phai mờ Trọng Thủy khóc òa lên. Thu nhặt thi hài đêm về chôn trong thành. Rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà Mỵ Châu thường soi mặt cũng như thường tắm.

– Ngày nay ở thành Cổ Loa trước đền thờ An Dương Vương còn có cái giếng, gọi là giếng Trọng Thủy.

– Đời sau truyền rằng Mỵ Châu bị Cha giết, máu chảy xuống biển, loài trai ăn được làm cho ngọc trai sáng đẹp ra.

– Cuộc đời An Dương Vương Thục Phán, Hồ Tinh Gà Trắng. Hồ Ly con gái Ông Chủ Quán. Oan Gia tương báo thành câu chuyện Trọng Thủy, Mỵ Châu. Phá tan cơ nghiệp An Dương Vương, Là một tấm bi kịch.

– Tuy vậy nhiều thế hệ người Việt coi An Dương Vương là vị vua thông minh tài ba lỗi lạc.

– Đền thờ của Ông được lập ở ngay chân núi Mộ Dạ. Quanh năm hương khói. Còn có đền Thần thờ vị tướng tài Cao Lỗ. Nhà Bác học, Khoa Học, Chính Trị, Quân Sự, Kiến Trúc, Luyện Kim, Chế Tạo Tên Thép. Có một không hai trong thời ấy.
 
112. SỰ HỒN NHIÊN

Một ngôi nhà nhỏ cạnh đầu làng

Hàng cau trong nắng, đứng chịu tang

Bảy mùa thu đến, mùa lá rụng

Cô đơn người Mẹ sáu xuân sang

Mới đó giờ đây, Hân đã lớn

Tiếng cười giọng nói dậy ngân vang

Mẹ giá con côi theo ngày tháng

Đôi lúc vẫn còn, tiếng thở than

Dưới cơn mưa tầm tã. Bé Hân đang ngồi với mẹ thấy người ta kẻ đội nón, người che dù đi vào nhà Ông Hai, mỗi lúc một đông.

– Bé Hân hỏi; Mẹ ơi hôm nay nhà Ông Hai làm gì vậy? Bà Vân nghe con hỏi liền nói, hôm nay là ngày kị cơm Chú Ba Ổi con Ông Hai đấy con.

– Bé Hân hồn nhiên hỏi Chú Ba Ổi vì sao chết vậy mẹ. Bà Vân nghe Bé Hân hỏi như nhớ lại, một đêm tối không trăng tiếng chó sủa inh ỏi, sau đó thời tiếng súng nổ như bắp rang, canh nông, đại bác, đạn cối, thi nhau nổ ầm ầm kinh hồn bạt vía. Tiếng máy bay gầm rú đầy trời tiếng bom rền sông núi. Hình ảnh người chồng Ông Vân trúng mảnh bom không qua khỏi đành bỏ mạng, bỏ lại mẹ giá con côi Bà Vân càng nghĩ càng rơi nước mắt.

– Bé Hân thấy Mẹ rơi lệ liền lấy khen lau nước mắt cho Mẹ rồi nói, Mẹ lớn rồi mà con khóc. Bà Vân ôm con vào lòng dằn cảm xúc. Nhớ lại những ngày bom rơi đạn nổ như mới đây mọi việc hiện ra trước mắt thấy rõ như in. Trận giao tranh giữa Quốc Gia và Cộng Sản cho tới sáng, thây người rải rác khắp nơi. Ở đời người ta thường nói Trâu Bò húc nhau ruồi muỗi chết. Cộng Sản, Quốc Gia đánh nhau dân mang họa. Bà ngồi bên xác chồng lòng nghẹn ngào đau đớn không sao tả hết.

– Cuộc chiến tranh đầy phi lý, hai bên đều cho mình là đúng, đã làm đúng sao còn phải đánh nhau. Súng đã nổ thời không chết cũng bị thương, hai bên thi nhau ngã xuống không phải yêu nước thương nòi gì, mà là anh em tương tàn, nồi da xáo thịt. dù cho bên nào bị tiêu diệt cũng là Đồng Loại, anh em Đồng Bào, máu đỏ da vàng nào phải kẻ thù gì đâu. Bà Vân càng nghĩ càng thấy lòng đau, chỉ tội cho người dân vô can cũng phải chịu khổ lây, cái chết của chồng Bà do hai bên gây ra nhưng nào ai chịu trách nhiệm đâu. Sự chết đi chỉ vì trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Bà Vân nhớ lại chồng bà nằm trên vũng máu sự hi sinh vô lý trở thành nạn nhân do hai bên chém giết lẫn nhau.

Chiến tranh ơi hỡi chiến tranh

Cướp đi sinh mạng, người dân thiện lành

Làm cho chồng vợ chia lìa

Tiêu tan nhà cửa xóm làng xác xơ

Dù cho Cọng Sản, Quốc Gia

Cũng là Đồng Loại anh em Đồng Bào

Tương tàn chém giết hận thù

Gây bao thảm kịch hiểm nghèo cho dân

Chiến tranh phi lý chiến tranh

Đớn đau dân tộc tiêu tan nước nhà

Đầu xanh tuổi trẻ không còn

Gò hoang chôn xác nấm mồ quạnh hiu

Tấm chồng cũng bỏ ra đi

Để cho mẹ giá con côi tháng ngày

Trò hề ai đã đặt bày

Khói mây rồi cũng trở khói mây

Nhưng rồi biết trách ai đây

Trách cho con tạo trớ trêu cuộc đời

Càng nghĩ nước mắt tuôn dài

Nghĩ thương dân chúng họa đày gian nan

Bà Vân nước mắt chảy tuôn

Bé Hân nhìn Mẹ, Mẹ ơi Mẹ khóc nữa nè

Bà Vân lau nước mắt gượng cười. Bé Hân nhìn qua nhà Ông Hai như nhớ ra điều gì nói, Mẹ chưa trả lời Chú Ổi vì sao mà chết. Cơn mưa như trút đã tạnh Bà Vân nhìn rõ từng người đi vào nhà Ông Hai.

– Bà Vân nói nhỏ Chú Ba Ổi đi Lính Quốc Gia chết đó con.

– Bé Hân ngơ ngác hỏi hôm nay là ngày kị cơm Chú Ba Ổi Lính Quốc Gia. Sao con thấy những người đến ăn giỗ không ít người đội nón cối, không lẽ những người đội nón cối quân giải phóng kia, không hiểu Chú Ba Ổi là lính Quốc Gia họ đã giết chết hay sao?

– Bà Vân bụm miệng con gái nói nhỏ thôi. Những người đội nón cối quân giải phóng kia là anh em ruột với Chú Ba Ổi người đã chết đấy, không phải người ngoài đâu.

– Bà Vân nói người đội nón cối bận đồ xám là Chú Dừa anh cả của Chú Ba Ổi đã chết. Còn người đội nón cối mặc bộ đồ xanh là Chú Mận em ruột Chú Ba Ổi người đã chết. Họ là anh em cùng một mẹ một cha. Người đi theo Quốc Gia, kẻ đi theo Cộng Sản thế là chém giết lẫn nhau. Anh em họ chẳng thấy đau, người ngoài như mẹ đây nhìn anh em họ giết nhau mà thấy xót dạ.

– Bé Hân nghe mẹ nói thế lấy làm lạ nói Anh Em nhà họ có vấn đề gì không, Anh Em như thể tay chân sao họ lại làm như thế kẻ đi bên nầy, người đi bên kia chém giết nhau. Bà Vân nói là do tình thế tạo ra không đi theo Cộng Sản thời phải theo Quốc Gia mà thôi không còn cách nào khác. Khi con lớn lên con sẽ biết hai bên tranh nhau giành lấy từng người thi nhau bắt đi lính. Con muốn trốn cũng không được. Trong thế buộc không theo Cộng Sản thời cũng phải theo Quốc Gia. Đối lập nhau coi như không đội trời chung đi đến chém giết lẫn nhau tạo ra bi kịch đó con. Bé Hân như chợt nhớ ra bài học tuần trước liền đọc lên cho Mẹ nghe.

Gà con lạc Mẹ đá nhau

Đá cho sức trán u đầu chưa thôi

Đá cho ruột thịt tả tơi

Đá cho bỏ mạng rồi đời anh em

Đá cho lem luốt tèm lem

Máu tanh thầm đỏ hết mong sống còn

Đá cho xanh cỏ xanh mồ

Hồn Ma bóng Quỉ bạn đời gió sương

Đá cho xốm nát làng tan

Ngư ông đắc lợi ngoại bang vui mừng

Cũng vì đánh mất Cội Nguồn

Gà con lạc Mẹ tranh giành đá nhau

Bà Vân nghe xong khen bài học hay quá. Nghe mà thấm thía, mắn yêu con gái, con coi vậy mà thông minh ghê.

– Tà áo hồng vừa đi ra khỏi ngõ thời có người lên tiếng hỏi, hai mẹ con chị đi đâu mà ăn diện xinh đẹp vậy,

– Bà Vân quay đầu nhìn lại hỏi. Cô Hằng cũng đi đền thờ phải không? Cô Hằng cười nói con cháu Tiên Rồng không đi đền thờ thời còn đi đâu. Thời nay những người không quên Cội Nguồn khác gì hạt gạo trên sàng mà chị. Bà Vân nhìn Hằng rồi nói cô nói cũng phải, đi đền thờ lễ lạy Cha Trời Lạc Long Quân, Mẹ Trời Âu Cơ cũng như lễ lạy Quốc Tổ, Cội Nguồn của chúng Ta.

Ta về Ta tắm ao Ta

Dù trong dù đục đạo nhà vẫn hơn

Đạo nhà truyền thống Cha Ông

Con thuyền Nguồn Cội biết bao đẹp lành

Hiếu Trung, Trung Hiếu một lòng

Theo chân Quốc Tổ về trời cõi tiên

Đạo nhà cũng lắm linh thiên

Cha Ông phù hộ Hồn Thiên phù trì

Mắc gì ta lại mắc gì

Quên Nguồn bỏ Cội để rồi bơ vơ

Ta về Ta tắm ao Ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

– Bà Vân Cô Hằng phải nói là tâm đầu ý hợp kẻ xướng người họa, vừa mới lạ vừa văn minh ai nghe cũng thấm thía trong lòng. Hai người kẻ nói lại người nói qua, không bao lâu thời đến đền thờ.

– Bé Hân nhìn thấy người đông quá áo chen sắc áo, người chen lấy người, chật ếm như nêm. Trong lòng bé Hân vô cùng thích thú, nắm lấy tay Mẹ giục giật rồi nói người đông như thế có phải là người cách mạng hết không? Hằng trả lời thay cho Bà Vân, đã về Cội Nguồn thời không còn phân biệt Cộng Sản hay Quốc Gia. Tất cả đều là anh em Đồng Bào đoàn kết yêu thương như anh em một nhà. Tôn Giáo, Đảng Phái cũng chỉ là con Rồng cháu Tiên. Tình Đồng Bào nghĩa anh em, chung nhau một đất nước quê hương, đâu còn phân biệt chia rẽ nữa. Bé Hân nhìn Mẹ rồi hỏi đã về Nguồn thời tất cả đều là anh em phải không Mẹ. Bà Vân gật đầu thay cho lời nói.

– Bé Hân nói Cô Hằng giải thích con hiểu rồi, con thường nghe bài hát Dòng Giống Tiên Rồng đâu chỉ cho người nào tất cả Đồng Bào Dân Tộc Việt Nam đều là anh em. Cọng Sản, Quốc Gia chỉ là thời thế, thế thời, khi tỉnh lại rồi thời Cộng Sản, Quốc Gia cũng chỉ là anh em. Hằng nhìn Bé Hân khen con giỏi lắm.

– Trời đã khuya, ngôi nhà nhỏ của Bà Vân ánh điện vẫn còn sáng. Hân đang học bài chăm chú, như chợt nhớ ra điều gì liền hỏi Mẹ.

– Đáng lý ra dân tộc mình thời phải mạnh như Rồng đẹp như Tiên. Nhưng vì Phụng Hoàng đang bệnh xù lông xù cánh nên trông không được đẹp. Rồng thời trúng độc nên đau bụng không bay lên được bị người ta đè đầu cưỡi cổ phải không Mẹ.

Bà Vân nghe xong không nhịn được cười, cười sặc sụa mắn yêu, cái tổ cha mầy không lo học mà nghĩ những chuyện vu vơ.
 
113. KHA VÀ ĐÀO

Tấn Nam là một cây cao trong thượng viện chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một mẫu người khá đẹp trai, địa vị cao để bao cô gái ước mơ. Nhìn cái vẻ bề ngoài hào hoa đẹp trai của Nam, cũng đã làm ngã gục bao cô gái, huống chi là có tài ăn nói, nhất là tài đánh bóng biết chiều chuộng phái đẹp. Thời có khối cô nàng chết mê chết mệt.

– Nhất là Hương quên ăn bỏ ngủ vì Nam. Hương biết rằng mình nhà nghèo khó tranh lại, với những cô gái nhà giàu tiền muôn bạc tỉ. Hương yêu Nam đến nỗi, Nam muốn gì thời Hương cũng cho, kể cả những thứ quý giá nhất cuộc đời của cô. Cô đã có bầu hơn tháng ý định nói cho Nam biết

– Nào ai ngờ ba mươi tháng tư quân giải phóng cách mạng nuốt trọn miền nam, trong tình thế hỗn loạn. Hương tới nhà Nam thời gia đình Nam đã bỏ đi đâu không biết. Quân Cách Mạng sau đó làm chủ đất nước. Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, Sài Gòn không còn nữa trở thành tên khác Thành Phố Hồ Chí Minh.

– Binh Lính Quốc gia những người còn sống thời bỏ nước ra đi, cũng như cải tạo ở tù. Bóng hình Nam vẫn biền biệt mịt mù, Hương không còn hi vọng gì nữa, sống một mình lủi thủi sanh con ra rồi nuôi.

Hai mươi năm sau:

– Trời đã khuya Kha vẫn chưa đi ngủ ngồi bên cửa sổ nhìn mãi về ngôi nhà của Đào.

– Đào là con cán bộ cấp cao của Đảng, nhà Đào rất giàu không những thế Đào còn rất đẹp, với chiếc áo dài màu trắng ôm sát người những đường cong đẹp lạ kỳ, trông Đào như một nàng tiên, nữ sinh hoa khôi trong thời đại Hồ Chí Minh.

– Kha là con của Tấn Nam cấp cao của Quốc Gia. Kha chỉ biết vậy thôi chưa bao giờ biết mặt Cha. Tuy đất nước đã đi qua hai chục năm, nhưng thân phận Kha dính dấp đến Quốc Gia vì Kha là con của Tấn Nam, tuy đã hơn hai mươi năm trôi qua nhưng nói về kỳ thị chế độ vị thế xã hội thời Kha vẫn còn nơi đất cái. Còn bên giai cấp thắng cuộc chiến thắng thời ở tận trên mây.

– Kha biết thân phận là con ngụy quân, nên chỉ thầm yêu Đào. Một tình yêu đơn phương không bao giờ có kết quả.

– Có lẽ nhờ vào tình yêu đơn phương nầy Kha không nghĩ đến tình yêu nào khác, chỉ lo đèn sách chăm học nên Kha học rất giỏi, luôn đỗ đạt cao tiếng tăm lừng lẫy. Một hôm Kha ngồi bên cửa sổ nhìn ánh trăng vằng vặc trên trời ngâm mấy dòng thơ, cho bớt nỗi buồn.

Trăng kia ở tận trên trời

Chỉ nhìn trăng sáng dịu hiền mà thôi

Ước ao cũng chỉ ước ao

Mấy đời chiếu rách trãi lên gi.ường ngà

Đũa tre khó để mâm vàng

Vốn thân con cóc đâu cùng Thiên Nga

Hoa Hồng cắm ở bình hoa

Có đâu cắm chỗ ở nơi sình lầy

Mấy ai hiểu được sự đời

Hoa sen thường ở vũng bùn tỏa hương

Thương người thời cứ mà thương

Không hình thời bóng vấn vương tháng ngày

Trăng kia ở tận trên trời

Chỉ nhìn trăng sáng cuộc đời cũng vui

– Tiếng ngâm thơ trong màn đêm u tịch, gió rầm rì như chuyển vận lời thơ. Gửi ai kia một bóng hình xa thẳm, trong nỗi niềm ẩn chứa những lời thơ.

– Đào ngồi bên cửa sổ dưới ánh đèn khuya chợt nghe tiếng ngâm thơ từ nhà Kha vọng lại. Tim Đào run lên hồi hộp Đào không hiểu vì sao mỗi lần nghe Kha ngâm thơ, là Đào không kìm nổi quả tim nó cứ run lên theo giọng ngâm thơ của Kha.

Đào cố xua đuổi hình bóng của Kha, những lời tỏ tình yêu đơn phương của Kha, như một ma lực làm cho Đào không quên được, càng xua đuổi. Thời hình ảnh của Kha càng hiện lên rõ nét, những lời thơ thi nhau thấm vào óc không cách nào xua đuổi ra được.

– Đào phải thừa nhận Kha phong độ khá đẹp trai, nét mặt trông rất hiền từ có sức thu hút đối với giới nữ. Kha học giỏi con đường tương lai của Kha rộng mở thênh thang. Đào thở dài tâm Đào mãi giao động hồ thu đã gợn sóng lăng tăng.

– Thế thời, thời thế nào phải đứng yên, thời bao cấp lùi xa thay vào đó là cơ chế thị trường bắt đầu hé mở. Bao tháng năm Đào luôn đấu tranh tư tưởng có những đêm Đào quá mệt mỏi rồi thiếp đi.

– Từ hôm nghe được những dòng thơ tỏ tình bâng quơ không đi vào đối tượng mục đích rõ ràng, nhưng đối với Đào thời Đào biết Kha yêu mình nhưng không dám ngỏ lời vì ngăn cách giàu nghèo, cũng như cách biệt hai dòng sông kẻ ở bên nầy người ở bên kia.

– Nhà Đào với nhà Kha không xa mấy chỉ vài mươi thước chung nhau trên một con đường. Đào thấy Kha liền né tránh. Kha càng đau nhói càng dồn tâm vào việc học. Kha tốt nghiệp Thạc Sĩ ngành kinh tế loại ưu. Còn Đào thời tốt nghiệp trường đại học mở kế toán.

– Ở đời người ta thường nói có duyên xa mấy cũng thấy gần, vô duyên đối mặt nhưng lòng cách xa. Những ngày qua Kha nhìn bóng hình Đào qua gần bên nhau thế mà như xa tận chân trời.

Đêm đã khuya trời trở lạnh, để quên đi nỗi buồn Kha ngâm mấy dòng thơ.

Trời sinh ra người, để người chịu khổ

Trời sinh ra cây cỏ, để cây cỏ chịu sầu

Chiến tranh kia, đã chia lìa Nam Bắc

Để giờ đây, diềm chết quả tim đau

Lạnh lùng chi, tim đã đầy băng giá

Tránh mặt chi, tim đã chết từ lâu

Ông tơ bà nguyệt đi đâu

Để cho chú Cuội ngồi rầu gốc đa

Đào nghe những lời thơ của Kha như vạn mũi kim đâm vào quả tim. Đào thổn thức em đã yêu anh từ lâu lắm từ khi ta mới gặp nhau. Đào liền khẻ ngâm thơ.

Đêm về những giọt mưa ngâu

Trời kia ngăn cách mỗi nơi mỗi người

Ngưu Lang, Chức Nữ trên trời

Gần nhau chẳng được Thiên Hà cách ngăn

Chàng nào biết được lòng em

Con tim cũng đã rộn lên vì chàng

Bao đêm trong lúc mơ màng

Đôi chim vượt khó trong làn bão dông

Trải bao thử thách gian nan

Mới mong tìm được bình an cùng người

Tim em đã có chủ rồi

Bóng người ở tận chân trời xa xăm

– Kha ngồi bật dạy nhìn qua khu nhà bên cạnh thấy Đào ngồi bên cửa sổ. Như sợ bóng hình kia sẽ biến mất, Kha càng ra sức mà nhìn, hình như Đào cũng biết là Kha đang nhìn Đào. Đào để cho Kha ngắm nhìn như mây cùng gió xích gần lại nhau.

– Thế là từ đó hai người một sợi dây vô hình càng ngày càng trói chặt vào nhau, nụ cười ánh mắt càng thêm đậm đà. Vườn xuân đã có người làm, bón phân tưới nước rực hồng hồn xuân.

– Kha, Đào, yêu nhau không thể xa nhau được nữa Kha nói với Mẹ là Bà Hương. Qua nói Đào về làm dâu nhà mình. Bà Hương nói tuy con là thạc sĩ cũng đã ổn định việc làm, đối tượng nào thời được. Nhưng đối tượng chỗ nầy thời con đừng mơ mộng. Kha thôi thúc mãi, Kha nói Mẹ cứ qua bên ấy khi nào họ không gả thời thôi. Cuối cùng Bà Hương đành phải nghe theo, qua nhà Ông Bộ dạm hỏi Đào cho Tấn Kha. Ông Bộ lạnh lùng nói xin lỗi Bà Hương Bà đến hơi muộn con Đào đã có chỗ rồi. Bà Hương nghe xong thời lấy làm thẹn thùng như bị gáo nước lạnh tạt vào mặt. Bà Hương từ giả ra về nói lại tình hình cho Kha Nghe.

– Kha không lấy gì làm lạ cách từ chối khéo vì họ là người trên mây. Còn mình thời chỉ là cỏ dại ở dưới đất, hai giai cấp khác nhau quá xa, lại là kẻ bên địch người bên ta để khỏi xót xa, cũng như mỗi lần nhìn thấy Đào cầm lòng không được. Càng yêu Đào thời gia đình càng thêm tủi nhục. Kha bán nhà cùng Mẹ đến nơi ở khác, trước khi từ biệt Đào. Kha nói anh vẫn chờ đợi, khi nào em có chồng thời anh mới tính tới chuyện trăm năm.

– Kha cùng Bà Hương đến nơi ở mới trong một con hẻm lớn, Kha cũng tìm nơi làm mới. Kha xin làm cho một công ty nước ngoài, giám đốc công ty là Tấn Nam. Một việc kiều về nước làm ăn, công ty Tấn Nam có mặt trên nhiều nước Châu Á. Kha lương rất khá tháng năm sáu chục triệu, không bao lâu thời leo lên trợ lý cho Tổng Giám Đốc. Kha ăn nói lưu loát làm việc trôi chảy không chỗ nào thiếu sót. Lúc ngồi bên Tổng Giám Đốc ai nấy cũng đều kinh ngạc vì Kha rất giống Tổng Giám Đốc y như là Cha Con.

– Tấn Nam Tổng Giám Đốc cũng lấy làm kinh ngạc, nhưng rồi Ông nghĩ người giống người, nên Ông cũng không quan tâm nữa.

– Một hôm Tấn Nam Tổng Giám Đốc xem lại hồ sơ của Tấn Kha thời Ông giật cả mình. Chỉ có một điều ở đây là cha Tấn Kha, là Tấn Nam đã chết. Ông sững sờ giây lác lấy lại sự bình tỉnh, hồi tưởng lại quá khứ cách đây đã hơn hai mươi năm. Có lẽ bây giờ Hương đã có chồng, mình không nên quấy phá.

– Một hôm Ông gọi Tấn Kha đến hỏi trợ lý còn mấy anh em, Tấn Kha thật thà trả lời con làm gì có anh em, con chỉ biết khi con lớn lên đã mồ côi cha. Ông lại hỏi Mẹ Trợ Lý không có chồng nữa sao? Kha nghe Ông hỏi lấy làm kinh ngạc nhưng cũng trả lời Mẹ con không có chồng chỉ ở vậy nuôi con, biết rằng không biết bao nhiêu người đeo đuổi. Ông nhìn Kha rồi hỏi Trợ Lý có biết mặt Cha Trợ Lý không. Kha lại càng thêm kinh ngạc Ông Tổng Giám Đốc bữa nay hơi là lạ. Nhưng rồi Kha cũng trả lời, tôi không hiểu vì sao Cha tôi lại rất giống Ông Chủ. Xin lỗi Ông Chủ tôi không có ý gì khác, Ông nghe Tấn Kha nói như vậy trầm ngâm giây lát rồi hỏi người Mẹ Trợ Lý thờ rất giống Ta phải không? Kha gật đầu như xác nhận.

– Ông Chủ Tấn Nam đã biết chắc Tấn Kha là con của mình Ông trở nên nghiêm khắc, Ông dạy từng cách ứng xử, cũng như cách điều hành công ty. Tấn Kha vô cùng ngạc nhiên Ông ấy đối xử với mình như con của Ổng. Tấn Kha trở nên quan trọng, trong công ty. Cũng là đối tượng bao cô gái bám theo. Nhà Bà Hương từ đó không ít người lui tới toàn là con gái xinh đẹp. Bà Hương lắc đầu thở dài thằng Kha giờ đây không khác gì thằng cha của nó, chỉ tổ làm khổ người ta.

– Mấy cô ăn mặc xinh đẹp vừa ra, thời một người con gái xinh đẹp từ xa đi đến. Người con gái xinh đẹp ấy chính là Đào. Đào bước vào nhà lễ phép nói con chào thím, Bà Hương niềm nở tiếp Đào như người thân. Đào cảm động muốn rơi nước mắt.

– Bà Hương nhìn Đào rồi hỏi Cha Mẹ con vẫn khỏe. Đào nói Cha con đã về hưu rồi không còn quyền lực như trước đây nên Cha con cũng có phần dễ dãi hơn trước. Công ăn việc làm của con, con tự quyết định lấy. Bà Hương hỏi con ở riêng hay còn ở với Cha Mẹ? Đào hơi ngạc nhiên nhưng chợt nhớ ra nói. Cha con không muốn gả con cho anh Kha nên nói con đã có chỗ có nơi. Thời nay là thời văn minh hiện đại con tự quyết định tương lai hạnh phúc cho mình, ép buộc làm gì người con không yêu.

– Đào xuống bếp phụ một tay làm cơm thân thiện nói đáng lý ra con đến sớm hơn, nhưng vì tìm mãi không được nơi ở của anh Tấn Kha, con mới tìm ra đây thôi.

– Tiếng đồng hồ đã gõ Bà Hương nói năm giờ rồi thằng Kha sắp về, nó đi nó về đúng giờ đúng giấc lắm Bà Hương vừa nói xong thời Kha cung đã về tới nhà, nhìn thấy Đào đang loay hoay làm cơm với Mẹ. Kha nhìn Đào sửng sốt cảm động. Đào thấy Kha nhìn sững mình cúi đầu thỏ thẻ nói, lạ lắm sao mà nhìn người ta dữ vậy, chỉ mới hơn năm mà anh đã câu hàng tá.

– Bà Hương tằng hắng không có đâu con, đó là những cô làm ở công ty đến thăm. Tấn Kha bật cười thời ra em cũng giống như bao người khác, ớt nào mà ớt chẳng cay. Đào bỉm môi nhìn Kha ý anh nói gái nào mà chẳng thường hay ghen chồng, Tấn Kha không nhịn cười được nữa cười vang cả nhà.

– Căn nhà Bà Hương hôm nay vui vẻ khác thường, Đào thời cười nói luôn miệng hết chuyện nầy đến chuyện khác, hết chuyện nọ đến chuyện kia. Đào nói em tìm việc khắp nơi, nạp đơn nhiều chỗ, chỗ em ưng ý thời người ta không nhận thành ra lang bang hơn cả năm nay, cha em đã nghỉ hưu, đâu còn quyền lực để xin việc cho em, nghe Đào nói thế. Tấn Kha suy nghĩ hồi lâu rồi nói, anh sẽ xin cho em vào nơi công ty nơi anh làm.

– Đào nghe nói vô cùng mừng rỡ anh xin được không? Kha nói anh hiện giờ đang là trợ lý cho Tổng Giám Đốc. Việc tuyển chọn người làm trong công ty là do anh, nhưng phải qua Tổng Giám Đốc ký nhận thời mới được vào làm.

– Nói về Đào đến công ty nạp đơn xin việc, công ty Việt Á bề thế tầm cỡ thành phố. Đào cũng không ngờ địa vị vai vế của Kha lại lớn như vậy. Muốn gặp Kha rất khó phải lên phòng Tổng Giám Đốc mới gặp được. Đào không gặp được Kha chỉ nạp hồ sơ xin việc rồi ra về.

– Đào được nhận vào công ty Việt Á với mức lương khá cao. Kha trực tiếp đem giấy trúng tuyển của công ty đến nhà Đào. Thật bất ngờ gia đình Đào tiếp đãi Kha thật chu đáo.

Mới hay vật đổi sao dời

Thế thời thay đổi vận thời đổi thay

Nghỉ hưu quyền lực nghỉ theo

Tìm xin công việc cho con bầm trầy

Mới hay thế sự ở đời

Còn quyền còn lực thời còn ông tôi

Hết quyền hết lực như vôi

Làm dân vạn đại làm quan nhất thời

Đến khi thức tỉnh lại rồi

Mới hay cơ sự ở đời chuyển xoay

Láy lay, lắm chuyện láy lay

Lúc mưa lúc nắng đổi thay cuộc đời

Nói về Cha, Mẹ, của Đào thấy Kha đến, không còn lạnh ngạc như trước kia Ông gọi Đào tiếp đãi Kha thật chu đáo, còn Ông thời lui vào trong.

– Kha hôm nay là trợ lý cho Giám Đốc công ty đi chiếc xe con bóng loáng đâu còn như trước mang đôi dép trành. Kha, Đào thoải mái chuyện trò bờ rào ngăn cách đâu còn biến tan.

– Ông Bà Bộ nhìn theo chiếc xe con, mà tiếc thầm trong bụng, thương cho Đào vuột mất con rồng lên mây.

Đào làm trong công ty Việt Á hơn cả tuần mà không gặp được Kha. Vì Kha đã đi công tác cùng Tổng Giám Đốc qua nhiều nước đến các công ty chi nhánh của công ty Việt Á.

– Đào làm chung với một số nhân viên làm trong công ty cô nào cô nấy cũng xinh đẹp, đều luôn nhắc đến tên Kha. Ở đời mèo biết mèo, chuột biết chuột, Đào nhìn ra họ cũng yêu Kha. Có những cô đã đến nhà Kha, Đào vô cùng lo lắng, con đại bàng đã sải cánh thời khó mà giữ chân cho được. Đã hai tháng rồi cô không gặp được Kha.

– Tấn Kha đã hai tháng chưa về nhà nghe nói đi cùng Ông Chủ Bà Hương lòng suy nghĩ Ông Chủ Việt Á là người thế nào mà đối xử với con Bà tốt như vậy. Hôm nay trông Bà thật xinh đẹp, có lẽ vì thấy con đã đạt được ước mơ, tiền của dư ăn, không còn vất vả, khi có của thời dũa ra người, có xấu cũng thành đẹp, huống chi Bà Hương là hoa khôi thời trai trẻ, giờ đây lòng thỏa mãn hưng chí nên người đẹp ra.

– Thật bất ngờ một chiếc xe con đến trước nhà bà đậu lại, Bà đang kinh ngạc mình làm gì có bà con sang trọng như vậy, cánh cửa xe mở ra, một người khách trông rất giống Tấn Kha bước xuống. Bà Hương quá đỗi bất ngờ đứng như trời trồng nhìn người khách lạ. Người khác lạ sau khi đóng cửa xe nhìn thấy Bà Hương thời không khỏi xúc động suýt chút nữa thời chạy tới ôm Bà Hương.

Ông khách dằn lòng lấy lại bình tĩnh nói Tấn Kha về nhà chưa? Bà Hương cũng dằn xúc động nói nó đi cùng Ông Chủ hai tháng nay chưa về nhà. Bà dụi mắt xem mình đang mơ hay ngủ. Người xưa biền biệt hơn hai mươi năm bỗng dưng xuất hiện trước mặt bà. Bà gọi nhỏ anh Tấn Nam phải không? Tấn Nam cố dằn lòng không cho nước mắt trào ra Ông bước tới nắm lấy tay bà Hương. Hai người nắm tay nhau vào nhà, Bà Hương ngã vào lòng Tấn Nam người mà Bà đã hơn hai mươi năm chờ đợi, tưởng đâu đã chết giờ sống lại trở về với Bà. Bà không xúc động sao được.

– Ông Tấn Nam nhìn Bà Hương nói em vẫn đẹp như ngày nào. Anh không ngờ anh lại có người con giống anh như đúc. Nó thông minh không khác gì anh thời con trẻ. Bà Hương nói anh gặp nó rồi sao? Tấn Nam nói Tấn Kha ở bên anh hơn năm nay rồi Tấn Kha làm trong công ty của anh. Bà Hương sững sờ thế ra là vậy, anh đã biết tất cả Tấn Nam gật đầu chỉ biết mới đây.

– Bà Hương bỗng nổi lên một cơn buồn vô tả hỏi. Anh được mấy người con. Tấn Nam nói trong cuộc hỗn loạn ấy anh đâu còn cơ hội để gặp lại em. Mạng sống chỉ nghìn cân treo sợi tóc. Anh cũng không ngờ em lại mang thai, từ nơi quê hương nửa vòng trái đất xa xôi. Anh đã bỏ lại bao cô gái đã yêu anh. Họ đã có chồng, còn em thời chờ đợi ở vậy mà nuôi con. Anh nợ em quá nhiều biết bao giờ mới trả hết được đây. Anh không có con trai, chỉ có hai người con gái một đứa hiện giờ đang ở Thái Lan. Một đứa hiện giờ đang ở singapore, vợ anh đã ly dị ưng người chồng mỹ từ lâu.

Cảm thấy cuộc đời tẻ nhạt nên anh mới trở về Châu Á mở ra nhiều công ty để làm ăn quên đi người vợ Tây. Bà Hương nghe Tấn Nam kể Bà khóc vùi như hồi còn trẻ, tiếng điện thoại reo làm hai người sực tỉnh, thì ra có người từ công ty gọi đến. Tấn Nam liền từ giả Bà Hương hai người như không muốn xa nhau. Nhưng rồi Tấn Nam cũng phải trở về công ty giải quyết một số công việc.

– Năm giờ Tấn Kha đã về chiếc xe con đã đậu trước nhà. Kha lấy trong xe ra nào đủ thứ, thứ nào cũng đắc tiền toàn là hàng ngoại của nhiều nước. Kha nói đáng lý ra con đã về từ sớm, nhưng Ông Chủ vì bận việc đi đâu đó con phải thay thế tiếp khách nên con mới về muộn.

– Tấn Kha hỏi hai tháng nay Đào có đến nhà chơi không Mẹ. Bà nói Đào cũng thường xuyên đến. Đào nói không gặp con hai tháng nay. Bà nhìn Kha rồi hỏi con thấy Ông Chủ tổng giám đốc là người thế nào?

– Kha nói con thấy hơi lạ, có lẽ con giống ổng nên ổng coi con như con. Những trọng yếu nơi công ty ổng đều giao cho con. Đôi lúc con thấy có gì đó không ổn làm cho con hết bất ngờ nầy đến bất ngờ khác. Hai đứa con gái Tổng Giám Đốc con đã gặp rồi. Một người ở Thái, một người ở Singapore, đang điều hành công ty. Bà nói hai người con gái giống tây phải không? Kha kinh ngạc sao Mẹ biết Bà hương cười bí mật nói mấy cô nhân viên làm ở công ty nói cho Mẹ nghe. Kha nói hai người con gái Tổng Giám Đốc người Việt pha Tây đẹp lắm mẹ.

– Bà nhìn Kha rồi nói Cha con còn sống chưa có chết. Và Cha con cũng đã mới đến đây, Mẹ đem hình trên bàn thờ xuống rồi không thờ nữa, ai lại thờ người còn sống. Kha vui mừng không kể xiết Cha lâu nay ở đâu vậy Mẹ làm sao Cha biết Mẹ ở đây mà tìm tới ai chỉ cho vậy.

– Có lẽ từ ngày Mẹ về đây con hẻm lớn nhà mình là con hẻm lớn đường Âu Cơ, Mẹ hàng đêm thường nghĩ đến Mẹ Âu Cơ nên khiến xui cho Mẹ cùng con gặp được người cha của con. Cha con đã nhận ra con từ lâu con không hay không biết đó thôi. Kha nghe Mẹ nói đã có ý nghi ngờ nhưng không dám chắc. Nhưng vẫn hỏi người đó là ai vậy Mẹ.

– Con là người thông minh tự mình suy nghĩ hỏi Mẹ làm gì. Kha nói thì ra là Ông ấy, thảo nào Ông coi mình như con, truyền dạy tất cả tài năng kinh nghiệm của Ông, như muốn giao sự nghiệp lại cho mình, Kha thấy mình đã chuyển sang một cuộc đời mới.

Bà Hương nhìn Kha thở dài nói đúng là con với Đào lắm tường rào ngăn cách, tường rào kia chưa phá vỡ nổi lại thêm tường rào mới. Cha của con vốn trước đây là thượng nghị sĩ trong thượng viện Việt Nam Cọng Hòa.

– Kha nói con nghe Mẹ kể cha con là Thượng Nghị Viện thời Việt Nam Cộng Hòa, như giờ Việt Nam Cộng Hòa đâu còn đi vào quá khứ làm gì có chuyện ngăn cách giữa con và Đào. Con có biết cha con hiện giờ là ai không? Tấn Kha như nói giỡn không lẽ con là con Ông Tổng Giám Đốc Việt Á. Bà Hương nói không sai. Tổng Giám Đốc tập đoàn Việt Á chính là cha con, Ông Tấn Nam. Lời xác nhận của Mẹ Kha không còn nghi ngờ gì nữa Kha chỉ biết lặng thinh hai gia đình như hai bức tường cao cả mình và Đào khó vượt qua. Tấn Kha thở dài lắc đầu.

Ở đời lắm chuyện éo le

Xưa thời chiếu rách hôm nay son vàng

Nhận cha duyên phận khó thành

Trong hai chọn một thật là khó khăn

Nghĩ mình thời hiểu người ta

Bấy lâu Đào chịu biết bao trận đòn

Vượt tường nào có dễ dàng

Đến nay vẫn giữ chung tình cùng ai

Kha nói Đào rất giống Mẹ tấm lòng vô cùng cao thượng Đào thương con chỉ là một gia đình nghèo. Trong khi gia đình Đào rất giàu. Đào cũng biết con là con của Quốc Gia nhưng vẫn thương yêu con. Mẹ ơi con phải vượt qua lẽ nào con không bằng Đào.

– Cả đêm Kha trằn trọc không ngủ khổ sở vô cùng nên ngã bệnh may là bữa chủ nhật Kha không đi làm. Bà Hương hoảng quá mau điện thoại cho cha con. Kha nói con không dám điện Mẹ điện đi. Bà Hương liền gọi a lô a lô anh Nam đó hả thằng Kha bệnh rồi, chưa đầy nửa tiếng xe con đã tới. Trời xui đất khiến Đào cũng nghé chơi.

– Đào chứng kiến tất cả Cha của Kha đã trở về người Cha thương con không khác gì từng chung sống với Kha Ông lo lắng cho Kha. Lại nữa Cha của Kha là Tổng Giám Đốc tập đoàn công ty Việt Á. Đào choáng váng định lén đi về. Kha ngồi dậy nắm tay Đào ở lại, giới thiệu với Cha. Đây là người yêu của con, chúng con yêu nhau từ lâu.

– Bà Hương liền kể lại tất cả những gì đã xảy ra Tấn Kha nghe đến đâu thời tái mặt đến đó. Bà nói tuy Đào là con cấp cao của Đảng. Nhưng Đào không bao giờ chê Kha là con của Ngụy. Đào vẫn yêu Kha vượt qua bao nỗi khó khăn.

– Tấn Nam ngồi yên lặng một hồi. Đào nảy giờ đã khóc giờ đây lại đào thêm hố sâu ngăn cách. Cô định lao ra cửa Kha nắm chặt tay không cho Đào đi.

– Tấn Nam nói vết thương nào lâu ngày rồi cũng khỏi chúng con thế hệ sau nào có tội tình gì. Nam Bắc còn nối liền được thay, miễn là đời sau quên đi quá khứ không còn ngăn cách vứt bỏ thương đau. Cha đã về Nguồn theo chân Quốc Tổ Vua Hùng, cha không phản đối tình yêu hai con. Miễn là Cha Mẹ Đào chấp thuận là được.

– Kha nghe xong vô cùng cảm động, người cha thật là vĩ đại vượt qua hận thù, hàn gắn lại những vết thương. Đào đã khóc. Tấn Kha nghe Cha không ngăn cản tình yêu liền khỏe mạnh trở lại, liền nói với Tấn Nam con uống mấy liều thuốc là khỏi.

– Tấn Nam nhìn Bà Hương như nói rằng sức mạnh tình yêu chân thật là sức mạnh không gì ngăn cản nổi.

Tấn Kha cùng Đào không bao lâu nên nghĩa vợ chồng sống với nhau thật hạnh phúc. Tấn Kha trở thành cô đông lớn thứ nhì trong Việt Á trở thành phó Tổng Giám Đốc. Đào trở thành Bà chủ trong công ty Việt Á.

– Ba năm sau Ông Bộ dẫn theo một đứa cháu trai đi dạo phố, Ông nói mệt chưa Tấn Thành. Tấn Thành nói con muốn đi chơi nữa Ông Ngoại.
 
114. ĐI TÌM CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG

Thời nay phải nói là rất nay, mới rợi những năm gần đây. Có một cậu con trai nhà giàu Họ Nguyễn tên là Văn Ba, muốn tìm gặp cho được Chuyển Luân Thánh Vương mà kinh sấm thường nhắc đến đã lâm phàm, nhưng không biết người là ai ở đâu.

Từ ngày có vợ, vợ Văn Ba là Hồng Liên rất phiền lòng không thấy chồng làm ăn mà chỉ suốt ngày nghe ngóng có ai tài giỏi, nhất là xưng Di Lặc thời tìm đến.

Một hôm Hồng Liên nói thời đại bây giờ nhiều người xưng Di Lặc lắm không dễ gì nhận ra ông nào thật ông nào giả. Em là vợ cũng hiểu thế nào là đúng sai, nên không ngăn cản anh tìm Đức Chuyển Luân Thánh Vương. Nếu tìm được thời đời anh lên mây cả em nữa, còn tìm lầm người tin lầm người giả, không những tiền mất tật mang, bệnh mù quáng mê muội sanh ra làm hại đời anh mà cả đời em. Em ủng hộ anh đi tìm Chuyển Luân Thánh Vương, nhưng với một điều kiện khi anh gặp được Chuyển Luân Thánh Vương anh phải về kể lại cho em biết không bỏ sót một chi tiết nào.

Văn Ba nghe vợ nói thế thời lấy làm mừng.

Qua mấy ngày sau Văn Ba lặn lội đường xa tìm người xưng là Di Lặc khi đến nơi thấy người ta theo về khá đông Văn Ba lấy làm mừng vị nầy đích thực là Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương rồi, nên người ta mới theo về khá đông như vậy Văn Ba có bề khúm núm trước một vị thầy tuổi đã cao ăn mặc uy nghi có kẻ hầu người hạ. Văn Ba thành tâm cúng dường như bao nhiêu người khác hầu cầu mong được phúc báo cũng như sự quan tâm của Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương.

Văn Ba nhớ theo lời dặn của vợ

1, là biết rõ việc làm của người ấy

2, là họ đang làm gì nói gì

3, là chí hướng họ ra sao

4, là họ đã làm được những gì

5, là có lợi gì cho nhân loại, cho non sông đất nước

6, là họ để lại những gì, con đường của họ ấy.

Văn Ba ở lại nơi ấy tìm hiểu việc làm của bậc bề trên Đức Chuyển Luân Thánh Vương, Văn Ba thấy Ông Ta giảng thao thao bất tuyệt chuyện trên trời chuyện dưới đất, ba hồi Ông nói theo lời Phật. Ba hồi Ông nói theo lời Chúa. Ba hồi Ông nói theo sấm, ba hồi thời Ông nói theo lệnh Thượng Đế. Văn Ba về kể lại cho vợ nghe. Hồng Liên nghe xong rồi nói Ông ấy không phải Chuyển Luân Thánh Vương đâu Ông ta tự xưng đấy thôi.

Hồng Liên nói Chuyển Luân Thánh Vương là Vua trên tất cả Vua là Chúa trên tất cả Chúa. Người đến trần gian, là làm cho trần gian trở thành thiên đàng cực lạc. Cần gì phải nói theo Ông nầy Bà Kia. Mà tự mình trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, giải thoát nô lệ, kể cả nô lệ Thần Quyền. người phải có đường mới ra cho nhân loại đi theo, không lệ thuộc vào Chúa hay là Phật, nói chung là không lệ thuộc bất cứ Tôn Giáo, Đạo Giáo nào. Kể cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Chuyển Luân Thánh Vương thường là làm việc theo Thiên Ý không có ý riêng chỉ làm theo Ý Trời.

Còn vị mà anh đã gặp không phải làm việc theo Thiên Ý mà là làm việc cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nên ba hồi nói Phật, ba hồi nói Chúa, ba hồi nói Thượng Đế giáng cơ, làm theo sắc lệnh của Ông nầy Bà kia, một trăm phần trăm là Di Lặc dỏm Chuyển Luân Thánh Vương giả. Chuyển Luân Thánh Vương dễ tìm như vậy thời đâu gọi là Chuyển Luân Thánh Vương. Chỉ khi nào người lộ diện cho biết mà thôi. Còn không phải nhờ những người gặp được Chuyển Luân Thánh Vương chỉ cho. Giả sử dù cho gặp cũng không nhận ra được Chuyển Luân Thánh Vương đâu. Văn Ba nghe vợ nói thế liền tỉnh ngộ vô cùng chán nản.

Không bao lâu Văn Ba nghe người ta đồn rầm lên là Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương đã lộ diện đáng mừng hơn nữa chính là người Việt Nam đang chuyển pháp luân ở nước ngoài. Văn Ba liền lặn lội đường xa tìm qua nước bạn. Đến nơi nhìn thấy cơ ngơi của Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương phải nói là bề thế hoành tráng đệ tử lớp lớp phần đông là người Việt Nam đang sanh sống nơi nước bạn ngồi nghe thuyết pháp. Có cả đội ca múa hát ca ngợi Chuyển Luân Thánh Vương, Văn Ba nghĩ đây mới thật là Chuyển Luân Thánh Vương Văn Ba mừng lắm bằng chen lấn vào đảnh lễ cúng dường hầu mong vị Thầy, vị Cha, quan tâm chú ý. Văn Ba cúng dường xong ngồi lắng nghe Chuyển Luân Thánh Vương thuyết giáo.

Vị Thánh Vương nói Ta là đấng tối cao xuống trần chỉ cần quy y Ta, là Ta đưa về Trời, không còn sa đọa xuống địa ngục. Quyền năng của Ta sao thời Ta nói vậy. Mỗi lần vị Chuyển Luân Thánh Vương quan tâm đến ai là mỗi lần bắt ấn niệm chú làm tiêu tan hết mọi tội lỗi, thọ ký cho lên cõi thiên đàng. Văn Ba mừng quá trở về nước kể lại cho vợ nghe. Hồng Liên nghe xong rồi hỏi.

Người ấy có nói đến năm màu da Anh Em không? Có nói đến chủ nghĩa Đại Đồng không? Văn Ba nói Ông ấy không làm việc cho chủ nghĩa Đại Đồng cũng như không nói đến năm màu da anh em, chỉ ca ngợi tài năng của Ông mà thôi.

Hồng Liên lại hỏi. Ông Ấy đang làm việc cho ai? Thiên Ý Cha Trời Thiên Luật Vũ Trụ. Văn Ba nói Ông Ấy làm việc cho quyền năng của Ông.

Hồng Liên lại hỏi:

Vị Chuyển Luân Thánh Vương Di Lặc ấy có để lại Kinh Giáo không? Làm rạng danh cho dân tộc Việt Nam không Có ca ngợi Cội Nguồn không? Có nói đến Rồng Tiên không? Văn Ba nói không có Kinh Giáo để lại, cũng không ca ngợi Cội Nguồn, không đá động gì đến con Rồng cháu Tiên. Hồng Liên nghe xong, rồi nói cũng chỉ là Di Lặc dỏm Chuyển Luân Thánh Vương giả.

Theo đúng những gì cơ sấm nói Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương sanh xuống đất nước nào dân tộc nào, thời đất nước đó tỏa sáng, dân tộc đó trổi dậy anh linh, trở thành dân tộc bá chủ năm châu Văn Minh về Tinh Thần lẫn Vật Chất. Đời, Đạo cũng chỉ là một. Tất cả đều tôn thờ Thiên Luật sống theo Thiên Ý. Biến trần gian thành Thiên Đàng Cực Lạc. Theo như lời anh kể vị Chuyển Luân Thánh Vương ấy tự cho mình còn hơn cả quyền Tạo Hóa. Nên mới nói chỉ cần quy y Ông Ta là Ông Ta đưa lên thiên đàng cực lạc. Chỉ cần vài câu Ấn Chú là đủ. Luật Nhân Quả, Luật Vay Trả, Luật Siêu Đọa là do Ông Ta tạo ra chắc. Quả là lừa dối có tầm cỡ.

Đã là người Việt Nam không làm cho đất nước Việt Nam tỏa sáng, mà chỉ khoe khoang ca ngợi quyền năng quyền phép của mình. Không làm cho dân tộc Việt Nam trổi dậy anh linh trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Thời sự giáng sanh xuống Dân Tộc Việt Nam có ý nghĩa gì. Cũng không để lại Kinh Luân Giáo Pháp lấy gì mở hội Long Hoa, vì Hội Long Hoa chính là Truyền Thống Anh Linh Rồng Tiên kết trái đơm hoa kéo dài đến ba nghìn năm. Văn Ba nghe vợ giải thích liền nói không lẽ Di Lặc dỏm Chuyển Luân Thánh Vương giả. Hồng Liên nói giả hiệu một trăm phần trăm. Văn Ba lại một phen nữa thất vọng.

Cho đến một hôm Văn Ba vô tình thấy trên Faecbook xuất hiện Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương, người nầy thay mặt cho Thượng Đế. Hàng phục nhân loại mở hội Long Hoa đi vào cơ Thánh Đức, Văn Ba mừng lắm qua mấy ngày sau thời tìm đến lễ lạy cúng dường, người ấy xưng là Cha. Qua sự tìm hiểu kỹ người ấy cũng không để lại kinh luân, đôi lúc nói theo Phật, Chúa, nhất là tiếp điển tối cao Thượng Đế, nhưng được cái là ca ngợi Cội Nguồn, Ca Ngợi Quốc Tổ, đề cao con cháu Tiên Rồng. Không lẽ lại là người nầy Di Lặc tái sanh Chuyển Luân Vương xuất thế. Bằng trở về nói lại với vợ. Hồng Liên nghe xong liền lắc đầu đây cũng chỉ là Di Lặc dỏm Chuyển Luân Thánh Vương giả hiệu. Vì sao lại nói như thế.

Theo như kinh sấm nói Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế hàng phục nhân loại con người, đi vào cơ Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Có nghĩa là Chuyển Luân Thánh Vương hàng phục nhân loại con người bằng Trí Huệ chính là giáo pháp chân lý của Ngài. Thế gian có gì thời Ngài có nấy để hàng phục.

Ví dụ: Nhân loại thế gian nhiều thành phần. Thành phần chuyên môn về Văn, thành phần chuyên môn về Sử, thành phần chuyên môn về Triết, thành phần chuyên môn về Thơ, thành phần chuyên môn về Truyện, thành phần chuyên môn về Kinh, thành phần chuyên môn về luận. thành phần chuyên môn về Khoa Học, chuyên môn về Kinh Tế, v.v… Người nầy tuy xưng là Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương, nhưng không có để lại Kinh, Thơ, Văn, Triết, Sử, Truyện, Luận. Chuyển Luân Thánh Vương là vị Tối Cao Trị Quốc người xuất hiện là Luật Tạng Vũ Trụ cũng xuất hiện, trở thành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Pháp Vương của thời Thánh Đức.

Còn người tự xưng là Chuyển Luân Thánh Vương không có gì cả. Thời lấy gì để hàng phục nhân loại đi vào Cơ Thánh Đức cũng như mở Hội Long Hoa. Văn Ba nghe vợ phân tích xong lấy làm thất vọng nói. Trên đời nầy làm gì có người như thế nội giỏi về Sử không cũng đã khó, nói gì đến giỏi Kinh, giỏi Thơ, Giỏi Triết, giỏi Truyện, giỏi Luật, giỏi Luận. Giỏi Khoa Học. Đời Đạo đều ở đỉnh cao như vậy. Làm gì có con người nầy. Hồng Liên nói khi nào anh tìm ra được con người nầy dù ở giai cấp thành phần nào không quan trọng. Dù người ấy không xưng mình là Di Lặc hay Chuyển Luân Thánh Vương. Thời nhân loại cũng suy tôn Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương.

Như vậy muốn tìm ra Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương phải nhìn thấy Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Đạo, Luật, Luận, do người để lại. Đi vào Cơ Tận Độ. Hết lớp thừa kế nầy truyền trao cho lớp thừa kế tiếp theo cứ như thế theo con đường do Chuyển Luân Thánh Vương đã mở ra đi vào cơ tận độ nhân loại con người kéo dài hàng nghìn nghìn năm.

Và cho đến một hôm Văn Ba vô tình thấy trên Faecbook Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Đạo, Luật Văn Hóa Cội Nguồn, liền nói với vợ anh đã tìm ra Di Lặc Chuyển Luân Thánh Vương rồi. Hồng Liên nghe nói cũng vui mừng từ đó hai vợ chồng thi nhau đọc Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Đạo Luận.

Hồng Liên nói Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Đạo, Luật, Luận chính là Huệ Mạng Anh Linh Chuyển Luân Thánh Vương. Vì sự thành tâm mong cầu nên gặp được người mình xưa nay muốn tìm. Nghe được những lời truyền dạy cao siêu phải nói là không thể nghĩ bàn hay luận bàn sự vi diệu của sự truyền dạy ấy.
 
115. CÂU CHUYỆN LY KỲ NGU NHƯ BÒ

Ngày xửa ngày xưa có một đồng cỏ, ngày nào đàn Trâu đàn Bò cũng đến đó ăn, nhưng có một cái ao để uống, nên đàn Bò đàn Trâu không ai muốn nhường cho ai, nên thường xảy ra xung đột lẫn nhau.

Vào một ngày kia, đàn Trâu nói với đàn Bò để có sự công bằng hể bên nào thắng thời làm chủ cái ao kia, đàn Bò vốn tự cho mình là thông minh, nên gật đầu bằng lòng. Hai bên đấu lý qua đấu lý lại bên nào cũng cho mình thắng không ai chịu mình thua ai. Khi ấy có một đàn sáo bay đến nói lũ Trâu Bò kia dù cho đấu lý đến cả tháng cũng không phân được thắng thua vì không có trọng tài. Vì bên nào cũng cho mình thắng. Đàn Trâu đàn Bò nghe đàn Sáo nói thế cũng có lý bằng nói để có sự thắng thua một cách Công Bằng xin đàn Sáo làm trọng tài cho, đàn Sáo gật đầu.

Đã có đàn Sáo làm trọng tài bên nào cũng muốn ra đề trước không ai chịu nhường cho ai. Đàn Sáo thấy vậy nói tôi có một cách là hai bên đánh tù tì bên nào thắng bên đó ra đề trước. Đàn Trâu đánh tù tì thắng cuộc bằng ra đề.

Nầy đàn Bò ai là người ban cho chúng Ta ơn huệ nhiều nhất. Đàn Bò hội ý với nhau rồi trả lời, đàn Bò nói Ông Chủ của chúng Ta chứ còn ai nữa. Đàn Trâu nghe xong lắc đầu nói không đúng, tuy rằng Ông chủ làm chuồng cho chúng ta ở, bỏ rơm cắt cỏ cho chúng ta ăn, xách nước cho chúng ta uống, nuôi lớn chúng ta. Đàn Bò cắt ngang nói thấy công lao của Ông Chủ chưa ngoài Ông chủ ra còn ai ban cho chúng ta nhiều ân huệ như thế, đàn Bò nói lũ Trâu các ngươi thua rồi, ao nước kia thuộc về đàn Bò chúng tôi. Đàn Trâu các ngươi phải tìm ao khác để mà uống.

Đàn Trâu nói thua hay thắng phải do trọng tài phán quyết đâu phải đàn Bò các ngươi. Đàn Trâu nói người ban cho chúng ta nhiều ân huệ nhất chính là Trời. Trời tạo ra quả địa cầu cho chúng ta sống, quả địa cầu rộng lớn để cho chúng ta tự do muốn đi đâu thời đi, tạo ra cây cỏ cho chúng ta ăn. Trời tạo ra không khí cho chúng ta hít thở, tạo ra nước để cho chúng ta uống. Trời tạo ra mặt trời để chúng ta sưởi ấm, tạo ra những trận mưa có nước tắm mát chúng ta. Nhưng Trời nào đòi hỏi ở chúng ta gì cả.

Còn Ông Chủ ban cho ta chuồng để ở là nhốt chúng ta lại, bắt chúng ta nằm trong khuôn khổ cướp mất quyền tự do chúng ta. Ông Chủ nuôi chúng ta thời cũng bắt chúng ta cày ruộng kéo bừa, đạp mía, kéo xe đủ thứ khó nhọc. Ông Chủ bỏ rơm cắt cỏ cho ta ăn, xách nước cho ta uống để ta có thịt Ông Chủ bán chúng ta vào lò mổ. Ông Chủ kiếm tiền trên xương máu của chúng ta, có qua có lại chúng ta đâu thiếu nợ gì Ông Chủ không nói là Ông Chủ bóc lột tận xương tủy của chúng ta, ăn trên xương máu của chúng ta. Đâu như Ông Trời ban cho chúng ta đủ thứ. Ban cho chúng ta chúng ta sự sống, sự tự do, sự mưu cầu hạnh phúc. Nhưng Trời nào có đòi hỏi ở chúng ta, dù đó chỉ là một lời cảm ơn. Phi Ân Bất Cầu Báo. Đàn Bò nghe xong chẳng hiểu gì cả nhìn đàn Sáo. Đàn Sáo nói đàn Bò các ngươi thua rồi. Đàn Bò cải thua ở chỗ nào? Đàn Sáo nói Trời có bán các ngươi vào lò mổ không? Đàn Bò nói làm gì có chuyện đó, đàn Sáo lại nói sống bị nhốt, sống tự do lũ Bò ngươi chọn cái nào. Đàn Bò trả lời thế mà cũng hỏi đương nhiên sống tự do hơn hẳn sống bị nhốt rồi. Đàn Sáo lại nói người tạo ra cỏ cho đàn Bò ngươi ăn, tạo ra nước cho đàn Bò ngươi uống, tạo ra không khí cho đàn Bò ngươi thở. Tạo ra quả địa cầu to lớn cho đàn bò ngươi được đi đây đi đó tự do sung sướng, tự do mưu cầu hạnh phúc nhưng không đòi hỏi gì ở đàn Bò các ngươi dù là một lời cảm ơn. Người ấy có hơn Ông Chủ không? Đàn Bò nói hơn hẳn Ông Chủ gấp vạn lần. Đàn Sáo nói đàn Bò các ngươi thua rồi đàn Bò cải thua ở chỗ nào. Đàn Trâu nghe trọng tài đàn chim Sáo phán thế reo hò ùa xuống ao uống nước khoái chí ngâm mình tắm mát dưới ao. Đàn bò thua cuộc kéo nhau bỏ đi đàn chim sáo nhìn theo nói ngu như Bò.
 
116. TU VẠN KIẾP NGỘ NHẤT THỜI

Ngày xửa ngày xưa có một vị thầy tên là Pháp Hải thường cho mình thông thạo đạo pháp ít ai bì kịp. Để chọn một người học trò thật ưng ý liền nghĩ ra một cách người nào từ bỏ lòng Ái Dục, cũng như lòng Mong Cầu h.am m.uốn, thời sẽ nhận làm đệ tử.

Sự chọn lựa ấy cuối cùng Thầy Pháp Hải cũng tìm được một người đệ tử như ý tên là Thông Tuệ.

Thông Tuệ được nhận làm đệ tử theo học chăm chỉ tu luyện tinh tấn kinh kệ thông suốt, cho đến một hôm Thông Tuệ hỏi thầy Pháp Hải.

Thưa Thầy đoạn diệt lòng Ái Dục chấm dứt sự h.am m.uốn Mong Cầu của mình mới đạt đến đỉnh cao của sự tu hành phải không thầy.

Thầy Pháp Hải nói đúng vậy:

Nếu không đoạn được Ái Dục, cũng như sự h.am m.uốn Mong Cầu thời không bao giờ đi đến thành quả được.

Thông Tuệ nói theo con nghĩ sự Ái Dục cũng như lòng h.am m.uốn Mong Cầu chính là căn bản của Đạo Giải Thoát đó thầy. Thầy Pháp Hải nghe xong lắc đầu nói con bị Tà Ma nhập rồi nên mới nói như thế Ái Dục, h.am m.uốn, Mong Cầu chính là căn bản của Phiền Não. Các bậc chân tu đều đoạn diệt sự Ái Dục cũng như lòng h.am m.uốn, Mong Cầu giải thoát sự đau khổ.

Thông Tuệ nói Thầy là bậc chân tu, tu mấy mươi năm mà không bỏ được sự Ái Dục lòng h.am m.uốn ý Mong Cầu. Phải nói sự Ái Dục lòng h.am m.uốn ý Mong Cầu của thầy phải nói là rất mạnh, ít ai theo kịp Thầy.

Bằng chứng Thầy lúc nào cũng ưa mến Tây Phương h.am m.uốn Mong Cầu siêu sanh về Tây Phương cực lạc. Thầy là bậc cao siêu còn bỏ không được sự Ái Dục lòng h.am m.uốn ý Mong Cầu phải nói là liên tục không lúc nào quên, chỉ một đệ tử tầm thường như con làm sao bỏ được. Thầy Pháp Hải nghe xong như bị một cú sốc mạnh.

Thông Tuệ lại nói sự Ái Dục lòng h.am m.uốn ý Mong Cầu là điều tất yếu tự nhiên của con người, là căn bản cái Gốc của Đạo làm sao mà bỏ được. Nhưng h.am m.uốn Ái Dục Mong Cầu cái gì, mới là đều đáng nói.

Nếu đó là sự h.am m.uốn Ái Dục Mong Cầu bất chính thời không nên, còn h.am m.uốn Ái Dục Mong Cầu chân chính là việc đáng nên làm. Dù sống trên Tây Phương cũng thế, sống nơi Trần Gian cũng vậy. Biết cái nào cần phải loại bỏ cái nào cần phải duy trì. Thời đó mới chính là quả Trí Tuệ.

Đã là sự sống thời có lòng Ái Dục sự h.am m.uốn Mong Cầu. Ngay cả A Di Đà phát 48 lời đại nguyện không phải là sự h.am m.uốn Ái Dục Mong Cầu độ tận nhân loại con người hay sao, quyết chí làm cho ai cũng được như mình đều có sự an vui tự tại cực lạc. Bỏ mất lòng h.am m.uốn sự Ái Dục Mong Cầu thời lấy đâu đi đến quả Phật, tuy chân Tâm là Phật, Lương Tâm là Phật Tánh, nhưng muốn thành quả Phật thời phải phát nguyện độ chúng sanh. Thầy Pháp Hải lặng thinh không nói vì Thầy Pháp Hãi đã tỉnh ngộ hiểu rõ lòng h.am m.uốn sự Ái Dục ý Mong Cầu chính là căn cội của Đạo Bồ Đề. Lòng Ái Dục sự h.am m.uốn ý Mong Cầu không sáng suốt thời chính lòng Ái Dục sự h.am m.uốn ý Mong Cầu chính là căn bản tạo ra Phiền Não dẫn đến vô lượng khổ. Còn lòng Ái Dục sự h.am m.uốn ý Mong Cầu chân chính. Thúc Dục con người mau thành Đạo Quả chứng quả Ba La Trí Huệ thành tựu vô lượng phước đức an vui tự tại.

Cho đến một hôm Thông Tuệ lại hỏi thưa Thầy từ bỏ sự giàu sang, xa lánh những báu vật mới thật sự là chân tu có phải không thầy.

Thầy Pháp Hải nói người tu chân chính đương nhiên phải là như thế.

Thông Tuệ nghe xong trầm ngâm giây lát rồi nói, thế thời những người ở trên cõi Cực Lạc Tây Phương, hay những cõi Thiên Đàng đều sống trên thế giới châu báu đều là những người phạm giới không phải chân tu. Trong kinh nói cõi Linh Sơn nơi Phật ở cũng toàn là châu báu. Cõi Tây Phương Cực Lạc cũng toàn là châu báu. Nói như Thầy sống trên châu báu đều không phải là chân tu. Như vậy những vị chân tu không nên cầu siêu sanh về thế giới Cực Lạc toàn là châu báu. Mà cầu sanh về Sa Mạc để ở đúng với chân tu là từ bỏ sự giàu sang.

Thầy Pháp Hải nghe xong tái mặt nói Tao là Thầy hay là Mầy. Thấy Thầy nổi giận quát tháo Thông Tuệ nói con chỉ nói lên sự thật. Tu hành chẳng qua là bỏ cái Ác đi đến cái Thiện. Bỏ sự Mê Muội đi đến Giác Ngộ mà thôi. Lìa bỏ sự giàu sang nơi cõi tạm trần gian, tìm đến sự giàu sang vĩnh hằng trên Thiên Giới. Thầy Pháp Hải nghe những lời ấy liền tỉnh ngộ. Tìm Phật cũng chẳng ở đâu xa mà ngay tại nơi Tâm của chính mình. Quả Phật cũng rất gần chính là tận độ con người hành thiện. Cực Lạc không phải chỉ ở Tây Phương, mà ngay tại trần gian nầy cũng tìm thấy Tây Phương Cực Lạc. Ở ngay trong Chân Tâm của chính mình. Dù ở đâu cũng thế mà thôi. Thiên Đàng, Trần Gian, hay Địa Phủ. Liền ra khỏi tam giới an vui tự tại.

Thông Tuệ cũng không còn ở đó nữa mà đã bỏ đi không biết là đi đâu. Thầy Pháp Hải tự nói cho mình nghe đi đâu nữa nơi đâu cũng là nhà. Chỗ nào cũng là Cực Lạc an vui tự tại.
 
117. GIẢI THOÁT SANH TỬ

Ngày xửa ngày xưa có vị Tu Sĩ tu mãi mà không chứng được quả Sanh Tử dù đã có lục thông, thấy rõ Thiên Đàng, Địa Phủ. Cho đến một hôm vị Tu Sĩ tìm đến Tôn Sư Chân Nhân hỏi.

Thưa Tôn Sư: Tu hành giải thoát Sanh Tử là sao?

Vị Tôn Sư nói: Chân Tâm Chân Tánh làm gì có sanh tử mà tu giải thoát. Chỉ hội ngộ Chân Tâm Chân Tánh cũng như thấu hiểu Lương Tâm của chính mình Minh Tâm Kiến Tánh mà thôi.

Vị Tu Sĩ lại hỏi: Khi chứng ngộ Minh Tâm Kiến Tánh thành phật rồi có sanh tử không?

Vị Tôn Sư trả lời: Thành Phật là sống theo Chân Tâm Chân Tánh hành động theo Lương Tâm làm gì có sanh tử. Nhưng xác th.ân thể tướng của Phật đã có sanh thời phải có tử. Đã vay mượn xác thân tứ đại, thời phải trả xác thân về cho tứ đại. Dù cho đó là xác thân kim cương thời cũng phải có tuổi thọ của nó. Cho nên nói thấy 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp chưa phải là thấy được Chân Tâm Chân Tánh cũng như Lương Tâm Phật Tánh, Thánh Tánh nên chưa diện kiến được Như Lai.

Những người sống theo Lương Tâm Phật Tánh, Thánh Tánh làm chủ Chân Tâm Chân Tánh, không bao giờ thấy mình sanh tử. Chỉ vay mượn xác thân rồi trả lại xác thân mà thôi. Hết xác thân nầy đến xác thân khác. Kiếp thời mang xác thân Tiên Thiên, kiếp thời mang xác thân Phàm Tục. Kẻ chưa Minh Tâm Kiến Tánh nghĩ xác thân tứ đại là của mình nên tưởng rằng mình có sanh có tử.

Còn những người sống theo Lương Tâm Phật Tánh làm chủ Chân Tâm Chân Tánh dù trải qua hàng nghìn xác thân cũng không thấy mình sanh tử. Vì đã ra khỏi sanh tử, hiểu rõ chính mình, cũng như hiểu rõ xác thân vay mượn. Đã vay mượn thời phải trả thế thôi.

Thân xác vay mượn dù có chết, nhưng Linh Hồn nào có mất. Đừng bao giờ sợ chết, vì chết chỉ là trả lại xác thân tạm mượn mà thôi. Bằng chứng là Tu Sĩ đã trải qua vô lượng kiếp. Có những kiếp Tu Sĩ đã từng làm vua Trời. Có những kiếp Tu Sĩ đã từng làm người giàu, cũng có kiếp làm người nghèo vì đã hết phước, có những kiếp làm Quan. Kiếp nầy làm Tu Sĩ. Chân Tâm Chân Tánh, Lương Tâm của Tu Sĩ khi ở kiếp nghèo cũng bấy nhiêu. Khi làm Vua Trời cũng chẳng thêm, giờ đây làm Tu Sĩ cũng chẳng bớt nói chung là Chân Tâm, Chân Tánh, Lương Tâm Phật Tánh, Thánh Tánh dù trả qua vô lượng kiếp cũng không thêm không bớt, dù cho là kiếp chúng sanh hay kiếp phật. Bất Tăng, Bất Giảm, Bấu Cấu, Bất Nhiễm Như Như thường còn mãi mãi.

Nhưng điều đáng nói ở đây hể Chân Tâm Chân Tánh bị vô minh che lấp hành động trái ngược lại Lương Tâm gieo bao nghiệp ác, thời nhất định bị sa đọa theo nghiệp ác của mình không sao tránh khỏi theo định luật tự nhiên của vũ trụ.

Nói Tóm Lại: Người sống theo Chân Tâm Chân Tánh, Sống Theo Lương Tâm, Minh Tâm Kiến Tánh thời coi như ra khỏi Sanh Tử.

Vị Tu Sĩ nghe xong liền tỉnh ngộ thầm nghĩ thì ra giải thoát Sanh Tử chỉ là như vậy, nhận ra Chân Tâm Chân Tánh Lương Tâm của mình là thôi. Thì ra nhân loại con người ai cũng như ai không ai khác ai Chân Tâm Chân Tánh, Lương Tâm đồng nhất y chang nhau. Nên Phật nói Ta thành Phật trước các ngươi, chúng sanh thành Phật sau. Chỉ khác nhau ở cảnh giới Mê và Ngộ. Ác và Thiện mà thôi. Vị Tu Sĩ nói Văn Hóa Cội Nguồn quả là Văn Hóa Chánh Đẳng Chánh Giác. Vị Tôn Sư nói đúng vậy. Vì Văn Hóa Cội Nguồn chính là Văn Hóa Thiên Ý Cha Trời. Văn Hóa Tối Cao Vũ Trụ. Văn Hóa giải thoát sanh tử. Văn Hóa Thầy Nhân Loại và Chư Thiên.
 
118. CHỨNG NGỘ GIẢI THOÁT

Trong thời đại xã hội văn minh, có một người giàu có tên là Ông Hộ sanh được hai trai một gái. Nhất là cô gái út tên là Mỹ Duyên cực kỳ xinh đẹp càng lớn càng mộ đạo, lại thông minh hơn người. Bao chàng trai nhà giàu đem lòng mơ ước tán tỉnh, nhưng không có chàng nào lọt vào mắt xanh của cô.

Ông Hộ thấy con lớn tuổi bằng khuyên Mỹ Duyên con nên lấy chồng lập gia đình vì tuổi con đã lớn. Mỹ Duyên nghe cha nói vậy bằng nói thời nay mà cha, lấy chồng làm gì cho sớm ba mươi không ế đâu mà sợ. Mấy đứa bạn của con có chồng rồi chẳng may duyên phận rủi ro gặp phải hoàn cảnh không như ý muốn than thở sầu khổ, có đứa không tìm thấy hạnh phúc bằng ly dị. Cuộc thế vô thường sự đời luôn thay đổi, đang hạnh phúc trở thành buồn tẻ, con không chịu được cái cảnh mười hai bến nước trong nhờ đục chịu. Ông Hộ nghe Mỹ Duyên nói như vậy nên làm thinh không nói gì nữa.

Mỹ Duyên theo Văn Hóa Cội Nguồn thường đến đền thờ nghe Tôn Sư Thiện Hạnh thuyết giáo giảng đạo, đệ tử theo về rất đông. Hôm ấy có một số đệ tử trong đó có Mỹ Duyên thỉnh cầu Tôn Sư Thiện Hạnh giảng về đạo giải thoát. Tôn Sư Thiện Hạnh liền giảng chân lý giải thoát cho hàng đệ tử nghe.

Tôn Sư Thiện Hạnh thuyết giáo giảng rằng chân Lý giải thoát vô cùng đơn giản, nhưng đi vào hành động giải thoát thời mới khó.

Ví Dụ: người mê bài bạc, càng mê bài bạc thời càng khổ, dẫn đến tan nhà nát cửa, liền tỉnh ngộ lìa bỏ bài bạc thoát ra khỏi đam mê bài bạc, có nghĩa là quyết tâm giải thoát ra khỏi cảnh giới bài bạc, tìm lại sự bình yên đó là Đạo. Đi vào cốt lõi của tứ diệu đế. Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế một cách tự nhiên, dù biết rằng mình chưa bao giờ học qua Tứ Diệu Đế. Vì nhận ra cái Khổ, đi vào cái khổ chính là thói quen kết tập mê bài bạc. Để dứt khổ thời phải đoạn Diệt dứt bỏ thói quen mê bài bạc. ra khỏi cảnh giới cờ bạc tìm lại sự bình yên cho bản thân đó là Đạo. Thức tỉnh con người xa lánh bài bạc đó là Đức.

Lại nữa người nghiện rượu càng nghiện càng khổ. Thức tỉnh giác ngộ lìa bỏ thói quen nghiện rượu, thói quen nghiện rượu chính là tập quán kết Tập ưa thích trong tâm, đoạn Diệt thói quen ưa thích kết Tập trong tâm, ra khỏi cảnh giới nghiện rượu tìm lại sự bình yên trong tâm đó là Đạo. Đi vào cốt lõi của tứ diệu đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo như một định luật tự nhiên. Muốn giải thoát sự Khổ thời phải đi vào quy luật Tứ Diệu Đế, theo Định Luật Tứ Diệu Đế thời nhất định giải thoát khổ. Tứ Diệu Đế là một công thức tự nhiên công thức Diệt Khổ đi đến an vui gọi đó là Đạo. Biết nghiện rượu là khổ, đoạn diệt thói quen tập quán nghiện rượu là Giải, ra khỏi cảnh giới nghiện rượu là Thoát, đem lại sự bình yên cho bản thân gọi đó là Đạo. Thức tỉnh con người không nên sa đọa nghiện ngập đó là Đức.

Lại nữa đấu tranh chém giết lẫn nhau dẫn đến kết Tập Hận Thù là khổ. Lấy oán trả oán không sao dứt được Hận Thù khổ chồng lên khổ. Muốn dứt khổ cần phải dứt bỏ sự kết tập lấy oán trả oán gọi là Giải, thoát ra khỏi sự Hận Thù gọi là Thoát. Giải Thoát Hận Thù đem lại sự bình yên cho cuộc sống gọi đó là Đạo. Khuyên người nên mở rộng lòng thương yêu tha thứ cho nhau đó là Đức.

Lại nữa đất nước mãi rơi vào Nô Lệ là Khổ, nỗi khổ nô lệ là do bỏ Cội lạc Nguồn dẫn đến kết Tập bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu. Muốn dứt trừ từ bỏ nô lệ dẫn đến Khổ. Thời phải đoạn Diệt kết Tập bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu đối với Cha Ông. Sống có Nhân, có Nghĩa, có Trung, có Hiếu đối với Cha Ông Cội Nguồn đó là Đạo. Khuyên con cháu Tiên Rồng trở về Cội Nguồn tôn thờ Ông Cha đó là Đức. Nói chung chân lý giải thoát sự khổ đi đến an vui là như vậy. Diệt cái Nhân gây ra sự Khổ thời Đạo an vui sẽ thành.

Rộng lớn hơn nữa là sự Giải Thoát toàn diện, trở lại Thiên Đàng Cực Lạc. Khi nhận thức Trần Gian Bể Khổ, không những là Bể Khổ, mà còn là Trần Gian Cõi Tạm. Là trường thi tiến hóa Linh Hồn. Từ Mê sang Ngộ, từ Ác sang Thiện. Đã gọi là Trường Thi Trần Gian Cõi Tạm Bể Khổ, không có sự Vĩnh Hằng. Vì thế càng Dục Vọng nơi Trường Đời Giả Tạm thời càng khổ do đó phải đoạn Diệt sự h.am m.uốn nơi Trần Gian đi vào kết Tập. h.am m.uốn Tiền Tài Danh Lợi. h.am m.uốn ăn sung mặc sướng. Nói chung là h.am m.uốn đủ thứ thường tục dẫn đến sự Khổ. Khổ sa đọa xuống các tần Địa Phủ vì hành Ác. Khổ do gieo Nhân bất chính nên gặt quả chẳng lành. Để có được sự an vui Vĩnh Hằng như siêu thoát về Thiên Đàng. Chuyển hướng sự h.am m.uốn theo một lộ trình khác. Tức là đi theo con đường Đạo Đức, mà Quốc Tổ đã truyền lại cho đời. Đi theo con đường Đại Đạo Vũ Trụ Thiên Ý Cha Trời. Trở thành Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mệnh, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Như một Định Luật Tự Nhiên. Không cần học Bát Thánh Đạo trong tâm cũng tự có Bát Thánh Đạo. Đi đến giải thoát toàn diện qua Định Luật Thập Nhị Nhân Duyên.

Con đường đi đến kết quả an vui, hay đi đến kết quả khốn khổ đều trải qua Thập Nhị Nhân Duyên. 12 móc xích liên kết tạo ra.

1, là Chân Tâm Chân Tánh, 2, là Hành, 3, là Thức ý thức nhận thức, 4, là Danh Sắc lục trần, 5, là Lục Nhập lục trần nhập vào lục căn, 6, là Xúc sự tiếp xúc, 7, là Thụ Thọ cảm nhận, 8, là Ái ưa thích, 9, là Thủ bảo thủ, 10 là Hữu hữu là có, căn nghiệp hình thành đầy đủ. Hể có quả nghiệp đầy đủ liền khởi sanh. Khởi sanh là đi vào kiếp mới hễ có sanh thời có tử như một Định Luật Tự Nhiên.

Nếu Chân Tâm Chân Tánh Bất Minh có nghĩa là không sáng Vô Minh. Đi vào Hành Động Ác tạo ra một chuỗi dài từ Vô Minh Mê Muội. sanh ra Hành Ác, tạo ra Nhận Thức Bất Chính. Tiếp nhận Danh Sắc Bất Chính từ lục trần. Lục trần xâm Nhập vào 6 giác quan. Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, sự tiếp Xúc ấy thành thói quen gọi là Thụ. Thụ Thọ lãnh đi đến là Ái ưa thích, đã ưa thích liền bảo Thủ bám chặt gắng bó không rời. Sanh ra có hình có tướng của nghiệp Ác gọi là Hữu. Đã có nghiệp Ác thời khởi sanh tướng mạng, có tướng mạng thời phải chịu theo Định Luật Tuần Hoàn. Sanh Trụ, Dị, Diệt có nghĩa là Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Đi đến chu kỳ một vòng đời. Nếu Chân Tâm Chân Tánh Bất Minh Hành ác thời kết quả một vòng đời con người từ quá khứ đến hiện tại phải nhận lấy nhiều thảm họa tai ương khốn khổ.

Còn nếu Chân Tâm Chân Tánh Minh Chánh tỏa sáng hành động Chân Thiện tạo ra một chuỗi dài từ Chân Tâm Chân Tánh, hành động tạo tác phúc lành, nhận thức Giác Ngộ. tiếp nhận Danh Sắc từ lục trần những gì tốt đẹp. Nhập vào 6 giác quan, Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý. Sự tiếp xúc Lục Nhập ấy kết tập thành thói quen. Sanh ra cảm tình yêu mến tức là ưu Ái ưa thích. Đi đến Bảo Thủ bám chặc gắng bó. Cảnh giới chân thiện đi vào kết quả. Đã có kết quả liền khởi sanh đi vào sự sống kiếp mới. Thai sanh hoặc hóa sanh. Đương nhiên có sanh thời phải có tử đó là Định Luật của Tạo Hóa. Nhưng kiếp đời của vị nầy phải nói là phước báo vô cùng vô tận vô biên.

Mỹ Duyên nghe xong liền giác ngộ làm chủ chân lý Định Luật giải thoát đi vào Đạo. Truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn độ người gieo trồng Phước Đức. Về sau trở thành Thánh Mẫu. Làm Vương Mẫu một cõi trời. Trường sanh bất tử an vui tự tại.

 
SỬ TRUYỆN

VĂN LANG CHIẾN SỰ I


THIÊN ẤN THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI

2005

Đinh Hùng Chung

PHẦN 1

Có sinh có tử luật xưa nay

Tổ Tiên Tạo Hóa đã an bày

Hết mưa tới nắng đời là thế

Hết thịnh rồi suy vốn xưa nay

Cách đây năm nghìn năm, Hùng Vương Quốc Tổ là con của Kinh Dương Vương. Mở rộng đất đai vào Nam. Khai lập ra nước Văn Lang, cùng văn hóa Cội Nguồn Tiên Rồng, ra đời Hiến Pháp nước Văn Lang, nền Quốc Đạo Tiên Rồng dân tộc. Mở ra thời đại mới, thời đại văn minh tinh thần lẫn vật chất. Có một không hai ở giai đoạn nhân loại con người thời kỳ ấy.

Vua Hùng lên ngôi Quốc Vương Hoàng Đế năm 25 tuổi, ở ngôi Quốc Vương 79 năm thọ 104 tuổi. Truyền ngôi cho con cả là Hùng Quý Lân 2880 trước Công Nguyên, ở ngôi Quốc Đạo 3 năm thời về Trời. Rồi cứ thế lần lược con, cháu các Vua Hùng kế vị Quốc Vương trị vì Thiên hạ. Nối nhau được 23 đời. Đời Hùng Vương thứ 23 không có con trai. Hùng Dịch Lang đành phải lập cháu. Con của Hùng Cừ dòng thứ. Là Hùng Vân Lang lên ngôi Quốc Vương. Niên hiệu Hạ Hùng Vương đời thứ nhất 1232 năm Nhâm Dần trước Công Nguyên.

Thời dựng nước 79 năm thời Quốc Tổ Vua Hùng.

Thời giữ nước, mở rộng thêm đất nước 2622 năm.

Thời con, cháu kế vị các Vua Hùng. Tổng cộng thời dựng nước, thời giữ nước của các Vua Hùng là 2701 năm. Nhà nước Văn Lang ra đời 2959 trước Công Nguyên.

* * *


PHẦN 2


Văn Lang Độc Lập mấy nghìn đời

Nào phải không người chớ dễ ngươi

Con cháu Tiên Rồng luôn yêu nước

Hiếu trung truyền thống dễ mà xơi.

Nước Văn Lang: Bắt giáp Hồ Động Đình. Tây Bắc giáp Ba Thục. Tây giáp sông Hồng Lạc tức là sông Mê Công ngày nay. Ở thời Thượng Hùng Vương, Nam giáp Đèo Ngang. Ở thời Hạ Hùng Vương Nam giáp Hồ Tôn giáp giới Quảng Nam. Đông giáp biển Nam Hải, Đông Hải.

Nước Xích Quỷ được mở rộng vào Nam lên tới 23 Bộ thành nước Văn Lang. Có hai Kinh Đô chính. Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ là Kinh Đô cổ có từ thời Viêm Đế Thần Nông trên đất Giao Chỉ.

Còn Kinh Đô Văn Lang trên vùng đất Phong Châu Nghĩa Lĩnh Phú Thọ là Kinh Đô có từ thời Hùng Vương. Cũng từ đây nền Quốc Đạo Tiên Rồng mở màng Hiến Pháp nước Văn Lang. Thượng trị Quốc Đạo, hạ trị Quốc Hội. Trên thi hành Đạo, dưới thi hành Luật, đồng nghĩa thời nay. Thượng viện Quốc Đạo. Hạ viện Quốc Hội, trên ban hành Công Đạo, dưới ban hành Công Luật. Nền Quốc Đạo không truyền xuống dân, mà chỉ truyền xuống Vua. Rồi Vua truyền xuống Quan ở hàng Vương tộc, Châu – Bộ.

23 Bộ thời Văn Lang dựng nước, được duy trì hết thời thượng Hùng Vương. Đến thời hạ Hùng Vương 23 bộ xác nhập lại còn 15 bộ đó là:

1: Bộ Giao Chỉ

2: Bộ Chu Diêm

3: Bộ Vũ Ninh

4: Bộ Phú Lộc

5: Bộ Việt Thường

6: Bộ Ninh Hải

7: Bộ Dương Truyền

8: Bộ Lục Hải

9: Bộ Gia Ninh

10: Bộ Nhật Nam

11: Bộ Cửu Chân

12: Bộ Bình Văn

13: Bộ Tân Hưng

14: Bộ Cửu Đức

15: Bộ Văn Lang


Nước Văn Lang tuy sát nhập còn 15 Bộ. Nhưng có tới hàng nghìn Châu, Huyện. Đất đai rộng lớn vô cùng, rộng lớn hơn thời thượng Hùng Vương, giàu có trù phú vô cùng.

* * *


PHẦN 3


Văn Lang Độc Lập thái bình ca

Xuân nở đầy xuân gấm đầy nhà

Bỗng đâu sấm nổ từ phương Bắc

Giặc Ân tham vọng dấy binh qua.

Thời hạ Hùng Vương đời thứ 3 Hùng Tiên Lang lên ngôi Quốc Vương trị vì thiên hạ thay Cha Ông Nội Hùng Yên Lang 1141 trước Công Nguyên. Non sông đất nước thái bình an lạc, đời sống lên cao, dân giàu có, của Báu đầy nhà. Hoa khôi xuất hiện khắp nơi, tin đồn vạn cõi. Bay đến tai Ân Thọ Vương Vua Trụ. Đời Ân Vua Trụ là tay háo sắc, háo chiến, hung bạo, tham lam, độc ác. Lúc nào cũng muốn độc bá thiên hạ, luôn luôn đi ngược lại lời dạy của các bật nhơn hiền, nghịch Thiên, ác Đạo. Nghe tin đồn phương Nam giàu có, gái đẹp như Tiên nữ giáng trần. Sơn hào, hải vị, món ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu khắp nơi. Thời lòng thèm muốn nổi lên, đến nỗi ăn không ngon, ngũ không yên. Lúc nào cũng nghĩ đến xâm lược thôn tính nước Văn Lang. Cho đến một hôm Vua Trụ không kìm lòng nỗi nữa, liền thực hiện làm theo ý muốn của mình. Thường thường Vua Trụ lâm triều hơi muộn. Nhưng hôm nay lại khác hơn mọi khi, Trụ Vương nét mặt rạng rỡ, nhưng không dấu nỗi đầy vẻ tham vọng, khi thấy các Quan, Tướng đến chầu đông đủ.

Chễm chệ trên bệ rồng, Trụ Vương tiếng nói oan oan như sấm, hai con mắt tóe lửa, nhìn chòng chọc đầy hung khí, ai nhìn thấy cũng phải khiếp sợ, với hàm râu quai nón dài thòm vểnh ngược như muốn ăn tươi nuốt sống ai đó:

Trẩm nghe nói ở phương Nam Độc Lập gần hai nghìn năm, uy danh các Vua Hùng lừng lẫy, xem thường phương Bắt chúng ta. Từ thời Nghiêu, Thuấn nhà Hạ, đến đời nhà Thương ông cha ta. Có trên dưới nghìn năm. Đều kiêng dè Nam Ban Văn Lang. Có lẽ vì thế Nam Ban Văn Lang coi thường phương Bắc chúng ta. Đời tiền nhân kiên dè, nhưng đời ÂN THỌ VƯƠNG ta thì không. Ta phải làm cho chúng biết thế nào là sức mạnh phương Bắc ta. Không những đất phương Nam, mà ngay cả đất Băc chúng ta. Những nước không tùng phục, thời ta cũng phải xóa sổ chúng làm bá chủ thiên hạ.

Càng nói Trụ Vương càng đắc ý:

Trẫm nghe đâu thời hậu Hùng Vương, chỉ là những vị Vua tầm thường, chẳng tài cán chi. Trẩm còn nghe nói nước Văn Lang giàu có, không những sơn hào hải vị, món ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu như núi như non. Lại thêm văn minh nông nghiệp lúa nước, hạt ngọc ấm no, khai thác đồng thau, sắt thép vượt bật. Nhất là thép quí hiếm vô cùng.

Vua Trụ càng kể càng nổi lên thèm khát tột độ. Không những Vua mà ngay cả Quan cũng nổi lên sự thèm khát như vậy. Nếu thu phục được nước Văn Lang, gồm thâu Thiên Hạ Nam Bắc về một mối. Lập lên kỳ tích mà từ xưa tới nay chưa ai làm nỗi. Nhà Ân sáng chói có một không hai, trong lịch sử nhân loại. Có lẽ lòng háo chiến, háo thắng, dã tâm, tham vọng quá lớn. Nên đã làm lu mờ lý trí Vua Trụ. Lượm lặt thông tin không chính xác. Dẫn đến đánh giá thấp nhân tài, thực lực của nước Văn Lang.

Thừa Tướng Thương Dung thấy Trụ Vương xem thường nước Văn Lang thời than thầm rằng: Có lẽ cơ nghiệp nhà Thương sắp hủy diệt, nên bệ hạ mới nổi lên lòng háo chiến, ngạo mạng xem thường Nam phương Văn Lang.

Liền khuyên can Vua Trụ rằng:

Muôn tâu bệ hạ. Nam Ban Văn Lang không phải tự nhiên mà giàu có, Độc Lập kéo dài như thế, điều có cái gốc rễ nguyên nhân của nó. Đó chính là nền Quốc Đạo dân tộc. Hiến Pháp của nước Văn Lang, Hiến Pháp nền Quốc Đạo. Mới thật là Vua của nước Văn Lang. Các Vua Hùng nối nhau phò trì nền Quốc Đạo nầy. Đánh bại Vua Hùng thời có thể làm được. Nhưng đánh bại nền Quốc Đạo Tiên Rồng thì…

Thừa Tướng Thương Dung không dám nói nữa. Vua Trụ nổi nóng quát:

Thì sao Thừa Tướng không nói tiếp.

Thương Dung ấp a… ấp úm…

Vua Trụ nói:

Thừa Tướng cứ nói ta không bắt tội.

Thương Dung thưa:

Muôn tâu bệ hạ. Thắng người thời dễ, nhưng thắng Đạo, thời từ xưa tới nay chưa có ai làm nỗi. Huống chi là nền Quốc Đạo Tiên Rồng Hiến Pháp khai dựng lập lên nước Văn Lang.

Muôn tâu bệ hạ. Nam Ban Văn Lang là một cường quốc vô cùng lợi hại. Lợi hại cả hai mặt, về tinh thần lẫn vật chất. Đất đai rộng lớn, rừng núi hiểm trở, sông ngòi, kinh rạch chằng chịt. Đúng là nơi Hổ ẩn, Rồng nằm vô cùng bí hiểm. Nên gần 2000 năm Độc Lập giữ vững chủ quyền. Không phải là không có lý do.

Vua Trụ nghe cũng có lý thời thừ người. Nét mặt buồn thảm vô hạn.

Vưu Hồn, Bí Trọng thấy Vua Trụ mất vui, liền tâu rằng:

Muôn tâu bệ hạ: Nước Văn Lang thế nầy thế nọ. Chẳng qua là lời đồn, còn thực tế ra sao thời chưa tỏ rõ. Hùng Tiên Lang chỉ là vị Vua tầm thường. Chỉ lo an hưởng thái bình vui thú núi non. Các thân Vương, hầu Vương cũng vậy, bất tài vô dụng, béo mập chẳng nên tích sự gì. Có lẽ đây là cơ hội lập lên nhà Ân rộng lớn uy danh chúng ta, thống nhất thiên hạ Nam Bắc mở ra trang sử mới, trang sử hào hùng thời Ân.

Trụ Vương đang u sầu, nghe Vưu Hồn, Bí Trọng nói có lý, tân bốc sướng tai khoái chí vô cùng. Thấy Trụ Vương đắc ý nghe lời sàm tấu của loài nịnh hót Hồ tinh.

Mai Bá tâu rằng:

Ở đời Thái Hậu, đất Ba Thục có hai vị Chúa Vương là Hồ Xương, Hồ Quảng. Thần thông Pháp thuật vô biên. Có dã tâm lớn muốn nuốt nước Văn Lang. Nhưng đều thất bại bỏ mạng tại sa trường. Sau đó thời tới giặc Hung Di Mũ Đỏ là thứ giặc hung hiểm vô cùng, bước chân lên đất Văn Lang liền bỏ mạng không có ngày về.

Triệu Khải tâu thêm:

Muôn tâu bệ hạ. Hạ Thần lâu nay vẫn nghe nói nước Văn Lang có bảy thanh Bảo Kiếm vô cùng lợi hại. Báu vật trấn Quốc, do Quốc Tổ Vua Hùng truyền lại. Nhờ thế nước Văn Lang vững bền Độc Lập, quân Văn Lang bất khả chiến bại.

Vua Trụ nghe Triệu Khải tâu thế mặt liền biến sắc, thấy Triệu Khải đề cao nước Văn Lang nhân tài báu vật thái quá.

Sùng Hầu Hổ liền lên tiếng. Sùng Hầu Hổ tính tình mười phần giống Vua Trụ tám chín phần. Háo sắc, hung dữ, tham lam, xưng hùng xưng bá, luôn coi thiên hạ ở dưới chân. Nghe Thương Dung, Mai Bá, Triệu Khải đề cao đất Nam. Nhân tài, vật báu, Quốc Đạo thái quá. Làm giảm uy phong đất Bắc thời đại bành trướng nhà Ân.

Thời liền tâu lên Vua Trụ rằng:

Muôn tâu bệ hạ. Đời Ân ta so với các đời trước thời thế lực, vật lực, binh khí, nhân tài mạnh lên gấp hàng chục lần. Có thể nói là tột đỉnh. Nếu đem so với nước Văn Lang về mặt nào chỉ có hơn chứ không kém. Nhân sự, quân sự, chính trị, binh lính, đều hơn hẳn nước Văn Lang, gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần. Hơn nữa đất Ba Thục là do đời Ân ta cai quản. Hồ yêu, Hồ ma là con cháu của Hồ Xương, Hồ Quảng, từ thời nhà Hạ di cư xuống. Nên có mối tình giao hảo thời Ân Thương chúng ta. Sức mạnh đất Bắc chúng ta dời núi lấp sông. Chưa giao chiến sao biết là không thắng. Theo tôi nghỉ nước Văn Lang chỉ là con cọp đất nắn nặn lên mà thôi.

Trụ Vương thấy Sùng Hầu Hổ gãi đúng chỗ ngứa, khoái chí cười lên ha hả:

Ta cũng muốn xem Nam Ban lợi hại như thế nào.

Thấy Vua Trụ đã Quyết, các Quan các Tướng chẳng dám hớ môi.

Đây nói về Vi Tử Khải, Vi Tử Điển là anh của Vua Trụ. Không được chọn lập lên ngôi Hoàng Đế. Tuy không phản đối nhưng lòng lúc nào cũng buồn rười rượi. Nghĩ đây là cơ hội ngàn vàng. Nếu chiếm được nước Văn Lang thời ta xưng Vương ở đó. Mặc sức tha hồ mà hưởng.

Liền tâu lên Vua Trụ rằng:

Hạ Vương cũng muốn tham gia cuộc chiến lập công góp sức cùng Bệ Hạ.

Vua Trụ lấy làm ngạc nhiên, không nghi ngờ gì phê chuẩn cho đi Thế là:

Lòng tham bùng dậy đá sắt tiêu

Bất chấp lời khuyên chết cũng liều

Binh hùng tướng mạnh rền đất Bắc

Hung tin nghìn dặm sấm vang kêu

Bầu trời u ám sa bão táp

Beo gầm sói hụ hiện quỹ yêu

Cuồn cuộn mây đen bay cùng khắp

Trời Nam dân chúng khổ lên nhiều.

* * *


PHẦN 4


Tiên Lang đang niệm Cha Trời

Bỗng đâu ngọn gió lạnh người bay qua

Hiện đầy quỷ dữ yêu ma

Gươm đao giáo mác bay ra mịt mù

Máu xương đầy khắp hoang vu

Quê hương lửa dậy âm u đen ngòm

Tiên Lang lo lắng bồn chồn

Hợp liền quan tướng, kế bàn chuyển xây.

1141 trước công nguyên Hùng Tiên Lang lên ngôi Quốc Vương. Non sông đất nước thái bình an lạc, ngô, lúa, sắn, khoai. Nông, lâm, ngư, nghiệp luôn luôn được mùa lớn. Biển lặng sóng êm, giao thương thuyền bè buôn bán tấp nập. Ao hồ sông rạch tôm cá đầy ghe. Danh lam thắng cảnh. Ca, múa, chiên, trống, hội hè. Người chen sắc áo, hoa thắm đua khoe. Ấm tình non nước, ấm nghĩa bạn bè. Hè già nắng dịu, nẫy đọt non thu.

Nơi đền thờ. Hùng Tiên Lang đang thành tâm niệm Đức Cha Trời Lạc Long Quân. Địa Mẫu Âu Cơ. Thời bỗng có một cơn gió dữ nổi lên. Làm đèn nến tắc sạch. Hiện lên đầy Cáo Sói, Ma Quỷ hung tợn. Hùng Tiên Lang giật mình lo sợ. Không hiểu điều gì sắp xảy ra. Lại thấy binh lửa dậy trời, người chết như rạ. Máu xương đầy khắp Giao Chỉ. Hùng Tiên Lang liền cho người thông báo khẩn cấp, các bộ các châu về họp.

Thường thường hàng năm hai lần họp. Đều ở Cung Hạ Trị Quốc Hội. Nhưng nay cuộc họp bất thường lại khác hẳn cuộc họp ở Cung Thượng Trị Quốc Đạo, nên các quan tướng cũng đánh giá được phần nào tầm quan trọng của cuộc hộp bất thường nầy.

Có thể nói là tối quan trọng, liên quan đến sự an nguy Tổ Quốc. Nên sắc mặt các vị quan tướng người nào, người nấy tỏ vẻ hết sức căng thẳng. Nơi Cung Thượng Trị Quốc Đạo. Thái Thượng Hoàng Hùng Yên Lang cùng Hùng Tiên Lang ở đó đợi các vương, các quan, các tướng đến họp. Hương trầm nghi ngút trước Tiên Linh 24 vị Quốc Vương đã về trời, ngôi cao nhất chính giữa ngôi Quốc Tổ Hùng Vương: Trên Quốc Tổ là hai Đấng Tiên Rồng, Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Còn hai bên tả hữu dưới ngôi Quốc Tổ. Một bên là Thượng Hùng vương. Một bên là Hạ Hùng Vương.

Thượng Hùng Vương: 23 Linh Vị từ cao xuống thấp

Hạ Hùng Vương: 1 Linh Vị ở trên cao cánh hữu. Linh Vị Hùng Vân Lang, đời thứ nhất hạ Hùng Vương. Thứ 24 thời Hùng Vương.

Ai bước vào Cung Thượng Trị Quốc Đạo cũng điều thấy khiếp sợ, trước tài năng uy Đức của các Quốc Vương Thánh Tổ. Lúc bấy giờ nơi Cung Thượng Trị Quốc Đạo. Bá quan văn võ đủ mặt chẳng thiếu một ai. Hùng Tiên Lang đi ngay vào ý chính. Kể lại câu chuyện cách đây bảy hôm. Trẫm đang niệm danh hiệu Đức Cha Trời. Thời một chuyện lạ lùng rùng rợn xảy ra. Hùng Tiên Lang kể lại không bỏ sót một chi tiết nào. Nghe xong các Vương, các Quan, các Tướng ai nấy cũng đều kinh hải. Trong số các Vương gia, có Cao Hầu Tể Vương Gia là con cháu lâu đời của Cao Tông, Cao Tổ là người giỏi về thiên văn, địa lý, dịch lý, tướng số, thuật số, đón mộng, Tiên liệu như Thần. Nghe Quốc Vương kể xong liền co tay bấm quẻ, mặt liền biến sắc. Các Vương, các Quan, các Tướng, không khỏi lo lắng đồng nghỉ việc gì sắp xảy ra.

Cao Hầu Tể Vương tâu với Quốc Vương rằng:

Muôn tâu Quốc Vương, hạ quan thấy những ngày gần đây, trên bầu trời các chòm sao sáng lên một cách kỳ lạ, hạ quan nghỉ mãi. Bỗng một hôm hạ quan thấy mình bay lên trời, tới những vì sao sáng ấy, đó là những chòm sao gần miền hạ giới, hạ hạ Thiên Vũ Trụ, những chòm sao sáng ấy chưa có ngôi chủ quản, nên đã phát ra hung tinh, thiện tinh xung phá lẫn nhau, mỗi ngày một thêm dữ dội. Không lẽ Huyền Cơ Vũ Trụ đã chuyển đến giai đoạn phong thần, ý Trời chọn người chủ quản cho đủ số bộ máy huyền vi Vũ Trụ. Nếu thế thời cuộc phong thần sắp xảy ra.

Thái Thượng Hoàng, Hùng Yên Lang nói:

Không lẻ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lại rơi vào cuộc phong thần?

Cao Hầu Tể vương nói:

Muôn tâu Thái Thượng, chúng ta là con cháu Tiên Rồng, giai cấp cao quí Vũ Trụ, giai cấp phật Thánh Tiên. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là cuộc chiến tranh chính nghĩa, không phải là cuộc chiến tranh xưng hùng, xưng bá, mà cuộc chiến tranh tự vệ theo Thiên luật hành trì, giữ vững cán cân công lý, bảo vệ độc lập tự do, nhân quyền, bình đẳng công bằng theo thiên luật tôn trọng lẫn nhau. Vì vậy hi sinh bảo vệ Tổ quốc giữ vững chủ quyền độc lập là sự hi sinh cao cả, nếu Trời có phong cũng chỉ phong Thánh mà thôi.

Thái Thượng Hoàng nói:

Ta cũng nghỉ như vậy và ta cũng đã nhớ lại, các thời Tiên Vương truyền xuống giai đoạn phong Thánh sau phong Thần ba nghìn năm Hội Long Hoa khai mở. Đó là thời kỳ Quốc Tổ lâm phàm trở lại, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng toàn thế giới. Đó là việc xa xôi vì phong Thần chưa xảy ra chúng ta không nên bàn tới nữa, mà hãy bàn về chuyện sắp xảy ra đối với non sông Tổ quốc chúng ta. Cao Tể Vương cho biết việc Kiết – Hung của toán quẻ vừa rồi.

Xin tuân lệnh Cao Hầu Tề Vương nói:

Muôn tâu Quốc Vương có lẽ nước Văn Lang chúng ta đi vào cuộc chiến chưa từng có ở thời ông cha ta. Quân Bắc giặc Ân đang dốc toàn lực lượng xâm lược nước ta với quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh nhân loại, thế mạnh dời non lấp biển. Thời ông cha ta dựng nước Xích Quỷ, dựng nước Văn Lang. Đã chém không biết bao nhiêu là chúa Yêu, chúa Quỷ, thuồng luồng, chồn, cáo, sói, rắn, hổ, báo. Nhất là Hồ Tinh – Ngư Tinh – Mộc Tinh lợi hại vô cùng. Nay chúng đã đầu thai làm người phần đông đều ở phương Bắc. Dọc theo các con sông lớn từ thượng nguồn cho đến hạ nguồn, như sông Hoàng Hà, Trường Giang, v.v… và các con sông phụ lưu khác. Có cơ hội là chúng trả thù tiêu diệt chúng ta ngay và cơ hội thời cơ đó đã đến. Chúng đã hội tụ đủ nhân quyền tạo dựng được binh hùng tướng mạnh và đã bắt đầu di chuyển lực lượng xâm lược thôn tính nước Văn Lang ta, yêu khí, hung khí xông lên làm cho Trời Đất u ám đến kinh người. Muôn tâu Quốc Vương. Chúng ta khẩn cấp cho cuộc chiến, dốc toàn lực lượng chống trả một còn, một mất nầy.

Tây Thục Hầu nói:

Ta sợ gì chúng, loài ăn cướp chồn, cáo Yêu Tinh. Tuy nước Văn Lang ta sóng yên, biển lặng, thái bình độc lập đã lâu, nhưng nhờ vào nền Quốc Đạo, nên con cháu Tiên Rồng lúc nào cũng bền vững ý chí. Muôn người như một nhứt hô bá ứng. Ta hãy cho chúng biết thế nào là truyền thống anh hùng dân tộc. Đã dẫm chân lên đất Văn Lang, thời không có ngày về, thây phơi chật đất, làm phân cho cỏ cho cây.

Hùng Tiên Lang nói:

Văn Lang chúng ta xưa nay nhân tài mọc lên như nấm, địa hình phức tạp, núi non hiểm trở, sông lạch chằng chịt, rừng đồi cùng khắp với địa hình này ta không bao giờ sợ chúng.

Thục Vương nói:

Muôn tâu Quốc Vương, đúng vậy đúng vậy. Đất Tây Bắc Văn Lang sẽ là nơi vùi xác chúng.

Hùng Cao Lang nói:

Nam Kinh Xích Quỷ, Giao Chỉ là vùng đất Tổ của ông cha ta có bề dày lịch sử hơn ba nghìn năm. Đã từng đánh tan quân xâm lược Bắc giữ yên bờ cõi, là vựa lúa lớn nhất của nước Văn Lang ta, cũng là nguồn thủy sản lớn nhất cung cấp cho cả nước. Bắc Giao Chỉ là sông Nam Trường Giang. Nam Giang chỉ là sông Tây Giang. Quân xâm lược sẽ vùi chôn nơi đây, không còn một mạng sống sót trở về.

Cao Lạc Hầu vương thưa:

Muôn tâu Quốc vương. Đông Hải Văn Lang xưa nay là thế mạnh của thủy chiến, không những mạnh về thủy chiến mà còn mạnh cả về bộ chiến rừng, lạch chằng chịt âm u. Quân xâm lược sẻ bỏ mạng, thân xác làm mồi cho tôm cho cá. Trị cái tội xâm lược ngông cuồng của chúng.

Thấy khí phách hào hùng của các bật Vương, Quan, Tướng. Hùng Tiên Lang lấy làm vừa lòng nói:

Chúng ta là con cháu Rồng Tiên thời không có gì phải tham sống sợ chết. Tức thời hàng loạt kế sách, sách lược, chiến lược, chiến thuật được nêu ra bàn bạc thảo luận nắm lấy mọi chủ động, mọi cơ hội, mọi thời cơ ứng biến tiêu diệt địch.

* * *
 
PHẦN 5

Nói về Vưu Hồn, Bí Trọng ngày đêm xúi giục Vua Trụ xâm lăng tiêu diệt nước Văn Lang, thấy ý mình đã đạt. Trong lòng lấy làm sung sướng đánh một giấc ngủ ngon lành. Bỗng thấy hồn mình lạc đến U Hồn Cốc ra mắt Chúa Vương là một con cáo già bảy đuôi.

Vưu Hồn, Bí Trọng lạy:

Chúng con ra mắt Chúa Vương.

Chúa Vương hỏi:

Hai con theo hầu Chúa Tổ có khổ lắm không?

Vưu Hồn, Bí Trọng ngơ ngác: Không rõ Chúa Tổ là ai? Nhưng không dám hỏi. Chúa Vương nói:

Các con đã đầu thai làm người, không phải loài Cáo nữa. Nhưng Linh giác vẫn không quên mối thù diệt Tổ, diệt Tông của quân dân Văn Lang cách đây gần hai ngàn năm. Loài Chồn, Cáo ta có cơ hội là trả thù, đòi lại Địa Long Vũ Trụ. Nhưng đã thất bại nhiều lần. Loài Chồn, Cáo ta có đến hàng triệu, dù tu luyện đến đâu, cũng không làm gì được loài người, sẻ bị loài người sát hại. Không dễ gì đòi lại Địa Long Vũ Trụ trả mối hận thù. Chỉ có một con đường duy nhất là xả bỏ thân Chồn Cáo ngàn năm, trăm năm tu luyện. Đầu thai làm người. Chỉ có loài người mới diệt được loài người, đó là lời nói của Chúa Tổ. Chúa Tổ đã xả bỏ cái thân tinh khí tu luyện hàng triệu năm, để đầu thai làm người mưu đồ nghiệp lớn. Làm bá chủ thống trị nhân loại, trả mối hận thù ngàn xưa, đòi lại Địa Long Vũ Trụ. Không bao lâu nữa, Chúa Tổ Mẫu của loài Hồ Tinh chúng ta cũng sẽ lâm phàm. Nhưng không đầu thai chi mượn xác người. Tuy thân hồn các con là người. Nhưng tâm hồn ý thức vẫn còn loài Chồn, Cáo dù cho Thần Thánh cũng không phát hiện được. Thôi hai con trở về trần thế đi.

Chúa Tinh liền thổi một luồng yêu khí vào hồn người Vưu Hồn, Bí Trọng sau đó thời phất tay một cái. Vưu Hồn, Bí Trọng giật mình thức giấc mới hay là mình vừa chiêm bao. Từ đó về sau lúc nào Vưu Hồn, Bí Trọng cũng xúi dục Vua Trụ làm nhiều điều đại gian đại ác đối với con người. Nhất là tàn sát con cháu Tiên Rồng, chiếm lấy nước Văn Lang cho bằng được. Vua Trụ càng ngày càng cương quyết, huy động binh hùng tướng mạnh tiêu diệt nước Văn Lang càng sớm càng tốt.

Chồn Cáo xưa nay vẫn âm thầm

Mưu mô tiêu diệt các Vua Hùng

Mài gươm nghìn kiếp trên núi hận

Con cháu Tiên Rồng họa hiểm hung

Bắc phương hung khí đầy trời

Từ lâu muốn nuốt Nam thời Văn Lang

Quân hùng tướng mạnh rền vang

Giáo gươm ngun ngút loáng loang kinh người

Trường giang sóng dậy ầm ầm

Lớp sau lớp trước cuộn cuồn tiến qua

Cậy mình quân tướng tài ba

Lòng tham vô đáy Trời coi ra gì.

Trên đồi Vọng Đọ người ta nhìn thấy quân Ân đông như kiến, trùng trùng điệp điệp lan lan lớp lớp gươm giáo sáng ngời. Xe ngựa mịt mù có hơn trăm vạn, ai nhìn thấy cũng thất kinh. Không bao lâu vượt qua Bắc sông Trường Giang, tiến thẳng về Nam sông Trường Giang. Cách Nam sông Trường Giang hơn khoản 6 hoặc 7 dặm, thời hạ trại đóng quân tại đó.

Vua Trụ hạ trại đóng quân chưa được bao lâu, thời có quân vào báo:

Bẩm Chúa Công hơn 50 trấn chư hầu lớn nhỏ đã kéo đến, tổng cộng trên dưới 60 vạn. Quả là con số không nhỏ.

Vua Trụ nói:

Quân ta đã lên tới 160 vạn quân thời quân Văn Lang chỉ cần thấy đã khiếp rồi. Còn đâu tinh thần để mà đánh.

Nói xong cười lên ha hả vô cùng đắc ý.

* * *



PHẦN 6


Vì nước vì non kể chi thân

Thịt nát xương tan chẳng ngại ngần

Một mất một còn quân xâm lược

Rồng Tiên truyền thống diệt quân Ân

Trải mật phơi gan, đầy non nước

Vang rền trung hiếu, Đạo cháu con

Cha ông dẹp giặc nghìn đời trước

Kim cỗ rạng danh mãi thường còn

Nói về Hùng Tiên Lang Quốc Vương cùng 50 vạn quân tinh nhuệ. Nhắm hướng Nam Kinh Xích tức tốc lên đường. Khí thế dậy non dậy núi, không bao lâu tới địa phận Giao Chỉ. Suốt dọc đường, hai bên đường dân chúng hết lòng ca ngợi, hết lòng sùng kính, hết lòng ngưỡng mộ dâng lên đồ ăn thức uống, lương thực thuốc men đồ gia dụng cần thiết, góp công góp của đánh giặc Ân.

Thấy dân vì nước giọt lệ rơi

Tiên Lang thề nguyện khấn giữa trời

Chỉ còn hơi thở ta cũng đánh

Đánh cho lũ giặc nát tả tơi

Đại quân đi gần tới Nam Kinh Xích Quỷ. Thời chiêng trống dậy trời cờ bay phất phới. Đó không phải là quân giặc, mà là quân Nam Kinh Xích Qũy đội ngũ chỉnh tề tiếp đón Quốc Vương. Hùng Tiên Lang khen thầm trong bụng. Bỗng tiếng vó ngựa vang lên rồm rộp. Một đội kỵ mã mũ giáp chỉnh tề oai hùng tiến tới trước Quốc Vương ra mắt hành lễ. Hùng Cao Lang cưỡi con ngựa Xích Long Câu to lớn dẫn đầu các quan tướng, xuống ngựa hành lễ ra mắt Quốc Vương. Hùng Tiên Lang xuống ngựa đỡ Hùng Cao Lang dậy nói miễn lễ miễn lễ.

Hùng Cao Lang mời Quốc Vương cùng các quan tướng vào thành, đi thẳng vào ngôi Chính Diện. Nơi mà Quốc Tổ Vua Hùng đã sinh ra. Các quan tướng ở Kinh Đô Văn Lang, phần nhiều chưa có dịp ra Kinh Bắc, Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ. Thấy sự giàu có ở đây còn hơn cả Phong Châu Kinh Đô Văn Lang.

Các quan tướng lấy làm kinh ngạc:

Sao Quốc Tổ không ở đây mà lại ở Kinh Đô Văn Lang?

Nhưng không ai trả lời được câu hỏi nầy. Lại thấy nơi chính giữa cung điện có đôi Quốc Vương Nam Nữ diện mạo phi phàm. Người cha bồng đứa hài nhi, tỏa hào quang. Bức tượng người cha bồng con. Không ai khác hơn là Đức Vua Kinh Dương Vương. Còn đứa hài nhi tỏa hào quang ấy, chính là Quốc Tổ Hùng Vương.

Các quan, tướng nhìn thấy ba bức tượng ấy. Lòng xúc động, như nhìn thấy ở quá khứ hiện ra hết sức thiêng liêng, ăn sâu vào tâm hồn bao thế hệ con cháu Văn Lang. Nhất là Quốc Vương Hùng Tiên Lang không sao cầm giọt nước mắt.

Bỗng có người vào báo:

Có Cao Lạc Hầu Vương đến.

Mời Hầu Vương vào, Hùng Tiên Lang ra lịnh. Cao Lạc Hầu Vương vào ra mắt Quốc Vương nói:

Xin Quốc Vương tha tội, Hạ quan đến trễ.

Hùng Tiên Lang cười nói:

Miễn lễ.

Sau đó thời Vua tôi an tọa đi vào nghị sự bàn kế sách chống giặc. Đây nói về Tây Thục Hầu Vương, sau khi rời khỏi Kinh Đô Văn Lang, cấp tốc bay về Tây Thục.

Có câu thơ ca rằng:

Bạch Long Thần Mã ai bì

Ngày đi vạn dặm ai thời cũng kinh

Huống chi gặp lúc ngoại xâm

Ngựa bay vun vút vượt tần núi cao

Hơn tên bắn hơn tên lao

Xé mây xé gió, biết bao oai hùng

Thục Vương anh dũng phi thường

Ngựa người lao vút núi rừng vụt qua.

Tây Thục Vương là vị Vương đang cai quản hàng mấy mươi Bộ Lạc, Bộ Tộc vùng Tây Vu rộng lớn từ Tây Bắc giáp Ba Thục, đến Tây Nam AI LAO dân số lên tới vài triệu người.

Bắc Tây Thục gồm những châu lớn như: Di Tây Châu, Ngô Bắc Tây Châu, Hung Hung Tây Châu, Liêu Tây Thượng Châu, Phù Ung Tây Châu, Tam Giang Tây Châu, Lư Tây Trung Châu, Lô Lô Tây Châu, Phiên Tây Thượng Châu, Mân Di Tây Châu, Đinh Giao Tây Châu, Thượng Tây Giang Châu, Uất Lang Việt Châu, Lâm Giang Tây Châu.

Trung Trung Tây Thục Văn Lang gồm những châu lớn như: Tây Âu Châu, Hồng Thượng Thượng Châu, Hồng Lạc Châu, Thạch Vân Châu, Thái Vân Tây Châu, Bộc Tây Châu, Cựu Tây Châu, Thượng Đà Châu, Lai Trung Tây Châu, Âu Điền Châu, Môn Tây Châu.

Nam Tây Thục Văn Lang gồm những châu lớn như: Lao Sơn Thượng Tây Châu, Lao Sơn Tây Nam Châu, Lao Sơn Đông Tây Châu, Thượng Thượng Châu, Đà Thịnh Châu, Vệ Linh Tây Châu, Mã Linh Tây Châu, A Pha Tây Châu, Khơ Khơ Tây Châu, Mường Lai Tây Châu, Điện Linh Tây Châu.

Tây Thục Vương có tới chín người con, chia nhau cai quản toàn lãnh thổ Tây Vu, Tây Văn Lang. Chín người con đó là:

1: Thục Lao

2: Thục Man

3: Thục Di

4: Thục Chăm

5: Thục Liêu

6: Thục Châu

7: Thục Mân

8: Thục Ren

9: Thục Cương


Đa phần dân chúng Tây Thục Văn Lang đều xưng dân tộc Âu. Khi Tây Thục Vương về đến Tây Thục vào thành Âu Tây liền cho gọi chín người con đến bàn tính kế sách chống giặc ngoại xâm.

Thấy các con đến đông đủ Thục Hầu Vương nói:

Quân Bắc sắp xâm lược nước Văn Lang ta các con khẩn cấp về điểm binh mã dốc toàn lực lượng theo cha đến Nam Kinh Xích Quỹ chống giặc.

Thục Lao nói:

Thưa cha từ khi Quốc Tổ dựng nước tới nay, giặc Hồ, giặc mũ Đỏ, giặc Hung Nô, đã bị ông cha ta đánh tơi bời kinh hoàng khiếp vía, sau này còn dám hó hé. Đồ ếch, nhái mà cũng đòi vuốt râu Hùm sao?

Tây Thục Vương nói:

Các con lầm rồi lần này không phải là ếch, nhái mà là cọp, beo, hổ, báo, Yêu tinh, Quỹ dữ giặc Ân xâm lược nước ta với khí thế long trời lở đất. Cuộc chống ngoại xâm lần này là một còn một mất, các con hãy chuẩn bị tinh thần cho thật tốt, đối mặt với quân thù.

Các con Tây Thục Vương nghe nói không cải mà muốn gặp ngay quân thù đánh cho một trận biết thế nào lợi hại của con cháu Tiên Rồng.

Đây nói về Hùng Tiên Lang Quốc Vương cùng các Vương, các Quan, các Tướng, bàn kế sách đánh giặc thời có quân vào báo:

Tây Thục Vương đã tới xin ra mắt Quốc Vương.

Cho mời Tây Thục Vương vào. Xin tuân lệnh.

Đi đầu là Tây Thục Vương, sau Tây Thục Vương là 18 võ Tướng cả nam lẫn nữ uy dũng vô cùng. Hùng Tiên Lang khen:

Quả thật Tây Thục danh Tướng oai hùng.

Tây Thục Hầu Vương nói:

Tâu Quốc Vương đây là dâu, con, cháu lớn của hạ Quan các con ra mắt Quốc Vương đi.

Tức thời 18 võ tướng bước tới hành lễ nói:

Chúng con là con cháu Vua Hùng xin ra mắt Quốc Vương.

Hùng Tiên Lang vui vẻ nói:

Miễn lễ, miễn lễ.

18 người con cả dâu lẫn cháu ra mắt Quốc Vương hành lễ xong liền lui ra sau Tây Thục Vương an vị chỗ ngồi.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương vẻ mặt đầy nghiêm nghị cho người mang hộp bảo vật Trấn Quốc đặc lên hương án, tuyên thệ hành lễ rồi mở hộp ra. Các vương, các quan, các tướng ai nấy cũng đều hồi hộp, bỗng từng chiếc hộp muôn Đạo hào quang tỏa ra vô cùng đẹp mắt, đó là ánh sáng của 6 cây bảo kiếm từ thời Quốc Tổ truyền xuống đến nay chỉ nghe kể, không bao giờ được thấy, chỉ trừ các vị Quốc Vương nối tiếp nhau trị vì Thiên Hạ.

Hùng Tiên Lang kể:

Tiên Thiên, Thất Tinh Bảo Kiếm là báu vật có một không hai vũ trụ. Hùng Vương Quốc Tổ dùng thần thông pháp thuật thu hút Tiên Thiên, Chơn Âm Chơn Dương tinh hoa vũ trụ kết cấu luyện thành hay còn gọi là thất linh Bảo Kiếm, không những uy lực vô biên mà còn theo ý tưởng của con người biến hóa diệu kỳ. Nếu đủ 7 linh kiếm Thiên Tiên vũ trụ, thời Thần Thánh Phật Tiên cũng khó bảo toàn tính mạng huống hồ là loài Yêu ma Quỷ dữ. Chỉ cần 5 linh kiếm Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ là chúng cũng đã đi đời, nay non sông Tổ quốc đi vào cảnh lâm nguy, không còn cách nào hơn là đem bảo vật trấn quốc ra xử tử bọn chúng, càn quét quân xâm lược. Có một điều rất lạ 7 thanh bảo kiếm truyền từ đời Quốc Tổ xuống đến đời thứ 23 thời thượng Hùng Vương nhưng khi truyền qua đời thứ 24 đời thứ nhất Hạ Hùng Vương thời xảy ra chuyện lạ. Hùng Vân Lang lên ngôi Quốc Vương làm lễ tiếp nhận 7 thanh báu kiếm trấn quốc. Đang lúc tiếp nhận trong tay đời thứ 23 Hùng Dịch Lang bỗng trời đất tối om rồi sáng lại rất nhanh chỉ trong vòng nháy mắt đã mất đi Thượng Thiên Chủ Kiếm chỉ còn lại Hạ Thiên Chủ Kiếm mà thôi. Có lẽ Quốc Tổ đã thu Thượng Thiên Chủ Kiếm về Trời rồi cũng nên, sự việc ấy xảy ra cách đây 91 năm và câu ch.uyện ấy cũng lần lần đi vào quên lãng chỉ riêng các Vua Hùng kế sau luôn luôn nuối tiếc và ta đây cũng vậy. Nay non sông Tổ quốc lâm nguy vì thế ta đem bảo kiếm trấn Quốc ra tiêu diệt quân thù xâm lược bảo vệ con cháu Tiên Rồng, bảo vệ non sông Tổ quốc mà ông cha ta đã bao đời dày công xây dựng.

Thời gian cấp bách Hùng Tiên Lang phân bổ lực lượng như sau.

Tây Thục Hầu Vương nghe lịnh: Có thuộc hạ.

Hùng Tiên Lang liền lấy thanh Kim Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm trao cho Thục Vương Gia nói:

Hầu Vương dẩn 30 vạn quân chia làm 3 mũi trấn giữ Tây Giang Giao Châu, Dương Giang Châu Kiến Giang Giao Châu, Tam Giang Tây Châu xin tuân lệnh, nhận ấn đồng vải trắng dẫn quân ra đi.

Hùng Tiên Lang nói:

Cao Lạc Hầu Vương nghe lịnh: Có thuộc hạ.

Hùng Tiên Lang lấy Thanh Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm trao cho Cao Lạc Hầu Vương nói:

Hầu Vương dẩn 20 vạn quân trấn thủ Đông Giang Giao Châu, Quế Giang Giao Châu, Lạc Trung Giao Châu xin tuân lệnh, nhận ấn đồng vải đen ra đi.

Hùng Tiên Lang lại nói:

Hùng Cao Lang nghe lịnh: Có thuộc hạ.

Hùng Tiên Lang lấy thanh Hỏa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm trao cho Hùng Cao Lang nói:

Hầu Vương dẩn 30 vạn quân trấn thủ Bắc Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Kinh Giang Giao Châu, Giao Giao Minh Châu, Quí Linh Giao Châu xin tuân lệnh, nhận ấn đồng vải đỏ dẫn quân ra đi.

Hùng Tiên Lang lại nói:

Điền Điền Lang nghe lịnh: Có thuộc hạ. Con nhận lấy thanh Mộc Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm nhận ấn đồng vải xanh dẩn 10 vạn quân mai phục bảo vệ vòng đai Kinh Đô Xích Quỷ, Hợp Giao Châu, Hạt Linh Châu, Lạc Điền Châu. Tuân lệnh dẫn quân ra đi.

Hùng Tiên Lang lại nói:

Diệp Lang nghe lịnh: Có thuộc hạ. Cháu nhận lấy Địa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm nhận ấn đồng vải vàng dẫn 10 vạn quân mai phục tại rừng Tiên Du, dưới chân Hùng Phong Sơn tiếp cho quân Tây Thục, cháu xin tuân lệnh dẫn quân ra đi.

Phân bố lực lượng xong Hùng Tiên Lang mới thở phào nhẹ nhõm. Ở tại Nam Kinh theo dõi tình hình chiến trận, tiếp tục điều động lương thực, quân binh ứng chiến. Thế là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc đã mở màn.

* * *



PHẦN 7


Trùng Trùng Cáo Sói ở kia sông

Tanh máu xông lên bốc nực nồng

Nhe nanh múa vuốt nghe hùng hục

Liếm mép nhìn qua, Tử Giang sông

Nhắc lại bên kia bờ Bắc sông Trường Giang ÂN THỌ VƯƠNG lòng nóng như lửa đốt, mau chiếm lấy nước Văn Lang lên ngôi bá chủ gồm thâu Thiên Hạ về một mối, tùng phục nhà Ân.

Nói về Vi Tử Khải, Vi Tử Điển luôn luôn nghỉ đây là cơ hội hiếm có để xưng Vương. Lòng háo hức muốn tiến quân đánh ngay, liền tâu lên Ân Thọ Vương rằng:

Muôn tâu bệ hạ, hạ thần xin nguyện lãnh ấn tiên phong đánh chiếm Nam Kinh Xích Quỹ lập chiến công mở màn thu phục nước Văn Lang.

Vua Trụ lấy làm ngạc nhiên nhưng rồi cũng cho đi. Vi Tử Khải, Vi Tử Điển, mỗi người thống lãnh 39 vạn quân chia làm 2 mũi đánh thẳng vào trung lộ Bắc Văn Lang, chiếm lĩnh các thành lớn như: Lạc Giang Giao Châu, Quý Linh Giao Châu, Kinh Kinh Giao Châu, Bắc Giang Giao Châu, Xích Linh Giao Châu, Hợp Giao Châu, sau cùng là chiếm lấy Nam Kinh xích quỹ.

Vua Trụ lại tiếp tục ra lịnh cho Khương Hoàng Nhân, Triều Chấn Lôi, Tử Điền Phi kết hợp với 20 trấn chư Hần lớn nhỏ Yên, Sở, Triệu, Tề, Tần, Tấn lên tới 50 vạn quân. Tấn công Đông Bắc Văn Lang Đông Giao Chỉ chiếm lãnh các thành lớn như: Đông Giang Giao Châu, Quế Giang Giao Châu, Liễu Giang Giao Châu, Lạc Trung Châu, Đông Hải Giao Châu, Hạ Linh Châu sau cùng bọc lên tấn công vào Nam Kinh xích quỹ, tuân lịnh.

Trụ Vương lại tiếp tục ra lịnh cho Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn, Triệu Tử Quân, Chu Công Minh, Thiệu Công Tiễn, kết hợp với 20 trấn chư Hầu lớn nhỏ, Mân, Chu, Cảo, Phong, Ngân, Lâm, Hồ, Hàn, Ngụy lên tới 50 vạn quân. Tấn công Tây Bắc Văn Lang Tây Giao Chỉ, chiếm lịnh các thành lớn như: Tây Giang Châu, Dương Giao Châu, Kiến Giao Châu, Hồ Tây Châu, Âu Giao Châu, Tam Giang Tây Châu rồi đánh bọc xuống Lạc Điền Châu chiếm lấy Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỹ.

Hùng Tiên Lang nhìn về phương Bắc, thấy trời đất u ám, sát khí trùng trùng trong lòng không khỏi lo lắng, liền cho quân lập đài cầu Trời gia hộ cho con cháu Tiên Rồng giữ vững non sông Tổ quốc.

Vì Nguồn vì Cội vì Cha Ông

Vì nước vì non dốc một lòng

Ta còn hơi thở, còn chiến đấu

Đuổi quân xâm lược khỏi non sông

Nơi đất Tây Giang Châu ba anh em Thục Mân, Thục Ren, Thục Cương đang ra sức kêu gọi dân chúng di tản sâu vào Nam lánh giặc, dẫn 10 vạn quân kết hợp cùng quân lính các quận Huyện nhanh chóng trấn thủ thành Tây Giang Châu. Thành Tây Giang Châu là nơi trọng yếu giao thương với các thành gần biên giới yếu huyệt của kinh tế, chính trị, quân sự. Thành Tây Giang Châu, địa thế phức tạp bí hiểm, núi non hiểm trở, xưa nay quân Bắc xâm lược đều khó vượt qua địa phận đất Tây Giang.

Nơi thành Tây Giang Châu có vị quan phủ Bố Chính An Lạc Điền là vị quan hiền lành, văn võ song toàn, luyện được đao pháp thượng thừa, có 2 người con 1 nam 1 nữ đều là bậc hảo hán anh hùng. Nhận được tin mật báo, quan phủ liền ra lệnh di tản dân nội thành đi nơi khác, thấy quân Văn Lang đến liền mở cổng thành đón 10 vạn quân vào, rồi đi vào nghị sự bàn luận kế sách chống giặc.

Thục Mân nói:

Nếu nói về ngôi thứ thời 3 anh em tôi cùng quan phủ vai vế khác nhau. Nhưng nói về tuổi tác cũng như kinh nghiệm về chinh chiến, địa hình phức tạp ở đây, thời 3 anh em chúng tôi không bằng đại nhân được, xin đại nhân chỉ bảo cho.

Thấy sự ăn nói khéo léo của Thục Mân, An Lạc Điền thầm khen ngợi, nên đã có ít nhiều thiện cảm, không khách sáo chi nữa liền đưa ra phương án chống giặc, theo sáu phương án sau:

1: là thông

2: là cảng

3: là đối

4: là ải

5: là hiểm

6: là viễn


Luận về binh pháp xưa nay giặc chưa hiểu về ta, nên giặc phải chọn nơi đất bình quan cảnh thông thoáng, để dễ tiến, thối khi gặp trở ngại. Theo hạ quan được biết thế giặc tấn công tây Bắc chúng ta lên tới 50 vạn quân trong khi chúng ta chỉ có hơn 10 vạn, vì vậy chúng ta không thể đánh phủ đầu trực diện đối mặt với chúng được, hơn nữa thế giặc chưa mệt mỏi, còn đang hưng phấn chiến đấu ngùn ngụt, vì thế trước mắt thủ thành là chủ yếu, chờ giặc phân tán lực lượng ta mới ra tay tấn công. Dựa vào thế cảng nơi có nhiều chướng ngại như Núi, Sông, Kinh Lạch, Rừng, chúng ta mai phục ở đó dụ chúng lọt vào bẫy ra sức tiêu diệt, lúc này mới dùng chiến thuật đối mặt gọi là chặn dồn ép giặc chạy về phía hiểm địa gọi là kế ãi. Cắt đứt giặc ra từng khúc gọi là kế tử. Thế giặc đã lâm vào tử ải thời coi như đã hết đời, chết nơi hiểm địa, giả đò thua dụ địch sâu vào đất Văn Lang, bất ngờ tấn công cắt đứt liên lạc, tiếp viện đưa giặc vào thế cô lập làm cho chúng mất ăn, mất ngủ, bất ngờ đồng loạt tấn công giống như đàn sư tử tấn công con voi, giặc rơi vào thế yếu ngã gục đi đời.

Trong lúc đang bàn kế sách chống giặc, thời có quân vào báo:

Quân giặc đã tràng qua ải Tây Giang, đã chiếm lĩnh một số Quận, Huyện. Chúng đang ra sức vơ vét của cải, những người dân tiếc của không chịu di tản bị giặc tàn sát thê thảm.

Ôi thôi làng xóm còn gì

Hùm Beo Cáo Sói mấy khi hiền lành

Đầy mình móng vuốt cùng nanh

Gái tơ hơi hới phải đành nát tan

Dân lành máu chảy loáng loang

Chúng đâm chúng chém ác gian kể gì

Núi thù biển hận kể chi

Rồng Tiên con cháu xông lên diệt thù.

Nói về 50 vạn quân cùng 20 trấn chư hầu lớn nhỏ do Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn chỉ huy. Người ngựa, xe cộ, thuyền bè tiến qua các Quận, Huyện như thác lũ. Càng lúc càng tiến sâu vào đất Văn Lang, hơn 50 dặm, thời trời cũng bắt đầu sẫm tối. Trước mặt là những rừng đồi lô nhô kéo dài tới dãy núi Hùng Phong Sơn cao vút. Cùng con sông ẩn mình qua bao khu rừng rậm, kinh rạch, ngoằn ngoèo, ngoắt ngoéo uống lượng quanh co qua những vùng thung lũng lau sậy. Như nói lên bao sự huyền bí của vùng Tây Bắc Văn Lang.

Ngạc Sùng Cảnh lạnh cả người, như có gì mách bảo là ngày tử nạn của ông không xa. Ngạc Sùng Cảnh rùng mình không dám nghỉ nữa. Liền cho quân hạ trại, dừng lại không tiến sâu thêm nữa.

Ông nói:

Chúng ta đã tiến quân sâu vào đất Văn Lang hơn 30 dặm, vượt qua một số Quận, Huyện, chỉ gặp cảnh vườn không nhà trống, không gặp trở lực nào cả. Điều đó chứng tỏ rằng Quân Văn Lang có chủ ý, không thể không đề phòng.

Liền cho trinh thám dò đường thám thính tình hình quân địch. Không bao lâu thời thám tử về báo:

Trước mặt ta 10 dặm về hướng Nam là vùng gò đồi rừng Mây, thung lũng, lau sậy có nhiều kinh lạch chảy xuống sông Âu. Qua khỏi vùng gò đồi rừng Mây về hướng Tây Nam 8 – 9 dặm là thành Tây Giang Châu.

Suốt cả đêm bọn tướng tá thăng chốt của lũ giặc Ân nổ lực đưa ra kế sách tiến quân thôn tính toàn bộ địa phận Tây Bắc Văn Lang và cuối cùng thống nhất đánh thẳng vào ba yếu huyệt chiếm lấy ba thành.

* * *



PHẦN 8


Nói về bộ sậu chủ chốt giặc Ân thảo luận kế sách sáng đêm, tiến quân đánh ba thành. Ngạc Sùng Cảnh điều động quân binh như sau.

1 – Triệu Tử Quân nghe lịnh: Có thuộc hạ; Tướng quân điểm 10 vạn quân kết hợp với quân: Chu, Cảo, Phong tiến đánh thành Tây Giang Châu. Tuân lịnh.

2 – Chu Công Minh nghe lịnh: Có thuộc hạ; Tướng quân điểm 10 vạn quân kết hợp với quân: Lâm, Hồ, Hàn tiến đánh thành Dương Giao Châu. Tuân lịnh.

3 – Thiệu Công Tiển nghe lịnh: Có thuộc hạ; Tướng quân điểm 10 vạn quân: Mân, Ngân, Ngụy. Tiến đánh thành Kiến Giao Châu. Tuân lịnh.

Tiếng gà vừa gáy mộng chưa tan

Ba con rắn độc đã vội vàng

Uốn mình lao tới chân rồm rộp

Các bụi mịt mù trống canh vang.

Mặt trời còn ngủ chưa thức. Trong màn đêm những giọt sương còn nằm chơi trên mái lá. Bỗng giật mình khiếp sợ, nhìn ba con rắn khổng lồ dài 8-9 dặm cuồn cuộn há mồm lao thẳng về thành Tây Giang Giao Châu, Dương Giao Châu, Kiến Giao Châu. Cách thành độ hơn 2 dặm thời ba con rắn dừng lại. Cũng là lúc mặt trời thức giấc ánh bình minh trở lại với quê. Với cặp mắt cú vọ diều Hâu, Triệu Tử Quân hết nhìn núi non hùng vĩ, sông nước hữu tình. Những cánh đồng lúa xanh thăm thẳm, những đàn cò trắng lã bay qua. Đàn ong bướm bay lượn nhành hoa. Như toác lên đời no ấm xuân hoa. Liền thở dài: Thảo nào mà Bệ Hạ không thèm khác sao được. Và trách nhiệm nặng nề của ta là phải chiếm cho được thành Tây Giao Châu.

Đây nói về thành Tây Giang Giao Châu, theo kế sách đã hoạch định. Trời vừa sẩm tối, từ nơi cửa thành 1 vạn quân bí mật nhắm dãy núi Hùng Phong Sơn âm thầm lặng lẽ ra đi. Lại 1 vạn nữa nhắm hướng Đông Bắc tới thung lũng rừng Lau Sậy phục kích. Nhìn thấy quân Ân vượt qua sông, vượt qua rừng Mây như thác đổ, vì chưa có lệnh nên không tấn công chỉ im lặng để cho giặc đi qua.

Kìa quân ăn cướp đến rồi

Chúng vơ chúng vét hết thời của dân

Của ngon vật lạ chúng ăn

Cửa nhà chúng đốt san bằng còn chi

Gái tơ chúng bắt nâng ni

Xài rồi chúng lại bắt đi làm hầu

Miếu thờ chúng kể gì đâu

Gái trai già trẻ chúng xâu một lùm

Đáng ra dân phải lên đường

Vườn không nhà trống lánh nương, giặc càn

Cũng vì tiếc của giàu sang

Giờ đành phải chịu lắm đàng họa tai

Kêu trời khóc đất thảm thay

Trời im đất lặng có hay bao giờ

Kia kìa giặc đã công thành

Rồng Tiên Chồn Cáo phân tranh mất còn.

Đứng trên thành cao, quan văn tướng võ nhìn thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp kéo đến cách cổng thành độ chừng hai dặm thời hạ trại. Chận đường ra vào chính yếu của thành Tây Giang Châu. Bỗng từ nơi doanh trại của giặc, xông ra một tướng oai phong lẫm liệt, dẫn theo 3 nghìn quân, kéo tới cổng thành dàn trận.

Rồi lên tiếng hách dịch quát lớn:

Quân cỏ rát thành Tây Châu kia, mau ra qui hàng thời sống, còn chống lại thời chết.

Khoác lác vô cùng. Thấy tướng giặc hỗn xược ngạo nghễ như vậy, không kèm nỗi sự tức giận An Lạc Sơn nói:

Thưa cha. Để con ra lấy đầu thằng nhái ranh đó cho.

An Lạc Điền nhìn ba vị tướng quân hơi ngần ngại. Thục Mân nói:

Lạc Sơn tướng quân ra trận hết sức cẩn thận.

An Lạc Điền nhìn An Lạc Sơn nói:

Đây là trận mở màng, chỉ có thắng chứ không được thua.

An Lạc Sơn nói:

Con hiểu rồi.

An Lạc Sơn hăm hở, điểm 3 nghìn quân mở cổng thành xông ra nghinh chiến đón đánh. Thấy tướng giặc nghinh nghinh tự đắc. An Lạc Sơn vốn khôi ngô tuấn tú. Nay ra trận mão giáp chỉnh tề, thể hiện khí chất bất phàm oai phong lẫm lẫm. Tướng giặc Ân, thấy An Lạc Sơn cốt cách oai hùng như vậy cũng phải khen thầm.

An Lạc Sơn giục ngựa xông tới hét lớn:

Hãy xưng tên họ rồi chết. Làm phân cho đất Nam ta.

Tướng giặc tức quá hét lớn:

Nhái ranh, hôm nay là ngày giỗ của ngươi.

Liền phi ngựa xông tới chém liền mấy nhác. Tướng giặc Ân ấy không ai khác hơn là Ly Ảnh Quân, con trai của Cảo Hầu Vương là người khắc tiếng về Đạo pháp. Có thể lấy mạng đối thủ ngoài mười thước. Biệt hiệu là Vô Ảnh Đao. An Lạc Sơn nào có kém chi. Nhờ ăn được quả linh chi ngàn năm. Nên đã luyện Đao pháp đến xuất thần nhập hóa. Thế là hai con cọp vồ nhau chí tử. Các bụi mịt mù, ánh Đao chớp chớp, đinh tai nhức óc, rét rét, ầm ầm kinh thiên động địa, kẻ qua người lại như bóng với hình. Chiêng trống rền trời, quân reo dậy đất.

Đúng là:

Một bên vì nước vì non

Một bên xâm lược ác gian kể gì

Đao qua đao lại kể chi

Bình sanh dốc hết lấy đi đầu thù

Đao đà luyện đến hư vu

Cuồng phong lạnh buốt âm u rợn người

Đánh cho tới mãi trời chiều

Bất phân thắng bại khó mà hơn thua.

Thế là hai bên đành thu quân hẹn ngày mai một còn một mất. Vào cung thành, An Lạc Sơn thưa với Thục Vương rằng:

Bẩm chủ soái mạc tướng tội thật đáng chết. Trận đầu mà tôi không lấy được đầu giặc làm mất nhuệ khí ba quân tướng sĩ.

Thục Mân nói:

Ra trận thắng thua là chuyện bình thường. Thủ hòa coi như là lập được công đầu.

Nói về tướng giặc Ly Ảnh Quân sáng bữa sau xin Chủ Soái ra trận nữa. Triệu Tử Quân nói:

Tướng quân nghỉ cho khỏe, nay để cho tướng khác ra trận.

Biết Chủ Soái không ưng ý, bằng làm thinh không dám thưa thỉnh nữa.

* * *
 
PHẦN 9

Trời vừa hừng sáng. Quân vào báo rằng:

Quân Ân rầm rầm rộ rộ kéo đến gây chiến.

Nghe thế tất cả quan tướng đều lên thành để xem. Thấy quân Ân lập lên đài quan sát. Cờ hiệu Chủ Soái Triệu Tử Quân. Quân binh đông như kiến. Thời thấy rõ dụng ý của giặc là quyết tâm xóa sổ thành Tây Giang Giao Châu, Triệu Tử Quân đứng trên đài quan sát chỉ huy.

Với cặp mắt cú vọ diều hâu, Triệu Tử Quân phất cờ hiệu lệnh, tức thời cánh tả đài quan sát có một tướng oai phong lẩm lẩm. Đầu đội Kim Khôi, mình mang giáp đồng, cởi ngựa ô, tay cầm Long đao nặng sáu mươi cân, lách mình tới trước đài quan sát nói:

Bẩm chủ soái. Để thuộc hạ khiêu chiến trận này.

Triệu Tử Quân đồng ý nói:

Tướng quân điểm năm nghìn quân kéo tới sát cửa thành, khiêu khích khiêu chiến, làm cho địch ra mặt và tiêu diệt chúng, tuân lệnh.

Người tướng ra trận đó không ai khác hơn là Chu Vũ Chương con trai lớn nhất của Chu Công, nổi tiếng là luyện được ngọn chỉ phong vô cùng lợi hại giết người nháy mắt. Dẫn 5 nghìn quân ra trận kéo trước tới cổng thành thách thức phách lối ngạo mạng coi quân tướng Văn Lang như loài ếch nhái, thùng rỗng kêu to mà thôi.

Thành Tây Giang Giao Châu, chiêng, trống nổi lên rền trời rền đất. Ba anh em nhà Tây Thục mở cửa thành xông ra bày binh bố trận đối mặt với quân thù. Thấy tướng giặc Ân ngạo mạn phách lối.

Thục Ren nói:

Để em ra lấy đầu tên giặc cướp này cho hả cơn giận.

Liền điểm năm nghìn quân xông tới xáp chiến. Hai tướng như hai con hổ gầm gừ lao tới quật nhau ầm ầm. Thục Ren nhờ có sức mạnh Trời ban, mình mang giáp đồng nặng tới 100 cân, cỡi con ngựa huyết hãn cao lớn, trường thương nặng hơn 80 cân lao qua lao lại vùn vụt. Những nhát thương như sấm sét, chưa đầy 30 hiệp, tướng giặc biết mình đánh không lại liền dở tuyệt chiêu vận hết 12 thần công lực, quát lên một tiếng như sấm sét, bàn tay liền đỏ như máu, phóng luôn chín chỉ huyết ma công, chỉ phong xé gió véo véo thật kinh người. Thục Ren bất ngờ tránh không kịp trúng luôn sáu chỉ, có chỉ đã thủng giáp nhưng chưa gây được nội thương. Nếu không nhờ có áo giáp quá dày coi như đã toi mạng. Thục Ren nổi trận lôi đình, trường thương xé gió ào ào, ngựa người như tia chớp giáng xuống ầm ầm. Tướng giặc tay chân rã rời trúng liền một thương chết ngay tại chỗ.

Trên đài cao Triệu Tử Quân khiếp vía: Tướng nào mà dữ thế? Thấy con tử trận Chu Công vô cùng đau xót, tức giận đến nỗi râu tóc dựng ngược, cỡi Chiến Mã lao ra, nhắm Thục Ren chém xuống. Đây là loại kiếm báu hiếm quí trên đời, chém sắt, đồng như chém chuối, không hiểu là ai đã luyện đúc ra nó. Chỉ biết là tìm thấy trong hang động. Thục Ren bất ngờ đưa trường thương lên đỡ, liền bị chặt đứt làm mấy khúc, Thục Ren kinh hãi phi ngựa bỏ chạy. Chu Công nào để cho Thục Ren chạy thoát.

Với chiêu Mãnh Hổ Vồ Mồi, đường kiếm như tia chớp chém xuống đầu Thục Ren. Kết liễu kẻ địch trả thù cho con. Thục Ren mạng sống chỉ còn trong đường tơ kẽ tóc.

Bỗng tiếng quát lanh lảnh thét lên:

Ác tặc hãy xem bảo bối của ta đây.

Tức thời một Đạo hào quang chụp xuống đầu Chu Công. Chu Công khiếp vía hồn kinh thâu kiếm lại chống đỡ ầm ầm. Thục Ren thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tức giận đùng đùng còn lại khúc cán của trường thương, nhân cơ hội Chu Công lo chống đỡ bảo bối của vợ phóng ra, bị hào quang bảo bối làm chóa cả mắt. Thục Ren lấy Kim Lê nhọn hoắt phóng tới một tốc lực kinh người lao nhanh về Chu Công. Thế là một tiếng rú thê thảm làm kinh rợn lòng người. Thục Ren lao tới lấy đầu đối thủ.

Bỗng nghe tiếng quát nổi lên như sấm:

Nghiệt súc hỗn láo.

Thục Ren bị một luồng kình lực hất bay bỗng cả người lẫn ngựa lên cao, ngã nhào lộn trọc. Nàng liền lao mình tới xem chồng có sao không. Thục Ren chưa hết kinh hoàng. Nhìn luồng kình lực đó cuốn hút lấy xác cha con Chu Công cùng thanh kiếm báu vô cùng lợi hại bay ra khỏi trận địa.

Nói về nàng Nê Xi xinh đẹp theo chồng xung trận, lòng hồi hộp không yên lúc nào cũng cầm bảo bối trên tay. Thấy chồng sắp mất mạng. Nhanh như tia chớp niệm chú ném bảo bối xuống đầu Chu Công cứu chồng. Sự việc diễn biến quá mau lẹ. Thấy Chu Công đã bị chồng mình hạ gục, liền thâu bảo bối lại. Sửng sốt kinh hoàng, khi thấy chồng mình cả người lẫn ngựa hất lên cao rớt xuống lăn lông lốc. Nàng liền lao tới thấy chồng không sao. Mới tỉnh hồn. Người có Pháp thuật kinh người đó không ai khác hơn chính là Hồ Ma Yêu. Một tay Pháp thuật kinh người.

Thấy giặc Ân chết liền hai tướng, Quân Văn Lang thắng thế. Thục Mân chỉ kiếm ra lệnh tấn công, tiến lên tiêu diệt quân thù. Tiến lên. Tiến lên. Thế là

Gươm Đao vang động chân trời

Ngựa người ập tới mịt mù tên bay

Giặc Ân rời rã chân tay

Bảo tên mưa gió chết ngay bạc ngàn

Quân Nam mặt trận thắng giòn

Ngựa người lao tới đạp càn giặc Ân

Trên thành chiêng trống vang ngân

Thu quân trở lại chiến công lẫy lừng.

Trên đài quan sát, Triệu Tử Quân sắc mặt mỗi lúc một thêm kinh hoàng. Thấy chết liền 5 tướng, quân binh chết la liệt, hơn vạn quân đi đời, thời than thở ra lệnh rút quân về doanh trại.

Suốt đêm không ngủ than thở mãi. Nói với các tướng:

Từ trước đến nay ta chinh chiến đã nhiều. Chưa thua trận nào nhục như trận nầy, đã mất 5 tướng hao binh hơn một vạn. Việc chiếm lấy thành Tây Giang đã có phần khó khăn tính liệu làm sao thở than mãi.

HỒ MA YÊU nói:

Không phải ta thua, mà ta quá chủ quan, đánh giá địch quá thấp. Binh gia thắng bại là chuyện thường. Chủ Soái yên tâm mai tôi ra trận sẽ lấy đầu bọn chúng tế Linh Hồn tướng sĩ.

Triệu Tử Quân nói:

Ta cũng cầu mong Hồ Lão tướng quân làm được như thế. Lão tướng quân cần bao nhiêu quân.

Thưa Chủ Soái:

Thuộc hạ chỉ cần ba nghìn quân tinh nhuệ mà thôi.

* * *



PHẦN 10


Tưởng đâu Nam Quốc dễ xơi

Nào hay bỏ mạng ở nơi xứ người

Xưa nay muôn sự ở đời

Ngông cuồng xâm lược mấy đời ai nên

Hại người, người hại liền bên

Thây phơi chật đất mấy khi còn về

Văn Lang Rồng hội Cọp hề

Nuốt quân xâm lược ngón nghề xưa nay.

Nói về Cao Lạc Hầu Vương, nhận lảnh Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm, tinh thần vô cùng phấn chấn. Cao Lạc Hầu Vương là nhà quân sự lỗi lạc tài ba, thống lãnh 20 vạn quân trấn thủ Đông Bắc Văn Lang, Đông Giao Chỉ. Không tiến về thành Đông Giang Châu, Quế Giang Giao Châu, Liễu Giao Châu mà kéo quân đến Trúc Lâm, Lạc Trung Châu hạ trại đóng quân ở đó. Đặc phái đội quân thám báo khắp mọi chỗ mọi nơi. Bám sát theo dõi mọi động tĩnh của giặc.

Trong lúc họp bàn khẩn cấp lên kế hoạch đối phó với giặc. Thời có quân vào báo:

Các thám tử mật thám xin cần gặp Hầu Vương. Cho họ vào. Xin tuân lịnh.

Không bao lâu ba mật thám xuất hiện. Người thứ nhất báo rằng:

Bẩm Vương Gia. Quân Ân đang chuyển về hướng Đông, liền tách chia ra làm hai mũi. Một mũi theo sông Trường Giang ra biển. Một mũi bộ binh tấn công qua đất liền.

Người thứ hai báo cáo:

Bẩm Vương Gia. Cánh quân xuôi theo sông Trường Giang ra biển hơn nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ. Có ba chiếc thuyền cực lớn ước lượng chừng 15 vạn quân.

Người thứ ba báo cáo:

Bẩm Vương Gia. Cánh quân giặc bộ binh, kỵ binh tấn công đất liền. Xe cộ hàng nghìn chiếc. Hình như phương tiện dụng cụ công phá thành, ước lượng 35 vạn quân.

Nghe qua tình hình báo cáo. Cao Lạc Hầu Vương nói:

Quân Nam, Bắc ở sát bên nhau, núi liền núi, sông liền sông, biển liền biển. Có thể nói hiểu nhau nữa là khác. Nên sự xâm lược của chúng, phải nói là chu đáo khá đầy đủ, phương tiện, dụng cụ, khí cụ, quân, lương, tướng tá, binh pháp, sách lược, chiến lược, chiến thuật dồi dào. Chúng ta cũng chia làm hai ngã để đối phó với chúng. Đường bộ và đường thủy. Chúng chia làm 2 ngã tấn công ta. Đường bộ đánh phủ đầu. Đường biển đánh bọc hậu. Theo kế sách cắt đứt các đường, chi viện, tiếp viện. Đánh rắn đánh đầu. Những Châu mà chúng cho là trọng yếu đưa đến thắng lợi mau chóng.

Chúng ta chỉ có 20 vạn quân. Nếu dùng quân đối quân trực diện tấn công thời nguy cơ chiến bại là rất lớn. Chi bằng chúng ta giành lấy mọi chủ động, áp dụng kỹ thuật, vận dụng địa hình địa thế, đất nước gió lửa làm tiên phong ở mọi lúc mọi nơi. Nòng cốt chủ yếu vẫn là đội quân cảm tử sẵn sàng cống hiến đời mình cho quê hương non sông Tổ quốc, áp dụng chiến thuật quấy rối phân tán lực lượng giặc, dụ giặc vào bẩy để làm thịt, đã tấn công thời đánh vào chỗ yếu huyệt của chúng. Những chỗ giặc không ngờ tới, thiếu đi sự phòng bị đề cao cảnh giác. Vì thế sự đòi hỏi ở đây là tinh thần quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, dám nghỉ, dám làm, dám liều, quyết định vận mệnh non sông Tổ Quốc, sự thắng bại đều ở lòng quyết tử hay không quyết tử mà thôi. Chiến thuật né tránh đối diện chúng là chiến dịch tạm thời vì con mãng xà đang lúc còn sung sức. Vũ khí của chúng ta không chỉ có gươm đao, cung tên, giáo mác mà còn có núi, rừng, sông, hồ, gió, nước, lửa. Kế bẫy hào sâu, hầm chông, độc dược v..v. Mà còn có cả gươm Thiên Trấn Quốc, truyền thống nền Quốc Đạo dân tộc. Với cái lối đánh mượn gió hạ cây, ròng rọc kéo voi, lấy ít thắng nhiều, làm hoang man tinh thần của giặc. Hàng rào phòng thủ của ta lúc này là vườn không nhà trống. Quân giặc nóng lòng thôn tính nước ta, còn ta thời nhàn hạ tùy cơ ứng biến.

Nói tóm lại ta thời hiểu rõ về giặc mà giặc thời không hiểu rõ về ta, ý định và cơ mưu, thời phần thắng đã nghiêng về ta rồi. Chúng ta có thể biến núi thành gò, biến biển thành ao, biến Rồng thành rắn nước, để cho chúng kinh thường, để rồi nhận lấy đại bại. Cao Hầu Vương liền ra lịnh kêu gọi dân chúng trong thành ngoại thành, khẩn cấp di tản sâu vào đất liền nhất là bốn thành, Đông Giang Giao Châu, Lâm Quế Giao Châu, Liễu Giao Châu, Môn Hải Hạ Giang Châu.

Tình hình quá khẩn cấp, Cao Lạc Hầu Vương liền phân bổ lực lượng như sau:

Cao Lạc Hải nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh 8 vạn quân thủy chiến đến Dạ Loan Châu trấn thủ eo Môn Hải Hạ Giang Châu, dụ giặc vào sâu đất liền tiêu diệt chúng tại đây, tuân lệnh.

Nguyễn Sinh Kỳ nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 1 vạn quân tới thành Đông Giang Giao Châu, kết hợp binh lính các Quận Huyện theo kế giăng bẫy, đào hầm hố, cọc chông, ngụy trang theo đường dọc ngang khắp cung thành, trên cung thành cũng giăng bẫy khắp mọi nơi, dọc ngang hai bên đường, những vật dễ cháy vung vãi khắp mọi nơi. Khi giặc tràn vào thành đến đâu là châm lửa đến đó cho chúng chạy loạn xạ sụp hầm mà chết. Dùng hỏa công tên độc triệt hạ thiêu rụi chúng, sau đó rút quân theo đường hầm bí mật ra sông Lạc chi nhánh của sông Trường Giang lẩn sâu vào rừng U Minh Hạ, ở đó đợi lịnh tiếp theo. Tuân lệnh.

Trần Nhân Luân nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 2 vạn quân trấn thủ thành Lâm Quế Giang Châu. Chuẩn bị dầu sôi lửa bỏng, cung tên lưới sắt cố thủ thành, khi nào thấy núi Ngũ Chân có ánh lửa, chiêng trống nổi lên inh õi nơi doanh trại của giặc, thời mở cổng thành xông ra tấn công tiêu diệt kẻ thù, tấn công hai mặt sau lưng đánh tới trong thành đánh ra, kẹp giặc vào giữa mà xơi. Tuân lệnh.

Nguyên Chấn Lạc nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 3 vạn quân, cành lá ngụy trang ở dưới chân núi Ngủ Chân một dặm về hướng Bắc phục kích ở đó, khi nào thấy núi Ngũ Chân có ánh lửa, liền tấn công khúc giữa con mãng xà cắt đôi lực lượng đầu đuôi chúng ra. Tuân lệnh.

Cao Hùng Phi nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 3 vạn quân, cách thành Lâm Quế Châu 3 dặm về hướng Đông mai phục ở đó, khi thấy ánh lửa núi Ngũ Chân bùng lên thời di chuyển áp sát đầu con mãng xà chờ khúc giữa con mãng xà bị tấn công trước độ chừng gần nửa cây nhang. Thời tiến quân xông trận đánh phủ đầu con rắn độc, không cho chúng quay đầu trở lại. Tuân lệnh.

Huỳnh Trung Hải nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 1 vạn quân tới chân núi Ông Tượng gần U Minh Thượng, phục kích ở đó khi nhìn thấy ánh lửa ở núi Ông Tượng, thời tiến quân áp sát đuôi con mãng xà, chờ cho gần cây nhang, thời tấn công tiêu diệt khúc đuôi dồn chúng tháo chạy trở lại. Tuân lệnh.

Đinh Hùng Quân nghe lịnh: Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 5 nghìn quân phục kích ở huyện Lâm Giao. Không đánh giặc đến mà chỉ đánh khi giặc thua rút chạy. Tuân lệnh.

Tuy bầu trời yên tỉnh, nhưng dưới đất khắp non sông Tổ Quốc lời cầu nguyện vẫn vang, vang cầu Cha Rồng, Mẹ Tiên che chở.

* * *



PHẦN 11


Nói về quân Ân ỷ sức mạnh, do Khương Hoàng Nhân, Triều Chấn Lôi, Tử Điền Phi. Thống lãnh hơn 50 vạn quân. Chia làm hai ngả. Một xuôi theo sông Trường Giang tiến về Đông Hãi, thuyền lao đi vùn vụt. Một vượt qua sông Trường Giang như thác đổ, cuồn cuộn lao đi khói bụi mịt mù, kéo dài vài chục cây số. Tiến thẳng về thành Đông Giao sang bằng các Quận Huyện, gà chó cũng chẳng còn. Khi còn cách thành Đông Giang Giao Châu hơn 20 dặm về hướng Bắc. Thời dừng quân hạ trại nơi đó. Bàn luận kế sách công thành.

Khương Hoàng Nhân nói:

Đây là cuộc chiến chỉ có thắng chứ không được bại. Vì cuộc chiến nầy là xóa sổ nước Văn Lang, vì vậy cuộc đánh đầu tiên là cuộc đánh vô cùng quan trọng, chỉ có thắng chứ không được thua. Bằng mọi giá phải lấy cho được thành Đông Giao, phải chuẩn bị dụng cụ công phá thành, lực lượng hùng hậu, thang dây, và các dụng cụ khác công phá thành. Mở màn chiến dịch thôn tính nước Văn Lang.

Khương Hoàng Nhân hỏi:

Có tướng nào mở màn khai đao, mổ gà, xẻ lợn không?

Thấy các tướng có vẻ yên lặng. Khương Hoàng Nhân hơi có vẽ bực mình. Tử Điền Phi liền nói:

Bẩm Thống Soái. Sá gì cái thành cỏn con đó. Thuộc hạ xin đi tiên phong lập công đầu.

Khương Hoàn Nhân liền phê chuẩn cho đi. Tử Điền Phi liền điểm 10 vạn quân kết hợp với quân: Sở, Yên, Tề lên tới 15 vạn quân, nhắm Thành Đông Giang Giao Châu tiến tới.

Nhắc về Nguyễn Sinh Kỳ theo kế sách chỉ đạo của Cao Hầu Vương Gia dẩn 1 vạn quân đến thành Đông Giang Giao Châu, cố thủ hai ngày. Ngày thứ ba lúc trời sắp tối thì giả thua, dụ chúng vào thành dùng hỏa công, hầm chông, tên độc hạ gục chúng, độ chừng hơn canh giờ thời rút lui bảo toàn lực lượng. Khi rút lui thời châm lửa đốt sạch, nếu không đốt thời giặc cũng đốt phá, thà ta đốt trước thời có lợi hơn, không cho giặc lấy được một thứ gì. Lại chận đường rút lui bằng hỏa công, khói lửa mịt mù. Giặc không bao giờ tìm được đường rút lui của ta.

Đứng trên thành cao, Nguyễn Sinh Kỳ cùng các quan các tướng. Thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp, xe cộ mịt mù thời lấy làm kinh hãi. Nhưng các quan, tướng nghĩ đến quê hương Tổ Quốc bị giặc Ân dày xéo, dân chúng lầm thang.

Thời nộ khí xung thiên nổi lên, râu tóc dựng ngược liền rút kiếm chỉ giặc Ân hét lớn:

Văn Lang ta xưa nay không xâm phạm đất Bắc. Nước giếng nào có xâm phạm nước ao. Thế mà sao các ngươi xâm lược tàn hại dân ta đầu rơi máu đổ. Quân xâm lược các ngươi phải chết, lũ ác ôn các ngươi sẽ bỏ mạng nơi đây. Quân xâm lược các ngươi phải chết, các ngươi sẽ bỏ mạng nơi đây.

Tiếng hô vang càng về sau càng hào hùng. Hùng khí Nam Thiên, ai nghe thấy cũng khiếp sợ. Giặc Ân nghe tiếng hô đầy hào hùng, đầy căm hận của quân Nam. Có một số đông binh lính giặc Ân đã sanh lòng khiếp hải.

Tử Điền Phi nghỉ: Nếu chần chừ kéo dài thời gian sẽ gây bất lợi cho quân ta. Việc đầu tiên là phải khiêu chiến thăm dò thực lực của địch.

Tử Điền Phi liền ra lệnh:

Cơ Hầu Yên nghe lịnh. Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 5 nghìn quân tới sát cổng thành khiêu chiến. Tuân lệnh.

Cơ Hầu Yên dẩn 5 nghìn quân kéo đến trước cổng thành khiêu chiến. Khiêu chiến đến nữa ngày vẫn không thấy quân Nam ra giao chiến. Dù cho giặc Ân khiêu khích chửi rủa chọc tức đến đâu. Quân Nam chỉ thủ thành không động tĩnh gì cả. Thấy quân Nam không dám ló mặt ra xáp chiến cứ co ro thủ thành.

Cơ Hầu Vương nói:

Bẩm chủ Soái. Có lẽ chúng thấy quân ta binh hùng tướng mạnh, nên không dám mở cổng thành ra giao chiến. Cố thủ chờ quân tiếp viện mà thôi. Chúng ta chỉ còn cách là công phá thành tiêu diệt chúng.

Lử Hầu Tề Vương nói:

Bẩm Chủ Soái. Một Thành Đông Giao cỏn con nầy thời có đáng sá chi. Quân Nam nghỉ cho cùng cũng chỉ là bất tài đồ bị thịt, không có gì là đáng sợ. Chúng ta đã càn qua một số Châu, Quận, Huyện. Chúng ra sức chống trả. Nhưng toàn là những binh lính tạp nhạp vô dụng. Thành Đông Giao nầy tuy có phần kiên cố hơn, nhưng binh sĩ cũng chỉ là loài ếch nhái, cá mè một bọn mà thôi. Chúng ta mau tấn công thành làm thịt chúng.

Tử Điền Phi nghe Lữ Hầu Tề nói chí phải. Liền ra lệnh cho một vạn quân. Kết hợp với quân Yên, Tề công phá thành. Tử Điền Phi không còn cách nào hơn mới ra lệnh tấn công phá thành. Việc tấn công phá thành là việc hạ sách tốn kém, hao quân tổn tướng. Nếu quân Văn Lang phòng thủ vững chắc, thời có thể 1 chọi 10. Dù cho phá được thành, cũng phải trả cái giá rất đắc. Việc hao tổn về mình là rất lớn. Nhưng ở thế tiên phong cỡi cọp, thời chỉ còn cách là tiến về phía trước hạ gục đối phương. Giành lấy thắng lợi về mình chiếm lĩnh thành Đông Giang Giao Châu làm bàn đạp cho bước một. Thế là cuộc chiến, công thành bắc đầu. Vì chuẩn bị trước nên quân Văn Lang nắm mọi ưu thế chủ động. Vì dòng giống Tiên Rồng, truyền thống anh hùng. Vì non sông Tổ Quốc mà chiến đấu. Chiến đấu anh dũng, chiến đấu khôn khéo đầy mưu trí. Chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Trên dưới hai vạn quân Ân được lệnh tấn công hàng loạt xông lên tử chiến.

Thế là:

Lửa dầu trút xuống như mưa

Đá cây lao xuống nào thua thát gầm

Đất trời rung chuyển ầm ầm

Giặc Ân tan xác cháy thành bụi tro

Xác phơi như rạ như rơm

Tên Thần xé gió khiếp hồn giặc Ân

Thây giặc chồng chất như non

Điền Phi tức quá lộn gan lên đầu

Dồn quân xông tới mịt mù

Ba ngày mới phá được thành Đông Giao

Rền trời ngựa hí quân reo

Giặc Ân nước lũ tràng vô cung thành

Rồng Tiên biến mất thình lình

Bỗng đâu lại dậy đùng đùng khắp nơi

Lửa Thần tìm giặc mà xơi

Ngựa người khiếp vía đạp thôi ngựa người

Đạp nhau sống chết kể gì

Sói lan lũ giặc phen nầy ra tương

Hầm chông vùi xác giặc muôn

Chông xơi hầm nuốt còn chi cuộc đời

Yên, Tề tên độc trúng rồi

Hồn lìa âm phủ muôn đời đọa sa

Tưởng đâu tài trí ba hoa

Nào hay mắt bẩy phải sa đường cùng

Giặc Ân la liệt xác người

Ngông cuồng xâm lược bỏ đời tại đây

Điền Phi hồn phách tiêu ma

Chỉ còn 5 vạn lết la dọc đường

Tưởng đâu phá được thành rồi

Ngọc ngà châu báu mặc thời vét vơ

Nào hay chẳn có thứ chi

Khắp thành tro bụi bay đi tìm trời

Ở đời ăn cướp ở đời

Con đường kết cuộc mấy đời ai nên

Luật trời luôn ở kề bên

Chuyển xây bộ máy huyền vi tàn đời.

Nói về Tử Điền Phi ra lịnh tấn công tứ phía gần 2 vạn quân ồ ạt xông lên thành, càng xông lên thời càng chết. Ngày thứ nhất, ngày thứ nhì cho đến hơn nữa ngày thứ ba cũng chưa phá được thành. Quân Ân chết la chết liệt, ước lượng hơn 4 vạn quân. Tử Điền Phi tức Phát điên. Liền ra lệnh cho 11 vạn quân còn lại xông lên tấn công. Tức thời lớp trước ngã xuống lớp sau tràng lên. Càng lúc càng nhiều đông như kiến. Quân Văn Lang cố sức chống cự cho đến lúc trời gần sắp tối. Thời chống không nỗi nữa. Quân Ân phá cổng thành, leo tường ùa vô như cơn bão lũ. Nhưng kỳ lạ thay quân Văn Lang biến đi đâu mất. Bất ngờ lửa dậy khắp nơi, gặp lúc ngọn gió Đông Nam hoạt động mạnh. Ngọn lửa bốc cháy cao chín mười mét lan nhanh dữ dội. Quân Ân tràng vô thành đông như kiến, bất ngờ bị ngọn lửa thiêu đốt. Chạy toán loạn sụp hầm chông, hào chông, bẫy chông, quân Ân kinh hoàng hoảng khiếp.

Cơ Hầu Yên, Lữ Hầu Tề, cùng các quan tướng khác biết mình đã sa lưới trúng kế địch. Nhưng đã muộn rút lui không kịp nữa vì tên xơi, hào nuốt, lửa đốt, chông đâm. Quân binh hỗn loạn, người ngựa dẫm đạp lên nhau chết thôi là chết. Cơ Hầu Yên, Lữ Hầu Tề cùng các tướng lĩnh khác chung cùng số phận.

Tử Điền Phi khiếp vía, tưởng đâu phá được thành, hốt trọn ổ quân Văn Lang. Làm thịt chúng cho hả giận. Nào hay đâu nhìn thấy cảnh tượng thê thảm. Quân binh chết ngổn ngang, có số cháy ra than, ra tro, ra bụi. Chẳng lấy được gì ngoài lớp tro bụi bay đi tìm Trời. Nhìn năm vạn quân còn lại bơ phờ xơ xác thương vong đầy mình lê lết thảm thương. Tử Điền Phi đành thu quân trở lại thọ tội với Thống Soái.

Nói về Thống Soái Khương Hoàng Nhân luôn luôn cho người bám sát theo dõi cuộc chiến nghe chiếm được thành Đông Giao thời mừng rỡ. Chừng nghe lại thời 10 vạn quân đã đi đời, 5 tướng đi tiêu Yên, Tề xóa sổ. Quân Văn Lang biến đi đâu mất, thời kinh hồn bạt vía. Nhưng cũng ra oai ra lệnh. Đem Tử Điền Phi ra chém quách cho rồi nhằm ren đe tướng sĩ. Các quan tướng khuyên can mãi Tử Điền Phi mới thoát được tội chết.

* * *
 
PHẦN 12

Trời thu cao vót xanh xanh

Lá vàng rơi rụng đếm chân giặc thù

Gió thu vừa hận, vừa ru

À ơi non nước còn đâu yên lành

Quê hương tai họa thình lình

Giặc càn giặc phá lắm nghìn bi ai

Tiên Rồng nào dễ nuốt xơi

Chủ quyền còn đó muôn thời nghìn xưa

Dầu cho rau muối tương dưa

Trường kỳ kháng chiến giặc thua phen nầy.

Đây nói về Hùng Cao Vương. Nhận lãnh thanh Hỏa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm, thống lãnh 30 vạn quân trấn thủ.

1: Bắc Giang Giao Châu.

2: Lạc Giang Giao Châu.

3: Kinh Giang Giao Châu.

4: Giao Giao Minh Châu.

5: Quí Linh Giao Châu.

Đại quân lặng lẽ đi tới núi Vũ Khê. Thời đóng quân hạ trại, vì nơi đây là trục giao thương của Châu phủ, lại thêm địa hình vô cùng phức tạp. Dù cho trăm vạn quân, cũng khó mà thắng nỗi 30 vạn quân mai phục ở đây là nơi đầy bí mật, thuận lợi cập nhật thông tin. Hộp bàn nghị sự kế sách chống giặc.

Các quan tướng đang lên phương án đối địch thời có quân thám báo vào báo:

Bẩm Vương Gia quân Ân đã tràng qua Nam sông Trường Giang như kiến. Nghe đâu trên dưới 60 vạn quân do Vi Tử Khải, Vi Tử Điển dẫn đầu. Vi Tử Điển dẩn quân theo đường bộ. Vi Tử Khải tiến quân theo đường thủy. Ước lượng 2.000 chiến thuyền lớn nhỏ trên dưới 30 vạn quân. Xuôi theo sông Tử Giang tiến sâu vào nước ta. Có lẽ giặc sẽ vượt qua từ Dương Châu, tiến đánh Lạc Giang Giao Châu rồi vượt qua Giao Giao Châu. Tiến đánh Quí Linh Giao Châu. Rồi theo hướng thuận lợi sông Giao qua sông Lạc, tiến đánh Kinh Kinh Giao Châu. Chiếm lấy Nam Kinh Xích Quỷ.

Hùng Cao Lang nghe xong ngẫm nghĩ một hồi, rồi nhìn các quan các tướng nói:

Giặc ra quân với một lực lượng hùng hậu chưa từng có trong lịch sử. Có thể nói giặc dốc toàn lực lượng xâm lược nước ta, ý định của giặc đã quá rõ, quyết xóa sổ nước Văn Lang trở thành thuộc địa của chúng. Trong trận chiến này hoặc sơ sót hoặc tính sai nước cờ là giặc Ân sẽ đánh tới Kinh Đô Văn Lang rồi biến nước Văn Lang thành thuộc địa của chúng.

Lúc các quan các tướng đang say sưa lên phương án chống giặc. Thời có quân thám báo vào tâu:

Bẫm Vương Gia. Hơn 30 vạn quân Ân do Vi Tử Điển thống lãnh, đang ồ ồ ạt ạt vượt qua Nam Trường Giang và lao thẳng về Bắc Giang Giao Châu rồi vượt qua Kinh Giang Giao Châu vì địa hình Kinh Giang Giao Châu rất phức tạp chưa phải là yếu huyệt của Bắc Giao Chỉ nên giặc sẽ bỏ qua thành này, tiến đánh Xích Linh Giao Châu, Kinh Kinh Giao Châu và nuốt Nam Kinh vào bụng.

Tin khẩn cấp dồn dập, hết người nầy tới người khác, hết người nọ tới người kia:

Khẩn báo quân Ân, mỗi lúc một tiến sâu vào đất Văn Lang và nuốt lần từng Châu từng Quận từng Huyện. Có những Quận, Huyện binh lính không sợ chết lao vào giặc tử chiến. Những trận đánh không cân sức cuối cùng đã bỏ mạng tại sa trường.

Thơ rằng:

Khiếp cho con cháu Tiên Rồng

Chết cho non nước, sống còn về sau

Tinh thần chống giặc rất cao

Chết vì Tổ quốc biết bao oai hùng

Người chết thời chết một lần

Không già thời trẻ cuối cùng cũng đi

Sống đời nô lệ còn chi

Chết vì Tổ Quốc uy nghi cuộc đời.

Hùng Cao Vương cùng các chiến sĩ nghe các Châu, Quận, Huyện lần lược chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, tất cả đều tử nạn trong trận chiến thời lấy làm kinh phục nhưng cũng rất đau lòng, mãi mãi tự hào nòi giống Rồng Tiên.

Hùng Cao Vương nói:

Tuy cái chết của các binh lính Quận Huyện. Cái chết của sự liều lĩnh trứng chọi đá, cái chết không mấy kết quả, thiếu sĩ mưu, nhưng không phải cái chết của sự vô ích mà là sự mở màng cho sự thắng lợi về sau đó cũng là kế sách hay, làm cho quân giặc xem thường chúng ta, chúng càng coi chúng ta không ra gì thời càng có lợi cho chúng ta, chúng càng lún sâu vào kế bẩy của chúng ta. Lại nữa giặc đã tạo cho chúng một thứ vũ khí vô cùng nguy hiểm cho ta, đó là thứ vũ khí hận thù, giặc càng chém giết dã man, càng chà đạp lên thể xác con cháu Tiên Rồng đã ngã xuống, tàn phá quê hương non sông Tổ Quốc chúng ta. Thời chúng đã tạo cho quân dân ta, một sức mạnh đoàn kết triệu người như một, phực lên ngọn lửa hận thù ngút tận trời xanh, Lòng căm thù giặc đến cực điểm, thời những trận đánh quyết tử càng khủng khiếp, tiêu diệt thiêu rụi giặc Ân.

Khi kế sách chống giặc đã bàn xong, Hùng Cao Vương liền ra lịnh:

Mai Đức Thọ nghe lịnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 vạn quân tức tốc tới Tử Dương Châu. Không là phải yểm trợ quân Tử Dương Châu, mà là mai phục ở thung lũng Tử Thần. Chờ khi quân Ân đánh bại quân Tử Dương rồi tiến quân qua khỏi eo Tử Thần, tiến sâu vào địa phận Lạc Giao Châu. Giặc sẽ để lại một ít quân để canh giữ bảo vệ khúc sông nguy hiểm này.

1: Tướng quân chọn 20 chiến thuyền giả làm thuyền giặc, đề cờ quân tiếp viện.

2: Tướng quân cho quân mai phục bao vây áp sát eo Tử Thần.

3: Những binh lính trên 20 chiến thuyền giã làm thuyền giặc toàn là tay võ nghệ cao cường, khi thuyền xáp lá cà phải thật sự mau lẹ ra tay nhanh chóng, đừng cho giặc bắn mật hiệu lên không, còn tên nào vào lên bờ tẩu thoát, thời đã có binh lính mai phục tóm cổ, tiêu diệt không để một tên sống sót, bảo toàn bí mật phục kích tuyệt đối.

4: Sử dụng thuyền giặc làm thuyền của ta, còn thuyền của ta thời tìm nơi ẩn núp kín đáo sâu vào kinh lạch, khi có hiệu lịnh thời xông ra mà tiêu diệt địch.

5: Tướng quân cho quân lính đóng cọc trận giữa lòng sông dài ba bốn dặm, cho quân phục kích dọc hai bên bờ sông bốn năm dặm, sự chửng bị phải thật khéo léo bảo mật tuyệt đối. Phục kích chờ đợi cho đến khi quân Ân thua trận kéo quân tháo chạy trở lại hoặc quân tiếp viện của giặc sa vào cọc trận, thời chúng ta dốc toàn lực với tất cả lòng căm hận trút xuống đầu chúng trả mối hận thù mà chúng đã hại nhân dân ta, rồi nói nhỏ một hồi những điều cơ mật. Nhìn vẻ mặt đầy sát khí của tướng quân Mai Đức Thọ cũng hiểu được phần nào. Có thể nói đây là một cuộc tử chiến một còn một mất giữa ta và giặc.

Huỳnh Trung Phong nghe lịnh. Có thuộc hạ, Tướng quân thống lãnh 10 vạn quân nhanh chóng tới gò Lạc Hồn, khúc sông Lạc Cội, cách thành Lạc Giang Giao Châu 25 dặm theo hướng Tây Bắc, nơi đây chính là vùng đất hiểm địa, khúc sông chết, địa phận rừng Âm U, dân địa phương ít ai đi qua khúc sông này, hai bên bờ sông lau lách cây cối rậm rạp nên giặc hết sức đề phòng vì vậy quân binh hết sức cẩn thận ngụy trang khéo léo, nhất là đừng cho chim chóc sợ hãi bay loạn xạ.

1: Tướng quân cho binh lính đóng cọc trận hai bên lòng sông, âm dưới mặt nước ba tất, tức là một gang rưỡi tay (Thủy âm cọc trận).

2: Cọc cách cọc 1 mét, dài dọc theo hai bên bờ sông đến sáu bảy dặm, từ bờ trở ra cọc đóng rộng ra cở 20 mét và cuối cùng là đóng cọc đầy lòng sông âm dưới mặt nước một tấc rưỡi gần một gan tay dài đúng 200 mét chận đứng thuyền giặc lại. Điều thuận lợi cho ta lúc này là vùng thượng nguồn đã có những trận mưa lớn, nên nước khúc sông chết nầy càng thêm vấy đục, làm tăng thêm hiệu quả thủy âm cọc trận của chúng ta. Thuyền giặc đi qua khúc sông này là ban ngày nhưng theo tình hình chiến sự mà giặc đã lần lượt đi qua, luôn luôn đem đến thắng lợi cho giặc, có thể nói là quá dễ dàng lòng kiêu ngạo xem thường chúng ta. Thời có lẽ thuyền giặc đi qua khúc sông chết nầy vào lúc trời vừa sáng tỏ, thời coi như giặc không sợ gì nữa, sự cảnh giác đề phòng của giặc cũng đã giảm bớt, thuyền cứ giữa dòng sông mà đi, chúng sẽ nối đuôi nhau dài bảy tám dặm.

3: Tướng quân cho binh lính phục kích dọc theo hai bên bờ sông thưa thớt ngụy trang khéo léo, còn đại binh phục kích cách bờ sông 200 mét kéo dài dọc theo hai bên bờ sông chín mười dặm. Thấy thuyền giặc đã sa vào bẫy cọc trận chưa vội tấn công, khi nào có hiệu lịnh pháo phóng lên cao thời tấn công. Những bè chất đốt củi lau sậy tốc hành đẩy ra sông mồi sẵn chất dầu khi nào bè chất đốt đã áp sát thuyền giặc, tức thời dùng tên lửa bắn vào tạo thành trận hỏa công có một không hai trong lịch sử tiêu diệt quân xâm lược.

4: Những chiến thuyền giặc còn sống sót, ráng chèo ngược dòng sông để rút lui tẩu thoát, thời thuyền ta rượt đuổi gần tới khúc sông Tử Dương eo Tử Thần thời rút lui trở lại. Tuân lệnh.

Bùi Xuân Mẹo nghe lịnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 vạn quân tới huyện Lỗ An xã Tử Địa gò Mộ Ma, lợi dụng địa hình phức tạp, nơi đây toàn là rừng còi đầy gai góc lại có nhiều gò đồi liên kết, đây là con đường duy nhất vượt qua Kinh Giao Châu, tiến đánh xích Linh giao Châu. Tướng quân cho quân lính đào hầm ẩn núp ngụy trang ẩn mình dưới đất, để cho giặc đi qua không ngăn cản chi cả, giặc sẽ để lại một ít quân trấn giữ phục kích ở đây, làm trạm thông tin liên lạc và cũng là nơi hiểm địa để chúng thối lui, chờ trời tối thời bất ngờ dưới đất chui lên, chọn nhưng người võ công cao cường ra tay thần tốc mau lẹ, bất ngờ phất thuốc mê vào bọn chúng, còn số không bị thuốc thời nhanh như tia chớp tiêu diệt gọn sạch. Bảo vệ tuyệt đối bí mật của chúng ta, để lại một ít tên, dụ dỗ khéo léo khai thác những thông tin cần thiết bí mật của chúng. Khi đã nắm gọn thông tin ít nhất là 3 người khai giống nhau, liền cho quân phục kích giăng bẫy mà con đường khi cần thiết rút lui chúng sẽ đi qua, chờ cho chúng sa vào kế bẫy sa vào hào trận, thời dốc toàn lực xông ra tiêu diệt chúng, trừng trị cái tội xâm lược tàn hại dân ta và cũng cho chúng biết thế nào là sức mạnh uy linh của nòi giống Tiên Rồng. Tuân lệnh.

Cao Đình Luân nghe lịnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh 10 vạn quân mai phục tại rừng Lâm Nguy giáp ranh giữa Kinh Giang Giao Châu và Xích Linh Giao Châu, nơi đây có 3 khu rừng như kiền ba chân, rừng Ông Cọp, rừng Ông Beo và rừng Quỷ, nếu để giặc qua khỏi ba khu rừng này, thời nguy cơ cho Xích Linh Giao Châu. Giặc muốn nuốt Nam Kinh Xích Quỹ thuận lợi nhanh chóng, thời không có con đường nào tốt hơn là thông qua con đường này vì thế giặc hết sức đề cao, cảnh giác, quan trọng hóa về ba khu rừng này. Trời tối hoặc chiều tối giặc không những không đến gần, chớ đừng nói là giặc sẽ đi qua, muốn đi qua giặc phải cho người thám thính, nếu phát hiện có mai phục, thời giặc sẽ lập tức bao vây dùng hỏa công thiêu rụi ba khu rừng này, vừa tiêu diệt chúng ta, vừa dọn đường sạch sẽ, xong đâu vào đó thời đại binh của giặc mới đi qua, vì vậy hiểu được ý định của giặc thời ta mới thắng được giặc.

Vì vậy tướng quân phải hành sự theo phương án như sau: Theo lộ trình của giặc tiến quân, thời giặc vượt qua Kinh Giang Châu tới địa phận Xích Linh Giao Châu thời trời đã về chiều, khi giặc còn cách ba khu rừng chừng 5 dặm thời hạ trại. Chờ ngày mai trời sáng tỏ giặc mới hành sự theo kế sách tiến qua khu rừng này bằng phương án kết quả cao nhất, hiệu quả an toàn, vừa diệt được quân ta mai phục, vừa tránh được hỏa công khi đại quân băng qua khu rừng, vì vậy chúng ta hành động ra tay trước ý định của chúng, làm cho chúng bất ngờ trở tay chẳng kịp. Khi giặc hạ trại nghỉ chân con mãng xà khổng lồ có thể kéo dài đến chín mười dặm, vì vậy tướng quân tính toán cho thật kỹ, cho quân lính đào hầm mai phục ẩn mình dưới đất nơi giặc dừng chân hạ trại không xa, có thể nói gần sát chân địch, đây là chiến thuật đầy gan dạ của đội quân cảm tử phục kích ở chỗ mà giặc không ngờ tới, sự phục kích ấy ở đoạn giữa và khúc đuôi, đó là đội quân âm phủ còn đội quân dương gian thời phục kích gần đó không xa, sự bày binh bố trận như sau:

1 – Là quân âm phủ ẩn mình dưới đất.

2 – Là quân dương gian phục kích trên mặt đất.

3 – Là quân ẩn mình phục kích trong ba khu rừng.

Cách thức tấn công con mãng xà như sau: Ba khu rừng trực diện như kiền ba chân, chờ trời tối di chuyển quân, áp sát phần đầu, phần cổ con rắn, khi pháo hiệu tấn công đã nổi lên, thời đội quân thiết giáp rừng Ông Cọp tấn công vào đầu con mãng xà, tiếp theo sau là kỵ binh, bộ binh tấn công tới tấp dồn dập xuống đầu con mãng xà. Tiếp theo là hai cánh quân tả hữu rừng Ông Beo, rừng Quỹ. Hai đội quân thiết giáp hai bên tả hữu đồng loạt tấn công siết chặt cổ con rắn bằng sức mạnh đội quân thiết giáp, kỵ binh, bộ binh như hai gọng kìm siết chặt cổ chúng. Khi cuộc chiến xảy ra rầm trời, rầm đất ở cổ và đầu con rắn, thời quân cảm tử âm phủ bất ngờ dưới đất chui lên, đội quân dương gian ập tới. Quân Ân khúc đuôi, khúc giữa lúng túng chỗ nào cũng thấy địch, đội quân âm phủ cảm tử banh xé nội tạng của giặc đứt từng khúc, đội quân dương gian lấn thế ào tới mà xơi tiêu diệt chúng. Tuân lệnh.

* * *



PHẦN 13


Lòng tham muốn nuốt Văn Lang

Trụ Vương dồn dập quân sang giựt gành

Giới ranh còn đó đành rành

Cớ sao Trụ lại đưa người lấn xâm

Tự xưng là Thánh là Tiên

Xem ra một lũ cuồng điên thú cầm

Tự xưng là Thánh là Thần

Mà đi xâm lược, giết người, ác gian

Luật trời nào để huênh hoang

Thay Trời trừng trị nát tan phen này

Xâm lược nào gặt cái hay

Gặt toàn quả báo đầu bay chiến trường.

Đây nói về Vi Tử Điển là anh ruột của Ân Thọ Vương. Không được lên ngôi Hoàng Đế. Vì vậy luôn luôn mơ mộng đến Thế Giới cho riêng mình và đây chính là cơ hội. Nên nóng lòng muốn nuốt nước Văn Lang. Biến nước Văn Lang thành An Nam Quốc thuộc địa nhà Ân. Thống lãnh 30 vạn quân ồ ồ ạt ạt lao thẳng về thành Bắc Giang Giao Châu. Các Châu, Quận, Huyện lần lượt bị con Mãng Xà thành tinh khổng lồ, nuốt vào bụng như nuốt một con kiến, con giun, con dế. Sự thắng lợi quá dễ dàng ấy, đã làm cho quân tướng giặc Ân, càng kiêu căng ngạo mạng, coi Quân lính Văn Lang như cỏ rát. Dân chúng các Quận Huyện sợ quá trốn chui trốn nhủi, nhưng giặc nào có tha, chúng bắt được liền đem ra làm những trò vui như mèo vồ chuột, như mổ gà xẻ lợn vô cùng thê thảm, thê thảm hơn là đàn bà con gái chúng tranh nhau vùi hoa dập liễu, chúng vùi chán chơi chê hoa tơi nhụy rữa rồi vứt xác, dẫm đạp lên như đạp xác con giun, con dế, kiến xơi quạ mổ. Có thằng như quỷ dữ ăn thịt trẻ con còn khen ngon khen béo.

Nói về thành Bắc Giang Giao Châu, nghe tin quân Ân xâm lược, với quy mô chưa từng có trong lịch sử chiến tranh. Binh hùng tướng mạnh lên tới trên dưới 160 vạn quân, con số khủng khiếp chia nhau tấn công đều khắp Tây Bắc Văn Lang, Bắc Văn Lang, Đông Bắc Văn Lang. Bắc Văn Lang giặc tấn công hai mũi chính đường bộ và đường thủy thời tức tốc một phần tích góp lương thực, một phần chuẩn bị lực lượng binh lính chống giặc. Cho người đến Nam Kinh Xích Quỹ cầu quân tiếp viện, đã phái người ra đi, đã bảy ngày sao không thấy trở lại, phần giặc Ân đại quân duy chuyển gần tới, phủ chánh Tư Mã Nhân lo lắng vô cùng. Câu chuyện là thế này.

Bố Chánh Hầu Bưu là vị quan của huyện Hưng Bình là 1 trong 7 Quận Huyện Châu Phủ. Bắc Giang Châu là Huyện có số dân đông nhất, đây là vị quan có tài ngoại giao lại có võ nghệ cao cường, nên được phủ Chánh Tư Mã Nhân giao cho nhiệm vụ trọng đại. Mang mật thư đến Nam Kinh Xích Quỷ, báo cáo tình hình giặc, cầu viện binh mã hoặc có kế sách chỉ đạo của Hùng Cao Vương. Bố Thánh Hầu Bưu đã ra đi hơn bảy ngày mà chưa thấy trở lại làm cho phủ Chánh Tử Mã Nhân đứng ngồi không yên, lại thêm giặc Ân mỗi lúc một tới gần, không còn cách nào khác hơn là tự mình giải quyết sự vụ, sự việc.

Nói về bố Chánh Hầu Bưu, ngựa đang phi vùn vụt, bỗng thấy ba người chận lại, nhìn cách ăn mặc khác thường, không phải dân địa phương, thời biết đó là ba tên sát thủ giặc Ân. Hầu Bưu lấy lại bình tỉnh rút kiếm chém tới phi ngựa vụt qua nào ngờ ánh kiếm của ba tên giặc chớp lên, tức thời cái đầu của Hầu Bưu bay đi lông lốc.

Chúng lục lạo tìm kiếm trong người Hầu Bưu thấy có mật thư liền nói:

Chủ soái quả đoán không sai.

Rồi phi thân mất dạng. Nói về 30 vạn quân do Vi Tử Điển làm thống soái, thống lãnh các trấn chư hầu lớn, nhỏ như. Trâu, Thái, Diệp, Tào, Tống, Trịnh còn hơn 15 dặm thời tới thành Bắc Giang Giao Châu thời cho 30 vạn quân dừng lại, thuộc Huyện Châu Dương đồng cỏ mênh mông, cảnh quang thống thoáng đúng là nơi lý tưởng cho bộ chỉ huy đóng ở.

Vi Tử Điển nói:

Chúng ta đã tiến sâu vào đất Văn Lang hơn 60 dặm, các Quận, Huyện rơi vào tay ta cũng nhiều và chỉ còn 15 dặm nữa là tới Bắc Giang Giao Châu, việc đầu tiên là tìm ra tiên phong chủ soái thống lãnh đại binh đánh chiếm các thành trọng yếu tới chiếm lĩnh Kinh Đô Xích Quỹ hoàn thành giai đoạn một.

Vi Tử Điển nghe danh Vũ Tử Như từ lâu, văn võ song toàn thông kim bác cổ, cùng học một thầy với Triệu Công Tiễn tại núi La Bảo, Động Ác Xà pháp thuật cao cường, là người có thể thống lãnh đạo quân làm nên nghiệp lớn.

Vi Tử Điển liền ra lịnh:

Vũ Tử Như nghe lịnh. Có thuộc hạ. Ta phong cho tướng quân làm chủ soái. Thống lãnh 20 vạn quân, các trấn chư hầu Thái, Diệp, Tào, Tống làm tiên phong đánh chiếm các Châu Thành trọng yếu huyết mạch giao thương, Giao Chỉ.

1: Bắc Giang Giao Châu

2: Xích Linh Giao Châu

3: Kinh Kinh Giao Châu

4: Nam Kinh Xích Quỷ.

Tuân lệnh.

Hai mươi vạn quân do Vũ Tử Như lãnh đạo, khí thế dậy non dậy núi.

Thành Bắc Giang là thành sơ sài hơn hết trong các thành ở Bắc Văn Lang, binh lính tập hợp các Quận, Huyện chỉ hơn 3 nghìn người toàn là binh lính ô hộp, chưa từng tập trận, nên kinh nghiệm chiến đấu vô cùng non nớt, binh lính đứng trên thành nhìn xuống thấy quân Ân đông như kiến, như 1 con mãng xà dài thăm thẳm uống lượng lao đi. Người, ngựa, xe, cộ, gươm, đao, giáo, mác rợp trời, rợp đất khói bụi mịt mù lao thẳng về thành Bắc Giang Giao Châu thời kinh hoàng đến bủn rủn tay chân.

Phủ Chánh Tư Mã Nhân nhìn thấy tinh thần anh em binh lính như thế thời thở dài nói:

Hỡi anh em binh lính, giặc đã đến nhà ta thời ta không giết giặc, giặc cũng sẽ giết ta, chúng ta là con cháu nhà Trời, hai đấng Tiên Rồng, thời sợ gì cái chết, sống thời bảo vệ non sông Tổ Quốc, chết thời về Trời hoặc đầu thai làm người trở lại hoặc làm anh linh Hồn Thiêng sông núi có chi là đáng sợ. Đây là lúc chúng ta xả thân vì non sông Tổ Quốc, đền đáp công ơn nước nhà, cũng là trả thù giặc sát hại đồng bào anh em ta. Tiến lên tiêu diệt bầy Lang Sói, trả mối hận thù cho những người đã ngã xuống tiến lên, tiến lên.

Lời kêu gọi đầy chính nghĩa của phủ Chánh Tư Mã Nhân như một luồng thuốc Tiên thấm sâu vào tâm hồn chiến sĩ, bừng lên ngọn lửa anh hùng, ngọn lửa tiêu diệt quân thù bảo vệ non sông Tổ Quốc.

Hơn 3 nghìn binh lính đồng hô vang khẩu hiệu:

Chúng ta vì non sông Tổ Quốc mà tử chiến. Chúng ta vì đồng bào thiên hạ anh em mà tử chiến. Chúng ta theo gót cha ông đuổi ngoại xâm tử chiến.

Nói về 5 vạn quân tiên phong của giặc Ân do tướng soái Đề Cốt Ma dẫn đầu, khi cách thành Bắc Giang Giao Châu nữa dặm thời tỏa ra bao vây lớp trong, lớp ngoài kêu gọi binh lính thành Giang Châu đầu hàng, Trả lời giặc là những mũi tên bắn xuống. Đề Cốt Ma nỗi nóng ra lệnh tấn công. Thế là:

Thế là máu đổ đầu rơi

Giặc tràn lớp lớp ôi thôi còn gì

Ba nghìn quân lính ra đi

Chìm trong binh lửa còn chi cuộc đời

Giặc Ân người ngựa rợp trời

Gái trai già trẻ ôi thời thảm thê

Giặc ân khoái chí hả hê

Lục sùng châu báu ngón nghề từ lâu

Tay vơ tay vét túi sâu

Bò, Dê, Trâu Ngựa chúng đâu bỏ thừa

Trẻ con trong bụng càng ưa

Linh đơn diệu dụng còn thua món này

Trời ơi là hỡi ông trời

Yêu tinh quỷ dữ hay loài ác ma

Ăn xương nuốt máu người ta

Đất sầu trời thảm tuôn ra hận thù

Hồn linh tử sỉ kia rồi

Căm thù quân giặc chẳng thời chịu tan

Giặc Ân thắng trận huênh hoang

Quân Nam con cóc chẳng hơn con gà

Đồng bào chúng đập chúng chà

Chúng gào chúng thét giống loài kênh kênh

Chúng rằng Nam Quốc sấm rền

Chẳng qua ếch nhái oàng ênh cầu Trời

Ở đời mấy kẻ hiểu đời

Đã loài xâm lược để rồi mà xem

Rồng Tiên nào để giặc yên

Chờ xem lũ giặc mấy tên sống còn.

Giặc Ân phá thành Bắc Giang Giao Châu như phá ụ gò mối, chiếm thành dễ như lấy đồ trong túi, chẳng tiêu hao binh lính là mấy. Hết chiến thắng này tới chiến thắng khác, hết thành công nọ tới thành công kia. Càng đi sâu vào đất Văn Lang, chúng luôn luôn gặt hái bao điều thuận lợi, càng lúc càng coi thường quân Văn Lang.

* * *
 
PHẦN 14

Nói về Kinh Giao Châu, địa hình vô cùng phức tạp, theo kế sách của giặc là không cần đánh thành Kinh Giao Châu. Tiến đánh Xích Linh Giao Châu, thời một số các Châu, Quận, Huyện tự đầu hàng. Giặc chỉ cần dọn sạch đường tiến, cho quân bảo vệ con đường lui, chiếm lĩnh các nơi trọng yếu là thượng sách và cứ thế tiến sâu vào đất Văn Lang, vì thế giặc bỏ qua Kinh Giao Châu tiến đánh Xích Linh Giao Châu, giặc muốn thôn tính thành Xích Linh Giao Châu một cách thuận lợi phải đi theo đường tắc, chỉ cần qua khỏi đồi gò Mộ Ma và rừng Lâm Nguy thời đã coi như 80% thuận lợi.

Nói về Kinh Giao Châu địa phận phức tạp đất đai rộng lớn, thành trì kiên cố có thêm 12 Quận, Huyện nên số binh lính gấp đôi số binh lính Bắc Giang Giao Châu, nhân tài vì thế mà nhiều hơn. Vị Đại Nhân Châu phủ thành này là Trung Đại tên thường gọi là Trung Đại Nhân, có 3 người con 2 gái 1 trai, gái thời đẹp như Tiên Nga giáng thế, trai thời khôi ngô tuấn tú phi phàm.

Ngọc Linh Châu là chị cả, Trung Hoài là em trai kế, Ngọc Thiên Hương là cô gái út. Khi Đại Kim Châu phu nhân sinh con gái út, thời hương thơm nổi lên khắp nhà ai nấy cũng lấy làm kinh ngạc, cô út càng lớn càng xinh đẹp hơn cả cô chị lại có tài học đâu nhớ đấy, khi cô lên chín tuổi không có thầy nào dạy cô nổi nữa. Trung Đại Nhân định gởi cô vào Kinh Đô Văn Lang để học. Một hôm cô đang chơi ngoài vườn hoa cây cảnh, bỗng nổi lên một trận gió lạ cuốn cô bay đâu mất làm cả nhà ai nấy cũng đều sửng sốt, đau xót vừa nhớ, vừa thương, đến nay đã hơn 10 năm tính ra cô cũng đã 19-20 tuổi rồi.

Đây nói về Ngọc Thiên Hương đang chơi ở vườn cây cảnh, cô đang săm soi những cành hoa xinh đẹp, bỗng trận gió lạ cuốn cô lên mây. 5 vị Tiên Cô chắp tay hành lễ nói:

Thưa Cung Chủ, Cung Chủ hãy theo chúng nữ về trời gặp Vương Mẫu Nương Nương.

Tức thời nắm lấy tay Ngọc Thiên Hương đằng vân giá vũ bay đi như tia chớp, không bao lâu thời tới Cung Vương Mẫu, Ngọc Thiên Hương nhìn thấy cảnh giới nơi đây, khác xa cảnh giới phàm trần. Lầu đài cung điện tráng lệ nơi đây, cấu trúc xây dựng toàn bằng vàng, bạc, kim cương, trân châu, pha lê, xà cừ, hổ phách, trang nghiêm, xinh đẹp lộng lẫy. Cô được các Tiên nữ đưa đi qua nhiều cung điện. Mỗi cung điện hoa văn, điêu khắc, chạm trổ khác nhau, tinh vi có hồn như vật sống. Cô nào có biết những đồ trang trí toàn là vật chí bảo. Bảo bối của Vương Mẫu cung. Không bao lâu cô được các Tiên Nữ đưa đến một cung Điện vô cùng sang trọng lộng lẫy đến lóa cả mắt. Cô nhìn thấy Vương Mẫu ngồi trên tòa châu báu uy nghi rực rỡ vô cùng xinh đẹp tuổi độ khoảng 30. Cô nào có biết Vương Mẫu Nương Nương tuổi rất cao có đến hàng triệu triệu năm.

Vương Mẫu Nương Nương nhìn Ngọc Thiên Hương nói:

Khổ cho con quá.

Ngọc Thiên Hương nhìn Vương Mẫu sao thấy quen quá thân thiết như mẹ đẻ ra mình. Liền quỳ xuống Lễ Lạy. Nhìn thấy Ngọc Thiên Hương tâm linh minh mẫn sáng suốt liền khen:

Tuy con mang xác phàm đầy ô trược, nằm trong ngục sanh tử chín tháng mười ngày. Mà Linh hồn con vẫn minh mẫn sáng suốt vô cùng âu đó cũng là nhờ con tu luyện hàng triệu năm.

Vương Mẫu quay sang Ngũ Linh Tiên Cơ nói:

Các con dẫn cung chủ đến Cung Kỳ Hoa truyền dạy Pháp thuật nhanh chóng. Để Cung Nữ trở về trần thế giúp Ngọc Tinh Tử. Trị Quốc an dân lập công với Cội Nguồn lên ngôi Thánh Mẫu.

Ngũ Linh Tiên Cô vâng dạ liền dẫn Ngọc Thiên Hương đến Cung Kỳ Hoa. Ngọc Thiên Hương nhận thấy nơi đây sao quen thuộc đối với mình, tần ngần suy nghĩ. Năm vị Tiên Cô giật mình hốt hoảng, Cung Chủ quả thật lợi hại. Sợ Ngọc Thiên Hương phá vở màng u minh nhớ lại Tiền Thân của mình thì hỏng mất, làm hỏng Thiên Cơ của trời đất. Liền hóa phép không cho Ngọc Thiên Hương nghĩ tới nữa. Tức tốc truyền dạy Pháp thuật, kiếm thuật, Đạo Thuật, Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, phép tắc nghi Lễ Vương Cung. Từ khi cô về Trời ở Cung Kỳ Hoa, Cô nhìn thấy tòa bảo tháp bảy tầng. Hào quang sáng chóa, có các Tiên Cô thay nhau canh giữ. Vương Mẫu cấm không cho Cô đến gần. Cô nghe nói trong Bảo Tháp có vị Cung Chủ đang ngủ.

Ngọc Thiên Hương chăm chú nhìn tòa Bảo Tháp suy nghĩ: Ở Thiên đàng mà cũng có nhiều điều bí ẩn. Thời có Tiên Nữ đến thưa rằng:

Thưa Cung Chủ, Vương Mẫu cho gọi người.

Tức thời Ngọc Thiên Hương đến Cung Vương Mẫu để nghe truyền chỉ. Thấy Ngọc Thiên Hương vào Vương Mẫu nói:

Con càng lớn càng giống lắm, chỉ khác nhau ở xác phàm và xác Tiên mà thôi.

Ngọc Thiên Hương nghe Vương Mẫu nói thời không hiểu chi cả. Vương Mẫu nói:

Con đã xa gia đình hơn 10 năm, cha con sắp lâm đại nạn, con mau về trần thế cứu cha con để không kịp.

Ngọc Thiên Hương nói:

Con ở đây mới hơn có 3 ngày sao Vương Mẫu nói là con đã xa gia đình tới 10 năm.

Vương Mẫu nói:

Đây là cõi thiên đàng đương nhiên phải khác chốn nhân gian, con vốn có duyên với Ngọc Tinh Tử, sau này làm Mẫu Nghi thiên hạ, an hưởng thái bình sau cơn binh đao máu lửa.

Vương Mẫu liền trao cho chiếc áo giáp Tiên để chống lại đao, kiếm, một tấm lưới, một con Thần Ưng, một thanh bảo kiếm.

Vương Mẫu đưa viên thuốc và nói:

Con hãy uống viên thuốc này vào sẽ quên hết chuyện ở đây, không bao lâu mãn số trần gian Ngũ Tiên đón rước con về Thượng giới.

Nghe lời Vương Mẫu Ngọc Thiên Hương liền nuốt viên thuốc vào bụng thời không còn biết chi nữa, khi Ngọc Thiên Hương tỉnh dậy thời thấy mình đang ở động Phong Lan thuộc dãy núi Hùng Phong Sơn, bên mình là một bà già tóc bạc.

Ngọc Hương hỏi:

Bà là ai?

Bà lão nói:

Con quên hết rồi sao? Ta là sư phụ của con đây mà.

Rồi bà đọc lại các câu thần chú xử dụng bảo bối cùng bầu hồ lô đựng linh đơn giải độc với những điều căn dặn. Tiếng huýt sáo của bà vang lên thời Bạch Long Thần Mã bay đến. Bà hối thúc Ngọc Thiên Hương xuống núi cứu cha ở huyện Hàm Giang, một huyện 12 quận, huyện Kinh Giang Châu, thuộc địa phận của cha quản lý. Ngọc Thiên Hương liền từ biệt sư phụ cởi bạch Long Thần Mã bay đi xuống núi, bà già liền rùng mình hiện lại nàng tiên xinh đẹp nhắm hướng trời xanh bay đi mất hút.

Đây nói về Diệp Lang là Cháu Đức Tôn của Hùng Tiên Lang Quốc Vương, con lớn của Điền Lang, nhận lãnh Địa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm, thống lãnh 10 vạn quân tiếp ứng quân Tây Thục Vương, có 3 nhiệm vụ chính,

1: Là chận đường tiếp viện, quân rút lui của giặc.

2: Là quân cứu viện, tiếp viện khi cần thiết.

3: Là bao vây khi thế giặc bị xé nhỏ.

Diệp Lang sau khi hạ trại ẩn mình xong, liền bí mật một mình dò la thám thính tình hình của giặc cũng như của ta, để mà tìm cách đối phó và đã biết được ba anh em nhà Tây Thục đánh cho giặc Ân một trận tơi bời. Đang trên đường tiếp tục thăm dò tình hình quân giặc, bỗng thấy một bóng trắng lao tới nhanh như chớp dưới ánh nắng hoàng hôn yếu ớt sắp lặng. Diệp Lang giật mình tưởng đâu giặc đã phát hiện ra mình, liền rút kiếm tấn công chém tới.

Bỗng nghe tiếng thanh tao như ngọc quát:

Đạo tặc hỗn láo.

Diệp Lang giật mình thâu kiếm lại:

Té ra là cô.

Diệp Lang biết lỡ lời liền nín thinh. Người con gái đẹp như Tiên Giáng Trần trợn mắt quát:

Người là ai? Ta làm gì có quen với người vốn không oán, không thù, sao ngươi lại ra tay độc ác định giết ta.

Diệp Lang nói:

Xin lỗi cô nương tại hạ hiểu lầm tưởng đâu là giặc.

Nàng bỉm môi:

Ngươi giặc thì có.

Thấy chàng thanh niên cứ nhìn mình chăm chăm. Ngọc Thiên Hương thẹn quá quát lớn:

Tránh ra sao ngươi lại cản đường ta.

Lấy lại trầm tỉnh Diệp Lang hỏi:

Cô từ đâu tới? Cô có biết lúc này là lúc nào không? Lúc đang dầu sôi lửa bỏng, những trận đánh liên tục xảy ra.

Ngọc Thiên Hương bĩm môi nói:

Ai đánh ai chứ, chỉ có ngươi đánh ta thì có.

Diệp Lang ngớ người, đứng thừ người ra nhìn cô gái một hồi, chẳng nói chẳng rằng vội vã bỏ đi. Ngọc Thiên Hương nổi cáu thúc ngựa phi tới chận đầu, bỉm môi trợn mắt nói:

Ngươi khinh ta phải không? Ta hỏi sao ngươi không nói.

Diệp Lang nghỉ trong bụng đúng là oan gia rồi, thấy điệu bộ ngây thơ của nàng, khác gì trẻ con liền phì cười, thấy nàng nổi cáu.

Diệp Lang xuống giọng thi lễ rồi hỏi:

Thật ra cô là ai? Từ đâu tới?

Ngọc Thiên Hương thấy Diệp Lang lễ phép với mình thời hết giận ngay. Ngọc Thiên Hương thấy chàng trai trước mặt mình, không những bảnh trai khôi ngô tuấn tú, mà còn điền đạm oai phong hơn người, liền chấp tay thi lễ nói:

Tiện nữ là con của Vương phủ Trung Đại Nhân, tên là Ngọc Thiên Hương.

Diệp Lang như không tin ở lỗ tai mình, liền hỏi lại:

Cô là con gái của Trung Đại Nhân phủ gia à?

Thấy cô gái có vẻ mặt giận dữ mặt đằng đằng sát khí, biết là cô đã hiểu lầm lời nói của mình, liền nói tiếp:

Nghe quân thám báo cho biết là cha cô sắp tử chiến với giặc Ân, có lẽ giờ này đã đánh với giặc Ân rồi sống chết ra sao chưa rõ.

Ngọc Thiên Hương nghe Diệp Lang nói thế giật mình hốt hoảng la lớn:

Ái chà.

Vội vã thúc ngựa bay đi vùn vụt. Diệp Lang giật mình nói:

Thần Mã.

Thấy nhiều cử chỉ lạ của cô gái, Diệp Lang liền huýt sáo, tức thời Thần Mã Bạch Long Câu xuất hiện, Diệp Lang phóng lên ngựa bay theo sau, tiếng sét ái tình đã nỗ từ lúc ấy.

Nàng là ai, sao nàng xinh đẹp quá

Làm hồn ta, say đắm ngất ngây

Là Tiên Nữ, hay nằm mộng ta đây

Ôi cô gái từ đâu nàng lại đến

Sóng lòng ta đã cuồng dân triều mến

Vầng trăng tròn, rực rỡ vạn mùa xuân

Ta đã yêu và ta đã nhớ thương

Nàng là ai, sao ta mãi vấn vương.

Đây nói về châu phủ Đại Nhân dẩn hơn 6 nghìn quân, mai phục Hàm Giang, tuy biết mình quân ít, tướng yếu không thể đối đầu lại đại binh của giặc. Nhưng không lẽ để cho giặc tự tung, tự tác giết hại đồng bào, tàn sát dân lành, dày xéo quê hương. Thôi thà chết đi còn hơn, sống mà cúi đầu làm nô lệ, thời sống để mà làm gì.

Nghe tin Bắc Giang Giao Châu, binh lính vì non sông Tổ quốc đi vào tử nạn, không chút sợ sệt, lòng đau xót bùi ngùi xúc động. Ý nguyện hy sinh cho non sông Tổ Quốc trả thù cho anh em con cháu Tiên Rồng đã ngã xuống liền quyết tâm tử chiến đến cùng với giặc. Nhưng giặc quá mạnh, ta đánh sao đây cho có hiệu quả, làm sao giảm đi sức mạnh của giặc. Liền nghỉ ra một phương án là đánh vào giữa khúc đuôi của con rắn có hàng trăm, hàng nghìn xe vận chuyển lương thực. Nếu thành công thời coi như lập được đại công góp phần đánh đuổi quân xâm lược.

Ba cha con Trung Đại Nhân nghỉ đến cảnh tiêu diệt giặc liền nổi lên bao cảm khoái, chia nhau mỗi người hơn 2 nghìn quân phục kích gần sông Hàm Tử nơi giặc đi qua. Chờ cho 20 vạn quân Ân lần lượt qua sông Hàm Giang khúc sông Hàm Tử, khi đầu con mãng xà đã xa hơn 10 dặm. Còn khúc đuôi con mãng xà kéo theo hàng nghìn xe lương thực, gần một nửa đã qua sông, hơn một nửa chưa qua. Đây là cơ hội tiêu diệt giặc Ân, dù địch còn nhiều hơn ta gấp đôi vẫn cứ đánh. Lúc bấy giờ cơn mưa đã bắt đầu nhẹ hột, mặt trời cũng đã bắt đầu dần dần xuống núi. Tiếng tù tử chiến đã nổi lên, tức thời cách Hàm Tử không xa, từ mé sông các lùm cây bụi rậm, chui ra lúc nhúc ào ào lao tới chém giết giặc Ân như vũ bão. Tinh thần quyết tử lại thêm chủ động, quân giặc bất ngờ bị quân ta tấn công xối xả, quân Ân ngã gục thây nằm chật đất, tên bay vun vút gươm giáo mịt mù.

Thơ rằng:

Cảm khoái nào hơn giết giặc ân

Giữ gìn tất đất của cha ông

Xả thân vì nước Hồn hiển Thánh

Trả thù, rửa hận nước non sông

Bình sanh dốc hết, đầu giặc rụng

Gươm giáo loáng loang xác giặc chồng

Hào khí phương Nam, Rồng mọc cánh

Cuồng phong nổi dậy, khắp non sông.

Trung Hoài Nghĩa thét lớn:

Lũ ác ôn ngoại xâm chết nầy.

Ầm ầm ầm tướng giặc trúng liền ba chưởng ngã ngựa chết tươi. Trung Hoài Nghĩa như cọp xông vào đàn dê quật ngã binh lính Ân rầm rầm.

Bỗng nghe tiếng cười khanh khách nổi lên, thì ra đó là tiếng cười của tướng giặc:

Con cái nhà ai mà đẹp đến thế, để ta bắt sống làm món đồ chơi.

Tướng giặc có vẻ xem thường người con gái trước mặt, đó cũng là yếu điểm của những tay háo sắc. Tướng giặc phi ngựa tới định quật ngã Ngọc Linh Châu bắt sống.

Ngọc Linh Châu quát lanh lảnh:

Loài ác tặc ngoại xâm lũ các ngươi phải chết.

Ngựa, người liền vút tới với chiêu Vô Ảnh Kiếm uy lực vô cùng vu vu nghe rợn người chém xuống đầu tướng giặc nhanh như tia chớp.

Tướng giặc thốt lên:

Ấy chà, coi đẹp thế mà cũng có ngón nghề dữ tợn.

Tướng giặc liền đưa giáo lên chống đỡ, bất ngờ Ngọc Linh Châu biến mất. Từ chiêu Vô Ảnh Kiếm biến thành chiêu Vô Ảnh Sát Thủ. Tướng giặc kinh hoàng định bỏ chạy, nhưng đả muộn một tiếng rú thê thảm, tướng giặc đã trúng liền một kiếm sau đó là cái đầu bay đi lông lốc.

Ngọc Linh Châu như con Phụng Hoàng xông vào đàn quạ đôi song kiếm quét vào quân thù như sấm sét, quân Ân thi nhau ngã gục.

Thơ rằng:

Giặc vừa thấy một bóng hồng chơm chớp

Thời đầu bay lớp lớp xác thây phơi

Tướng nước Nam hay là tướng nhà Trời

Giặc kinh hoảng trước bóng hồng vun vút

Như Phụng Hoàng, lùa vịt để mà xơi.

Bỗng nghe tiếng quát như sấm:

Chết nầy.

Thanh Lao Đao trên tay Trung Đại Nhân, bỗng hóa ra 5 Thanh Đao với chiêu Ngũ Ảnh Đoạt Hồn tấn công nhanh như chớp. Thượng trung hạ, đầu mình và tứ chi, tướng giặc hoa cả mắt trúng liền một đao bỏ mạng. Quân lính Kinh Giao Châu thấy ba tướng giặc bỏ mạng, liền hăng máu xông lên như bão lốc người chém giết giặc Ân kẻ đốt phá lương thực, giặc Ân hơn 1 vạn quân đã đi tiêu hơn hai phần ba, chỉ còn 3 nghìn quân nữa sắp bị tiêu diệt đến nơi, hàng nghìn xe lương thực sắp bị phá vỡ thiêu rụi.

Có bài thơ rằng:

Rồng Tiên chính nghĩa mạnh vô biên

Chết sống kể chi giữa trận tiền

Dòng máu Lạc Hồng đâu sợ chết

Lao vào tử chiến, thật kinh thiên

Giặc Ân khiếp vía, tinh thần ấy

Truyền thống hùng anh, khắp mọi miền

Quốc Đạo anh linh, rền kim cỗ

Toàn dân quyết tử dậy cương biên.

Quân lính Kinh Giao Châu đang lúc hăng máu, say sưa tiêu diệt giặc Ân đốt phá lương thực, thời nghe quân reo dậy đất ngựa hí vang trời, thì ra quân Ân gần khúc đuôi đội quân chủ lực đã bọc bao vây trở lại bao vây trùng trùng lớp lớp. Chỉ còn hơn 2 nghìn quân giặc Ân sắp đi chầu âm phủ, thấy quân tiếp viện đến bao vây binh lính Kinh Châu, liền phản công quyết liệt. Giặc Ân trong đánh ra ngoài đánh vô, kẹp quân Kinh Giao Châu ở giữa. Bốn nghìn quân Kinh Giao Châu còn lại đụng độ với quân chủ lực giặc Ân nháy mắt tất cả đều bỏ mạng lìa đời.

Thơ rằng:

Nào có sợ trước lũ bầy cáo, sói

Chí anh hùng, xông tới tiến tiến lên

Dù ngã xuống, nhưng hồn linh sống mãi

Diệt quân thù nào để sót một tên

Kìa cha ông đang tiếp hồn tử sĩ

Về Cội Nguồn về Tiên giới Thánh Tiên

Hỡi Hồn Thiên, hỡi anh linh trung dũng

Người ngã rồi, nhưng hồn vẫn đứng lên

Như núi cao, như hùng sơn sừng sững

Mãi muôn đời bao thế hệ không quên.

Thấy cha và anh sắp bị giặc giết Linh Châu lao tới cứu cha và anh trước mưa tên, bão giáo tên đã bắn trúng cô xối xả, cô từ từ ngã xuống gục nơi chiến trường.

Có bài thơ rằng:

Giặc Ân xâm lược nước nhà

Làm thân con gái cũng ra chiến trường

Tung hoành ngang dọc thư hùng

Đầu giặc rụng xuống như sung chín mùi

Tướng giặc khiếp vía rụng rời

Trời nam phận gái cũng thời liệt hoanh

Cỡi mây đạp gió xông lên

Trước bầy quỷ dữ lung linh sáng ngời

Tuy nàng đã ngã xuống rồi

Nhưng bầy quỷ dữ vẫn thời khiếp kinh.

Ngọc Linh Châu trúng tên nhiều quá, biết mình khó sống thét lên:

Cha, anh con đi trước đây.

Nói xong Linh Châu nhắm mắt lìa đời, hồn bay về trời chầu Tiên Mẫu. Hai Cha, Con Trung Nhân thấy Linh Châu đã ra đi, thời dùng hết thần lực vào cánh tay Đao, Kiếm đây là đoàn cuối cùng giết giặc theo Linh Châu sang bên kia thế giới về chầu Quốc Tổ. Với đường Đao cuối cùng cuồng phong nổi dậy cát chạy, đá bay một vùng Đao pháp rộng lớn cuồn cuộn tuôn ra trùm xuống đầu quân giặc.

Tướng soái giặc Ân thấy thế thét lớn:

Bắn.

Tức thời hàng trăm mũi tên đồng tên sắt bắn vào vùng Đao Kiếm tiêu diệt hai cha, con Trung Đại Nhân. Trước phút lâm nguy nghìn cân treo sợi tóc, bỗng hai bóng trắng xuất hiện với hai luồng kình lực một cương một nhu, đẩy hàng trăm mũi tên lệch xong một bên, đùng đùng ầm ầm quân Ân ngã gục mấy chục tên.

Hai cha con Trung Đại Nhân thần lực cạn kiệt loạng choạng sắp ngã, liền bên tai có tiếng người nói:

Mau sang ngựa.

Tức thời 2 luồng kình lực hút hai cha con Trung Đại Nhân bay lên không. Nói thì hơi lâu, còn việc xảy ra thời nhanh như chớp, quân giặc chưa kịp trở tay thời hai bóng trắng đã mất hút trước sự ngơ ngác của giặc, hai cha con Trung Đại Nhân không cánh mà bay.

Nói về hai cha con Trung Đại Nhân sắp kề cái chết, bỗng có người đến cứu không rõ là ai mà có võ công thần kỳ đến thế. Lần đầu tiên chứng kiến cảnh ngựa bay, ngựa phi ngày nghìn dặm đã là hiếm thấy, tuy trời đã tối nhưng hai cha con Trung Đại Nhân cũng cảm nhận được núi, rừng trôi qua vùn vụt ngựa đang bay. Hai cha con Trung Đại Nhân xưa nay chỉ nghe kể, nhưng hiện giờ thời tai nghe, mắt thấy, tay sờ đụng không thể chuyện kể hay chiêm bao gì cả mà là sự thật.

Khi ngựa dừng chân, thời thấy 5 vị tướng quân ra mắt cung kính thi lễ nói:

Đức Tôn Vương đi quá lâu, làm cho các thuộc hạ quan tướng lo lắng.

Hai cha con Trung Đại Nhân nghe 5 vị tướng quân thi lễ trong 2 vị cứu mình, một vị là Đích Tôn Vương Tử, còn vị kia không rõ là ai thời vô cùng kinh hãi, liền quỳ lạy:

Xin tha mạng cho tội thất lễ.

Diệp Lang đỡ hai cha con Trung Đại Nhân dậy nói:

Thật đáng khen cho tấm lòng vì dân vì nước của Đại Nhân. Vì nước quên thân, vì dân chiến đấu, chiến đấu anh dũng, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, ai nhìn thấy cũng sinh tâm kính phục.

Ngọc Thiên Hương thời đờ người ra ấp a ấp ún Diệp Lang thấy vậy phì cười. Hai cha con Trung Đại Nhân lại tiếp tục quỳ lạy ơn cứu mạng.

Diệp Lang lại đỡ dậy nói:

Người cứu hai cha con Đại Nhân không phải là bổn Vương, mà là cô con gái út của Đại Nhân. Ngọc Thiên Hương.

Diệp Lang chỉ người con gái đã cứu ông thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Ông như người trong mơ ngơ ngác. Ngọc Thiên Hương nhào tới ôm lấy cha:

Cha con xuống núi hơi trễ, thiếu chút nữa Cha và Anh chầu Trời, con thật có lỗi xin Cha thứ tội cho.

Vuốt chòm râu của Cha, Ngọc Thiên Hương nói:

Cha đã già đi nhiều.

Ông la lớn:

Đúng là con rồi. Đúng là Ngọc Hương của Cha rồi.

Ông ôm Ngọc Thiên Hương mà khóc:

Cha nhớ con lắm, con đi đâu mà lâu thế đã hơn 10 năm rồi còn gì.

Nghe hai cha con Trung Đại Nhân nói chuyện, Diệp Lang đã hiểu ra tất cả, thì ra là thế. Đúng là nàng không hay biết gì, có lẽ nàng vừa mới xuống núi, lòng bỗng dâng lên bao điều cảm xúc khó tả. Nhìn người con gái út, ông nhớ đến Linh Châu người chị cả của Ngọc Hương, em trở về thời người chị lại ra đi, hi sinh anh dũng nơi trận chiến. Hình ảnh Ngọc Linh Châu đã hiện ra như con Phụng Hoàng xông vào bầy sói dữ càng nghỉ nước mắt ông càng chảy ròng ròng.

Ngọc Hương hốt hoảng:

Cha sao thế?

Ông nghẹn ngào nói:

Chị cả hi sinh rồi, xác chị con còn nằm nơi chiến trận.

Nói xong nước mắt ông lại càng chảy hơn, thấy cha và anh vô cùng đau khổ. Ngọc Hương nghiến răng nói:

Lũ ác ôn, giặc Ân rồi đây chúng bay sẽ biết tay bổn cô nương, ta sẽ cho các ngươi biết thế nào là lòng căm hận của những người thân, các ngươi đã tàn sát.

Ngọc Hương nói:

Để con đi tìm xác chị về đây tạm thời an táng, sau khi tiêu diệt giặc Ân đem chị về Châu Phủ an táng tử tế.

Nghe Ngọc Hương nói ai nấy cũng đều kinh hãi. Trung Đại Nhân khuyên:

Con, nguy hiểm lắm, nguy hiểm lắm.

Trung Hoài Nghĩa nói:

Hiền muội không nên đi vì lúc này giặc Ân chưa rời xa hết nơi chiến trận, để giặc bỏ đi anh sẽ tìm xác chị.

Ngọc Hương nói:

Từ đây đến đó cả hàng trăm dặm, giặc Ân tai mắt cùng khắp, để em cỡi Thần Mã tới đó chưa được nữa giờ, lũ giặc Ân không làm gì nỗi con đâu, hơn nữa con sẽ khôn khéo không cho chúng phát hiện. Cha, anh cứ yên tâm.

Ngọc Hương đứng phất dậy, hai con mắt tỏa hào quang oai phong lẫm lẫm, giờ đây nàng không phải là con gái ngây thơ nữa mà là một Nữ Tướng anh hùng không khác gì chị của nó Linh Châu oai phong lẫm liệt. Ngọc Hương nhảy lên con Thần Mã bay lên không biến mất trong màn đêm u tối.

* * *
 
×
Top Bottom