Rồng Tiên lược truyện

shopoga

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
3/9/2023
Bài viết
389
THIÊN ẤN THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI

2014



Cao Đức Thắng



QUYỂN 1

LỜI NÓI ĐẦU

Long Hoa Lược Truyện là bộ truyện nhân văn đỉnh cao khai mở trí huệ toàn diện, trên nhiều lãnh vực kinh tế chính trị, quân sự, thương nghiệp, ngoại giao, không thể nghĩ bàn.

Long Hoa Lược Truyện là món ăn bổ ích cho tâm hồn dù bất cứ hoàn cảnh nào Long Hoa Lược Truyện cũng đem lại cho cuộc sống bao tốt đẹp, nhất là về nhân cách, phẩm hạnh đạo đức, trí huệ anh hùng, loại bỏ cái ác vươn tới cái thiện, tạo ra cuộc sống mùa xuân của muôn nghìn sắc hoa sôi động rực rỡ hạnh phúc.

Long Hoa Lược Truyện là tấm gương phản ảnh hiện thực cuộc sống ca ngợi Đạo Đức, phê phán gian ác, loại bỏ phi nghĩa, tôn vinh chính nghĩa.

Đọc qua Long Hoa Lược Truyện chúng ta phân biệt được cái xấu và cái tốt rung động trước mối tình chung thủy cao đẹp nhất của tình yêu.

Ở đâu có Long Hoa Lược Truyện, thời ở đó luôn mở màn cho cuộc sống mới, cuộc sống được chọn lọc tinh tế. Từ xa xưa chưa có chữ viết. Ông Cha ta cũng đã sáng tạo ra dòng văn chương ngôn ngữ truyền miệng lưu truyền mãi cho đến ngày nay, nhờ có chữ viết đa dạng trên toàn thế giới dù cho đó là chữ viết gì, thời dòng văn chương ngôn ngữ truyền miệng được lưu chép phổ rộng tỏa sáng lên.

Có chữ viết giúp con người tiến gần với nhau hơn biết nhau hơn sống hòa hợp vui vẻ trong cuộc sống, mỗi một cốt truyện Cội Nguồn lịch sử, mẫu truyện tình yêu chung thủy, mẩu truyện anh dũng là để cho chúng ta tham quan hoặc tắm mình trong dòng thơ truyện, lau sạch những lớp bụi bám vào làm mờ kiến tánh trí huệ chúng ta, làm cho trí huệ chúng ta tỏa sáng. Nhận thấy chân trời hạnh phúc chân trời của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trên quê hương thiên đàng cực lạc. Quê hương không có sự chết sự chia ly và đau khổ quê hương an vui vĩnh hằng quê hương của những con người có tấm lòng yêu thương rộng lớn, cũng như tôn vinh Nguồn Cội tôn vinh Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu ba ngôi tối cao vũ trụ. Hãy yêu Long Hoa Lược Truyện chúng ta sẽ thấy vui vẻ quên đi tất cả cực nhọc, cũng như bao sự ngang trái trong đời sống chúng ta. Nhất là chửng bị cho chúng ta những hành trang văn hóa, khi mãn kiếp trần thế chúng ta mang theo về trời làm sự giàu có cho chúng ta.

* * *

LƯỢC TRUYỆN

Long Hoa Lược Truyện kinh thư

Tiên Thiên diệu pháp hà như lạc đồ

Huyền thâm cao diệu hư vô

Ứng linh trải khắp hà đồ nước non

Trời cao dìu dắt cháu con

Rồng Tiên mở hội vinh quang Cội Nguồn

Thành tâm nhớ tưởng thường ngày

Thiên cơ ứng hóa mọi đường rõ thông

Đạo Trời là Đạo Cha Ông

Đường mây tỏ rạng con Rồng cháu Tiên

Hà sa ức kiếp vô biên

Lúc nào cũng có con thuyền đón đưa

Nghe lời Trời dạy sớm trưa

Bệnh chi cũng khỏi của thừa dư ăn

Truyền kinh thuyết giáo Trời khen

Muốn chi được nấy lộc hằng ức muôn

Phước vào thời nghịch cũng suôn

Thăng hoa tới đích mọi đường công danh

Trời ban, khô héo cũng xanh

Cuộc đời tỏa sáng đẹp lành biết bao

Hiếu, trung thời được danh thơm

Vì Nguồn vì Cội vinh quang cuộc đời

Cháu con luôn mãi sáng ngời

Thông minh trí tuệ sang giàu bình yên

Về Nguồn thời phải kính tin

Những lời Trời dạy nhớ ghi trong lòng

Lời kinh lược truyện ngọc vàng

Kính tin thoát khỏi địa đàng âm ti

Nghiền ngẫm cho hiểu rõ thông

Mãn thân hồn đặng ung dung về trời

Long Hoa Lược Truyện sáng ngời

Thành tâm tu học sớm thành Phật, Tiên

Lập công trong hội kỳ ba

Vua Hùng Quốc Tổ sắc phong bảng vàng

Thắp lên ngọn đuốc Đạo, Đời

Ra công ra sức bảng vàng ghi tên

Công danh sự nghiệp vẻ vang

Cũng nhờ truyền giáo lập công hội nầy

Long Hoa Lược Truyện diệu kỳ

Truyền cho hậu thế đạt thành ước mơ

* * *



1. NỤ CƯỜI THỎA MÁI​

Ông Tám Nhị, đi Thái Lan vừa về tới nhà con cái đứa lớn đứa nhỏ mừng rỡ chạy ra đón. Tám Nhị cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Bước xuống xe trên tay Tám Nhị vừa xách vừa cầm trông có vẻ nhiều quà hơi nặng.

Con cái thấy Cha xách nhiều quà đứa nào đứa nấy hớn hở nói để con xách bớt cho, nhất là con gái út hăm hở đòi xách cái nầy cái kia. Bước vào nhà Ông Tám thở phào nhẹ nhõm như trút hết cơn mệt nhọc đi đường.

Con gái út tên Hạnh đòi quà nhanh hơn các anh chị, quà của con đâu?

Tám Nhị ôm bé Hạnh vào lòng nói quà cục cưng của Ba đây nè. Ông thò tay vào xách lấy ra một món đồ chơi thứ xịn có lẽ rất đắt tiền, trông đẹp mắt vô cùng.

Bé Hạnh vừa nhìn thấy món quà thời mừng rỡ reo lên con thương Cha quá.

Bé Hạnh say sưa nhìn món đồ chơi rồi ngước nhìn Cha hỏi. Người Thái Lan ba đầu sáu tay phải không Cha?

Tám Nhị nghe con hỏi lấy làm ngạc nhiên, nhưng rồi cũng trả lời họ có ba đầu sáu tay gì đâu, họ cũng như mình thôi con à, đôi khi còn thua người Việt nữa là khác.

Bé hạnh nói họ đâu hơn gì người Việt mình, thế sao họ giỏi dữ vậy, cái gì cũng hơn hẳn Việt Nam, thậm chí món đồ chơi Cha mua về cho con, Việt Nam mình cũng chưa làm được, tại sao vậy hả Cha.

Tám Nhị nghe con hỏi thở dài nói, người Thái họ có Nhân Quyền Dân Chủ tự do, còn Việt Nam mình thời không con ạ. Người Thái họ tự do bay nhảy, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do sáng tạo sáng tác không cần phải xin ai, thi nhau mà phát triển văn minh.

Người Việt Nam mình lại khác như con chim bị nhốt trong lồng.

Bé Hạnh nói con hiểu rồi Người Việt Nam bị trói chân, còn người Thái thời thoải mái mà chạy. Người Việt Nam bị bó tay, nên làm cái gì cũng xấu, người Thái tay chân không bị bó cột. Nên chạy lẹ hơn người Việt Nam, nắn nót tạo ra cái gì cũng xinh cũng đẹp phải không Cha?

Cả nhà nghe bé Hạnh nói thế thời nhịn không được mà cười ồ lên. Bé Hạnh cũng cười theo nói con nói đúng quá phải không? Những người đi đường nghe gia đình Tám Nhị cả nhà cười vui vẻ thời xầm xì, nhà Tám Nhị không biết trúng mánh gì mà vui dữ quá.



2. CÂU CHUYỆN TỰ HÀO​

Bà Tám đang chăm sóc luống rau trước sân nhà, bà nhìn những cọng rau muống xanh mướt trông phát thèm, định cắt vài bó đem kho luộc cho bữa ăn tối ngon miệng.

Bỗng có tiếng người phụ nữ vang lên, chị Tám siêng nhỉ lúc nào cũng thấy ở ngoài sân vườn, định cắt rau muống hả, cắt bán cho tôi vài lọn đem về luộc ăn cho đỡ tức trong lòng.

Bà Tám nghe xong lấy làm ngạc nhiên nói ai mà dám chọc bà chằn lửa, không sợ bị thiêu đốt ra tro sao. Người phụ nữ mới đến tên là Hạnh, nói ai thời tôi đốt ra tro rồi đằng nầy ông xã mới tức chứ. Bà Tám nhìn người phụ nữ mới đến nghĩ, thôi chuyện người ta hỏi làm gì.

Nhưng người phụ nữ mới đến tên Hạnh trông có vẻ bực tức lắm, hằn học nói, chị Tám nghĩ xem nền Văn Hiến Bách Việt Văn Lang có gì tự hào mà ông xã nhà tôi lúc nào cũng ca ngợi còn hơn pháo nổ. Đúng là mèo khen mèo dài đuôi, các nước phương Tây họ mới thật sự là văn minh.

Bà Tám nhìn người phụ nữ mới đến lắc đầu nói tôi thừa nhận chị rất thông minh, nhưng không phải chuyện gì cũng biết, lần nầy thời chị sai rồi.

Nền Văn Hiến Bách Việt Văn Lang, là nền Văn Hiến khai sinh ra nước Văn Lang, khai sinh ra Dân Tộc Văn Lang, nền Văn Hiến Văn Hóa Cội Nguồn độc nhất vô nhị trên thế giới, ngay cả thời đại bây giờ cũng không có nước nào có nền Văn Hiến tối cao như thế.

Trên thế giới, mỗi Dân Tộc ra đời đều có niềm tự hào nền Văn Hiến của Dân Tộc đó, chồng chị Anh Lân là người Việt tự hào về Nguồn Cội của Dân Tộc mình cũng là sự đương nhiên, xét về diện văn minh ở vào thời ấy không có một Dân Tộc nào trên trái đất văn minh hơn Dân Tộc Bách Việt Văn Lang, không tự hào sao được. Chị Hạnh nghe Bà Tám nói thế liền bỉm môi nói: té ra chị cũng chẳng khác gì ông nhà tôi, được cái là nổ cho cố, mèo khen mèo dài đuôi.

Mỗi lần thấy ông nhà ca ngợi nền Văn Hiến Cội Nguồn quá tôi cảm thấy ngượng không rõ thực hư thế nào.

Tôi hỏi thật chị Tám, chị lấy cơ sở nào nói rằng nền Văn Hiến Bách Việt Văn Lang văn minh nhất thời đó, chị nói cho tôi nghe thử nào?

Bà Tám nhìn Bà Hạnh như thông cảm cho sự lạc Cội lạc Nguồn, lúc nào cũng hướng ngoại, chạy theo xu thế ngoại bang, xem thường Nguồn Cội Dân Tộc mình, vô tình trở thành trọng tội không đáng có. Bà Tám nghĩ thương cho Bà Hạnh; liền nói câu chuyện cũng hơi dài để tôi cắt xong mấy lọn rau muống tôi sẽ kể cho chị nghe. Bà Tám cắt xong rau muống vừa bó vừa kể.

* Cách đây năm nghìn năm, Quốc Tổ Vua Hùng dùng Văn Hóa Cội Nguồn gồm thâu Bách Tộc khai sinh ra nước Văn Lang, Bách Tộc trở thành Bách Việt Văn Lang không cần động đến gươm đao giáo mác Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Trên thế giới ở vào thời đó không có nước nào khai sinh ra đời tốt đẹp như vậy, chỉ riêng có nước Văn Lang. Anh Lân nhà chị tự hào về Nguồn Cội Dân Tộc mình cũng đúng, thể hiện lòng trung, hiếu, nhân, nghĩa đối với Cha Ông. Không những tự hào về truyền thống dựng nước giữ nước, mà còn tự hào về Ông Quốc Tổ có một không hai trên địa cầu từ ngàn xưa cho đến thời nay. Chị Hạnh biết không, ở vào thời đó chỉ riêng Bách Việt Văn Lang có nền Văn Minh lúa nước đem lại no cơm ấm áo cho người dân. Đã là Văn Minh lúa nước thời Dân Tộc Văn Lang nắm rõ quy luật bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tạo ra niên lịch vụ mùa nắm rõ quy trình trồng ngô cấy lúa cho năng xuất cao. Và lấy đầu năm sự khởi đầu mùa xuân, mở đầu cho việc đi vào mùa vụ, các lễ hội từ đó cũng ra đời, lễ hội gieo trồng, lễ hội tạ ơn trời đất, lễ hội uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây. Thành lễ hội tết Nguyên Đán, lễ hội nhân văn lớn nhất trong năm, mùng một tết Cha, mùng hai tết Mẹ, mùng ba tết Thầy. Nói chung là tạ ơn công sanh thành Ông Bà Cha Mẹ, công ơn dạy bảo của những bậc thầy. Trên thế giới ở vào thời ấy không có đất nước nào văn minh như thế, không tự hào sao được.

* Lại nữa ngoài Văn Minh lúa nước, văn minh niên lịch, còn có Văn Minh hội họa biết dùng tượng hình làm sơ khai chữ viết đi vào giao tiếp cuộc sống, không có đất nước nào Văn Minh như vậy, chưa kể đến Văn Minh sắt, thép, đồng, thau, vàng, bạc, dùng vào công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, khai thác. Khai hoang vỡ hóa, gươm đao giáo mác cung tên tạo lên sức mạnh quân lực Bách Việt Văn Lang kéo dài độc lập mấy nghìn năm không có nước nào dám động đến.

* Nhưng theo cơ Tạo Hóa việc suy thịnh là chuyện bình thường, quy luật tuần hoàn luôn xoay chuyển, thịnh mấy nghìn năm thời phải đi vào suy mấy nghìn năm, không phải do con người mà do Ý Trời.

Sự truyền khẩu lâu dài dẫn đến tam sao thất bổn. Đi vào thất truyền Hiến Pháp Đạo Pháp nền Văn Hiến Văn Minh Văn Lang dần dần biến mất. Dẫn đến suy yếu đi vào đại loạn chia bè rẽ phái mở ra cơ hội cho ngoại bang xâm lược, bị Phương Bắc đô hộ đi vào nô lệ. Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng vùng lên quật khởi chiến tranh triền miên giành lại độc lập đánh bại ngoại xâm trên mười bốn lần, nhưng đâu lại vào đấy tiếp tục lệ thuộc Phương Bắc. Nguyên nhân dẫn đến lệ thuộc giặc Tàu là do lạc Cội lạc Nguồn mà ra.

Bà Hạnh nhìn Bà Tám vừa bó rau vừa kể thao thao bất tuyệt sắc mặt hiện lên vẻ tự hào không thua kém gì sắc mặt tự hào của ông xã khi nhắc về truyền thống anh linh dựng nước giữ nước của các thế hệ Ông Cha. Bà như tỉnh ngộ té ra sự thông minh của mình xưa nay cãi vã với chồng chỉ là sự ngu dốt của sự lạc Cội lạc Nguồn. Bà cảm thấy hổ thẹn mình không xứng đáng là con Rồng cháu Tiên nếu ai cũng như mình thời đi vào nô lệ, dẫn đến mất nước tiêu tan giống nòi.

Bà nhìn Bà Tám với lòng đầy kính phục liền nói: Tôi bữa nay như đã sáng mắt ra, cái ngu dốt bấy lâu nay tự cho mình thông minh của tôi cũng biến mất không còn từ đây, cảm ơn Cô Tám rất nhiều.

Bà Tám nhìn Bà Hạnh đầy vẻ ngạc nhiên nhưng sau đó nhìn ra vẻ chân thật của Bà Hạnh, Bà Tám trong lòng cảm thấy vui vì làm cho một người giác ngộ coi như đã xây cho mình một ngôi chùa. Bà Tám cầm mấy lọn rau muống đưa cho Bà Hạnh nói: tôi biếu chị.

Bà Hạnh nhận lấy mấy bó rau muống như nhận lấy cái gì đó trân quý từ Bà Tám. Bà Hạnh cảm ơn rồi ra về. Từ đó Bà Hạnh luôn tôn trọng sự ca ngợi cũng như lòng tự hào của chồng về truyền thống dựng nước giữ nước của Dân Tộc mình.



3. VỢ CHỒNG HAI KÈO​

Nhà hai Kèo vừa mua ti vi mặt phẳng loại mỏng thứ xịn hình ảnh trông rõ nét. Cả nhà Hai Kèo đêm nào cũng xúm xít để coi.

Đến chương trình thời sự. Bà Hai Kèo không chú ý đến chuyện gì khác, mà chỉ để ý đến các phu nhân Tổng Thống.

Bà hỏi nầy Hai Kèo; phu nhân Tổng Thống các nước họ xách gì vậy? Hai Kèo nói, mấy bà phu nhân Tổng Thống các nước họ xách danh dự, xách nhân cách, xách tài năng của đất nước họ, phô trương với thế giới, để thế giới hâm mộ đất nước họ.

Bà Hai Kèo lại hỏi; Còn phu nhân cấp cao của đất nước mình thì sao? Có xách theo những thứ ấy không?

Hai Kèo nói; Bà không nhìn thấy sao, các phu nhân của nước mình đâu cần xách theo danh dự, nhân cách, tài năng. Nếu muốn xách cũng không có những thứ ấy lấy đâu mà xách để phô trương với thế giới.

Mà chỉ xách vàng xách bạc, xách đô la, xách kim cương châu báu. Bà thấy có khôn không?

Bà Hai Kèo nói Ông nói rất đúng, phu nhân cấp cao nước ta khôn đấy chứ, có đô la vàng bạc, thời mặc sức mà xây cung son biệt thự, chỗ nào cũng có, muốn gì được nấy nhờ học thuyết mác lê đó Hai Kèo. Tư Bản làm gì mà hiểu thuyết Mác Lê.

Hai Kèo phụ họa thêm, Bà là con sâu trong bụng chủ nghĩa vô thần nên Bà hiểu còn sâu sắc hơn tôi. Thế giới các nước văn minh, họ nhìn thấy Mác, Lê là khiếp vía kinh hồn, tránh xa nghìn dặm làm gì học được cái tài của Mác, Lê là tóm sạch sự giàu sang của thiên hạ về túi riêng của mình, tôi cố học, học mãi mà không vô. Thời thế bây giờ mà rớ vào mấy ông tư bản đỏ kết xù, chỉ cần đụng vào của để ngoài bờ rào cũng đã ở tù mục xương không có ngày về. Tôi không dám học theo cái tài Mác Lê. Của người ta không cho mà lấy phạm luật thiên, tôi sợ quả báo, sợ tù quá.

Mấy đứa con của Hai Kèo thấy Cha Mẹ nói móc nói méo hay quá xúm nhau bịt miệng mà cười.

Hai Kèo thấy các con bụm miệng cười nhìn các con rồi nói, các con có biết không giàu chân chính, phú quý sanh lễ nghĩa đi ngõ trước.

Giàu bất chính phú quý sanh lễ nghĩa đi cửa sau, hai bên mà đụng nhau thời sứt đầu mẻ trán. Lễ nghĩa thành tang lễ. Cầu siêu hơn 40 mươi năm không biết có siêu thoát được không. Kẻ chân chính thời lên thiên đàng, người bất chính thời nơi địa ngục, rốt cuộc gieo nhân nào gặt quả nấy. Hai Kèo nói xong thời cười, lắc nghiêng lắc ngửa, con cái cũng cười theo làm dậy rạp cả nhà.



4. CUỘC ĐIỆN THOẠI​

A lô a lô Chó đây Mèo đó hả. Mèo suốt ngày ca ngợi Ông Cha, Ông Cha có gì mà ca ngợi dẹp bỏ đi.

Mèo nghe xong mừng rỡ nói. A Lô anh Chó đó hả anh tài quá tôi không theo kịp anh đâu. Tài chống phá Tổ Tiên của anh đã đến đỉnh. Tài đã thái quá là tài liền với chữ tai một vòng. Tôi sợ mang họa cho bản thân cũng như con cái ra ăn mày cả đám, nên không dám theo lời dạy bảo của anh đâu.

A lô a lô Anh Chó anh không sợ Tổ Tiên, anh chả cần Cội Nguồn, anh chống phá Cha Ông, có lẽ vì anh quá tài nên anh làm đảo lộn luân thường đạo lý. Đảo lộn cả càn khôn, đảo ngược truyền thống Ông Cha. Nghịch lại Thiên Ý tự nhiên. Con ngồi lên đầu Cha, cháu ngồi lên đầu Ông. Tài như vậy,ai mà theo kịp Anh Chó anh đã trở thành vô địch tội lỗi rồi. Chống phá Tổ Tiên quá xuất sắc. Chúc anh mau nhận bằng khen quả báo tai ương họa kiếp.

A lô a lô Anh Chó còn ở đầu giây không. Mèo tôi thời sợ xúc phạm đến Cội Nguồn Tổ Tiên Cha Ông, không dám nói những lời thất kính như thế. Tôi sợ nhất là đại nghịch vô đạo.

A lô a lô. Tôi nhắc cho anh một điều. Tổ Tiên ở trên đầu anh, hồn thiên sông núi ở sát bên anh. Thần linh có mặt khắp nơi chỗ nào cũng có. Tài hủy bán Cội Nguồn Tổ Tiên của anh là tài kéo theo vô số tai họa, tài quá hóa ra làm hại mình chữ tài liền với chữ tai một vòng. Gieo ác khẩu hành ác nghiệp, đương nhiên sẽ gặt họa không sớm thời chầy. Chúc anh Chó sớm gặt những gì mình đã gieo ra.

A lô a lô, Mèo đây còn Chó đâu rồi

Mới khoe khoang đó, cút rồi hay sao

Cây mất gốc, đổ nhào khô héo

Người lạc Nguồn, cuộc sống bơ vơ

Chữ tài liền với chữ tai

Phản Nguồn phản Cội vùi chôn cuộc đời

A lô anh Chó đâu rồi

Tài mà như thế về chầu Diêm Vương

Nghĩ đi nghĩ lại mà thương

Tài như anh Chó hết phương cứu rồi

Chờ ngày kiếp nạn phản hồi

Tiêu tan hết thảy dập vùi hồn linh

A lô anh Chó lâm nạn rồi sao

Sao không bắt máy để tôi gọi hoài

A lô a lô



5. CHẾT LÀ NIỀM VUI CỦA NGƯỜI HÀNH THIỆN; LÀ SỢ HÃI CỦA NGƯỜI HÀNH ÁC​

Nói đến thôn Lộc An thời ai cũng biết Ông Ba Cảnh. Vì Ông là người mộ Đạo nhất là tôn thờ Nguồn Cội.

Ông Ba Cảnh vừa ngã bệnh, thời cả nhà lo lắng có người khóc lóc. Ông thấy thế nói rằng chết là lẽ công bằng của Tạo Hóa. Cha đã làm lành mấy mươi năm nếu sống mãi, cũng chỉ là Ông Ba cảnh nghèo lại còn mang thân xác bệnh tật già nua vầy sao? Lẽ công bằng Tạo Hóa ở đâu? Cái xác thân già nua nầy là Cha tạm mượn của Tinh Cha Huyết Mẹ nào phải cái thân của Cha. Khi Cha đến cõi trần nầy chỉ mỗi một linh hồn với hai bàn tay trắng. Khi Cha ra đi thời cũng phải trả lại hết cho trần những gì Cha đã tạm mượn.

Sự tạm mượn cũng có thời gian nhất định, sống bao nhiêu? có chừng đã được định sẵn rồi. 60- 70- 80 những gì vay mượn của trần phải trả lại cho trần. Các con nên hiểu mượn thời phải trả, không trả chẳng lẽ muốn lấy luôn. Tạo Hóa không cho phép điều đó đâu các con. Trả lại xác thân cho trần cũng là lúc Linh Hồn của Cha thấy nhẹ nhõm.

Để thay đổi vận mệnh số kiếp con người đi vào cuộc sống mới. Cha sẽ không còn nghèo khổ, đó là nói tái sanh lại kiếp người trần gian. Với sự tu hành của Cha lúc nào cũng nghĩ đến Cội Nguồn tôn vinh ba ngôi tối cao vũ trụ. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu thời Cha sẽ siêu sanh về thiên giới sống an vui hạnh phúc trên cõi trời.

Các con nên biết kiếp sống con người trần gian chỉ là kiếp tạm, cõi tạm, trần gian chỉ là trường thi Tạo Hóa mà thôi, thời hạn kiếp tạm con người cũng đã định số rồi, thân xác con người sẽ chết đi, Linh hồn chuyển sang kiếp mới. Thay đổi hoàn toàn số phận của Linh Hồn ở kiếp tới theo luật nhân quả gieo gì thời gặt nấy.

Những người làm ác nếu họ sống mãi, thời luật công bằng Tạo Hóa để đâu? Tạo hóa không cho phép con người trần gian sống mãi mà phải chết đi khi hết thời gian kiếp người.

Linh Hồn phải chuyển đổi số kiếp. Gieo ác sẽ gặt họa ở kiếp tới, gieo thiện sẽ gặt lành ở kiếp tiếp theo. Những người hành ác dù giàu có đến đâu, quyền lực đến đâu, khi Linh Hồn rời khỏi xác, không thể mang theo sự giàu có. Cũng như quyền lực cõi tạm nơi chốn trần gian ấy được. Mà phải trả lại tất cả cho chốn trần gian.

Chỉ hai bàn tay trắng những thứ họ mang theo chính là nghiệp ác. Và chính nghiệp ác ấy đã hại họ đưa họ xuống Địa Ngục âm phủ chịu đủ thứ cực hình vô cùng đau đớn và khốn khổ chết đi sống lại hàng vạn vạn lần

Tóm lại: Những Linh Hồn đầu thai làm kiếp người nơi chốn trần gian không mang theo gì cả, mượn tinh Cha huyết Mẹ Âm- Dương giao hợp chuyển hóa thành thai người. Tinh Cha Huyết Mẹ được vay mượn từ Tạo Hóa tứ đại Đất, Nước, Gió, Lửa. Đã là sự vay mượn bao giờ cũng phải trả lại. Theo định số hết thời hạn của sự vay mượn. Không ai có thể làm chi khác được.

Chết có nghĩa là sự vay mượn đã hết, thời gian vay mượn không còn, mà huyền cơ tạo hóa đã ấn định cho số mạng con người. Phải trả lại tất cả những gì mình đã vay mượn nơi chốn trần. Công danh, sự nghiệp, giàu có, quyền lực.

Chỉ còn lại Linh Hồn với hai bàn tay trắng trước khi rời khỏi trần gian. Tiếp tục cuộc hành trình đi vào cuộc sống mới. Khổ vui, họa phúc, siêu đọa. Do nghiệp ác hay nghiệp thiện của mỗi linh hồn. Ông Ba cảnh giảng giải xong liền ngâm bài thơ mà Ông đã chuẩn bị từ lâu.

Nếu mai Cha chết, các con sẽ vui lên

Vì Cha đã, chuẩn bị hành trang

Mang đi theo, vào kiếp sống mới

Chết là mang đến niềm vui cho người tu phước

Là khốn khổ, cho kẻ làm ác hại người

Ông Ba Cảnh nói xong, thời cười ha hả

Nhắm mắt xuôi tay, Hồn thong thả ra đi

Cõi trần chỉ là trường thi

Dù đậu, không đậu cũng ra khỏi trường

Một là lên thiên đàng

Hai là sa Địa Phủ

Chết là chuyển kiếp sợ chi

Nếu mà sống mãi còn chi công bằng
 
6. YÊU NƯỚC KIỂU MỚI
Cả nhà ăn sớm mai vừa xong. Ông Hợi đi về phòng hơn mười phút sau thời bước ra. Bà Hợi nhìn không chớp mắt chà bữa nay tân trang bộ mình ăn diện, trông vừa sang vừa trẻ đẹp phong độ quá, làm le với con mèo nào vậy? Con mèo nào mà qua con mèo nầy.

Ông Hợi cười khà khà nói chà coi bộ mà cay dữ quá, nhìn móng vuốt mèo nhà đã thấy phát khiếp còn dám kiếm con mèo nào nữa. Bữa nay tôi đến thăm anh Tân sau ba năm mãn tù anh được trả tự do trở về nhà.

Bà Hợi hỏi có phải Ông Tân yêu nước đó không? Ông Hợi nói người như Tân bây giờ hiếm lắm. Bà Hợi nói tôi lạ gì Ông Tân, có điều tôi thấy hơi lạ yêu nước mà quên đi người dựng nước. Tôi chưa bao giờ nghe Ông Tân nhắc đến Quốc Tổ Vua Hùng, yêu nước kiểu mất gốc như thế thời khó mà tươi cành xanh lá, đôi khi rũ ngọn héo cành nữa là khác.

Bà Hợi nói tiếp, họ thời tin Ông Tân còn tôi thời chưa tin lắm vì Ông Tân luôn là bài toán không có đáp số, hay nói một cách khác là không có đáp số. Cuộc yêu nước mơ hồ không có mục đích rõ ràng. Dân tộc Việt Nam có truyền thống dựng nước giữ nước tốt đẹp, kéo dài năm nghìn năm nào phải mới đây. Thế hệ chúng ta chỉ là thế hệ thừa kế bảo vệ đất nước, nào phải thế hệ dựng nước. Thế hệ tiếp nối truyền thống Đạo Đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ( ăn quả nhớ người trồng cây, uống nước nhớ nguồn) Đạo lý đơn giản như vậy thế mà Ông Tân cũng không hiểu được. Đất nước Việt Nam đâu phải tự nhiên mà có, có người dựng lên mới có. Dù cho con cháu có mở rộng thêm ra, hay bị ngoại xâm lấn lần hẹp lại nước non vẫn là nước non có Tổ có Tông có người khai dựng lên đất nước.

Yêu nước kiểu gì khó hiểu quá. Cái gì cũng phải có đầu có đuôi, yêu nước cái kiểu ngang chạng không cần đến Cội Nguồn. Không lẽ định làm Quốc Tổ nữa loạn mất.

Tôi nói thật với Ông với những người yêu nước kiểu mới như vậy. Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu. Chỉ biết tranh giành non sông đất nước không cần biết đến Ông Quốc Tổ xem thường bao thế hệ Cha Ông giữ nước, đổ không biết bao nhiêu là xương máu mới giữ vững cho đến ngày hôm nay. Thế mà Ông Tân phớt lờ không nghĩ đến.

Con gái út tên Liên nghe mẹ nói thế liền nói, con hiểu mẹ nói gì rồi. Mấy Ông yêu nước gì đó họ chỉ yêu những gì Quốc Tổ để lại thôi, cần chi kính yêu Quốc Tổ. Cũng như mấy tay ăn trộm chỉ yêu xách tiền của Mẹ cần chi tôn vinh mẹ tuy biết rằng Mẹ là chủ của xách tiền. Lấy được xách tiền rồi thời nói là của tao. Tao là chủ xách tiền, nổi tiếng là con Cáo Già ăn cháo đá bát. Nổi danh nghe ngầu đấy chứ Mẹ.

Bà Hợi nghe Liên ví dụ phân tích hay quá liền khen đúng là con hơn cha nhà có phúc. Ông Hợi tỉnh ngộ liền không đi thăm Ông bạn yêu nước nữa.
 
7. CHIA NĂM XẺ BẢY
Theo sự ở đời ai mà được như gia đình Ông Đại, phải nói là sự mơ ước của khối đại gia đình.

Ông Đại có năm người con: thằng Cả làm việc cho Mĩ, thằng Ba làm việc cho Nga, thằng Tư làm việc cho Pháp, thằng Năm làm cho Tàu, thằng Sáu làm việc cho Nhật.

Một gia đình như thế thời còn gì để nói, không phải là sự mơ ước của nhiều người hay sao?

Nhìn bề ngoài không ai là không nói gia đình Ông Đại hạnh phúc tốt đẹp ít ai bằng, Nếu đánh giá một sự tốt đẹp chỉ nhìn bề ngoài thôi thời chưa đủ. Mà phải xem bên trong nội cảnh của nó. Cũng như con người bề ngoài trông thật bảnh bao ăn mặc lộng lẫy, nhưng bên trong thời bệnh tật đầy người không những bệnh về th.ân thể mà còn cả về Linh Hồn. Nếu lột trần hiển lộ sự thật thời cả một sự ê chề không nói là phát ớn.

Ông Đại luôn rất khổ tâm bởi những người con của Ông, chúng nó chỉ biết hướng ngoại tôn thờ cái mà chúng nó đeo đuổi. Còn hướng nội thời chúng không giờ nghĩ đến. Cái tật của chúng nó là hễ theo nước nào thời bảo thủ nước đó. Vì thế sự đối đầu cũng như bất đồng ý kiến thường xảy ra.

Có một hôm các con Ông về nhà đông đủ, không hiểu vì lý do gì chúng cãi nhau dữ quá, thậm chí còn đòi không nhìn mặt nhau. Ông lắng tai để nghe vì sao chúng lại cãi vã dữ vậy. Thì ra thằng Cả binh vực cho Mĩ nói Mĩ cái gì cũng nhất, thằng Ba phản đối, nói về súng đạn thời Nga phải nói là đứng đầu, thằng Tư nói Nga, Mĩ chẳng là gì đối với tài kiến trúc của Pháp, thằng Năm nói Tàu mới là số một nói đến Văn Hóa Tàu cả thế giới chỉ theo ngửi khói Văn Hóa Tàu mà thôi, thằng Sáu nói Văn Hóa Nhật mới là số một chỉ nhìn sơ về tinh thần đoàn kết cũng như nhân cách của người Nhật, thế giới phải cúi đầu chào thua.

Thế là năm anh em không thằng nào chịu nhường nhịn nhau, thằng nào cũng có cái đúng của nó, cãi tới cãi lui không có hồi kết thúc, kẻ theo Nga, Pháp người theo Mĩ, kẻ theo Tàu, người theo Nhật, cuộc chiến cãi cọ kéo dài dẫn đến chia năm xẻ bảy, thề không nhìn mặt nhau.

Ông Đại nghe các con cãi lộn mà đau đầu nhức óc bằng nói phải chi các con biết hướng nội thời hay biết mấy. Đem cái tài học hỏi thế giới về phục vụ cho quê hương đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh. Nhất là giữ vững truyền thống Ông Cha, tôn vinh Quốc Tổ xây dựng Cội Nguồn không những các con tăng thêm vinh dự ai cũng kính phục các con. Đằng nầy các con chỉ biết hướng ngoại mà quên đi Cội Gốc của chính mình. Như cây mất gốc héo cành rũ ngọn, nhỏ thời tan nát đầm ấm gia đình, lớn thời tan nát đất nước chia năm xẻ bảy. Gia đình thời không nhìn mặt nhau, xã hội thời nồi da xáo thịt Đồng Bào anh em tương tàn lẫn nhau. Dẫn đến nô lệ ngoại bang cụ thể là nghìn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm lệ thuộc giặc Tây, ba mươi năm nội chiến từng ngày do hướng ngoại dại khờ mà ra.

Bà Đại nói Cha con nói đúng đấy. Nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Theo Mĩ, Nga, Pháp, Tàu, Nhật để mà làm gì. Dân tộc Việt Nam có ngôi nhà Đại Việt để sanh sống, hết thế hệ nầy sang thế hệ khác, chúng ta học là học cái hay của thế giới, không phải chạy theo tôn thờ lệ thuộc nô lệ các nước. Đây là một bước đi sai của các con, mới có cảnh xảy ra như ngày hôm nay. Làm tan nát gia đình.

Ông Đại nhìn vợ nở nụ cười Bà nói nghe đã lỗ tai quá, năm người con Ông Đại như chợt tỉnh cơn mê liền cười lên nói Cha Mẹ bao giờ cũng hơn con cái. Thế là cả nhà cười lên vui vẻ. Một nụ cười hơn mười thang thuốc bổ phải không các bạn.
 
8. CÂU CHUYỆN HỒI SINH
Thời bây giờ;

Gia đình Hai Cần không phải là hiếm, chồng Phật Giáo vợ Thiên Chúa. Thế mà gia đình Hai Cần hạnh phúc vô cùng Ông tôn trọng vợ. Bà Hai Cần cũng tôn trọng chồng. Ông Bà xưa đã có câu thuận vợ thuận chồng biển đông tác cũng cạn. Theo Văn Hóa Cội Nguồn, Phật, Chúa, Tiên, Thánh gì cũng phải sống theo luật Trời. Vợ chồng Hai Cần đều hiểu rõ như vậy nên không phân biệt Phật, Chúa nữa.

Luật Trời là những định luật do Thiên Ý tạo ra. Như luật tự nhiên, luật nhân duyên, luật nhân quả, luật vay trả, luật tuần hoàn, luật hiển nhiên, luật ngẫu nhiên, luật sanh tử. Luật siêu đọa, luật phước họa vân v.v…

Những định luật nầy không phải do Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa tạo ra. Mà bị tất cả những định nầy xoay chuyển, nếu Thần, Chúa hành ác cũng bị sa đọa như thường. Quỉ Ma mà biết hành thiện tôn thờ Cội Nguồn cũng được siêu sanh về cõi trời.

Những định luật ấy là do bản thể Tối Cao Tạo Hóa khai tạo ra để cho tất cả mọi hoạt động vũ trụ đi vào trật tự trước sau như một không gì thay đổi. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa hiểu rõ những định luật nầy. Tự làm chủ các định luật làm chủ định mệnh của mình.

Ví dụ: Muốn vui phải hành thiện, muốn sa đọa phải hành ác, không ai hành thiện mà sa xuống Địa Phủ cả. Sự luân chuyển đều phải theo định luật Thiên Ý vũ trụ.

Vợ chồng Hai Cần nắm vững những định luật nầy, nên không bao giờ sợ sa đọa xuống Địa Phủ.

Lúc nào cũng tự tin, những hành động gieo nhân kết quả của mình. Hễ gieo giống nào thời gặt quả nấy. Gieo giống Thiên Ý thời gặt vô lượng quả phước đức. Nghịch lại Thiên Ý thời gặt vô lượng quả báo tai ương.

Cũng như dân tộc Việt Nam sắp đi vào hủy diệt, không ai có thể cứu được mà chính dân tộc Việt Nam cùng nhau trở về Cội Nguồn đoàn kết chung tay chống trả lại ngoại xâm cứu nguy non sông Tổ Quốc. Được sự dẫn dắt của Quốc Tổ, mà cũng chỉ Quốc Tổ mới đủ quyền năng làm được điều nầy. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chỉ theo trợ giúp mà thôi.

Nước Việt Nam sắp mất vào tay giặc phương bắc coi như xóa sổ không còn nữa, không ai có thể cứu được,buộc Quốc Tổ phải trở lại cõi trần cứu dân tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng cũng như non sông đất nước đã tồn tại năm nghìn năm. Chỉ còn chờ ngày sát nhập vào Trung Cộng thời coi như chấm hết.

Ông Bà Hai Cần hiểu rõ điều nầy, nên tin tuyệt đối vào Quốc Tổ.

Bà Hai Cần nhìn Ông Hai Cần nhìn các con rồi nói. Thật lòng mà nói không ai như Quốc Tổ Vua Hùng đã về trời mà còn trở lại trần gian chi cho khổ.

Chẳng hạn như đâu thấy Phật Thích Ca trở lại trần gian. Đâu thấy Chúa Giê xu trở lại trần gian. Cả Khổng Tử cũng thế đâu thấy trở lại trần gian.

Mà chỉ thấy Chí Tôn Quốc Tổ, tức là Quốc Vương Thỉ Tổ trở lại trần gian sau năm nghìn năm về trời.

Sự minh chứng Quốc Tổ trở lại là kể rõ những gì trước đây năm nghìn năm như trong lòng bàn tay không ai làm được việc nầy dù đã trải qua mấy nghìn năm.

Nhìn việc làm Quốc Tổ lâm phàm, người truyền lại Văn Hóa Cội Nguồn,truyền lại truyền thống dựng nước giữ nước không thể nào tưởng tượng nổi. Nếu người nào Phật, Chúa, Khổng, tái sanh thời phải làm được như Quốc Tổ tái sanh, Phải kể rõ tất cả những chuyện quá khứ của mình, cũng như thể hiện tài năng y như mình hồi đó, không nói nhân loại cũng nhận ra Phật, Chúa, Khổng xuất hiện trở lại trần gian.

Hai Cần khâm phục sự hiểu biết của Bà Hai Cần khen rằng Bà nói rất phải. Tôi cũng đã chứng kiến nhiều người xưng Ông nầy Bà nọ, chỉ là cái vỏ, còn ruột thời trống rỗng giả danh giả tạo thấy mà phát ớn.

Các con của Hai Cần ngồi chú ý lắng nghe Cha Mẹ đàm luận về câu chuyện hồi sinh trở lại của Quốc Tổ lấy làm vui reo lên nói, chúng con đến bây giờ mới hiểu được sự hồi sinh phục sinh, tái sanh là sao. Không giống như những gì người ta truyền giảng chỉ là những câu chuyện mê tín mà thôi không có cơ sở chứng minh là sự thật.

Chỉ có Quốc Tổ mới đúng là Hồi Sinh, Phục Sinh, tái sanh mà thôi. Bằng chứng là Kinh Giáo Quốc Tổ Lâm Phàm để lại. Không ai là không bái lạy khi đã xem những gì Quốc Tổ truyền lại.

Vợ chồng Hai Cần khen các con thông minh lắm, thảo nào các con học giỏi quá lúc nào cũng đứng đầu cả lớp. Như thằng Hai thằng Ba nhận bằng tốt nghiệp đại học loại giỏi. Con người ta xin việc làm không ra, còn thằng Hai thằng Ba họ đón mời vào công ty làm việc đấy chớ.

Cả nhà vui vẻ cười lên, như đang uống phải linh được khỏe cả người, Sự Hồi Sinh, Phục Sinh, Tái Sanh phải có cơ sở phải không các bạn. Thời đại khoa học mà cái gì thiếu khoa học thời khó mà tin, phải có chứng tích mới đáng tin. Sự hồi sinh, tái sinh, phục sinh phải để lại chứng tích rõ ràng.
 
9. NHƯỢC ĐIỂM CỦA QUẠ VÀ SỰ THÔNG MINH CỦA CÔNG
Lớp năm A vẫn như ngày nào các em luôn chăm chỉ học giỏi. Cô giáo Mẫn vẫn thường hay kể chuyện để làm rõ thêm những môn đã học.

Đứng trên bục giảng cô giáo Mẫn hỏi hôm nay các em học môn gì? Cả lớp đồng dơ tay lên tiếng.

Thưa Cô; Hôm nay chúng em học môn Nhược Điểm Của Quạ và Sự Thông Minh Của Công. Cô giáo Mẫn khen các em giỏi quá.

Cô lại hỏi; các em có thể hình dung được nhược điểm của Quạ và Sự Thông Minh Của Công không? Thưa cô chúng em không thể nào hình dung được.

Cô giáo Mẫn nói, cô sẽ kể cho các em một mẫu chuyện Công và Quạ. Cả lớp vui mừng mấy mươi em học sinh im lặng chú ý lắng nghe.

Cô Giáo Mẫn kể rằng:

Ở vào thời xa xưa Công và Quạ là đôi bạn chí thân,Quạ, Công đều rất xinh đẹp. Công thời ngay thẳng lại khôn ngoan. Quạ đã ngu mà lại có tính tham lam và háo ăn, đây là nhược điểm của Quạ nên bị Công lừa. Một hôm Quạ đến nhà Công chơi nhưng con mắt cứ láo lia láo lịa hết ngó chỗ nầy đến ngó chỗ khác. Quạ nhìn miếng mồi của Công đang treo lơ lửng thời thèm nhỏ dãi. Công lạ gì cái tánh tham lam và háo ăn của Quạ.

Công nói miếng mồi tôi đang treo kia ít quá lại không được ngon, tối nay con người làm thịt heo, thịt gà, thịt lợn để mai cúng làng cúng xóm chỉ nơi được một miếng thịt thời thoải mái mà ăn. Quạ nghe Công nói đến thịt thời thèm nhỏ dãi nhưng lắc đầu nói khó lắm không ăn trộm được đâu. Công nói dễ lắm chờ khi trời tối bay vào gắp một miếng. Quạ nói con người thấy được thời chết, thịt lấy chưa được thời mạng đã toi.

Công nói không sao đâu, tôi có cách, Quạ nghe nói mừng lắm hối lia hối lịa mau có cách gì bày cho tôi với. Công nói chuyện nầy dễ thôi muốn lấy được miếng thịt thời phải nhuộm đen hết đi bộ lông thời người ta mới không nhìn thấy. Quạ nghe tới thịt thời không còn nghĩ gì nữa nói, anh Công mau làm cho tôi đen thui đi.

Công liền vào nhà lấy thùng thuốc nhuộm tưới lên mình Quạ. Quạ lấy làm khó chịu rụt cổ lại số lông bị che lấp bởi số lông khác che phủ lên nên không bị nhuộm đen thành thử cổ của Quạ có một cái ngấn trắng không bị mực đen thấm đến trở thành Quạ Khoang có khoang trắng ở cổ. Còn những chỗ khác trở thành đen thui đen thủi chỉ còn lại ngấn trắng nơi khoang cổ mà thôi.

Chờ tối theo lời chỉ đường của Công, Quạ bay đến khu làng thấy thịt để la liệt nhờ mình đen thui Quạ bay xuống đớp miếng thịt rồi bay đi. Quạ ăn no ngủ một giấc cho tới sáng. Quạ nghĩ đến Công bày kế ăn trộm có hiệu quả liền đến nhà Công để tạ ơn. Khi quạ đến nhà Công thời thấy Công đang mở tiệc đãi khách nhộn nhịp vô cùng. Khách mời của Công thấy Quạ đi vào. Ai nấy cũng xầm xì anh Quạ hôm nay trông xấu xí quá đen thui đen thủi như cục than, đâu còn rực rỡ như ngày xưa hay do tính tham ăn nên đã bị người ta tạc thuốc nhuộm lên mình nên mới trở thành đen thui như lọ nồi. Đâu như anh Công nhà mình rực rỡ đẹp hết chỗ chê.

Quạ đến lúc nầy mới hiểu là mình đã bị lừa, thịt đâu có mà ăn hoài một năm chỉ cúng làng cúng xốm một lần chắc gì năm khác người ta làm thịt nhiều như vậy, nhưng Công lừa quá khéo trách Công sao được. Quạ lủi thủi bỏ đi biệt dạng đúng là khôn ba năm dại một giờ thời coi như xong hết, ăn được miếng thịt trả giá sự xấu xí cả đời đi đâu ai cũng chê cười cho sự ngu dốt của mình.

Cho đến một hôm Quạ và Công gặp lại nhau.

Công nói chào anh Quạ, Lâu nay anh cũng mạnh khỏe đấy chứ?

Quạ làm thinh không trả lời.

Công nói tiếp anh thấy tôi thế nào. Công tôi mỗi ngày mỗi đẹp ra còn đẹp hơn xưa nữa là khác anh có thấy như vậy không? Quạ càng nghe càng tức cành hông, nhưng cũng dằn cơn giận nói.

Quạ nghĩ bữa nay mình phải hạ gục Công, cho Công thấy rằng cái tài của Quạ không phải là vừa, trả lại mối hận ngày xưa. Bằng nói trông bộ vó thời anh đẹp hơn tôi, nhưng nói về sự hiểu biết thời anh thua tôi cái chắc làm gì theo kịp tôi.

Công nghe Quạ nói thế liền cười hì hì nói, ai thua ai thắng chưa biết hai ta so tài đấu trí với nhau vậy.

Quạ liền ra chiêu: Nếu tôi có đủ gươm đao giáo mác súng đạn hiện đại, thời không còn ai hơn được tôi, tôi sẽ là người vô địch thiên hạ, Quạ nhìn Công tỏ vẻ đắc ý.

Công nói nếu tôi có được không khí làm chủ không khí, thời gươm đao giáo mác, súng đạn kia chẳng là gì.

Quạ nghe Công nói lấy không khí chống trả lại gươm đao giáo mác, súng đạn hiện đại thời cười ngất nói. Tưởng gì chứ không khí kia thời làm gì được ai. Chỉ để thổi mát mà thôi, cái thứ nhìn không thấy chẳng làm nên trò trống gì đâu. Công thua tôi rồi.

Công nói anh Quạ thua thời có, Quạ nên biết gió cấp ba cấp bốn chỉ là thứ gió mát dịu thổi mát. Nhưng khi gió nổi giận trở thành cuồng phong bão tố lên cấp 20 thời sẽ gào thét đinh tai nhức óc nếu lên cấp 7 trăm 8 trăm cây số. Anh Quạ tưởng tượng xem gươm đao giáo mác, súng đạn chỉ là tờ giấy bị cuốn bay theo cuồng phong bão tố tơi tả chẳng còn gì.

Quạ nghe nói đến cuồng phong bão tố thời khiếp vía, chỉ cần cấp 15 đã cuốn phăn cây cối nhà cửa, bỏ mạng không biết bao nhiêu là sinh mạng, Quạ sợ quá bay đi mất. Công nhìn theo cười ngất đồ yếu bóng vía tài trí như vậy mà cũng so tài.

Cô Giáo Mẫn nói, qua câu chuyện Quạ và Công các em thấy gì, tham lam, cũng như tham ăn đều dễ bị mắc bẫy, Quạ chỉ ăn có miếng thịt mà phải trả giá xấu xí cả đời, cũng như bị chê bai khắp cùng thiên hạ. Cái trí chẳng bằng ai mà lúc nào cũng tự cao tự phụ. Bị Công hù dọa chạy quên cả thở.

Ở đời con người thường hay bị lầm, cứ tưởng nước, gió chẳng làm gì được ai chỉ dùng để hít thở, tắm rửa mà thôi, Nhưng khi nước trở thành đại hồng thủy, gió biến thành cuồng phong bão tố, thời không có một sức mạnh nào bằng. Gió, Nước tàn phá khủng khiếp. Thiên binh vạn Mã cũng tiêu đời.

Các em có biết không;

Ví như Văn Hóa Cội Nguồn chỉ là Văn Hóa để đọc để học, mở mang kiến thức nào có thấy sức mạnh gì đâu. Như đến khi nó trở thành bão tố Văn Hóa, thời tất cả chế độ gian ác bạo tàn sẽ sụp đổ tan tành. Dân chính là nước theo gió trở thành những cơn sóng dữ, vùi dập tất cả những con thuyền vô đạo. Nước sẽ biến thành những trận hồng thủy cuốn trôi tất cả các em hiểu chưa.

Trong lớp có nhiều em dơ tay lên xin nói. Cô Giáo Mẫn chỉ em Lâm. Hề Lâm phát biểu.

Thưa Cô chúng em hiểu rồi, Văn Hóa Cội Nguồn chỉ là Văn Hóa ý tưởng vô hình không thấy ví như gió. Nhưng khi Văn Hóa Cội Nguồn tràn ngập nổi lên cơn thịnh nộ. Thời kẻ gian ác phải chui xuống bàn mà trốn, vì sợ lầu đài cung điện sụp đổ đè chết phải không cô. Cả lớp nghe Hề Lâm phát biểu như thế không nhịn được cười ngã nghiêng ngã ngửa. Cười ra nước mắt dậy rạp cả lớp.
 
10. SỨC MẠNH RỒNG TIÊN
Lớp năm A em nào cũng mến cô giáo Mẫn dạy văn, ngày nào có tiết mục dạy văn các em luôn háo hức để nghe cô giáo kể chuyện.

Dù có đau bệnh các em cũng không nghĩ học ráng đến lớp để nghe cô giảng bài kết hợp với kể chuyện. Những mẫu chuyện hay đến nỗi phát nghiện. Nhờ sự giảng bài qua kể chuyện không những các em nhớ bài nhanh chóng, mà còn hiểu rõ sâu sắc những thâm ý của bài học.

Cô giáo Mẫn vừa bước vào lớp thời các em đã thấy vui lên. Cô giáo Mẫn nhìn qua một lượt thấy các em mặt đứa nào đứa nấy tươi như hoa, trong lòng cảm thấy vui, cô giáo phất tay nói. Chào các em hôm nay chúng ta học bài gì?

Thưa cô: Hôm nay chúng em học bài sức mạnh Rồng Tiên, cô giáo khen các em giỏi quá.

Các em có biết không, con Rồng cháu Tiên không phải bây giờ mới có. Mà có từ khi Cha Trời Mẹ Trời xuất hiện sanh ra nhân loại con người tức là Ông Bà Tổ Tổ Tổ của chúng ta từ giữa tiểu kiếp thứ năm, sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người cho đến tận ngày nay.

Ở vào thời dựng nước con Rồng cháu Tiên vô cùng hùng mạnh, yêu tinh, quỷ dữ kinh hồn bạt vía, thấy con cháu Tiên Rồng thời trốn chạy biến mất, không những vậy mà còn làm cho các nước xung quanh xa gần nể phục, không nước nào dám hó hé xâm lược kéo dài độc lập 2701 năm thời niên đại Hùng Vương.

Ở vào thời niên đại Hùng Vương sau hai nghìn năm Văn Hóa Cội Nguồn đã thất truyền gần hết do truyền miệng quá lâu, có chữ viết nhưng quá đơn sơ khó mà ghi chép thành kinh văn được, đến khi kết thúc niên đại Hùng Vương coi như Văn Hóa Cội Nguồn đã mất hẳn. Bách Việt Văn Lang trở thành lạc Cội lạc Nguồn kể từ thời An Dương cho đến tận bây giờ.

Con Rồng cháu Tiên vì lạc mất Cội Nguồn đi vào giấc ngủ Nam Kha kéo dài trên 2 nghìn 270 năm cho đến tận ngày nay. Trong lúc tinh thần con Rồng cháu Tiên ngủ, có nhiều loại giặc đến xâm lược nước ta. Như giặc Tần, giặc Hán, giặc Mông, giặc Nguyên, giặc Minh, giặc Tống, giặc Thanh, và còn nhiều thứ giặc nữa, v.v…

Con Rồng cháu Tiên tuy đang ngủ, nhưng chỉ cần cựa mình một cái là giặc Tần cuốn vó chạy dài. Ngáp một cái là giặc Hán thi nhau chui qua lỗ chó chạy trốn. Con Rồng cháu Tiên chỉ cần trở mình một cái là giặc Mông, giặc Nguyên, Giặc minh tan tành không còn manh giáp. Chỉ cần nhích chân động tay một cái là vùi chôn giặc Tống, giặc Thanh dưới lòng sông.

Các em có thấy con Rồng cháu Tiên lợi hại ghê chưa. Ngủ mà còn lợi hại như vậy huống chi con Rồng cháu Tiên thức thời có nước nào mà dám xâm lược. Sợ không dám nhìn về phương nam nước ta nữa là khác.

Lại nữa con Rồng cháu Tiên luôn là trường sanh bất tử không bao giờ mất đi.

Triều đại nầy ra đời rồi tan biến, triều đại khác tiếp theo cũng trở thành mây khói. Từ thời An Dương Vương, đến hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Trịnh, Nguyễn, Quang Trung, Gia Long, Minh Mạng. cũng như nhiều triều đại tiếp theo sinh ra rồi tan biến chẳng khác gì khói mây.

Chỉ có con Rồng cháu Tiên không gì thay đổi trước sau như một, trường tồn theo thời gian, không ai làm gì nổi.

Huống chi giờ đây con Rồng cháu Tiên đã thức dậy nở hoa Trí Tuệ, kết quả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Mở con mắt sáng ngời quét qua, quét lại, ngoại xâm mà không chạy trốn thời toi mạng như không. Con Rồng cháu Tiên giờ đây chỉ cần nhích chân động tay thời cuồng phong bão tố nổi lên cát bay đá chạy yêu tinh ma quỷ chui hang không dám thò đầu ra nữa. Hai lỗ mũi Rồng Tiên chỉ cần hít thở vài cái là sấm sét nổi lên rung trời chuyển đất giặc nghe sấm sét liền sợ hãi chạy bỏ giày bỏ dép mặt mày tái mét cắt không còn chút máu. Rồng Tiên mà há miệng thổi ra một cái tức thời thiên binh vạn mã bay như giấy chết không kịp ngáp, các em có thấy sướng không uy linh tột thế đấy chứ. Rồng Tiên chỉ cần há miệng hớp một cái là nuốt sạch quân xâm lược vào bụng, các em thấy khiếp chưa. Rồng Tiên chỉ cần nghiến răng trợn mắt là quân thù bò la bò lết sợ quá lưng mật mà chết hết còn đâu dám xâm lược nước Việt Nam ta. Cô giáo Mẫn giảng bài xong liền hỏi có em nào phát biểu ý kiến không?

Cả lớp đồng dơ tay, cô giáo Mẫn chỉ một em ngồi bàn trên tên là Đại Tiếu em phát biểu ý kiến đi.

Đại Tiếu đứng lên nói; Thưa cô em đã hiểu sức mạnh của con Rồng cháu Tiên rồi. Lúc ngủ mà giặc còn bỏ mạng, huống chi con Rồng cháu Tiên đã thức dậy, lại còn múa tay động chân tập thể dục, làm cho đất trời chao đảo, cả nhân loại năm châu khiếp vía kinh hoàng. Nói gì đến giặc ngoại xâm mặt cắt không còn chút máu sợ quá tự chết cần gì đánh đập cho mệt tay. Bất Chiến Tự Nhiên Thành phải không cô. Cả lớp nghe Đại Tiếu phát biểu ý kiến như thế cười ngã nghiêng ngã ngửa. Cô giáo Mẫn nói các em đừng cười nữa Đại Tiếu phát biểu đúng đấy. Ngoại xâm mà thấy con Rồng cháu Tiên thức dậy ngâm nga vài câu thơ thời bỏ chạy không cần đánh cũng thắng đó các em.
 
11. TÈO VÀ TẸO
Ngày xưa ở nước Ma Hạ, tại xã hòa Vân, huyện Đồng Giao có một người tên Tèo không những trí huệ võ nghệ hơn người mà còn có tài chạy nhanh hơn đằng vân của Thần Tiên, tiếng tăm lan ra cả nước. Tèo chỉ vài bước chân là vượt qua hơn chục nước, ma quỷ cũng phải kinh hồn cho cái tài chạy nhanh nầy.

Khi ấy tại xã Tiêu Dao, huyện Su Phì cũng có một người chạy nhanh như thế tiếng tăm lừng lẫy không kém gì Tèo tên là Tẹo. Một hôm Tẹo nghĩ trên đời nầy không thể có hai mặt trời, không thể có hai cọp chúa trong một khu rừng được, phải phân cao thấp, tuy hai người cách xa hàng nghìn dặm nhưng Tẹo chỉ nhích vài bước chân liền đến nhà Tèo.

Tẹo đưa một phong thơ thách đấu trên đỉnh núi Vu Sơn. Các vị Thần núi, Thần sông, Thần rừng, Thần hồ, Thần mây, Thần Gió, Thần nắng, Thần mưa. Nói chung là các vị Thần đến xem trận đấu giữa Tèo và Tẹo.

Tẹo đến sớm hơn, vai mang bảo kiếm trông như thiên tướng nhà trời. Tèo đến chậm hơn mấy phút, oai phong không kém gì Tẹo. Tẹo nhìn Tèo cười ha hả nói ta tưởng đâu ngươi sợ quá cút luôn rồi chứ. Tèo cười nói làm gì có chuyện đó, ta cũng thấy hơi lo nhưng vì chữ tín cút làm sao được. Tèo nói hai ta thắng thua bằng cách nào đây?

Tẹo nói ai làm rách áo người kia trước thời coi như là thắng trong thời gian hai giờ giao đấu thôi, nếu không ai làm rách áo ai thời coi như huề, chờ cơ hội khác vậy. Tèo nói lấy ai làm chứng thắng thua. Tẹo nói các vị Thần kia sẽ làm chứng cho chúng ta. Tèo nói tôi ném hòn đá lên trời hòn đá rớt xuống đất là giao đấu. Tức thời hòn đá được quăng lên trời vừa rớt xuống, thời các vị Thần không thấy Tèo, Tẹo đâu nữa mà chỉ thấy kiếm khí ù ù cát bay đá chạy cây cối đổ nhào ngã lăn, kiếm chạm nhau như bắp rang đinh tai nhức óc, hai giờ đã trôi qua hai người dừng lại mời các vị Thần xem qua ai là bị rách áo, các Thần xem qua không thấy ai bị rách áo cả liền nói hai người chẳng ai thắng ai, thủ hòa. Tèo, Tẹo cảm ơn các vị Thần rồi nhích chân biến mất, có lẽ Tèo, Tẹo đã trở về nhà rồi.

Nói về Vua Bát La nước Ma Hạ chỉ có một người Công Chúa độc nhất tuổi mười tám sắc nước hương trời, đẹp như tiên giáng trần nhưng chưa chịu lấy chồng vì không có ai vừa ý cả. Nhiều vị hoàng tử các nước lân cận dạm hỏi nhưng công chúa Tiên Nga đều chê là không có trí huệ, chỉ biết dùng sức mạnh để thắng người, lúc nào cũng phô trương là tài giỏi quyền thế.

Một hôm thấy Phụ Vương có vẻ buồn Công Chúa nói thưa Cha nghe nói trong nước Ma Hạ ta có hai người vô cùng tài giỏi sao Cha không mời họ đến đây xem thử có đúng như lời đồn không?

Vua Bát La như chợt nhớ ra, nhưng rồi lắc đầu nói họ chỉ là dân thường làm sao xứng với Công Chúa, nhất là kế vị ngôi vua sau nầy.

Công Chúa nói không phải ngày xưa Phụ Vương cũng là thường dân sao? Vua Bát La nghe Tiên Nga nói thế liền tỉnh ngộ cho người mời Tèo, Tẹo về hoàng cung trước là xem mặt, nếu tướng tá không ra gì thời khỏi phải thi. Tèo và Tẹo nhận được chỉ thị của Vua Bát La liền mừng rỡ nghĩ đây là cơ hội để phân thắng thua, không nghĩ là Vua Bát La chọn rễ. Hai người liền vào cung quỳ lạy thưa rằng chúng thần nhận được chỉ thị của Bệ Hạ liền vào cung không dám chậm trễ.

Vua Bát La ngắm nhìn hai người một hồi khen thầm trong bụng quả là loài rồng không phải người thường, không khác gì Thần Tiên giáng hạ. Vua Bát La hỏi qua sở trường của hai chàng trai trẻ là gì. Tèo, Tẹo đáp rằng muôn tâu Bệ Hạ văn võ trí tuệ có thừa. Vua Ma Hạ chưa biết ra đề thi gì thời Công Chúa Tiên Nga xuất hiện xinh đẹp lộng lẫy vô cùng. Tèo, Tẹo nhìn thấy nhưng thái độ lạnh lùng. Tiên Nga có vẻ hơi tự ái, nhưng trầm tĩnh trở lại. Vua Bát La cũng vô cùng kinh ngạc vì sự thờ ơ của hai chàng trai trẻ trước sắc đẹp lộng lẫy của Tiên Nga.

Tiên Nga mỉm cười nhìn Tèo, Tẹo nói Công Chúa tôi đã nghe hai người từ lâu, quả là khí phách hơn người thần khí minh chính. Sở trường của hai người chính là chạy nhanh, hai người chỉ cần chạy ra biên giới bôi thuốc đỏ lên cột mốc rồi trở về đây, ai nhanh chân hơn người đó thắng. Ta có con ngựa Thiên Lý Mã ngày đi nghìn dặm cho người theo khảo sát sự thắng thua của hai người. Tẹo nghe xong nói thưa Công Chúa từ đây đến biên giới chỉ có hơn hai nghìn dặm làm sao thi được. Công Chúa kinh ngạc nói Thiên Lý Mã ta vừa đi vừa về cũng đã mất ba ngày, đó là chạy hết tốc lực. Hai ngươi chạy nhanh hơn Thiên Lý Mã của ta sao?

Tèo nói thưa Công Chúa chúng tôi muốn chạy thi vòng quanh trái đất. Công Chúa hãy nói với Bệ Hạ cắm một lá cờ trước cung điện nếu ai tới trước cầm lấy lá cờ người ấy thắng. Công Chúa nghe xong lấy làm ngơ ngác. Vua Bát La cũng biến sắc, tưởng mình nghe lầm liền hỏi lại hai chàng trai trẻ muốn chạy thi vòng quanh trái đất sao? Tèo, Tẹo đồng thưa đúng thế Bệ Hạ. Vua Bát La hỏi thời gian mấy tháng hay là cả năm. Tèo, Tẹo nói thưa Bệ Hạ chỉ trong vòng nửa giờ, nhiều khi chưa tới nửa giờ. Vua Bát La nghe xong nói việc nầy phải có sự chuẩn bị trước, sáng mai bàn với các quan trong triều rồi sẽ tính. Vua Bát La sai người dẫn Tèo, Tẹo đến một cung điện sang trọng tiếp đãi hết sức tử tế.

Ánh bình minh vừa ló dạng đã nghe tiếng Tèo, Tẹo nói chuyện với nhau. Tèo nói trong cuộc so tài nầy ai thắng ai thua chúng ta vẫn là bạn với nhau. Tẹo nói đương nhiên rồi chỉ là so tài thôi mà.

Vua Bát La nhìn thấy các vương quan đến chầu đông đủ liền nói lên câu chuyện so tài của hai chàng trai, các vương quan nghe xong đều ngơ ngác tưởng là mình nghe lầm, nhưng không có ai lên tiếng cả. Vua Bát La nói tiếp các khanh có thể làm chứng cho cuộc so tài nầy.

Vua Bát La cho người cắm một cây cờ trước sân rồng,có đầy đủ bá quan văn võ ở đó, đương nhiên phải có Công Chúa Tiên Nga. Vua Bát La tuyên bố đầu giờ thìn khởi hành cuối giờ thìn mà hai người chưa trở về thời coi như cuộc thi hủy bỏ. Tèo và Tẹo nai nịt ăn mặc gọn gàng trông như hai Thiên Thần giáng thế. Đầu giờ thìn một tiếng trống đánh lên, tức thời Tèo và Tẹo biến mất, người ta bất chợt nhìn thấy Tèo không chạy thi gì cả vẫn còn nguyên chỗ cũ, còn Tẹo thì biến đi đâu mất không nhìn thấy nữa. Tèo từ từ bước đến cây cờ nằm tréo cẳng ngủ, chẳng ai hiểu nếp tẻ gì cả. Công Chúa nói nhỏ với Phụ Vương người nầy mới là người thông minh nhất trần gian, chẳng tốn chút hơi sức nào cũng thắng được, người kia quả là bậc kỳ nhân trên đời, thảo nào thấy gái đẹp vẫn trầm tĩnh như thường.

Nói về Tèo biết Tẹo sắp chạy về đến nơi liền ôm chặt cây cờ. Công Chúa vô cùng hồi hộp mau đến thế sao. Công Chúa vừa nghĩ xong thời Tèo cầm cây cờ giơ lên, một cơn lốc ập tới, Tẹo đã hiện ra mồ hôi ướt ròng cả áo. Tẹo nhìn Tèo không đổ chút mồ hôi la lớn ngươi chạy nhanh đến thế sao? Lấy lại bình tĩnh Tẹo hỏi ngươi không chạy thi? Tèo nói ta chạy đến trước ngươi bằng chứng là ta đang cầm lấy cây cờ. Tẹo bái một bái nói ta thua ngươi rồi, ngươi quả là trí, đức song toàn. Tẹo định bỏ đi Tèo nắm lấy tay nói chúng ta đã giao kèo với nhau rồi dù thắng hay thua cũng là anh em. Tẹo liền không bỏ đi nữa. Các quan đại Thần như vừa trải qua một giấc mơ không thể tin là có thật trên đời.

Đức Vua Bát La thấy Tẹo đã nhận thua liền công bố Tèo thắng cuộc. Vua Bát La gả Công Chúa Tiên Nga cho Tèo, gả Quận Chúa em họ Công Chúa Tiên Nga cho Tẹo, Tẹo nhìn thấy Quận Chúa xinh đẹp trong lòng cảm thấy làm vui.

Nói về Hoàng Tử nước Cô Tô luôn ôm hận vì bị Công Chúa Tiên Nga từ chối kết duyên mà còn bị Công Chúa cho là kém trí thiếu đức, chờ có cơ hội là đem quân tiến đánh nước Ma Hạ. Đất nước Cô Tô vô cùng hùng mạnh, nhiều nước tùng phục Cô Tô. Vua Cô Tô vô cùng hung bạo, điều nầy đã làm cho Vua Bát La vô cùng lo sợ, nhất là Công Chúa từ chối sự cầu hôn của Hoàng Tử Cô Tô.

Vua Bát La cũng đã lường trước thế nào nước Cô Tô cũng tiến đánh nước Ma Hạ, không ngờ chuyện lại xảy ra nhanh đến thế, quân Cô Tô tiến sang biên giới như nước lở bờ. Quân Ma Hạ không chống trả nổi, không bao lâu quân Cô Tô kéo đến thành Ma Hạ bao vây lớp trong lớp ngoài đông như kiến cỏ, buộc Vua Bát La đầu hàng giao nạp Công Chúa trở thành chư hầu nước Cô Tô thời may ra còn sống bằng không nước Ma Hạ coi như bị xóa sổ.

Vua Bát La chưa biết làm thế nào thời có vị Vương Quan Cha Vợ của Tẹo liền tâu. Muôn tâu Bệ Hạ đã đến nước nầy thời Bệ Hạ hãy trao quyền thống lãnh quân binh Ma Hạ cho Phò Mã. Để Phò Mã thống lãnh quân binh tử chiến với quân giặc. Các quan cũng đồng tâu như thế, Vua Bát La liền cho đòi Phò Mã Tèo cùng Quận Công Tẹo đến phong cho Thống Tướng, phó Thống Tướng thống lãnh toàn bộ quân binh đối đầu tử chiến với quân xâm lược.

Nhận ấn soái xong Tèo và Tẹo thống lãnh binh mã mở cửa thành xông ra tử chiến với quân Cô Tô. Công Chúa, Quận Chúa ở trên thành phất cờ khích lệ ba quân tướng sĩ tử chiến cũng như động viên tinh thần phu quân sẵn sàng một còn một mất với giặc.

Tèo, Tẹo nhìn quân xâm lược hét lớn, nước Ma Hạ không oán thù gì với nước Cô Tô, sao nước Cô Tô xâm lược nước Ma Hạ. Làm trái ý Trời hãy rút quân trở về Cô Tô giữ hòa khí láng giềng với nhau. Hoàng Tử Cô Tô cười ha hả thét lớn bỏ khí giới đầu hàng đi, may ra còn cái đầu để sinh sống. Bằng không không còn con gà con chó, ta thổi ba hồi còi không quy hàng tức là nước Ma Hạ coi như bị xóa sổ. Tèo phi ngựa đến nói nhỏ với Tẹo giết sạch các tướng lĩnh không cần giết quân lính giảm bớt sự chết chóc coi như chúng ta đã làm phước thiện, đáng lý quân Cô Tô phải bỏ mạng chết sạch nơi đây.

Tiếng còi thứ ba vừa kết thúc quân Cô Tô ào ào như nước lũ lao tới. Công Chúa, Quận Chúa trên thành nhìn thấy quân Cô Tô đông như kiến lao tới chém giết quân Ma Hạ, liền phất cờ thét lớn tiến lên tử chiến, tiến lên tử chiến. Không còn chần chờ gì nữa Tèo, Tẹo hét như sấm nổ làm kinh khiếp quân Cô Tô. Tèo, Tẹo biến mất chỉ thấy kiếm khí phủ tới đâu, đầu các tướng lĩnh quân Cô Tô bay lông lốc. Hoàng Tử Cô Tô bị chặt làm ba khúc. Quân Cô Tô như rắn mất đầu khiếp hoảng dẫm đạp lên nhau mà chạy, quân Ma Hạ thừa thắng xông lên chém thôi là chém, Công Chúa Quận Chúa thấy quân Cô Tô bỏ chạy tay phất cờ miệng thét lớn tiến lên tử chiến chém sạch quân thù, chém cho lũ giặc ngã nhào, chém cho chết sạch chẳng còn một tên. Công Chúa, Quận Chúa thi nhau hò hét phất cờ đến nổi kiệt sức ngồi bệt xuống đất miệng mũi tranh nhau mà thở. Quân Cô Tô dẫm đạp lên nhau chạy thục mạng bị quân địa phương Ma Hạ rượt đuổi chém giết chạy về tới nước Cô Tô chết hơn phân nửa. Vua Cô Tô nghe Hoàng Tử bị chặt làm ba khúc chết hơn trăm tướng tài nhất nước Cô Tô liền thét lên một tiếng trào máu họng qua đời hồn sa địa phủ xong đời bạo chúa.

Vua Bát La nhường ngôi cho Tèo. Tèo lên ngôi đời thứ hai Mạ Hạ dân chúng an lạc thái bình không còn đất nước nào dám xâm lược nữa. Công Chúa sinh được hai trai hai gái. Sống an vui hạnh phúc.
 
12. GIA ĐÌNH ÔNG HẬU
Chín mười năm nay tháng nào cũng vậy, thường thường bảy tám giờ tối. Bà Hậu tụng kinh sám hối. Ông Hậu thời chẳng quan tâm gì đến, mà thường hay ngủ khì khi nghe Bà Hậu tụng kinh.

Bà Hậu tụng xong kinh sám hối, rời khỏi căn phòng thờ Phật, thấy Ông Hậu nằm ngủ khì thời có vẻ không ưng ý lắm. Liền nói cái Ông này không có nhân duyên với Phật, hể nghe tôi tụng kinh thời ngủ khì. Thời nay cuộc sống tai họa thịnh hành, không biết nghe kinh sám hối cầu lành nhờ Phật che chở, thời tránh sao cho khỏi tai họa.

Cậu con trai tên Thịnh nghe Mẹ nói liền ủng hộ Mẹ, nói cũng phải nãy giờ con luôn nghe Mẹ tụng kinh, cầu cho gia đình mình luôn được bình an tai qua nạn khỏi. Bà Hậu nghe Thịnh nói thế liền khen đúng là con hơn Cha nhà có phúc, mầy giống tao hơn giống Cha mầy, mầy coi kìa mới hơn tám giờ mà Ổng ngủ say sưa như chết, tao mà như Ổng lấy đâu ra phước đức. Nhờ tao siêng năng cầu sám hối nên nhà nầy mới được bình yên lại có của ăn của để.

Cô gái lớn tên Hạnh xen vào nói, quyền tự do tín ngưỡng mà Mẹ. Mẹ nói sao con thấy Cha siêng năng đến đền thờ nơi thờ phụng Quốc Tổ lắm đó. Không phải Cha là người vô Đạo không biết tu nhân tích đức đâu.

Con nghe người ta thường nói, con cái nhờ hưởng phước đức của Ông Bà Cha Mẹ, nên mới giàu có nếu hưởng phước đức lớn thời làm quan làm vua. Có những người họ đâu có cầu Chúa cầu Phật cầu Tiên cầu Thần gì đâu, mà họ vẫn giàu sang phú quý, con cái vẫn học hành đến nơi đến chốn, không phải nhờ phúc đức Ông Bà Cha Mẹ là gì. Nếu nói cho đúng chúng con học hành đến nơi đến chốn đều nhờ phước đức Ông Bà, Cha Mẹ. Bằng chứng là chúng con không những nhờ công ơn Cha Mẹ nuôi dưỡng biết bao khổ cực khó nhọc nuôi lớn chúng con, mà còn tốn không biết bao nhiêu tiền của nuôi chúng con ăn học, không phải nhờ công ơn Cha Mẹ là gì. Cha Mẹ chính là Phật, Thánh, Thần, Tiên của chúng con rồi. Cũng như bao sự may mắn đều nhờ phước của Ông Bà, cũng như Cha Mẹ biết tu nhân tích đức Cha Trời Mẹ Trời ban phúc cho. Đó là sự thật. Nếu Ông Bà Cha Mẹ ăn ở thất đức, thời đừng hòng gia đình mình khấm khá như thế nầy, cũng đừng mơ tưởng đến chuyện học hành thành đạt. Con nói Mẹ đừng giận, Mẹ có lạy một nghìn đức Phật, một nghìn đức Chúa, cũng không thể biến một gia đình bần cùng trở thành giàu được đâu. Vì Chúa, Phật cũng sống theo Luật Thiên mà thôi. Chúa, Phật mà phạm luật Thiên cũng bị sa đọa như thường.

Con tốt nghiệp thạc sĩ, Thịnh đang học đại học, như Mẹ thấy đó, con có biết lạy Phật lạy Chúa bữa nào đâu, mà con cũng tốt nghiệp loại giỏi. Thịnh học cũng giỏi, theo con nghĩ tất cả là nhờ phước đức Ông Bà Cha Mẹ. Trời chiếu theo phước đức Ông Bà, Cha Mẹ mà ban cho. Con chỉ nói lên sự thật, không phải con chê Phật hay Chúa đâu. Chính Phật, Chúa cũng phải biết tu nhân tích đức mới hưởng phước báo lớn được. Theo Luật Nhân Quả của Trời.

Theo con nghĩ về trời không phải chỉ có Phật Giáo thôi đâu. Mà còn nhiều con đường về trời. Như theo Chúa, theo Khổng, theo Lão, và còn nhiều pháp môn khác nữa. Nếu thật tâm hành thiện đều được về trời.

Bằng ngược lại theo Phật, theo Chúa, theo Khổng, theo Lão mà hành ác thời cũng bị sa đọa xuống Địa Phủ như thường. Phật, Chúa, Khổng, Lão không cứu được đâu.

Bà Hậu nghe xong liền lặng thinh. Ông Hậu đang ngủ bỗng ngồi bật dậy khen, Bà nghe con gái nói chưa. Đây mới là chính tông của Đạo Giải Thoát. Theo Phật, theo Chúa mà làm ác cũng bị sa đọa như thường, không Phật, Chúa nào cứu nổi đâu, bị luật Thiên xoay chuyển đành bó tay. Phật, Chúa không tạo ra những định luật siêu đọa đó đâu mà là Trời. Phạm Luật Trời không ai cứu nổi. Chỉ có người tạo ra Định Luật Siêu Đọa thời người đó mới cứu nổi. Nói cho cùng chỉ có Trời mới cứu nổi những người đã phạm Thiên Ý luật Trời.

Bà tụng kinh sám hối cầu mong cho gia đình bớt tai nạn, cũng là một cách tu nhân tích đức từ thiện tâm của Bà. Nhờ cái đức thiện tâm của Bà con cái mới được như ngày hôm nay. Không phải do Phật ban cho đâu. Mà là Trời chiếu theo thiện tâm tu nhân tích đức của Bà ban cho. Còn về trời là một chuyện khác, phải giác ngộ hiểu rõ Thiện- Ác cũng như các định luật của Thiên Ý. Như Luật Nhân Quả. Luật Nhân Duyên. Luật Vay Trả, Luật Siêu Đọa, v.v… Cũng như hiểu rõ ai là người tạo ra những Định Luật ấy chính là Trời. Chỉ có Trời mới có quyền lực nhất vũ trụ. Vì hiểu rõ Luật Nhân Quả nên không gieo nghiệp ác, lại biết nương vào Trời, đấng quyền năng nhất Tạo Hóa thời một trăm phần trăm sanh về trời.

Tôi xưa nay vì hiểu rõ Chân Tâm Chân Tánh chính là Phật, hiểu rõ Luật Trời chính Là Thánh. Biết Nương tựa vào Trời chính là Chúa. Tôi còn lạy Phật, Lạy Chúa, Lạy Thánh nữa mà làm gì. Tôi chỉ lạy Quốc Tổ người có công khai sinh lên đất nước nầy mà thôi. Lại là lại Đương Kim vũ trụ thay quyền Tạo Hóa. Thân, Khẩu, Ý của tôi đều hướng thiện chính là tụng kinh sám hối rồi. Bà tụng có một tiếng còn tôi thời tụng cả ngày lẫn đêm. Phước đức của tôi phải nói là hằng hà sa số.

Thân Khẩu Ý thanh tịnh chính là Phật. Hành, động theo Thiên Luật chính là Thánh, nương tựa Cha Trời chính là Chúa. Còn Phật, Thánh, Chúa nào nữa mà tôi phải tìm. Tôi chỉ kính lạy Quốc Tổ, trọn Đạo con dân của nước Việt Nam con cháu Tiên Rồng mà thôi.

Quốc Tổ là đấng Chí Tôn Thiên Đế con cả Cha Trời. Đương Kim Vũ Trụ, Anh cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu tôi không phải người Việt Nam tôi cũng đi theo Quốc Tổ để lập công với Tổ Tiên, Cha Trời Mẹ Trời. Hơn nữa chỉ có Quốc Tổ mới nói ra Thiên Ý. Nhờ Thiên Ý nầy mà Các thiện nhân trí thức dùng Văn Hóa Thiên Ý Cội Nguồn tận độ thế nhân lập Quốc Độ trên các cõi nước trời, trở thành Vua Trời, độ nhiều dân chúng phàm trần, thời dân chúng chư thiên cõi nước trời đông. Làm Vua Trời Lớn, Chúa Trời Lớn. Độ dân chúng phàm trần ít, thời cõi nước trời chư thiên ít. Làm Vua Trời nhỏ, Chúa Trời nhỏ.

Sự tôn thờ Quốc Tổ lợi ích rất lớn:

1 – Lòng Hiếu Trung Nhân Nghĩa tỏa sáng

2 – Được người thọ ký phong danh

3 – Là đoàn kết dân tộc làm cho quân thù khiếp sợ

4 – Còn Nguồn còn Cội, thời dân tộc Việt Nam nở cành xanh ngọn, tốt cành tốt lá, kết hoa Trí Huệ, kết quả Giác Ngộ.

Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

5 – Tự hào có Ông Quốc Tổ Đương Kim Vũ Trụ, Anh Cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

6 – Trở về Trời tùy theo công đức truyền kinh thuyết giáo mà nhận lãnh phước báo làm Vua làm Chúa các cõi trời. Nếu không độ ai thời làm Chư Thiên Dân Trời sống an vui hạnh phúc vĩnh hằng.

7 – Lưu danh sáng mãi nơi trần thế, ai ưa mến tánh danh của mình không hành ác liền được siêu sanh cõi nước mình.

Thịnh và Hạnh nghe Cha giảng giải như vậy liền giác Ngộ trí huệ tỏa sáng nhìn rõ chân tướng lẽ thật lẽ hư. Vượt lên trên tín ngưỡng ngộ Đạo, tức thời thấy rõ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đều do tâm không ở đâu mà tìm. Nếu biết Hành Thiện, Hiểu Luật, Nương Tựa Cha Trời thời còn lo gì nữa mà không về trời. Việc trở về trời như ở trong lòng bàn tay.

Triết lý của Đạo Giải thoát sanh tử chính là ở chỗ nầy ở đâu mà tìm. Hạnh và Thịnh vui mừng vô kể. Hỏi những triết lý Cha truyền dạy có phải là Văn Hóa Đại Thừa Cội Nguồn không? Ông Hậu nói lời Cha truyền dạy chính là Thiên Ý Cha Trời cao hơn lời Phật dạy, lời Chúa dạy, lời Thần dạy, lời Thánh dạy, Thiên Ý mà các con. Thịnh cùng Hạnh được Cha Truyền dạy Vũ Trụ Cội Nguồn Thiên Ý Tối Cao.

Hạnh hỏi con thấy Cha thường niệm Nam Mô- A Men. Nhiệm mầu ra sao? Ông Hậu nói Niệm bốn chữ Nam Mô- A Men bằng niệm hằng hà sa số Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Không có gì lợi ích hơn là niệm Nam Mô- A Men trước khi cầu nguyện sẽ được Linh Ứng như ý.
 
13. CÔNG VÀ PHỤNG
Ngày nào cũng vậy Công thường đến nhà Phụng để chơi luôn có sự tranh luận xảy ra. Nhưng Công không bao giờ hơn được Phụng. Công về nhà suy nghĩ không lẽ thua Phụng mãi như vậy thời còn ra thể thống gì bằng moi óc tìm ra câu hỏi khó để cho Phụng thua.

Nói về Phụng cảm thấy làm lạ cả tuần nay không thấy Công đến chơi. Phụng vừa nghĩ xong đã thấy Công ngoài ngõ đi vào. Công đi vào nhà Phụng với vẻ tự tin, Phụng ra đón Công. Công thấy Phụng ra đón liền cười ha hả nói cha mặt trời mọc đằng tây rồi mọi chuyện hình như thay đổi.

Phụng cười nói mọi việc vẫn như cũ mà, Công nở nụ cười bí hiểm Phụng nhìn thấy nhưng phớt lờ như không thấy, cũng như mọi khi Công và Phụng vừa thưởng thức trái cây vừa nói chuyện kẻ nói qua người nói lại một hồi. Công liền hỏi. Nầy Chị Phụng, chị có biết trong vũ trụ nầy có ai cao hơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không?

Công lại nói Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa có thể biết trước mọi việc trên đời không ai là không kính ngưỡng Phật, Thánh, Tiên. Thần, Chúa là cao nhất vũ trụ rồi Chị Phụng có thấy như vậy không? Phụng Hoàng im lặng không nói gì.

Công tưởng rằng Phụng Hoàng đã thầm phục cái tài hiểu biết của mình liền nói. Sự hiểu biết của Tôi về Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa phải nói là không thể nào nói hết được, ở đây Công tôi chỉ nói sơ một ít thôi.

Đến lúc nầy Phụng Hoàng mới hỏi theo chị Công Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa người nào khai tạo lập lên vũ trụ? Ai tạo ra không khí cho chúng ta hít thở. Ai tạo ra Thần Lực vũ trụ cho chúng ta tu luyện pháp thuật thần thông? Ai tao ra Đất, Nước, Gió, Lửa cũng như cây cỏ vạn vật để cho chúng ta có sự sống. Trong năm ngôi quyền năng Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ai là người tạo lên sự kỳ diệu tối cao như vậy?

Công liền trả lời, những thứ ấy là do Phật tạo ra.

Phụng Hoàng lại hỏi Phật thời có hằng hà sa số Phật vậy vị Phật nào tạo lên vũ trụ, tạo lên Thần Lực vũ trụ, tạo lên không khí vũ trụ, tạo lên Đất, Nước, Gió, Lửa. cũng như tạo lên cây cỏ, muôn loài vạn vật? Công nghe Phụng Hoàng hỏi liền ngơ ngác nói tôi đã từng tiếp xúc hằng hà sa số Phật, nhưng chưa nghe Phật nào nói là Phật tạo lên vũ trụ, tạo lên Thần Lực vũ trụ cho chúng ta tu luyện thần thông, tạo lên không khí vũ trụ cho chúng ta hít thở. Cũng không nghe Phật nào nói Ta tạo lên cây cỏ muôn loài vạn vật.

Mà chỉ nói không nên giết hại sinh mạng chúng sinh, cũng như chỉ cho nhân loại con đường thiện lành mà thôi. Chưa có vị Phật nào giải thích rõ điều nầy. Mà chỉ nói chung chung là do quy luật tự nhiên tạo ra.

Phụng hoàng lại hỏi. Những Quy Luật Tự Nhiên do ai tạo ra mà có. Ví dụ như định Luật Nhân Quả, Định Luật Tuần Hoàn, Định Luật Nhân Duyên, Định Luật Tự Nhiên, Định Luật Vay, Trả. Định Luật Sanh Lão Bệnh Tử, Định Luật Siêu, Đọa phải nói là vô số định luật ai tạo ra? Lại nữa sự vận hành vũ trụ vô cùng trật tự. Ai đã làm ra điều ấy?

Phụng Hoàng càng hỏi Công càng ngơ ngác, Công nói Tôi nghe Phật giảng kinh cũng nhiều, nhưng chưa bao giờ nghe Phật nói Phật tạo ra những định luật nầy. Mà phải nương theo những định luật ấy giải thoát tội lỗi, giải thoát sanh tử. Nương theo các định luật ấy mà thành Phật, mà siêu sanh lên trời. Quả là những câu hỏi khó Phật còn chưa làm rõ được huống chi là Công Tôi, xin chịu thua. Phật pháp trí huệ vô biên mà còn chưa làm rõ được, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng thế mà thôi. Không ai có thể giải thích nổi chuyện nầy đâu.

Công nói những chuyện bí mật Tạo Hóa phải chờ Đức Chí Tôn đương kim vũ trụ ra đời mới giải thích nổi.

Phụng Hoàng nói tôi đã từng lên cõi Long Vân Phước Quả Trung Ương Trung Thiên Giới nghe Đức Chí Tôn truyền dạy. Tổ Tiên Tạo Hóa đã khai lập lên vũ trụ, tam thiên đại thiên thế giới, 28 tầng trời. Mỗi tần trời có vô lượng cõi nước, hằng hà sa số nước Phật, Nước Thánh, Nước Chúa. Nước Thần, Nước Tiên.

Tổ Tiên Tạo Hóa khai lập tạo lên hạ thiên vũ trụ, Thất Sơn Châu Báu, Năm Non Bảy Núi. Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà, Ngân Hà. Có hằng hà sa số đất nước Phật, đất nước Thánh, đất nước Tiên, đất nước Thần, đất nước Chúa ở đây.

Tổ Tiên Tạo Hóa, khai lập tạo dựng ra 18 tầng Địa Phủ. Mỗi tầng Địa Phủ có vô số Địa Ngục nhốt giam những Linh Hồn hành ác.

Tổ Tiên Tạo Hóa, khai lập lên bốn cõi Trần Gian. Làm bốn cõi trường thi vũ trụ. Cha, Mẹ Trời sanh ra Nhân Loại nơi đây, để muôn loài vạn vật đầu thai vào loài người tu luyện tiên hóa Linh Hồn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, về trời làm chủ Hạ Thiên, Trung Thiên, Thượng Thiên vũ trụ. Vị nào có công dìu dắt nhân loại nhiều thời Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa có cõi nước lớn nhỏ khác nhau là do công sức độ sanh của mỗi người.

Phụng Hoàng hỏi, nầy Chị Công theo chị nghĩ có mấy bản thể hư không vũ trụ?

Công trả lời tưởng chuyện gì chứ chuyện nầy thời tôi quá hiểu chỉ có một bản thể hư không vũ trụ chỗ nào cũng có.

Phụng Hoàng nói bản thể rộng lớn hư không bao trùm chỗ nào cũng có ấy. Chính là Bản Thể của Tạo Hóa Tổ Tiên. Hay còn gọi là Bản Thế Như Lai. Hay Bản Thể Chúa Trời Cha Trời cũng thế. Bản Thể Linh Giác vũ trụ trong suốt Vô Vi tuy ở ngay trước mắt chúng ta nhưng chúng ta không bao giờ nhìn thấy được. Ví dụ như điện, như không khí lúc nào cũng ở xung quanh chúng ta nhưng chúng ta không nhìn thấy được. Không thấy chứ không phải không có.

Bản Thể Tối Cao Khai Hóa Tổ Tiên. Là bản thể Tạo lên tất cả. Gọi là Bản Thể Tối Cao Đại Đạo. Nên nói mọi vạn vật từ Đại Đạo sanh ra, rồi tất cả mọi vạn vật trở về Đại Đạo, hay còn gọi là trở về Cội Nguồn.

Công có biết không Tổ Tiên Tạo Hóa sanh ra tất cả. Thời Tổ Tiên Tạo Hóa cũng phải hiện thân ra Cha Trời, Mẹ Trời để quản lý tất cả cũng như chỉ dạy dìu dắt tất cả. Nhờ sự dìu dắt nầy, nên Linh Hồn con người mới tiến hóa thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đông vô số vô biên trên các cõi trời. Cũng như ở Thất Sơn Non Tiên Châu Báu.

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đều có công độ người theo nhân hạnh phác nhau.

Phật độ người theo nhân hạnh Từ Bi. Đỉnh cao tận độ chính là Thân, Khẩu, Ý hành thiện.

Thánh độ người theo Nhân Cách, Tư Cách, Phẩm Hạnh. Đỉnh cao tận độ của Thánh, chính là hiểu rõ những Định Luật Thiên Ý, khuyên dạy con người không được phạm Thiên Ý phải sống theo Luật. Phạm Luật thời phải bị hành xử. Thiên Ý huyền Cơ xử, Hiến Pháp Trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Trị.

Tiên độ người theo cách sống làm người. phải biết phục vụ cho đời sống, phải phát minh sáng tạo khoa học, biết Luật, biết Đạo, nhất là không đánh mất Đạo Làm người. có Nhân, có nghĩa, có Lễ, có Trí, có tín. Thuận Thiên thời còn nghịch Thiên thời mất. Đỉnh cao Tiên Đạo là sống tự nhiên, sống tự tại thanh nhàn đó là cốt cách của Đạo Tiên.

Thần độ người là phải biết bảo vệ lẽ phải, bảo vệ Công Lý Chân Lý. Nhất là bảo vệ Thiên Ý của Trời. Trở thành Long Thần Hộ Pháp. Thiên Thần Hộ Pháp trừ quỷ, diệt tà h.ãm hại con người. Phá hoại Chánh Pháp. Đỉnh cao của Đạo Thần là Trung, Hiếu Tiết, Nghĩa.

Chúa độ người là phải Quy Kính Chúa Trời, nương tựa vào Chúa Trời tức là Quy Kính Cội Nguồn. Chúa Trời cũng Chính là Cha Trời. Cha Trời Chúa Trời cũng chỉ là một.

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, mỗi ngôi lập công theo mỗi cách nhưng rốt lại cũng chỉ là độ người. Làm theo Thiên Ý Cha Trời dạy mà thôi.

Như vậy Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng chỉ là con người, con của Cha Trời Mẹ Trời, làm theo lời dạy Cha Trời Mẹ Trời lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn tao ra hà sa phước đức cho chính mình. Linh Hồn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa là tiểu Linh Hồn vũ trụ từ Đại Linh Hồn vũ trụ sanh ra. Đại Linh Hồn vũ trụ ví như nước, còn tiểu Linh Hồn vũ trụ ví như bọt nước từ nước hiện ra. Đại Linh Hồn vũ trụ Bản Thể Linh Giác, tiểu Linh Hồn vũ trụ Bản Thể Linh Thức, chỉ có thế không có gì là bí mật cao siêu cả, sự thật là như vậy.

Bản thể nước chỉ duy nhất một bản thể, khởi sanh ra hằng hà sa số bọt nước không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn.

Đại Linh Giác vũ trụ chỉ có một, Nhưng khởi sanh ra tiểu Linh Thức vũ trụ thời vô tận vô biên.

Nói đến Linh Thức tiểu Linh Hồn vũ trụ thời ai cũng như nhau, tiểu Linh Hồn nào cũng như tiểu Linh Hồn nào. chỉ khác nhau ở hành thiện, hay hành ác. Hoặc Mê hay Giác Ngộ mà thôi. Hành thiện thời sanh về trời, hành ác phải sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.

Tóm lại: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, bình đẳng như nhau về Chân Tâm Chân Tánh không có sự cao thấp. Nhưng khác nhau về nhân hạnh ở mỗi ngôi.

Ngôi Phật chú trọng về Từ Bi, rốt ráo của sự từ bi là Thân, Khẩu, Ý luôn thanh tịnh hành thiện.

Ngôi Thánh chú trọng về Nhân Cách, Tư Cách, Phẩm Hạnh. Rốt ráo Ngôi Thánh là sống theo Luật. Thiên Luật, theo Hiến Pháp. Luật Pháp, Đạo Pháp.

Ngôi Tiên chú trọng về đời sống. Phục vụ đời sống, sáng tạo Khoa Học Ngôi Tiên chú trọng về Thanh Nhàn, rốt ráo của thanh nhàn là sống theo tự nhiên.

Ngôi Thần chú trọng về bảo vệ. Giữ an ninh trật tự, không cho phá hoại Chân Lý, Công Lý, nhất là Thiên Ý của Trời. Trở thành Chư Thiên Hộ Pháp, Long Thần Hộ Pháp.

Ngôi Chúa chú trọng về Nương Tựa hướng nhân loại Nương Tựa Trời, Quy kính Cha Trời, Chúa Trời cũng vậy. Nhưng ít ai hiểu được hướng về Cha Trời quy kính Cha Trời. Chính là quy kính Cội Nguồn. Đã quy kính Cội Nguồn thời Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, chính là Anh Em một nhà cùng Cội Cùng Nguồn. Đại Đồng Bình Đẳng. Không có sự cao thấp nơi Thiên Ý, mà chỉ do người phân biệt mà thôi.

Công nghe xong thời giác ngộ nói. Cảm ơn Chị Phụng Hoàng, thảo nào nghe Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nói Phụng Hoàng ở Ngôi số 2 trong loài người. Nên chị mới có đủ pháp thuật thông lên tận Trung Trung Thiên giới để nghe Đức Chí Tôn con cả Cha Trời thuyết giáo.

Nay tôi đã hiểu Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đều ở trong Tâm chớ ở đâu mà tìm. Chỉ cần hiểu rõ nhân hạnh của Phật, Thánh, Tiên Thần, Chúa, thời trở thành Chánh Giác lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ, đặng quả Nhất Thiết Chủng Trí. Trí đồng nhất ai cũng như ai. Thảo nào mà tôi cứ thua mãi không bằng chị.

Lâu nay nghe Chị cứ nhắc đến hai chữ Chí Tôn, ít khi nghe Chị nhắc đến Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Giờ Công tôi mới thật sự giác ngộ hiểu ra Chí Tôn chính là Anh Cả, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa lại là đương kim vũ trụ thảo nào ai nghe đến cũng cung kính. Công nói xong liền bái lạy Phụng Hoàng coi Phụng Hoàng là Bậc Thầy Sư Phụ.
 
14. THÁNH ĐỨC PHỤC SINH
Nghe tiếng chó sủa, người ta nhìn thấy một phụ nữ xinh đẹp đi vào nhà Bà Năm.

Người phụ nữ ấy không những xinh đẹp, mà giọng nói nghe ngọt ngào thanh tao ai nghe qua cũng cảm thấy mến ưa. Tiếng người phụ nữ ấy vang lên, chị Năm chị Năm có ở nhà không? Miệng thời hỏi nhưng chân bước lia bước lịa vào nhà.

Bà Năm đang ngồi nói chuyện cùng người bạn, chưa kịp trả lời thời người phụ nữ xinh đẹp đã đi vào lên tiếng chào hai người. Bà Năm định hỏi nhưng chưa kịp hỏi, thời người phụ nữ xinh đẹp nói chà ngồi đây mà tưởng đi đâu rồi. Bà Năm nhìn người phụ nữ mới đến hỏi, em Bảy xóm tìm tôi có chuyện gì mà có vẻ vội vàng quá vậy? Người phụ nữ tên Bảy xóm nhanh miệng nói có chuyện vui mới tìm đến chị nói cho chị nghe vậy mà.

Bà Năm chìa tay ra mời em Bảy ngồi. Bảy xóm vừa ngồi xong Bà Năm chỉ người bạn đang ngồi đối diện với mình nói em Bảy có biết người nầy không?

Người phụ nữ xinh đẹp tên Bảy chắp tay chào, rồi hỏi Chị Quyên đến đây chơi lâu chưa? Người phụ nữ tên Quyên chơi kịp trả lời. Bảy xóm nhìn Bà Năm nói em đâu có lạ gì chị Quyên. Chị Quyên là người phụ nữ xinh đẹp nổi tiếng ở Đền Hùng. Chị Quyên thường giảng về Văn Hóa Cội Nguồn ai cũng kính mến.

Bà Năm nhìn Bảy rồi hỏi thật ra em tìm Chị có chuyện gì? Bảy tươi cười nụ cười vô cùng duyên dáng em đã nói rồi mà, em tìm Chị là để báo cho Chị tin vui. Bà Năm nói hằng gì mắt chị nãy giờ cứ nháy lia nháy lịa tin vui lắm đây. Bảy nói cho Chị nghe đi.

Bảy xóm không trả lời Bà Năm mà nhìn Quyên rồi nói may quá hôm nay có Chị Quyên ở đây có thể giải đáp thắc mắc của em luôn.

Bà Năm nghe Bảy nói thế liền hỏi chuyện gì vậy Bảy?

Bảy Xóm hỏi Chị Quyên em nghe người ta đồn ầm lên. Tức, Hợi, Thánh Đức Phục sinh có nghĩa là sao? Em không hiểu. Nghe nói câu sấm ấy là do Trạng Trình để lại. Tiên đoán về cuối thời mạc pháp chuyển sang thời Thánh Đức. Thánh Đức Phục Sinh nghĩa là sao hở Chị? Bà Năm nhìn sang Quyên như đang chờ đợi câu giải thích.

Người đàn bà lịch sự sang trọng tên Quyên nhìn thấy hai người nhìn mình như chờ đợi câu giải thích, Quyên nghĩ thầm trong bụng có lẽ đây cũng là Ý Trời muốn mình giải thích câu sấm quan trọng mà người Việt Nam luôn trông đợi thỏa mãn lòng hiểu biết của câu sấm nầy.

Quyên nói chuyện gì chứ chuyện nầy thời tôi rất rành, tôi đã đọc qua câu sấm đây nhiều lần, và có người đã giải thích cho tôi hiểu. Nói về giảng sấm không phải giảng như giảng văn, mà phải giảng giải từng chữ rồi ghép lại thành câu. Nhưng phải đúng trong khuôn khổ của sấm nói về giai đoạn nào, Mạt Pháp, hay Thượng Ngươn Thánh Đức. Hay cuối thời Mạc Pháp. Câu sấm ấy phải giải đúng giai đoạn đầu Thượng Ngươn Thánh Đức thời mới trúng được.

Theo những gì Quốc Tổ dạy. Đầu thế kỉ trăm năm thời có Hiền Nhân ra đời. Đầu nguyên kỉ nghìn năm thời có vĩ nhân xuất thế. Như vậy đầu thế kỉ 21 cũng như đầu nguyên kỉ 3000 năm vừa có Hiền Nhân xuất thế vừa có Vĩ Nhân ra đời như vậy Câu ( Thân Dậu Niên Lai Kiến Thái Bình, Tức, Hợi, Thánh Đức Phục Sinh ) ở vào giai đoạn đầu thế kỉ 21 cũng là đầu kỉ nguyên 3000 năm. Ứng vào năm Thân, Dậu, Tuất, Hợi 2017 đến 2020. Sẽ có nhiều Hiền Nhân ra đời cả Vĩ Nhân ra đời. Phò giúp Pháp Vương Thiên Tử xuất thế. Pháp Vương Thiên Tử chính là Văn Hóa Cội Nguồn cũng như Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Nền Văn Hiến dựng nước Văn Lang.

Thánh Đức Phục Sinh ở đây có nghĩa là. Như chúng ta đã biết nói đến Thánh là nói đến Luật, nói đến Đức là nói đến Đạo Lý. Luật thời phát sanh từ Hiến Pháp. Đức phát sinh từ Đạo lý Văn Hóa. Như vậy Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Sẽ trở lại với dân tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng cuối thời mạc pháp giai đoạn đi lần đến kết thúc 2000 năm và tỏa sáng vào thượng ngươn Thánh Đức từ 2001 dần dần sáng tỏ đến 2017 thời tỏ rạng ánh bình minh đến 2020 kỷ nguyên 3000 nghìn năm thời tỏa ánh Dương Quang rực rỡ. Như chúng ta đã thấy Văn Hóa Cội Nguồn xuất hiện và đã tỏa sáng lần lần như chúng ta đã thấy.

Theo Quốc Tổ truyền dạy một đại cuộc xuất hiện phải mất 40 năm 20 năm ẩn Âm. 20 năm xuất hiện Dương. Như vậy Văn Hóa Cội Nguồn xuất hiện từ lâu cuối giai đoạn thế kỉ 20 cũng là cuối kỉ nguyên 2000. Giai đoạn ẩn, 20 năm và xuất hiện tỏa sáng lần từ năm 2001 đến 2020 là thấy rõ như mặt trời đã lên. Không những phục sinh về Văn Hóa Cội Nguồn, mà con phục sinh về dân tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng. Lạc Hồng vinh Hoa.

Để cho hai người rõ thêm Quyên nói.

Thánh Đức Phục sinh có nghĩa mất đi giờ hồi sinh trở lại. Cũng giống như cây khô héo lâu ngày, bỗng đâm chồi mọc nhánh cành lá sum sê, đơm hoa kết trái. Người đã ra đi không còn ở nhân gian bỗng nhiên trở lại chính là phục sinh, hồi sinh, tái sinh cũng vậy.

Thánh Đức Phục Sinh có nghĩa là nói đến Hiến Pháp dựng nước Văn Lang biến mất từ lâu, bỗng xuất hiện phục sinh hồi sinh trở lại với dân tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng.

Có nghĩa là năm nghìn trước đây. Quốc Tổ đã dùng Văn Hóa Cội Nguồn khai sinh ra nước Văn Lang, cũng như Bách Việt Tiên Rồng. Lập ra thời đại Hồng Đức niên đại Hùng Vương. Tất cả đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Nhưng sau đó Văn Hóa Cội Nguồn đi lần vào thất truyền do truyền khẩu quá dài đi vào tam sao thất bổn. Những gì còn sót lại Văn Hóa Cội Nguồn cũng đã biến mất khi kết thúc niên đại Hùng Vương kéo dài độc lập 2701 năm.

Nay Văn Hóa Cội Nguồn trở lại, chính là sự hồi sinh phục sinh đi vào cơ Thánh Đức, thượng ngươn huyền cơ Tạo Hóa.

Sự phục sinh, hồi sinh Văn Hóa Cội Nguồn, đem lại mùa xuân mới. Nước Việt Nam sẽ trở thành hùng mạnh. Không nói là lẫy lừng vang dội khắp năm châu bốn biển. Dân giàu nước mạnh. Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ, Công bằng, Bình Đẳng văn minh. Thánh Đức Phục Sinh là như thế những gì trước đây thời dựng nước đã có, giờ trở lại mà thôi.

Bà Năm và Bảy xóm ngồi nghe say sưa, tưởng như vừa trải qua một giấc chiêm bao không sao tưởng tượng nỗi. không tin sao được vì những gì đang diễn ra cơ Thánh Đức đã tới nơi rồi. Hai người nhìn nhau bái dài Quyên. Coi Quyên như nhà truyền Giáo truyền Đạo lỗi lạc góp phần vào mùa xuân đất nước.
 

15. CÒN GỐC THỜI CÒN TẤT CẢ; MẤT GỐC THỜI MẤT TẤT CẢ​

Ngày xưa ở xã Âm Giao, Huyện Lộc Hà nổi tiếng có hai vườn cam sai quả, hai vườn cam không xa mấy có vài trăm mét.

Nhưng vườn cam anh Hai Hại cho quả hơi chua. Còn vườn cam Ba Lợi cho quả ngọt. Cũng bởi giữa sự ngọt và chua đã đưa hai vườn cam thành hai cảnh giới khác nhau.

Vườn cam nhà Hai Hại thời luôn vắng khách hiếm lắm mới có người mua. còn vườn cam Ba Lợi thời lúc nào khách cũng đông. Kẻ mua người bán tấp nập tiền vô tiền ra như nước.

Hai hại càng ngày càng ghét vườn cam Ba Lợi, ở đời người ta thường nói ghét người ghét cả đường đi, thương người thương cả tông ti họ hàng. Vợ Chồng Hai Hại lúc nào cũng cay cú oán trách vườn cam của Ba Lợi. Nên ghét luôn tới vợ chồng Ba Lơi.

Một hôm bà Phụ vợ Hai Hại nhìn thấy vợ chồng Ba Lợi, liền nói với chồng, Tôi nhìn thấy vợ chồng thằng Lợi không có chỗ nào ưa được, tướng đi cũng xấu, nói cười cũng xấu thế mà mấy con mẹ nịnh nọt ca tụng tối ngày, mấy mụ đó nịnh nọt để mua cam rẻ, còn tôi thời muốn tác mấy cái cho vợ chồng nói bớt hống hách tức ôi là tức.

Vợ chồng Hai Hại nhìn cảnh ế ẩm của mình cả ngày mới có một hai người đến mua thời trong lòng vô cùng buồn bực, Vừa nhìn thấy khách mua cam đến, là vợ chồng Hai Hại miệng như tay, tay như miệng đón mời không ngớt, tiếp đãi tử tế coi khách hàng còn hơn thượng đế. Thế mà không mấy người đến mua mới lấy làm tức. Còn vợ chồng Ba Lợi không cần mời, không cần coi khách hàng là thượng đế thế mà người ta tranh nhau để mua lớp trong lớp ngoài, ngày kiếm vài triệu.

Cam bán không được độ khoảng chừng nửa tháng nữa thời chín rụng đầy vườn, Hai Hại vắt óc tìm giải pháp bán cam cho bằng được, nghĩ ra một kế h.ãm hại vợ chồng Ba Lợi. bằng cách tìm mướng bọn thảo khấu thổ phỉ, chặt phá vườn cam Ba Lợi. Vườn cam Ba Lợi chỉ trong một đêm bị chặt sạch chỉ còn lại trơ trọi thân và gốc. Vợ chồng Ba Lợi khóc lóc đi báo quan, nhưng quan không làm gì được bọn thổ phỉ, nghi cho Hai Hại mướn bọn thổ phỉ chặt phá thời không có bằng chứng. Vợ chồng Ba Lợi chỉ biết kêu trời khóc đất vợ Ba Lợi vì tiếc của sinh bịnh nằm liệt gi.ường đúng là họa phúc không biết đâu mà lường,

Nói về Hai Hại nhìn thấy vườn cam của Ba Lợi bị chặt sạch không còn một cây chỉ thấy thân gốc trơ trọi thời vuốt râu khoái chí về nói với vợ bà chửng bị hốt bạc quả đúng như vậy khách mua cam lần lượt kéo đến mua cam nhà Ba Lợi thời hổi ôi vườn cam đã bị chặt sạch lấy đâu nữa mà mua. Bằng kéo đến vườn cam Hai Hại. Vợ chồng Hai Hại thi nhau mà đếm tiền khách mua cam như tôm tươi thi nhau mà mua chưa đầy mười ngày hết sạch vườn cam. Chỉ một mùa cam mà Hai Hại đã phát giàu, vợ chồng Hai Hại cúng mừng thật linh đình mời đãi khách kẻ ra người vào tấp nập. Trong xốm có nhiều người nghi Hai Hại mướn thổ phỉ chặt phá vườn cam Ba Lợi nhưng không ai dám nói sợ bị họa lây.

Thu hoạch xong mùa cam vợ chồng Hai Hại định xây nhà to ngõ lớn. Vườn cam Hai Hại đang thời kỳ sung trái xanh tốt sum sê. Hai Hại nói năm tới nhà mình hốt bạc còn hơn lần nầy nữa Bà Phụ nói quả là trời giúp ta. Hai Hại nói trời nào mà giúp giàu nghèo là do mình phải biết tính mưu tính kế thời mới giàu được. Bà Phụ vợ Hai Hại làm thinh không cải nghĩ không lẽ chồng bà đã làm điều nầy như thế thời thủ đoạn quá, nhưng nghĩ đến tiền thời Bà Phụ liền vui vẻ ngay.

Vợ chồng Hai Hại sửa sang lại nhà khang trang rộng rãi chửng bị cho mùa tới khách đến ở mua cam, có chỗ trú mưa trú nắng.

Ở đời mấy ai giàu mà không lên mặt. Vợ chồng Hai Hại cũng thế vừa lên mặt vừa khoe khoang. Lối xóm kẻ ghét thời nhiều người ưa rất ít. Nhưng ghét thời để trong bụng mấy ai ra mặt, đôi khi giả đò nịnh nọt vợ chồng Hai Hại nữa là khác. Hai Hại nào có biết trâu cột thời ghét trâu ăn, người làm không ra của ghét người làm ra của. Vợ chồng Hai Hại tưởng người ta ai cũng kính phục mình nên lúc nào cũng khoe khoang lên mặt. Nhưng sự đời nào ai mà ngờ trước được. Luật Vô Thường luôn xoay chuyển tàn phá, nếu có phúc đức thời vượt qua, không phúc đức thời đi tiêu tan tành, và đúng thế.

Không ai ngờ năm nay lại mưa bão lớn phải nói cả trăm năm chưa thấy bao giờ, cơn bão gầm rú thấy mà kinh người nhà Hai Hại cửa nẻo chưa hoàng thành gió lùa vào nhà cuốn bay đi may mà vợ chồng Hai Hại còn sống sót. Cho đến khi trời vừa hừng sáng, vợ chồng Hai Hại như chết điếng vì vườn cam ngã đổ trốc gốc hầu như muốn hết chỉ còn lại mấy cây cam còi vàng úa. Vợ Hai Hại đi không nổi ngồi than vắn thở dài sanh bệnh. Nửa tháng sau vườn cam Hai Hại chết hết. Hai Hại than thở buồn rầu miệng đắng không ăn uống gì được lúc nào cũng lảm nhảm nói thôi hết rồi trời hại ta rồi còn gì đâu nữa. Dân chúng thấy tình cảnh Hai Hại như vậy xì xầm với nhau đúng là ác lai ác báo, hại người chính là hại mình, hại người ta, người ta càng phát giàu còn mình thời đi tiêu. Hai Hại vô tình nghe được sự xầm xì ấy quá xấu hổ không bao lâu sinh bệnh rồi chết.

Nói về vườn cam Ba Lợi tuy bị chặt nhưng còn thân và gốc cơn bão ập đến không những không bị trốc gốc mà còn đâm chồi nẩy mầm nhanh chóng vượt lên sum sê xanh tốt Đơm hoa kết quả sum sê tuy không bằng mùa cam trước nhưng nhờ giá cao cũng hốt bạc. Vợ Chồng Ba Lợi tạ ơn trời đất. Vì vườn cam độc nhất ở Xã Âm Giao, Huyện Lộc Hà nên khách mua cam ùa về đây rất đông tiền thu vô như nước Ba Lợi giàu lên thấy rõ. Dân chúng lại xầm xì. Đại họa sanh đại phước giờ đây vườn cam Ba Lợi không còn ai cạnh tranh trở thành vườn cam độc quyền muốn bán giá nào thời bán. Đúng là lâm nguy trời hại mới nguy nào ai có hại cũng như phấn dồi, càng hại người ta càng phát giàu.

Nói về bà Phụ vợ của Hai Hại sau khi chôn cất Hai Hại xong. Sống với hai người con không dám sanh tâm làm ác nữa, tháng ngày tu tâm sửa tánh để đức lại về sau. Hai người con Hai Hại trồng lại vườn cam, sau ba năm thời cho quả, cả nhà hồi hộp không biết là chua hay ngọt, thật bất ngờ vườn cam đều cho quả ngọt cả nhà mừng rỡ cúng mừng tạ ơn trời đất. Vườn cam càng lớn càng sai quả bà Phụ mỗi năm một khấm khá không nói là giàu. Bà dặn hai con, các con không được khoe khoang tự cao tự phụ nhất là không được làm hại người, mà nên giúp đỡ người thởi lởi thời trời đãi cho, bo bo thời trời lấy lại, đến giờ nầy Mẹ mới ngộ ra điều nầy.
 

16. GIẤC CHIÊM BAO KỲ LẠ​

Qua khỏi ngã tư quẹo phải thời nhìn thấy ngôi nhà khang trang, nhất là vườn cây cảnh quá đẹp. Xa gần ai cũng biết ngôi nhà khang trang vườn canh cảnh đẹp mắt ấy là của vợ chồng Ông Cả.

Nhất là chiếc xe con bóng loáng luôn đậu trước sân nhà, người ta thường thấy một cô con gái xinh đẹp, ăn diện mô đênh lúc thời Tây lúc thời Ta sành điệu lắm. Cô con gái xinh đẹp sành điệu nầy chính là cô Giàu con thứ hai cũng là con gái út của Ông Cả Bà Cả.

Chiếc xe con vừa vào sân, cô Giàu xuống xe đóng cửa xe lại không êm ái như mọi ngày. Có lẽ bữa nay cô gặp phải những điều bực mình. Giàu bước vào nhà với vẻ mặt không được vui. Sang chị của Giàu nhìn thấy bộ dạng em gái như vậy nhẹ nhàng hỏi. Chuyện gì xảy ra vậy em?

Giàu đang trong lúc bực bội cáu ghét nói. Chị là người tệ nhất trong xã hội người chị, suốt ngày chuyên làm chuyện không đâu chuyện nhà chưa xong mà lo chuyện bao đồng.

Chuyện Cội Nguồn truyền thống dân tộc đã có nhà nước lo, chị mà biết cái gì về xã hội, lúc nào cũng ru rú trong nhà suốt ngày ngồi bên máy vi tính, hết ngày nầy đến tháng nọ làm chuyện chẳng ra đâu không lợi lộc gì cả. Xem lại mình đi đêm ngày cứ lao đầu vào những chuyện vô bổ thử hỏi đem lại kết quả gì cho gia đình nầy, không nói là ăn bám nữa là khác.

Giàu như giận cá chém thớt bao cơn bực tức ở đâu đều trút lên đầu Sang. Sang bị hàng loạt gáo nước lạnh tạt vào mặt, nhiều vết dao đâm vào tim. Đôi mắt Sang những giọt lệ rơi xuống.

Bà Cả Mẹ của Sang như không thấy sự chua xót của Sang, cũng như những lời mạc thị của em gái. Còn đồng tình với Giàu nói, lớn tuổi rồi không lo chuyện chồng con lo chi chuyện không đâu.

Những chuyện xảy ra như thế nầy Ông Cả đã nghe nhiều rồi, và Ông rất thông cảm việc làm của Sang. Ông tự nghĩ người yêu nước chân chính, cũng như yêu Cội yêu Nguồn đâu màng đến danh lợi. Hi sinh đời mình góp phần khai sáng dân trí, đánh thức Linh Hồn, chuyện nhà nước là chuyện của nhà nước, chuyện của mình là chuyện của mình. Là người Việt Nam ai cũng có bổn phận trách nhiệm đối với dân tộc, đối với Cội Nguồn. Nếu ai cũng như con Sang thời non sông đất nước tốt đẹp biết bao. Nếu ai cũng như con Giàu thời đất nước nầy sớm muộn gì cũng bị ngoại xâm xóa sổ. Xã hội sẽ trở thành Địa Ngục con người trở nên vô cảm chỉ biết cho mình mà quên đi đất nước, quên đi Nguồn Cội. Lại tiếp tục trên con đường nô lệ ngoại bang.

Ông Cả nghĩ đến đây hai hàng nước mắt chảy xuống. Ông nhìn Sang thương yêu vô bờ bến, người con nước Việt người con biết lo cho đất nước. Biết nghĩ đến Nguồn Cội dân tộc. Hiếm quý thay phước đước thay cho dân tộc nầy, vẫn còn những hạt gạo trên sàng, những đóa Hoa Mai vẫn cố vươn lên tỏa hương đêm lại mùa xuân cho đất nước. Chẳng khác gì đóa Hoa Sen trong sáng tinh khiết không nhiễm bùn chạy theo thời thế mà còn ngược dòng thời thế lúc nào cũng nghĩ cho dân cho nước cho Nguồn Cội.

Ông Cả thở dài lẩm bẩm. Nếu chiến tranh nội chiến tương tàn xảy ra bom rơi đạn nổ nhà cửa tan nát binh đao máu lửa chạy giặc còn không kịp nói gì đến chuyện giàu sang xe cộ của cải. Với tuổi nầy cũng đã từng chạy giặc biết bao lần, bỏ lại nhà cửa ruộng vườn ăn nhờ ngủ đợ khi ấy mới thấy hòa bình là quý báu biết bao nhiêu. Con Sang có lẽ cũng hiểu được điều nầy mới ngày đêm chăm chỉ kêu gọi toàn dân tộc Việt Nam trở về Cội Nguồn đoàn kết dân tộc tránh đi tình trạng tương tàn chém giết lẫn nhau. Ông tự hào có người con như vậy.

Chiến tranh đã xảy ra, ngay cả sinh mạng của mình cũng không làm chủ được. Không đi bên nầy, thời cũng phải đi bên kia, trở thành nạn nhân cuộc chiến. Những cái chết vô nghĩa, không đem lại lợi ích gì cho non sông Tổ Quốc. Mà còn để lại bao hậu quả cho gia đình cho dân tộc không sao lường hết được.

Chưa kể đến quân thù xâm lược chờ cơ hội là cướp lấy giang san Ông Cha để lại cho chúng ta. Một dân tộc đã nếm mùi đau khổ của sự nô lệ, hơn nghìn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm lệ thuộc giặc Tây, ba mươi năm nội chiến tương tàn nồi da nấu thịt giống nòi anh em.

Chính con Giàu mới là người có tội đối với Ông Cha, đối với non sông đất nước, đối với dân tộc, chạy theo cuộc sống vô nghĩa mà còn lên mặt mạt sát chị nó. Thế mà bả còn binh vực đúng là người nghèo Đạo Đức, nghèo trí huệ thời làm gì nhận ra tấm lòng vàng, làm gì nhận ra viên ngọc minh châu đang lấp lánh ngay trước mắt.

Cho đến một hôm Ông Cả nói với gia đình rằng, đêm qua tôi thấy một giấc chiêm bao thật kỳ lạ đáng lý tôi không kể lại, nhưng làm như thế tôi cảm thấy có lỗi với các đấng Thần Linh. Bà Cả nghe Ông Cả nói thế liền nói tôi cũng thấy nhưng đó là chiêm bao mộng mị do ảo giác mệt mỏi thấy bậy thấy bạ vậy thôi.

Ông Cả lấy làm kinh ngạc Bà cũng thấy chiêm bao sao, nếu đó là sự chiêm bao trùng hợp giống nhau thời đó là sự thật rồi. Bà Cả nói làm gì có chuyện chiêm bao trùng hợp giống nhau. Sang xen vào nói Cha thử kể một đoạn có giống như Mẹ thấy không. Ông Cả thở dài nói con nói cũng phải thôi để Cha kể lại một đoạn vậy.

Ông liền kể; có một đôi vợ chồng sinh ra hai người con gái xinh đẹp. Người chị quên mình lo cho non sông đất nước, kêu gọi dân chúng trở về Nguồn Cội hầu dập tắt chiến tranh tương tàn bùng phát. Nhất là truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn cứu nguy dân tộc thoát khỏi nanh vuốt của ngoại xâm. Việc làm tốt đẹp như vậy lại luôn bị cô em gái cũng như người Mẹ chê bai hủy báng. Giàu nghe kể đến đây sắc mặt có vẻ khó chịu liền hỏi Mẹ, Mẹ có thấy như vậy không hay Cha bịa chuyện binh chị Hai, Bà Cả như sực nhớ lại nói để Cha con kể tiếp đi. Giàu thấy Mẹ biểu Cha kể tiếp không khác nào thừa nhận hai người thấy giấc chiêm bao trùng khớp nhau. Giàu như cảm thấy nổi da gà.

Ông Cả thao thao bất tuyệt kể rằng có lẽ vì không còn duyên nợ với gia đình, cũng như mãn kiếp số nơi trần thế. Sau một cơn bịnh người con gái lớn đã ra đi trong sự thương tiếc hàng vạn người khắp cả nước. Đám tang Cô gái lớn người đông như kiến, kết quả việc làm của Cô gái lớn đã trả lời, những người đến đưa đám tang Cô ai cũng cảm động rơi nước mắt có cả những đại gia giàu có bạc tỉ. Trong đó có công ty xuất nhập khẩu cũng đến đưa lễ tang. Cô em hiện đang làm cho Công Ty nầy. Thấy tổng giám đốc cùng một số nhân viên cấp cao của công ty đến đưa lễ tang cho chị mình, điều nầy đã làm cho Cô em cũng như Bà Mẹ lấy làm hổ thẹn.

Người Chị chết không bao lâu, thời người em cũng ra đi sau cơn tai nạn xe cộ, bỏ lại hôn nhân sắp tới ngày cưới. Đám tang Cô Út thật buồn không mấy người đến. Đến lúc nầy người Mẹ mới sực tỉnh Cô em không bao giờ bằng Cô chị dù chỉ là một mảy lông, nhưng tất cả đều đã muộn hai người con cũng đã bỏ Bà ra đi rồi. Bà nghĩ đến cảnh binh cô Em, hất hủi cô Chị để cho Em xỉ xả Chị những câu thóa mạ giờ đây Bà cảm thấy giật mình.

Bà Cả nghe Ông Cả kể mà toát mồ hôi lạnh, nhất là Giàu càng nghe càng sợ hãi nói con không muốn nghe nữa. Cha kể toàn chuyện xui xẻo không hà. Bà Cả xem vào nói những gì Ông kể y như Mẹ đã thấy không sai một tí nào, Bà Cả nói tôi thấy đến đây sợ quá liền tỉnh dậy không dám ngủ nữa.

Ông Cả nói không phải tới đó là hết đâu. Giàu nghe Mẹ xác nhận là hai người thấy giống nhau y chang có vẻ sợ hãi không dám ngồi nghe nữa trở vào phòng trùm chăn nằm thiêm thiếp. Ông Cả nhìn theo Giàu thở dài lẩm bẩm nhân nào quả nấy đã gieo thời phải gặt luật trời âu khó tránh.

Thấy cả gia đình hoang mang sợ hãi Sang nói chuyện đó không xảy ra đâu, chẳng qua là sự ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi, hôm trước con đi khám tổng quát rồi con không hề có bệnh gì cả mắc mớ chi sinh bệnh rồi chết, thời nay người ta thay tim thay gan, thay phổi còn được. chỉ trường hợp ung thư nhưng con không có bệnh đó đâu. Cha Mẹ yên tâm đi đó chỉ là chuyện chiêm bao mà thôi. Bà Cả nói cầu mong như vậy gia đình ta không có sự xui xẻo như thế. Ông Cả nói tôi cũng cầu mong như vậy.

Qua câu chuyện chiêm bao Bà Cả cũng như Giàu không còn trách mắn Sang như trước tôn trọng việc làm của Sang thời gian trôi qua được một năm. Bỗng một hôm Sang cảm thấy đau đầu xẩm mặt liền bị ốm nặng. Vợ chồng Ông Cả kinh hoảng không lẽ điềm chiêm bao đã ứng nghiệm rồi lật đật đưa Sang đi bệnh viện chưa tới bệnh viện thời Sang ra đi rồi. Lễ tang Sang quả đúng như những gì đã thấy có cả công ty xuất nhập khẩu cũng đến. Giàu nhìn Tổng Giám Đốc công ty cùng một số nhân viên cao cấp đến thắp hương đưa lễ tang cho chị thời mặt mày cắt không còn chút máu. Nhưng tất cả đều đã muộn. Qua lễ tang của chị Sang Giàu nói với Cha Mẹ con sẽ rước những thầy giỏi nhất đến tụng kinh siêu độ Chị Sang cũng như làm bùa làm chú hóa giải tất cả. Các thầy nói việc nầy các thầy đã từng làm nhưng rất tốn kém.

Suốt liền trong 49 ngày, ngày nào cũng tụng kinh cầu siêu cho Sang, ếm bùa chú khắp nơi. Giàu lấy lại tự tin không còn sợ như trước nữa, và yêu một chàng trai đi đến hôn nhân, và cũng đến gần ngày xuất giá theo chồng nhờ phước bên chồng Cô sẽ thoát qua khỏi đều chiêm bao, mà Cha Mẹ Cô đã thấy.

Không hiểu vì sao mấy bữa nay Bà Cả thấy trong lòng cứ hồi hộp mãi bằng dặn Cô Giàu. Mấy ngày nay Mẹ thấy trong người khác lạ như có điềm chẳng lành gần đến ngày cưới rồi phải cẩn thận. Sang tự tin nói không sao đâu Mẹ.

Cỡ hơn mười giờ một cú điện thoại gọi đến báo tin Cô Giàu gặp tai nạn xe cộ đưa đi bệnh viện. Bà Cả nghe xong thời ngã quỵ xuống nền nhà may Ông Cả vừa về tí nữa Bà Cả cũng đi đời luôn. Khi bà Cả tỉnh dậy nói mau chở tôi đến bệnh viện con Giàu bị tai nạn giao thông rồi, Ông Cả nghe xong sững sờ một hồi hai hàng nước mắt chảy xuống nói thế là đã hết.

Hai Ông Bà vừa tới bệnh viện thời Giàu cũng đã tắc thở ra đi rồi. đúng như những gì ông đã thấy, đám tang của Giàu không mấy người đến Bà Cả đến giờ nầy mới thật sự kinh hãi giấc chiêm bao là do Thần Linh cho biết trước. Không ai có thể giải cứu nổi khi Thiên Ý đã định, hàng nghìn Đức Phật, hàng triệu Đức Chúa cũng không làm gì được. Phép chú nào mà qua phép chú của trời. Bài bác những người theo Tổ theo Tiên thời hết cứu. Trời sẽ lấy đi tất cả. Bà vô cùng kinh sợ quyền năng Cội Nguồn.

Nói về Ông Cả đang nhớ đến hai người con gái xấu số, thời liền thấy một vị Thần hiện đến nói. Ông theo tôi đến gặp hai đứa con gái của Ông. Vị Thần ấy liền phất tay một cái Ông cả không còn biết gì nửa Linh Hồn thoát ra khỏi thể xác vị thần liền nắm tay Ông bay đi. Không bao lâu thời tới một cung điện nguy nga lộng lẫy. Khi đọc dòng chữ thời mới biết nơi đây tần Địa Phủ thứ nhất. Nhất Điện Diêm Vương. Vị Thần dẫn Ông Cả vào cung điện thật bất ngờ Ông nhìn thấy hai đứa con gái của Ông một đứa ngồi trên ghế Phụng rất sang trọng. Một đứa đang đứng trước Diêm Tòa.

Sít chút nữa Ông kêu gọi hai đứa nó, vị Thần ra hiệu biểu Ông im lặng.

Trên bệ cao Nhất Điện Diêm Vương trông uy nghi cùng hai vị một vị Phán Quan, một vị Thẩm Phán. Ai nhìn thấy cũng sợ hãi.

Nhất Điện Diêm Vương nói: Cô Giàu nghe bản án xét xử. Thẩm Phán liền đọc bản án.

Cô Giàu khi sinh tiền, Cô chỉ biết lo cho bản thân. Cô tốn không biết bao nhiêu sức lực cho sự chăm sóc da. Sửa mắt sửa mũi, nào là ăn mặc sang trọng lúc thời kiểu Tây, lúc thời kiểu Ta. Đi xe con sáng bóng phục vụ cho cái xác phàm. Công của Cô chính là như vậy. Chiếu theo Thiên Luật việc chăm sóc th.ân thể ăn sung, mặc sướng ở nhà cao cửa rộng phục vụ xác thân hết cỡ cũng không có tội gì cả. Cô muốn đòi công lao của Cô nuôi xác thân tốn kém? thời tới cái xác hiện nay đang rã thúi dòi đang rúc rỉa đó mà đòi công lao.

Quỷ đầu Trâu mặt Ngựa đâu dẫn cô Giàu đến cái xác thúi để đòi công rồi dẫn trở về đây nghe xử tiếp.

Cô Giàu nghe Thẩm Phán nói dẫn Cô đến đòi công nơi xác thúi, Giàu liền la lên xác thúi có chi mà đòi. Thẩm Phán nói như vậy hơn 25 năm công của cô trở thành công cốc bỏ công sức ra nhiều nhưng kết cuộc không được cái chi còn thua bố thí cho người ta ăn ổ bánh mì người ta vẫn còn nhớ ơn cô. Đằng nầy xác thúi kia không nhớ ơn cô chi cả. Tan rã lần trở về với cát bụi, khi biết ra thời đã muộn đó là nói về phần công lao nuôi xác tốn kém của Cô, công lao không đem lại kết quả nào cả cho phần linh Hồn.

Phần công lao nuôi xác thái quá của Cô đã xử xong rồi, đến lượt xử công lao Cô đối với đời. Đối với bề Trên. Thẩm Phán đọc tiếp xét theo Luật Nhân Quả, Luật Nhân Duyên.

Xét theo luật ở đời;

Cô chỉ vì bản thân không vì người, không giúp đỡ cho ai. Nên Cô không có công với đời. Chiếu theo Luật Nhân Quả, Luật Nhân Duyên, nếu được may mắn sanh trở lại làm người thời phải chịu sự nghèo khổ, nhân loại không ai để ý quan tâm đến cô. Cô không có địa vị gì trong xã hội. Chỉ là người dân nghèo khổ tầm thường.

Xét theo Luật Nhơn Đạo, công và tội của Cô, Đạo Làm người;

Đối với Cội Nguồn, Cô không có công mà có tội.

Tội thứ nhứt: Cô xem thường Cội Nguồn. Xúc phạm đến Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Xem thường người dựng nước, xem thường truyền thống Cha Ông, xem thường Hồn Thiên Dân Tộc.

Tội thứ hai: Cô xúc phạm đến Văn Hóa Cội Nguồn có nghĩa là xúc phạm đến Thiên Ý tối linh của Trời.

Tội thứ ba: Cô cố tâm phá hoại người truyền giáo. Truyền Thiên Ý của Trời.

Tội thứ tư: Cô dẫn Mẹ Cô vào con đường ác chống phá Thiên Ý Cội Nguồn. Dẫn Mẹ vào đường ác chính là đại Bất Hiếu, phỉ bán Cội Nguồn là đại trọng tội.

Tội thứ năm; Cô là em lại không giữ đạo làm em, luôn xỉ vả sỉ nhục Chị, khi người Chị không làm gì có tội chỉ lo tu nhân tích đức cứu dân cứu nước, dập tắt chiến tranh, siêu độ Linh Hồn nhân loại về trời.

Chiếu theo Thiên Luật người phá hoại Văn Hóa Cội Nguồn xúc phạm Thiên Ý thời không mong gì đầu thai trở lại làm người đứng thẳng, đầu đội Trời chân đạp Đất. Mà phải chịu làm kiếp bò sát, kiếp thú, cầm, bốn cẳng, hai chân, thân hình ngang không còn đứng thẳng. Vì không còn xứng đáng đầu đội Trời. Nên Trời không cho đội Trời nữa.

Chiếu theo Luật Nhân Quả chống phá Thiên Ý thời cô phải chịu hàng vạn ức quả báo hành hình. Chiếu theo Luật Nhân Duyên thời Cô có duyên với Địa Ngục Âm Phủ có nghĩa là Cô ở nơi Địa Phủ hàng vạn ức kiếp. Phải chịu sự hành hình không lúc nào nghĩ cho đến khi nào tiêu tan hết nghiệp ác chống phá Văn Hóa Cội Nguồn, thời mới được đầu thai vào loài Cầm, Thú. Bò Sát. Không mong gì đầu thai trở lại kiếp người được nữa.

Nhưng có một điều là Cô rước thầy cầu siêu, may là có tụng một bài Kinh Thơ của Thiên Ý Cội Nguồn, nên Thiên Ý đã xóa tan nghiệp quả sự luân chuyển của Cô vào loài Cầm, Thú.

Tuy cô hủy báng sự truyền kinh của Chị Cô, nhưng cô làm ra của cải góp phần ăn trong gia đình, Chị Cô nhờ đó mà sanh sống tháng ngày ra công Truyền Thiên Ý đáng lý ra Cô phải ở nơi Địa Ngục không có ngày ra, nhưng nhờ vào công đức nầy Thiên ý đã xá tội cho Cô. Chỉ ở nơi Địa Phủ năm trăm năm, mới được đầu thai làm người,

Khi Cô tái sanh làm kiếp người nhưng phải sống trong sự nghèo khổ. Nếu sanh ra là người trở lại mà biết quy kính Cội nguồn truyền kinh lập công thời Cô sẽ được Cha Trời tận độ về trời. Giàu nghe đọc bản án mà khiếp hồn khiếp vía liền thành tâm cầu lên Cha Trời cứu con với con sẽ quy kính Cha Trời. Tức thời trên đầu Giàu hào quang lấp lánh. Nhất Điện Diêm Vương kinh ngạc nói Phán Quan, Thẩm Phán xem lại bản án Cô Giàu xem sao. Thời kỳ lạ thay tất cả đều được thay đổi không còn ở Địa Ngục 500 năm. Chỉ còn 49 ngày nữa Giàu sẽ được sinh về trần gian, làm con của một cư sĩ đang tu hành theo Văn Hóa Cội Nguồn. Cùng lúc ấy trên đầu Sang chị của Giàu hào quang phóng lên rực rỡ Sang đã hiện tướng Thánh Mẫu không còn là Sang nữa, mà là vì Thánh Mẫu xinh đẹp vô cùng. Quan Thẩm Phán, Phán Quan, cùng Nhất Điện Diêm Vương đứng lên chắp tay nói xin Linh Sơn Thánh Mẫu tha thứ cho. Chúng thần không hiểu vì sao Thánh Mẫu lại đến đây có lẽ là đến để nghe xử.

Vì Thiên Cơ bất khả lậu chúng Thần không dám công khai danh tánh Thánh Mẫu. Thật ra chúng Thần đã nhận ra Linh Sơn Thánh Mẫu vừa mới đặt chân đến đây. Sự chết sống nơi cõi trần gian của Thánh Mẫu là Thiên Định. Thánh Mẫu không có sổ bộ dưới cõi Âm. Thánh Mẫu nói là ta tự Nguyện đến đây để nghe xử án.

Diêm Vương cung kính nhường ghế Chánh Án cho Linh Sơn Thánh Mẫu. Thánh Mẫu nói Ta tuy là Thánh Mẫu cũng không có quyền ngồi vào Ngôi Chánh Án đó đâu. Linh Sơn Thánh Mẫu liền liền phất tay một cái tức thời tòa hoa sen báu xuất hiện hào quang chiếu sáng rực rỡ cả cung điện.

Giàu không khỏi kinh hãi không ngờ Chị Sang chính là Linh Sơn Thánh Mẫu liến quỳ lạy xin Thánh Mẫu tha mạng. Thánh Mẫu nói ngươi có tấm lòng cầu siêu 49 ngày cho ta tuy không có kết quả nhưng đó cũng là tấm lòng của người. Ta đã cầu lên Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời ban cho ngươi trí huệ khi được trở về trần thế tu hành mau thành chánh quả.

Linh Sơn Thánh Mẫu vừa nói xong tức thời thấy Ngọc Nữ 24 người bay xuống trổi nhạc tiên rưới hương hoa thơm ngát khắp nơi, mấy vị Thiên Tướng cũng bay xuống đón rước Linh Sơn Thánh Mẫu về Trời.
 

17. BẤT CHIẾN TỰ NHIÊN THÀNH​

Đi trên đường lộ, người ta nhìn thấy một khu vườn rộng hơn mẫu trồng nhiều loại cây ăn trái, phần lớn là Mấn Cầu, Sầu Riêng, Chôm Chôm.

Cư Sĩ Hải nhờ đó sống thong thả, lại còn hai đứa con làm ăn khấm khá đang ở trên thành phố không nói là giàu có. Thường cung cấp tiền bạc về cho Chú Hải.

Vợ chết sớm Cư Sĩ Hải ở vậy nuôi con, nhờ khu vườn Cư Sĩ Hải nuôi con ăn học thành tài, ra đời làm ăn khấm khá. Hải không màng đến tìm người vợ thứ hai. Mà chỉ chăm lo nghiên cứu kinh luân, không loại kinh luân nào mà Hải không đọc. Phật Giáo, Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo. Cho đến các Cơ Sấm, thậm chí cả Hồi Giáo. Hải là vị Cư Sĩ thông thái ít ai sánh kịp. Nhất là về Văn Hóa Cội Nguồn, Cư Sĩ Hải tâm đắc nhất. Hải quý Văn Hóa Cội Nguồn hơn sinh mạng của chính mình.

Bạn bè của Cư Sĩ Hải mỗi ngày một đông, có người theo làm đệ tử nhưng Hải chưa chịu nhận. Những người bạn của Cư Sĩ Hải phần đông là nằm ở các Tôn Giáo, Đạo Giáo tu theo hạnh Tu Sĩ, Đạo Sĩ đều là những người nổi tiếng. Ngày nào cũng có bạn bè đến đàm đạo, trao đổi kiến thức về Đạo, cũng như tình thế đất nước.

Mặt trời vừa ngả về tây khoảng một giờ chiều, từ ngoài ngõ hai chiếc xe máy chạy vào, đây cũng là chuyện thường tình vì ngày nào cũng có khách đến. Cư Sĩ Hải lúc nào cũng có trà ngon để trên bàn đãi khách.

Khi đã nhận ra hai người khách đến Cư Sĩ Hải vô cùng kinh ngạc, vì hai vị khách nầy là người rất nổi tiếng. Không dễ gì ai gặp được coi như là kỳ nhân ẩn sĩ.

Cư Sĩ Hải từ trong nhà đi ra niềm nở chào hỏi. Kính chào hai Huynh. Họ bắt tay nhau trong tình thân mật. Cư Sĩ Hải nói cảm ơn hai Huynh vượt đường xa đến thăm đệ. Hai vị khách nói đôi lúc cũng muốn đến đây nhưng vì đường sá xa xôi khởi hành từ năm giờ sáng miết tới bây giờ mới đến đây. Cư Sĩ Hải càng thêm thân thiện nói đệ luôn nhắc đến hai Huynh hoài, hai Huynh như hai ngôi sao Bắc Đẩu đến Đệ là có chuyện vui rồi. Hải gọi người làm vườn đến nói hái đủ loại trái cây vào đây đãi khách, người làm vườn vừa đi xong. Hải không mời hai vị khách vào nhà mà dẫn hai vị khách đến một ngôi chòi nghỉ mát.

Ngôi chòi nghỉ mát bốn bên không vách thông thoáng, trên lợp bằng mái lá những cơn gió thoảng qua làm khỏe hẳn trong người đúng là nơi lý tưởng để đàm Đạo. Khách sáo vài ba câu chuyện xã giao vị Tu Sĩ mặc áo xám tên Hiệp nhìn Hải nói. Đệ hôm nay trông khác với xưa một trời một vực, có lẽ Đệ tu luyện đạt Đạo rất cao nên trên đầu như có hào quang làm Huynh bất ngờ quá.

Hải khiêm nhường nói tự huynh mến Đệ mà nói vậy thôi thật ra Đệ ngày nào cũng như ngày nào chẳng thấy thăng tiến gì cả.

Vị Tu Sĩ mặc áo xanh lợt tên Hòa nói Huynh cũng thấy như thế trên đầu Đệ có hào quang người thường không thể nào nhìn thấy được, nhưng Huynh nhờ tu thiền luyện khí mấy mươi năm nên mới nhìn thấy được hào quang nầy. Đây là điều rất kỳ lạ mà Huynh không thể nào ngờ tới. Thật ra Đệ tu pháp môn nào vậy?

Hải nói thật ra Đệ chẳng tu luyện pháp môn gì cả ba năm nay Đệ chuyên tâm nghiên cứu về Văn Hóa Cội Nguồn. Hai người nghe xong kinh ngạc hỏi Văn Hóa Cội Nguồn thậm thâm vi diệu đến thế sao? Hải nói nghiên cứu Văn Hóa Cội Nguồn mỗi ngày thấy trí huệ mỗi khác chính ngay Đệ cũng không thể nào tin được, nhưng sự thật vẫn là sự thật.

Vị Tu Sĩ tên Hòa nhìn Hải rồi hỏi, trong Văn Hóa Cội Nguồn có nói đến Bất chiến Tự Nhiên Thành không? Không đánh mà thẳng là chuyện khó mà tin được, từ cổ chí kim nào có thấy Bất Chiến Tự Nhiên Thành đâu. Theo Sấm Trạng thời như thế. Không hiểu câu Bất Chiến Tự Nhiên Thành có ẩn ý gì khác nữa không.

Tu Sĩ Hiệp nhìn Tu Sĩ Hòa rồi nói tôi với huynh cũng đã không biết bao nhiêu lần tranh luận về câu Bất Chiến Tự Nhiên Thành nầy, nhưng chưa bao giờ có câu trả lời thỏa đáng thật là câu sấm khó. Từ xưa đến nay chưa ai giải thích cho rõ được. Hai Huynh đến đây cũng vì câu sấm khó nầy may ra ba chúng ta kết hợp lại với nhau không chừng giải rõ câu sấm ấy.

Hải nhìn Tu Sĩ Hòa rồi nói theo Huynh thời câu sấm ấy giải thích như thế nào?

Tu Sĩ Hòa nói: Theo Huynh nghĩ Bất Chiến Tự Nhiên Thành chỉ là câu sấm nói mẹo. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, không ai có thể làm nổi. Thiên Tử cũng chỉ là Thánh, Cao hơn nữa là Đại Thánh, Cao hơn nữa là Thánh Tổ, từ xưa đến nay có vị Thánh nào không đánh mà thắng đâu. Không đánh thời lấy đâu mà thắng. Chẳng qua là câu sấm nói mẹo nhưng mẹo gì đây chưa khám phá ra được.

Hải nhìn Tu Sĩ Hiệp theo Huynh thời giải thích sao?

Tu Sĩ Hiệp nói: Theo Huynh Bất Chiến Tự Nhiên Thành là do Trời làm chuyển hóa mà ra. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không thể nào làm được. Thời đại mạt pháp toàn là Ma Quỷ. Phật cao chín trượng, thời Ma Quỷ cũng vừa nghìn cân không ai chịu thua ai đâu. Ma, Quỷ phép tắc không kém gì phật. Thời đại Ma Vương, Đại Quỷ thời Phật, Chúa cũng đành bó tay. Lấy đâu ra Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Câu ấy là chỉ cho Trời làm vậy, phải chờ Cơ Trời mà thôi.

Hải nói hai Huynh nói đều có lý cả. Nhưng đệ thời thấy khác hơn một chút. Bất Chiến Tự Nhiên Thành xảy ra khắp mọi nơi. Cũng chỉ là một định luật trong nhiều định luật của Tạo Hóa mà thôi. Nếu đủ khả năng làm theo Định Luật thời đương nhiên đi Vào Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Hai vị Tu Sĩ cả Hiệp lẫn Hòa không hiểu Cư Sĩ Hải nói gì cả. Liền nói Đệ giải thích cho rõ ràng được không?

Cư Sĩ Hải nói Bóng Đêm không ở đâu xa. Ở ngay tại chỗ chúng ta đang ngồi không ai nhìn thấy được. Nhưng khi ánh Sáng không còn thời Bóng Đêm hiện ra ngay. Bóng Đêm không từ đâu đến vì Bóng Đêm chỗ nào cũng có. Khi Ánh Sáng không còn thời Bóng Đêm hiện ra. Ánh Sáng là Minh, còn Bóng Đêm là Vô Minh. Ánh Sáng xuất hiện thời Bóng Đêm không còn Vô Minh biến mất. Ánh Sáng biến mất thời Bóng Đêm xuất hiện Vô Minh lại ra đời.

Ánh Sáng Mặt Trời không cần tranh đấu với Bóng Đêm. Bóng Đêm tự tan biến khi Ánh Sáng Mặt Trời xuất hiện.

Ánh Sáng Thiên Ý Mặt Trời xuất hiện không cần tranh đấu với Vô Minh, Vô Minh tự tan biến. Trong Văn Hóa Cội Nguồn có câu Vô Vô Minh Diệt, Vô Vô Minh Tận. Nhưng không mất Vô Minh. Khi ánh sáng Thiên Ý Mặt Trời biến mất thời Vô Minh sẽ xuất hiện trở lại.

Như vậy muốn cho Vô Minh tan biến. Phải có ánh sáng Thiên Ý chân lý vũ trụ xuất hiện. Mới đủ sức làm cho tan biến Vô Minh. Còn như Ánh Sáng Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ánh sáng Trăng tuy rất sáng nhưng chưa đủ sức làm cho Vô Minh tan biến. Nói gì đến ánh sáng Các Vì Sao chỉ là ánh sáng Thiện Nhân Trí Thức, hay ánh sáng Vĩ Nhân như sao Bắc Đẩu, Sao Hôm, Sao Mai chỉ ở cảnh giới soi đường dẫn lối mà thôi không đủ sức làm ta biến Vô Minh. Nhưng nhờ ánh sáng Trăng, Sao soi đường dẫn lối cho nhân loại, nên nhân loại không bị cảnh Tối Tăm Vô Minh làm hại. Chỉ những người không tiếp cận được ánh sáng Trăng, Sao mới bị Vô Minh làm hại đi vào cảnh tối tăm vĩnh viễn, khốn khổ vô cùng tận.

Thời đại mạt pháp chính là thời đại Vô Minh. Cái ác lên ngôi làm chủ càn khôn vũ trụ. Làm chủ xã hội. Ánh Sáng Trăng, Sao không đủ sức phá tan Vô Minh của thời mạt vận, mạt kiếp, mạt pháp được. Phải chờ Ánh Sáng Thiên Ý Mặt Trời vũ trụ chính là Văn Hóa Cội Nguồn mới làm tan biến Vô Minh được, cứu thoát nhân loại đồng loạt về trời. Đi vào cơ Tận Độ.

Có một điều cần lưu ý. Khi Ánh Sáng Mặt Trời Thiên Ý xuất hiện. Thời ánh sáng Trăng, Sao Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Vĩ Nhân, Thiện Nhân Trí Thức. Bị ánh sáng Thiên Ý Mặt Trời phủ che hết không nhìn thấy được nữa. Vô Minh cũng biến mất luôn. Chỉ còn lại ánh sáng Thiên Ý Mặt Trời vũ trụ tồn tại soi sáng mà thôi. Trăng, Sao hấp thụ Ánh Sáng Thiên Ý Mặt Trời tích trữ năng lượng cho mình, khi nào Ánh Sáng Mặt Trời Thiên Ý lặng mất không còn, cảnh giới Vô Minh liền xuất hiện. Ánh Sáng Trăng, Sao, tỏa sáng trong cảnh giới màn đêm u minh soi đường dẫn dắt nhân loại thay thế cho Ánh Sáng Thiên Ý Mặt Trời.

Nói Tóm Lại: Bất Chiến Tự Nhiên Thành không phải là những gì xa xôi, mà là những Định Luật vũ trụ trong thế giới tự nhiên, ở xung quanh ta, như vậy muốn Bóng Đêm tan biến phải có Ánh Sáng mặt trời.

Muốn Ác Tà Yêu Tinh, Quỷ Dữ tan biến Vô Minh không còn, phải có ánh sáng Thiên Ý Mặt Trời vũ trụ. Ánh Sáng Toàn Năng Toàn Giác Vũ Trụ. Nói chung là Ánh Sáng Văn Hóa Cội Nguồn. Đa dạng Ánh Sáng từ năm phần Pháp Thân Thiên Ý tỏa ra làm tan biến Vô Minh, tan biến Ác Tâm, tan biến Phi Nghĩa. Làm cho cho Tâm Linh nhân loại tỏa sáng, phá tan u minh trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đồng loạt về trời theo Cơ Thiên Ý tận độ vũ trụ.

Lại nữa một Võ Sĩ lên khán đài vì sự uy phong của Võ Sĩ ai nhìn thấy cũng phải run sợ. Không ai dám lên thách đấu thời vị Võ Sĩ ấy không đánh cũng thắng, trở thành độc tôn không ai là không kính phục. Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

Ví như Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý ra đời có nghĩa là đã bước lên khán đài vũ trụ nói chúng, trần thế nói riêng, tất cả Tôn Giáo, Đạo Giáo, Giáo Phái. Đảng Phái, Bè Phái, Tư bản, Cộng Sản, các học thuyết trên đời nhìn thấy Văn Hóa Cội Nguồn thời bái phục. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên ý không cần đánh cũng thắng trở thành Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

Chí Tôn Quốc Tổ xuất hiện con cháu Việt Nam tự nếp mình quy phục. Quốc Tổ đâu cần đánh Quốc Tổ cũng thắng. Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

Quốc Tổ nói ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời Tối Cao vũ trụ. Chống lại lời dạy Quốc Tổ có nghĩa là chống Trời. Chống Cội Nguồn có nghĩa là chống toàn năng toàn giác vũ trụ, sẽ bị Huyền Cơ Tạo Hóa Thiên ý giáng họa thâu mất Ý Lực, Trí Lực trở nên loạn tâm điên khùng không còn trở lại kiếp người nữa. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa hằng hà sa số bảo vệ Thiên Ý tiêu diệt những ai chống lại Thiên Ý tức là phỉ báng Thiên Ý Cội Nguồn. Vì vậy Văn Hóa Thiên Ý Cội Nguồn ra đời. Đi vào cơ Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Không ai có thể chống lại được.

Quyền Năng Đương Kim Vũ Trụ Quốc Tổ. Còn ai hơn Quốc Tổ, nên nói Quốc Tổ đứng đầu Thiên Hạ Nhân Loại. kể cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Quốc Tổ đã to lớn như vậy. Nước Việt Nam cũng phải to lớn theo là điều Đương Nhiên, Hiển Nhiên như một Định Luật.

Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng đứng đầu năm châu là điều Tất Nhiên, Hiển Nhiên như một Định Luật.

không ai có thể chống nỗi Huyền Cơ Thiên ý đã sắp xếp như vậy. Sự sắp xếp có Định Luật, Định Luật sẽ tự xoay chuyển không ai có thể làm chi được. Chủ Nghĩa Đại Đồng phải ra đời nhất định là như vậy. Nhân Quyền Dân Chủ, tiến lên Thiên Quyền Nhân Chủ đi vào Chủ Nghĩa Đại Đồng là điều không sao tránh khỏi.

Có thể nói Thái Dương Thiên Ý Văn Hóa Cội Nguồn vũ trụ xuất hiện thời Đương Kim Vũ Trụ Quốc Tổ cũng xuất hiện. Ánh bình minh Thiên Ý tỏa sáng trên đất nước Việt Nam thời Dân Tộc Việt Nam con cháu Rồng Tiên trở thành dân tộc Thần Thánh, đơm hoa trí huệ, kết quả Chánh Đẳng Chánh Giác. Không có dân tộc nào sánh kịp là điều Tất Nhiên, không bàn cãi gì nữa.

Có thể khẳng định rằng. Văn Hóa Thiên Ý Cội Nguồn xuất hiện. Đi vào Cơ tận độ Bất Chiến Tự Nhiên Thành, nhân loại đồng loạt về trời. Văn Hóa Cội Nguồn xuất hiện tại Việt Nam. đương nhiên thế giới phải quy về Việt Nam để chầu Trời. Cũng như mang ơn Quốc Tổ đã nói ra Thiên Ý, Nhờ vào Văn Hóa Thiên Ý Cội Nguồn mà nhân loại đồng loạt trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa tiến lên làm chủ vũ trụ.

Quốc Tổ sáng danh thời dân tộc Việt Nam cũng sáng danh. Dân Tộc Bá chủ về Văn Minh Văn Hóa tinh thần. Nước Việt Nam độc lập ba nghìn năm tới. khó có nước nào theo kịp. Văn Minh chế tạo súng đạn giết người hàng loạt, sẽ bị nhân loại lên án loại bỏ. Dân tộc Việt Nam không cần thứ Văn Minh giết người hàng loạt ấy. Mà cần Văn Minh chế tạo bảo bối sử dựng bảo bối như Vi Tính chẳng hạng.

Tu Sĩ Hiệp với Tu Sĩ Hòa ngồi nghe Cư Sĩ Hải giảng giải về Bất Chiến Tự Nhiên Thành thao thao bất tuyệt, hết đi từ kinh ngạc nầy đến kinh ngạc khác trí huệ Hiệp và Hòa tăng lên vùn vụt trên đầu tỏa hào quang. Thấu suốt cơ Bất Chiến Tự Nhiên Thành chỉ trong tích tắc liền hiển Thánh. Rút ngắn hàng triệu kiếp tu. Hai vị Tu Sĩ Hiệp – Hòa chắp tay bái phục không còn gọi Cư Sĩ Hải bằng Đệ mà tôn phong bằng Thầy. Vì Cư Sĩ Hải đã thành Phật hiển Thánh hơn ba năm nay rồi. Đều nhờ vào Văn Hóa Cội Nguồn.
 
18. CÂU CHUYỆN NGƯỜI CHA
Ngày xửa ngày xưa nơi miền Trung Du có một gia đình không lấy gì làm khá giả. Nhưng vì thương con, sợ con sau nầy thua sút với đời, người Cha và người Mẹ nhịn ăn nhịn mặt ráng ra sức lao động dãi nắng dầm sương với ruộng đồng, người Mẹ thời bán buôn tảo tần tích góp tiền bạc nuôi con ăn học cho đến nơi đến chốn. Lắm lúc tiền không đủ nuôi phải chạy vay chạy mượn bị người ta xem thường coi khinh, lúc nào cũng hạ mình xuống cầu khẩn người ta mới cho mượn chút ít. Tấm lòng Cha Mẹ không khác gì Phật sống vì con mà quên bản thân mình.

Người con Cả người con thứ Ba có lẽ thấy Cha Mẹ quá khốn khổ cũng chỉ vì lo cho con ăn học. Nên cố gắng học hành thành đạt học vấn cao. Người con Thứ Tư, Thứ Năm thời ngược lại không nghĩ gì đến công lao Cha Mẹ chỉ biết đua đòi chạy theo bạn bè không lo học hành nên không theo kịp hai người anh.

Điều đáng nói ở đây là người con Thứ Tư, Thứ Năm xem nhẹ truyền thống gia đình dẫn đến xem thường Cha Mẹ. Nhất là xem thường người Cha, sỉ nhục người Cha, cho rằng người Cha không làm nên tích sự gì người Cha kém nhất trong xã hội người Cha. Mà quên đi người Cha đã từng làm ruộng dầm mưa giải nắng mới kiếm ra được hạt lúa góp phần cuộc sống nuôi con lớn làm mướn kiếm tiền nuôi con ăn học. Sự chê bai sỉ nhục bất hiếu nầy đã làm cho Người Cha rất buồn. Kiểu trả ơn sanh thành dưỡng dục vô cùng tàn nhẫn, như hàng nghìn mũi kim đâm vào trong tim của người Cha.

Người con Cả cũng như người con thứ Ba, thấy Cha Mẹ lo cho mình như thế là quá đủ. Hơn nữa người Cha càng ngày càng già trên đầu tóc đã bạc tuổi cũng đã trên sáu mươi lại có bệnh huyết áp cao rất dễ bị đột nguy. Tuổi già lại mang bệnh huyết áp cao thời làm ra của cải gì nữa đáng lý ra những người con phải lo cho Cha Mẹ nữa là khác đúng với Câu trẻ cậy Cha Mẹ, già nhờ cậy Con Cái. Đó là quy luật sanh tồn của kiếp người. Trên đời nầy không phải Cha Mẹ nào cũng tài giỏi cả cũng làm giàu được. Nhiều khi nỗ lực cả đời nhưng vẫn cứ nghèo, đó đâu phải là cái lỗi của Cha Mẹ mà do phước phần làm giàu của Cha Mẹ không có.

Những người con có hiếu thời dù Cha Mẹ có làm ra của hay không cũng phải tôn trọng. Không nên khinh dễ Cha Mẹ so sánh Cha Mẹ mình với Cha Mẹ của người khác. Thấy Cha Mẹ người khác tài giỏi làm ra nhiều của cải vật chất con cái của họ đầy đủ thời khinh dễ Cha Mẹ Mình. Mạt sát Cha Mẹ Mình. Hoặc thấy Mẹ làm ăn giỏi hơn Cha liền tôn trọng Mẹ kinh dễ Cha. Mạt Sát người Cha làm cho người Cha chua xót trong lòng.

Người Cha bị thằng Tư thằng Năm mạt sát sít chút nữa thời đột quỵ với lý do huyết áp cao, cũng may là người Cha biết chút luyện khí công nên cứu vãn lại được. Từ đây người Cha đã giác ngộ ra một điều con cái không phải duyên thời là nợ. Hiếu Thuận là con, Không Hiếu Thuận là nợ, sự trả nợ đã hết khả năng của mình lo cho con trên sáu mươi năm cuộc đời rồi còn gì nữa mà phải trả. Trên sáu mươi thuộc về hưởng Dương tức là trở về với Trời. Trở về với Chánh Thân, Chánh Mẫu Cha Trời Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ Cội Nguồn nhân loại con người. Cũng như chửng bị hành trang ra đi khi kiếp người trần gian đã mãn. Sự giác Ngộ nầy đã làm người Cha không còn lưu luyến đến những người con bất hiếu, cũng như thấy mình đã làm tròn bổn phận của người Cha.

Những gì vay mượn cõi trần, nhân duyên cõi trần. Lòng người Cha đã đi vào nguội lạnh nhất là đối với những người con bất hiếu không còn bận bịu gì đến nữa. Từ đó người Cha tìm cho mình hướng đi mới. Tức là hướng Dương theo Trời, theo định luật của Tạo Hóa sắp xếp cho con người. Người Cha dốc tâm nghiên cứu Văn Hóa Cội Nguồn hầu mong được Cha Trời chiếu cố. Không bao lâu thời đắc Đạo ngay trong trần thế đây chính là niềm vui vô tận đối với người Cha.

Một hôm người Cha nói với hai người con có hiếu đối với mình. Nầy hai con, con người có phần Hồn, Phần Xác thời sự nghiệp cũng có hai loại. Sự Nghiệp Vật Chất, Sự Nghiệp Tinh Thần. Cha lớn tuổi rồi không làm ra sự nghiệp vật chất giàu có được. thời Cha sẽ làm ra sự nghiệp Tinh Thần vậy. Sự nghiệp Tinh Thần đi vào trường cửu, còn sự nghiệp vật chất chỉ là sự nghiệp giả tạm vô thường, còn phước thời còn hết phước thời nó tự biến tan.

Từ đó người Cha lúc nào cũng chuyên tâm truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn hầu tạo ra sự nghiệp Đạo Đức để lại sự nghiệp Đạo Đức cho hai người con bước chân theo mình. Muốn có sự nghiệp Đạo Đức nhanh nhất không có con đường nào khác hơn là con đường truyền giáo truyền Văn Hóa Cội Nguồn. Người Cha truyền kinh thơ độ người hơn mấy năm trở thành Tôn Sư trong Văn Hóa Cội Nguồn. Được Quốc Tổ Vua Hùng đề thơ phong tặng công lao. Những ai được Quốc Tổ đề thơ phong tặng không những là bằng chứng Phong Thánh mà còn có địa vị trong nền Quốc Đạo rất cao.

Người con Thứ Hai, Thứ Ba có lẽ hiểu được lời Cha dạy nên theo Cha lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn danh tiếng mỗi ngày một lớn hội ngộ Văn Hóa Cội Nguồn trí huệ vượt qua phàm tục đi vào Thánh Trí, Phật Trí, Tiên Trí.

Mọi sự sống trên đời đều chuyển theo Định Luật vũ trụ, đông tàn thời xuân đến, thời Mạt Pháp Mạt Kiếp chuyển sang thời thượng ngươn Thánh Đức Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ. Thời thế đổi thay lắm người giàu trở lại người nghèo, lắm người nghèo trở thành tỉ phú. Sự buôn bán làm ăn tự do, có ngành có nghề có tài có đức thời mặc sức mà phát triển. Thời thế thay đổi cũng chẳng thiếu gì người quyền cao chức trọng trở về dân thường, thay thế vào đó là những lớp có phúc có đức ra làm lãnh đạo xã hội. Những loài hoa ở cảnh giới mùa đông thi nhau tàn rụi. Những loài hoa theo xuân thời thi nhau nở rộ.

Người con Thứ Tư, Thứ Năm vì đã xem thường người Cha nên không có gì để đáng học, mà chỉ đi theo người Mẹ buôn bán. Thời thế đang dần thay đổi thuận lợi cho nghề buôn bán thằng Tư thằng Năm làm ăn trở nên giàu có lúc nào cũng tự đắc tự phụ, không những xem thường người Cha mà còn xem thường hai người anh đã ngu dại đi theo người Cha dốt nát chẳng biết gì.

Không ngờ Văn Hóa Cội Nguồn không những trở thành nền Quốc Đạo mà còn là Văn Hóa Chủ Nghĩa Địa Đồng. Nền Quốc Đạo Việt Nam trở thành Quốc Đạo Quốc Tế. Kỳ Quan Bảo Tháp thi nhau mọc lên không những trong nước Việt Nam mà còn khắp cùng thế giới.

Người Cha được Quốc Tổ phong đến chức Tổng Hội Quốc giáo.Trong ngũ Giáo quyền lực vô biên, hai người con Thứ Hai, Thứ Ba theo Cha lập công truyền Văn Hóa Cội Nguồn được đứng trong hàng ngũ Hội Đồng Thánh Đức, làm rạng rỡ dòng họ cháu con. Cả nước đến lúc nầy vô cùng hưng thịnh có thể nói là dân giàu nước mạnh.

Người con Thứ Hai, Thứ Ba làm việc nơi Kỳ Quan Bảo Tháp luôn có sự đỡ đầu chỉ dạy của người Cha cấp cao Ngũ giáo nên hai người con càng tiếng tăm lừng lẫy.

Nói về người con Thứ Tư, Thứ Năm ra sức làm ăn tuy giàu có kiếm được nhiều tiền nhưng vô cùng khốn khổ. Thời thế thay đổi, đồng tiền ở Thể Chế độc tài độc trị loại bỏ thay bằng đồng tiền mới theo Thể Chế, Đa Nguyên, Nhân Quyền Dân Chủ Tự Do, Công Bằng Bình Đẳng. Sự cạnh tranh công bằng bình đẳng xảy ra khốc liệt. Thằng Tư thằng Năm cạnh tranh không lại ở cảnh giới cạnh tranh Đa Nguyên nên không đi vào làm ăn thuận lợi, lại gặp nhiều rủi ro mỗi ngày mỗi sa sút dẫn đến nghèo trở lại.

Người con Thứ Tư, thứ Năm đến lúc nầy thời vô cùng chán nản nghĩ đến Anh Hai, Anh Ba đi khắp thế giới để giảng kinh ở toàn Kỳ Quan Bảo tháp. Kẻ cung người kính muốn gì được nấy. Cuộc sống còn sướng hơn cả Vua Chúa. Theo như trong kinh nói Anh hai Anh ba không những sướng tột đỉnh quyền thế nơi trần gian mà về Trời trở thành Vua trời, Chúa nước Trời. Không ngờ hai người anh lại may mắn như vậy. Còn mình giờ đây vẫn là người nghèo khổ tương lai mờ mịt.

Khi người con Thứ Tư, Thứ Năm giác ngộ sự sai lầm của mình thời tất cả đều đã muộn. Vì người Cha đáng kính nhất đã ra đi vĩnh viễn trở về thượng giới.

Thắp nén hương trên bàn thờ nhìn người Cha đã về Trời. Mà lòng dạ xót xa, bởi cái tánh ngu si cũng như chỉ biết chạy theo dục vọng xỉ mạ người Cha. Chê người Cha tệ hại nhất trong những người Cha trên đời. Người con Thứ Tư, Thứ Năm nghẹn ngào. Rồi đây Linh Hồn sẽ về đâu sa đọa âm ti chăng vì đã bất hiếu với người Cha là Cha của mình. Sự trả ơn sanh thành dưỡng dục không có. Mà còn làm cho người Cha đau buồn. Mình cũng là con nhưng đã bị người Cha bỏ rơi từ lâu. Còn Anh Hai, Anh Ba thời khác được Cha bảo bọc đến hơi thở cuối, nên Anh Hai Anh Ba đạt đến đỉnh vinh quang như vậy. Người con lạc Cội bơ vơ. Linh Hồn bơ vơ. Trôi theo nghiệp ác luôn hồi đọa lạc mãi mãi. Không bao giờ được gặp lại người Cha ấy nữa chỉ có Anh hai, Anh ba mà thôi.
 
19. ĐÔI BẠN THÂN
Ở vào giai đoạn cuối thời Mạt Pháp Mạt Kiếp chuyển sang thời Thánh Đức ở Thị Trấn Hòa Thịnh, có đôi bạn rất thân một người tên Sanh một người tên Tuấn đều tốt nghiệp đại học. Sanh ra trường gặp nhiều thuận lợi cũng như sự may mắn nên làm đâu được đó thành lập công ty.

Còn Tuấn thời gặp nhiều khó khăn không có sự may mắn như Sanh, gia đình Tuấn cũng khấm khá nên chi ra hằng trăm triệu để Tuấn hùn vốn mở công ty làm ăn bước đầu thuận lợi. Đúng là mọi việc trên đời không thể nào lường trước được kinh tế thị trường xoay chiều công tuy liền gặp khó khăn đi vào phá sản. Mấy trăm triệu hùn vốn của Tuấn đi tiêu. Gia đình Tuấn an ủi đây là chuyện ngoài ý muốn không phải do làm ăn tính toán dở. Gia đình Tuấn lại lần nữa vét sạch chày, cối, kiếm được hơn hai trăm triệu để cho Tuấn làm ăn. Tuấn ra sức kinh doanh hết cái nầy sang cái kia nhưng mọi việc đều không thuận lợi chẳng được suôn sẻ làm đâu trật đó, tính đâu hỏng đấy hơn hai trăm triệu liền đi tiêu. Nhiều khi Tuấn muốn tự tử, vì làm liên lụy đến gia đình phá sạch tiền của gia đình. Sau bao cuộc thất bại Tuấn chẳng còn gì trắng tay, ngán ngẫm cho sự đời, mọi việc không như mình nghĩ sự bươn chải làm ăn không phải là lối đi bằng phẳng, mà đầy hố thẳm chông gai. Cái rủi luôn gấp đôi cái may.

Đến giờ nầy Tuấn mới hiểu được câu Thánh Nhân nói mưu sự do người thành sự do Thiên. Con người muốn làm gì thời làm muốn tính gì thời tính. Nhưng thành sự được hay không phải do Trời. Từ đây Tuấn bắt đầu tin vào định mệnh. Ông thời đi khỏi ông giỏi cũng chẳng làm gì.

Vì nghĩ thấu đáo lẽ thường tình trong cảnh đời vô thường luân chuyển nếu không có phước đức chống đỡ thời mọi việc sẽ khó mà thành công. Tuấn không còn mặn mà gì đến công chuyện làm ăn nữa. Mà chuyển sang một hướng khác nhưng chưa nghĩ ra là hướng gì.

Có lẽ Đất Trời xui khiến, Tuấn gặp được Văn Hóa Cội nguồn, bước đầu Tuấn chẳng để ý mấy chỉ đọc để tìm hiểu mà thôi, nào ngờ đâu Tuấn càng tìm hiểu trí huệ càng khai mở làm Tuấn giác ngộ ra nhiều thứ, mà từ xưa tới nay Tuấn chưa bao giờ nghĩ tới. Tuấn càng nghiên cứu về Cội Nguồn thời Tuấn càng say mê.

Có những lúc Tuấn thốt lên thì ra mọi sự ở đời là như thế. Có lẽ đây là Ý Trời. Vì mình không có nhân duyên đến kinh doanh mà chỉ có nhân duyên làm Thánh phục vụ cho Thiên Ý mà thôi. Từ đó suốt ngày Tuấn ngồi bên máy vi tính truyền kinh, thơ lập công.

Mỗi lần Tuấn phát kinh thơ lên là có trăm người thích, điều nầy đã làm cho Tuấn rất vui thậm chí quên đi thời gian mới đó mà đã giáp một năm. Sự nổi trội truyền kinh thơ của Tuấn làm cho các nhà truyền giáo, các bậc Tôn Sư để ý. Nhưng Tuấn không bao giờ biết và nghĩ tới điều nầy.

Tuấn đang ngồi truyền kinh nghe tiếng xe con vào sân. Tuấn chẳng để ý mấy, chừng nghe tiếng nói của Sanh. Tuấn mới rời khỏi máy vi tính đi ra tiếp người bạn thân. Tuấn nhìn Sanh với vẻ sang trọng nào xe con đời mới cả tỉ nào quần áo xịn bên Tây. Đúng là cuộc đời lên mây

Mấy ai nhìn thấy mà không mơ ước. Nhưng Tuấn bây giờ đã khác không như ngày trước, những gì trước mắt Tuấn chỉ là sự thường không có chi là đặc biệt cả.

Nếu như những năm về trước thời Tuấn sẽ ca ngợi sự sang trọng giàu có của Sanh không hết lời. Tuấn đã trở thành một con người khác, sự tiếp đón của Tuấn đối với Sanh hết sức thân thiện, nhưng không đá động gì đến sự giàu có sang trọng của Sanh. Điều nầy làm Sanh vô cùng ngạc nhiên không lẽ Tuấn không nhìn thấy sự sang trọng của mình.

Sanh nhìn Tuấn như tỏ vẻ thông cảm có lẽ Tuấn làm ăn thất bại tiêu tan mấy trăm triệu. nên đã trở thành con người như vậy. Sanh nhìn Tuấn với ánh mắt thương tiếc cho một nhân tài, chỉ vì sa cơ thất thế làm tiêu tan hết chí khí vươn lên.

Sanh nói tao sẽ cho mầy mượn vốn để làm ăn, lời thời trả tao lỗ thời thôi vậy.

Tuấn nghe Sanh nói thế thời vô cùng cảm động. Mình làm bạn với Sanh quả không uổng phí cuộc đời xin cảm ơn tấm lòng tốt của bạn. Tuấn nói đáng lý ra ngã xuống thời phải đứng lên, thất bại keo nầy ta gầy keo khác đó mới là anh hùng trong kinh tế mỗi lần thất bại là mỗi lần cho ta nhiều kinh nghiệm hơn. Thất bại là mẹ đẻ của sự thành công mà.

Sanh nghe Tuấn nói như vậy liền khen, đó mới đúng là Tuấn chứ không bao giờ chịu thua ai, trong học hành cũng thế làm kinh tế cũng thế. Tuấn lắc đầu nói Sanh đã hiểu lầm Mình rồi. Mình không trở lại trên con đường kinh tế ấy nữa đâu vì Mình đã chọn con đường khác. Sanh không hiểu hỏi đó là con đường gì có lẽ là hay hơn làm kinh tế nữa sao. Trí huệ Sanh bây giờ đã khác xưa vì đã hội nhập Văn Hóa Cội Nguồn chỉ cần nhìn thấy sự ngơ ngác của Sanh là Tuấn hiểu tất cả.

Tuấn nói Mình không chọn con đường kinh tế là vì có lẽ Mình không có duyên trên con đường làm giàu đâu, nên làm đâu thời thất bại đó không phải là Mình mất đi chí khí vươn lên làm giàu, mà là Mình đã giác ngộ ra một điều hai chữ nhân duyên người có duyên với âm nhạc, người có duyên với ca hát, người có duyên để làm giàu, người có duyên với hội họa, không ai giống ai. Thật ra trên đời nầy không có ngành nghề nào là tầm thường cả. Vì tất cả đều phục vụ như cầu cho sự sống con người.

Tuấn không muốn đi sâu vào câu chuyện đó nữa bằng chuyển sang đề tài khác.

Tuấn nói lâu ngày gặp nhau chúng ta nên vui vẻ. Tuấn hỏi được mấy cháu rồi? Sanh nói mới một thằng nhóc ra đời Tuấn mỉm cười nói có vốn rồi chúc mừng mừng. Sanh hỏi chừng nào Tuấn mời Mình uống rượu. Tuấn nghe Sanh hỏi thời đôi mắt Tuấn như nhìn về xa xăm hồi lâu Tuấn mới nói. Chuyện vợ con muốn có hồi nào chẳng được. Chờ thời cơ thích hợp mà thôi. Sanh cười ha hả cưới vợ mà cũng chờ thời cơ nữa sao? Tuấn trả lời chờ thời cơ có nghĩa là xem cô nào tự ý đến với mình không Tuấn không có tài tán gái đâu Sanh cũng hiểu rồi mà hai người nổi lên cười vui vẻ.

Có đến có đi, có hộp có tan, không có cuộc vui nào là không kết thúc. Sanh chia tay với Tuấn vì Sanh bận rất nhiều công việc, hai người chia tay nhau trong tình thân mật, nhìn theo chiếc xe con mất hút Tuấn cầu mong cho Sanh mãi được hạnh phúc.

Tuấn hàng ngày ngồi bên máy tính vừa truyền kinh thơ vừa theo dõi thời cuộc, thấy thời cuộc mỗi ngày mỗi khác, chẳng khác nào bình minh lộ dần bóng đêm đi vào ta biến, thời thế thay đổi nhanh chóng. Từ Thể Chế độc tài độc trị chuyển đổi sang Đa Nguyên Nhân Quyền, Dân Chủ. Văn Hóa Cội Nguồn thịnh hành trở thành nền Quốc Đạo Dân Tộc. Đền Thờ mọc lên khắp nơi khắp chốn Tỉnh nào cũng có, thậm chí ở các Quận, Huyện.

Các vị Tôn Sư trong Hội Đồng Thánh Đức, có mặt khắp các Đền Thờ. Tuấn may mắn được nhận vào Đền Thờ làm trợ lý cho các Bậc Tôn Sư. Với tài năng của Tuấn không bao lâu Tuấn được kết nạp vào Đạo Viên của nền Quốc Đạo dự bị phong Thánh.

Dân chúng hội tụ về Đền Thờ mỗi năm một đông không những trong các ngày lễ, mà còn nhu cầu được nghe thuyết giảng Văn Hóa Cội Nguồn quá lớn. Tuấn đã trở thành giảng viên của nền Quốc Đạo, truyền giảng trong các ngày chủ nhật.

Nói về Sanh đang làm ăn thuận lợi ở thể chế độc tài độc trị nổi như phao lúc nào cũng như diều gặp gió không ngờ tình thế đổi thay nhanh chóng sự vận động xã hội đổi chiều, từ thể chế độc tài độc trị chuyển sang thể chế Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ, công bằng bình đẳng tự do, giống như mùa đông chuyển sang mùa xuân hai cảnh giới khác nhau, sự làm ăn thuận lợi ở thế chế độc tài rơi vào khó khăn nếu không nhậy bén chuyển đổi theo xu thế thời cuộc liền rơi vào cảnh phá sản.

Sự làm ăn cạnh tranh trong thời Đa Nguyên tuy cạnh tranh Công Bằng, Bình Đẳng nhưng không kém phần quyết liệt có thể nói sự cạnh tranh hơn gấp trăm lần ở thế chế độc tài độc trị. Nhờ vào sự cạnh tranh khốc liệt nầy những mặt hàng thi nhau lỗi thời nhường cho cái mới phát triển liên tục, không những đất nước giàu lên nhanh chóng. Sự bất chính cũng như bất tài lúc nào cũng nhờ ô dù che chở bị đẩy lùi, nhường cho cái tài đa năng vươn lên dẫn đầu xã hội.

Sanh đang làm ăn thuận lợi liền gặp phải khó khăn sự canh tranh trong thời Đa Nguyên đành lép vế bán đổ bán tháo công tuy, không những vậy mà còn bị người ta quỵt nợ vì đồng tiền đã thay đổi. Chuyển sang đồng tiền khác, Tuy chưa đến nổi trắng tay nhưng Sanh đã thấy chán nản không còn muốn làm ăn gì nữa, thường đi du lịch đây đó cho quên nỗi sầu.

Về quê được một ngày Sanh tìm đến Tuấn. Gia đình Tuấn cho biết là Tuấn đang làm việc ở Đền Thờ Đức Chánh lâu rồi. Có lẽ hôm nay Tuấn lên mục giảng vì hôm nay là ngày chủ nhật.

Trên đường đi dẫn tới Đền Thờ. Tuấn không khỏi ngỡ ngàng vì người ta đi lễ Đền Thờ quá đông. Chiếc xe con chầm chậm giống như chủ nhân của nó suy ngẫm từng ý nghĩ, con đường dẫn ta đến Đền Thờ gặp Tuấn sẽ cho ta niềm vui hay nỗi buồn vì Tuấn đâu còn như ngày xưa, và mình cũng thế cũng đâu còn như ngày xưa lúc nào cũng ra vẻ giàu có nhất là ngôi vị giám đốc của mình.

Đưa xe vào bãi đậu. Sanh chen chúc với dòng người đi đến nơi hội trường rộng lớn nay đây người đông như kiến. Sanh không bất ngờ vì đã biết trước Tuấn hôn nay thuyết giảng về Văn Hóa Cội Nguồn.

Sanh nhìn Tuấn trên bực giảng thấy Tuấn tỏa sáng như ánh ngàn sao. Tuấn mặt trang phục dành riêng cho bực thầy trang phục của nền Quốc Đạo trông vừa oai nghi vừa sang trọng trông Tuấn rực rỡ khác thường, hàng nghìn cặp mắt nhìn Tuấn với vẻ kính trọng, giờ đây Sanh cảm thấy mình quá nhỏ bé so với Tuấn. Người bạn đã lên tận mây xanh còn Mình thời ở nơi đất cái.

Giọng Tuấn trầm ấm ai cũng thích nghe.

Thưa các bạn, thưa toàn thể pháp hội chúng ta là con cháu Tiên Rồng. Dân tộc ta đã trải qua biết bao nhiêu là khổ cực mới có được như ngày hôm nay, được Tự Do Mưu Cầu Hạnh Phúc. Dân tộc Việt Nam chúng ta được rực rỡ như ngày hôm nay. Phần lớn là nhờ công ơn Quốc Tổ bằng chứng là người trở lại cõi trần mở đường cứu nguy dân tộc truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn cho con cháu Tiên Rồng chúng ta.

Thưa các bạn Quốc Tổ không bao giờ bỏ rơi dân tộc Rồng Tiên chúng ta trong lúc lâm nguy. Như chúng ta đã biết ở trên cõi trời sướng hơn cõi trần gia gấp trăm nghìn lần. Thế mà Quốc Tổ rời bỏ Thiên Đàng cực lạc trở về trần gian bể khổ để cứu vớt con cháu Tiên Rồng chúng ta. Ai làm được điều nầy chỉ có Quốc Tổ mà thôi.

Thưa các bạn, thưa toàn thể con cháu Tiên Rồng. Quốc Tổ làm sao bỏ con cháu Việt Nam chúng ta được. Vì Quốc Tổ là Ông Tổ dựng nước khai sanh ra đất nước chúng ta, khai sinh ra dân tộc Văn Lang nay là dân tộc Việt Nam. Chúng ta là con Dân Nước Việt con cháu Quốc Tổ. Đương nhiên Quốc Tổ sẽ che chở bảo bọc chúng ta. Không có Phật, Thánh Tiên, Thần, Chúa nào ở các nước đến cứu dân tộc chúng ta cả. Mà chính là Quốc Tổ người không những cứu dân tộc chúng ta, mà còn dẫn dắt dân tộc con cháu Tiên Rồng chúng ta trở về quê hương thiên giới hưởng an vui hạnh phúc trong cuộc sống vĩnh hằng ở cõi trời.

Quốc Tổ truyền dạy thế gian là cõi tạm, không phải quê hương vĩnh hằng của con người, quê hương vĩnh hằng của con người là ở cõi thiên đàng cực lạc. Cõi trần gian chỉ là trường đời của Tạo Hóa, là trường thi tiến hóa Linh Hồn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. An vui vĩnh viễn không còn sa đọa luân hồi nữa.

Quốc Tổ truyền dạy mỗi Linh Hồn sinh đến chốn nhân gian tu luyện tiến hóa Linh hồn. Linh hồn không mang theo gì cả chỉ là hai bàn tay trắng. Khi Linh Hồn rời khỏi chốn nhân gian, cũng phải trả lại hết cho trần gian dù cho giàu có đến đâu, cung vàng điện ngọc đến cỡ nào cũng phải trả lại cho cõi trần gian hết thảy, chỉ hai bàn tay trắng ra đi, khi tới trần gian không đem gì đến. Khi rời trần gian cũng Chẳng mang theo được gì. Khi tới trần gian tay trắng, khi lìa trần gian trắng tay. Tất cả đều phải theo Định Luật vũ trụ. Ai cũng như ai không thể khác được. Giàu cũng như nghèo, vua cũng như dân.

Vì vậy sự giàu có cũng chỉ là tạm, công danh sự nghiệp trần gian đều là giả tạm hết. Chỉ có Linh Hồn thời mới thật của ta.

Quốc Tổ truyền dạy rằng chỉ có một thứ cho Linh Hồn chúng ta mang đi. Đó là Văn Hóa Cội Nguồn cũng như nghiệp thiện. Chính là hành trang của chúng Ta mang theo trở về quê hương thiên giới, quê hương sống mãi vĩnh hằng của chúng ta.

Đã tới trường thi cõi trần, không chịu lo tu thiện, cũng như tôm góp hành trang Văn Hóa Thiên Ý Cội Nguồn, những hành trang quý nhất của Linh Hồn, mà chỉ biết chạy theo tiền tài danh lợi đấu đá chém giết lẫn nhau, gieo ra bao tội ác khi chết đi mãn kiếp trần Linh Hồn bị huyền cơ Thiên Ý luân chuyển sa đọa xuống các tầng Địa Phủ không còn cơ hội trở về trời. Thương thay và cũng uổng thay cho những người như thế.

Sanh nghe Tuấn thuyết pháp đến đây như bừng tỉnh ngộ, như người đang chết chìm liền gặp cái phao, đang trong đêm nhìn thấy được ánh sáng. Chỉ trong tích tắc Sanh đã trở thành con người khác không còn Sanh như ngày nào bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời.

Buổi thuyết giảng cũng đi vào kết thúc. Sanh lên bực giảng gặp Tuấn, Tuấn niềm nở đón chào Sanh như người bạn thuở nào điều nầy đã làm cho sanh xúc động. Sanh nắm lấy tay Tuấn nói. Bạn đã đi trước Mình một bước, tuy hơi muộn nhưng Sanh tôi sẽ đi theo con đường của bạn. Vì nay tôi đã hiểu rõ con đường mình cần phải đi. Sống lạc Cội lạc Nguồn là sự sống vô nghĩa tôi sẽ làm lại từ đầu.

Sanh ở lại với Tuấn mấy ngày, học hỏi những gì mà Sanh muốn biết. Sanh trở về thành phố dốc lòng truyền kinh lập công đi theo con đường của Tuấn đã đi. Trải qua thời gian mấy năm danh tiếng của Sanh cũng đã lừng lẫy. Tuấn luôn theo dõi việc làm của Sanh và cảm phục sự quyết tâm của người bạn.

Năm ấy Tuấn được điều động trở về trung ương nền Quốc Đạo dự lễ phong Thánh. Tuấn được phong Thánh trong hội nầy. Tuấn được ở lại nơi trung ương nền Quốc Đạo. Một hôm Tuấn đến thăm Sanh. Sanh đón chào Tuấn như người bạn thân thiết ngày nào Sanh nghe Tuấn đã được phong Thánh bước chân vào ngôi Hội Đồng Thánh Đức thời vô cùng mừng rỡ. Tuấn hôm nay có quyền đề đạt nhân sự, Tuấn giới thiệu Sanh lên trung ương nền Quốc Đạo. Và được nền Quốc Đạo nhận làm việc, trải qua mười năm phấn đấu nơi nền Quốc Đạo Sanh được phong Thánh. Vào ngôi vị Hội Đồng Thánh Đức. Sanh đi thuyết giáo khắp thế giới trở thành bậc Tôn Sư tuổi trẻ. Sanh được như ngày hôm nay là nhờ Tuấn người bạn, hết lòng vì bạn Sanh không khỏi rơi nước mắt khi nhắc đến Tuấn.
 
20. PHƯỚC NĂNG THẮNG SỐ
Nga sanh ra trên đời không may mắn như những người khác, mới sáu tuổi Cha Mẹ mất sớm, Nga trở thành mồ côi không Cha không Mẹ. Nga sống với Ông Bà nội, không bao lâu thời Ông nội Bà nội cũng qua đời lúc nầy Nga vừa tròn 16 tuổi nhưng Nga rất vững vàng già dặn hơn những người cùng tuổi với Nga.

Vì hiểu thân phận mồ cô mồ cút của mình không thể sánh đọ với những người còn Cha còn Mẹ, nhất là những gia đình giàu có. Nga ra thân khổ nhọc bươn chải tìm kế sinh nhai, nhưng vận may không đến công việc làm ăn luôn không gặp thuận lợi. Nhưng Nga có được chút nhan sắc nên cũng có nhiều người để ý gắm ghé.

Cuối cùng Nga cũng gặp được một tấm chồng hết lòng thương yêu Nga. Sống với nhau mười năm Nga sanh được hai người con, nhưng cái nghèo cứ đeo bám mãi biết rằng hai vợ chồng Nga cố gắng xoay xở hết chuyện nầy đến chuyện khác làm lụng suốt ngày nhiều khi thâm cả đêm mà cũng không khá lên được, nếu tích góp được tiền bạc hơi khá, thời không chuyện nầy cũng chuyện kia xảy ra tiền bạc liền hết sạch. Cứ thế xảy ra hết năm nầy đến năm khác.

Một hôm Nga nghe nói có Ông Thầy tu tiên đắc Đạo coi tướng, coi số, coi vận mệnh rất giỏi. Nhưng gặp được vị tu tiên nầy vô cùng khó khăn. Vì vị Tiên Sư nầy thường đi vân du ít khi có nhà chỉ có tiểu đồng ở nhà chăm sóc vườn hoa cây cảnh mà thôi. Để muốn biết căn số của mình ra sao mà nghèo mãi như thế, Nga đi đến quyết định là đi một chuyến bằng mọi giá phải gặp cho được vị tu tiên coi tướng coi số, coi vận mệnh nầy.

Nga hỏi thăm chỗ ở của vị Thầy Tiên Sư ấy rất kĩ đường đi nước bước rành mạch rõ ràng Nga thắp hương cầu nguyện cho mình gặp được vị thầy Tiên Sư nầy.

Nga theo sự chỉ dẫn của những người đi trước cuối cùng Nga cũng tìm thấy nhà của vi thầy Tiên Sư tu tiên tài giỏi kia.

Nga bước vào cổng thấy mình như lạc vào thế giới khác. Nhìn phong cách sống của vị Thầy Tiên Sư tu tiên cũng hiểu được phần nào cốt cách của người tu tiên. Tai nghe chim kêu, vượn hú, mắt nhìn hoa nở hương thơm cảnh vật nơi đây đẹp như tranh là do bàn tay tài hoa của vị Thầy Tiên Sư. Nhìn phong cách sống của vị Thầy Tiên Sư thời biết Tiên Sư yêu thiên nhiên đếm mức độ nào.

Nga vừa bước vào sân thời thấy một người đứng tuổi. trên đầu mái tóc đã lốm đốm múi tiêu nhưng không kém phần tiên phong đạo cốt, nhìn thấy là kính nể liền. Nga chấp tay cung kính hành lễ nói. Con chào thầy Tiên Sư. Vị Thầy Tiên Sư nhìn Nga một hồi rồi như để quan sát con người trước mặt rồi nói, mời cô vào nhà.

Vị Thầy Tiên Sư rót nước mời Nga rồi hỏi. Cô đến đây coi tướng, xin xăm, bói quẻ. Hay chỉ xem vận mệnh của mình?

Nga chậm rãi trả lời, con lặn lội từ xa đến đây trải qua bao sự khó khăn mới gặp được Thầy. Con coi hết vậy Coi Tướng, Xin Xăm, Bói Quẻ, Coi Số Mạng. Coi vận mệnh cho cả gia đình. Tiên Sư nói nhiều tiền lắm đây, mỗi một bộ môn cũng phải mất vài trăm nghìn đồng nếu coi nhiều như thế thời châm chế.

Nga lần lượt, từ Xin Xăm, Bói Quẻ, Coi Tướng, Coi Chỉ Tay, xem Vận Mệnh Bản Thân Ngày Sinh Tháng Đẻ, Xem vận mệnh gia đình Chồng, Vợ, Con Cái. Xem xong Tiên Sư nói, số Cô không thể giàu được. Cô phải mãi chịu sự nghèo. Còn chồng Cô thời khác vận mệnh rất khá nếu không có vật cản thời nhất định làm giàu. Vật cản chính là Cô, nếu thay đổi được vận mệnh của Cô thời gia đình của Cô sẽ trở nên giàu có lắm.

Nga nghe Tiên Sư nói đời mình sẽ nghèo mãi thời vô cùng buồn bã. Nhưng Nga vẫn còn một tia hy vọng có thể nhờ vị Tiên Sư tài giỏi chỉ cách chuyển đổi số mạng. Nga liền quỳ xuống nói thưa Thầy: xin Thầy bày cách chuyển đổi số mạng chuyển đổi vận mệnh tốn bao nhiêu con cũng chịu.

Vị Thầy Tiên Sư nhìn Nga thương hại nói, việc nầy không ai có thể làm nổi, kể cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nga nghe Tiên Sư nói thế làm tiêu tan hết hy vọng, nước mắt liền rơi lã chã. Tiên Sư động lòng nói không phải là không có cách. Làm thay đổi vận mệnh đâu cần phải tốn kém mà phải do mình quyết tâm.

Nga nghe Tiên Sư nói thế sắc mặt liền tươi lên hỏi Thưa Tiên Sư: việc làm đó là việc gì Tiên Sư có thể dạy cho con được không?

Tiên Sư nói ở trên đời nầy chỉ có hai Đấng Tối Cao mới đủ quyền năng làm thay đổi vận mệnh của con. Nga hỏi thưa Tiên sư hai Đấng Tối Cao đó là ai? Tiên Sư chỉ cho con đi con sẽ tìm đến khẩn cầu chừng nào con gặp được mới thôi.

Tiên Sư thấy Nga quyết chí như vậy liền nói hai vị tối cao ấy là Cha Trời, Mẹ Trời. Cha Lạc Long Quân, Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ. Hai Đấng Tối Cao Cội Nguồn. Quốc Tổ Vua Hùng đã thờ phụng. Chỉ cần làm theo lời chỉ dạy Chí Tôn Quốc Tổ Vua Hùng Đương Kim Vũ Trụ, trải qua một thời gian sẽ thấy hiệu quả, số mạng con sẽ thay đổi lần lần. Muốn thay đổi vận mạng nhanh chóng thời tìm đọc Văn Hóa Cội Nguồn, sửa tâm tánh theo Văn Hóa Cội Nguồn, in ấn Văn Hóa Cội Nguồn, góp công vào Văn Hóa Cội Nguồn, nhất là đêm nào cũng thắp hương vái lạy Cha Trời Mẹ Trời cũng như Quốc Tổ Vua Hùng. Thời nhất định vận mạng con sẽ được thay đổi tùy theo sự hội ngộ và sự quyết tâm. Nga nghe xong nhớ không sót một lời, niềm hy vọng tràn trề quyết tâm làm thay đổi vận mạng của mình.

Nga trở về nhà bước đầu tiên là tìm đến Văn Hóa Cội Nguồn, dốc tâm nghiên cứu chọn lấy pháp môn để tu, ngoài đi lễ dâng hương cúng tiền bạc Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ còn in ấn kinh thơ. Thường giúp đỡ người khốn khó. Đêm nào cũng thắp hương cầu nguyện Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ. Chỉ mới bảy ngày mà đã thấy hiệu nghiệm Hôm Nga trên đường đi chợ bị bọn trấn lột cướp lấy dây chuyền, Nga la làng nhưng chúng đã chạy mất Nga đang buồn rười rượi thời bọn trấn lột chạy đến trả lại dây chuyền cho Nga bọn chúng nói trả lại đó không lấy đâu. Nga vô cùng kinh ngạc cảm ơn Cha Trời Mẹ Trời.

Từ đó Vợ Chồng Nga tin tuyệt đối ra sức tu hành theo Văn Hóa Cội Nguồn. Sau ba năm một chặng đường dài Nga càng ngày càng đẹp ra thân tướng sắc tướng thay đổi thấy rõ, cả vợ lẫn chồng nhất la gương mặt phúc hậu của Nga đã hiện ra như hai người khác, chỉ tay cũng thay đổi khác trước đây.

Cũng từ đây gia đình Nga làm đâu được đó, con cái trở nên thông minh học hành rất giỏi. Chỉ trong vòng năm năm gia đình Nga trở nên giàu có nhà lầu ô tô tiền vô như nước, người ăn kẻ ở đông đúc trở thành thương gia nổi tiếng một vùng.

Một hôm Nga trong lòng cảm thấy vui vẻ liền nhớ đến người thầy tướng số Tiên Sư. Bằng nói với chồng rằng nhân cơ hội nghỉ lễ nhiều ngày nầy, cho người ăn kẻ ở nhân viên về thăm nhà, còn vợ chồng mình thời mua sắm những gì quý nhất đến tạ ơn vi thầy Tiên Sư tu tiên kia.

Chiếc xe con mới cáu từ từ chạy vào ngõ, vị Thầy Tiên Sư tu tiên nhìn thấy hai vị khách sang trọng từ trên xe bước xuống đi vào sân. Tiên Sư cũng đã nhận ra đây là hai vợ chồng có lẽ rất giàu có. Vị Tiên Sư nghĩ đã giàu như vậy mà còn coi tướng coi số làm gì. Nga bước vào sân nhìn thấy vị Tiên Sư liền chấp tay thi lễ nói con chào Thầy Tiên Sư. Vị Tiên Sư đáp lễ hỏi hai người đến đây tìm ai? Nga mỉm cười thấy vị Tiên Sư không nhìn ra mình liền nói con là Nga đây mà. Người mà Tiên Sư đã dạy cho con phương pháp thay đổi vận mệnh số mệnh đó mà.

Vị Tiên Sư như nhớ ra, à thì ra là Cô. Mới cách tám năm mà Cô trông khác quá nếu cô không nói thời Thầy không nhìn ra đâu. Nga chỉ người đàn ông bên cạnh nói đây là ông xã người có số giàu như Tiên Sư đã nói.

Vị Tiên Sư mời vợ chồng Nga vào nhà rồi hỏi Cô làm sao mà thay đổi được vận mệnh. Nga liền kể lại tất những việc đã qua không bỏ sót chi tiết nào.

Vị Tiên Sư nghe xong thở dài nói. Cô mới thật là Thầy của tôi, Đã cho Tiên Sư Tôi thấy được sự vi diệu thâm thâm của Văn Hóa Cội Nguồn, cũng như tai nghe mắt thấy sự thay đổi vận mệnh của Cô. Từ một người không thể nào giàu được trở người giàu kếch xù, không cần chuyển đổi qua kiếp khác, ngay luôn trong kiếp nầy.

Cô sè hai bàn tay ra để Tiên Sinh Tôi xem lại thử. Nga liền sè hai bàn tay ra Tiên Sư vừa nhìn thấy thời kinh ngạc nói bàn tay tỉ phú không phải là bàn tay trước đây. Vợ chồng Cô còn giàu nữa giàu nứt trứng. Sống cả đời hạnh phúc, thọ 90 tuổi qua đời không đau ốm chi cả, đau cảm nhẹ rồi ra đi. Linh Hồn trở về trời. Cảm ơn vợ chồng Cô đã đến đây cho Tiên Sư Tôi thấy một sự thật. Mà chính Tiên Sư Tôi cũng không thể nào tin nổi có lẽ Cha Trời Mẹ Trời khiến vợ chồng Cô đến đây để độ Tiên Sư Tôi.

Vợ chồng Nga không ngờ lại xảy ra chuyện nầy. Với lòng quý mến vị Tiên Sư, cũng như chỉ đường chuyển đổi thành công số mạng của Nga. Nga góp ý với chồng để lại số tiền lớn đủ cho Tiên Sư ăn đến ngày mãn đời không còn phải kiếm tiền chi nữa. Tiên Sư không khách sáo gì cả vì đã biết đây là Ý trời nên nhận tất cả những gì của vợ chồng Nga dâng tặng. Quả đúng như lời Tiên Sư đã đoán. Vợ chồng Nga trở thành tỉ phú, Nga 90 tuổi qua đời biết trước ngày chết của mình, nhờ quyết tâm theo Cội Nguồn Nga đã gặt hái kết quả như vậy.
 
21. DÒNG NƯỚC THÁNH
Thiên nhiên Tạo Hóa luôn xảy ra điều kỳ diệu hết nơi nầy đến nơi khác. Dưới chân núi Lĩnh một hôm trong khe đá chảy ra dòng nước Thánh, cách khe đá chảy ra dòng nước Thánh không xa có một Tu Sĩ dựng am để tu.

Người nầy phải nói là bịnh đầy mình, các bác sĩ đã chạy chỉ còn chờ ngày chết. Người ấy lên chân núi lập am để tu hầu mong giải thoát Linh Hồn.

Vị Tu sĩ Tu chưa được một năm, một hôm nghe mùi thơm kỳ lạ liền tìm đến nơi phát hiện mùi thơm từ nơi khe đá không thấy hoa, quả, chi cả mà chỉ thấy dòng nước chảy ra vi Tu Sĩ ngơ ngác nhìn dòng nước. Trong lúc ấy thấy một con chim bị thương bay đến tắm trong dòng nước ấy tức thời những vết thương không còn nữa.

Vị Tu Sĩ đến gần chỗ khe đá nghe mùi thơm từ dòng nước chảy. Không lẽ đây là dòng nước Thánh, bằng đưa bàn tay bị tê liệt hết mấy ngón hứng vào dòng nước chảy thời điều kỳ diệu xảy ra mấy ngón tay lâu nay tê liệt trở lại cử động bình thường. Vị Tu Sĩ mừng quá nhất định là dòng nước Thánh rồi. Liền lấy hai tay bụm nước uống liền mấy ngụm nước ngấm tới đâu con người thấy khỏe tới đó. Vị Tu Sĩ liền uống no không còn thấy đói khác gì nữa đêm ấy vị Tu Sĩ ngủ một giấc an lành không còn nghe đau nhức gì nữa. Mấy hôm sau thời khỏe mạnh hầu như không còn bệnh tật.

Vị Tu Sĩ ấy tên thật là May. May thấy mình như không còn bệnh gì cả, nhưng cần phải kiểm tra May đi khám bệnh trở lại thật bất ngờ các bệnh trong người đều biến đi đâu mất. Người hàng xóm quê làng của May thấy May trở về với thân hình khỏe mạnh hình như không còn bệnh tật có người nghĩ rằng Trời, Phật độ nên mới được như vậy. Có người xầm xì nếu tu mà bớt bệnh như vậy thời ai mà không tu. Có người nói bộ tu dễ lắm sao phải có căn tu thời mới tu được, tu hành không phải dễ đâu. May dọn dẹp nhà cửa vì cả năm nay May không về. Nhìn thấy May làm việc không biết mệt mõi dân làng ai nấy cũng tin là May thật sự đã hết bệnh không còn chút nghi ngờ nào nữa,

Trước đây May vốn mang trong mình nhiều bệnh nên không nghĩ đến vợ con. Cha Mẹ đã qua đời nên May không còn bận bịu gì nữa lên chân núi Lĩnh lập am để tu hầu siêu thoát Linh Hồn vì biết mình sống không được bao lâu dân làng không gọi May mà gọi là Bất Hạnh. Từ đó cái tên Bất Hạnh được lan truyền nhiều người biết đến.

Anh em May đều ở xa lâu lâu cũng gửi tiền về cho May. Nhờ vậy mà Bất Hạnh Tu Sĩ May cũng đủ sống qua ngày. Nhưng nay Tu Sĩ May đã khác, không như May trước đây người đầy bệnh tật, không hiểu Tu Sĩ May tiếp tục tu, hay trở về nhà lấy vợ sống đời với nhau.

Khi ấy trong làng cũng có nhiều người mang bệnh chạy chửa hết tiền cũng không bớt được, nhất là những gia đình nghèo lại càng thê thảm không có tiền chữa trị ngày đêm chịu khổ với những cơn bịnh hành xác đau đớn hết ngày nầy đến tháng kia.

Tu Sĩ May liền mách bảo cho họ hãy lên múc dòng nước Thánh uống vào thời bệnh gì cũng khỏi. Dân chúng nghe xong liền tin ngay vì họ đã nhìn thấy May khỏe mạnh không còn bệnh tật. May nói đối với dòng nước Thánh thời không được tham nếu tham lam thời dòng nước Thánh sẽ biến mất.

Tu Sĩ May dẫn những người bệnh lên chân núi Lĩnh múc nước Thánh để uống, người nào uống người đó khỏi hẳn bệnh tiếng đồn dòng nước Thánh xuất hiện lan truyền nhanh chóng khắp nơi kéo về mỗi lúc một đông.

Dân Chúng tới múc nước Thánh, thấy cách đó không xa có Am Tu chỉ vài chục mét thi nhau mà cúng dường Tu Sĩ May mặc sức mà hưởng lộc. Của tiền vô như nước không biết làm gì cho hết ngày nào cũng như ngày nấy Tu Sĩ May lấy bao bố mà đựng bạc.

Dân chúng kéo đến mỗi ngày một đông không đếm xuể, Tu Sĩ May xây một ngôi am rộng lớn thờ Thần Linh thật khang trang đầy đủ tiện nghi, thời gian cứ thế trôi qua gần hai năm.

Bỗng một hôm dòng nước Thánh không chảy nữa, không hiểu ai đã xúc phạm đến dòng nước Thánh. Hay người ta đến đông không giữ vệ sinh làm cho nơi đây ô uế dòng nước Thánh không chảy nữa. Người ta kéo đến mỗi ngày mỗi đông dòng nước Thánh lại ngừng chảy làm cho những người bệnh hụt hẫng kéo nhau đến hỏi Tu Sĩ May sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy. Tu Sĩ May chỉ biết lắc đầu.

Trong những người bệnh có nhiều người gia đình bạc tỉ vì khao khát Chữa bệnh bằng nghĩ ra một phương pháp là rước các thầy tài giỏi, cũng như các cao tăng đến tụng kinh cầu khẩn Phật, Trời. cũng như tẩy uế may ra dòng nước Thánh mới chảy ra. Những người bệnh thi nhau góp tiền góp bạc mời đến mấy trăm vị Sư giỏi tụng kinh, niệm chú, triệu Thần Triệu Thánh, tụng kinh đại thừa, làm dậy cả núi rừng. Tụng đã bảy ngày bảy đêm mà dòng nước Thánh vẫn không chảy ra.

Tu sĩ May thắp hương cầu khẩn cả ngày lẫn đêm cầu cho nước Thánh chảy ra. Một hôm Tu Sĩ May đang thiu thiu ngủ liền thấy một vị Thần xuất hiện nói Ta là Thiên Thần trước đây theo phò Chí Tôn Quốc Tổ vì sự thành tâm của những người bệnh, nên ta đến mách bảo cho cách cầu nước Thánh chảy ra.

Thiên Thần nói thế gian trọng tiền, còn Thánh hiền thời trọng đức. Giàu sang phú quý mua gì cần gì có thể có được, nhưng cầu nguyện thời ít linh, vì âm đức quá mỏng. Các vị thầy tụng kinh kia cũng chỉ vì tiền vì bạc nên âm đức cũng chẳng được bao nhiêu không thể cầu nước Thánh chảy ra được. Ta có thể chỉ cho ngươi một người đến đây cầu nguyện thời dòng nước Thánh tự động chảy ra người ấy ở làng An Mỹ tên là Bà Năm nói xong vị Thiên Thần biến mất.

Tu Sĩ May thức dậy suy xét lại điềm chiêm bao vị Thiên Thần mách bảo. Liền xuống núi tìm đến làng An Mỹ và được người ta chỉ cho nhà Bà Năm.

Tu Sĩ May tìm đến nơi thời thấy một ngôi nhà tranh sụp xệ có lẽ nghèo nhất xóm. Tu Sĩ May nghĩ người có đức lớn mà lại ở ngôi nhà sụp xệ như thế nầy sao. Nhưng Tu Sĩ May tin vào lời mách bảo của vị Thiên Thần nên ngồi chợ chủ nhân trở về, chờ đợi gần cả buổi Tu Sĩ May thấy một người phụ nữ đứng tuổi từ xa đi tới rồi đi vào nhà Tu Sĩ May biết đây là Bà Năm liền đứng lên chấp tay thi lễ nói chào Bà Năm.

Bà Năm nhìn vị khách hỏi chú đến đây có chuyện gì? Tu Sĩ May nói, Tôi là Tu Sĩ May từ núi Lĩnh đến đây có chuyện cầu thỉnh. Bà Năm nói tưởng ai chứ Tu Sĩ May tôi đã nghe danh từ lâu, mời Tu Sĩ vào nhà. Bà Năm xô cửa bước vào nhà Tu Sĩ May cũng theo sau. Nhìn thấy trong nhà chẳng có gì lấy làm kinh ngạc. Bà Năm như hiểu ý nói tôi ở một mình còn con cái ở thành phố.

Tu Sĩ may nhìn lên bàn thờ thấy có bài vị thờ Quốc Tổ không thờ ai nữa khác, Tu Sĩ May vào đề ngay Thưa Bà Năm Tôi theo lời chỉ bảo của một Thần Linh Thiên Thần trước đây theo phò Quốc Tổ bảo tôi đến cầu Bà Năm đến núi Lĩnh cầu nước Thánh chảy ra chữa bệnh cho người. Bà Năm nghe đến vị Thiên Thần mách bảo trước đây từng làm Hộ Pháp cho Quốc Tổ. Thời nói đã có vị Thiên Thần mách bảo như thế thời còn từ chối làm sao được.

Vì sự tò mò Tu Sĩ May nói Bà Năm tu theo pháp môn nào mà công đức to lớn như vậy? Tôi có làm gì đâu mà công với đức. Tôi hay thường khuyên người ta tôn thờ Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ. cũng như tôn thờ Quốc Tổ. hàng đêm tôi thường thắp hương cầu nguyện chỉ có vậy thôi. Nhưng có một điều hơi lạ là Tôi thường cầu chi có nấy Linh Thiên như ý. Một hôm tôi được vị Thần báo là phước đức Tôi như biển cả. Vì đêm nào cũng thắp hương nguyện cầu tôn thờ Cha, Mẹ Trời, cũng như đương kim vũ trụ Quốc Tổ. Tu Sĩ May lắng tai nghe không bỏ sót lời nào nghĩ rằng pháp môn tu luyện của Bà Năm tuy đơn giản nhưng hiệu quả vô biên. Thờ kính Cha Mẹ Trời bằng thờ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khắp vũ trụ, Pháp Môn Vạn Pháp Quy Tôn Tịnh Độ chính là đây. Lại Tôn kính Tôn Thờ Đương Kim vũ trụ Quốc Tổ, cũng chính là Pháp Môn Vạn Pháp Quy Tôn. Con, Cháu Đại Việt quy về một mối. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đồng phò, thảo nào phước đức không vô biên sao được. Tu Sĩ May nghĩ đến đây Tâm Trí liền sáng bừng ra.Ngộ Đạo thấu rõ Duy Thức Quy Tâm, Vạn Pháp Quy Cội Nguồn, Tâm, Thức liền thanh tịnh chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn Vạn Pháp Quy Tôn. Tu Sĩ May liền vái lạy bà Năm nói nhờ lời chỉ dạy của bậc cao nhân tôi đã Ngộ Đạo. Bà Năm nói Tôi làm sao nói vậy thôi mà. Bà Năm nhìn Tu Sĩ May nói Tu Sĩ đến trễ một ngày thời tôi đã lên thành phố rồi cũng may là tôi chưa đi. Con cái chúng nó về dọn đồ đạt đi trước rồi.

Tâm sự một lác Bà năm nói Tu Sĩ ngồi đây chờ tôi một lát. Một lát sau Bà năm ăn mặc sạch sẽ bước ra Tu Sĩ May tưởng như hai người khác không phải Bà Năm mình lúc ban đầu.

Bà Năm theo Tu Sĩ May đến chân núi Lĩnh thấy người bệnh đông đếm không xuể hơn năm trăm vị thầy tụng kinh khói hương nghi ngút tiếng tụng kinh vang động cả núi rừng. Người người lớp thi nhau quỳ lạy.

Tu Sĩ May nói với các Thầy, các Sư ngưng tụng kinh, để Bà Năm cầu thỉnh thời nước Thánh tự chảy ra. Các thầy không nghe cứ tiếp tục tụng kinh. Cho Tu Sĩ May là người điên. Tu Sĩ May bực mình nói lớn tôi đã nói các thầy ngưng tụng kinh đi để cho Bà Năm cầu nước Thánh chảy ra chữa bệnh cho bà con. Có nhiều vị thầy nói Bà Năm gì đó là Quan Âm chắc.

Bỗng có người lên tiếng nói, pháp lực năm trăm vị Thầy đức cao trọng vọng, cầu thỉnh vô lượng chư Phật, chư Thánh, chư Tiên, suốt bảy ngày đêm mà còn nước Thánh không chảy ra. Bà đây chỉ là người tầm thường thần lực ở đâu mà cầu nước Thánh chảy ra.

Bà Năm không chú ý đến những lời nói đó liền bước đến nơi kẻ đá nơi nước Thánh thường chảy ra. Chẳng cần hương nhang gì cả. Chắp tay nguyện cầu rằng công đức của con tôn thờ Cha Lạc Trời Long Quân, Mẹ Trời Âu Cơ, cũng như tôn thờ Quốc Tổ mấy mươi năm Dâng lên Dòng Nước Thánh cầu xin dòng nước Thánh chảy ra chữa bệnh cho mọi người thoát khỏi bệnh tật an vui khỏe mạnh.

Lời khấn nguyện của Bà Năm vừa xong thời kỳ diệu thay dòng nước Thánh từ trong kẻ đá chảy ra trước sự hoan hô sung sướng của người bệnh, năm trăm vị Thầy Cúng ngơ ngác không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Bà năm cầu dòng nước Thánh chảy ra xong thời lặng lẽ lên xe trở về nhà. Sau đó mấy ngày Người ta tìm đến nhà Bà Năm rất đông nhưng Bà Năm đã lên thành phố ở với các con rồi. Dòng nước Thánh chảy được một năm rồi mất hẳn, không còn chảy nữa. Tìm ở đâu ra người như Bà Năm để mà cầu.
 
×
Top Bottom