Rồng Tiên lược truyện

89. CHUYỂN HỌA THÀNH PHÚC

Thị Trấn Mỹ Hậu có hai gia đình, gia đình Ông Bà Sồi, gia đình Ông Bà Gạo, hai gia đình nổi tiếng là con cái hư hỏng.

Ông Bà Sồi sanh được hai người con, người con lớn tên là Hành, người con thứ tên là Tiêu.

Tiêu và Hành công chuyện làm ăn thời lười, còn đua đòi thời khỏi chê càng ngày càng lêu lổng thường bỏ nhà đi đánh đàn đánh đúm tụ năm tụ bảy ăn chơi trác táng. Điều làm cho Ông Bà Sồi lo lắng nhất là dính vào xì ke ma tuý.

Một hôm Ông Sồi đến nhà Ông Gạo thấy gia đình Ông Gạo con cái ngoan ngoãn đứa nào đứa nấy cũng siêng năng trông không có gì là hư hỏng cả thời lấy làm kinh ngạc nói xưa kia con anh cũng như con tôi đều là hư hỏng nhưng sao bây giờ tụi nó đứa nào đứa nấy cũng lễ phép, ngoan ngoãn siêng năng trong công việc tháo vát làm ăn, anh có phương pháp gì hay truyền cho tôi với.

Ông Gạo nói tôi chẳng có phương pháp gì hay chỉ nghe theo lời người ta chỉ bày làm lành hướng thiện thời chuyển họa thành phúc vợ chồng tôi ra sức làm nhiều điều phúc thiện con cái tôi cũng bắt chước làm theo, đứa nào cũng đổi tâm sửa tánh mới được như vậy. Ông Sồi nghe xong rồi nói tu là phải đến chùa nhưng hai đứa con tôi nào có thèm đi.

Ông Gạo nói tu chỉ là sửa chữa, sửa đổi tánh nết của mình, nào phải lên chùa mới sửa được. Quan niệm tu là phải lên chùa là quan niệm sai lầm, tu chỉ là sửa đổi tánh nết mà thôi. Không nghe người ta nói sao nhất thời tu ở tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Tôi nghe người ta đồn không có đạo nào hơn được Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời, Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa tối cao vũ trụ Đời Đạo viên dung, trong Đời có Đạo trong Đạo có Đời, nên tu theo Văn Hóa Cội Nguồn, không những dễ tu, mà chuyển đổi số mạng cũng nhanh.

Trước đây gia đình tôi phải nói là lộn xộn, lại làm ăn chẳng được suôn sẻ gì, làm đâu thất bại đó, con cái lại hư hỏng. Nhưng từ khi tôi đi theo Văn Hóa Cội Nguồn mượn kinh thơ về đọc, làm theo sự dạy bảo trong kinh thơ. Không ngờ mọi việc đều như ý, hầu như muốn gì được nấy.

Ông Sồi nghe xong lấy làm mừng lắm học theo lối tu của Gạo tu tại gia. Quả là hiệu nghiệm hai đứa con lần lần hết phá tiền tính tình cũng thay đổi Hành, Tiêu dần dần trở thành một con người khác. Ông Sồi thấy vậy cho là đạt kết quả nên lơ là ít tụng đọc kinh thơ, chỉ lo làm giàu việc hành thiện cũng giảm sút.

Hai đứa con của Ông Sồi trở nên hung dữ thường cãi lại Mẹ Cha tính lêu lổng lại thậm tệ hơn nữa Ông liền mất niềm tin ở Văn Hóa Cội Nguồn, không còn mặn mà gì đến đọc tụng kinh thơ.

Cho đến một hôm Ông Sồi vừa chợp mắt thiêu thiêu liền thấy một vị thần đến mách bảo người tu hành như kéo tre lấy lửa. Thanh tre mới hơi nóng thời dừng lại thời lấy đâu ra lửa. Như người trồng lúa trồng rồi bỏ đó không chăm bón thời lấy đâu kết quả mà gặt. Muốn chuyển họa thành phúc phải nỗ lực cho đến khi biến họa thành như gia đình Ông Gạo. Thế mà Ông Gạo cũng không dừng lại cả gia đình nỗ lực đọc tụng tu theo Văn Hóa Cội Nguồn hơn nữa. Vị Thần liền ngâm mấy dòng thơ.

Người tu hành ví như leo núi

Càng lên cao, càng cố gắng hơn

Lúc leo phải chịu gian nan

Khi mà tới đích thảnh thơi an nhàn

Chốn hồng trần cõi đời dâu bể

Nợ hồng trần, vay trả triền miên

Phải nương Nguồn Cội giải vây

Mới mong thoát khỏi tai ương khốn cùng

Tu phải bền, dần dần thoát khổ

Thiện gieo ra chuyển đổi số căn

Làm lành lánh dữ sớm hôm

Phước năng thắng số xưa nay sự thường

Ông Gạo tấm gương sáng ngời

Con đường Ông đã đi rồi thành công

Ông Sồi dường như tỉnh ngộ, quyết chí tu hành theo Văn Hóa Cội Nguồn, siêng năng tinh tấn, ai nói gì cũng không nghe, dù cho thịt nát xương tan cũng không lùi thường đọc kinh thơ làm lành bố thí tiếng lành đồn xa Hành và Tiêu đi đến đâu cũng nghe người ta ca ngợi Cha mình dần dần tỉnh ngộ, không còn chơi bời lêu lổng trở lại có hiếu với Cha Mẹ.

Gia đình Sồi như trút gánh nặng trong ấm ngoài êm.

Một hôm Ông Sồi mua được củ sâm quí, liền đến nhà Ông Gạo biếu cho củ sâm quí. Kể lại những gì đã trải qua cho Ông Gạo nghe.

Ông Gạo nghe xong rồi nói, nghe Sồi kể về vị Thần mách bảo tôi càng sáng ra người tu như leo núi cố gắng leo càng cao thời càng thành công, càng thấy xa hiểu rộng. Con người hơn nhau là ở cái đầu và sự giác ngộ mà thôi.
 
90. HẠT GẠO TRÊN SÀNG

Ngày xửa ngày xưa phải nói là rất xa xưa có một vị Thầy tên là Giác Hoa tinh thông vạn pháp chuyện gì cũng biết đi khắp mọi miền đất nước Nam Sa thu nhận được 12 môn đồ đệ tử đem về Sơn Cốc truyền dạy văn, võ.

Sau bao năm khó nhọc truyền dạy văn võ người nào người nấy đều tài giỏi lại khéo ăn nói thường tranh nhau phụng dưỡng thầy, không ai chịu kém ai về lòng trung thành cũng như lòng nhân hiếu.

Một hôm Giác Hoa nói với môn đồ để tử rằng Ta đã tu luyện đến cảnh giới không còn bệnh tật gì nữa bách bệnh bất xâm. Quyền năng cái thế quyền lực vô biên các con có tin như thế không?

12 môn đồ đệ tử đều thưa rằng chúng con tin tuyệt đối lời Thầy nói.

Thầy Giác Hoa hỏi lại: Các môn đồ đệ tử nói có thật không? không ai chịu cho mình là không tin tuyệt đối lời Thầy nói bằng thề thốt nầy thề thốt kia, Giác Hoa nói Thầy thật có phúc không nhìn lầm người.

Nói về Thầy Giác Hoa đi đâu không biết hơn ba ngày khi trở về liền lâm trọng bệnh, bước đầu 12 người đệ tử thi nhau chăm sóc, nhưng bệnh tình của Giác Hoa không thiên giảm mỗi ngày một nặng, không bao lâu thời sinh ra lở lói, mùi hôi thúi mỗi ngày một thêm nhiều. Văn, Hậu, Duyệt, Lê bàn tán với nhau Thầy nói Thầy tu luyện đến cảnh giới không còn bệnh tật gì nữa bách bệnh bất xâm, chẳng qua là Thầy đề cao Thầy mà thôi, bằng chứng là Thầy đang mang bệnh. Đã đau bệnh lại còn sinh ra lở lói, hôi thúi vô cùng.

Văn nói người bình thường cũng chưa đến nổi như thế. Thật ra Thầy đâu có gì đặc biệt cũng mang lấy nghiệp vào thân. Nên mới sinh ra bệnh tình lỡ loái hôi thúi như vậy, nói thiệt với các huynh có lúc đệ chịu không nổi. Hậu nói theo tôi nghĩ Thầy cũng chỉ là người Thầy bình thường mà thôi không như Thầy nói đâu, hơn nữa Thầy cũng đã truyền hết những gì Thầy biết cho chúng ta rồi. Nên sáu tháng nay Thầy đâu có truyền gì nữa lúc nào Thầy cũng dặn chúng ta chú tâm vào văn ôn võ luyện đâu còn gì nữa để mà học. Duyệt, Lê, nói Đạo làm đệ tử không lẽ thầy đang đau mà bỏ đi.

Một hôm Thầy Giác Hoa nói với 12 người đệ tử rằng, tí nữa Thầy quên mất Cha Mẹ các con nhắn với Thầy là gia đình đang có chuyện, nhưng không rõ là chuyện gì các con nếu thấy cần thiết thời về, Cha Mẹ các con đang chờ các con đó. Văn, Hậu, Duyệt, Lê nghĩ đây là cơ hội thoát thân, tránh đi cái cảnh ngày nào cũng phải ngửi mùi hôi thúi. Bằng nói với Giác Hoa. Thầy đã nói như vậy mai con sẽ lên đường trở về, nói là mai nhưng thật ra về đến thiền phòng Văn, Hậu, Duyệt, Lê, thu dọn lên đường rời xa Sơn Cốc xuống núi.

Qua mười ngày sau Minh, Quân, Dần, Mẹo cũng nghĩ như Văn, Hậu, Duyệt, Lê không còn tin tưởng vào Thầy nữa, Thầy cũng chỉ là người bình thường, bằng nói với Giác Hoa chúng con muốn trở về nhà văn ôn võ luyện chờ ngày ứng thí. Giác Hoa nói các con sớm lên đường.

Minh, Quân, Dần, Mẹo xuống núi được mấy ngày thời Thầy Giác Hoa qua đời, trước khi qua đời Thầy Giác Hoa nói các con đem xác thân thầy chôn ở Nhai Sơn Lãnh cách đây hơn 50 dặm để chôn. Thầy Giác Hoa đã chết giờ chỉ còn Tý, Sửu, Hào, Thịnh.

Tý, Sửu, Hào, Thịnh, bàn tán với nhau tìm ra giải pháp gọn nhẹ tốt nhất. Tý nói Thầy giờ đây chỉ là cái xác thúi chôn chỗ nào mà chẳng được, cần gì phải chôn trên Nhai Sơn Lãnh xa xôi, chôn Thầy ở đây rồi về. Vì đây tới Nhai Sơn Lãnh quá xa đường đi toàn là rừng núi, lại thân xác Thầy hôi thúi. Không khéo lây nhiễm bệnh cho chúng ta, bỏ mạng không chừng.

Hào, Thịnh, không bằng lòng nói Thầy đã dặn như thế sao chúng ta không làm theo. Sửu nói thầy giờ đây chỉ là cái xác vô tri Đệ tán đồng ý kiến của Huynh Tý, hai bên cải qua cải lại, Tý, Sửu, nói lòng trung thành của hai huynh chẳng ích chi không nói là ngu nữa là khác. Nói xong thời bỏ đi không một lời từ giả. Giờ còn lại chỉ hai người Hào và Thịnh, hai người quấn Thầy lại rồi bốc thăm ai trúng chữ “cõng”, thời cõng thầy đi, qua ngày sau thời thay thế Thịnh bốc trúng chữ cõng, cõng Thầy đi được hơn một ngày Nhai Sơn Lãnh thời còn quá xa hơn nữa trời sắp tối, xác thầy lại hôi thúi tiếng hổ gầm vang dội núi rừng. Ánh hoàng hôn lịm tắc bóng đêm phủ xuống, sương lạnh mịt mù núi rừng chìm trong u tối. Thịnh vì cõng thầy cả ngày mệt quá ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Đến khi tỉnh dậy thời trời đã sáng thời hỡi ôi không còn thấy Hào đâu nữa chắc có lẽ Hào đã bỏ đi rồi. Thịnh buồn rầu mới đi được hai phần đường giờ chỉ còn lại một mình, đường rừng quanh co rậm rạp chẳng có bóng người, hổ, beo, cáo, sói rình mò, xé xác.

Thịnh nhìn xác của Thầy hầu như quên cả hôi thúi nổi lên bao niềm xúc động, không quên ơn công dạy bảo. Thịnh quyết định dù cho cọp sói ăn thịt cũng phải làm tròn bổn phận học trò ra thân đền đáp chút công ơn. Dù có bị lây nhiễm bệnh tật Thịnh quyết không làm trái lời thầy dạy. Bằng cỏng thầy lên lưng mùi hôi thối nồng nặc. Nhưng Thịnh không lấy đó mà bỏ Thầy chỉ biết chú tâm làm theo lời dạy của Thầy mà thôi.

Cuối cùng Thịnh cũng đến được Nhai Sơn Lãnh chỉ còn vượt qua hố sâu thung lũng là đến nơi. Thịnh ngồi khóc làm sao cõng thầy qua hố sâu thung lũng cho được. Bỗng nghe sau lưng có tiếng ngâm thơ một giọng ngân nga nổi lên.

Hạt gạo trên sàng chính là đây

Tâm như nhật nguyệt sáng lắm thay

12 đệ tử còn được một

Đệ tử chân truyền chính là đây

Giác Hoa ngâm thơ xong rồi nói con để Thầy xuống Thịnh lấy làm kinh hãi nói thầy sống lại sao? Giác Hoa nói Thầy chưa tới số làm sao mà chết được. Đó là phép thử lòng đệ tử mà thôi. Thịnh như chợt hiểu thì ra là thế.

Giác Hoa nắm lấy tay Thịnh bay lên Nhai Sơn Lãnh Thịnh vô cùng kinh hãi, đến lúc nầy Thịnh mới biết sự phụ thần thông quảng đại như những gì sư phụ nói.

Nhìn Nhai Sơn Lãnh cảnh quang đẹp như bồng lai tiên cảnh Thịnh đã nhận ra nơi đây mới chính là nơi sư phụ ở. Thảo nào lâu lâu sư phụ ra đi năm mười ngày rồi trở về Sơn Cốc. Sơn Cốc chỉ là nơi sư phụ dùng để đào tạo môn đồ đệ tử mà thôi.

Thịnh được Giác Hoa sư phụ truyền thụ võ công tuyệt học, cũng như pháp thuật thần thông. Thịnh tu luyện được ba năm có thể nói là Văn, Võ xuất chúng.

Một hôm Giác Hoa nói triều đình đang mở khoa thi tuyển chọn hiền tài con mau xuống núi đến trường an dự thi. Đất nước cũng đang lâm nguy vì giặc Hung Nô đang xâm lấn.

Quốc Thịnh từ biệt sư phụ đằng vân giá vũ bay đến trường an, ghi tên vào danh sách dự thi. Thấy có tên Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Hào, Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân. Đến ngày dự thi anh em gặp lại nhau tay bắt mặt mừng. Hào nói với Thịnh mấy năm nay lúc nào Đệ cũng thấy hổ thẹn, lương tâm luôn kén rức vì sao mình lại làm như thế bỏ huynh ở lại một mình giữa rừng hoang với xác thân sư phụ, đệ nghĩ mình không còn xứng đáng là học trò của Thầy nữa, nên đệ không xưng mình là đệ tử Giác Hoa.

Chỉ có Huynh là xứng đáng là đệ tử Giác Hoa mà thôi.

Hào nói Thịnh Huynh đi đâu ba năm nay biệt tăm biệt tích. Trong mười hai huynh đệ anh em. Đệ kính trọng nhất chính là Thịnh Huynh. Huynh đã chôn thầy ở Nhai Sơn Lãnh chớ. Quốc Thịnh nói Thầy có chết đâu mà chôn.

Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân, Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Hào, nghe Thịnh nói Thầy không chết thời vô cùng kinh ngạc trố mắt ra mà nhìn Quốc Thịnh tưởng mình nghe lầm bằng hỏi lại Thầy không chết thiệt sao? Thịnh nói đúng thế nơi ở chính thức của Thầy chính là Nhai Sơn Lãnh, còn chỗ Sơn Cốc anh em huynh đệ chúng ta học chỉ là nơi phụ không phải nơi chính của thầy ở.

Quốc Thịnh bằng kể lại tất cả những gì đã trải qua, Quốc Thịnh nói ba năm nay đệ không xuống núi là vì Đệ ở lại Nhai Sơn Lãnh tiếp tục tu học. Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Hào. Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân, vô cùng hổ thẹn cho tấm lòng không trung chính của mình đã bỏ Thầy ra đi khi Thầy đang đau ốm bệnh nặng. Nhất là Hào vô cùng hối tiếc vì bỏ qua một cơ may mà mình đã đi gần đến đích.

Trống trường đã vang cuộc thi cũng đã bắt đầu thí sinh có đến hàng chục môn Văn thi trước, môn võ thi sau kết thúc cuộc thi Quốc Thịnh cả văn lẫn võ dẫn đầu vào ngôi vị Trạng Nguyên, cùng với hai người nữa một người là Phong, ngôi vị Bảng Nhãn, một người là Hào ở vị Thám Hoa. Còn Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân, phải chờ đến kỳ thi sau lấy làm tiếc cho sự thiếu hiểu biết của mình, đã gặp được minh sư là chuyện hi hữu trong đời, vì cái tâm không được chân chính lại tưởng mình là hay, nhưng thật ra rất ngu si.

Quốc Thịnh thống lãnh đại quân thảo trừ giặc Hung Nô, vốn tài trí hơn người lại có pháp thuật thần thông chưa đầy một tháng quân Hung Nô bị đại quân Quốc Thịnh xóa sổ.

Nhà Vua Nam Sa gả Công Chúa Mỹ Tiên cho Quốc Thịnh, Quốc Thịnh trở thành phò mã sống trong giàu sang an vui hạnh phúc. Lữ Hào được bổ nhiệm về làm quan tri huyện Gia Trung. Lấy được người vợ xinh đẹp sống an vui hạnh phúc. Vậy mới biết lòng Trung Chính, Nhân Hiếu bao giờ cũng gặt hái những kết quả tốt đẹp. Lòng bất chính Bất Nhân, Bất Nghĩa,thường chẳng gặt hái được gì mà lại để tiếng đời nhân thế cười chê.
 
91. TIÊN DUNG VÀ CHỬ ĐỒNG TỬ

Thần Tiên giáng hạ lâm phàm

Tấm gương để lại cho đời soi chung

Công chúa ưng người nghèo xơ

Nên duyên chồng vợ tóc tơ sống đời

Tình yêu đâu kể giàu nghèo

Tơ duyên là bởi do trời mà nên

Nào ai có muốn được đâu

Điều do số mệnh thành đôi ý Trời

Mở màn câu chuyện lạ đời

Tiên Dung, Đồng Tử, ở thời Hùng Vương

Vào thuở xa xưa vào thời Hùng Duệ Vương đất nước đến thời loạn lạc. Bắc Văn Lang không còn, hơn hai phần Trung Văn Lang đã mất. Chỉ còn Nam Văn Lang và một phần Trung Văn Lang.

– Khi ấy trên cõi Trời Đao Lợi Thiên có cặp Thần Tiên Nam Tiên Long, Nữ Ngọc Nữ thường qua lại hẹn hò cùng nhau, nguyện sanh xuống chấn nhân gian kết duyên thành vợ thành chồng.

– Ngọc Nữ đầu thai làm con Hùng Duệ Vương đời thứ 18 hạ Hùng Vương, cũng là đời cuối của niên đại Hùng Vương kéo dài nối tiếp 2701 năm. Hùng Duệ Vương lên ngôi Hoàng Đế trị vì thiên hạ thay Cha là Hùng Nghị Vương 306 đến 258 trước công nguyên. Hùng Duệ Vương có hai người con gái đẹp tuyệt trần. Một người là Tiên Dung, một người là Mị Nương. Tiên Dung công chúa là chị. Mị Nương công chúa là em.

Khi ấy ở Làng Chữ Xá, có vợ chồng Cù Vân ăn ở hiền lành sanh ra một cậu con trai khôi ngô tuấn tú, chính là Tiên Long Kim Đồng lâm phàm.

– Chữ Cù Vân đặt tên cho con là Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử lên 10 tuổi thời bà Cù Vân qua đời, hai cha con nương tựa nhau mà sống, nghèo đến nổi không có áo để mà mặc, hai cha con chung nhau một cái khố, hễ ai đi đâu thời mặc.

– Một hôm cha Chử Đồng Tử là Ông Cù Vân bị ốm biết mình sắp chết, liền dặn Chữ Đồng Tử rằng, khi cha chết con cứ táng trần cho cha còn cái khố con giữ lấy mà dùng.

– Ông Cù Vân chết, Chử Đồng Tử là người con có hiếu không nở để cha trần truồng, lấy khố mặc cho cha rồi mới đem chôn.

– Cuộc sống quá nghèo chỉ một túp lều nhỏ ở ven sông, ngày ngày Chử Đồng Tử như con rái lặn hụp dưới nước bắt cá, đổi lấy gạo cho các thuyền qua lại sống qua ngày. Trên đời không ai nghèo như Chử Đồng Tử cái khố còn không có để mà mặc.

– Nói về Tiên Dung tuy sanh ra trong thế thời loạn lạc nhưng lòng kiên định vững vàng vô cùng. Trong triều đình thường tranh chấp xảy ra. Tiên Dung quá chán cảnh ấy nên sống trong giàu sang Tiên không lấy đó làm tự hào, lúc nào cũng hạ mình phong cách sống như dân thường cả triều đình ai cũng mến yêu.

– Tiên Dung không những đức hạnh nết na hơn người mà còn nhan sắc thời tuyệt trần ai nhìn thấy cũng phải đắm say. Có khối người dạm hỏi toàn là những con nhà danh giá, nhưng Tiên Dung vẫn làm lơ, không nghĩ gì đến chuyện trăm năm. Tuổi tuy đã lớn 19 xuân xanh nhưng không chịu lấy chồng, điều nầy làm cho Hùng Duệ Vương bực mình. Nhưng vì thương con nên chiều theo ý con. Tiên Dung chỉ thích cho người chèo thuyền đi xem sông núi. Vua Hùng chìu ý con cấp cho chiếc thuyền lớn cũng như đầy đủ tiện nghi có cung nữ theo hầu hạ, quân binh bảo hộ Tiên Dung cho người chèo thuyền đi hết nơi nầy đến nơi khác.

Dòng sông nước chảy lờ đờ

Thuyền đi lặng lẽ tháng ngày trên sông

Bốn bề phong cảnh đẹp xinh

Xa xa đồng ruộng lũy tre đàn cò

Lòng riêng ta lại với mình

Chu du sông nước bạn cùng nước non

Bao la trời đất mênh mông

Hòa cùng mây gió núi sông đất trời

Thả hồn chẳng vướng tục trần

Màng chi danh lợi chịu nhiều đắng cay

Chi bằng sông nước đó đây

Trăng soi khắp chốn chim bay đại ngàn

Dòng sông nước chảy lờ đờ

Thuyền đi lặng lẽ tháng ngày trên sông

Tiên Dung lòng say sưa chu du sông nước nay đây mai đó ngắm cảnh quên đời.

Trời mây nắng gió đưa đường

Thuyền đi nhè nhẹ trên dòng sông lô

Khúc sông tiền định nên duyên

Tiên Dung, Đồng Tử vang danh để đời

Một hôm Tiên Dung đi thuyền chơi trên sông Lô, thuyền của Tiên Dung đi giữa, còn trước sau là thuyền của binh lính và thuyền thị nữ. Khi đến khúc sông thuộc làng Chữ Xá tiếng mái chèo làm dậy cả mặt nước, thuyền trước thuyền sau khuấy động cả một vùng Chữ Đồng Tử trông thấy hoảng hồn, vội vứt dụng cụ bắt cá vào bụi. Còn mình thời chạy nhanh lên bãi cát, nhanh tay bới cát vùi lấp thân mình không cho ai nhìn thấy, tưởng thế là yên.

Nào ngờ duyên định tiền duyên

Đất trời vầy cuộc nên đôi vợ chồng

– Tiên Dung ngồi trên thuyền nhìn ngắm cảnh sông nước hai bên bờ bãi cát trông thật đáng yêu, nàng ra lệnh cho thuyền chậm lại, trước mặt nàng là bãi cát có nhiều cây xanh bóng cây tỏa mát. Một cơn gió thoảng qua cành lá đong đưa trông đẹp mắt vô cùng, cảm thấy lòng mình như muốn dừng chân nghỉ nơi đây, liền ra lệnh cho quân binh tấp ghe vào bãi cát.

– Tiên Dung từ trên thuyền bước xuống ngắm nghía một hồi chọn chỗ nghỉ chân, dưới một tàn cây xanh mướt, mắt nàng nhìn thấy nơi đây thật đáng yêu, liền ra lệnh cho thị nữ giăng màng tứ vi để tắm.

Trên bầu trời gió mây che mát

Dưới dòng sông sóng nước êm êm

Lòng Tiên Dung quả tim thôi thúc

Tắm gội mình, sạch bớt bụi dơ

Tòa thiên nhiên, vóc hình trắng nuốt

Tuy xác phàm, chẳng khác gì tiên

Nào hay duyên định tiền duyên

Mối tình thượng giới tái sinh chốn trần

Tiên Dung thỏa thích trong lòng

Xối lia xối lịa chừng nhìn hổi ôi.

– Nói về Chử Đồng Tử lấp mình trốn dưới cát, bị Tiên Dung xối nước tắm trôi cát ló mặt ra, không thể tránh được nữa liền ngồi dậy trần truồng như nhộng. Tiên Dung trông thấy giật mình, không la lên mà vô cùng trầm tỉnh, không gọi thị nữ mà còn ra lịnh cho thị nữ lùi ra xa.

– Tiên Dung hỏi chàng từ đâu tới sao lại chôn mình dưới cát. Chử Đồng Tử nói thưa công nương vì quá nghèo cái khố còn mua không nổi, nói chi quần áo. Thường ngâm mình dưới nước bắt cá đổi lấy bát cơm sống qua ngày. Thấy thuyền quân binh thời sợ nên phải vùi mình lấp cát để trốn ẩn. Nào hay đâu sự việc ra thế nầy.

– Tiên Dung nói Ta đã nguyện là không lấy chồng chu du sông nước qua ngày. Bầu bạn với đất trời mây gió, Phải chăng Tạo Hóa đã an bày, xui khiến Ta đến chốn nầy để rồi gặp chàng trong cảnh ngộ hôm nay tác hợp nên duyên chồng vợ.

– Chàng hãy tắm gội sạch sẽ để thiếp xem nào, Chử Đồng Tử tắm gội xong trở thành chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú. Tiên Dung nhìn thấy rung động quả tim như đã quen nhau từ bao đời. Tiên Dung lấy quần áo đưa cho mặc. Chử Đồng Tử trong nháy mắt đã lột xác trở thành một con người khác, chẳng khác gì Tiên Long ở trên trời.

– Tiên Dung đưa Chử Đồng Tử xuống thuyền, sai thị nữ chuẩn bị tiệc hoa, bái Thiên bái Địa nên duyên vợ chồng. Chử Đồng Tử nói nàng là Công Chúa đài các, còn Ta là chàng trai nghèo xác nghèo xơ. Hơn nữa hôn sự là do Cha Mẹ quyết định.

Tiên Dung nói em là dòng dõi Hùng Vương, cũng chính là con cái Nhà Trời con Rồng cháu Tiên. Tiên Đế Quốc Tổ thời dựng nước đâu cấm trai nghèo gái giàu không được yêu nhau. Cũng đâu có buộc con cái có chồng gả vợ theo ý Cha Mẹ, mà là tự nguyện đến với nhau. Cha Mẹ thuận theo duyên nợ mà tác hợp cho đôi lứa.

Thiếp với Chàng là do Trời xe duyên không thể làm trái ý Trời việc gì mà Chàng từ chối.

– Chử Đồng Tử nghe Tiên Dung phân tích có lý liền nghe theo. Từ hôm ấy hai người thành vợ thành chồng.

– Hùng Duệ Vương vô cùng tức giận, cho người lấy lại hết thuyền bè cũng như gọi hết binh lính cùng thị nữ người hầu trở về. Tiên Dung chỉ còn lại một mình đi theo Chữ Đồng Tử, chung sống với nhau tìm kế sinh nhai. Tiên Dung bán sạch những châu báu nàng có cùng Chữ Đồng Tử ra sức làm ăn. Tiên Dung lèo lái vượt qua bao cảnh khó khăn làm ăn mỗi ngày mỗi thịnh vượng, dần dần lập thành làng thành xóm, cũng như sắm được thuyền bè.

Chữ Đồng Tử là người rất thông minh nên mọi việc làm ăn thường trôi chảy. Một hôm có người khuyên bảo mở rộng làm ăn tiếp cận dân làm nghề biển, cũng như tìm kiếm những vật lạ đem về trao đổi những thứ khác. Vì thời đó cũng có nhiều thương gia làm giàu bằng con đường nầy. Tiên Dung nghe theo, để Chữ Đồng Tử ra đi bước vào hành trình thương gia.

Bao chuyến đi Chử Đồng Tử đem về bao lợi phẩm sự trao đổi mua bán càng thêm tấp nập, làng Xá Chữ từ đó giàu lên.

– Cho đến một hôm Chử Đồng Tử muốn làm ăn lớn bằng du thuyền ra miền Trung Hải, Trung Văn Lang đã bị quân Triệu chiếm đóng, nhưng sự giao thương giữa Trung Văn Lang, Nam Văn Lang vẫn thường qua lại nhất là trên địa phận về biển.

– Chử Đồng Tử đi qua một nơi phải nói là phong cảnh tuyệt đẹp, trên núi lại có một cái am nhỏ. Trong lòng như ai mách bảo con phải lên cái am kia. Chử Đồng Tử liền ghé thuyền leo lên sườn núi thời gặp một nhà sư, vì khi đó Phật Giáo đã ra đời trên hai trăm năm. Chử Đồng Tử nhìn nhà sư thần thái khác thường hình như trông có vẻ đắc đạo. Nhà Sư ấy tên là Phật Quang.

Nhà Sư đã biết trước Chữ Đồng Tử sẽ đến đây nên ra tiếp đón mời Chử Đồng Tử vào am. Chử Đồng Tử là người mộ đạo nên cầu pháp để nghe. Phật Quang thuyết giảng nói trần gian chỉ là nơi cõi tạm Thiên Đàng mới thật là chánh quê. Không ai có thể sống mãi nơi trần gian, dù cho đó là người giàu có nhất thiên hạ, cũng như quyền lực nhất trần gian, đều phải chết đi và bỏ lại tất cả. Linh Hồn ra đi với hai bàn tay trắng. Khổ nhọc một đời rốt lại chỉ là trống không. Chi bằng tu hành chứng quả trường sanh trở lại Thiên Đàng Cực Lạc. Chử Đồng Tử liền tỉnh ngộ bái sư.

Chử Đồng Tử không nghĩ đến việc du thuyền ra biển hành nghề thương buôn nữa, liền ở luôn đó. Nhà Sư liền truyền pháp thuật cho Chữ Đồng Tử. Chử Đồng Tử Tu Luyện được một năm thời Nhà Sư cho Chữ Đồng Tử xuống núi trao cho một cái Gậy và một cái Nón, nói đây là hai bảo bối khi cần thời dùng đến.

Nói về Tiên Dung, nhớ nhung Chử Đồng Tử sau chuyến nầy chàng đi lâu quá chưa về ngày đêm lo lắng trong lòng, ngồi trong nhà nhìn theo dòng sông nào thấy thuyền chàng trở lại.

Chàng ở nơi nào chàng ở đâu

Để em đơn lẻ, những u sầu

Mùa đông sắp đến, tim lạnh giá

Giọt mưa lộp độp, những đêm thâu

Hỡi chàng, chàng hỡi, bao thương nhớ

Tháng đợi năm chờ, mắt lõm sâu

Lòng em lo lắng, trông biết mấy

Trông bóng hình chàng nào thấy đâu

Qua rồi những giọt mưa ngâu

Bóng chàng biền biệt biết đâu mà tìm

Tiên Dung đang âu sầu, thời nghe dân làng vào báo là Chữ Đồng Tử đã trở về. Tiên Dung mừng rơi nước mắt chạy ra đón. Trên chiếc thuyền ngoài Chử Đồng Tử ra thời trống không chẳng có hàng hóa gì cả. Tiên Dung nào quan tâm đến có hàng hóa hay không chỉ cần Chử Đồng Tử bình yên trở về là được.

Tiên Dung hỏi Chàng đi đâu mà lâu thế. Chử Đồng Tử nói anh đã gặp được Sư Thầy truyền cho pháp thuật, nên anh ở nơi am cốc tu luyện nên không mua bán trao đổi hàng hóa gì cả, trở về với chiếc thuyền không. Tiên Dung nghe Chử Đồng Tử được Sư Thầy truyền cho pháp thuật bằng nói. Chàng đã học được những gì.

– Chử Đồng Tử liền đem phép mầu truyền cho Tiên Dung cũng như giảng đạo cho Tiên Dung nghe, Chử Đồng Tử nói chúng ta là người ở cõi thượng thiên sanh xuống chốn nhân gian. Chốn trần gian chỉ là cõi tạm Thiên Đàng mới thật chính quê. Chúng ta mau tu luyện trở về thiên giới. Tiên Dung vốn là người mộ đạo nghe Chử Đồng Tử truyền dạy chân lý liền tiếp thu được liền. Từ đó Tiên Dung vừa luyện pháp thuật vừa nghe Chử Đồng Tử thuyết giảng huệ tâm khai mở không bao lâu liền ngộ đạo, biết rõ Niên Đại Hùng Vương sắp kết thúc, Ý Trời đã thế nào ai chống lại được đâu.

– Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử đang luận bàn về chuyện tu hành thời có người đến báo là Hùng Vương sẽ đem quân đến bắt vợ chồng mình, chia cắt vợ chồng đưa Tiên Dung về cung. Chử Đồng Tử nói hai Ta giờ đã có pháp thuật thần thông quân triều đình cũng chẳng làm gì được. Nhưng nếu chống lại quân triều đình thời gây ra tội bất hiếu, thôi thời chúng ta bỏ đi ra khỏi địa phận Vua Cha cai quản. Chúng Ta sẽ chung sống nơi đó Tiên Dung nghe cũng phải liền bỏ xóm làng ra đi. Ra khỏi địa phận phạm vi Vua Cha cai quản, tìm một nơi thanh vắng để ở.

Hai vợ Chồng Chử Đồng Tử đi đến Nam Hải cách xa làng xóm không có người ở thời trời cũng vừa tối, hai vợ chồng chống gậy xuống đất, và lấy cái nón úp lên đầu gậy mục đích là che sương. Hai người tựa vào nhau mà ngủ.

Thương Nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội vạn đèo cũng qua

Gặp thời kiếp nạn phong ba

Phải đành bỏ xứ tìm nơi an lành

Đôi tim nhịp đập chung lòng

Miễn sao có vợ có chồng là vui

Tựa lưng nằm ngủ qua đêm

Đến khi thức dậy đổi thay cuộc đời

Lầu đài cung điện sáng ngời

Tiểu đồng, thị nữ cả thời quân binh

Phép mầu kỳ lạ vô biên

Gậy Thần chiếc Nón làm nên diệu kỳ

Nói về hai vợ chồng Chử Đồng Tử tựa lưng vào nhau mà ngủ, đến quá nửa đêm. Hai vợ chồng thức tỉnh, thời thấy mình ở trong một cung điện lộng lẫy, có đủ thứ gi.ường, sạp, màn tướng không thua gì cung điện nhà vua. Lại có cả Tiểu Đồng, Thị Nữ, và Binh Lính rộn rịp ngoài hành lang.

Sáng hôm sau hai vợ chồng ra ngoài cung điện để xem thời thấy có thành cao bao bọc, có Tướng Sĩ canh gác chẳng khác nào một tòa thành lớn. Từ đó Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử sống bên nhau vô cùng hạnh phúc. Có thể nói Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử đã dựng lên một triều đại mới còn hơn cả Hùng Duệ Vương. Tiếng đồn lan xa đến tai Hùng Duệ Vương.

Hùng Duệ Vương cho là làm phản liền sai quân đến đánh. Quân Văn Lang rầm rầm rộ rộ, khi kéo đến gần cung thành vợ chồng Chữ Đồng Tử ở thời trời cũng vừa tối lại nữa sông nước chảy xiết qua không được. Bằng đóng quân tại đó sáng sẽ qua. Đến nửa đêm trời nổi cơn dông sấm sét đầy trời cát bay đá chạy cây cối ngã đổ ầm ầm. Tòa lâu đài bỗng dưng biến mất chỉ còn lại bãi đất trống không, ở giữa đầm. Quân binh triều đình sáng ngày không nhìn thấy cung thành đâu nữa vô cùng kinh ngạc. Cho rằng vợ chồng Chử Đồng Tử đã dời đi nơi khác lấy làm kinh sợ. Nhưng quân Văn Lang nào có biết vợ chồng Chử Đồng Tử thâu lại bảo bối đồng bay về trời.

Nhân dân xa gần thấy điềm lạ cho rằng vợ chồng Chử Đồng Tử là tiên trời xuống thế, đã bay trở lại về trời lập miếu thờ to lớn ngay trên bãi đất trống.

– Đời sau con cháu Triệu Thuẫn là Triệu Việt Vương đóng quân ở Nam Hải thấy đầm đẹp liền cho quân ở đó, chống lại quân Tây Thục. Tiến đánh tướng lĩnh Tây Thục là Dương Lương. Nhưng chưa kịp đánh thời bị quân Tây Thục là Dương Lương vây đánh vô cùng nguy cấp. Triệu Việt Vương thiết đàn cầu Thần giúp. Bỗng thấy một vị Thần cưỡi Rồng hạ xuống đưa cho Triệu Việt Vương một cái móng vuốt Rồng và dặn: Ngươi cắm cái móng vuốt nầy lên chóp mũ, đi đến đâu thời quân Tây Lương tan đến đó.

Nói xong Vị Thần cưỡi Rồng bay lên trời, người cưỡi Rồng bay lên trời không ai khác hơn chính là Tiên Long ở trên Tiên Giới, cũng chính là Chử Đồng Tử khi còn ở chốn nhân gian.

Triệu Việt Vương nhờ có móng vuốt Rồng cắm lên chớp mũ, sức lực tăng lên bội phần, thanh thế mỗi ngày một lớn, mở rộng miền Nam Hải. Đánh bại tướng Dương Lương Tây Thục. Chém được nhiều tướng nữa, quân Dương Lương tan vỡ.

– Tây Thục Vương chính là Thục Phán mất cánh quân Dương Lương lâm vào thế yếu rút về Tây Nam Văn Lang

– Triệu Việt Vương thống nhất Trung Văn Lang. Trung Văn Lang từ đó về tay Triệu Việt Vương cũng chính là Triệu Đà, chỉ còn Nam Văn Lang. Hùng Duệ Vương cai quản Nam Văn Lang không được bao lâu, thời nhường cho An Dương Vương Thục Phán. Niên Đại Hùng Vương kết thúc 258 trước công nguyên.
 
92. ĐỨC VUA SA LA

Ngày xửa ngày xưa có một đất nước Sa La luôn bị các nước xâm lược, dẫn đến đói nghèo lạc hậu, khốn khổ triền miên.

Vua Sa La không biết làm cách nào chống trả quân xâm lược, cũng như giải thoát sự nghèo đói. Các quan cận thần liền tâu rằng tâu Quốc Vương Bệ Hạ, Quốc Vương Bệ Hạ nên lập đàn cầu nhân tài may ra mới cứu được đất nước chúng ta.

Vua Sa La liền làm theo bằng lập đàn cầu nhân tài, kể cả Thần, Thánh, tháng nào cũng cầu khẩn.

Cho đến một hôm từ trên không hạ xuống một người nói Ta là Đức Chúa. Vua Sa La mừng quá liền thỉnh mời vào cung điện tiếp đãi thật trọng hậu. Tiếp đãi xong rồi Đức Vua hỏi Đức Chúa có những tài gì. Đức Chúa nói Ta có thể chữa cho người câm biết nói, người mù sáng mắt, người điếc nghe lại, bệnh trong lục phủ, ngũ tạng ta đều chữa khỏi, với biệt tài trừ ma diệt quỉ, đằng vân giá vũ đi mây về gió thời ít ai sánh kịp Ta.

Vua Sa La nói Đức Chúa quả thật có nhiều phép lạ không ai có thể hơn được. Xin Đức Chúa chữa bệnh ngu căn bệnh chạy theo ngoại bang Quan, Quân, Dân của Trẫm để cho Quan, Quân, Dân của Trẫm hết ngu trở lại thông minh, tự đứng vững trên đôi chân truyền thống nước nhà, cùng nhau phát huy nội lực sẵn có của Dân Tộc mình, thời may ra đất nước mới bình yên được, cũng như đẩy lùi quân xâm lược, sánh vai với các nước láng giềng. Đức Chúa nghe xong rồi nói thưa Bệ Hạ. Sự yêu cầu của Bệ Hạ, Đức Chúa Tôi không đủ khả năng để chữa nổi căn bệnh ngu chạy theo ngoại bang xin xỏ nầy, xin xỏ kia, mất tánh tự chủ độc lập, đói nghèo là chuyện nhỏ, nô lệ mới là chuyện lớn căn bệnh ngu nầy khó chữa vô cùng may ra chỉ có Thiên Thần Vũ Trụ, chữa khỏi bệnh ngu nầy mà thôi. Đức Chúa nói xong bay lên không trung biến mất.

Vua Sa La nghe Đức Chúa giới thiệu chỉ có Thiên Thần Vũ Trụ mới chữa được căn bệnh ngu si, nhất là căn bệnh đánh mất lòng tự chủ độc lập chỉ biết hướng ngoại tôn thờ ngoại bang, thời lấy làm mừng ra sức cầu khẩn Thiên Thần Vũ Trụ, nhờ sự cầu khẩn kiên trì động đến Thiên Thần Vũ Trụ. Vua Sa La đang cầu khẩn thời có một người từ trên không đáp xuống nói Ta là Thiên Thần Vũ Trụ.

Vua Sa La lấy làm mừng lắm thỉnh mời Thiên Thần Vũ Trụ vào cung điện tiếp đãi đủ món ngon vật lạ thuộc hàng cao cấp hiếm quý, tiếp đãi xong Vua Sa La nói thưa Thiên Thần Vũ Trụ, Thiên Thần Vũ Trụ có những tài gì? Thiên Thần nói Ta có thể làm cho ban ngày trở thành ban đêm, như lấy tay che khuất mặt trời, dời non lấp biển, làm mưa làm gió, đi xuyên tường, ngồi trên lửa. Vua Sa La nghe Thiên Thần Vũ Trụ nói thế thời kinh hãi vái lạy rồi nói.

Thưa Thiên Thần Vũ Trụ: Quân, Dân, Thần Tướng, của Trẫm mắc chứng bệnh ngu, căn bệnh chạy theo ngoại bang làm cho đất nước không yên, chia bè rẽ phái đấu đá lẫn nhau, sanh ra nghèo đói, bọn ngoại xâm thấy thế coi thường, lấn lần đất đai xâm lấn biên cương. Xin Thiên Thần Vũ Trụ chữa căn bệnh ngu đã ăn sâu vào tủy não, Quân, Dân, Thần Tướng, của Trẫm. Trẫm vô cùng biết ơn.

Thiên Thần Vũ Trụ nghe xong rồi nói căn bệnh ngu nầy mới nghe thời không có gì, nhưng thật ra một thứ bệnh phải nói là vô cùng khó chữa. Thần có thể làm cho nhân loại khiếp sợ vì thần thông pháp thuật của Thần. Nhưng với căn bệnh ngu nầy thời Thần không thể nào chữa khỏi được có thể nói ngoài tầm tay. May ra chỉ có các vị Thiên Tiên mới chữa khỏi nói xong Thiên Thần Vũ Trụ biến mất.

Vua Sa La không nản chí tiếp tục khẩn cầu lên các vị Thiên Tiên, không bao lâu thời thấy một người từ trên không bay xuống nói Ta là Thiên Tiên trên trời thấy Đức Vua thành tâm cầu khẩn nên Ta mới đến đây. Vua Sa La nghe nói Thiên Tiên trên trời thời mừng lắm liền mời vào cung điện tiếp đãi long trọng, nào là đờn ca sáo thổi, nào là cung phi mỹ nữ hát múa, món ngon vật lạ đủ thứ, chẳng thiếu món chi. Tiếp đãi xong Vua Sa La nói Thiên Tiên có những tài gì? Thiên Tiên nói Ta có rất nhiều bảo bối. Vị Thiên Tiên lấy ra một bầu hồ lô nói bầu hồ lô nầy có thể hút sạch nước biển. Cũng có thể làm cho trái đất ngập chìm trong biển nước. Vị Thiên Tiên lấy ra một túi vải nói, với bảo bối đảy càn khôn nầy Ta có thể hút hết nhân loại, chim muôn, vạn thú vào túi mà cũng chưa đầy. Vị Thiên Tiên lại lấy ra một cái quạt nói đây là quạt càn khôn, chỉ cần quạt một cái là sạt núi, quạt hai cái là cây cỏ chẳng còn bị cuồng phong cuốn đi sạch bách, Vị Thiên Tiên liền lấy ra một gậy Thần rồi nói Ta chỉ cần động đầu gậy nầy xuống đất ba cái tức thời lầu đài cung điện hiện ra, có cả quân canh lính giác. Vua Sa La lấy làm kinh khiếp bằng nói, quả là Thiên Tiên có khác thần thông pháp thuật vô biên. Vua Sa La liền thưa rằng thưa Thiên Tiên. Thiên Tiên hãy làm cho Quan, Quân, Dân của Trẫm hết chứng bị ngu. Nhất là bệnh quên Cội quên Nguồn. Cha Ông thời bỏ, ngoại bang thời mơ thời tưởng chạy theo. Kẻ thời chạy theo nước nầy người thời chạy theo nước kia. Ngu đến nỗi chỉ biết tôn thờ ngoại bang mà quên mất Ông Cha có công dựng nước giữ nước Truyền Thống Anh Linh thời ngó lơ không nghĩ tới, chỉ lo chạy theo xu thế tôn thờ tà thuyết ngoại bang, làm cho đất nước tan hoang nghèo đói lạc hậu, thấy giặc ngoại xâm thời sợ cũng do chứng bệnh ngu mà ra, xin Thiên Tiên trị liệu giùm cho đất nước Sa La mang ơn mãi mãi.

Vị Thiên Tiên nghe xong rồi nói với chứng bệnh ngu nầy thời Thiên Tiên tôi đành phải bó tay không cách gì cứu chữa được. May ra chỉ có hàng Đại Thánh mới chữa khỏi được, nói xong vị Thiên Tiên biến mất.

Vua Sa La không nản chí tiếp tục lập đàn tế lễ khẩn cầu lên các vị Đại Thánh không bao lâu thời thấy một người từ trên trời hiện xuống nói Ta là Đà La Đại Thánh. Đức Vua Sa La nghe nói Đà La Đại Thánh thời lấy làm mừng rỡ liền mời Đa La Đại Thánh vào cung điện tiếp đãi tận tâm nào là món ngon vật lạ, nào là đàn sáo, ca múa tán dương Đại Thánh. Tiếp đãi xong Đức Vua Sa La liền nói Đà La Đại Thánh có tài gì? Đà La Đại Thánh nói Ta có thể làm cho muôn dân sống trong trật tự, làm cho quỉ, ma khiếp sợ, làm cho thiên hạ hướng về một mối lập nên đất nước như không, dân yếu Ta có thể làm cho dân mạnh. Đức Vua nghe xong lấy làm mừng cái tài của Đà La Đại Thánh không ai hơn được. Căn bệnh ngu của Quan, Quân, Dân Chúng có thể chữa được rồi thật là may mắn cho đất nước Sa La. Đà La Đại Thánh nghe đến bệnh ngu thời lắc đầu. Thứ bệnh nầy khó chữa lắm may ra Phật mới chữa được. Còn Đà La Đại Thánh Ta thời chịu thua nói xong thời biến mất.

Đức Vua Sa La bằng lập đàn cầu Phật, cầu ngày cầu đêm, đang cầu thời Đức Phật hiện ra nói Ta là Phật Hà Sa. Đức Vua Sa La lấy làm mừng lắm, liền thỉnh Đức Phật vào cung điện tiếp đãi vô cùng trọng hậu Đồ ăn thức uống đủ món chế biến cầu kỳ, trái cây đủ màu trăm loại, ngũ cốc quý hiếm trăm thứ, hoa tươi trăm bó thơm ngát. Tiếp đãi xong Đức Vua Sa La liền nói Đức Phật có những tài gì. Đức Phật nói tài gì Ta cũng có, biết quá khứ, hiện tại, vi lai, như ở trước mắt, thấy rõ tam thiên đại thiên thế giới như trong lòng bàn tay, tai nghe khắp vũ trụ, biết tất cả các thứ tiếng dù cho đó là tiếng của cầm, thú, bò sát, sâu bọ. Ta có thể chỉ cho con người đi đến giải thoát sanh tử đi đến trường sanh an vui tự tại. Đức Sa La nghe phật Hà Sa nói thế lấy làm mừng lắm. Bằng nói xin Đức Phật chữa trị bệnh ngu. Quan, Quân, Dân của Trẫm khai mở tâm trí huệ, tự mình đứng vững trên đôi chân của mình không còn chạy theo ngoại bang. Phát huy nội lực, tiến đến dân giàu nước mạnh, theo kịp các nước văn minh, không còn lệ thuộc ngoại bang, cũng như đánh đuổi ngoại xâm, giữ vững độc lập muôn năm trường tồn bất diệt, rạng danh dân tộc Sa La.

Đức Phật nghe xong rồi nói. Cái Tánh Ngu Si đã là khó chữa, huống chi nó đã ăn sâu nhiều đời nhiều kiếp Phật Ta đành chịu thua. Nhưng Ta có thể chỉ cho Vua một người, người ấy đã sanh xuống nhân gian chỉ là người nông dân bình thường. Chính là Đức Chí Tôn đầu thai làm theo Thiên Ý Cha Trời. Đức Vua hãy đến thôn Bất Tử, núi Cô Độc, Xã Minh Sáng mà cầu người ấy. Nói xong Đức Phật biến mất.

Nói về thôn Bất Tử, núi Cô Độc, Xã Minh Sáng có một người nông dân sống giản dị bình thường. Thiên Hạ mơ sống giàu sang, còn ông ấy thời sống nghèo nàn cũng được. Người ta thích đua đòi ăn mặc sung sướng, còn ông thời suốt ngày năm tháng với bộ quần áo rẻ tiền. Người ta thời thích những đặc sản cao lương mỹ vị nem rồng chả phụng. Còn ông ấy chỉ thích tương rau qua ngày. Vua Sa La tìm đến nhìn thấy rồi định bỏ đi vì sự giản dị của ông ấy. Nhưng không lẽ Phật lại chỉ sai bằng quay trở lại vào gặp người nông dân rồi hỏi, người có phải là Đức Chí Tôn đầu thai xuống chốn nhân gian không? Người nông dân không trả lời ngâm bài thơ nông dân.

Người, nón, cuốc, thường kết bộ ba

Thi nhau lo chuyện, nước non nhà

Đất rộng sông dài, ngang dọc bước

Mưa gào nắng gắt, vẫn xông pha

Đạp sóng trùng dương, dời biển cả

Chuyển cao lấp trũng, đất bằng ra

Nước có nước không, thường như ý

Vung tay rừng mọc phủ hà sa

Dưới bùn sen nở, nào ai biết

Ngu hèn tài trí, khéo nhìn ra

Kỳ nhân thế sự, thường là thế

Nông dân đâu thể, chẳng tài ba

Đức Vua Sa La nghe xong bài thơ liền quỳ xuống nói xin Đức Chí Tôn cứu nước Sa La.

Người nông dân liền mời Đức Vua đứng dậy rồi nói Đức Vua không nên quỳ như thế Tạo Hóa sinh ra đều bình đẳng, và cũng đã ban cho con người những Quyền về Quyền con người không ai khác ai, ai cũng như ai biết tôn trọng nhau là đúng luật. Đã là Đức Vua người nắm giữ Công Lý ban hành Công Lý không nên hạ mình như thế. Chân mệnh Thiên Tử chính là con Trời thừa hành di chí của Trời làm theo Thiên Ý của Trời cứu dân độ thế. Con người sinh ra ai cũng có phần hồn, phần xác. Phần thể xác dưỡng nuôi bằng vật chất, phần Linh Hồn thời dưỡng nuôi bằng Văn Hóa.

Một Dân Tộc dù giàu có cho mấy mà thiếu đi Văn Hóa Chính Nghĩa thời tai hại vô cùng. Không nói là dẫn đến ngu si. Một đất nước nghèo đến đâu mà có Văn Hóa Cội Nguồn Chính Nghĩa, thời đất nước ấy trở nên dân giàu nước mạnh, không có đất nước nào địch nổi.

Ta có bảy bộ kinh thơ chữa trị căn bệnh ngu đã ăn sâu trong linh hồn vô lượng kiếp. Nhà Vua đem về truyền dạy cho hàng Vương, Quan, Quân, Dân, cùng nhau ra sức tu học thời căn bệnh ngu si biến mất không còn, ai nấy cũng trở nên thông minh, trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Bất Chiến Tự Nhiên Thành, quân thù không cần đánh tự lui.

Việc truyền bá nầy không những trị hết căn bệnh ngu si Vương, Quan, Tướng Tá, Dân Chúng mà còn tiến tới dân giàu nước mạnh độc lập lâu dài. Nhờ truyền Thiên Ý Đức Vua thêm phước phần to lớn. Khi mãn kiếp trần trở về trời làm vua cõi trời cai quản Thiên Chúng an vui tự tại. Đức Vua Sa La bừng tỉnh ngộ không phải có thần thông quảng đại, phép tắc vô biên mà chữa được căn bệnh ngu si của nhân loại. Mà phải có Văn Hóa Cội Nguồn Văn Hóa Thiên Ý mới chữa khỏi căn bệnh ngu si mà thôi, trong ba căn bệnh Tham Lam, Sân Hận, Ngu Si, thời bệnh Ngu Si là anh cả hai căn bệnh kia. Căn Bệnh Ngu Si mà chữa khỏi, thời hai căn bệnh kia cũng tự biến mất.

Đức Vua trở về cung ra lệnh cho các Vương, Quan, Tướng Tá, truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn khắp cả nước. Dân Sa La đọc tới đâu thời bệnh ngu tiêu tan đến đó càng đọc càng sáng càng thông minh, tiến tới cảnh dân giàu nước mạnh trở thành dân tộc Thần Thánh vang lừng thế giới, quân thù không cần đánh tự lui. Thái bình thịnh trị độc lập âu ca.
 
93. CÔNG CHÚA TIÊN NGA

Ngày xửa ngày xưa có một ông Vua Ô Kê nhân từ hiền đức thương dân hết mực, nhìn Hoàng Hậu Ê Ly mang thai luôn mơ ước nếu sinh được con trai thời uy nghi như Thần Tiên giáng thế, nếu sinh là gái thời đẹp như Tiên Nga.

– Sự mơ ước ấy đã trở thành sự thật Hoàng Hậu Ê Ly sinh ra một vì Công Chúa xinh đẹp như ước mơ của Đức Vua. Vua Ô Kê đặt tên cho con là Tiên Nga. Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, không những xinh đẹp tuyệt trần lại còn thông minh khác thường văn hay chữ tốt, cầm, kỳ, thi, họa, không ai sánh bằng, công, dung, ngôn, hạnh, không ai sánh kịp. Tấm lòng thương người vang dội nước Ô Kê, Vua và Hoàng Hậu yêu quý Công Chúa Tiên Nga còn hơn cả mạng sống của mình.

– Sắc đẹp, tài, đức, vẹn toàn vang danh khắp chốn vang dội núi rừng đến tai Ác Lai phù thủy, mụ liền tìm đến cung vua hóa thành một người tướng số, vai mang xách châu báu, xin gặp Đức Vua Ô Kê và Hoàng Hậu Ê Ly. Đức Vua và Hoàng Hậu liền cho người mời vào hỏi chuyện quá khứ, hiện tại, vi lai. Mụ phù thủy Ác Lai trổ tài nói đâu trúng phóc đó Vua và Hoàng Hậu tin rấm rót, khen không hết lời.

Hoàng Hậu nói Ta có cô Công Chúa tuổi cập kê tương lai không biết ra làm sao, Ác Lai phù thủy nói chuyện đó thời quá dễ chỉ cần dẫn Công Chúa đến đây xem qua thời biết tương lai. Hoàng Hậu liền cho người mời Công Chúa đến.

Thầy tướng số Ác Lai phù thủy vừa nhìn thấy Công Chúa thời không khỏi giật mình người gì mà đẹp quá vậy quả là lời đồn không sai, bằng muốn cướp lấp xác thân Công Chúa Mụ Phù Thủy Ác Lai tính mưu tính kế bằng nói tôi đã xem rồi, những gì tôi nói ra Công Chúa không được nghe, vì Công Chúa nghe sẽ xảy ra nhiều tai họa. Vua và Hoàng Hậu cho Công Chúa lui, khi Công Chúa đi rồi thầy tướng số Ác Lai phù thủy nói Công Chúa không phải là người đâu trên đầu có yêu khí có thể là yêu tinh đầu thai nhờ thần thông biến hóa mới xinh đẹp như vậy.

Không tin Hoàng Hậu đeo chiếc vòng nầy vào tay Công Chúa, nếu Công Chúa không hiện lại nguyên hình, thời không phải là yêu tinh. Nói xong thầy tướng số Ác Lai phù thủy lấy ra một chiếc vòng ngọc xinh đẹp tỏa ánh sáng lung linh trao cho Hoàng Hậu. Với nụ cười bí hiểm nói. Nếu Công Chúa hiện nguyên hình là yêu tinh đừng làm hại Công Chúa mà làm cho Công Chúa một ngôi nhà trên rừng sâu nơi không có người đến để cho Công Chúa ở đó.

Một hôm Công Chúa đang ngồi vẽ tranh, thời Hoàng Hậu Ê Ly vào phòng nói với Tiên Nga con hãy đeo chiếc vòng nầy vào tay. Tiên Nga nói con xưa nay không thích đeo vòng tay. Hoàng Hậu càng sinh nghi không lẽ nó là yêu tinh thật nên sợ đeo vòng vào tay. Hoàng Hậu liền cầm tay con gái đeo chiếc vòng vào tay Tiên Nga. Tức thời Tiên Nga rú lên một tiếng hiện thành một cô gái xấu xí nhìn thấy là ghê tởm. Hoàng Hậu khiếp kinh hãi hùng ngất xỉu hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại nhìn cô gái xấu xí hỏi chiếc vòng trên tay của cô đâu. Cô gái xấu xí nhìn Hoàng Hậu khóc nức nở con không biết. Hoàng Hậu ra khỏi phòng Công Chúa nói với Đức Vua nhất định là yêu quái đầu thai rồi, Đức Vua cũng lấy làm kinh sợ, nhưng vì quá thương con nên không nở giết đi. Nhớ lại lời người xem tướng bằng đưa Công Chúa đến một nơi thật xa trên rừng làm nhà trên ấy cho Công Chúa ở.

– Công Chúa trước khi bị quân lính đưa đi nhìn Cha Mẹ nước mắt chảy ròng ròng. Đức Vua Hoàng Hậu bỏ đi. Công Chúa liền ngâm mấy dòng thơ.

Con biết nói sao, do bởi chiếc vòng

Biến con gớm ghiếc, đau lòng mẹ cha

Con nào có phải yêu tinh

Mà con của mẹ cưu mang sinh thành

Nay rời xa, cung vàng điện ngọc

Vào rừng sâu, đày đọa thân hình

Sống đời cô độc một mình

Heo mây gió núi gập ghềnh gian nan

Cầu cho cha mẹ bình an

Sống lâu hạnh phúc ngập tràn niềm vui

Đức Vua, Hoàng Hậu nghe Công Chúa đọc thơ lòng đau như cắt, tiếng quân binh xa lần mất hút, Đức Vua nhìn Hoàng Hậu chỉ biết thở dài.

Nói về Tiên Nga giờ đây chỉ còn lại một nơi núi rừng không một bóng người, ngồi trong ngôi nhà được quân binh dựng lên cách xa cung thành hàng mấy mươi dặm. Tiên Nga lủi thủi một mình trong cô quạnh sống cùng cây rừng gió núi, ngày nghe khỉ hú tối nghe cọp gầm. Lương thực ăn hết cạn lần cuối cùng rồi cũng hết.

Công Chúa vốn tay yếu chân mềm ngồi cô đơn một mình chờ trông có người đem lương thực đến, như chờ mãi chờ mãi mà không thấy bụng đói như cồn mà chẳng lấy gì ăn. Bỗng đâu đàn chim bay đến nơi những quả chín thả trước mặt Công Chúa. Công Chúa lượm lên ăn, ngày lại ngày qua đã hơn một tháng bỗng trước mặt Công Chúa một người hiện đến chính là mụ Ác Lai phù thủy. Công Chúa liền nhận ra nói té ra là ngươi. Mụ phù thủy Ác Lai nói ngươi quả có con mắt hơn người nên mới nhận ra Ta là thầy tướng số đã vào cung.

Công Chúa lặng thinh không nói gì. Mụ phù thủy Ác Lai nói với Tiên Nga, cũng tại ngươi quá xinh đẹp, đẹp đến nổi ai cũng muốn có được ngươi. Đẹp quá cũng là một cái họa. Nếu trong vòng ba năm không có người đến cứu, thời sắc đẹp của ngươi sẽ thuộc về Ta. Còn linh hồn ngươi sẽ bị ta nhốt vào lồng phép vĩnh viễn.

Người cứu được ngươi phải là chàng trai anh dũng vượt qua bao thử thách gian nan lại hết lòng yêu ngươi. Thời chiếc vòng kia sẽ nổ tung pháp thuật của ta bị lòng chân thật của chàng trai hóa giải Ta sẽ chết ngươi trở lại xinh đẹp như xưa. Nhưng điều nầy không bao giờ xảy ra không ai dại gì vượt qua bao gian nan thử thách để đến với người con gái xấu xí đến phát kinh, ngươi sẽ cô đơn sầu khổ những tháng ngày trong khu rừng nầy đến khi sắc đẹp của ngươi bị Ta chiếm lấy, nói xong thời mụ phù thủy biến mất. Công Chúa bây giờ đã rõ tất cả sự mưu mô Ác độc của mụ phù thủy.

Công Chúa thầm nguyện cầu Trời, cầu Mẹ Đất che chở cho qua tai kiếp, từ đó Tiên Nga Công Chúa lủi thủi một mình sống trong rừng sâu, làm bạn với đàn chim lạ.

– Lại nói về một vùng quê hẻo lánh có cặp vợ chồng Ông Bà Nhân chỉ sống bằng nghề đốn củi đổi lấy gạo ăn, nhưng vô cùng tốt bụng ai cũng mến thương. Sanh được một cậu con trai tên là Kiên Trung. Kiên Trung càng lớn càng khôi ngô tuấn tú khỏe mạnh hơn người, nhưng vì nhà quá nghèo khó mà kiếm được vợ.

Có một hôm Kiên Trung cùng Cha lên rừng đốn củi liền nghe tiếng kêu cứu Kiên Trung liền chạy tới thời thấy một con chim đang dính bẫy không thể nào thoát được, Kiên Trung nhìn xung quanh không có ai bằng hỏi con chim ngươi biết nói tiếng người. Con chim gật đầu, Kiên Trung liền giải cứu. gở cái bẫy cho con chim thoát ra. Nào hay con chim không bay đi nói với Kiên Trung rằng, ta không có gì để đền ơn, thôi thì ta kể một mẫu chuyện rất hay cho ân nhân nghe. Kiên Trung lấy làm kinh ngạc hỏi lại, con chim như ngươi mà cũng biết kể chuyện hay sao đúng là chuyện lạ trên đời. Thôi chim kể đi Ta sẽ ngồi lắng nghe.

Con chim kể rằng Vua Ô Kê có một người Công Chúa vô cùng xinh đẹp tên là Tiên Nga, vì quá đẹp nên mụ phù thủy Ác Lai muốn chiếm đoạt sắc đẹp ấy. Biến Công Chúa thành một người xấu xí ai nhìn thấy cũng ghê tởm Vua Ô Kê và Hoàng Hậu Ê Ly tưởng Công Chúa là yêu tinh đầu thai.

Bằng đày vào rừng sâu sống một mình đêm thời nghe tiếng cọp gầm, ngày thời nghe vượn hú, tháng ngày làm bạn với gió núi cây rừng, thật tội nghiệp cho Công Chúa Tiên Nga tháng ngày sống trong cô đơn, không một bóng người lai vãng, may nhờ đàn chim chu cấp trái cây nên Công Chúa mới sống được tới ngày hôm nay.

Công Chúa nghĩ mình quá xấu xí dù cho ra khỏi khu rừng xuống đồng bằng thời ai ai cũng xa lánh, nói gì đến có chồng ai mà ưng. Thôi thì ở mãi trong rừng sâu cho đến ngày ra đi từ giả cõi trần, Công Chúa ở trong khu rừng đến nay gần được ba năm rồi theo lời nguyền của mụ phù thủy nếu trong vòng ba năm không có người đến cứu thời coi như Công Chúa không còn trên đời vì thân xác Công Chúa trở thành thân xác của Mụ Phù Thuỷ Ác Lai. Lại nữa đàn chim sẽ không đến vì sắp đi xa tìm nguồn thức ăn, Công Chúa tay yếu chân mền làm sao kiếm được thức ăn. Không may bị cọp sói xơi mất, thật là tội nghiệp.

Kiên Trung càng nghe càng ứa nước mắt, liền hỏi con chim Công Chúa hiện giờ ở đâu. Con chim nói từ đây đến đó rất xa, đường đi toàn là rừng núi. Kiên Trung cương quyết nói tôi quyết đi tìm Công Chúa. Con Chim nghe Kiên Trung nói thế liền chỉ đường cho Kiên Trung.

Kiên Trung trở về nhà kể lại câu chuyện Công Chúa lâm nạn rồi nói, Thưa Cha Mẹ gia đình mình nghèo làm gì có tiền cưới vợ, chi bằng con đi vào rừng sâu dẫn Công Chúa về đây chung sống với gia đình mình. Theo con nghĩ xấu tốt cũng là con người, biết bao nhiêu người xinh đẹp nhưng lòng lại rất xấu.

Cha Mẹ Kiên Trung nghe con nói thế thời lấy làm xót xa vì nhà quá nghèo khó mà cưới được vợ cho nó. Nên nó đành phải đi tìm người con gái xấu xí kia.

Kiên Trung khăn gói lên đường đi được một ngày thời gặp một người đi ngược chiều từ xa đi đến hỏi ra mới biết người ấy tên Lúa, Đức Trung hỏi ông bạn có biết khu rừng âm u không? Người ấy nói tôi từ khu rừng ấy trở về thật ra chẳng có gì như người ta đồn chỉ có một người con gái phải nói là quá xấu, xấu còn hơn quỉ dạ xoa tôi thà lấy ma còn hơn lấy người con gái ấy. Người tên Lúa nói về đi ông bạn không đem lại kết quả gì đâu.

Kiên Trung nói cảm ơn ông bạn đã cho tôi biết thêm những gì tôi cần biết. Kiên Trung không trở về mà còn đi tiếp, đi một đổi đường khá xa liền gặp một người thanh niên đang ngồi nghĩ hỏi ra mới biết người thanh niên ấy tên Ngô. Kiên Trung liền hỏi thưa anh Ngô khu rừng âm u còn xa không? Người thanh niên tên Ngô nói còn rất xa tôi từ chỗ ấy đến đây thật không sao tưởng tượng được tôi đã mất công tìm đến khu rừng âm u nghe nói người con gái ấy rất xấu tôi tưởng rằng có thể ưng được nào hay đâu vừa nhìn thấy tôi đã bỏ đi không nhìn lại, nói xong người ấy bỏ đi.

Kiên Trung nhìn theo có chiều suy nghĩ. Nhưng nhớ lại câu chuyện con chim kể thời vô cùng xúc động liền tiếp tục lên đường tìm đến khu rừng âm u. Đi được một đổi khá xa thời thấy một người đi ngược chiều từ xa đi tới, hỏi ra mới biết người thanh niên ấy tên Khoai. Kiên Trung hỏi thưa anh Khoai khu rừng âm u còn xa không? người ấy nói không còn xa nữa đâu đi hơn nữa ngày nữa là tới. Tôi đã đến nơi ấy rồi vừa nhìn thấy cô ta là tôi chạy té khói. Xấu ơi là xấu làm sao mà lấy làm vợ được, trông chẳng khác nào quỉ sứ yêu tinh, người ấy nói xong thời bỏ đi.

Kiên Trung gặp ba người, người nào người nấy đều khuyên mình trở lại phí sức bỏ công vô ích cho chuyện không đâu đôi khi còn mất mạng, đôi lúc Kiên Trung muốn bỏ cuộc. Nhưng nhớ đến lời con chim kể Kiên Trung quyết lòng không bỏ cuộc chịu đói chịu khác vượt qua không biết bao nhiêu là đồi rừng may thay trước mặt nhìn thấy một cái quán nhỏ bên đường bằng ghé vào nghỉ mệt.

Tiền đâu mà ăn mà uống chỉ lấy nắm xôi cất trong mình ra ăn cho đỡ đói. Vô tình nghe người ta bàn tán người bận áo đen nói thật tội nghiệp cho ba chàng trai tìm chưa thấy Công Chúa xấu xí thời bị cọp xơi mất một mạng. Hai chàng trai còn lại chạy té khói quên sống quên chết thế mà quỷ chẳng tha, ma lại bắt vẹn cổ chết thê chết thảm bỏ xác nơi rừng hoang, cha mẹ ở nhà chờ trông không thấy con trở về buồn rầu thương nhớ lắm. Công Chúa chỉ là cái hư danh vì Vua Ô Kê đã bỏ cô từ lâu, đâu còn là Công Chúa nữa, thật ra mà nói người con gái kia giờ đây chỉ là một người con gái xấu xí gần ba năm ăn đói ăn khác nghèo xơ nghèo xác chẳng có một đồng trong túi ngon lành gì mà ba chàng trai kia đánh đổi sanh mạng ngu ơi là ngu, ngu hết chỗ nói.

Chết bỏ mạng không đáng cha mẹ ở nhà trông đợi đau xót biết bao. Kiên Trung nghe những lời ấy không khỏi thối chí muốn quay trở về. Nhưng nghĩ đến lời kể của con chim Công Chúa sẽ chết lần chết mòn trong rừng nếu không có người đến cứu. Thân là Công Chúa mà phải chịu nhiều đau thương như vậy. Kiên Trung như hồi sanh nghị lực quyết cứu Công Chúa cho bằng được vụt đứng lên nhắm hướng rừng âm u đi tới, hoàng hôn buông xuống mặt trời sắp lặn, bóng ma quỉ chập chờn thấy mà phát khiếp Kiên Trung là người can đảm nhưng cũng phải nổi da gà.

Bóng đêm bao trùm tiếng hổ gầm rung chuyển, tiếng thở phì phèo của loài rắn dữ. Kiên Trung trèo lên cây một đêm không ngủ th.ân thể vô cùng mệt mỏi. Mặt trời đã lên cao Kiên Trung tiếp tục lên đường bỗng nghe tiếng la ré kêu cứu Kiên Trung liền chạy đến nhìn thấy một con rắn rượt theo một người con gái Kiên Trung liền dùng gậy đập chết.

Cô gái với làng da trắng nuốt trông thật là xinh đẹp ôm mặt khóc, kể rằng tôi là con Phú Hộ đang đi chơi bị cơn lốc cuốn bay đến đây tôi đang tìm đường trở về nhà thời bị con rắn nầy rượt theo để nuốt. May nhờ chàng cứu mạng thiếp mới còn. Thiếp đã nguyện ai cứu thiếp, thiếp sẽ ưng người đó, cha Thiếp giàu có chỉ có một mình Thiếp là con một. Kiên Trung nghĩ được làm chồng cô gái nầy thời còn gì bằng chuột sa hủ nếp một sức mà hưởng thụ. Cô gái tưởng Kiên Trung sẽ lấy mình làm vợ bằng chạy tới nắm lấy tay hai ta đi thôi. Kiên Trung hỏi đi đâu người con gái nói đi về nhà Thiếp chớ còn đi đâu nữa. Kiên Trung nhìn cô gái xinh đẹp thời nghĩ rằng khối chàng trai quỳ lạy dưới chân, còn người con gái xấu xí kia thời không ai nhìn ngó tới, làm gì có sự may mắn như người con gái xinh đẹp nầy.

Bằng nói Cô đi về nhà đi để cha mẹ Cô trông đợi. Người con gái xinh đẹp bực mình nói xinh đẹp như ta mà không ưng lại đi tìm người con gái xấu xí quả là tâm thần nói xong người con gái xinh đẹp bỏ đi. Kiên Trung vô cùng kinh ngạc không hiểu vì sao cô gái ấy biết mình đi tìm người con gái xấu xí. Kiên Trung một mình lủi thủi nhắm hướng rừng xanh âm u đi đến, trên đường đi Kiên Trung phớt lờ tất cả tai như không nghe, mắt như không thấy, ý chuyên nhất là tìm gặp người con gái xấu xí. Bỗng trời nổi cơn dông sấm sét ầm ầm mây đen cuồn cuộn, mưa như trút Kiên Trung ước như con chuột lột tả tơi như đàn chim gãy cánh. Nhưng chân vẫn cứ bước sức mạnh tình thương đã hóa giải bao phép thuật của mụ phù thủy.

Kiên Trung nhìn thấy căn nhà cũ kĩ một người con gái tựa cửa, như chờ đợi một bóng hình xa xa. Và Công Chúa Tiên Nga đã nhìn thấy một chàng trai từ xa đi tới, tim Công Chúa rộn lên, như cây khô lâu ngày đâm chồi ra lá. Công Chúa liền chạy ra đón chàng trai như đón người thân từ xa đến. Nhưng Công Chúa liền khựng lại vô cùng xấu hổ. Công Chúa cúi mặt xuống đất, định quay trở lại vào nhà. Bỗng Công Chúa nghe tiếng nói ngọt ngào từ chàng trai xa lạ. Công Chúa đừng vội trở vào nhà. Tôi vượt đường xa đến đây không phải là đến để xem mặt Công Chúa. Mà là đến đây để cầu hôn, tôi không chê sự xấu xí, càng xấu xí tôi lại càng yêu thương. Công Chúa nghe chàng trai nói thế nước mắt ràn rụa. Chàng Trai không quan tâm đến khuôn mặt xấu xí của Công Chúa liền bước tới lau nước mắt cho Công Chúa, nắm lấy tay Công Chúa, thấy tay Công Chúa mềm mại vô cùng bàn tay tuyệt đẹp, da trắng mịn như trứng gà bóc, da Công Chúa trắng như tuyết, thân hình mảnh mai đẹp lạ lùng, cầm lòng không được chàng trai hôn lên bộ mặt xấu xí. Tức thời một tiếng nổ vang lên, Công Chúa hiện lại nguyên hình. Chiếc vòng gảy ra từng khúc, mụ phù thủy hiện ra gào thét, cuối cùng trào máu họng ngã lăn ra chết tươi. Bầy chim sa xuống mổ vào mắt mụ phù thủy, rồi bay đi mất dạng. Cọp, sói kéo đến chúng tranh nhau xé xác Mụ Phù Thủy nuốt sạch vào bụng không còn cái xương.

Chàng trai chính là Kiên Trung, quá bất ngờ trước sự việc xảy ra nhìn sửng Công Chúa Tiên Nga. Miệng lẩm bẩm ta đang nằm mơ đây chăng. Công Chúa Tiên Nga mỉm cười nói không nằm mơ đâu hai ta đang nắm lấy tay nhau đây mà. Thế là hai người trở thành vợ chồng chung sống với nhau trong túp lều cũ kĩ.

Công Chúa ở nhà, còn Kiên Trung thời đi săn bắn hái lượm hai người chung sống với nhau thật là hạnh phúc, được ba tháng Kiên Trung nhớ đến cha mẹ ở nhà, liền nói với Tiên Nga anh đưa em về quê anh để sống Tiên Nga nói chàng đâu thời thiếp đó cuộc đời em gian khổ đã quen.

Hai người chửng bị lên đường thời nghe tiếng quân binh rầm rộ kéo đến. Đức Vua Ô Kê cùng Hoàng Hậu Ê Ly nhìn thấy Tiên Nga vẫn còn sống xinh đẹp như xưa thời mừng lắm. Chạy tới nói Cha, Mẹ đã hiểu lầm về con tất cả là tại cái vòng, Cha đã thông suốt mẫu Hậu cũng vậy, hãy tha thứ cho Cha và Mẹ.

Công Chúa bật khóc nói con biết Phụ Vương và Mẫu Hậu hiểu lầm, là do tên mụ phù thủy giả làm thầy tướng số kia. Mụ đã bị Trời xử tử. Công Chúa kể lại tất cả những âm mưu của mụ phù thủy cũng như cái chết của mụ cọp sói xé xác đàn chim mổ mắt.

– Công Chúa Tiên Nga nắm lấy tay Kiên Trung đến trước mặt Cha và Mẹ nói người nầy đã cứu con thoát khỏi bàn tay của mụ phù thủy.

– Đức Vua Ô Kê cùng Hoàng Hậu Ê Ly nhìn thấy Kiên Trung tướng mạo khôi ngô tuấn tú thời lấy làm vừa lòng. Đức Vua Ô Kê đưa vợ chồng Kiên Trung về cung được mấy hôm thời phong làm Phò Mã, chính thức làm con rễ Vua Ô Kê.

– Nói về Ông Bà Nhân Cha Mẹ Kiên Trung vô cùng lo lắng Kiên Trung ra đi đến nay gần hai năm mà chưa thấy trở về không biết chuyện gì đã xảy ra, ngày đêm cầu khẩn đất trời phù hộ cho Kiên Trung.

– Cho đến một hôm Ông Bà Nhân Cha, Mẹ Kiên Trung thấy nhiều binh lính cũng như xe kiệu vô cùng sang trọng, chạy thẳng vào nhà mình thời khiếp hãi không biết chuyện gì xảy ra.

– Binh lính xe kiệu đã vào đến sân, từ trên chiếc kiệu bước xuống một người con gái vô cùng xinh đẹp như Tiên Nga giáng trần tay bồng em bé. Người con gái xinh đẹp trao em bé cho thị nữ, rồi quỳ lạy nói con là con dâu của Cha, Mẹ, vợ của anh Kiên Trung, con đến trễ để cho Cha, Mẹ khổ. Ông Bà Nhân Cha Mẹ Kiên Trung nói tiểu thơ đã nhầm nhà rồi. Con tôi tên là Kiên Trung làm gì có người vợ xinh đẹp như vậy. Như nhớ lại chuyện xưa ồ lên một tiếng thì ra đây là Công Chúa Tiên Nga. Công Chúa nói chính là con. Ông Bà Nhân Cha Mẹ Kiên Trung nhìn đứa bé nói nó giống Kiên Trung quá liền hỏi, Kiên Trung đâu sao không đi với con để con đi một mình. Công Chúa Tiên Nga nói thưa Cha, Mẹ, anh Kiên Trung hiện giờ đang ở biên cương thống lãnh quân binh dẹp loạn, con thay mặt chồng con đến đây đón rước Cha, Mẹ về cung.

– Xóm làng hay tin kéo đến rất đông chật trong chật ngoài Công Chúa đem vàng bạc phân phát cho dân ai nấy cũng vui mừng nhất là trằm trồ mãi sự xinh đẹp của Công Chúa. Ông Bà Nhân lên xe phất tay chào bà con lối xóm theo Công Chúa trở về cung, dân làng nhìn theo cho đến khi mất hút có người nói ăn ở có đức không sức mà hưởng.
 

94. ĐỈNH CAO CỦA SỰ TU HÀNH

Vào thuở xa xưa có một người giàu có đến nổi có cả kho vàng, ông chủ giàu có ấy tên là Thể Công. Thể Công có người đầy tớ tên là Hạnh Ngộ hết mực trung thành tài giỏi hơn người làm đủ trăm công nghìn việc gian khổ nhọc nhằn, nhưng không hề than vãn. Ông Chủ Thể Công có một thói quen là thích nghe giáo lý nên ông thường đến nơi đền chùa để nghe kinh.

- Cho đến một hôm ông chủ Thể Công rước một vị Tôn Sư về giảng pháp, cho tôi tớ cũng như người nhà nghe, vị Tôn sư thuyết giảng rất hay nhất là giảng về sự tu tập đỉnh cao chỉ cần tu pháp bố thí, pháp thí, ở cảnh giới đỉnh cao Thời thành tựu năm pháp đỉnh cao kia một là ít Hành Ác, hai là thường Nhẫn Nhịn, ba là luôn Cố Gắng, bốn là tâm An Định, năm là phát sanh Trí Tuệ. Nói chung là sáu pháp đỉnh cao tu hành. Chỉ cần tu pháp Bố Thí, Pháp Thí thời năm pháp kia cũng thành tựu theo.

- Vị Tôn Sư giảng rằng trong các công hạnh tu hành làm lành bố thí là đứng hàng đầu. Bố thí gì cũng được miễn là những gì mình có đem cho người ta. Như bố thí tiền của, vàng, bạc, châu báu, đồ ăn, thức uống, vật dụng thường ngày, chỉ bày nghề nghiệp, nói chung là những thứ nhu cầu trong cuộc sống. Gieo trồng nhân hạnh bố thí không những để đức lại cho con cháu, còn bản thân không sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Tái kiếp sanh ra nơi đâu cũng được giàu có, sống trong nhung lụa giàu sang.

Có người còn giàu hơn cả nhà vua. Một kiếp tu nhân hạnh bố thí muôn kiếp tới sống trong sung sướng giàu sang. Một đồng cho đi thời còn, trăm đồng tiêu xài coi như là mất. Giúp đỡ cho người tăng thêm phúc đức, ăn xài phung phí phước đức giảm hao. Phước đức dù to lớn đến đâu tiêu xài mãi cũng hết. Như người nông dân gặt lúa vào, không chịu gieo ra thời lấy đâu ra lúa mà gặt. Đành phải vay mượn để mà sống, vay thời phải trả, nên nghèo khổ hết kiếp nầy đến kiếp khác. Người tu hành như người trồng lúa gặt sự may mắn phước đức vào, thời phải bố thí làm lành gieo ra, để tiếp tục ở tương lai gặt hái những phúc lành.

- Tôn Sư nói đó là nói về bố thí vật chất, còn pháp thí như in ấn kinh thơ, giảng kinh cho người khác nghe. Nhất là truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời một câu kinh pháp còn hơn đem cả kho vàng bố thí.

Vì sao lại nói như thế bố thí vật chất là để dưỡng nuôi xác thân, không thể dưỡng nuôi được huệ mạng Linh Hồn. Huệ Mạng Linh Hồn chính là căn thân Huệ Mạng Ý Thức Nhận Thức nói chung là căn thân Huệ Mạng hiểu biết của Linh Hồn. Linh Hồn nhờ nghe kinh giáo dẫn đến sự giác ngộ nhận thức được lời dạy của Cha Trời, căn thân Huệ Mạng trở nên sáng suốt tức là phát Huệ, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nên có câu vật chất dưỡng nuôi thể xác, đạo lý dưỡng nuôi Linh Hồn. Linh Hồn mới thật là của mình, còn thể xác không thuộc về mình chỉ là vay mượn tạm thời mà thôi. Dưỡng nuôi thể xác cũng quý, nhưng sao bằng dưỡng nuôi Linh Hồn. Khi mãn kiếp trần dù giàu cho mấy cũng không mang theo được, quyền lực cho mấy khi Linh Hồn rời khỏi thể xác thời mất hết không còn. Chỉ có nghiệp dữ, nghiệp lành, cũng như Văn Kinh lời dạy của Trời là mang theo mà thôi. Thứ Văn Kinh Văn Hóa Cam Lộ quý hiếm hơn châu báu ngọc ngà. Nên mới nói truyền một câu kinh pháp cho đời còn hơn đem cả kho vàng bố thí.

Nói về Hạnh Ngộ từ lâu ra sức làm ăn tích góp không những được nhiều tiền bạc gia đình cũng khấm khá, lại học thuộc được nhiều kinh giáo. Nhất là Văn Kinh Văn Hóa Cội Nguồn thứ kinh văn còn quý hơn ngọc ngà châu báu chỉ cần đem ra bố thí Pháp gieo trồng Thiên Ý thời phước báo không thể nghĩ bàn. Bằng xin nghỉ việc về bàn với vợ, nhà mình không đến đổi nghèo tuy không giàu bằng ông chủ, nhưng lại có cả kho báu Văn Kinh. Nếu biết kinh doanh gieo trồng Thiên Ý bố thí pháp. Không những trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, mà còn làm Vua làm Chúa trên các cõi trời.

Vợ Hạnh Ngộ như không tin nói bố thí pháp làm gì mà trở thành Vua Chúa trên các cõi trời được. Hạnh Ngộ nói bố thí pháp là sự bố thí tu hành cao nhất khai sáng trí huệ tận độ nhân loại về trời. Theo Luật Nhân Quả mình cứu họ độ họ về trời, họ sẽ đến với mình, theo Luật Nhân Duyên họ được siêu sanh về thiên đàng cực lạc. Người nào độ họ lên thiên đàng thời họ theo người ấy. Vì vậy người bố thí pháp nhất định trở thành Vua trời, Chúa trời, cai quản cõi nước trời, vĩnh hằng an vui hạnh phúc.

Vợ Hạnh Ngộ nghe chồng nói thế liền giác ngộ cùng chồng in ấn kinh thơ, truyền bá kinh thơ không biết mệt mỏi, không bao lâu nổi tiếng khắp miền vùng.

- Nói về Ông Chủ Thể Công vì thấm nhuần đạo lý biết rõ trần gian chỉ là cõi tạm bằng đem kho báu lần lượt bố thí giúp đời để kiếp sau được sung sướng ví như người nông dân gặt thu hoạch lúa vào. Muốn có lúa gặt nữa thời gieo trở ra. Ông Chủ Thể Công biết rõ mình gặp nhiều may mắn hơn họ là nhờ kiếp trước gieo trồng cội phúc, nên kiếp nầy mới gặt hái phước đức lớn như vậy giàu có vô cùng vàng bạc đầy kho.

Ông Chủ Thể Công bằng để lại một ít đủ sanh sống thong thả tới già, còn lại bao nhiêu đêm ra bố thí gieo trồng công đức trở lại. Cho đến một hôm Ông Chủ Thể Công lâm bệnh lên cơn sốt thiếp đi hai ba ngày. Ông thấy mình sống trong cung vàng điện ngọc, giàu sang không khác gì Vua, Chúa, người ăn kẻ ở đông đến hàng vạn Ông lấy đó làm thỏa mãn. Một hôm có một vị Thần đến nói sự giàu sang của Ông là nhờ kiếp trước Ông gieo trồng bố thí. Chỉ là sự giàu sang nơi cõi trần giả tạm, những kẻ ăn người ở của Ông là những người mang nợ Ông từ kiếp trước khi họ trả xong thời họ bỏ Ông mà ra đi. Khi Ông mãn kiếp trần thời Ông chẳng còn gì cả Linh Hồn ra đi với hai bàn tay trắng. Tôi có quen biết một người nay đã là Vua cõi trời, dân chúng chư thiên đông vô số đếm không xể, người nào người nấy còn hơn Vua Chúa trần gian.

- Ông Chủ Thể Công nói Thần có thể dẫn tôi đến cõi nước đó được không? Vị Thần gật đầu dẫn Ông Chủ Thể Công bay lên thiên giới. Ông choáng ngợp trước mắt Ông là cõi nước trời đất đai bằng châu báu, Vàng, Bạc, Trân Châu, Kim Cương, Pha Lê, xà cừ, mã não, lâu đài cung điện nguy nga, tráng lệ, kiến trúc cổ kính cầu kỳ, hoa văn tuyệt tác sống động như hình thật, vật liệu xây dựng toàn bằng bảy báu hào quang tỏa sáng trăm sắc nghìn màu, kỳ quan bảo tháp xa gần khắp cùng cao chọc trời xinh đẹp lạ lùng, trần gian không bao giờ có, đường sá cũng toàn bằng châu báu. Cây báu trồng khắp nơi nhất là hai bên đường. Ao sen báu xa gần nhiều vô số đủ loại chim ca hát vui tai. Hoa sen báu to như bánh xe đẹp lạ đẹp lùng, hương thơm ngào ngạt. Cây báu khắp nơi quả vàng, trái bạc, thân lá kim cương, hào quang tỏa sáng lung linh. Ông Chủ Thể Công càng xem càng choáng ngợp cho sự giàu sang ở cõi nước trời. Thiên Chúng người nào người nấy cũng an vui tự tại muốn gì được nấy, con hơn Vua, Chúa ở trần gian. Ông Chủ Thể Công hỏi vị Vua trời ấy là ai? Vị Thần nói vị vua trời ấy không ai khác hơn chính là Hạnh Ngộ xưa kia là đầy tớ của Ông Chủ. Ông Chủ Thể Công nghe vị Thần nói thế vô cùng kinh ngạc Hạnh Ngộ tu hạnh gì mà được như thế. Vị Thần ấy nói Hạnh Ngộ thường in kinh bố thí, lại thường hay giảng kinh cho người khác nghe, nên mới được Phước báo như vậy.

- Ông Chủ Thể Công liền nhớ lại vị Tôn Sư nói, giảng truyền một câu kinh Văn Hóa Cội Nguồn, phước đức lớn hơn bố thí cả kho vàng. Ông chợt hiểu ra truyền bá kinh thơ mới là số một, đứng đầu trong con đường tu hành gieo trồng cội phúc. Ông Chủ Thể Công định hỏi nữa thời vị Thần biến đi đâu mất. Ông giật mình tỉnh giấc thời thấy người nhà đứng xung quanh mình rất đông. Người nhà thấy Ông tỉnh dậy vui mừng khôn xiết nói Ông Chủ ngủ mê ba ngày ba đêm rồi.

- Ông ngồi dậy thấy trong mình khỏe mạnh, không còn bị ốm như mấy ngày trước đây. Ông Chủ Thể Công liền cho người mời Tôn Sư đến. Ông kể lại câu chuyện cho Tôn Sư nghe. Vị Tôn Sư ấy nói đó là cảnh giới tương lai của Ông. Khi Ông qua đời tái sanh kiếp khác thời đúng như những gì Ông đã thấy. Tôn Sư nói bố thí vật chất, không bằng bố thí pháp. Truyền một câu kinh giáo trong Văn Hóa Cội Nguồn, phước đức lớn hơn bố thí cả một kho vàng. Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Thiên Ý Cha Trời. Văn Hóa tối cao vũ trụ. Chỉ cần nghe thoáng qua lỗ tai cũng đặng phước báo vô cùng, huống chi là truyền giảng cho người nghe, thời phước đức hà sa không thể nghĩ bàn. Bố thí Pháp là bố thí Vô Vi, bố thí vật chất là bố thí hữu vi. Bố thí hữu vi vật chất chỉ nuôi thể xác con người. Còn bố thí Vô Vi là truyền bá kinh thơ cho người tận độ Linh Hồn nhân loại. Nên bố thí Vô Vi cao hơn bố thí hữu vi.

Bố thí Vô Vi truyền Kinh Giáo tận độ Linh Hồn nhân loại thường tái kiếp làm Vua, làm Chúa, không làm Vua làm Chúa trên trời cũng làm Vua làm Chúa chốn nhân gian. Những người truyền kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời thường là làm Vua làm Chúa trên các tầng trời cõi trời.

Nói tóm lại:

Chỉ cần tu pháp bố thí, pháp thí, ở cảnh giới đỉnh cao Thời thành tựu năm pháp đỉnh cao kia một là ít Hành Ác, hai là thường Nhẫn Nhịn, ba là luôn Cố Gắng, bốn là tâm An Định, năm là phát sanh Trí Tuệ. Nói chung là sáu pháp đỉnh cao tu hành. Chỉ cần tu pháp Bố Thí, Pháp Thí thời năm pháp kia cũng thành tựu theo.

Đã bố thí vật chất lại biết truyền kinh, thơ Văn Hóa Cội Nguồn, thời phước đức không thể nghĩ bàn. Ông Chủ Thể Công liền giác ngộ vừa bố thí Vật Chất hữu vi, vừa Bố Thí Pháp Văn Hóa Cội Nguồn Chân Lý Vô Vi, sau khi mãn kiếp trần trở thành Chuyển Luân Vương cai quản vô số cõi nước trời an vui tự tại.
 

95. SỰ TRUYỀN NGÔI TRÊN THƯỢNG GIỚI

Ngày xửa ngày xưa, ở trên tầng trời thứ ba Dạ Ma Thiên, có vô lượng cõi nước trời, trong đó có cõi nước Cao Thiên. Chư Thiên rất đông cõi nước giàu sang đất nước toàn bằng bảy báu. Vàng, bạc, kim cương, trân châu, pha lê, hổ phách, xà cừ. Cung vàng điện ngọc khắp chốn, kỳ quan, bảo tháp khắp nơi, đường sá dọc ngang lát toàn châu báu, ao hồ rộng lớn, sen báu tỏa sáng, trên bờ ao sen tàng lọng uy nghi, cõi trời đất báu nơi đâu cũng tỏa hào quang rợp trời rợp đất. Muôn màu muôn sắc xinh đẹp lạ lùng.

- Vua Trời Cao Thiên có đến cả trăm người con, người nào cũng tài cao đức độ thần thông trí tuệ như nhau. Đứa nào cũng muốn làm vua trời có cõi nước riêng, cả trăm người con biết truyền ngôi cho ai. Lại nữa ở trên cõi trời tuổi thọ rất cao sống quá lâu. Vua Trời Cao Thiên vì đáp ứng sự mơ ước làm Vua Trời của các con. Bằng chỉ cách để trở thành Vua Trời.

- Một hôm Vua Trời Cao Thiên kêu hết những người con đến. Cao Thiên nói, Cha còn sống rất lâu lại chỉ có một cõi nước trời. Không thể nhường ngôi cho các con được vì có cả trăm đứa con. Nhưng các con thời muốn có cõi nước trời riêng để cai quản vui chơi tùy ý. Cha có một cách nầy nếu các con làm được các con sẽ trở thành Vua Trời như Cha. Nhiều khi hơn Cha nữa là khác. Một trăm người con nghe Cha nói thế lấy làm mừng nói, chúng con sẽ làm gì để trở thành Vua Trời, xin Cha chỉ dạy cho chúng con.

- Vua Trời Cao Thiên nói muốn làm giàu thời phải lặn hụp nơi biển sâu tìm ngọc. Vào rừng thiêng nước độc để đãi vàng. Muốn làm Vua Trời thời phải tận độ dìu dắt nhân sinh. Xưa Cha cũng từ trên trời sanh xuống chốn nhân gian lặng lội trong bể trần ra sức tận độ nhân loại con người về trời nên Cha mới trở thành Vua Trời. Các con đi theo con đường của Cha đã đi.

Các con muốn trở thành Vua Trời các con phải xuống biển trần, ra sức chống lại gió bát phong, lặng hụp trong cõi vô thường, nơi chốn phàm trần. Nơi phàm trần mỗi Linh Hồn nhân loại con người là mỗi viên ngọc Mâu Ni vô cùng quý hiếm, nhưng không vì thế mà dễ có, phải chịu trăm cay nghìn đắng, mới độ được một người, rồi từ một người nầy sẽ độ Ông Bà Cha Mẹ, nhiều đời nhiều kiếp siêu sanh thiên giới các con đã có một nước trời nhỏ ngỏ, nhưng nếu các con độ được từ năm người trở lên thời các con có cõi nước trời rộng lớn như Cha hiện tại.

Nói thời dễ nhưng đi vào tận độ người trần gian thời rất khó, phải nói là cực kỳ khó không mấy ai làm nổi. Vì chốn trần gian là nơi bể khổ, gió bát phong không ngừng thổi, phải nói là thi nhau thổi.

Gió Bát Phong như con dao hai lưỡi con người nhờ con dao mà làm nên bao đại sự. Nhưng cũng chính con dao ấy làm hại con người.

Gió Bát Phong là gì; Lợi, Suy, Chê, Khen, Ca Tụng, Phỉ Bán, Khổ, Lạc. Ở trên các cõi trời gió bát phong luôn đem lại những gì tốt đẹp cho cuộc sống. Ví Dụ như những gì có Lợi đem lại hữu ích cho con người thời làm không có lợi thời thôi không làm thiệt hại đến ai, làm lợi cho cuộc sống, như vậy chữ Lợi sử dụng đúng mục đích thời đem lại hiệu quả rất cao. Còn nơi trần gian cũng một chữ Lợi mà thi nhau làm hại con người, làm hại cuộc sống. Trăm mưu nghìn kế để có được chữ lợi. Không chừa một thủ đoạn nào gieo ra trăm nghìn tai họa bám lấy không tha. Tai ương chuyển xoay thi nhau ập tới. Đôi khi phải trả giá bằng sanh mạng của mình. Chữ Lợi chính là con dao hai lưỡi sử dụng đúng mục đích thời Lợi, sử dụng sai mục đích chữ Lợi trở thành chữ Hại.

Ở trên các cõi trời sự Suy Vong, là chuyện bình thường luôn đánh thức chư thiên hiểu biết về Suy Vong, nếu không giữ được sự chân thiện của mình sanh tâm hành ác thời nhất định sa đọa xuống chốn nhân gian. Nhờ hiểu rõ sự Suy Vong chính là hành ác làm giảm phước đức nên chư thiên ít khi sa vào con đường ác. Còn nơi trần gian sự Suy Vong là tiêu tan cơ nghiệp thậm chí đi đến diệt vong. Nổi lo sợ Suy Vong luôn ám ảnh mãi con người. nên ráng mà cố giữ dẫn đến làm bao nhiêu điều ác, hầu cứu vãn sự Suy Vong. Nói chung nghĩ đến chữ Suy dù là suy vong hay suy nhược đều lo sợ. Như vậy cũng một chữ Suy làm cho chư thiên thức tỉnh luôn biết giữ mình không sa vào con đường tổn đức tổn phước. Nơi trần gian cũng vì một chữ Suy mà gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi hầu tránh né chúng, nhưng nào có được.

Ở trên các cõi trời cũng có sự Chê Bai nhưng chê bai những người hành động trái ngược lại đạo đức vì có sự Chê Bai như vậy nên chư thiên luôn hướng thiện sống theo đạo đức. Còn nơi trần gian sự chê bai nhiều khi không đúng chỗ ví dụ như người ta tôn thờ Tổ Tiên Ông Bà mà cũng chê bai. Sống vì người không vì mình cũng không ít người cho là ngu chê bai chỉ trích. Nếu người không minh mẫn sáng suốt bị người ta chê bai đi đến bỏ Tổ Tiên Ông Bà cũng như chỉ biết mình không cần biết đến ai nữa. Như vậy sự chê bai như con dao hai lưỡi, nhờ sự Chê Bai mà trở nên con người tốt, như các chư thiên ở trên trời. Còn nơi trần gian Sự Chê Bai không đúng cách, thờ Ông Bà Tổ Tiên mà cũng chê bai. Sống vì nhân loại mà cũng cho là ngu. Ca ngợi anh linh truyền thống mà cho là dại, sự Chê Bai ấy không có giá trị về mặt Chê Bai, Chê Bai không đúng cách thế mà khối người nghe theo.

Ở trên các cõi trời cũng có sự Khen Ngợi. Những người có công làm cho chư thiên an vui. Cõi trời hưng thịnh, Tu hành đạt đến đỉnh cao. Khen Ngợi là sự động viên khích lệ vươn cao hơn nữa.

Còn nơi trần gian Anh Em chém giết nhau mà cũng Khen Ngợi là tài giỏi, làm cho nhân loại con người khốn khổ mà cũng Khen là tài hay. Sự Khen Ngợi nầy động viên nhân loại con người lao vào hành ác hơn nữa. Như vậy cũng một chữ Khen, Khen để cho tốt đời đẹp đạo như trên các cõi trời. Khen động viên đi vào hành ác hơn nữa, Khen cũng chính là con dao hai lưỡi, Khen đi đến cực lạc, Khen đi đến cực khổ.

Ở trên các cõi trời cũng có sự Ca Ngợi Tán Tụng ca ngợi bề trên, tán tụng công đức những vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đóng góp nhiều công sức cho Thiên Đàng Cực Lạc.

Còn nơi trần gian Ca Ngợi Tán Tụng những tên trùm gian manh lập bè lập phái để mà tranh bá tranh hùng dẫn đến máu đổ đầu rơi.

Trên các cõi trời cũng có sự Hủy Báng phỉ báng nếu làm hại người khác, vì sợ sự Hủy Bán, Phỉ Báng chỉ trích nên chư Thiên luôn sống hòa thuận trong tình thương yêu. Vì không ai muốn trở thành đối tượng để cho chư thiên Phỉ Báng, Hủy Báng.

Còn nơi trần gian sự Hủy Báng Phỉ Báng là đối lập nhau không cùng chí hướng, không cùng quan điểm. Dẫn đến xung đột lẫn nhau chiến tranh vì đó xảy ra.

Trên các cõi trời cũng có khổ là luôn giữ cho Tâm Thiện Lành, phước đức an trụ lâu dài, cũng như người trần gian phải làm thời mới có ăn. Không làm thời đói nhăn răng chịu nghèo. Nói đến khổ Thiên Đàng Trần Gian đều có, nhưng khổ thiên đàng là mọi người cùng nhau đem lại sự cực lạc.

Còn khổ trần gian là Bể Khổ nghịch cảnh, éo le, buồn khổ, khổ chồng lên khổ, họa chồng lên họa, nên nói đến Khổ là ai nấy cũng sợ hãi. Không như trên các cõi Thiên Đàng càng gian khổ thời càng đi đến Cực Lạc.

Nói đến Vui Sướng thời trần gian thiên đàng đều có Vui Sướng trên thiên đàng là vui sướng trong cảnh giới Cực Lạc. Đồng vui đồng hưởng lạc.

Còn vui sướng nơi trần gian, cái vui đem đến cho mình là để lại bao cái khổ cho người khác. Sự giàu có của Quan trên bao nỗi khổ của người dân.

Nói tóm lại: Bát Phong 1, Lợi. 2, Suy. 3, Chê. 4, Khen. 5, Phỉ Bán. 6, Táng Tụng. 7, Khổ. 8, Vui. Như một Định Luật Tự Nhiên. Trên các cõi trời nhờ Bát Phong đưa xã hội Thiên Đàng đến cảnh giới Cực Lạc. Còn nơi trần gian cũng chỉ là Bát Phong làm cho Tâm đi vào sa đọa. Nên nói người nào nơi trần gian Bát Phong thổi đến Tâm không động ấy là cao nhân trí huệ như hải. Liền ra khỏi thế tục đi vào cảnh giới tự tại.

Vua Trời Cao Thiên nói các con trên cõi trời nhờ Bát Phong nên các con không sa đọa vào con đường Bất Thiện luôn sống trong Chân Thiện. Lại muốn gì được nấy, vui chơi thỏa mái chưa có một lần sống trong nghịch cảnh. Nhưng khi xuống trần gặp không biết bao nhiêu là nghịch cảnh, buộc các con sanh ra nhiều mánh khóe, mưu mô xảo quyệt, dối trá, nếu không làm thế thời các con thua thiệt đủ mọi điều. Càng phấn đấu vì cuộc sống các con liền bị cuốn hút vào sanh tử, tử sanh. Bị Bát Phong xoay chuyển hết mong trở lại thiên giới. Độ người chưa được thời mình cũng mang đọa luôn. Ví như người lặng xuống biển sâu tìm ngọc, ngọc chưa mò được thời bị chết chìm trong lòng đại dương.

Trăm người con nghe thế lấy làm kinh hãi, im hơi lặng tiếng. Vì biết xuống biển trần, lặn hụp trong cõi Vô Thường, nghịch cảnh đối đầu, trăm cái khổ nghìn cái sầu, họa tai thi nhau kéo đến. Chưa kể yêu ma quấy phá, làm gì đủ trí chống chọi nghịch cảnh, đối đầu trăm cái khổ, vượt qua nghìn cái sầu, chịu đựng đầy rẫy bệnh tật, sống trong cảnh giới bạo lực bao trùm, chưa kể bát phong xoay chuyển. Vì sự Khen, Chê, Thành, Bại, Hơn, Thua, đành phải đương đầu sa chân vào ác đạo, sa đọa vào luân hồi, hết mong trở lại thiên giới, nên không muốn làm làm Vua nước trời nữa vì quá khó khăn.

- Vua Trời Cao Thiên nhìn thấy còn ba người con là quyết muốn trở thành Vua Trời bằng nói nếu các con quyết chí trở thành Vua Trời thời các con phải chịu lặng hụp xuống biển trần, nơi có nhiều ngọc Mâu Ni. Tức là Linh Hồn con người, những Linh Hồn vô chủ. Các con độ được những Linh Hồn vô chủ ấy các con sẽ có cõi nước trời. Độ được nhiều nhân thế thời thiên chúng càng đông. Có nhiều cõi nước Phật, nước Thánh, thiên chúng chư thiên đông vô số vô biên, không phải tự nhiên mà được như vậy. Mà phải phát đại nguyện cứu khổ nhân loại không vì mục đích nào khác nữa, cũng như nguyện cầu Cha Trời, Mẹ Trời phù hộ che chở cho.

- Ba người con nghe Cha giảng giải liền giác ngộ nói chúng con nguyện đầu thai xuống biển trần lặn hụp trong vô thường tìm những viên ngọc Mâu Ni vô chủ ra sức cứu khổ cũng như truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn thành lập quốc độ trên thiên giới.

Cao Thiên nói nếu ba con quyết như vậy, thời hãy cầu nguyện lên Cha Trời, Mẹ Trời phù hộ che chở cho các con. Nếu độ được Linh Hồn nhân loại thời càng tốt, bằng không độ được cũng trở về cõi trời. Nơi biển trần chính là biển khổ chốn nhân gian ngoài cảnh giới Vô Thường xoay chuyển, còn phải chịu cảnh giới bát phong vùi dập. Nếu không đủ sức Nhẫn, Nhịn, Nhục thời coi như bị bát phong xoay chuyển vào con đường Ác Đạo. không mong gì trở lại thiên đàng. Hãy trừ khử thập tam ma khi chúng xâm nhập vào tâm.

- Thập tam Ma là: Yêu, Ghét, Giận, Hờn, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái Ố, Lợi, Suy, Khen, Chê. Mở rộng lòng từ bi, lòng chẳng nhiễm trần, đi ngược lại dòng đời các con mới thành chánh quả. Có nghĩa là độ được người giữ được mình không bị Yêu, Ghét, Giận, Hờn, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái Ố, Lợi, Suy, Khen, Chê. Tâm như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Ở vào giai đoạn gần cuối thời mạc pháp có Đức Chí Tôn lâm phàm xuống thế chuyển đại pháp luân, nói ra Kinh, Thơ, Thiên Ý Cha Trời. Đây là điều hi hữu hàng triệu năm mới có một lần, các con ra phò Thiên Ý, dùng Thiên Ý mà tận độ nhân loài về trời.

- Ba người con trở về Thiên Cung nơi ở của mình. Người con thứ nhất tên là Thiên Quân nguyện rằng nguyện cầu Cha Trời, Mẹ Trời ban cho con nhiều quyền lực để con độ nhân loại về trời.

Người con thứ hai tên là Thiên Đế nguyện rằng, Nguyện cầu Cha Trời Mẹ Trời ban cho con sự giàu sang muốn chi được nấy, để con giúp cho đời, thoát khỏi sự đói nghèo, để họ có điều kiện tu luyện về trời.

Người con thứ ba tên là Thiên Vương phát nguyện rằng. Nguyện cầu Cha Mẹ Trời ban cho con Trí Huệ thấy rõ Tà, Chánh, Siêu, Đọa, cũng như thâm nhập Thiên Ý để con độ nhân loại về trời.

Ba người con Cao Thiên xuất hồn rời khỏi kim th.ân thể xác bay xuống trần gian đầu thai làm người phàm tục.

Đầu thai vào gia đình Họ Cao. Ông Bà Họ Cao đặt tên cho con đúng cái tên ở trên trời do Thần Linh mách bảo. Thằng lớn tên là Quân, thằng kế tên là Đế, thằng út tên là Vương. Ông Bà Họ Cao ăn ở thiện lành chỉ là gia đình nông dân nghèo khổ. Vì đầu thai mang xác trần nên Cao Thiên Quân, Cao Thiên Đế, Cao Thiên Vương quên hết kiếp trước của mình là con của Vua Trời. Chỉ biết mình sanh ra và lớn lên trong gia đình Họ Cao nghèo khổ hoàn cảnh thiếu thốn, còn nhỏ thời mò cua bắt ốc, khi lớn lên để có cái ăn cái mặc ra sức làm lụng suốt ngày, nhưng được cái là thông minh học đâu nhớ đó, người nông dân Họ Cao thấy con cái đứa nào đứa nấy thông minh khác thường bằng bán đi đất đai nuôi con ăn học.

Có lẽ do nguyện lực cầu nguyện trước khi đầu thai lâm phàm xuống thế. Thiên Quân nguyện cầu Cha Trời, Mẹ Trời ban cho nhiều quyền lực Thiên Quân thi đậu làm quan, càng về sau càng thăng chức làm đến bực Thừa Tướng quyền lực chỉ dưới một người. Thiên Quân ra sức vì dân vì nước làm cho dân giàu nước mạnh danh tiếng vang lừng. Khi mãn kiếp trần liền Hiển Thánh trở về trời nhập vào kim thân hóa thành kim cương hào quang rực rỡ, chư thiên nhìn thấy ai nấy cũng đều chấp tay cung kính ca ngợi không hết lời. Cao Thiên hiện đến khen rằng nơi chốn trần gian con hết lòng vì dân vì nước nên mới đặng phước báo như thế giờ đây con trở thành Đại Thiên Vương thống lãnh chư thiên an vui tự tại.

Nói về Thiên Đế thông minh không thua gì Thiên Quân thi đâu đổ đó. Vì do nguyện lực cầu Cha Mẹ trời ban cho sự sang giàu Thiên Đế nhờ học hành đỗ đạt cao, ưng con nhà đại gia tỉ phú trở thành nhà kinh doanh làm ăn tiền vô như nước giàu có muốn chi được nấy. Thiên Đế trích ra một phần lợi nhuận, làm từ thiện giúp cho những gia đình nghèo khó vượt qua khó khăn chỉ có thế, không độ được người nào. Đến khi mãn kiếp trần Linh Hồn trở về trời, Kim Thân vẫn y nguyên nhưng hào quang rực rỡ hơn trước ai nhìn thấy cũng khen, so với Thiên Quân Không bằng nhưng hơn những anh em khác. Vì Thiên Đế xuống trần đi vào con đường hưởng phúc, sự tiến hóa Linh Hồn qua sự tu luyện không được là bao.

Nói về Thiên Vương không khác gì Thiên Quân. Thiên Đế học giỏi không ai bằng thi đâu đậu đó nhưng không làm quan làm thường dân sớm giác ngộ đi theo con đường đạo đức thấy rõ Tà Chánh, Phước, Họa, Siêu, Đọa, biết rõ trần gian chỉ là nơi giả tạm, ngày đêm tu học Văn Hóa Cội Nguồn, thuyết giáo truyền kinh tận độ nhân loại con người danh vang bốn bể thiên hạ theo về trùng trùng. Khi mãn kiếp trần trở về trời nhập vào kim thân, tức thời hào quang sáng chóa muôn sắc nghìn màu hiện ra vô số cung vàng điện ngọc, kỳ quan bảo tháp.

Thiên Vương bay về phương đông tần trời thứ ba thành lập cõi nước trời Thiên Vương không thua kém gì cõi nước Cao Thiên không nói là rực rỡ hơn. Vua Trời Cao Thiên đến chúc mừng Thiên Vương, con đã thành Vua Trời tất cả là do con tự tạo lấy. Không ai có thể tranh giành với con được. Chỉ cần một kiếp xuống trần mà con đã làm nên kỳ tích không ai làm được. Cái giá mà con phải trả cho sự thành công nầy, phải nói là không thể nghĩ bàn. Cao Thiên chúc mừng xong thời trở về cõi nước của mình.
 
96. CÂU CHUYỆN ĐẠI BÀNG

Ngày xửa ngày xưa vào thời hồng hoang ở vào kiếp tăng, khi tuổi thọ loài người trung bình 100 tuổi thọ 120 tuổi, yểu thọ thọ 80 tuổi. Khi ấy loài Đại Bàng tuổi thọ rất cao còn hơn tuổi thọ con người lại mau lớn trở thành chúa tể bầu trời làm chủ trên không, thậm chí còn xơi cả loài Cầm, Thú, Bò Sát, dưới đất. Loài nào nhìn thấy Đại Bàng cũng phải khiếp sợ.

Còn ở dưới đất loài rắn bò sát độc hại vô cùng tuổi thọ rất cao lại vô cùng mau lớn, loài vật nào cũng bị loài rắn nuốt vào bụng.

Ở vào thời Hồng Hoang tiền sử những con vật to lớn chính là nhất Điểu, nhì Xà, tam Ngư, tứ Tượng. Đại Bàng thời nay tuy nhỏ bé thế mà vô cùng lợi hại, huống chi là to lớn. Loài Rắn cũng thế chúng độc ác vô cùng ăn thịt cả đồng loại.

Muôn loài động vật bị hai loài nầy ăn thịt tàn sát hầu như muốn tuyệt chủng bằng kiện thấu lên trời làm sao hạn chế sự hung hiểm hai loài nầy, huyền cơ Thiên Ý liền chuyển xoay làm cho lớp vỏ xơ cứng, hạn chế sự mau lớn, cũng như rút ngắn tuổi thọ, từ đó Đại Bàng, cũng như loài Rắn lâu lớn tuổi thọ lại ngắn muôn loài cầm, thú, bò sát mới được tồn tại sống yên.

Cho đến một hôm, loài Rắn vô tình nghe được câu chuyện loài Phụng Hoàng nói chuyện với nhau. Loài Rắn muốn sống lâu thời phải thay bỏ lớp da bên ngoài nhiều khi một năm phải thay hai ba lần ít nhất là một lần loài Rắn mới khỏi bị đau đớn lại được sống lâu. Nên về sau có câu Rắn già Rắn thay vỏ, người già người bỏ hòm săng. Rắn lột vỏ bỏ da nào chết sống nhăn, nhưng phải kín đáo thời mới tránh họa tai. Loài Rắn nghe xong vô cùng mừng rỡ tìm nơi kín đáo lột da sống đời, nhưng vì phạm Thiên Ý nên Trời thâu bớt nọc độc của loài Rắn không còn cực độc như trước kia. Còn loài Rắn nào không thay vỏ thời vô cùng lâu lớn còn giữ nguyên cực độc cắn trúng là hết thuốc chữa. Loài Rắn nhờ thay vỏ sống thỏa mái không sợ già chết sống ung dung tự tại.

– Loài Đại Bàng phát hiện loài Rắn có những thay đổi bỗng nhiên sống lâu không như trước đây lăn lộn đau đớn rồi chết, liền tìm kiếm loài Phụng Hoàng để hỏi. Loài Rắn làm gì để được sống lâu như vậy?

– Loài Phụng Hoàng nói Ta làm sao biết được, bí mật Tạo Hóa chỉ cần hở môi thời coi như phạm Luật Thiên. Chi bằng ngươi tìm đến Đức Chí Tôn mà hỏi. May ra Chí Tôn nói cho ngươi biết.

Đại Bàng nghe Phụng Hoàng nói thế liên bay lên trung thiên giới tìm gặp Đức Chí Tôn, nhưng vũ trụ bao la biết tìm gặp Đức Chí Tôn ở đâu. Đại Bàng đang lo lắng thời Đức Chí Tôn hiện ra hỏi Đại Bàng tìm gặp ta để làm gì?

Đại Bàng mừng quá lễ lạy rồi thưa hỏi. Bạch Đức Chí Tôn loài Rắn làm gì để được sống lâu như vậy, còn Đại Bàng tôi bị lớp vỏ xơ cứng bó chặt không những lâu lớn mà còn lên cơn đau rồi chết, tuổi thọ chưa bằng phân nửa ngày xưa.

Chí Tôn nói huyền cơ Thiên Ý đã hạn chế sức lớn cũng như tuổi thọ của loài Đại Bàng ngươi. Nếu không hạn chế như thế thời loài Đại Bàng ngươi không những mau lớn, tuổi thọ rất cao, lại sanh sản thần tốc mỗi lứa vài chục con. Muôn loài cầm, thú, bò sát, thậm chí cả con người sẽ bị loài Đại Bàng ngươi ăn thịt hết dẫn đến tuyệt chủng.

Đại Bàng nghe Chí Tôn nói thế thời theo năn nỉ mãi, nói loài Rắn tuổi thọ trước đây rất ngắn không hiểu vì sao lại trở nên sống lâu như vậy. Loài Rắn phải nói là vô cùng độc hại lại sanh sản mỗi lứa cũng nhiều nào có hạn chế chi đâu Đại Bàng tôi không những tuổi thọ ngắn lại đẻ mỗi lứa chỉ có hai con cùng lắm là ba con, sự công bằng của Trời ở đâu đối với loài Đại Bàng tôi như vậy. Không như loài Rắn kia.

Chí Tôn cười nói. Loài Đại Bàng ngươi tinh khôn hơn loài Rắn nhiều không bao giờ ăn thịt đồng loại, còn loài Rắn thời ăn thịt đồng loại, chúng tự ăn nuốt lẫn nhau nếu đẻ ít thời loài Rắn không còn tồn tại nữa.

Loài Đại Bàng nhà ngươi đã làm chúa tể bầu trời đương nhiên phải có cái giá để mà trả. Nhất là hạn chế sinh đẻ, một lứa chỉ đẻ một hoặc hai con mà thôi, không còn đẻ như gà như vịt, một năm hai ba lứa. Sự ước muốn nào cũng phải có cái giá phải trả. Đại Bàng nói miễn là sống lâu không cần to lớn cũng được dù cho trả giá thế nào loài Đại Bàng cũng bằng lòng hết thảy.

Chí Tôn nói để được sống lâu thời loài Đại Bàng ngươi giống như loài Rắn kia lột bỏ lớp vỏ xơ cứng bên ngoài đi vào trường thọ lâu hơn. Đại Bàng ngươi cũng vậy phải tự mình lột bỏ lớp vỏ xơ cứng bên ngoài như thay lông, lột bỏ móng vuốt, lột bỏ cái mỏ cong sắc nhọn xơ cứng của ngươi, trước khi làm việc đó loài Đại Bàng ngươi phải tìm một nơi kín đáo, nếu đụng chỗ nào cũng thay lớp vỏ không kín đáo sẽ bị các loài khác ăn thịt, nói xong Đức Chí Tôn liền ngâm bài kệ rằng;

Rắn sống lâu, vì Rắn biết thay vỏ

Đại Bàng muốn sống lâu, thời lột bỏ lớp vỏ xơ cứng của mình.

Rắn nghe Phụng Hoàng tâm tình.

Trước khi lột vỏ chịu nhiều sự đau

Ẩn mình trốn kỷ mới xong

Nếu không như thế hết mong sống còn.

Đức Chí Tôn ngâm kệ xong liền biến mất, Đại Bàng bay trở về trần gian rình xem loài Rắn lột da. Loài Rắn phát hiện chửi cha Đại Bàng. Đại Bàng tức giận vô cùng, hể mà gặp Rắn tức thời nuốt xơi. Đại Bàng từ đó trước khi thay lớp vỏ xơ cứng bên ngoài liền tìm nơi ẩn mình, tự mình lột bỏ lớp vỏ xơ cứng đau đớn vô cùng, mọc ra lớp vỏ non trẻ tiếp tục sống, cũng từ đó Đại Bàng đẻ rất ít chỉ một hoặc hai con, quyền lực của loài Đại Bàng mất đi phân nửa, không còn lợi hại như trước kia.

– Khi Đại Bàng lột vỏ xơ cứng bỏ đi, tiếp tục tồn tại, thời loài ve đang sống bám trên cành cây nhìn thấy Đại Bàng chịu đói chịu khác để cho thân hình ốm bớt, rồi lột bỏ lớp vỏ xơ cứng bên ngoài, đi vào cuộc đời mới.

– Loài Ve cũng bắt chước nhịn đói, nhịn khác thịt xương chuyển hóa teo nhỏ, liền thoát ra khỏi lớp vỏ xơ cứng. Ve sầu lột xác sống lâu.

*- Rắn độc thay da, Đại Bàng lột vỏ, Ve Sầu lột xác. Đây là bài học cho các Thể Chế xơ cứng. Chế Độ lỗi thời, muốn tồn tại, phải Thay Da, Lột Vỏ, Lột Xác đi vào tồn tại.
 

97. SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU

Ngày xửa ngày xưa đời thứ 18 Hạ Hùng Vương, cũng là đời cuối cùng của niên đại Hùng Vương. Niên Đại Hùng Vương kéo dài 2701 năm, kết thúc Niên Đại Hùng Vương 258 trước công nguyên.

Ở vào thời Hùng Duệ Vương đời cuối của Niên Đại Hùng Vương, là thời kỳ loạn lạc, bắc Văn Lang, Trung Văn Lang đã mất. Trung Văn Lang thời bị dòng họ Triệu chiếm giữ, còn Bắc Văn Lang thành bãi chiến trường của nhiều nước phương Bắc tranh giành với nhau. Chỉ còn lại Nam Văn Lang.

Khi ấy ở phía Nam Văn Lang. Dân Tộc Chăm có vị tướng tên là Mai Yển thống lãnh ba quân tướng sĩ cánh Nam. Quân Hồ Nam nổi dậy giết chết Mai Yển tổng binh tướng quân con của Mai Yển là Mai An Tim trốn thoát. Hùng Duệ Vương đem quân dẹp loạn sau khi dẹp xong quân nội loạn Hồ Chăm. Vua Hùng liền nghĩ đến công lao của Mai Yển tướng Quân. Bằng kêu Mai An Tim đến hỏi, Vua Hùng hỏi tới đâu Mai An Tim đáp trôi chảy đến đó, nói tiếng Việt Kinh rất thông thạo, học cao hiểu rộng, lắm tài nghệ. Vua Hùng cảm mến bằng nhận Mai An Tim làm con nuôi. Trước là đền ơn đáp nghĩa công lao trấn giữ cánh Nam. Hết lòng vì dân vì nước cống hiến đời mình cho triều đình. Hai là thấy Mai An Tim thông minh hơn người. Ba là Vua Hùng không còn con trai vừa mới mất.

- Mai An Tim tướng người khôi ngô tuấn tú lại chịu khó không việc gì không làm. Vua Hùng thường để bên mình làm hầu cận, và tin dùng những việc trọng đại.

- Khi ấy ở triều đình có vị quan Bộ Thư, sinh được một tiểu thư Nàng Ba xinh đẹp nổi tiếng nết na. Hùng Duệ Vương bằng cưới cho Mai An Tim. Vua cho xây một ngôi nhà riêng ở gần cung vua. Hai vợ chồng Mai An Tim sống vô cùng hạnh phúc sinh được người con trai lên năm tuổi. Điều nầy làm cho Mai An Tim phấn khởi dốc tâm hết lòng vì triều đình.

Mai An Tim được Vua Hùng yêu mến, năm ba mươi tuổi Vua Hùng sắc phong cho cấp quan Lạc Hầu, các quan trong triều ai nấy cũng phải kiên sợ. Món ngon vật lạ không thiếu thứ gì, ở những người may mắn hơn mình thường sanh đố kỵ, ganh ghét. Các quan trong triều phần lớn không ưa Mai An Tim. Chờ cơ hội là ám hại Mai An Tim, Mai An Tim tánh tình ngay thẳng nên không để ý đến xung quanh, không quan tâm đến những kẻ có ý hại mình.

Mấy lần Nhạc Phụ cha vợ nói với Mai An Tim con hãy dè chừng cẩn thận lời ăn tiếng nói, không khéo mang họa vào thân, vì có nhiều người ganh ghét với con. Có cơ hội là chúng h.ãm hại. Nàng Ba cũng khuyên chồng đề phòng cẩn thận. Mai An Tim không nghe vì ỷ lại cho mình có công, hơn nữa Vua Hùng rất yêu mến chẳng có chuyện gì xảy ra đâu mà lo.

- Một hôm trong một bữa tiệc Mai An Tim đãi các quan khách, các quan tăng bốc không ngớt lời ca ngợi Mai An Tim. Mai An Tim nhúng nhường nói

- Mọi Vật trên đời đều do Trời định đoạt, nghe đâu Quốc Tổ đã từng truyền dạy như vậy. Mọi thứ tôi có đều do số phận Trời ban cho. Cha Tôi làm tướng quân hết lòng vì nước, nên để lại Phước Đức cho tôi. Nên ngày nay Tôi mới được như vậy.

- Trong số người đến dự tiệc, đâu phải ai cũng tốt, vốn ghét Mai An Tim từ lâu. Chấp lấy câu nói cho là Mai An Tim ngạo mạn không coi Hùng Duệ Vương ra gì. Bằng vội vàng kéo nhau về cung tâu lên cho Vua biết, thêm mắm thêm muối, nâng quan điểm, chuyện ít làm ra cho lớn, đưa cái tội khi quân lên cao.

Hùng Duệ Vương nghe các quan nịnh thần tâu như thế vô cùng tức giận quát ầm lên. Chà cái thằng bố láo, nó không biết ơn Ta, mà lại cho mình tài giỏi làm nên tất cả, uổng công Trẫm thương yêu đùm bọc, trả ơn cho Trẩm bằng sự phản bội coi Trẫm chẳng ra gì, đúng là đồ Bất Nhân, Bất Nghĩa, ăn cháo đá bát, tội nầy không thể tha. Lũ quan nịnh thần vốn là loài Rắn độc đầu thai. Đã từng bị loài Đại Bàng xơi nuốt. Chơn Linh Mai An Tim chính là Chơn Linh Đại Bàng. Các quan nịnh thần chính là Chơn Linh Loài Rắn Độc đầu thai. Thấy Vua Hùng nổi giận bằng châm lửa thêm với chức quan chưa lớn, Mai An Tim muốn làm phản, tuôn ra những lời vô ơn bạc nghĩa, Vua Hùng bị các quan nịnh thần đổ dầu vào lửa thét lớn giam cổ nó lại cho Ta.

- Thế là buổi chiều hôm ấy Mai An Tim bị bắt tống giam vào ngục chờ ngày hành xử.

- Đến lúc nầy Mai An Tim mới biết chốn quan trường không như mình nghĩ, chỉ cần sơ sót là toi mạng. Những lời trung trực thường bị hiểu lầm trung ngôn nghịch nhĩ, lời nói ngay thẳng không đúng chỗ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nhất là những nịnh thần có cơ hội là chúng chẳng tha. Bịa chuyện thêu dệt, đâm thọc không nói lên sự thật, mà lái theo chiều hướng khác, hầu nhổ cái gai trong mắt của họ. Khi biết ra thời đã muộn.

Mai An Tim nghĩ nếu Ta sớm nghe lời Nhạc Phụ, cùng Nàng Ba vợ của Ta thời đâu ra nông nỗi nầy. Hồng Phúc đến mà không lo che dấu, phơi bày khoe khoang thời họa ập tới thình lình. Ôi cũng là số kiếp cho cái ngu của Ta.

- Mấy ngày hôm sau trong buổi chầu các quan hợp bàn để xử án Mai An Tim. Bên nịnh thần đề nghị xử tử làm gương cho kẻ khác. Bên Trung Thần nói Mai An Tim là con của đại tướng quân Mai Yển có công lớn trấn giữ phương nam hết lòng phò vua giúp nước, chết trong Trung Nghĩa ít ai được như vậy, hãy tha tội chết đày làm thường dân mà thôi.

- Khi ấy có một vị quan già đến trước bệ rồng quỳ xuống tâu rằng. Nếu đúng như lời Mai An Tim nói tất cả sự may mắn của Mai An Tim là do Ý Trời, những gì Mai An Tim có là do Hồng Phúc phước đức của Cha Mẹ. Để chứng minh lời nói ấy là sự thật, thời Mai An Tim sẽ thoát kiếp nạn. Bằng như Mai An Tim ngạo mạn xem thường Bệ Hạ, thời Mai An Tim sẽ chết vì cái tội Bất Trung, Bất Nhân, Bất Nghĩa.

- Thần nghe nói ngoài cửa Nga Sơn có một hòn đảo nhỏ không ai có thể sống trên đó được, cho Mai An Tim ra đấy ở với ba tháng ăn, để Mai An Tim tạm sống trong ba tháng. Nếu trời không giúp, cũng như hồng phúc Cha Mẹ không có thời nhất định Mai An Tim sẽ chết tại nơi đây.

- Vua Hùng nghe xong gật đầu chấp thuận cứ theo kế sách đó mà làm, bằng giao Mai An Tim cho vị quan già thi hành đày Mai An Tim ra hòn đảo Nga Sơn.

- Hôm Mai An Tim bị quan binh đưa đi đày, vợ Mai An Tim là Nàng Ba đòi đi theo chồng, không biết bao người khuyên can, hãy ở lại nuôi con không nên đi theo Mai An Tim sau có người hương khói thờ phụng. Nàng Ba nhất quyết không ở lại chết sống cũng theo chồng bằng bế đứa con trai năm tuổi theo Mai An Tim. Nhiều người cho Nàng Ba thiếu suy nghĩ làm việc dại dột. Trong khi đó có một người thở dài khen, đúng là tiết nghĩa đầy mình thủy chung hiếm có dễ gì tìm đâu ra một người như thế.

- Có người hỏi Nàng Ba không sợ chết đói sao? Nàng Ba trả lời (Trời sanh voi thời Trời sanh cỏ lo gì ) Trời ở trên đầu chúng Ta nào ở đâu xa.

- Khi đến hoang đảo bước chân lên bãi hoang vu mịt mù, không một bóng người, sóng vỗ đì đùng xa xa nghe tiếng chim kêu vượn hú. Nàng Ba không ngăn nỗi giọt lệ cảm giác tủi thân nức nở khóc gục vào vai chồng, mồ chôn của vợ chồng Ta chính là nơi đây.

Sau có thơ rằng

Một mình sống chốn hoang vu

Chỉ nghe sóng vỗ cát bay rì rào

Nơi đây không có bóng người

Rừng cây vách lá lấy gì để ăn

Chết là cái chắc khó khăn

Chỉ mong phép lạ bằng không lìa đời

Mai An Tim ôm vợ an ủi rằng, nếu Trời không linh Quốc Tổ thờ mà chi. Trời luôn có mắt khắp nơi, cứ phấn chấn lên đừng lo.

- Hơn một tháng đầu đời sống Mai An Tim tạm ổn. Nhà ở thời chui trong hốc đá, đã được đan phên che gió che sương, nước uống thời đã có suối, đói thời hái lượm trái cây, ăn nấm ăn rau cỏ, cọng với lương thực trong ba tháng tạm sống qua ngày.

- Mai An Tim lấy nước biển đổ vào các trủng đá phơi nắng lấy múi để ăn, bắt cá trên suối, hái rong gành đá trên biển nấu ăn kéo dài sự sống, gần sáu tháng trôi qua tuy đầy khó khăn nhưng vẫn sống. An Tim nói với vợ nếu chúng ta tìm ra hạt giống ngô, khoai thời không lo ngại gì nữa, nhưng đằng nầy anh chưa tìm ra được hạt giống. Ngày mai anh sẽ đi tìm khắp hoang đảo mong có giống khoai củ nào đem về nhân giống trồng nhiều ra, nuôi sống gia đình Ta.

Sau có thơ rằng

- Trí thông minh, dù ở đâu cũng tìm ra sự sống

- Chịu gian nan, dù sỏi đá cũng thành cơm

- Vài hạt giống cũng làm nên nghiệp lớn

- Biển cho Ta nào muối, nào cá tôm

- Trời sanh voi, thời Trời cũng sanh ra cỏ

- Chỉ sợ rằng, không có đủ trí khôn

- Hãy vững tin, một ngày mai tươi sáng

- Đêm tan dần, thời lộ ánh bình minh

Mai An Tim tìm kiếm khắp trên đảo đào lấy những giống khoai giống củ, những loại cây ăn được đem về trồng.

Vợ chồng Mai An Tim tuy sống hiu quạnh trên hoang đảo đời sống tuy khó khăn, nhưng không còn lo sợ chết đói. Họ ra sức khai khẩn trồng trọt để kiếm sống, trải qua hơn một năm tình chồng nghĩa vợ càng thêm đậm đà.

Sau có thơ rằng:

Đôi Ta chung sức chung lòng

Vượt qua gian khổ sống còn bên nhau

Màn trời chiếu đất có sao

Ngôi nhà hóc đá cũng xinh cũng lành

Trên đầu Ta đội Ông Trời

Dưới chân Mẹ Đất nuôi thời chúng Ta

Một năm cũng đã trôi qua

Thế mà vẫn sống chung nhau gánh gồng

Bàn tay trồng trọt gieo mầm

Giờ đây cuộc sống giảm lần nỗi lo

Cho đến một hôm có đàn chim lạ không biết từ đâu bay đến đậu đen ngòm cả một bãi cát. Đang là mùa hạ chúng bay đến trước mặt vợ chồng Mai An Tim kêu váng cả lên, rồi thả xuống năm sáu hạt.

Ít lâu sau từ những hạt ấy mọc ra một loại dây, bò lan nhanh chóng xanh um kỳ lạ. Dây bò đến đâu ra nụ hoa đến đó, nụ quả lạ kỳ. Vợ Chồng Mai An Tim xem không chán mắt, nụ quả nào quả nấy lớn nhanh như thổi da xanh mượt quả to bằng đầu người đã được hơn tháng.

- Mai An Tim trẩy một quả bổ ra thấy ruột đỏ, hạt đem nhánh, vợ chồng con cái đều nếm thử thấy mùi vị thơm thanh ngọt dịu, cả nhà reo lên Trời nuôi sống chúng ta rồi. Mai An Tim nói giống dây nầy Ta chưa từng thấy bao giờ Ta không trồng tự nhiên chim đem đến, không phải là Trời Cao. Đất Rộng nuôi chúng Ta đó sao.

- Từ hôm ấy vợ chồng ra sức lấy hạt gieo trồng ra thật nhiều, màu xanh phủ khắp, quả to lớn lúc nhúc như heo con nằm chen theo lá khắp cả đám.

- Cũng trong thời điểm ấy có một chiếc tàu bị bão trôi dạt vào cù lao, thấy trên bãi cát một màu xanh rộng lớn lại có nhiều quả lạ chưa nhìn thấy bao giờ, mọi người liền lên bãi cát. Vợ chồng Mai An Tim ra chào đón, hái vài quả cho những người mới đến ăn thử, ai nấy cũng thấy ngon, vài người Bắc Văn Lang khen là ( Hẩu ) cũng từ đây trở thành quả dưa Hấu.

- An Tim là người thành thạo nhiều nghề, giúp họ sửa bườm lái để trở về đất liền. Mai An Tim còn đưa biếu một số dưa Hấu vài chục quả. Để họ đem về đất liền quảng cáo cho nhiều người, nhắn rằng ai muốn mua dưa Hấu thời chở gạo, gà, heo, đem ra đổi, không bao lâu chỉ cách đó mấy ngày, con thuyền thứ nhất đã đến cù lao đảo cắm neo ở đó. Họ chở đến nào là gạo, nào là cá, nào là gà, nào là heo, có cả nước mắm, thế là hai bên giao dịch buôn bán trao đổi tính giá trị cả hai bên đi vào thỏa thuận mua bán.

Vợ Chồng Mai An Tim, nhận gạo, gà, heo, cá, mắm, còn họ thời khuân vác dưa đưa xuống thuyền.

- Chỉ qua một lần trao đổi buôn bán vợ chồng Mai An Tim đã đổi đời không còn ăn rau, củ, quả để sống, bữa ăn cơm trắng cá tươi, hơi cơm bốc lên nghi ngút. Nàng Ba ôm lấy con vui mừng sung sướng, Trời nuôi chúng Ta thực rồi.

- Cũng từ đây vợ chồng Mai An Tim làm chuồng trại ra sức chăn nuôi, gà, heo, cũng như ra sức trồng thật nhiều dưa, màu xanh tăm tắp thuyền buôn ra vào hòn đảo, thuyền chài lần lượt chở gạo, áo, quần, gà, lợn, dao, búa, cuốc, cào, có cả thứ giống khác như bí, bầu, để đổi lấy dưa.

Vợ chồng Mai An Tim giàu nhanh như thổi, người ta tranh nhau ra đảo mua dưa, tiếng tăm Mai An Tim vang dội trên đất liền, giống dưa Mai An Tim đã lan tràn khắp nơi, người ta tôn Mai An Tim là Bố Cái Dưa Tây.

Tiếng tăm Mai An Tim lừng lẫy bay đến tai Hùng Duệ Vương. Hùng Duệ Vương liền cho người thân tín bí mật ra Cù Lao Nga Sơn, xem thật hư như thế nào.

- Sứ thần bí mật đến hoang đảo thấy Mai An Tim đã trở thành ông chủ, không bao lâu nữa Mai An Tim trở nên giàu có lớn. Sứ thần trở về đất liền kể lại cho Vua Hùng Vương nghe.

- Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ, đúng như lời đồn Mai An Tim đã đổi đời, nhờ Trời che chở và giúp đỡ, Mai An Tim không những không chết, mà trở nên giàu có nhờ giống dưa Hấu. Giống dưa Hấu là do đàn chim đem đến cho vợ chồng Mai An Tim. Vua Hùng nghe xong Mai An Tim đã nói đúng, mưu sư do người tạo, thành sự do Trời Ban, biết bao kẻ đầy mưu mô nhưng nào có thành, là vì Trời không ban cho vậy.

Từ đó Vua Hùng luôn suy nghĩ nhận thức lời dạy Ông Cha, nhất là lời dạy Quốc Tổ. Mưu sự do người thành sự do Thiên. Cũng như mình đây muốn có con trai để nối dõi nhưng không bao giờ được, tất cả là do Trời. Hùng Duệ Vương không còn giận Mai An Tim nữa. Mà giận lũ nịnh thần luôn làm hại người trung lương.

Hùng Duệ Vương càng suy nghĩ thấy lời nói Mai An Tim càng có lý con người gặp được bao điều may mắn không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng phải tài ba gì, mà là nhờ Hồng Phúc Ông Bà Cha Mẹ, cũng như Phước Lộc Trời ban, nên mới được như vậy.

- Vào một buổi chầu triều, Vua Hùng quở các khanh có tài nói phét, nhất là quan Viên Hầu, cũng vì sự dốt nát làm đâu hỏng đó, để cho thợ dựng hư hỏng một tòa nhà, Vua buột miệng than thở.

- Phải chi có Mai An Tim thời đâu đến nỗi như ngày hôm nay. Vị Quan Viên Hầu tái mặt vì đã hại Mai An Tim, Thấy Vua nhắc mãi đến Mai An Tim, vị quan già khi xưa tâu rằng. Lời nói Mai An Tim đã linh ứng, Trời đã giúp Mai An Tim thoát nạn, mà còn trở nên giàu dân chúng ngợi ca gọi Mai An Tim là Bố Cái Dưa Tây.

- Nếu Quốc Vương còn nghĩ đến Mai An Tim sao không cho người ra đảo đón rước vợ chồng Mai An Tim về cung.

- Một hôm có người thương buôn ở Châu Ái mang đến cho Vua Hùng một thuyền dưa Hấu nói. Đây là lễ vật của Ông Bà Mai dâng lên Bệ Hạ. Ông Bà Mai bây giờ đã giàu, có cả ruộng lúa, có đến mười người hầu, và rất nhiều gà, bò, heo, dê. Vua Hùng nhận dưa rồi phân phát ra cho các quan. Bửa thiết triều các quan đều nói dưa rất ngon.

Vua Hùng nói Mai An Tim là bậc kỳ tài, giàu nghị lực, mới vượt qua nổi sóng gió đến nơi an toàn.

Bằng sai Cha vợ Mai An Tim cùng các quan ra đảo đón vợ chồng Mai An Tim về cung phục hồi chức cũ, cấp phát cho nhiều vàng, bạc, châu báu.

- Những người ở lại hoang đảo, là những người ăn kẻ ở tiếp tục công việc của hai vợ chồng Mai An Tim. Họ thành lập làng Mai An, ở ngôi nhà cũ hai vợ chồng Mai An Tim, họ lập đền thờ, thờ hai vợ chồng Mai An Tim. Ông Bà Tổ dưa Hấu, dưa Tây, nơi đảo cù lao Nga Sơn, sau trở thành Châu An Tim.
 

98. ĐỜI CHA ĂN MẶN, ĐỜI CON KHÁT NƯỚC; ĐỜI CHA ĂN Ở CÓ ĐỨC, ĐỜI CON KHÔNG SỨC MÀ ĂN

Ngày xửa ngày xưa có hai anh em cùng cha cùng mẹ, người anh tên là Tận, người em tên là Dụng. Hai anh em mỗi người mỗi tánh khác nhau, người anh chuyện ác nào cũng làm đâm thuê giết mướn, buôn gian bán lận, chuyên ngồi trên đầu trên cổ người ta, lưu manh xảo trá không ai bằng.

Người em thời khác xa thường hay làm lành giúp đỡ người nầy người kia, không làm hại một ai sống đời lương thiện.

- Ở vào thời kỳ ấy đất nước chia làm hai phe, một bên là Bì Da, một bên là Thớ Thịt. Cảnh Nồi Da xáo Thịt hai bên tàn sát chém giết lẫn nhau. Anh em nhà Tận, Dụng, sống bên Thế Lực Bì Da, Tận anh của Dụng vốn là tay gian ác thường gây ra nhiều đều phạm pháp bị Thế Lực Bì Da truy bắt. Tận trốn chạy dẫn theo em là Dụng gia nhập quân Thớ Thịt.

- Với bản tánh xảo trá gian manh hung ác Tận giết chết nhiều binh lính bên Thế Lực Bì Da, Tận lên chức như bay. Còn Dụng thời lại khác không muốn sát hại binh lính Thế Lực Bì Da, vì nghĩ rằng Thế Lực Bì Da, Thế Lực Thớ Thịt cũng từ một nhà mà ra, kẻ theo bên kia người theo bên nọ chia bè chia phái, Tranh giành chém giết kẻ Nam, người Bắc thôn tính lẫn nhau. Người Dân Nam, Bắc đều là nạn nhân của cuộc chiến, không đi lính bên nầy, thời cũng phải đi bên kia, trốn cũng không được vì trong thế bắt buộc phải đi. Dụng hiểu rõ binh lính chỉ là nạn nhân nên không nở ra tay giết anh em cùng Cội cùng Nguồn dòng máu Tiên Rồng. Nên Dụng xin qua lao động sản xuất suốt mấy mươi năm không lập được công lao thành tích to lớn gì, chẳng có một cái huy chương để đeo, mãi vẫn là anh công nhân, tiền bạc chẳng dư gì đủ sống qua ngày đôi lúc cũng gặp khó khăn.

Nhưng Tận thời lại khác, hạ gục đồng loại anh em bên Bì Da kẻ gì cả trăm. Thành tích nhiều không đếm xể. Huy chương lủng lẳng đeo cả đùm từ trên ngực xuống tới hán.

- Ở vào thời mạc pháp càng làm ác thời càng được việc, càng âm hiểm càng thành công, Thế Lực Thớ Thịt là thế lực Âm hiểm hợp với cực Âm. Nói chung là hợp với huyền cơ Tạo Hóa chuyển đến thời mạc pháp Âm thịnh Dương suy. ở đời ai cũng biết, trộm, cướp lợi, thế về đêm. Hiểm ác lợi thế về thời Mạt Pháp. Nên Thế Lực Thớ Thịt đã hiểm ác lại thích hành động bóng đêm, nên đánh đâu thắng đó, làm chi đặng nấy. Đây cũng là mưu sự hợp thiên hợp với chu kỳ Mạc Pháp dễ lầm tưởng là mình tài ba, thật ra chẳng qua gặp vận thời đem đến thành công mà thôi.

- Đã đi vào cuộc chiến tranh chém giết lẫn nhau. Ở vào thời Mạc Pháp, Âm thịnh Dương suy càng ác càng hiệu quả Thế Lực Bì Da cái Ác còn non trẻ, sự thâm hiểm còn ở cảnh giới cháu chắt của Thế Lực Thớ Thịt, đành phải thua cuộc ra đi.

Thế Lực Thớ Thịt nghiễm nhiên trở thành lãnh đạo đất nước, chuyển sang giai đoạn mới. Giai đoạn nhận lãnh quả báo những gì mình đã gieo ra. Trong Thế Lực Thớ Thịt kẻ làm nên ăn ra, người đi vào tàn rụi. Nhìn vào cuộc sống hai anh em Tận và Dụng cùng một Chế Độ mà hai người hai cảnh giới khác nhau.

- Nói về Tận anh của Dụng do lập nhiều chiến công lên hàng tướng, tá, muốn gì có nấy nhà lầu xe hơi. Nhưng đường con cái đứa khờ, đứa tàn, đứa mách. Người ta thường nói Ông Trời có mắt gieo ác gặt họa chính là đây. Tiệt đường hậu lai đi ra khỏi nhà thời thôi, về nhà nhìn bầy con hư hỏng không ra trò trống gì. Tận không khỏi than van nhưng biết trách vào đâu không hiểu vì sao mà ra nông nổi như thế, có người hiểu Tận biết Tận vốn tâm địa độc ác, bằng nói bụng làm dạ chịu than vãn nỗi gì. Tận nghe xong nổi điên nói tôi làm gì mà bụng làm dạ chịu.

- Nói về Dụng tuy không có gì là khá đồng lương nấn ná cũng tạm sống qua ngày. Có lẽ do bản tánh hiền lành, đường con cái sanh ra đứa nào đứa nấy trai hay gái đều thông minh, đỗ đạt công danh cử nhân, đại học. Con gái lớn có chồng làm đến Bộ Trưởng, giàu sang ngất ngưởng tận đỉnh cung mây. Con gái kế chẳng kém thua ai, đi vào cảnh giới bán mua làm nên ăn ra tiền tỉ. Con trai thứ ba thời leo lên tận đỉnh công danh, nhà lầu tầm cỡ hai ba cái, xe hơi đắt giá sáu bảy chiếc, cơ sở làm ăn khắp chỗ, làm ăn chẳng thấy lỗ cái lời như nước vỡ bờ vàng bạc chảy vào nhà xối xả, tiền bạc đếm không nổi phải đếm bằng máy. Với địa vị Tổng Giám Đốc điều hành công ty mẹ công ty con, không những trong nước mà còn ngoài nước.

- Mỗi lần vào dịp gia đình cúng giỗ anh em nhà Tận, Dụng, gặp nhau Dụng mặt mày lúc nào cũng sáng rỡ, còn Tận mặt mày luôn ủ rũ. Dụng nhìn Tận rồi nói em bao giờ cũng thua anh, nhất là về bằng khen, những tấm huy chương, treo bên bàn thờ kín chỗ. nội nhìn không cũng thấy no, người yếu bóng vía nhìn thấy thời xây xẩm mặt mày, Tận nghe xong làm thinh chẳng nói gì.

Ông chú họ thấy anh em Tận và Dụng ngồi nói chuyện cũng vui, bằng xen vào nói. Ở đời Luật Gì cũng có chỗ hở để né tránh. Nhưng Luật Nhân Quả báo ứng, thời không ai có thể né tránh được dù cho một mảy lông cũng không lọt đã gieo thời phải nhận, đã vay thời phải trả.

Theo Luật báo ứng, đời Cha ăn mặn đời con khát nước, đời Cha ăn ở có đức, đời con không sức mà ăn.

Ông Chú Họ, liền kể ở kề nhà Chú có một người phụ nữ tên Ngao ăn chay trường, phải nói là rất nghèo nhưng ai cũng thương vì Bà Ngao thường hay giúp người. Sống bằng nghề làm đậu hủ đem ra chợ bán kiếm sống qua ngày dư chút ít thời nuôi con ăn học. Xung quanh nhà bà Ngao toàn là những tay có máu mặt giàu có nên rất coi thường bà. Biết thân phận nghèo Bà Ngao sống lủi thủi.

Những gia đình ở xung quanh nhà bà, đời Cha thời làm ăn ra phết, nhưng đến đời con toàn là ăn chơi trác tán chẳng ra đình đám gì, may lắm cũng chỉ đi làm thuê cho người ta.

Còn con Bà Ngao vào thành phố có lẽ nhờ Âm Đức của bà học hành đỗ đạt cao, khi ra trường không cần chạy chọt xin việc làm. Cũng làm chỗ được như ý, nay hai đứa con Bà Ngao tự mở công ty riêng không bao lâu trở thành tỉ phú. Mỗi lần hai đứa con Bà Ngao trở về thăm nhà, những gia đình xung quanh đều cúi mặt không dám ngó, vì thua kém quá xa. Trước đây ba hoa bao nhiêu thời giờ đây miệng câm như hến, đi theo xách dép người ta không cho nói gì lên mặt. Đúng với câu cười người hôm trước hôm sau người cười. Chê người ta nghèo nào hay đâu bể dâu thay đổi. Con cái Bà Ngao giàu nhanh như thổi, còn con cái nhà mình thời hư hỏng thậm chí còn đi ăn giựt người ta. Đúng với câu.

Khen ai thiện đức khéo tu

Đời sau con cháu võng dù nghênh ngang

Dẫu rằng để của bằng non

Không bằng để đức cho con ở đời

Đời Cha ăn mặn, đời con khát nước lạ gì

Tấm gương để lại cho đời soi chung

Ông Tận ngồi lắng nghe mà thấm thía khi hiểu ra thời cũng đã quá muộn ai lai ác báo nào có đâu sai. Nhìn ba người con đứa thời khùng khùng điên điên mách mách, đứa thời xì ke ma tuý đang cai nghiện, đứa thời bài bạc thiếu nợ đến bạc tỉ khổ cho đến chết hết đời mình còn liên lụy đến đời con, đời cháu, Tận nhìn Dụng rồi nói phải chi ba đứa con tôi chỉ cần được một phần mười của ba đứa con Chú Ba Dụng thời vui biết mấy. Nói xong Tận thở dài ngao ngán.
 
99. CÂU CHUYỆN ĐỘ NGƯỜI

Ngày xửa ngày xưa trên Thiên Đình có vị Đà La Thiên Tiên, thần thông pháp thuật vô biên, thấy có nhiều vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa xuống trần, độ người dễ quá. Có nhiều vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa làm đến vua trời cõi nước trang nghiêm xinh đẹp thiên chúng đông vô số vô biên.

Bằng nghĩ rằng: Sao Ta không xuống trần gian độ người cũng như thành lập cõi nước trời danh vang vũ trụ.

– Vị Đà La Thiên Tiên lại nghĩ đầu thai xuống trần thời quên hết tiền kiếp của mình, không còn thần thông trở thành người thường phàm tục, không may lạc vào con đường ác đạo hết mong trở lại cõi trời. Chi bằng Ta trực diện xuống trần chẳng cần đầu thai chi cả tìm một nơi thanh vắng để ở, không vướng bận tục trần, khi nào trở lại cõi trời thời trở lại dễ dàng, có phải là hay hơn không, cần gì đầu thai trực diện xuống trần xuống trần độ người. Sao các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không chọn con đường nầy mà chọn con đường đầu thai.

– Vị Đà La Thiên Tiên mở con mắt thứ ba nhìn xuống trần gian xem dân chúng nước nào dễ độ nhất, xem xét một hồi nhìn thấy nước Vân Nam phần đông có Đạo biết tôn thờ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa coi bề dễ độ hơn những nước khác.

– Vị Đà La Thiên Tiên liền bay xuống trần gian hạ chân xuống dãy núi Đại Hùng nơi có động Vu Sơn, nơi đây cảnh quang đẹp như tranh không khác gì Bồng Lai Tiên Cảnh.

Hành trình tiếp theo Vị Đà La Thiên Tiên xem nơi nào dân chúng dễ độ nhất thấy huyện An Tân dân chúng thường cầu bái Thần Linh. Vị Đa La Thiên Tiên bằng hiện thân đến đó dùng pháp thuật thần thông biến hóa dân chúng thấy thế thi nhau mà bái mà lạy.

– Dân chúng cho rằng Phật, Thánh, xuất hiện tiếng đồn vang xa dân chúng thi nhau mà đến càng ngày càng đông. Thi nhau mà cúng đủ thứ trên đời, đủ moi mọn món, chẳng thiếu món chi có người cúng cả heo, bò, dê, trâu, vàng bạc kim cương, trân châu, dâng lên cúng dường. Lớp trong lớp ngoài đông như kiến, thi nhau chen lấn người chật như nêm thành tâm quỳ lạy lễ bái, nhiều vô số kể.

Vị Đà La Thiên Tiên thấy thế nghĩ rằng độ người quá dễ, không như những gì mình nghe các vị Tổ thường thuyết giảng rằng độ người rất khó, chỉ cần độ được năm ba người phước đức vô cùng, danh tiếng lẫy lừng. Còn như Ta đây Vị Đà La Thiên Tiên nhìn người lễ lạy lớp lớp trùng trùng cứ như thế nầy không bao lâu Ta độ hết thiên hạ về trời.

– Vị Đà La Thiên Tiên liền thuyết giáo truyền dạy rằng trần gian chỉ là cõi tạm, các ngươi hãy theo Ta thời muốn gì được nấy, không đau, không bệnh, không già, không chết. Dân chúng nghe nói thế thi nhau mà lạy mà bái mà cúng, mà cầu.

Dâng lên cúng dường nải chuối, miệng cầu đủ thứ nào là cầu giàu sang, cầu khỏi bệnh, cầu con cháu thành đạt, cầu tai qua nạn khỏi, cầu trả được nợ, cầu tăng tuổi thọ, cầu đỗ đạt công danh, cầu siêu sanh lên trời. Cầu nuôi gia súc gia cầm chóng lớn, cầu mua may bán đắt, nói chung dân chúng kéo đến thi nhau lễ lạy thi nhau mà cầu.

– Để đáp ứng được nguyện vọng của thiên hạ bá tánh vị Đà La Thiên Tiên phải hóa thân nghìn muôn ức, mỗi hóa thân đều ra sức đáp ứng sự cầu, làm việc quên ăn bỏ ngủ mũi miệng tranh nhau mà thở cứu độ như thế được ba năm.

– Một hôm vị Đà La Thiên Tiên mở con mắt huệ thứ ba quán sát tất cả sanh chúng trong ba năm mình tận độ được bao nhiêu người thành tựu thiện đức, thành tựu trí huệ giác ngộ chân lý thoát khỏi Địa Phủ siêu sanh về Thiên Giới.

Thời hỡi ơi không thấy được một người thiện đức, tâm trí u tối, chẳng rõ thông chân lý, chỉ cầu mong được cái nầy thời cầu mong có cái kia. Đã được giàu sang thời cầu mong có quyền lực. Tiền bạc dư xài thời sanh ra tánh bài bạc. Số người đông như kiến không được một người siêu sanh về thiên giới, mà chỉ thấy họ đi sâu vào vọng cầu, khi được cái nầy thời cầu đến cái kia, lòng tham không đáy không biết bao nhiêu là đủ, cúng một nải chuối cầu mua được xe hơi làm nhà lầu, có nhà lầu xe hơi, thời cầu ăn món ngon vật lạ, nem rồng chả phụng lên mặt với đời.

Không thấy một người tu tâm dưỡng tánh, xa lánh tham vọng để tâm thanh tịnh, hội ngộ Lương Tâm, tội lỗi tiêu tan siêu sanh về trời. Phần nhiều hầu hết tu cầu tu cạnh cầu cho th.ân thể khỏe mạnh lao theo con đường trị lạc gái gú ăn chơi. Khi được giàu sang thời khoe khoang ăn tiêu xả láng. Tử sáng đến chiều miễn là tiền vô nhiều là được, khi lâm nạn thời tới cầu xin đủ thứ.

– Vị Đà La Thiên Tiên kinh hoảng tưởng đâu độ con người rất dễ, nào hay đâu ba năm luống sức phí công, nhìn thiên hạ lớp trong lớp ngoài mà phát ớn, họ đến đây không phải là tu tâm sửa tánh, mà là cầu đủ thứ theo lòng tham vọng của mình, biến Thần, Thánh, trở thành cộng cụ phục vụ cho lòng tham cầu mong đủ thứ mà thôi. Chán ôi là chán vị Đà La Thiên Tiên liền biến mất bay về trời. Xuống trần ba năm phục vụ tận tình đáp ứng lòng cầu mong của thiên hạ. Nhưng rốt cùng xem lại không những không độ được một ai, mà còn làm tăng thêm lòng Tà Vọng mong cầu vào người khác, bỏ rơi Phật Tánh, Chân Thánh của chính mình, lạc cội sai đường đi sâu vào mê tín dị đoan.

– Vị Đà La Thiên Tiên trở về trời định tỉnh Linh Hồn nghĩ lại trước đây lòng cao ngạo háo thắng, nghĩ mình trí huệ còn non kém mà tưởng mình đã đạt đến cảnh giới vi diệu thậm thâm. Vị Đà La Thiên Tiên liền bay lên trung thiên giới cầu gặp Đức Chí Tôn. Thấy Đức Chí Tôn ngồi trên tòa Thái Cực bảy báu, có Ngũ Long, Ngũ Phụng đang chầu hào quang trùng trùng trông đẹp mắt lạ lùng.

Trước vẻ uy nghi của Đức Chí Tôn. Vị Đà La Thiên Tiên bằng chắp tay thưa rằng, con đã xuống trần ba năm, thiên hạ theo về trùng trùng, đổ công sức vì nhân loại gian khổ ba năm phục vụ hết mình, nhưng khi kiểm tra lại không độ được một người là tại làm sao? Xin Đức Chí Tôn chỉ dạy cho.

– Đức Chí Tôn nói rằng: Nầy Ông Đà La Thiên Tiên muốn độ người trần gian, không nên thị hiện phép tắc thần thông. Mà phải đầu thai trở thành một người thường dân, cũng đau, cũng bệnh, cũng bị người ta hại, trải qua bao kiếp nạn của con người, lội ngược dòng chảy hồng trần, hi sinh tất cả, chịu đựng sự phỉ nhục, khen, chê, ở đời, chịu đựng sự khảo đảo của Ma Vương và Đại Quỉ. nói chung là bị thử thách và khảo đảo. Nhưng vượt qua tất cả, thiên hạ nhìn thấy nể phục thời coi như đã độ được một nửa thiên hạ.

Còn một nữa kia thời phải lập ra nhiều phương tiện. tức là giáo lý chánh pháp. Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Giới Đức. Tâm nhân loại có nhiều thứ bệnh, Thời phải lập ra nhiều thứ thuốc, bệnh nào thuốc nấy có làm được như thế thời độ nhân loại chẳng khó gì. Bệnh Tâm là bệnh vô vi. Thời phải Lấy Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Giới Đức mà độ. Bệnh hay cầu cạnh mà quên Phật Tánh, Thánh Tánh của mình. Thời phải có kinh thơ chỉ đường soi sáng. Bệnh hay nương nhờ vào người khác đánh mất căn bản tự chủ của mình. Thời phải có kinh giáo soi đường thức tỉnh biết Tánh tự tu, biết Tâm tự độ khai mở trí tuệ, thời mới mong độ được thiên hạ con người siêu sanh về trời. Tâm thanh Tịnh là tự độ mình. Độ nhân loại mà không làm cho Tâm nhân loại thanh tịnh. Lại làm cho Tâm nhân loại vọng động mong cầu tham dục bất chính càng lớn. Cầu mong cái nầy chưa xong đã sang qua cầu mong cái khác. Đáp ứng sự cầu mong tham dục là tiệt đường siêu thoát, đừng nói là ba năm dù trải qua một trăm năm cũng không độ được một người.

Vị Đà La Thiên Tiên nghe lời giảng dạy của Đức Chí Tôn liền chứng quả Vô Thượng Trí Huệ. An Trụ Pháp Nhẫn, Nguyện sanh xuống chốn trần gian tu hành dẫn dắt con người trở về thiên giới, như những gì Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đã từng làm.
 
100. LÝ TRỌNG

Ngày xửa ngày xưa nơi cõi trần gian có một đất nước Tây Quản. Ở làng Mỹ Đức, Hồ Châu. Có một người tên là Lý Trọng, tánh tình cao ngạo không tin Nhân Quả, xem thường Tôn Giáo, Đạo Giáo, thường kể tiếu lâm nhạo bán thầy tu, sát sanh hại mạng, gà, vịt, dê, heo vô số kể, làm ăn ra của phải nói là giàu.

– Lý Trọng năm sáu mươi tuổi, một hôm lâm cơn bệnh nặng liền thấy hai con quỉ đến bắt hồn dẫn đi. Đeo vào cổ Lý Trọng đinh bài ác phạm tội đồ. Đưa hồn Lý Trọng xuống Âm Ti Địa Phủ tần thứ nhất. Sau đó thời giải đến pháp tòa. Nhất Điện Diêm Vương nhìn đinh bài đeo trên cổ Lý Trọng để bốn chữ Ác Phạm Tội Đồ. Bằng nói người nầy quả là hung ác, nhất là ác nghiệp phỉ bán các Tôn Giáo Đạo Giáo. Nhất Điện Diêm Vương hỏi ngươi có nhớ là phỉ báng Tôn Giáo, Đạo Giáo, khinh thường người tu tôn thờ Tôn Giáo Đạo Giáo bao nhiêu lần không? cũng như sát sanh hại mạng giết bao nhiêu gà, vịt, lợn, dê, chó? Lý Trọng nói tôi không nhớ rõ.

– Diêm Vương nhìn người bên trái nói Thẩm Phán Thẩm Tra người nầy phỉ báng Tôn Giáo, Đạo Giáo, cũng khinh thường người tôn thờ Tôn Giáo, Đạo Giáo bao nhiêu lần, cũng như sát hại sanh mạng gia cầm gia súc bao nhiêu mạng.

Thẩm Phán Thẩm Tra xem một hồi rồi nói tên nầy đã giết 9 nghìn 9 trăm 50 mạng. Nhạo báng Tôn Giáo, Đạo Giáo, khinh thường người tôn thờ Tôn Giáo, Đạo Giáo. 10 nghìn 200 trăm 60 lần. Nhất Diện Diêm Vương quay sang nhìn người bên phải hỏi, tội nầy thời xử ra sao? Phán Quan Luận Án phán Tội nói.

Thưa Diêm Vương tội nầy phải hành xử qua nhiều ngục.

1, Ngục đâm chém

2, Ngục chảo đồng

3, Ngục cối xay sắt

4, Ngục gà mổ heo xơi

5 Ngục chặt khúc

6, Ngục bỏ vào ao giá

7, Ngục bị cung tên bắn

8, Ngục xẻ thịt phân thây

9, Ngục rút gân đục sườn

10, Ngục lột da nạo mặt

11, Ngục moi gan móc tim

12, Ngục móc mắt cắt lưỡi

13, Ngục cưa xẻ

14, Ngục quết nem

15, Ngục xối nước sôi

16, Ngục ngậm lửa

17, Ngục nướng quay

18, Ngục kéo lưỡi ra cày

Nhất Điện Diêm Vương nghe Phán Quan đọc bản án lấy làm gục đầu nói y án.

Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa dẫn Lý Trọng đến nơi hành hình Địa Ngục đâm chém. Lý Trọng kinh hồn bạc vía nhìn thấy những tội nhân bị hành hình máu tuôn lênh láng, tiếng la ré đau đớn khiếp đảm kinh hoàng. lũ quỉ mặt mày hung dữ con thời cầm đao, con thời cầm mác, con thời cầm lê thi nhau đâm rối xả vào linh hồn nạn nhân, Lý Trọng như muốn ngất đi vì quá sợ hãi.

Hai con quỉ dạ xoa vừa nhìn thấy Lý Trọng bị quỉ đầu trâu quỉ mặt ngựa dẫn vào ngục, thời lao tới tóm cổ lôi đi, nhiều con quỉ khác cầm đao chạy tới lâm le đao búa lê mác thấy mà khiếp vía. Lý Trọng như muốn chết ngất, nhưng lũ quỉ nào có tha chúng trói chặt Lý Trọng rồi đâm cho mấy nhác. Nhưng kỳ lạ thay đâm không thủng lũ quỉ ngơ ngác rồi đâm tiếp mấy nhác nữa cũng đâm không thủng lũ quỉ gào thét ầm ỉ thi nhau mà chém mà đâm mà lụi, đao mác gãy lìa. Lý Trọng cũng quá bất ngờ không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Lũ Quỉ kinh hồn liền nói thằng nầy có pháp thuật không thể đâm chém được hãy dẫn qua bên Ngục chảo đồng nấu nhừ.

– Hai con quỉ lôi đầu Lý Trọng qua ngục nấu nhừ, mới bước vào ngục Lý Trọng đã nghe dầu sôi sùng sục, tiếng la ré hãi hùng của những linh hồn sắp bị quăn vào chảo dầu, hai con quỉ lôi đầu Ly Trọng đến một chảo dầu đang sôi sùng sục con quỉ nầy nói với con quỉ kia quăng nó vào chảo dầu đi, thế là Lý Trọng bị chúng quăn vào chảo dầu, nhưng lạ thay Lý Trọng không nghe đau đớn hay nóng gì, trong khi dầu đang sôi sùng sục, mà chỉ thấy mát lạnh trong người, hai con quỉ thấy Lý Trọng không hề hấn gì ngâm mình trong chảo dầu đang sôi sùng sục, thời lấy làm kinh dị, hai con quỉ lấy quạt lửa ra quạt, lửa bùng lên dữ dội phủ kín cả chảo dầu. Dầu sôi càng dữ dội, nhưng Lý Trọng vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì đã xảy ra.

Mấy con quỉ kinh hãi la lớn thằng nầy không thể nấu nhừ hay chiêng ráng gì được mà phải đưa đến cối xay để xay. Chúng lôi Lý Trọng ra khỏi chảo dầu ì ạch thằng nầy sao giờ đây nặng thế không lẽ dầu đã thấm hết vô trong mình nó. Bọn quỉ không lôi cổ Lý Trọng được nửa đành phải khiêng Lý Trọng đi. Vừa đến ngục cối xay Lý Trọng nghe cối xay sắt xay ồ ồ pha lẫn tiếng thét hãi hùng đau đớn của những linh hồn đang bị xay máu chảy lênh láng nhìn thấy mà phát khiếp.

Lũ quỉ nhanh chóng bỏ Lý Trọng vào cối xay, chỉ thấy cối xay, xay mãi mà không xay được Lý Trọng, Lý Trọng vẫn sờ sờ không hề hần gì, bọn quỉ kinh sợ nói người nầy vô cùng quái dị không xay được. Bằng bàn tính với nhau người nầy xay không được, nấu dầu không chết, đao kiếm đâm không thủng thôi thì quăn người nầy xuống địa ngục lạnh giá, thế là lũ quỉ khiêng Lý Trọng đến ngục lạnh giá chưa đến ngục giá lạnh, mà hơi lạnh đã thấu xương. Lý Trọng bị lũ quỉ quăn vào ngục giá lạnh, Lý Trọng nhìn thấy những linh hồn bị lạnh quá nức da tét thịt đau đớn rên la chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Lý Trọng ở trong ngục giá lạnh như ở trong hồ nước mát không hề hấn gì. Lũ quỉ thấy vậy liền khiêng Lý Trọng qua địa ngục tên bắn.

Chưa đi đến ngục mà đã nghe tiếng xé gió vù vù tiếng thét hãi hùng gào lên thê thảm những linh hồn đang bị tên bắn. Lý Trọng bị lũ quỉ liệng vào ngục tên bắn thời không khỏi hãi hùng khi nhìn thấy những linh hồn thân đầu trúng đầy tên, tay chân không có chỗ nào là không bị trúng tên linh hồn phạm nhân rên la đau đớn.

Lũ quỉ cai ngục tên bắn, vừa nhìn thấy Lý Trọng thời thi nhau nã tên nhưng tên không trúng người Lý Trọng, lũ quỉ càng tức giận bắn hơn nữa bắn mỏi tay cũng không làm rụng mảy lông Lý Trọng. Lũ quỉ sợ quá không bắn nữa cột trói Lý Trọng nằm đó. Chúng bàn với nhau đưa Lý Trong qua ngục phân thây. Lũ quỉ ở ngục nầy rất hăng thấy người là thi nhau chém tới. Con thời chặt chân, con thời chặt tay, xúm nhau phân thây Lý Trọng nhưng chúng không làm gì được tay chân Lý Trọng cứng hơn sắt, dao cắt không đứt cứng hơn da đồng.

Lũ quỉ mệt nhừ cũng không làm gì được Lý Trọng. Lũ quỉ nói thằng nầy khi còn ở nhân gian ăn thứ gì là d.a thịt cứng như thế. Lũ quỉ bằng khiêng Lý Trọng qua ngục rít gân đục sườn. Chúng cột trói Lý Trọng vào cột đồng. ra sức rút gân đục sườn, tiếng đục rền vang địa ngục, nhưng d.a thịt Lý Trọng vẫn trơ trơ như đá. Lũ Quỉ rút gân không được đục sườn không xong. Lũ quỉ la lên thằng nầy có phép biến thành mình đồng da sắt không làm chi được. Bằng đưa qua ngục moi tim lột da. Lũ quỉ dạ xoa ở đây nghe nói Linh Hồn Lý Trong d.a thịt cứng lắm không làm chi được, bằng tâu lên bọn đầu trâu mặt ngựa đưa những dụng tốt nhất moi tim lột da. Lũ quỉ ra sức mổ bụng moi tim nhưng mổ mãi không thành, chúng ra sức lột da lột mãi không được. Quỉ đầu trâu mặt ngựa chứng kiến cảnh ấy vô cùng kinh dị lấy làm lạ, lại nghe lũ quỉ dạ xoa nói không có ngục nào hành xử được liền sinh nghi người nầy tu pháp môn gì mà thần thông quảng đại như vậy. Bằng tâu lên Nhất Điện Diêm Vương.

Diêm Vương nói con ma Lý Trọng ghê gớm như vậy sao. những đao kiếm thường hành hình không được, thời phải dùng đến Thần Kiếm, Thần Đao, bằng cho người lấy Thần Kiếm Thần Đạo đưa cho quỉ đầu trâu, mặt ngựa, hành xử Lý Trọng.

– Nói về Lý Trọng không hiểu tại sao mình lại có Thần Thông kỳ lạ như vậy, nên không còn sợ hành hình nữa. Nhìn thấy quỉ đầu trâu mặt ngựa dẫn theo sau lũ quỉ dạ xoa những con quỉ đã từng hành hình mình, như không làm gì được. Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa ra lệnh trói Lý Trọng vào cột đồng. Quỉ đầu trâu mặt ngựa nhìn Lý Trọng rồi nói đã xuống địa phủ dù cho phép tắc đến đâu cũng bị hành hình.

Quỉ đầu trâu rút Thần Đao ra, ánh sáng Thần Đao tỏa ra ghê rợn. Lý Trọng vô cùng kinh sợ liền nhớ đến bốn chữ Nam Mô- A Men ánh đao chớp lên chém xuống ken một tiếng kinh thiên động địa Thần Đao như muốn gãy lìa. Quỉ đầu trâu khiếp vía. Quỉ mặt ngựa thấy vậy cũng kinh hoảng bằng rút Thần Kiếm ra phóng kiếm lên không niệm chú, tức thời Thần Kiếm tỏa ra muôn đạo hào quang từ trên không lao xuống Lý Trọng sợ quá miệng lền niệm Nam Mô- A Men Thần kiến lao xuống tới đỉnh đầu thời không lao xuống được nữa nổ lên một tiếng như sấm sét mất hết hào quang rơi xuống đất. Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa cùng lũ quỉ da xoa khiếp vía ngơ ngác đứng nhìn Lý Trọng.

– Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa báo lên Nhất Điện Diêm Vương. Nhất Điện Diêm Vương nghe xong cũng tái mặt, chuyện gì đã xảy ra. Đã sử dụng đến Đao Thần, Kiếm Thần mà cũng không làm chi được, thời biết làm sao đây, con ma nầy đã ra ngoài càn khôn rồi trường sanh bất tử, biết làm sao đây.

– Bằng nói đưa Lý Trọng đến đây không hành xử nữa, quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa dẫn Lý Trọng đến trước pháp tòa. Nhất Điện Diêm Vương hỏi, nầy Lý Trọng ngoài tội xem thường các Đạo Giáo, Tôn Giáo, kìa cói nhạo báng người tu, cũng như sát sanh hại mạng, ngươi còn tu pháp môn gì mà kỳ quái như thế. Lý Trọng nói tôi không theo đạo nào cả chỉ tôn thờ Ông Bà Cha Mẹ mà thôi.

Nhất Điện Diêm Vương bằng cho người gọi Thẩm Phán sổ bộ đến phán rằng Ông xem kỷ lại hồ sơ tên nầy ở trần gian tu pháp môn gì mà địa ngục hành hình không được.

– Thẩm Phán sổ bộ xem xét lại từ đầu đến cuối pháp hiện Lý Trọng thường hay niệm Nam Mô- A Men. Bằng tâu thưa Diêm Vương người nầy khi ở trần gian thường hay niệm Nam Mô- A Men. Chỉ có thế thôi không tu theo đạo nào cả. Diêm Vương nghe nói đến bốn chữ Nam Mô, A Men thời kinh hãi nói đây là bài vị Thờ Trời.

– Diêm Vương nói thảo nào mà Thần Đao, Thần Kiếm chém không được. Dù cho Thiên Tiên, Địa Tiên cũng không hành hình nổi, huống chi là Địa Phủ của chúng Ta.

– Diêm Vương nói Nam Mô- A Men chính là bài vị Thờ Trời. Linh Chú của Thiên Ấn. Nay đã in sâu trong đầu Lý Trọng, thời khó mà hành hình cho được. Để Ta cầu lên Đức Chí Tôn giải quyết vụ nầy.

Vào điện thờ Trời Diêm Vương chắp tay cầu lên Cha Trời, cầu lên Đức Chí Tôn. Xin chỉ thị ý kiến.

Từ nơi hư không vọng xuống, hãy cho Lý Trọng sống thêm mười năm trở về trần gian ăn năng sám hối.

Diêm Vương từ Điện Thờ trở ra nói với Lý Trọng, theo lệnh của Trời Ta cho ngươi sống thêm mười năm nữa. Để ngươi ăn năng sám hối, ngươi không theo Tôn Giáo, Đạo Giáo thời thôi đó là quyền của ngươi điều đó không có gì là tội, nhưng không được nhạo báng Tôn Giáo, Đạo Giáo cũng như Thầy Tu, không được lạm sát hại mạng. Nếu biết tu theo Văn Hóa Cội Nguồn thời ngươi sẽ siêu sanh về trời, không còn trở lại nơi địa phủ nữa. Còn nếu ngươi tiếp tục con đường như trước đây, thời Đức Chí Tôn sẽ thâu bốn chữ Nam Mô- A Men trong đầu người. Quỉ Vô Thường sẽ bắt hồn ngươi xuống Địa Phủ hành hình. Diêm Vương nói xong liền sai quỷ vô thường đưa hồn Lý Trọng trở về trần gian nhập xác.

– Nói về gia đình con cái của Lý Trọng thấy cha đã mê sản hơn bảy ngày, ngày nào cũng rước thầy đến tụng kinh, nhảy múa bắt ấn, niệm chú, phù lửa, phun nước. Lý Trọng được quỉ đưa hồn về trần gian nhập xác liền mở mắt ra ngồi dậy nhìn thấy các Thầy đang nhảy múa phù phép gọi hồn liền nói làm ba cái trò nầy mà cứu được Ta sao?

– Các thầy đang nhảy múa nghe lý Trọng nói thế không bằng lòng cho lắm. Gia đình con cái nói nhờ các thầy đây ngày đêm phù phép gọi hồn nên Cha mới còn sống. Lý Trọng nói nơi địa ngục thiếu cha gì những vị Thầy như các Thầy đây bị quỉ hành hình đau đớn vô cùng rên la thảm thiết. Bằng kể lại tất cả những gì mình đã trải qua nơi Âm Phủ, cho gia đình cũng như các Thầy nghe. Lý Trọng nói Cha chỉ sống được thêm mười năm, trong mười năm còn lại Cha sẽ làm lành lánh dữ, không sát hại sanh mạng nữa. Nguyện tu hành theo Văn Hóa Cội Nguồn. Từ đó Lý Trọng đem tiền của giúp cho người nghèo, không con kìa cói nhạo bán các Tôn Giáo, Đạo Giáo nữa. Vì đã hiểu rõ Đạo nào cũng làm lành lánh dữ. Cùng một tôn chỉ với nhau. Là cầu mong siêu sanh về Thiên Giới. Thoát khỏi tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.

Nam Mô Vô Tận Hư Không

A Men Như Ý liên thông đất trời

Chú Linh đệ nhất trên đời

Ấn Linh Pháp Chú không gì cao hơn

Nam Mô như ý A Men

Bài vị Linh Chú Anh Linh Thờ Trời

Chỉ cần đọc tụng một lần

Vượt qua kiếp nạn muôn trùng khó chi
 
101. NÀNG TIÊN THỨ CHÍN

Ngày xửa ngày xưa ở trên Non Tiên Thiện Kiến có gia đình Thiên Nga tu luyện thành người ( Trở thành Phi Tiên) Nga Vương có tất cả là chín người con gái duy chỉ có Út Nga là xinh đẹp hơn cả.

Út Nga một hôm đi chơi liền gặp một chàng trai khôi ngô tuấn tú chính là Công Tôn loài Công tu luyện thành người, thường tới lui kỳ quan, bảo tháp nghe kinh, nên Công Tôn ăn nói lưu loát Út Nga liền đem lòng thương yêu. Công Tôn cũng say đắm Út Nga. Thế là hai người lén lút bên nhau lâu ngày tới tai Nga Vương.

Nga Vương vô cùng tức giận, vì Nga Vương không thích loài Công nên quát mắng Út Nga nói rằng con không được qua lại với thằng khốn đó Út Nga bị cấm cố ở nhà. Công Tôn vì thương nhớ Út Nga muốn phát điên đành liều mạng đến nhà Út Nga.

– Nga Vương nhìn thấy Công Tôn tức quá hét lớn tao sẽ đánh chết mầy, thằng khốn dụ dỗ con gái tao. Công Tôn chỉ biết làm thinh không dám cãi lại hay chống trả bị Nga Vương đánh chết. Linh Hồn lưu lạc đến trần gian đầu thai vào một gia đình nghèo Ông Bà Gia Tự, ra đời với cái tên là Gia Đông ở gần Thị Trấn Cam Lông.

– Ông Bà Gia Tự tuy nghèo nhưng vẫn cho con đi học. Gia Đông học rất giỏi. Năm Gia Đông lên 16 tuổi không may Cha Mẹ qua đời Gia Đông trở thành mồ côi cha mẹ, một mình vào rừng đốn củi để sanh sống không ngờ lạc lối chẳng biết đường ra đi mãi đi mãi trước mắt hiện ra một suối tiên cảnh quang nơi đây đẹp như tranh vẽ, hoa nở khắp nơi.

Cảnh quang xinh đẹp biết bao là

Muôn sắc vạn màu, đủ thứ hoa

Suối trong in bóng, mây lơ lửng

Rừng xanh rộn tiếng, bởi chim ca

Bức tranh tạo hóa, như tranh vẽ

Bồng lai tiên cảnh, đã hiện ra

Lạc bước đi vào, nơi tiên cõi

Cũng thật là gần, nào có xa

Gia Đông đang say sưa ngắm cảnh bất ngờ từ trên trời bay xuống một đàn Thiên Nga. Gia Đông vội ẩn mình trong một khóm hoa. Đàn Thiên Nga đậu xuống bờ suối hiện ra chín nàng Tiên lần lượt cởi xiêm y để tắm. Người nào người nấy da trắng tựa bông, vóc dáng lưng eo ngực nở đầy mông. Gia Đông say sưa nhìn nàng Tiên thứ 9.

Nàng Tiên thứ 9 bắt gặp đôi mắt trong bụi hoa say sưa nhìn nàng. Các nàng Tiên tắm xong mặc xiêm y bay về trời, Gia Đông nhìn theo mãi như người mất hồn. Gia Đông không về nhà mà ở lại nơi đây trông chờ nàng Tiên thứ 9 xuất hiện.

– Nói về Út Nga cùng tám chị em bay trở lại Non Tiên Cực Lạc. Út Nga nhớ lại người lén nhìn mình ánh mắt vô cùng quen thuộc phải nói là rất quen. Út Nga nghĩ không lẽ là chàng Linh Hồn lưu lạc đến trần gian đầu thai làm người trần thế. Nàng liền bay trở lại trần gian đến suối Tiên, ở trên mây Út Nga nhìn thấy một chàng trai từ nơi suối Tiên ngâm bài thơ rồi bỏ đi.

Tháng năm thương nhớ một người

Bóng hình vời vợi đất trời xa xăm

Duyên tình sao quá mong manh

Dẫu bao thương nhớ cũng đành chia xa

Thương người nghĩ lại thương Ta

Đợi Chờ, chờ đợi tháng năm đợi chờ

Cố quên để hết nỗi sầu

Nhưng nào có được cạn bầu tâm tư

Tình xưa nàng đã lãng quên

Nàng không trở lại đợi trông ê chề

Thôi thì trở lại quê nhà

Quạnh hiu, hiu quạnh một mình cô đơn

Út Nga nào có biết chàng trai kia đã chờ đợi một năm trời. Vì trên Non Tiên Cực Lạc một ngày, thời ở nhân gian đã trải qua một năm. Út Nga nghe những lời thơ đau nhói trái tim nàng như muốn bật khóc.

Nói về Gia Đông chờ đợi nàng Tiên thứ chín ăn trái cây uống nước suối ròng rã một năm không thấy đàn Thiên Nga bay trở lại liền tìm đường trở về nhà. Út Nga bay theo sau nhìn thấy chàng trai đi vào ngôi nhà sụp xệ. Út Nga nghĩ chàng nghèo đến thế sao.

Trời đã vào xuân nơi đền thờ thường hay lễ hội, nam thanh nữ tú đi lễ đền thờ rất đông. Gia Đông cũng không ngoại lệ đi lễ hội đền thờ, đễ quên đi niềm thương nỗi nhớ một nàng Tiên. Gia Đông vui chơi cho đến mãi tận chiều, bằng ngồi nghỉ dưới gốc cây gần đền. Lúc nầy người đã thưa thớt không còn mấy người. Gia Đông bỗng nghe một giọng ngâm trong trẻo

Yêu nhau từ thuở trên trời

Tưởng đâu hạnh phúc nào ngờ xa nhau

Đôi bờ cách trở biết bao

Kẻ nơi Tiên cảnh người vào trần gian

Duyên tình chưa dứt còn xanh

Cho chàng cùng thiếp bên nhau vẹn tình

Trời xanh chỉ lối đưa đường

Giờ Ta gặp lại chúng mình thành đôi

Gia Đông nghe những lời nầy thời xao động cả con tim đang lúc ngơ ngác tìm kiếm người ngâm thơ. Thời thấy một người con gái đẹp tuyệt trần từ trong đền thờ đi ra. Gia Đông nhận ra ngay chính là nàng Tiên thứ 9 trong lòng liền rộn lên bao niềm sung sướng. Người con gái xinh đẹp tuyệt trần đến bên Gia Đông thỏ thẻ. Thiếp là nàng Tiên thứ 9 trở lại trần gian để gặp chàng. Gia Đông nghe xong lòng như nở hoa, hai người vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ, khi sắp đến con đường trở về nhà. Bỗng nàng Tiên thứ 9 biến đi đâu mất. Gia Đông tìm kiếm một lúc ngẩn ngơ ngơ ngẩn tìm mãi cho đến tối mới trở về nhà.

– Gia Đông đẩy cửa bước vào thời thấy mâm cơm dọn sẵn, nhiều món ăn ngon Gia Đông vô cùng kinh ngạc, nghĩ mình có quen biết với ai đâu mà có người lo cho mâm cơm tử tế nầy. Gia Đông nhìn quanh nhưng nào có thấy ai.

– Bụng đói lại thấy những món ăn ngon, ngồi xuống ăn hết sạch, ăn xong thời ngoài hiên trời cũng đã tối đen cơn gió lạnh đã lùa vào song sổ. Gia Đông không ngủ được vì nhớ đến người con gái xinh đẹp chong đèn đọc sách đến sáng.

Gia Đông lại vào rừng đốn củi đem về đổi lấy bát gạo nắm rau khi về đến nhà thời thấy mâm cơm đã dọn sẵn.

– Một hôm trời mưa to gió lớn, Gia Đông nhìn thấy một con Thiên Nga ở ngoài sân lạnh lẽo run lập cập. Gia Đông vốn thích chim Thiên Nga liền ra bế con Thiên Nga vào lòng ôm vào nhà chăm sóc tử tế. Thương yêu nói từ nay Thiên Nga ở đây với Ta, Ta chỉ có một mình. Thiên Nga như hiểu tiếng người gục gục cái đầu, từ đó mỗi lần đi ngủ Gia Đông thường để Thiên Nga bên cạnh mình.

– Nói về Gia Đông suy nghĩ mãi không biết ai là người nấu cơm, xào rau, làm nhiều món ăn ngon dọn sẵn cho mình. Bằng nói với Thiên Nga. Thiên Nga ở nhà xem ai đã giúp Ta, khi Ta về thời chỉ cho Ta biết.

Gia Đông lại vào rừng đốn củi, đi được một đoạn xa liền quay trở lại núp sau nhà xem ai đã giúp mình bấy lâu nay.

– Gia Đông bỗng thấy một người tiên nữ phải nói là xinh đẹp, người ấy không ai khác hơn, chính là nàng Tiên thứ 9 đã gặp nơi đền thờ. Gia Đông theo dõi thấy nàng Tiên thứ 9 quét nhà, nấu ăn, thời lao vào nắm lấy tay nói nàng chính là Tiên Nga thứ 9 mà tôi thương nhớ bấy lâu nay. Út Nga nàng Tiên thứ 9 không rụt tay lại để cho Gia Đông nắm. Út Nga nói em chính là Thiên Nga ở Non Tiên Cực Lạc tu luyện thành Tiên. Em có yêu một người tên là Công Tôn loài công tu luyện thành tiên. Cha em là Nga Vương vốn ghét loài công, nên đánh chết Công Tôn. Linh Hồn Công Tôn lưu lạc đầu thai xuống trần chính là chàng mang tên là Gia Đông. Có lẽ vì nhân duyên chưa dứt nên Trời xui khiến cho hai ta gặp lại nhau. Gia Đông nghe xong không còn gì sung sướng hơn.

– Thế là hai người trở thành vợ chồng chung sống với nhau thật hạnh phúc. Út Nga hóa ra vàng, bạc châu báu, mua đủ thứ đồ dùng, sửa sang lại nhà cửa sạch đẹp khang trang. Hối thúc Gia Đông học hành mai sau tìm được công danh.

– Hai vợ chồng Gia Đông ăn ở với nhau được ba năm thời trên trời một đàn Thiên Nga bay xuống hiện ra tám người con gái vô cùng xinh đẹp. Út Nga vui mừng nói các chị đến thăm em, chị cả Nhất Nga nói em vắng mặt ba ngày trên Non Tiên Cực Lạc, Cha có hỏi mấy lần nhưng các chị đều dấu nói là em đang tu luyện pháp thuật thần thông. Em mau trở về Non Tiên Cực Lạc bằng không Cha sẽ đến đây thời mất mạng cả hai.

– Chị cả Nhất Nga nhìn Gia Đông nói, Gia Đông bây giờ là loài người không phải là Loài Công. Mà loài người là cốt cách Rồng Tiên. Nếu không mất Đạo làm người, khi mãn kiếp trần Gia Đông sẽ trở thành Chánh Tiên, không phải Phi Tiên như chị em chúng Ta. Nhất định Cha sẽ gả Út Nga cho Gia Đông nếu Gia Đông giữ được lòng chung thủy. Thời hai người sẽ gặp lại nhau trên Non Tiên Cực Lạc. Lúc ấy ngươi thành Chánh Tiên sẽ chê muội Út Nga của Ta, vì trên Non Tiên Cực Lạc thiếu gì Tiên Nữ xinh đẹp. Nói xong Chỉ Cả của Út Nga nắm lấy tay Út Nga bay về trời. Gia Đông chỉ biết nhìn theo mà rơi nước mắt.

– Gia Đông dồn hết nỗi buồn vào việc chuyên tâm học hành thi đỗ đậu cao được Vua Hùng Thái Lang bổ nhiệm về làm quan tri huyện Thuận An.

Gia Đông không màn đến vợ con mà họa hình Út Nga bầu bạn sớm hôm, hết lòng lo cho dân cho nước tu theo Đạo Nhân Luân.

– Làm quan được mười năm từ trong bức tranh Út Nga hiện ra nói Cha thiếp chấp nhận cho thiếp làm vợ của chàng

– Từ đó hai người sống với nhau sanh được bốn người con hai trai hai gái đều học thành tài đứa lớn đã được 16 tuổi.

– Gia Đông kêu các con lại nói trần gian chỉ là cõi tạm thiên đàng mới thật chính quê, quê hương chính của Cha Mẹ ở trên Non Tiên Cực Lạc. Gần 20 năm qua Cha đã tu thiền luyện khí kết tụ nhị xác thân. Còn xác thân phàm tục nầy Cha đã vay mượn nơi cõi trần, những gì vay mượn đều phải trả. Cha sẽ bỏ lại xác phàm trả lại cho trần cùng Mẹ con là Út Nga bay về quê hương Non Tiên Cực Lạc chung sống cùng nhau chờ các con lên.

Nói xong Gia Đông nhắm mắt xuôi tay linh hồn thoát ra khỏi thể xác hóa ra chàng trai khôi ngô tuấn tú hào quang sáng chói, các con Gia Đông nhìn thấy cũng phải kinh hãi cho sự việc xảy ra, còn Út Nga nhìn không chớp mắt. Gia Đông nắm lấy tay Út Nga nói trở về Non Tiên Cực Lạc thôi em. Út Nga nhìn bốn người con nói ráng tu theo Đạo Nhơn Luân. Cha Mẹ sẽ rước các con về Non Tiên Cực Lạc nói xong hai người bay lên trời. Có tám người đang đợi trên tần mây. Những người đợi trên mây là những chị em của Út Nga. Thấy Gia Đông khôi ngôi tuấn tú cốt cách Thần Tiên còn đẹp hơn Công Tôn ngày xưa. Ai nấy cũng trằm trồ ca tụng Út Nga có phúc quá.
 
102. ĐĨA MUỐI VÀ ĐĨA THỊT

Ngày xửa ngày xưa ở huyện Hòa Chánh, có một cô giáo dạy văn nổi tiếng tên là Mỹ Hạnh. Cô nổi tiếng là kể chuyện rất hay. Đến giờ lên lớp của cô Mỹ Hạnh học sinh im lặng lắng nghe. Cô Mỹ Hạnh mở trang sách ra xem một hồi, ngước lên nhìn cả lớp rồi nói, hôm nay các em học môn thay đổi nếp sống.

Để nắm bắt được nội dung bài học Cô sẽ kể câu chuyện làm thay đổi nếp sống mà không cần dùng đến bạo lực hay ép buộc gì cả, đó là mẫu chuyện đĩa muối và đĩa thịt. Cả lớp reo hò chúng em rất thích nghe Cô kể chuyện. Cô Giáo Mỹ Hạnh ra dấu hiệu im lặng.

Cô kể rằng ngày xửa ngày xưa có một gia đình Họ Bảo tên là Thủ Lĩnh đông con, có thể nói là rất đông, đông như đàn vịt. Vì đông con bửa nào ăn cơm cũng dọn lên đĩa muối để ăn. Không may Thủ Lĩnh qua đời quyền huynh thế phụ anh cả tên là Bảo Thủ lên thế cuộc sống không gì thay đổi bữa ăn nào cũng dọn lên cũng chỉ là đĩa muối. xưa cũng thế và nay cũng thế anh em nhà Thủ Lĩnh ra sức bảo vệ đĩa muối cho tới cùng. Ai nói gì cũng không nghe, biểu gì cũng không thay đổi, có người biểu vứt đi thay thế món khác thời anh em nhà Thủ Lĩnh chống trả quyết liệt.



Ngoài món muối ra anh em nhà Thủ Lĩnh không biết đến những món khác. Quanh năm suốt tháng cũng chỉ là muối.

Cô Mỹ Hạnh nhìn các em rồi nói, ở đời dù vật ngon cho mấy, nếu cứ món ấy ăn hoài thời cũng ngán tận xương.

Huống chi là đĩa muối mặn chát nếu ăn nhiều càng thêm khác nước, thế mà anh em nhà Thủ Lĩnh ngày nào cũng nuốt tuy ớn muối tới tận óc, nhưng cũng phải ăn nếu không ăn thời chết đói. Sống ở đời có thể nói chín người mười ý có một số anh em nhà Thủ Lĩnh nhìn sang nhà hàng xóm trước đây họ cũng ăn muối để sống, nhưng nay thời đã khác thấy họ ăn toàn cá thịt thời thèm lắm, nhưng không biết làm sao thay đổi món ăn vì đĩa thịt không có.

– Cho đến một hôm các em nhà Thủ Lĩnh bàn với người anh cả Bảo Thủ nên thay đổi món ăn khác. Anh cả nói món khác là món gì, đàn em nín thinh không nói. Người anh cả Bảo Thủ quát chúng bây muốn chết cả lũ sao ném đĩa muối đi thời chúng ta lấy gì để mà ăn. Tao cũng biết bữa nào cũng đĩa muối không ăn thời đói mà ăn thời ớn tận óc. Nhưng biết làm sao vì chưa tìm ra món ăn nào khác để thay thế. Nghe anh cả nói như vậy tất cả ngồi im lặng.

– Cứ thế mấy anh em nhà Thủ Lĩnh người nào chịu muối thời bụng phình to như con ễnh ương khác gì cái trống kêu to rỗng tuếch. Còn người nào dị ứng ớn quá nuốt không nổi thời ốm tong ốm teo, nhưng biết làm sao đành nhờ người hàng xóm can thiệp. Các nhà hàng xóm có dịp để khoe món ăn bằng phô trương nào là sơn hào hải vị, nem rồng, chả phụng để cho anh em nhà Thủ Lĩnh nhìn thấy mà thèm, nếu anh em nhà Thủ Lĩnh nghe lời họ bỏ đi đĩa muối thời họ sẽ cung cấp đĩa thịt cho ăn.

Tay anh cả Bảo Thủ nào phải tay ngu trí lúc nào cũng tính toán. Ở đời hễ miếng ớt trao qua thời miếng cà trao lại nào có ai đem đến cho không. Những thứ mình không làm ra chỉ biết nương nhờ vào tay hàng xóm thời làm sao thay cho đĩa muối lâu dài được.

Khi cá đã ăn câu nếu thuận theo ý họ, thời họ cho ăn nhỏ giọt, còn nếu thấy không có lợi cho họ, thời họ không chu cấp cho nữa, lúc ấy đĩa muối không còn lấy gì để sống. Tay anh cả vốn đã già kinh nghiệm nghĩ cái lợi thời ít, cái hại thời nhiều vì thế luôn khép kín chẳng muốn thay đổi cuộc sống. Anh cả Bảo Thủ nói anh em ta bốp bụng thôi cứ giữ đĩa muối để mà ăn, còn hơn ném đĩa muối để rồi chết đói trong khi chưa có món ăn khác để thay thế.

– Từ đó người nào có ý tưởng thay đổi đĩa muối thời bị đánh hoặc giam nhốt, la trời khóc đất oán hận người anh cả, những người xưa nay đã bị dị ứng với đĩa muối càng ráng nuốt ăn vào đầu óc liền có vấn đề sanh ra nhiều tật lắm bệnh nào là bệnh biến thái, bệnh tự chuyển biến, bệnh tự chuyển hóa, tự chống phá lại sự Bảo Thủ Độc Tài Độc Trị. Đòi Tự Do Công Bằng Bình Đẳng sống theo Đĩa Thịt. ai muốn ăn theo kiểu nào thời ăn. Không chịu sự bó buộc bảo thủ nữa.

Cô Giáo Mỹ Hạnh nói các em có biết không. Mối họa sinh ra là do một số anh em nhà Thủ Lĩnh không theo kịp thời đại, khi xung quanh nhà hàng xóm họ đã tiến hóa cuộc sống lên một tầm cao. Ăn toàn đĩa thịt thay cho đĩa muối giữ lại ít muối làm gia vị cho món ăn mà thôi. Với tình thấy nầy không nói cũng biết nhà anh em Thủ Lĩnh sắp tiêu ma tan rã đến nơi. Cơ nghiệp Ông Cha làm nên tiêu tan thành mây khói.

– Cũng may cho đại gia đình Thủ Lĩnh không quên Cội Nguồn. Nên Ông Cha nhìn thấy con cháu nheo nhóc, khốn khổ trăm bề lại mang nhiều chứng bệnh do thừa chất muối hầu hết là mang chứng bệnh mất trí không phân biệt được phải trái, chia bè rẽ phái đấu đá lẫn nhau. Cứ tình hình nầy không bao lâu tự hại nhau rồi chạy theo những nhà hàng xóm, cơ nghiệp Ông Cha gầy dựng theo đó cũng mất luôn.

Bằng hiện về đem đĩa thịt để trên bàn Anh Cả nhìn thấy liền hỏi ai đem đĩa thịt đến, một số người nói không ai đem đến cả mà do Ông Cha hiện về đem cho chúng Ta. Anh Cả vốn xưa nay cũng đã ngán ngẫm đỉa muối nhưng chẳng lấy gì thay thế.

– Nay nhìn thấy đĩa thịt bốc hơi thơm phức anh cả kêu các em đến nói đĩa thịt là của Ông Cha Ta đem đến cho chúng Ta, còn nói thêm rằng các con cứ tự nhiên mà dùng ăn hết đĩa nầy Ta đem đến đĩa khác. Các em nghe Anh Cả nói thế liền gắp cục thịt bỏ vào miệng thưởng thức, thấy vừa ngon vừa lạ, ăn vào khỏe cả người.

Anh Cả nói các em đem đĩa muối cất vào trong xó, lâu lâu đem ra dòm ngó mà thôi. Đàn em nói sao Anh Cả không cho vào sọt rác, thằng nào còn luyến tiếc thời chui vào sọt mà xơi.

– Anh Cả nói đĩa thịt của chúng Ta là của Ông Cha chúng Ta, không phải là của các nhà hàng xóm. Đĩa thịt hàng xóm toàn là thịt mỡ lộn với da. Còn đãi thịt của chúng Ta toàn là thịt nạc pha chút ba rọi. Đúng là đĩa thịt thời đại vừa cao cấp vừa văn minh. Từ đó anh em nhà Thủ Lĩnh thay đổi chiều hướng đa phương hóa Đa Nguyên tự do công bằng bình đẳng. Thằng nào thích thèm đĩa muối ăn vào bị xơ cứng thời tống cổ nó ra khỏi nhà quan nhà quyền, cho về vườn nuôi gà nuôi lợn. Trị cái tội mù mờ khù khờ thiên đàng sung sướng không đi, địa ngục âm ti khổ cực lao đầu vào.

Gia đình nhà Thủ Lĩnh Độc Tài Độc Trị, từ đó trở thành Nhà Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền lần lần sánh vai cùng với những nhà hàng xóm giàu có. Tự mình làm ra đĩa thịt thừa dư ăn còn xuất sang các nhà hàng xóm.

– Cô Giáo Mỹ Hạnh kể đến đây nhìn các em xem phản ứng ra sao. Thấy một số em lặng im, một số em chưa hiểu như muốn hỏi gì đó. Cô Giáo Mỹ Hạnh liền giải thích thêm câu chuyện làm thay đổi nếp sống mà không cần bắt buộc ai cả. Cô nói ví như người có chiếc xe đạp trành chạy cà rịch cà tang, đạp nặng muốn chết. Nhưng biểu người ấy bỏ chiếc xe đạp đi thời người ấy không bao giờ chịu bỏ. Nhưng chỉ cần đem xe hon da đến tặng cho, thời người có xe đạp trành tự vứt xe đạp trành vào xó, không ai nhìn thấy nữa là khác. Câu chuyện trên cũng vậy muốn cho gia đình Thủ Lĩnh bỏ đi đĩa muối thay đổi nếp sống văn minh. Thời phải có đĩa thịt đem đến trao cho họ để họ tự làm chủ đĩa thịt. Không cần biểu họ bỏ đĩa muối, họ cũng bỏ, bỏ một cách êm thấm khi đã có đĩa thịt.

– Làm thay đổi một nếp sống con người, hay làm thay đổi chiều hướng của một chế độ. Không cần ép buộc phải thay đổi. Chỉ cần đem lại nếp sống Văn Minh cho họ, thời tự chính họ thay đổi. Với phương pháp ấy còn gọi là Bất Chiến Tự Nhiên Thành.
 
103. HUYỀN CƠ THÁNH ĐỨC

Đứng trên mục giảng Thầy Giáo Liêm nói.

Câu Chuyện Huyền Cơ Thánh Đức, không phải là ai cũng biết nếu không có Minh Sư thuyết giảng cho nghe. Hôm nay các em học bài mới đó là câu chuyện Thánh Đức. Các em học sinh lấy làm vui mừng hỏi câu chuyện Thánh Đức hay không Thầy?

Thầy Giáo Liêm nói câu chuyện hay hoặc dở là do sự nhận thức của mỗi em, cốt truyện bao giờ cũng mang nội dung triết lý, hàm ý phản ảnh một sự việc nào đó, để cho người nghe nhận thức nâng cao trình độ cũng như sự giác ngộ. Thầy Giáo Liêm nói các em chú ý lắng nghe.

– Vào thuở xa xưa có vị Tôn Sư Huệ Tịnh đến đền thờ An Tân Phổ Đại thuyết giáo về thời Thánh Đức. Thời Thánh Đức là thời non nước được bình yên, cuộc sống như mùa xuân, làm ăn giàu lên phơi phới. Ai ai cũng sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Dân giàu nước mạnh Nhân Quyền Dân Chủ, Văn Minh. Cả hàng chục triệu năm mới lặp lại một lần. Những ai sanh ra gặp thời Thánh Đức phải nói đã từng tu luyện vô lượng kiếp. Những người gặp được Thiên Ý Văn Hóa Cội Nguồn, hành sự theo Văn Hóa Cội Nguồn là những người đã từng là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa nguyện sanh xuống chốn nhân gian truyền bá Thiên Ý lập công bồi đức tiến hóa Linh Hồn lên một tầm cao mới.

– Những người may mắn sanh ra gặp thời Thánh Đức mà không gặp được Chánh Pháp nghĩa là không gặp được Văn Hóa Cội Nguồn thời coi như bỏ qua cơ hội hàng chục triệu năm. Thật đáng tiếc cho những người vô duyên kém sự may mắn như vậy, phải tu luyện chờ đợi trải qua hàng chục triệu năm nữa không biết có gặp được Văn Hóa Cội Nguồn hay không. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời chỉ xuất hiện thường là ở vào giai đoạn cuối tiểu kiếp trải qua 16 triệu 800 nghìn năm.

Những ai bỏ qua cơ hội không tìm đọc Kinh, Thơ, Văn Hóa Cội Nguồn thời đáng tiếc biết là bao. Mất đi cơ hội trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng như cơ hội siêu sanh về trời.

Tôn Sư Huệ Tịnh giảng thao thao bất tuyệt, không gấp một lời giảng làu làu rõ chữ từng câu. Ai chú ý lắng nghe liền được trí mở huệ khai như thấy mình vừa trải qua một cơn phẫu thuật, người mù được sáng ra.

– Khi ấy có vị Thiện Nhân trí thức tên là Tôn Kha chắp tay thưa hỏi Tôn Sư Huệ Tịnh.

Thưa Tôn Sư ai có đủ khả năng để lập lên đời Thượng Ngươn Thánh Đức. Phải chăng đó là vị Thánh được Trời lựa chọn lập lên đời Thượng Ngươn Thánh Đức?

Tôn Sư Huệ Tịnh nói. Cơ Thánh Đức là nói đến chu kỳ Thánh Đức lặp lại. Cũng như mùa xuân không có vị nào lập lên mùa xuân, mà chu kỳ mùa xuân lập lại. Hết Thượng Ngơn Thánh Đức, thời tới Trung Ngơn Nhơn Đức, hết Trung Ngơn Nhơn Đức, thời Hạ Ngươn Mạt Pháp. Cứ thế chu kỳ tuần hoàn lập đi lập lại. Đến chu kỳ mùa xuân lập lại thời muôn hoa đua nở thi sắc khoe màu rực rỡ khắp nơi.

Đến thời kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức nhất là những chu kỳ nghìn năm sự lặp lại của Thượng Ngươn Thánh Đức gần cuối tiểu kiếp, nhân loại con người thi nhau hướng thiện vì chơn Dương Hưng Thịnh hiệp với tánh khí lành nên gọi là Thượng Ngươn Thánh Đức. Vì sự hướng Thiện mạnh mẽ con người đi đến sự giác ngộ hiểu biết về vũ trụ, cũng như đạo, và đức, hiểu chính nghĩa và phi nghĩa thành tựu trí huệ đỉnh cao phần đông trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, trở lại Thiên Đàng Cực Lạc. Thượng Ngươn Thánh Đức chính là mùa xuân Đạo Đức tinh hoa trí huệ Đạo Đức con người sẽ nở rộ làm tươi đẹp cuộc sống, cũng như non sông đất nước.

– Như vậy Thượng Ngươn Thánh Đức không ai lập lên cả, mà là chu kỳ lặp lại mỗi chu kỳ của thượng ngươn Thánh Đức, ví như mùa xuân lặp lại trăm hoa đua nở khoe sắc khơi màu làm đẹp cho đất trời. Đến chu kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức trí huệ Đạo Đức con người kết trái đơm hoa thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa xã hội nhân loại con người trở thành xã hội Thiên Đàng Cực Lạc trần gian.

– Theo định luật tuần hoàn Trời chuyển xuân thiên hạ sống theo xuân. Cơ Trời chuyển đến Thượng Ngơn Thánh Đức, thiên hạ sẽ sống theo Cơ Vận Thượng Ngơn Thánh Đức. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ra đời, ra sức tận độ nhân loại về trời đi vào cơ tận độ. Như vậy Không phải Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khai lập tạo nên Thượng Ngơn Thánh Đức. Mà đến chu kỳ Thượng Ngơn Thánh Đức trí huệ con người tỏa sáng đi vào kết trái đơm hoa trở thành, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

– Khi Trời chuyển đến cơ Thượng Ngươn Thánh Đức thời Trời cũng khiến cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trên các tầng trời lâm phàm xuống trần mở đường dìu dắt nhân loại theo Thiên Ý của Trời đi vào cơ tận độ, tức là Truyền Bá Văn Hóa Cội Nguồn lập lên đời Thượng Ngươn Thánh Đức xã hội Thiên Đàng trần gian.

Điều đáng nói ở đây, mùa xuân lập lại, khác với làm nên sự kiện trong mùa xuân. Có nghĩa là mùa xuân đem lại sự thuận lợi cho muôn hoa đua nở. Còn muôn hoa nở cách nào là do muôn hoa. Thượng Ngươn Thánh Đức lập lại đem lại sự thuận lợi cho phát triển đạo đức. Còn lập lên đời Thánh Đức thời phải do con người dày công tạo lập. Có Nghĩa Là:

– Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đều ra phò Thiên Ý, truyền bá Thiên Ý tận độ nhân loại con người trong chu kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức lập lên đời Thánh Đức Thiên Tân.

– Khi ấy có vị Thiện Nữ tên là Tuệ Tâm chắp tay thưa hỏi. Thưa Tôn Sư: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ra đời tận độ con người lập lên đời Thượng Ngươn Thánh Đức. Trong thời Thượng Ngươn Thánh Đức ai là Vua của thời Thượng Ngươn Thánh Đức xin Đức Tôn Sư chỉ dạy cho.

– Vị Tôn Sư nghe xong rồi trả lời rằng. Vua Của Thượng Ngươn Thánh Đức, không phải Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Mà là Thiên Ý Cha Trời đã chuyển thành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, trở thành Pháp Vương tối cao của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Đem lại sự công bằng bình đẳng cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, trong nền Quốc Đạo Dân Tộc. Cũng như cuộc sống xã hội ai cũng như ai bình đẳng trước Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Dân Tộc.

Tóm Lại: Không có Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nào lập lên Cơ Vận Thượng Ngươn Thánh Đức, mà là chu kỳ vận hóa Tuần Hoàn theo Thiên Ý, Huyền Cơ Thượng Ngươn Thánh Đức lập lại. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, dựa vào Huyền Cơ Thiên Ý Thánh Đức, lập lên đời Thượng Ngươn Thánh Đức đi vào cuộc sống. Đem lại mùa xuân no ấm cho đời, tiến tới dân giàu nước mạnh xã hội công bằng bình đẳng tự do ấm no hạnh phúc.

– Cả lớp chú ý lắng nghe thầy Giáo Liêm kể câu chuyện Thượng Ngươn Thánh Đức, phản ảnh sâu sắc hai cảnh giới mùa xuân lặp lại và muôn hoa đua nở, làm nên rực rỡ của mùa xuân. Cũng như chu kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức lặp lại trí huệ con người thi nhau tỏa sáng đơm hoa kết quả thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, tạo lên cảnh đời mùa xuân thiên đàng cực lạc trần gian. Các em như lột xác trở thành một con người khác, con người của thời đại Thánh Đức Văn Minh.
 
×
Top Bottom