Bài Van-Xơ ngày vĩnh biệt ( Lu-Y A-Ra-Gông) Nguyễn Thụy Ứng dịch (3)

Meika

Thành viên
Tham gia
26/12/2023
Bài viết
74
RÔ-MA, BA LẦN GẶP​

Một người đàn bà không trẻ lắm, cũng không đẹp lắm, có lẽ thế. Bà phải hơn anh mười tám hay hai mươi tuổi. Song Pie — Giăng không bao giờ nhìn bà mà trong lòng không có chút xao xuyến. Bà cao hơn anh, và phải giữ gìn cho khỏi đậm ra, để tránh cái vẻ nặng nề tự nhiên của đàn bà Đức. Dưới bộ tóc vàng giữ bằng một dải băng to màu hạnh nhân, để xõa những món tóc xoăn, đôi khi bà có cặp mắt của bức tượng: không động đậy, như trống rỗng, hơi lồi. Tất cả cái vẻ ấy tăng thêm dưới ánh những cây nến đem lại cho trò chơi giữa hai người một màu bí mật. Thật ra anh được biết gì về bà ? Anh biết bà có chồng người Anh, mà bà trốn tránh, một con người thô lỗ... Những mảnh vụn của đời bà, mà mỗi lần bà để vương một ít cho anh thấy.. Đây là lần gặp gỡ thứ ba giữa hai người,.. Hình như lần nào, đến giây phút cuối cùng, ch.uyện ấy cũng xảy ra vì cần phải nuôi dưỡng những mơ mộng của chàng trẻ tuổi cho đến lần hẹn sau. Tạm thời anh biết tên bà là đủ, mà bà cũng chỉ cho anh biết tên trong lần gặp thứ hai, khi bà cố ý đưa anh đến nghĩa trang đạo Tin lành. Điều này cho biết ngày tháng chuyện xảy ra: Ngày những Người chết... một làn gió đầy hơi mưa, tàn bạo và nồng nực thổi tới từ phía nam. Trong lúc rời khỏi đám cây bách quanh những nấm mộ người Anh được bà đến đặt hoa, gần kim tự tháp Cơ-xti-ut, đi dọc theo bức tường Au-rê-li-a-nut (1), tại chỗ hoang vắng ngập dưới lớp cỏ dại vẫn xanh rờn trong mùa thu, như tươi mát nhờ những làn gió mạnh ngột ngạt lùa từ biển vào, bà đã nói với anh về người chồng mà bà lấy ở Lơn-đơn. Về cách đối xử không xứng đáng của người ấy đối với bà, hồi bà mới từ nước mình sang đấy, trẻ măng, đa cảm một cách có lẽ ngu xuẩn... Đấy, ông đã đọc Những đau khổ của chàng trẻ tuổi Vec-tơ (2) rồi chứ... Những cây xương rồng mọc lên đây đó trên cánh đồng bỏ hoang. Cứ như Ai-cập đuổi theo kiến trúc kỳ lạ của nó đến dưới bầu trời Rô-ma. Người chồng này, ai cũng biết ông ta có một ả nhân tình, một con người chẳng ra gì, và chẳng phải ông ta đã cố ép bà phải sống chung hay sao?... Không biết đây là do ráng chiều hay lòng tủi hổ? Những ánh màu này làm bà trở nên gần như đẹp. Một người đàn bà có cặp má ửng hồng, khó lòng không nghĩ tới tình yêu. Pi-e — Giăng đã nắm tay bà. Bà cho anh biết tên bà là Ca-rô-lin.

(1) Aurelianus (khoảng 214-275) Hoàng đế La-mã, xây tường quanh La-mã (n.d)

(2) Chuyện dài của Gớt (1774), phần nào có tính chất tự truyện (n.d).

Lúc này, từ quán ăn nơi hai người dùng bữa tối trên cái sân thượng có mái, có thể thấy giữa những cây thông của đồi I-a-ni-cu-lum và những cây bách trên núi Môn-tệ Ma-ri-ô, nhà tù Thánh Ang-giơ lừng lững trên dòng sông lượn như con rắn vàng, và những cái mái tròn của các nhà thờ, đằng xa là Xan-ta Ma-ri-a in A-ra-cơ-li; và nếu quay sang trái thì thấy đồi Pa-la-tin, điện Ki-ri-nan, tất cả tắm trong một thứ sương mù nhẹ làng xanh xanh, đôi lúc vẫn óng lên dưới những đợt sáng muộn màng rỉ ra từ những đám mây ùn ùn như đàn ngựa lớn: cứ như một bức tranh của Klôt Lo-ranh (1) trên đó không còn nhận rõ những nhân vật nhỏ xíu lăng xăng đằng kia, trong các dãy phố, cái thành phố xa trước mặt nó làm người ta quên sự gần gũi của những mảnh vườn bậc thang, tất cả những đám cây cỏ xanh mát không đúng mùa, những trái cam núc níu giữ cây vào tường, những quả chanh mới nhú... những cây nguyệt quế ra hoa đợt mới... tất cả dịu mát, thơm tho hơn lần trước ở nghĩa trang rất nhiều... Và Ca-rô-lin đã được chốc lát hạnh phúc. Bà tự buông thả. Bà quên mình là ai. Bà nhìn anh chàng cùng ăn, vẻ vừa giễu cợt vừa triu mến, cái triu mến có lẽ như của người mẹ. Một ý nghĩ thật buồn cười! Tại sao bà lại thích như thế này bên cạnh anh chàng người Pháp, có lẽ chỉ hơn vài tuổi so với tuổi, người ta nhìn vóc người đoán ở anh, cái đầu có phần quá to, tóc thì như rơm, hơi bù, có những món bết xuống thái dương, người nhỏ bé nhưng không để mất chút xíu vẻ tự trọng trong chiếc rơ-đanh-gôt màu xanh chai, rất bó thân, đôi ủng đen, chiếc cà-vạt trắng quấn ba vòng quanh cổ, trong cái cổ áo bằng nhung? Cứ nhìn bộ ria chảy xệ, hơi yếu, thì có thể thấy là một con người không ác lắm. Có lẽ bộ ria này cũng là một phần trong cố gắng ra vẻ đàn ông... như cái can nhỏ không lúc nào rời tay. Anh chàng chỉ hai mươi nhăm, hai mươi sáu là cùng. Anh không giấu Ca-rô-lin rằng mình hưởng trợ cấp của Viện Hàn lâm Mỹ thuật Pháp, ở đằng kia, khu Pin-xi-ô... Một nhà điêu khắc. Nếu người ta thấy hai người đi với nhau, họ sẽ nghĩ thế nào nhỉ ?
(1) Claude Lorrain (1600-1682) Một trong những bậc thầy của ngành họa phong cảnh Pháp (n.d).

Lúc này, một mình anh nói. Về Ca-nô-va (1) Mi-ken An-giê-lô... Ca-rô-lin mỉm cười, mắt lim dim dưới hai hàng mi to. Bà nhớ lại Pi-e — Giăng như lúc anh bất ngờ xuất hiện trước mặt bà để đuổi những đứa trẻ mất dạy vây lấy bà, lúc bà bước xuống những bậc thềm của quảng trường Tây-ban-nha, khi ở nhà thờ Tơ-ri-ni-ta đây Môn-ti bước ra để trở về chiếc xe ngựa đỗ lại bên dưới. Bà đang muốn được ngồi một mình, nên sự có mặt kéo dài của người đàn ông có phần làm bà bực mình... nhưng dù sao bà cũng rất thích anh, còn anh thì chán ngán vì bà cứ nhìn những đám đá cổ xưa. Tại đấy, gần Bac-cac-xi-a, bể phun nước của Bec-nin (2) giữa những mụ hàng hoa, những tay bán dây giầy, đã bắt đầu sự chịu tội này. Nhưng không chỉ có những đứa trẻ, mà cùng với chúng còn có một tay ma cà bông, một trong những anh chàng lôi thôi rách rưới mà vẻ đẹp làm bà sợ. Năm 1814 các phố Rô-ma không an toàn đối với người nước ngoài, có thể nói thế, sau khi quân Pháp rút đi, và giáo hoàng đã trở về, giúp con dao găm đoạt lại quyền hành của nó... Vì thế, khi anh chàng nhỏ bé, nói lắp bắp một thứ tiếng Ý kỳ quặc này xua được đám kia đi một cách dễ dàng như vậy, và kiêu hãnh về kỳ công của mình, đứng thẳng người trong chiếc rơ-đanh-gôt màu lá cây sẫm, đưa cánh tay cho bà, bà đã sẵn sàng nhận lời, có lẽ vì trong lòng vẫn còn bị ám ảnh bởi con quỉ muốn người ta thích mình... Chà! lúc ấy bà thật điên! Tại sao không để anh ta đưa mình ra xe, mà lại thích cùng cứu tinh của mình đi dạo trong những vườn cây của khu Pin-xi-ô. Lúc gặp bà, anh vừa ra khỏi chỗ Đô-mi-ních, một người bạn là họa sĩ ở đường Grê-gô-ri-a-na, và đang định trở về lâu đài Mê-đi-xi..
— Bà làm thế nào hiểu được, — anh nói. — Thưa bà, bà thuộc về một thế giới khác thế giới của tôi biết bao. Bà bị chia sẻ giữa hai Tổ quốc. Hiện giờ là đồng minh và là những kẻ chiến thắng. Bà đọc những câu thơ Đức, nhưng mang hoa đến những nấm mộ người Anh. Bà được tự do bất kể con người độc ác mà bà đã có thể thoát khỏi. Bà chỉ nói đến những chuyến du lịch dự định sẽ đi, những phong cảnh sẽ đến xem, ở nước ngoài. Bà thử nghĩ xem, mùa hè năm ngoái, tôi ở Vơ-ni-dơ... trong vùng đồng lầy Li-đô, người ta đã chỉ cho tôi một người đi qua, trên ngựa, ông ta bắt con ngựa len qua lau sậy, ở những chỗ không có đường, nhảy qua những đám nước tù... Một sức mạnh dữ dội tỏa ra từ ông ta, ông ta có vẻ làm chủ vùng đất này ở nước ngoài, đất hoàn toàn lẫn với nước... Người ta bảo tôi đó là huân tước Bai-rơn (3)... Không hiểu sao, nhìn bà tôi cứ nghĩ tới ông ta..

Bà nói có phần ngớ ngẩn:

— Nhưng tôi có gì làm ông nghĩ rằng tôi giống cái ông A-pô-lông thọt cẳng ấy?

Anh thấy câu hỏi rất tự nhiên:

— Bà và ông ấy là những con người không bị ràng buộc chút gì... làm sao bà có thể hiểu được tình cảnh hỗn loạn rối ren của chúng tôi!

Của chúng tôi? Anh chàng muốn nói gì nhỉ? Có lẽ Ca-rô-lin đang chìm trong mơ mộng nên đã để lọt vài câu. Người bồi bàn mang tới một món trộn nhiều thứ rau. Chỉ ở Rô-ma người ta mới biết ăn rau là thế nào, và tính đa dạng của các đồ gia vị...

(1) Canova (1598-1680) Họa sĩ, điêu khắc và kiến trúc nổi tiếng người Ý (n.d.).
(2) Bernin (1598-1680) họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc nổi tiếng người Ý, để lại nhiều công trình ở Rô-ma (n.d.).
(3) Lord Byron (1788-1824) nhà thơ Anh, điển hình của nhân vật và nhà thơ lãng mạn (n.d.).
Tất cả xảy ra cùng một lúc, trong năm khủng khiếp ấy. Thật ra khi tôi nhận tất cả các phương tiện người ta cấp cho chúng tôi, chuyến đi các miền nước Ý này, đó cũng đã là để chấm dứt tất cả... Tôi không biết bà có ở Rô-ma hồi tháng Giêng, khi quân của vua Na-pô-li đầu tiên chiếm thành phố hay không? Muy-ra (1), bà hiểu không, tại sao cần phải tin tưởng Mi-on-lit, chứ không tin Muy-ra, vua Na-pô-li? Mi-on-lit, tất nhiên là trại quân Pháp... song chúng tôi đã không kiêu hãnh lắm với các bạn người Ý của chúng tôi về địa vị những kẻ chiếm đóng thế này. Và vua Na-pô-li, dù sao cũng là Na-pô-lê-ông đặt ông ta lên ngôi. Nhưng người Rô-ma tin tưởng ông ấy, hình như thế. Ông ta nói sẽ tống cổ quân Áo ra biển, tin tức từ Pháp xấu đi, thư từ ngày càng hiếm. Ở Trường, có thể nói với ai? Đối với phần lớn, cái gì cũng là một cớ để họ nhạo báng. Lạy Chúa tôi, khi người ta nói với chúng tôi rằng Hoàng đế sẽ cố thủ trên sông Mac-nơ...

— Thế ông bạn của ông? Ông ở đường Grê-gô-ri-a-na ấy?

— Anh-grơ (2) ấy à? Bà biết không, bao giờ ông ấy cũng đứng ngoài các chuyện này. Ông ấy gọi những cái ấy là chính trị. Ông ấy và tôi, hai chúng tôi rất khác nhau. Dù ông ấy nhiều tuổi hơn tôi, nhưng có lúc tôi nghĩ rất đơn giản rằng điều tôi quan tâm nhất không phải là tuổi đời ông ấy. Một họa sĩ lớn, bà biết không, nhưng người ta đã không đối xử công bằng với ông ấy. Có lẽ đối với ông ấy, Na-pô-lê-ông, Đế chế, tất cả có phần nào là xưởng họa của Đa-vit (3), nơi chúng tôi làm quen với nhau năm 1810. Anh-grơ, ông ấy đi con đường khác... Ở Trường, tất cả bọn họ đều theo gương giám đốc. Bà biết ông ấy chứ, ông người Mỹ ấy mà? Ghi-ông Lơ-ti-e, bao giờ cũng đi theo kẻ mạnh đương quyền. Ông ấy đã đặt anh bạn Coóc-tô của chúng tôi tạo bức tượng Hoàng đế... Cần nói với bà rằng trước năm 1814, tôi không ủng hộ Bô-na-pac đâu...

(1) Murat (1767-1815) nguyên soái Pháp, được Na-pô-lê-ông phong là vua Na-pô-li (n.d.).
(2) Ingres (1780-1867) họa sĩ Pháp, nổi tiếng và sử dụng đường nét (n.d.).
(3) David (1748-1825) Họa sĩ Pháp, đứng đầu trường phái Tân cổ điển (n.d.).

Ca-rô-lin nhìn anh một cách thích thú, bà không hiểu lắm về tất cả các chuyện này, nhưng tại sao anh không ủng hộ Bô-na-pac, như anh nó i? Như vậy, việc dòng Buốc-bông (1) quay trở lại phải có...
— Dòng Buốc-bông! — Pi-e Giăng kêu lên. — Người ta đã không tin tưởng họ, không thể tin tưởng họ được. Đang có chuyện gì xảy ra ở nước Pháp ? Có đúng người ta đã tiếp đón họ như cứu tinh hay không ? Không, không thể như thế được.

Đêm đã xuống. Nhưng vẫn chưa lạnh, trong những ngày giữa tháng Mười một này. Trên sân thượng vẫn chập chờn chút dư vị mùa hè, nhưng trong nhà lại là mùa đông, vì các nhà ở Rô-ma không được sưởi tốt. Pi-e — Giăng nói về Ang-gie, về gia đình anh, những gì đã xảy đến với những người trong gia đình anh ? Bố anh là một người Cộng hòa, cũng như anh... Hồi anh còn là trẻ con, hai bố con đã tham gia đạo quân của Klê-be chống quân Văng-đê (2)... Bà ngước nhìn anh chàng Gia-cô-banh (3) nhỏ bé.

— Hồi ấy ông có thể bao nhiêu tuổi? — bà hỏi.

Năm tuổi... phải, lên năm. Anh bị lạc trong một trận chiến đấu, bố anh bị bắt làm tù binh và anh được những người đàn bà nhận nuôi, lúc anh ngồi trên một bom đạn của quân Văng-đê, theo tướng La Rô-sơ Giắc-cơ-lanh. Đó là năm chín mươi ba...

— Thời kỳ Khủng bố (4) ! — bà nói.

Đúng là thời kỳ khủng bố !

— Bà thấy không, thưa bà... bà thấy không, hồi ấy không có cách nào khác: chúng tôi là những kẻ nghèo khó, đói không có ăn, vì khi người nước ngoài đe dọa thô lỗ nền cộng hòa, bố tôi... Bà có bao giờ nghe nói về Tuyên ngôn Brun-svich (4) chưa?

Bà ngả người lui vào trong bóng tối, tay nghịch nghịch cốc rượu vang trắng đã cạn. Anh không nhìn thấy nét mặt bà:

— Ồ, xin bà thứ lỗi, — anh nói, — tôi thật là thô lỗ, tôi đã để bà chết khát !

(1) Bourbon, dòng họ có nhiều người làm vua ở Pháp và Tây Ban Nha...
(2) Kléber (1753-1800) tướng Pháp, chỉ huy quân đội cách mạng chống quân Văng-đê của nông dân nổi loạn chống các chính sách của chính quyền Cộng hòa (n.d.).
(3) Người nhiệt tình ủng hộ chế độ dân chủ. — Thành viên một câu lạc bộ cộng hòa họp tại nhà tu cũ của dòng Gia-cô-banh (n.d.).
(4) Thời kỳ trong Cách mạng Pháp từ 9-9-1793 đến 27-7-1794, trong đó các tòa án cách mạng đã chém đầu gần 1.400 người (n.d.).
(5) Brun-svich (1735-1806) Quận công, Tổng chỉ huy liên quân châu Âu chống Cách mạng Pháp, ngày 25-7-1792 đã gửi cho Pháp bản Tuyên ngôn, thực chất là tối hậu thư, gây ra cuộc nổi dậy của dân Pa-ri ngày 10-8-1792 và sự sụp đổ của chế độ quân chủ. Brun-svich bị thua quân cách mạng ở Vammi ngày 20-9-1792 (n.d.).
Bà có nghe nói về bản Tuyên ngôn. Bà nghĩ rằng có biết đại khái... Nội chiến là một điều khủng khiếp. Anh nói đó là một điều khủng khiếp. Nhất là khi nó còn chồng lên một cuộc chiến tranh với nước ngoài. Thời thơ ấu của anh, một cuộc sống nghèo khổ kéo dài. Hồi bố anh chưa về nhà, mẹ và các chị anh phải đến các trang trại xin ăn. Sau đó, với những gì ông bố Đa-vit kiếm được !

— Nước Cộng hòa nghèo, — Pi-e — Giăng nói, — cần phải phục vụ với tình yêu đối với nó...

Câu này vang lên sâu sắc trong Ca-rô-lin, có đúng là giọng của chàng thanh niên không nhỉ ? Điều này giống quá ít ý niệm mà bao giờ bà cũng đã có về hạng người này. Bà thử tưởng tượng người bố của thằng bé này, người điêu khắc trên gỗ đã làm cho thành phố ông ta một Bàn thờ Tổ quốc... người mẹ tới các trang trại ăn xin... lớp dân đen này ở Ang-gie...

— Những điều ấy chưa giải thích cho tôi rõ vì sao ông ghét ông Đơ Bu-ô-na-pac-tê (1) ?

Anh cãi lại. Không phải anh ghét Na-pô-lê-ông. Nhưng nước Cộng hòa...

— Bà thấy không, ở Ang-gie có nhiều người cộng hòa bí mật gặp nhau, từng nhóm nhỏ... Chẳng hạn tôi biết một người trước kia có giúp đỡ bố tôi... ông ta thuộc số những người theo tư tưởng của những người Bình đẳng... Những người này họp ở nhà ông ta... tôi thì tôi không hiểu rõ những lời họ nói, họ ủng hộ hay chống Rô-be-xpi-e ?(2) Ở nhà chúng tôi, cái tên được nói rất khẽ bao giờ cũng là Rô-be-xpi-e. Và Xanh Giuyt (3), Ba-bớp (4) hồi ấy chẳng nói lên với tôi điều gì. Tôi thì một người bạn, con một chủ nhà in, đã lôi tôi đến cuộc họp của nhóm Tiếp đón Trìu mến... Phải, nhưng một hôm họ nói lên trước mặt tôi tên một người trong nhóm. Hồi ấy có lẽ tôi mười tám, tôi đã làm việc ở chỗ ông thầy Đơ-luýt của tôi, và đang bị thiêu đốt bởi tất cả những gì liên quan đến nghệ thuật, đúng là thế. Song những tay theo Ba-bớp ấy lại nói tới một tay trong nhóm họ là Bu-ô-na-rốt-ti (5). Khi tôi hỏi, họ nói rằng tay Bu-ô-na-rốt-ti ấy đúng là dòng dõi là Mi-ken An-giô-lô...

(1) Cách nói «Bô-na-pac» theo giọng quê hương Na-pô-lê-ông là đảo Coóc thường dùng với ý châm biếm (n.d.).

(2) Robespierre (1758-1794), biệt hiệu là «Người không thể bị mua chuộc» ủy viên Ủy ban cứu dân, phát động phong trào khủng bố (1794), bị lật đổ, chết trên máy chém (n.d.).

(3) Saint Just (1767-1794), ủy viên Ủy ban cứu dân, là nhà lý luận của Chính phủ Cách mạng và phong trào khủng bố, bị xử tử cùng Rô-be-xpi-e (n.d.).
(4) Babeuf (1760-1797) Đề xướng một chủ nghĩa cộng sản bình quân, âm mưu chống Nội các Chấp chính (âm mưu những người Bình đẳng) bị xử tử (n.d.).
(5) Buonarotti (1761-1837) Môn đệ của Ba-bớp, gốc Ý (n.d.).

Những điều này được nêu lên trong câu chuyện của chàng điêu khắc trẻ làm gì nhỉ? Ánh nến trên bàn làm mặt anh có vẻ mơ mộng, anh nhẹ nhàng đưa ngón tay qua bên dưới hàng ria chảy sệ, cách chiếu sáng làm anh mất màu sắc. Nhưng anh lại nói về năm 1814, về Muy-ra... Những tên cướp xuất hiện gần như khắp nơi chung quanh thành phố, người ta không còn có thể dạo chơi trong vùng các hồ An-ba-nut. Khi Phu-sê (1) ký hiệp định nhường tất cả nước Ý cho vua Na-pô-li... ở Rô-ma có những người mừng rỡn, còn những ai tôn trọng tinh thần yêu nước của người Ý như Đa-vit thì tự nhủ: Muy-ra, đó vẫn còn là nước Pháp... Rồi quân đội Pháp dù sao vẫn còn ở lại đấy... một ngàn ba trăm quân...
— Nhưng khi người ta thấy trại quân rút khỏi nhà tù Thánh Ang-giơ... Bà thử xem, tôi không bao giờ có thể đi xuống từ khu Pin-xi-ô về phía ấy, đến cổng Poóc-ta đen Pô-pô-lô... Tôi vẫn lại thấy họ, hồi ấy là những ngày đầu tháng Ba... bà còn nhớ mùa xuân năm ấy bắt đầu sớm thế nào không? Tướng Mi-ou-lit tiến ra cùng với một dúm quân của ông ta, lá cờ ba sắc bị hạ xuống chúng tôi đã từ trên Trường đi xuống, vài anh em, lúc khoảng bảy giờ sáng... Chúng tôi nghe thấy tiếng trống xa dần, những lá cờ bây giờ đã biến mất trên đường Phla-mi-na... Khi quay trở lên, tôi thấy trong các vườn cây những đóa hoa đỏ tía trên các cây Giuy-đê. Ở đấy có anh bạn tôi, Hê-rôn, nhạc sĩ, anh hỏi tôi: Người ta đã đánh lừa ai thế nhỉ? Tôi không biết... Dân Rô-ma nhìn người Pháp ra đi mà không đặc biệt vui sướng, cũng không la ó sau lưng họ... Đã có tin dòng Buốc-bông trở lại Pa-ri... Bức tượng mà Cô-rô sáng tác, ông giám đốc đã ra lệnh đưa xuống dưới hầm, rồi ông bắt đầu nói về Kẻ Tiếm vị, về hạnh phúc của nước Pháp và sự nghỉ ngơi của châu Âu... Thế là chúng tôi cũng bắt đầu nghĩ khác hẳn về Na-pô-lê-ông...

(4) Fouché (1759-1820) Bộ trưởng cảnh sát thời bấy giờ (n.d.).

Pi-e-Giăng đã rời khỏi Rô-ma sau khi Giáo hoàng trở về. Người ta nói rằng Giáo hoàng đúng là một trò ma quái của Na-pô-lê-ông. Để ngăn cản Muy-ra thống nhất nước Ý. Ở Rô-ma Đa-vit có những người bạn Ý. Tất nhiên dân chúng đã ùa ra các phố, các quảng trường. Chính cái cửa dùng cho người Pháp ra đi cũng chứng kiến cảnh Giáo hoàng trở về, trên chiếc xe thếp vàng mà những con ngựa vừa tiến vào thành phố đã bị tháo khỏi càng xe bởi những thanh niên giống như những tay mà người ta thấy những ngày Hội hóa trang ăn vận giả đàn bà và trêu ghẹo khách qua đường, những thằng con ông cháu cha, những tên cướp và những kẻ vượt tù, người ta đuổi dân Do-thái ra khỏi Coóc-xô và mở cửa các nhà tù... Thiện ở đâu, ác ở đâu ?

— Tôi thì tôi theo đạo Tin lành, — Ca-rô-lin nói, — ... còn ông?

Đa-vit thú nhận sự bối rối của anh. Anh không tin đạo. Hay ít nhất, nếu có một vị thần nào đó... nhưng không tin Giáo hoàng, dù sao cũng không tin Giáo hoàng, những cha cố đầy quyền thế cùng đám tôi tớ của họ chạy rông khắp thành phố, sinh viên trường đạo, thầy tu, nữ tu sĩ... Bà nhìn anh. Ca-rô-lin tự nghĩ: đây rồi, đây là điều anh chàng thật sự say mê. Vì dù sao với một người Pháp trẻ tuổi, bà tự hỏi...

Lúc ấy anh bắt đầu nói một cách lạ lùng về nhà thờ Thánh Xê-xi-li-a (1). Chắc Ca-rô-lin lại bỏ qua một đoạn chuyển tiếp vì những đĩa pho mát người ta đem tới, loại xca-moóc-xê, thứ ca-xi-ô ca-va-lô, làm bằng sữa hớt kem và nghệ. Một cây nến bốc khói. Người bồi bàn dùng ngay ngón tay tắt nến. Hắn cho thấy dưới ánh sáng bộ mặt ranh ma của Thánh Giăng Người rửa tội trong bức họa của Lê-ô-nac-đô. Hắn nói rất khẽ không biết những gì với bà quí phái. Bà khẽ cười, xua hắn đi.

— Có gì thế? — Đa-vit hết sức ngạc nhiên hỏi.

— Không có gì đâu, — bà trả lời, — tôi không muốn thứ rượu vang đỏ của anh ta, loại Ven-lê-tê-ri... Nhưng ông nói gì về nhà thờ Thánh Xê-xi-li-a nhỉ ?

(1) Thánh Xê-xi-li-a, bị chặt đầu khoảng 232, là bà thánh đỡ đầu các nhạc sĩ (n.d).

Anh nói về bức tượng của Ma-đec-nô tại nhà thờ Thánh Xê-xi-li-a ở Tơ-ran-xtê-ve. Bức tượng nằm nghiêng, duỗi dài, trong một thứ áo sơ mi tóc xõa xuống che mặt. Người ta đã tìm thấy, nó như thế, nhiều thế kỷ sau khi bà thánh bị hành quyết.

— Một bức tượng rất đẹp, — anh nói, — nhưng tôi, tôi mơ ước một Xê-xi-li-a sống động... bà thánh chơi nhạc, bà biết đấy... đứng, cây đàn lia trong tay, và đức tin mà bà không bao giờ chối bỏ, bà chỉ cần tìm thấy một cử chỉ làm chúng ta tin chắc điều đó, không cần nói quá nhiều... Bà thánh có thể chỉ giữ trong mấy ngón tay, một cách như không suy nghĩ, cây thánh giá đeo ở cổ. Điều thiết yếu ở đây là tính cô đọng của các phương tiện biểu đạt. Thậm chí, chủ yếu, trong cách xử lý các nếp áo, nếu nghệ sĩ hiểu khía cạnh luân lý trong nghệ thuật của mình...

Ca-rô-lin ngắt lời anh:

— Ông không tin Thượng đế, nhưng lại tin các vị thánh của Thượng đế, hình như thế thì phải?

— Các vị thánh, — anh nói, — là những người đàn ông, đàn bà bằng xương bằng thịt. Lý tưởng của họ có thể không là lý tưởng của tôi. Song họ có một lý tưởng. Thể hiện họ, trên nguyên tắc, đã là đưa tư tưởng vào nghệ thuật, tính nghiêm túc của cấu tưởng, khía cạnh luân lý của nghệ thuật...

— Tôi theo dõi không sát ý ông định nói. Ông không tin những điều họ tin, thế mà ngay việc họ tin, đối với ông, đã đem lại cho công việc của ông tính chất luân lý của nó...

— Một điều luân lý, — anh nói, — Tôi không muốn bỏ cả cuộc đời tôi để làm tượng những ông thánh bà thánh. Ở đây, trong thành phố này, tôi đã hiểu những người nào sẽ làm mẫu cho tôi, tôi đã sinh ra để làm gì. Cho tới nay, tôi vẫn chưa xong thời gian học tập, sự hiểu biết cơ thể, bộ mặt, tóc. Tôi đã lấy các bạn tôi làm người mẫu, hoặc dùng những người dân thường. Tôi đã biết rằng chất liệu của tôi, đối với tôi, không là sự sao chép ngẫu nhiên này. Tôi cần có những người anh hùng, tôi cần có những thiên tài. Tôi không muốn hư cấu. Nhà điêu khắc, bà biết không, Ca-rô-lin, nhà điêu khắc là tương lai... con người chết đi, nhà điêu khắc làm con người trở nên bất tử, anh ta kể lại, anh ta là nhân chứng. Tôi không muốn chỉ là kẻ chứng kiến những điều thảm hại, tôi cần có những vị anh hùng...

Không, bà nghĩ, đây mới thật là điều mê say của anh chàng... Những anh hùng ư? Nhưng tại sao bà thánh với cây đàn lia ấy ?

— Tôi đã nói với bà rằng năm ấy là một năm khủng khiếp... Tôi đã rời khỏi Rô-ma khi có tin Pi VII trở về. Tôi không trốn chạy trước Giáo hoàng, bà hãy tin tôi. Nhưng cùng một lúc, nước Pháp thất trận, dòng Buốc-bông trở về, Na-pô-lê-ông đi đày... Ở Trường đã phải nghe những lời cố ra vẻ khinh bỉ các tư tưởng cách mạng, tư tưởng cộng hòa. Song tôi cũng có thể ở lại. Có những người Rô-ma là bạn của tôi. Chúng tôi thường gặp nhau, như những người Bình đẳng ở Ang-gie trước kia. Người Áo vừa trở lại Mi-la-no, hoàng thân Ơ-gien được người ta gửi gắm ít nhiều hy vọng cũng bỏ đi, để lại tình trạng vô chính phủ ở xứ Pi-ê-môn-tê. Không thiếu những con người mà tình hình ấy làm vững tâm, những tay chủ trương đế chế trở về để bắt dân Ý phải kiêng nể. Ngay giữa người Ý. Tôi thì tôi đã rời khỏi Rô-ma vì chuyện khác... Cô ấy tên là Xê-xi-li-a, bà thử tưởng tượng xem...

Đối với một người đàn bà mà hình ảnh của mình trong gương bắt đầu là một điều dằn vặt, thật cay đắng khi phải qua buổi tối bên cạnh một người đàn ông, dù là kẻ bất hạnh, để nghe người ấy nói với mình về một người đàn bà khác. Và lần này Ca-rô-lin thấy rõ Đa-vit người đàn bà khác, nhưng cả trái tim ông ta đã dành hết bị hành hạ ghê gớm bởi nhu cầu thổ lộ, kể lại đang những điều anh không thể nói ra với những người bạn ranh ma trêu chọc, với cả người bạn thân Đô-mi-ních của anh, cái ông Anh-grơ ấy ở đường Grê-gô-ri-a-na, dù ông này nhiều tuổi hơn và có lẽ cũng đã biết thế nào là đau khổ, nhưng cả trái tim ông ta đã dành hết cho họa mất rồi. Những cuộc gặp gỡ này chỉ là một trò chơi mà hai người đã quyết định theo đuổi một cách dễ dàng. Chàng trẻ tuổi này và người đàn bà nạ dòng này, cả hai không chờ đợi gì ở chuyện này ngoài cái thú có người bên cạnh mình, ngoài màu sắc âm mưu tay đôi này. Có một lúc Ca-rô-lin đã tưởng tượng chàng trai quỳ dưới chân mình, hoặc... và bà nhún vai. Nếu vậy tại sao con bé Xê-xi-li-a này làm tim bà nhoi nhói như thế ?

Bà đã để toàn bộ câu chuyện trôi đi như nước tuột khỏi ngón tay, chuyện hai người trẻ tuổi làm quen với nhau, nỗi sợ đầu tiên không dám nhìn nhau, không dám ở bên nhau khi không có người khác. À ra thế: vấn đề là cô nàng Xê-xi-li-a có một người anh mà tư tưởng không phù hợp với địa vị quý tộc của gia đình. Thế anh ta, người anh ấy, đã gặp nhà điêu khắc ở đâu ?

— Mỗi khi gặp trong thiên nhiên một cái đầu đẹp, tôi thường nặn một bức nghiên cứu... Có điều nguy hiểm trong cái lối gò mình vào việc nghiên cứu các tác phẩm cổ đại, nếu tác phẩm cổ đại là chất giải độc chống lại cái thị hiếu lệch lạc của thiên nhiên... Hồi ấy là những ngày Hội hóa trang 1813, và tôi đã gặp hết chuyện không may này đến chuyện không may khác. Đầu tiên một anh chàng mà tôi nặn tượng, một mẫu người râu ria, tuyệt đẹp, nhưng vừa làm mẫu cho tôi hôm trước thì hôm sau anh ta quỵ không biết do một chứng bệnh bất ngờ gì. Đồng thời một cô gái, có dáng mặt nhìn nghiêng như Hy-lạp, một sự hoàn thiện hoàn mỹ... tôi bắt tay vào nặn đầu cô ấy, làm việc trong trại nhà Xan Ga-ê-ta-nô... bà chưa bao giờ vào Vin-la Mê-đi-xi à? Cái trại nhà, nơi Anh-grơ có xưởng họa của ông ấy, hồi ông ấy còn ở Trường, là ở cuối khu vườn, tới đó được qua những đoạn đường râm mát, và nó mở ngay ra thành phố, ra Va-ti-căng. Nếu bà nhìn thấy lúc xế chiều, trong xưởng điêu khắc của tôi, ánh hoàng hôn làm tất cả cháy rực, và cô gái ấy...

— Xê-xi-li-a!

— Không đâu, không phải Xê-xi-li-a ! Cô gái tôi đang nói là một người mẫu, con gái một thợ thủ công, và tôi đã hăng say mê mải, đúng là một nàng tiên nước! Nhưng hôm sau, trên đường Coóc-xô rắc đầy hoa, những tấm thảm trên các cửa sổ, trong tiếng ngựa xe, công chúng chen chúc, những cái mặt nạ buồn cười, cô ấy đã bị đâm... Thế là Ê-mi-li-ô nảy ra ý nghĩ đưa tới chỗ Xê-xi-li-a em gái anh ta, nghĩ rằng như tôi đã nói với bà, tôi sẽ tìm thấy ở Xê-xi-li-a một nàng tiên nước tạm được. Chao ôi, lạy Chúa tôi!

Tay Ê-mi-li-ô này là một anh chàng thế nào nhỉ ? Trong cái xã hội Rô-ma này có khá nhiều anh chàng trẻ tuổi, con thứ trong các gia đình, bị lôi cuốn theo ảo ảnh cách mạng. Một tay Các-bô-na-rô (1), có lẽ thế. Ca-rô-lin đã từng gặp hai ba tay thuộc loại này.

(1) Hội viên một hội kín thành lập ở Ý trong thế kỷ XIX, theo đuổi những tư tưởng tự do (n.d.).

Không phải chuyện quan trọng lắm. Chà, tại sao thế, không quan trọng lắm ư ? Bà có phiền lòng không khi nghĩ rằng Pi-e — Giăng có quan hệ nghiêm trọng với chủ nghĩa các-bô-na-rô thật sự ? Bà tự bắt mình nghe chăm chú chuyện tình của chàng và nàng, theo lời kể của anh chàng điêu khắc nhỏ bé. Như vậy thậm chí đã đặt vấn đề hôn nhân. Song chuyện này không chỉ tùy thuộc ở Ê-mi-li-ô. Gia đình anh hoàn toàn không thích Đa-vit. Những con người to lớn bận đồ đen này đã có sau lưng họ trong màn đêm thời gian những côn-đôt-ti-ê-rê (1) hay hồng y giáo chủ, họ không thể nhìn bằng con mắt thiện cảm anh chàng nhỏ bé dân Ang-gie đến Rô-ma để sao lại những tác phẩm cổ đại. Và lại không cần tinh khôn lắm cũng có thể đánh hơi thấy ở anh tầng lớp tiện dân, lại là tiện dân Pháp, và tệ hơn nữa, loại tiện dân giết vua. Nhưng nguyên nhân chính trong ác cảm của họ lại ở chỗ khác. Không nên để tòa lâu đài mà họ có trên đường Quát-tơ-rô Phôn-ta-nê, cũng như tòa lâu đài bằng phún thạch trên bờ một cái hồ vùng An-ba bị phân tán vì chia gia tài và số tài sản cần thiết để duy trì địa vị của gia đình, nó phải được tập trung toàn bộ trong tay người con cả, vì thế người ta chẳng dành một món hồi môn cho cô gái làm gì: về cô, từ hồi còn nhỏ, bà mẹ đã nguyện hiến cô cho việc thờ phụng Đức Mẹ Ma-ri-a, cô sẽ trở thành một nữ tu sĩ, và nhất định sẽ như thế.

(1) Chỉ huy dân quân hay lính đánh thuê ở Ý (n.d.).

Cả Ê-mi-li-ô hình như cũng đã trở thành tòng phạm trong âm mưu. Chẳng phải Ê-mi-li-ô đã khuyên Pi-e — Giăng đi xa, một khi Ghi-ông Lơ-ti-e đã nêu ra với anh như thế hay sao? Nhưng ai đã gợi ý cho giám đốc cử người sinh viên nội trú của ông lên miền Bắc nước Ý? Ê-mi-li-ô hy vọng sự xa mặt sẽ dàn xếp xong mọi việc, và gia đình sẽ quên các dự định của họ... Phlo-răng-xơ, Vơ-ni-dơ... Anh trở về sớm hơn mức người ta chờ đợi, trời nồng nực ngột ngạt. Xê-xi-li-a không ở Rô-ma. Người ta đã đưa cô về tòa lâu đài ở gần Ca-xten-gôn-đon-phố, trong vùng những tên thổ phỉ, một người Pháp không thể liều mò tới đấy. Vì thế Đa-vit đi sống ba tháng ở Na-pô-li, ở Pôm-pây, gần như suốt dọc bờ biển Ti-rê-nô..

Ca-rô-lin này đã già đến nỗi một người đàn ông nói với bà về một người đàn bà khác hay sao ? Bà đã muốn đứng dậy, đi kiểm tra sự tàn tạ của mình trong một tấm gương. Câu chuyện đã trói chặt bà ở lại đấy, trên cái sân thượng mở ra thành phố: lúc ấy là một buổi tối có trăng, nhưng các bạn muốn người ta nói gì về một buổi tối sáng trăng ở Rô-ma, với người chưa từng nhìn thấy cảnh tượng ấy bao giờ ? Ca-rô-lin có nhìn thấy cảnh sáng trăng ấy không nhỉ ? Giọng Đa-vit lạc đi :

— Bà có tin rằng Xê-xi-li-a phải là một bà thánh hay không ? — anh nói, — và bà có thể ngờ rằng Xê-xi-li-a là một bà thánh hay không, nếu như thánh đức được đo bằng mức đau khổ, mức chịu nạn ? Bà đã hỏi tôi rằng tôi có tin các bà thánh ông thánh hay không ? Năm 1808, hồi tôi rời khỏi Ang-gie, gia đình tôi sống trong cảnh nghèo túng khủng khiếp, và chính ông thầy Đơ-lớt của tôi đã cho tôi bốn mươi phrăng để tới Pa-ri. Với món tiền này tôi đã có thể trả tiền xe trạm và tiền ăn đường. Tới Sac-tơ-rơ, tôi xuống xe, quyết định đi bộ nốt chặng đường. Bà chưa biết Sac-tơ-rơ à? Trên đời này không có gì đẹp hơn nhà thờ Sac-tơ-rơ, kể cả ở Rô-ma. Liệu các nhà điêu khắc làm các vòm cửa có tin các vị thánh mà họ đặt vào đấy hay không? Tôi không biết, nhưng tựa như tôi hổ thẹn trước các bức tượng ấy: tôi có thể nhìn các bức tượng ấy với con mắt một kẻ hoài nghi hay không? Tuy nhiên... tôi đã nhìn Xê-xi-li-a với con mắt một kẻ đang yêu... bà hiểu chứ? bà hiểu chứ? Tôi đã nhìn Xê-xi-li-a lần cuối cùng: hôm ấy là mồng năm tháng Chín năm nay, bà cũng thấy là chưa lâu lắm, chưa được bốn tháng! Ê-mi-li-ô đã nói lại lời Xê-xi-li-a nhắn. Chúng tôi đã gặp nhau với những lý do chính trị. Xê-xi-li-a sẽ đi tới gần khung cửa sổ có ánh sáng, trông ra phố, lần cuối cùng... Hôm sau Xê-xi-li-a sẽ vào nhà tu kín. Tôi vừa về Na-pô-li, tôi cứ như điên, lại gặp Xê-xi-li-a để mất Xê-xi-li-a! Nhưng còn làm gì được? Xê-xi-li-a đã bị nhốt trong lâu đài Qua-tơ-rô Phôn-ta-nê. Đó là một công trình của Ma-đec-nô (1), không phải Ma-đec-nô làm bức tượng, mà một Ma-đec-nô khác, nhà kiến trúc, đã xây dựng ngôi nhà đầy những ô vòm. Tôi đứng đấy, ngoài phố, trời tối đen một cách ma quái. Cái cửa sổ mở ra sân thượng sáng lên. Ôi, trái tim tôi, trái tim tôi! Nếu tim tôi không vỡ lúc ấy thì cũng không có hy vọng tự cắt đứt đời mình. Tôi đã trông thấy Xê-xi-li-a, Xê-xi-li-a đứng trong chiếc áo dài thẳng, chếp nếp, in hình trên nền trời. Những ngón tay Xê-xi-li-a cầm cây thánh giá đeo trên cổ, như nghịch với nó. Tất cả ánh sáng đều dồn vào Xê-xi-li-a, còn tôi thì hòa tan trong bóng tối, với đất, với đêm đen. Tôi chỉ có của Xê-xi-li-a một bức phác thảo vẽ hôm đầu Xê-xi-li-a đến xưởng điêu khắc Xan-ga-ê-ta-nô. Ngày nào đó, ngày nào đó, tôi sẽ tạc bức tượng Thánh Xê-xi-li-a này, trên đó chỉ không có nước mắt !

(1) Maderno (1556-1629) nhà kiến trúc Ý hoàn thành nhà thờ Thánh Pi-e ở Rô-ma (n.d.).

Cái kiểu riêng của thanh niên là cứ lao thẳng về phía trước mà chẳng trông thấy gì cả: họ ra khỏi thời thơ ấu cùng với các ước mơ và cái tính hám say sưa ngất của họ, họ không hiểu rõ cái thế giới họ bị ném vào, cái thế giới thường gò bó trói buộc họ, thích dẫn dắt họ tới nơi khác là nơi họ xông tới. Chuyện riêng của họ, điều say đắm của họ choán tất cả. Những anh chàng mà điều kiện xã hội lập tức trói chặt, không dành cho sự lựa chọn, cũng không dành cho trò chơi, thì già trước những kẻ khác và là những tay nói năng đầu tiên như đàn ông. Tôi nói thế về cả những anh chàng bắt buộc phải lao động hàng ngày, sự lao động chỉ nhường bước cho cơ cực, cũng như về những tay vớ được một tài sản mà họ lo mất. Cả hai loại này đều phải tính ngay tới thời gian của họ, tới lịch sử. Nhưng lại có loại người bập bềnh mà việc học tập hình như đầu tiên gìn giữ, đối với họ việc học tập kéo dài cái duyên dáng của thời thơ ấu... Họ đã là những con người trưởng thành, nhưng chưa lường được trách nhiệm của điều đó. Và nếu họ mê say điều họ học tập... chẳng hạn các nghệ sĩ mà một thứ chính sách bảo trợ của Nhà nước cho đi Rô-ma, như đi nghỉ, với chi phí đi đường và mỗi tháng một trăm phrăng..

Không phải vì Đa-vit thuộc loại những đứa trẻ có cặp mắt chỉ nhìn thấy vàng son, chỉ biết về cuộc đời những ngôi nhà có kẻ hầu người hạ và hoàn toàn không tự hỏi về giá quần áo mình mặc. Trong thành phố Pa-ri, nơi anh đi chân từ Sac-tơ-rơ tới, Đa-vit đã sống bằng những công việc mới, anh vẫn còn quá sung sướng khi được là một trong những người thợ làm giàn giáo cho Cổng khải hoàn Ca-rut-xen dựng trước lâu đài Tuy-lơ-ri. Nhưng Pa-ri đã là nghệ thuật của anh, là cơn lốc của tư duy và các tham vọng của anh. Lịch sử, nếu nó can thiệp vào cuộc đời anh, đó là để giật anh ra khỏi cuộc sống: trong thời kỳ Chiến tranh Tây-ban-nha (1), quân đội không ngừng đòi hỏi lính mới, hồi ấy trên đầu những anh chàng hai mươi tuổi chập chờn nỗi lo bị gọi ra lính, mối đe dọa đối với lính mới mộ bị tung vào cuộc loạn đả không có nhiệt tình, trong đó người ta không còn tin tưởng sẽ đóng vai người Pháp giữa một dân tộc nổi loạn, trong những trận phục kích của du kích. Đa-vit đã kêu lên, và đó là lời nói lên tình cảm của cái thế hệ không là thế hệ một phái viên của Lơn-đơn, hay một tay Su-ăng(2) cải trang. Những người của nam tước Ac-toa gặp những người của Ba-bớp: và tay nào cũng có những cái tên bắt chước thời xưa; tay A-lêch-xan này là con người thế nào nhỉ. Ở đây các cha cố không mặc áo thầy tu, kẻ phải đối phó là một tay quỉ quái nào nhỉ. Cả trong quân đội, cả ở Viên hay bên Phổ, thậm chí trong các ban chỉ huy rét cóng ở Vi-chép-xcơ hay Ma-xcơ-va, âm mưu dưới hàng ngàn hình thức lan rộng, những con người phi ngựa tới, mang theo công văn từ Ang-gie hay Boóc-đô, Mòng-tô-băng hay Poa-chi-ê... Cả những nguyên soái chung quanh Hoàng đế cũng đã lần vào trong thứ bóng tối này... vì quyền lợi của ai nhỉ? Nây(3) là một tay Cộng hòa hay một thằng phản bội? Và Muy-ra đã liên minh với người Anh, người Áo... ông ta có là một kẻ phản bội hay không. Chính Muy-ra đã đuổi người Pháp ra khỏi Rô-ma. Nhưng chưa biết chừng ông đã biết, đã muốn ít nhất cũng giữ lấy nước Ý... cứu vớt phần này trong sự vĩ đại của Đế chế... Còn Mác-mông(4) thì chẳng ai đề phòng...

(1) Bô-na-pac thắng quân Áo ở Ma-ren-gô ngày 14-6-1780, và ở Va-gram ngày 6-7-1809 (n.d.).
(1) Chouan. Những kẻ nổi loạn ở miền Tây nước Pháp trong cách mạng, lấy tên Giăng Su-ăng, thủ lĩnh của họ (n.d.).
(2) Ney (1769-1815) Một người chỉ huy lừng danh trong các cuộc chiến tranh thời kỳ Cách mạng và Đế chế (n.d.).
(3) Marmont (1774-1852) Nguyên soái của Na-pô-lê-ông, sau khi Pa-ri thất thủ, bí mật đàm phán với Đồng minh, làm Na-pô-lê-ông không thể không thoái vị (n.d.).
Đó là vì điều khó nhất là xác định đường ranh giới giữa thiện và ác, giữa yêu nước và phản bội, xác định nơi bắt đầu hoạt động của nước ngoài và nơi chấm dứt nền cộng hòa... Bruy-tuyt trước Xê-da(1), tôi không biết rõ cần phải nghĩ thế nào về chuyện này. Nhưng đối với lớp thanh niên được nuôi dạy trong tiếng kèn đồng, trong những hình đại bàng vung loạn xạ, họ càng khó lần ra mối. Đến lúc nào tinh thần toàn dân đứng lên cứu nước sụp xuống, đến lúc nào Van-mi(2) lui về quá khứ. Tec-mi-đo(3)... không, Tec-mi-đo không là một lý lẽ giải thích: liệu có nên mở cửa biên giới cho các đạo quân Áo và Phổ khi Rô-be-xpi-e quỵ xuống và bị một tên hiến binh đấm vỡ mặt? Pit(4) và Cô-bua(5) phải chăng mất hết ngay ý nghĩa của họ trong những cái tai vẫn còn vang dội bài Lên đường ? Không, không... và sau lưng Bô-na-pac, từ lâu, dù bị thương, Tự do vẫn theo lẽo đẽo như mụ bán đồ ăn thức uống cho binh sĩ ngồi trên những hòm đạn pháo... Cái ác bắt đầu từ đâu? Cái thiện chấm dứt ở đâu? Họ không biết hạnh phúc của họ, những kẻ, những kẻ thấy cái gì cũng rõ ràng, thế giới bị thanh gươm chém đứt làm đôi! những kẻ có thể chết với niềm tin chắc chắn vào bản thân... hiến đời mình mà không có sự hoài nghi xâm chiếm các thế hệ mở đầu con người của thế kỷ XIX. Có cần đến thắng lợi của tướng Ma-lê(6)... để những mảnh của Đại Quân được biết tại nơi nào đó ở xa, rằng con người nhỏ bé này trong đám họ không còn là Hoàng đế nữa? Trong chuyện này, nước Pháp ở đâu nhỉ ?

(1) Bruy-tuyt (Brutus 85-42 tr.C.N.) cùng Cat-xi-uyt âm mưu chống chấp chính tối cao La-mã Xê-da (César 101-44 tr.C.N.) (n.d.)
(2) (Valmy 20-9-1792) Trận thắng lớn của quân cách mạng (n.d.).
(3) Thermidor. Hai ngày cách mạng 27 và 28-7-1794 làm Rô-be-xpi-e bị đổ (n.d.).
(4) Pitt (1759-1806) Thủ tướng Anh, điều khiển cuộc đấu tranh chống Na-pô-lê-ông (n.d.).
(5) Cobourg (1737-1815) nguyên soái Áo (n.d.)
(6) Mallet (1754-1812) Tướng của Na-pô-lê-ông, làm phản, bị xử bắn (n.d.).

Tuy nhiên, khi nước Pháp bị đánh bại, bị xâm chiếm, bị chia năm xẻ bảy... Tất nhiên năm 1814 khi quân Đồng minh tiến về Pa-ri, nếu Pi-e — Giăng triệu tập các bạn anh dưới nhà Lóc-ghi-a, với những ô tường bày những tượng thần trắng toát, và tìm cách thuyết phục họ rằng bây giờ, bây giờ tất cả đã rõ ràng, và Liên minh đang xâm lược Tổ quốc, nghĩa vụ của tất cả bọn họ là rời khỏi Rô-ma, nhà trường, nghệ thuật, để làm nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ người lính, ở nước Pháp, trên đất Pháp, để tống cổ kẻ thù đi... và những kẻ hôm qua đi theo Hoàng đế đã hoan hô anh, còn những kẻ âm mưu, những kẻ chưa quên máu nhân dân đổ trên những bậc thềm Thánh Rốc, những kẻ muốn có Hiến pháp của Rô-be-xpi-e, chủ trương chia của cải, cũng như những kẻ có thể đang tin biểu trưng hoa huệ của dòng Buốc-bông, nhưng không mang trên những chiếc xe tải của người nước ngoài, liệu họ có nghe anh không? Anh nói có lý, anh chàng dân Ang-gie có bộ mặt tròn rỗ hoa, trắng nhợt, nói một mình, một mình trước sự câm lặng của những người khác, thái độ lễ phép của họ, cách họ quay đi, và đúng là qua ba lớp cửa thông ra cái sân lớn ở lối vào, và qua những hình trái sáng của hai đôi cột bằng loại đá hoa lẫn mica, sau những cột lan can có quả tròn của dãy thang kép đưa tới đó, với bể nước ở giữa có tượng thần Méc-quya nhảy múa, giữa những căn nhà bên ngoài đặt những bức tượng, chất đá da cam và vàng, những khung cửa đá vôi trắng, người ta trông thấy trên nền những cây bách hình thoi và những cây tùng hình tán đằng xa, người ta trông những đám lá trên những bức tường, người ta trông thấy bức tượng thành Rô-ma ngồi, ngồi thanh thản như thế hơi phía sau bể nước nuôi cá heo có tượng thần Vê-nuyt, giữa những hàng cây cao xén tỉa cẩn thận. Và người thì nghĩ tới cuốn sách còn mở trên bàn và liếc mắt về phía thư viện, người thì nóng lòng muốn tới phòng Vê-lat-kê(1), nhìn qua tượng Người bị lột da của Hu-đông(2)... Thời gian cứ trôi qua. Họ chẳng muốn nghe Đa-vit chút nào. Bức tượng Rô-ma vẫn ngồi đấy, sau tia nước của cái bể, trong khi bên Pháp, tất cả đã chuyển biến lạ lùng như thế...

(1) Velasquez (1599-1660) Họa sĩ Tây-ban-nha, được coi là người dùng màu giỏi nhất các thời đại (n.d.).
(2) Houdon (1741-1828) nhà điêu khắc Pháp (n.d.).
Liệu bà có tin rằng anh đã không khóc vì tức như điên, chiều hôm ấy trong phòng anh, anh chàng Đa-vit nhỏ bé người Ang-gie, hôm ấy... trước thái độ dửng dưng như thế... Chắc hẳn anh cũng có thời phồng tình hình khi anh nghĩ rằng do một sự vận động nào đó của bố mẹ Xê-xi-li-a, con người sinh ở Guy-a-đơ-lúp Ghi-ông Lơ-ti-o đã gợi ý anh nên đi du lịch một chút ở nước Ý. Có thể là ông giám đốc đã muốn đẩy xa anh chàng hiếu động với tinh thần yêu nước không đúng lúc của anh ta.

Có lẽ đối với anh sự vật đã trở nên rõ ràng, không còn những sắc thái trung gian nữa, có lẽ cuối cùng anh đã biết giá trị của sống và chết. Và ai sẽ là những người anh hùng mà anh khao khát. Có lẽ. Nhưng Đô-mi-nich ở đường Gri-gô-ri-a-na nghĩ thế nào về các chuyện này? Vì với những gì rối ren, cả Coóc-tô, người đã nhận tạc lại khối đá hoa của tượng Na-pô-lê-ông mà anh đã làm để có tượng Lu-i XVIII, lẫn ông giám đốc khuyên Coóc-tô làm việc ấy, đều không thể thật sự đem lại... Họ sống theo nhiệt độ Rô-ma, nơi như xưa vẫn nhan nhản những áo, khăn thầy tu, những tu sĩ đi đất, những sợi thừng buộc lưng những con người râu ria kỳ cục, những cha cố cao cấp áo tím, những sinh viên trường đạo áo đỏ, khi họ là người Hung-ga-ri như các binh sĩ của Phrăng-xoa II(1) mà hoàng đế nước Áo vừa cử đến để bảo vệ Giáo hoàng. Chỗ nào cũng thấy lăng xăng những cái áo bằng len nâu, những kiểu tóc thầy tu, những bộ mặt xanh xao, những con người đôi khi nhận ra đã gặp trong những ngày Hội hóa trang, mặc quần áo thường dân, hay ở chỗ tướng Mi-on-lit, liếm ủng người Pháp, mùa đông vừa qua. Nước Pháp ở đây còn giữ dấu vết nhiều thế kỷ, hồi Phrăng-xoa I(2) qua đây, sự hào phóng của Lu-i XIV(3) nhưng bây giờ đừng ai nói rằng khu dạo chơi Pin-xi-ô là do Na-pô-lê-ông cho làm: một tấm biển chứng thực nó là một hậu ân của Giáo hoàng, cũng như đằng kia nơi cho đến nay vẫn có những con bò ăn cỏ, tại Cam-pô vac-xi-nô, khu Pho-rum(4) được lính của Bô-na-pac dọn dẹp, lại được coi như nó được thế là nhờ cách nhìn rộng rãi của Pi VII.

(1) Franois II (1768-1835) Hoàng đế Đức rồi hoàng đế Áo, bố vợ Na-pô-lê-ông (n.d.).
(2) Franois I (1494-1547) Vua Pháp, đặt nền móng chế độ quân chủ tuyệt đối (n.d.).
(3) Louis XIV (1638-1715) Vua Pháp, điển hình tập trung của chế độ quân chủ tuyệt đối (n.d.).
(4) Nơi dân La-mã xưa tụ tập bàn việc công (n.d)

Tuy nhiên, chính ngày nay, trong đêm tối này của thế kỷ, là lúc con người thật sự bất hạnh vì đã ra đời.
Ngày nay hoàn toàn không thể nào ở nhà ban ngày. Các căn hộ ở Rô-ma không thể sưởi ấm được, ít nhất với loại chất đốt mà người ta dùng. Trong lâu đài Mê-đi-xi, Đa-vit luôn luôn bị cóng chân, lại thêm một điều tệ hại nữa là chẳng nhận được đồng xu nào của nước Pháp, và nói chung chỉ có món súp nấu bằng bánh mì và bơ ở chỗ Ghi-ông Lơ-ti-e. Lang thang mòn gót qua các xưởng điêu khắc. Tuy nhiên những ngày gần Nô-en vẫn còn giữ được trong các phố, trên các quảng trường,không khí dịu mát dễ chịu. Chỉ cần nắng vài giờ là cảm thấy gần như nóng. Những cơn mưa ngắn giữ cho chỗ nào cũng còn cây cỏ xanh, trẻ con vẫn chơi đùa ở các bể phun nước. Mùa này, đồng quê có sức hấp dẫn đặc biệt, và hơn bất cứ lúc nào, người ta thèm những cuộc dạo mát, thèm sống ngoài trời, vì đó cũng như một cái gì lấy cắp được, tôi cũng chẳng hiểu sao nữa. Cả những cây sồi cây dẻ cũng cho thấy lá non giữa những đám bốn mùa xanh mát.. Có thể là Ca-rô-lin đã có ác ý khi đưa Đa-vit đi xe về phía Ca-xten-gôn-đon-phố.. Phải chăng bà đi tìm tòa lâu đài bằng phún thạch mà Xê-xi-li-a không ở nữa? Những tên cướp đã bị dẹp sau khi người Pháp ra đi.

Mặt nạ vẫn chưa rơi xuống trong cuộc đi dạo này. Dù Pi-e — Giăng có thấy hình như người đánh xe, lúc mở cửa xe, đã nói với Ca-rô-lin mấy tiếng đặc biệt. Anh gần như chắc chắn là thế: Bẩm Đức Bà... Anh tự trách mình về óc tưởng tượng quá bị kích thích. Vì Ca-rô-lin đã không muốn anh biết họ của bà, dù sao qui tắc trò chơi giữa hai người cũng là thế. Bà đội chiếc mũ không vành màu vàng, cài lông giang châu Phi trắng, viền vải chun thành những ống tròn, và đám lông hình như nhắc lại những món tóc rung rinh bên trên dải ruy băng. Chiếc áo dài màu xám, ngực nâng cao, tay áo dài với những cổ tay giả chẽn màu vàng nhạt, được may bằng thứ vải không nhàu, nhưng lúc nào nom cũng như nhàu. Áo Ca-rô-lin mặc kiểu dài, dài hơn mốt thời trang, vì thế chỉ thoáng trông thấy đôi giày, và chiếc măng tô phủ ngoài được may bằng thứ an-pa-ga bóng, vàng và xám, xọc to.

— Tôi không thể nói với ông rằng tôi thích cỏ xanh trong những ngày Nô-en đến thế nào...

Trên xe, lúc trở về, Ca-rô-lin chờ đợi gì mà có vẻ mơ mộng như thế? Tôi rất sợ rằng Đa-vit là một anh chàng đần, theo cách hiểu của các bà. Và bất kể đã có một thời gian mà anh không muốn nghĩ lại, phải, cũng đúng là gần Nô-en, nhưng cách đây đã sáu năm! Anh chàng điêu khắc của chúng ta coi sinh hoạt trong trắng là một qui tắc sống của nghệ sĩ. Nói thật ra thì anh lơ đãng. Không đến nỗi anh không nhận thấy sự câm lặng của tay đánh xe, và ánh mắt của Ca-rô-lin khi nhìn người đầy tớ rõ ràng là thiếu thận trọng. Người đàn bà này có nhiều tính quyết đoán: người ta không thể làm bà hành động khác ý bà. Dù sao ch.uyện ấy cũng không có trong ý định của Đa-vit...

Đến đấy thời tiết bỗng xấu đi, ba ngày liền không thể ra đường. Trời vừa đẹp, một người giúp việc đã mang tới lâu đài bức thư đề tên chàng điêu khắc. Ca-rô-lin đề nghị anh đến đón bà trước An-bec-gô đen Oóc-xô, Quán ăn con Gấu. Quán này ở phía dưới con đường Môn-tê Bri-an-đô, trên một quảng trường nhỏ gần sát sông Ti-brơ. Phải chăng cuối cùng Ca-rô-lin cho phép anh biết chỗ ở của bà? Thật ra là không: bà đã chờ anh ở đấy, trên cái quảng trường lát đá trước tòa nhà có những căn hộ chồng lên nhau. Chỗ ấy nằm sát khu đông dân, với những dãy phố hẹp, bốn mùa có quần áo phơi ngoài các cửa sổ. Hồi ấy dọc sông Ti-brơ chưa có bến thuyền, vì thế bờ sông chủ yếu là nơi đổ rác. Hai người đi dọc con đường To-đi Nô-na, vào một phố lúc nhúc những đứa trẻ rách rưới, những con mèo chạy qua chân, họ rẽ loanh quanh rồi lạc đường.. Nom mặt Ca-rô-lin hết sức xúc động. Bà muốn không bị cô quạnh hơn là muốn nói. Chắc hẳn có chuyện gì vừa xảy ra trong đời bà. Quán ăn Con gấu ư? Tại sao thế? Vì Gớt đã ở đấy. Bà đọc những bi khúc...

... Saget, Steine, mir an, o sprocht, ihr hohen Paläste!

Strassen, redet ein Wort. Genius, regst du dich nicht!

Ja, es ist Alles beseelt in deinen heiligen Mauern,

Ewige Roma; nur mir schweiget noch Alles so still...(1)

(1)... Nói ta hay, ôi đá tảng, hãy nói đi, những lâu đài cao ngất! Ôi phố phường, hãy nói một lời đi. Và Thiên tài, người bất động hay sao? Phải, trong những bức tường thiêng của Người, tất cả đang xao động, Rô-ma Vĩnh hằng; tất cả chỉ câm lặng với ta.. (Gớt. Bi khúc Rô-ma.)

Bà có vẻ đang nghĩ chuyện khác.

— Ở đây, ở Rô-ma, — Đa-vit nói, — Gớt đã viết Êch-môn(2).

Tựa như bà bất thần tỉnh lại sau giấc mộng dài.

— Êch-môn? à phải.. Êch-môn, và những tác phẩm khác nữa... I-phi-giê-ni(3)... das Shmerzenskind.., đứa con của đau khổ... — và bà đưa hai bàn tay đi găng dài lên che mắt.

— Bà làm sao thế, Ca-rô-lin? — Đa-vit hỏi.

Chẳng sao cả. Bà chẳng sao cả. Bà nói khá khô khan. Người nào cũng kéo câu chuyện về phía mình, về điều mình đang quan tâm. Pi-ê — Giăng chẳng hạn... người ta nói với anh về Gớt, thế là lập tức Êch-môn, có lẽ trước đây vài tháng Êch-môn đã đứng về phía chúng tôi khi Bu-ô-na-pac-tê, ở Ý cũng như ở Tây-ban-nha... như ở nước chúng tôi... ngày mai bà sẽ trích đọc ông Phôn Klai-xtơ(4)... Bà xáo trộn tất cả. Cuối cùng, hôm nay, cái chết của Êch-môn, chính người Pháp các ông được nó làm mơ ước. Và bỗng nhiên:

— Đối với tôi, đó là I-phi-giê-ni... vì ở Gớt người ta bao giờ cũng chọn chỗ người ta đau trong tim.. Veh dem, der fern von Eltern und Geschwistern — Ein einsam Leben fuhrt! Ihm sehrt der Gram — Das nächste Glück vor seinen Lippen Weg.(5)

(2) Egmont (1522-1568) Tổng chỉ huy vùng Phlăng-đrơ và cố vấn quốc gia, bị xử tử sau cuộc nổi dậy của Hà-lan chống Phi-lip II. Nhân vật bi kịch của Gớt (n.d.).
(3) Iphigénie Công chúa Hy-lạp, bị bố dùng làm vật hy sinh cầu thần ban gió cho hạm đội Hy lạp tiến quân. Gớt đã soạn bi kịch I-phi-giê-ni ở Tô-rit (n.d.).
(4) Von Kleist. Có hai Phôn Klai-xtơ: Ê-van (1715-1759), nhà thơ trữ tình Đức, và Hai-nơ-rich (1777-1811) nhà biên kịch Đức (n.d.).
(5) Bất hạnh thay kẻ xa cha xa mẹ, xa anh chị em, sống cuộc đời cô độc! Ưu phiền thiêu đốt nó. — Hạnh phúc gần gụi trên môi... (n.d.).
Hai người đi lặng lẽ và có trời biết họ đã tới trước bức tượng Pa-xki-nô thế nào. Đa-vit rất thích bức tượng cổ què cụt đứng như một con người nghèo khổ trên cái bệ đặt sát tường lâu đài Bra-si. Cái thân trên không có tay, cái đầu chỉ còn phần dưới, không có mặt, một chân bị cắt, và cái gì như tấm vải choàng với những dây đeo bắt chéo trước ngực. Người ta không hiểu sao, với cái vui trong nghèo nàn của họ, nhân dân Rô-ma cứ coi bức tượng này là bản thân mình. Đa-vit đã nói nhân dân... hai tiếng này thường bật ra ở miệng anh. Bà nhận xét, lần này bằng giọng bực bội:

— Nhân dân, nhân dân.. không phải chỉ nhân dân mới đau khổ đâu !

Anh nhìn bà, trong con mắt bà hình như có nước mắt. Không thể nói rằng bà khóc: đó là những giọt nước mắt khô. Lúc ấy bà thú nhận.

Ê-li-da-bet — Ca-rô-lin phôn Brun-svich — Von-phơn-buyt-ten vừa nhận được tối qua một bức thư của con gái, Lotte... đứa trẻ mà người ta dạy căm ghét mẹ nó, đứa con duy nhất mà bà được.. Bà nói trời cho, chứ không phải bố nó cho, mà bố nó là người anh em họ của bà, Gioóc-giơ dòng Ha-nô-vơ, Hoàng thân xứ Gan và nhiếp chính nước Anh(2)...

— Bà là... — Đa-vit nói.

(2) Vua Anh già yếu, hoàng tử làm nhiếp chính (n.d.).

Bà thấy rõ anh không muốn nói Nhiếp chính phu nhân nước Anh, mà... vì cũng như đối với Gớt, khi người ta có một con gái, người ta chọn I-phi-giê-ni, anh ta, một tay Gia-cô-banh nhỏ bé ở Ang-gie..

— Phải, — bà nói khô khan, — tôi là con gái Cac — Vin-hem, quận công Phôn Brun-svich, tổng tư lệnh Liên minh chống nước Cộng hòa của ông, người ra bản Tuyên ngôn... phải...

Bà không cần kể chuyện mình. Đa-vit đã biết rồi. Hai người rời khỏi Pa-xki-nô, đi đến cái quảng trường kích thước phi lý, dài ngoẵng, ở đấy những trò xiếc nhường chỗ cho những bể phun nước và những nhà thờ, với những phiến đá lát. Những đám ăn mày vây chặt ngay lấy họ, như những đàn ruồi, những con ruồi khổ sở lượn vòng. Vốn là có hai toán cạnh tranh, đứng dưới cổng hai nhà thờ, nhưng vừa thoáng thấy thật xa những người nước ngoài đi về phía quảng trường, họ đã rào rào lao ra bâu lấy niềm hy vọng. Quảng trường Na-vô-nê đẹp và buồn như cái chết của Ác-nét(1), bà thánh bị ném ra làm mồi cho con mắt dân La-mã, song nhờ phép mầu, vẫn được che thân bằng những làn tóc của bà, trần truồng mà vẫn trinh bạch... Tại sao cứ phải bắt quảng trường này chịu đựng những cái chợ đông nhung nhúc, bẩn thỉu này. Người ta trượt chân trên những lá bắp cải, rau diếp xoăn bị giẫm nát, những người đàn bà mới mua hành... và lại, và lại những rau cỏ giữa tiết Nô-en, rau cỏ xanh trên mặt đá và trên những quầy hàng, mùa xuân này của rau cỏ...

(1) Thánh Ac-ne (đọc theo Pháp là A-nhe) chết vì đạo năm 303 (n.d.).

Hồi ấy quảng trường Na-vô-nê chỉ có hai bể phun nước, trong lối đi chính hẹp cổ xưa, kẹp giữa hai nhà thờ nhỏ, nhà thờ Xan-ta Ac-nê-xê in A-gô-nê, bên trái và ở giữa, với cái mái hình cầu, và sâu bên trong, bên phải, nhà thờ Xan Gia-cô-mô đi Xpac-nô-li, nơi binh sĩ của Xê-da Boóc-gi-a(1) đến xưng tội... nhưng hồi ấy nó đã có, và như thế là đủ, bể phun nước của Bec-nin trong trái tim của nó, với nhóm tượng Những dòng sông, mà cặp trai gái lang thang kỳ dị phải vất vả lắm mới đi tới nơi: anh chàng nhỏ bé mặc chiếc áo ngoài dài lượt thượt, đội cái mũ chun rãn, cái can mềm trong tay, và bà quí phái cao lớn đội chiếc mũ cài lông rất lố bịch và rất đắt tiền. Bể nước của Bec-nin, trên sườn một trong những quả núi đá theo phong cách ba-rốc(2) quanh tháp bút đá, có tượng người nông dân lực lưỡng, râu ria tượng trưng sông Nin, là một trong những nơi hành hương của Pi-e — Giăng, chủ yếu do cái thế của chân phải với bàn chân trên bệ chĩa thẳng vào mũi khách qua đường, vẻ đặc biệt sàm sỡ. Anh không thể không nói:

— Bà thấy không, Mi-ken An-giê-lô, bà có thể cho ông ấy tất cả đá hoa trên thế giới, ông ấy vẫn chưa có đủ để làm hai cái chân cho bức tượng của ông ấy, vì tầm mắt ông ấy quá lớn... trong khi Bec-nin...

Bà không để ý anh nói gì. Về phần anh, thái độ của anh không là thờ ơ. Là thận trọng thì đúng hơn. Hai người không nhìn Rô-ma nữa. Anh nắm lấy tay bà và hôn. Bà để anh hôn. Hai người hiểu rằng cứ lững thững, theo đường này, họ sẽ đi ngược về phía Coóc-xô, Gớt cũng đã từng ở đấy. Và chính trong ngôi nhà ở Coóc-xô, ông đã viết xong vở I-phi-giê-ni.

— Lôt, — bà nói, — ... dieses Selmerzenskind...(3) Tôi đã có con bé này của người đàn ông ấy. Lâu lắm rồi. Nó ở lứa tuổi Xê-xi-li-a của ông. Ông ta lấy tôi chỉ để trả các món nợ, ông ta rượu chè, ông ta... Khi họ bày đặt cái ch.uyện ấy để hại tôi, để gạt bỏ tôi, tôi đã phải rời triều đình, tự giam mình ở Blach-hit(4)... Họ đã giữ con bé, làm nó chống lại tôi, nuôi dạy nó trong dối trá... Tôi không bao giờ nhận được tin tức về nó. Hồi đầu tôi còn rất trẻ, tôi đã tưởng có thể... dù sao tôi cũng không được biết nó, con bé ấy. Rồi năm tháng qua. Tuổi nhiều dần. Ý nghĩ không thể tha thứ ấy. Việc tôi không bao giờ là hoàng hậu có nghĩa lý gì đối với tôi đâu? Nhưng là một người mẹ!

(1) César Borgia (Khoảng 1475-1507) Con trai giáo hoàng A-lêch-xan VI, chính khách xảo quyệt và tàn ác (n.d.).
(2) Phong cách nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc vận động Chống cải cách tôn giáo, phát triển trong thế kỷ XVI, XVII, XVIII đầu tiên ở Ý (n.d.).
(3) Đứa con của đau khổ ấy (n.d.).
(4) Blackheath, làng nghỉ mát ở đông-nam Lơn-đơn, căn cứ của hai cuộc nổi loạn lớn (n.d.).

Hai người không ngắm Rô-ma nữa. Họ đi chậm rãi. I-phi-giê-ni... Họ đi ngược Coóc-xô, họ đã quên Gớt. Hôm qua Ca-rô-lin nhận được một bức thư. Một người mang đến...
— Họ cho bọn gián điệp vây kín tôi, họ theo dõi tôi. Tại đây, cũng như ở Blach-hit. Ông cho rằng ở đây đại sứ được dùng vào việc gì? Tôi vừa có một tên đầy tớ là người ta dùng tiền mua chuộc ngay... mới có một con bé hầu phòng là người ta hỏi ngay nó những chuyện kín đáo... Tôi không bao giờ biết tôi quan hệ với một người thế nào. Chưa biết chừng người ta đã đem về cho Nhiếp chính một bản báo cáo về quan hệ bất chính mà đối với họ, tôi phải có với một nhà điêu khắc nhỏ bé ở Rô-ma! Bức thư này...

Lôt đã mười tám. Mười tám năm trời, người ta đã giữ cô gái tách hẳn với mẹ cô. Đã đến lúc người ta hành hạ nó, hành hạ mẹ nó bên trong nó. Người mẹ mà cuối cùng người ta đã để ra đi, du lịch... ngay trong năm nay... Điều này đầu tiên có vẻ là một sự rộng lượng, đó là vì lợi ích quốc gia... gạt người mẹ ra ngoài để bắt người con gái lấy chồng theo ý họ! Lợi ích quốc gia đã đòi hỏi Ê-li-da-bet Phôn Brun-svich bị ném làm mồi cho các thói hư đốn của tay Gioóc-giơ to béo, ném của hồi môn của bà vào các sòng bạc, cho bà Phit-hóc-bơt(1). Lợi ích quốc gia đã bắt phải kết tội Ca-rô-lin là ngoại tình và có trời biết những sự bẩn thỉu gì khác nữa! Bây giờ lợi ích quốc gia đòi hỏi Lôt... Phải, cả I-phi-giê-ni nữa, lợi ích quốc gia đã đòi hỏi người ta dùng nàng làm vật hy sinh để gió căng những cánh buồm ở cảng Ác-gô. Còn Lôt thì lợi ích quốc gia đòi hỏi nó phải lấy hoàng thân O-răng-giơ, đông cung thái tử Hà-lan... Nó không yêu tay này, con Lôt ấy. Nhưng hoàng thân này lại là phụ tá của Oen-linh-tơn(2) trong quân đội châu Âu... nếu vậy... Lôt đã từ chối, kêu van cầu khẩn. Bố nó đánh nó nhưng không bắt nổi nó phục tùng. Bây giờ, con bé nổi loạn ấy, nó bị giam riêng, ở lâu đài Uyn-so. Ồ, thật là đẹp, thật là to lớn, Uyn-so, một nhà tù đẹp, to lớn! Thế là bây giờ con bé nghĩ tới mẹ nó... tất nhiên đây là một bức thư rất dè dặt, bức thư cho một người đàn bà xa lạ... nhưng cuối cùng... Chỉ có điều người đưa thư nói rằng từ nay, từ Uyn-so, không thể nào... Lôt bị đưa vào cấm cung. Ở tuổi mười tám! Lôt được tìm thấy và lại bị mất.

(1) Fite — Herbent. (1756-1837), Lấy chồng lần thứ ba là Gioóc-giơ IV, nhưng cuộc hôn nhân này không được hợp pháp, tuy hoàng gia vẫn thừa nhận bà. Vẫn đi lại với Gioóc-giơ ngay sau khi Gioóc-giơ chính thức lấy Ca-rô-lin Phôn Brun-svich. (n.d.).
(2) Wellington (1769-1852) Tướng Anh, thắng quân Pháp nhiều trận (n.d.).

Hai người đi về phía Pi-at-xa đen Pô-pô-lô, Ê-li-da-bet Ca-rô-lin Phôn Brun-svich đi ngược lại phần sâu kín nhất trong đời bà, thời thơ ấu, hồi tại lâu đài quận công, giữa những bộ giáp trụ, trong những căn phòng sơn màu, với những châm ngôn chữ Gô-tich trên các cửa sổ, những mảng da ốp óng vàng sẫm như nền những bức tranh của Đuy-rơ(1), bà ngồi dưới chân mẹ, với những con búp bê, chờ người lính, cha bà, tướng của Phrê-đê-rich vĩ đại(2) ập về nhà như trận gió, trên con ngựa vó dập lên đá thành những tiếng lanh lảnh như tiếng bạc, giữa hai trận thắng quân Pháp, hai hiệp ước hà khắc mà vua nước Phổ áp đặt cho điện Vec-xai, cho sự thối nát của Pa-ri...

— Cái thế giới ấy, ngày nay, nó có vẻ lạ lùng và xa với biết bao! Bao nhiêu giông bão đã nổ ra, đôi khi tôi tự hỏi tôi đã mơ mộng hồi ấy, hay bây giờ tôi đang mơ mộng…

Vì cuối cùng, ông vua ấy của nước Pháp, kẻ thù, chính ông ta về sau lại là kẻ cần phải bảo vệ, và người ta thấy từng gia đình kéo đến, những người đàn ông lịch sự, nói rất hay, những bà mang theo những cái hòm đầy áo xống... Một lớp thanh niên yêu nhạc, và những câu thơ đọc vụng trộm. Hồi ấy người ta đã sáng tác những giai điệu hay nhất trên đời trong nước Đức bị chia cắt giữa những ông hoàng... Cả một đợt ganh đua những bản hợp xướng và những bài đơn ca. Mô-da đã lại đưa Bac(3) lên thành mốt, từ triều đình này đến triều đình khác, nơi những người già sống cứng đờ, máy móc. Những bộ tóc giả, phấn son, kiều cổ áo làm đầu cứ như rút vào trong vai, các bạn đã xem những tranh khắc của Sô-đô-vich-ki chưa ?(4) Tất cả những cái ấy sắp được người ta bảo vệ chống các thói điên rồ ở Pa-ri, nơi sự thối nát hư đốn đã lan từ triều đình xuống đám dân đen láo xược, từ những ả nhân tình của nhà vua đến các tư tưởng của bọn dân đen... Quận công Phôn Brun-svich đã già cùng với chiều tà trong vũ nghiệp của ông, ông thừa hưởng toàn bộ vinh quang xưa kia, một nhà thao lược lớn được dạy dỗ trong trường học của ông vua đã băng hà, và trong các phòng của ngôi nhà cổ, người ta làm ầm ĩ rất ghê, những kẻ đưa tin đi đi về về, những buổi tham khảo ý kiến của các nước đồng minh, của Liên minh... châu Âu liên minh cần có một quân đội thống nhất, có kỷ luật, một vị tư lệnh, để chiến đấu chống lại một nhân dân có những bàn tay đẫm máu, những kẻ khố rách áo ôm, những con người đê tiện vũ trang bằng gậy nhọn và dao. Ê-li-da-bet Ca-rô-lin không muốn lấy chồng, cũng như Lôt ngày nay. Có lẽ vì một anh chàng người Pháp... Ồ, lạy Chúa tôi, đúng thế, chàng lật bản nhạc cho nàng chơi đàn, nàng nhìn chàng qua cửa sổ, đứng trên những phiến đá lát quảng trường, mắt ngước lên tìm kiếm... Hai người đã chuyện trò với nhau được mấy lần? Cuộc hôn nhân với bên Anh là một nước trong ván cờ: vì hạnh phúc và sự thống nhất của châu Âu... Thế là Ca-rô-lin tới cái nơi trong sương mù trên sông Ta-mi-dơ, với trái tim gần như tình nguyện, những chiếc áo dài, như một cô gái di cư từ Cô-blen-xơ. Không còn hiểu được gì về những chuyện xảy ra bên Pháp nữa, rắc rối quá... Về tệ tham nhũng, triều đình của hai tay Gioóc-giơ, lão vua già, lão điên, và con trai lão, chồng Ca-rô-lin, hoàng thân xứ Gan, tay trác táng... Lúc ấy bi kịch cá nhân đã át bi kịch châu Âu, và bên kia ngày nào cũng có những thành phố lọt vào tay vị tướng trẻ mang cái họ của người Ý... Tất cả những năm ấy sống ở Blach-hit, sự về hưu cưỡng bức, cảnh cô độc ở nước Anh.

(1) Dürer (1471-1528) Họa sĩ lớn người Đức (n.d.).
(2) (1712-1786) Tức Phrê-đê-rich II, vua nước Phổ (n.d.).
(3) Bach (1685-1750) nhà sáng tác nhạc lớn người Đức (n.d.).
(4) Chodowiecki (1726-1801) họa sĩ Đức (n.d.).

Hai người đi ngược về phía Pin-xi-ô. Trời gần như xanh, các thầy tu nhan nhản khắp nơi. Ca-rô-lin nói về Thượng đế. Thượng đế của I-ô-han Xê-ba-xchiên Bac, chứ không của những giấy miễn tội. Ông Thượng đế lưu lạc tới thành phố Rô-ma Thiên chúa giáo, như một anh nông dân vùng sông Ranh, hay Gớt hôm đầu tiên... Những thầy tu bần thỉu, râu ria nhìn vào mặt và cười cặp trai gái kỳ dị, xì-nho trẻ tuổi và Ma-đa-ma... Trong đám có những người Tây-ban-nha, những người vừa ra khỏi những nhà tu ở Li-ban như giữa Thập tự chinh, những tay Hung-ga-ri học trường thầy dòng nhỏ bé, bận đồ đỏ... Và Pi-e — Giăng nghĩ tới mẹ anh cùng các chị anh, ở quận Men và Loa, đầu chít khăn chéo, đi ăn xin từ trang trại này sang trang trại khác, với chiếc áo dài đen, trong khi ở Brun-svich, một tay quí tộc trẻ lật những trang nhạc của Bac cho Ca-rô-lin, cho Ê-li-da-bet, con gái của con người thảo bản Tuyên ngôn, con tay quận công mà cha anh nói tới một cách kinh tởm, chính vì lão mà người ta đánh nhau ở Năng-tơ, cho tới tường thành Ang-gie, giữa người Pháp với nhau. Ác ở đâu, và thiện ở đâu?
Ê-li-da-bet Ca-rô-lin một lần đã nói, có lẽ hôm anh kể cho bà nghe chuyện quân Pháp rút khỏi Rô-ma:

— Cái Pi-a-xa đen Pô-pô-lô... tất nhiên đối với ông nó là Quảng trường Nhân dân... sao ông thích hai tiếng ấy thế! Pô-pô-lô, ông biết đấy, là cây tiêu huyền, không nghĩa là nhân dân đâu...

Tại sao anh nhớ lại chuyện này, trong khi đi qua những vườn hoa, những đám cây bách, cảnh cỏ cây xanh rờn thế này trong mùa đông, và người ta cảm thấy mùi hoa cam trong gió ẩm. Ê-li-da-bet Ca-rô-lin nói:

— Tất cả những gì đã từng là cuộc đời tôi nay đều tan tác, tất cả những gì chúng tôi đã ở đó mà ra... Tôi đã không nhận ra nước Đức của tôi, năm nay, khi cuối cùng họ để tôi ra đi một mình, từ Blach-hit... Bây giờ tôi đã thấy nó, cái châu Âu mà người ta phải chết cho nó. Cứ như một chiếc măng tô rách, với những mảnh chắp lại từ khắp các nơi... nhưng khi nhắc lên thì bên dưới chỉ còn cái thân hình một thằng ăn mày, đầy cáu ghét, đen sì...

Hai người đi qua trước Vin-la. Bể phun nước reo hát như thường lệ, trên quảng trường, trời đã gần tối. Có những bóng người đáng ngại lởn vởn. Lát nữa, chỗ này sẽ lại là vương quốc của những tên trộm cướp. Thế mà, rất tự nhiên, như một thằng đần, anh chàng Pi-e-Giăng này, không hiểu rằng người đàn bà đang dắt mũi mình! Cuộc dạo chơi của hai người hình như có rất ít phần được bàn bạc. Người đàn bà cao lớn có cặp mắt ráo hoảnh này bao giờ cũng biết mình muốn gì. Vẻ âu sầu là một vũ khí, một cái mặt nạ. Bà đã ra lệnh cho chiếc xe của bà chờ bà bên dưới các bậc của quảng trường Tây-ban-nha. Bà đưa thẳng anh tới đấy, thế mà anh cứ tưởng có một sự lạc đường. Bà đã tự định cho mình một cuộc sống thế này, chứ không thể khác.

— Bố tôi, — bà nói, — người bán tôi cho người Anh, cho châu Âu, một phát đạn Pháp đã bắn trúng giữa hai con mắt ông ở Ao-e-stat, năm 1806... Người ta nói rằng ông đã đau khổ rất nhiều, rất lâu...

Chà, sự đau khổ của Brun-svich, mà con gái không tới gặp lúc hấp hối, có nghĩa lý gì với thằng bé đã từng theo Klê-be đánh quân Văng-đê? Đối với bà, bố bà đã hoàn toàn tự nhiên đưa bà tới Lôt, đứa con gái bị dứt khỏi bà như trái tim.

Nhưng gần chiếc xe, có một người to lớn tóc rất nâu, với một chút ánh bạc trong đêm nay, mắt như hai hòn than, có phần như mắt Đô-mi-nich.. Anh ta có vẻ trang nhã lạ lùng, không hiểu lại sao, dù cách đi đứng, cái áo bằng nhung đen, phảng phất đem lại cho anh ta một dáng vẻ tôi đòi. Anh ta đi thẳng tới chỗ hai người, nhưng không để ý tới Đa-vit, chỉ cúi chào Ca-rô-lin rất cung kính và nói rất nhanh một thứ tiếng không phải tiếng Đức, cũng chẳng phải tiếng Ý... Đó là tiếng Hy lạp hiện đại, mà Pi-e — Giăng chỉ võ vẽ chút Hy-lạp cổ. Ca-rô-lin vừa đưa tay cho anh ta hôn, vừa ngắt lời anh ta, có phần kẻ cả, và trả lời bằng tiếng Pháp với một cái hất đầu như ra lệnh về phía người cùng đi dạo với mình: «Tôi giới thiệu với ông Đa-vit, nội trú Học viện Pháp... Ông Đa-vit, bá tước đơ Phran-xi-ni..

Bá tước rất lo: sáng nay, lúc ở nhà ra, nom Đức Bà buồn như thế, có lẽ Đức Bà mệt... bao giờ cũng thế những khi Đức bà nhận được tin tức Lơn-đơn... Anh ta đã chờ suốt ngày cạnh chiếc xe.

— Ông đã ăn chưa? — bà hỏi.

Chắc hẳn anh ta chưa ăn. Anh ta có thể là rất đẹp người, chỉ phải ánh mắt... Vì ánh mắt này, Đa-vit nghĩ thầm: không, không là một người mẫu cho mình...

Khi họ ra đi, chàng điêu khắc nhìn theo chiếc xe. Quản gia hay nhân tình của bà ta thế nhỉ! Có lẽ cả hai. Anh ta mang trên tay chiếc khăn bằng lông chuột Nam Mỹ đã giữ như thế hàng giờ, trong khi chờ. Để khoác lên vai Đức Bà, lúc trời tối. Mùa này, thời tiết rất giảo quyệt, mà Đức Bà...

Cái ác ở đâu? Còn cái thiện ở đâu! Đa-vit leo lên cái sân cao trước nhà thờ Tơ-ri-ni-ta đầy Môn-ti, rồi anh quay lại nhìn thành phố chìm trong bóng tối, những cây đuốc sáng lên trên các cửa sổ... Bi kịch của Ca-rô-lin! Tôi xin hỏi các bạn một chút, trong khi toàn châu Âu, cả châu Phi, và Cận Đông, vang tiếng vó ngựa của Bô-na-pac! Và anh lại nghĩ tới Ang-gie, những cuộc họp kín nhỏ, trong một phố gần nhà thờ... Ngày nào đó ở đấy, trong nhà thờ, sẽ có bức tượng của Xê-xi-li-a, mấy ngón tay Xê-xi-li-a sẽ cầm không có chủ định cây thánh giá đeo trên vòng cổ, như trong đêm tháng Chín ấy trên quảng trường Qua-tơ-rô Phôn-ta-nê...

Thiện ở đâu? Ác ở đâu? Toàn bộ sự vĩ đại của Na-pô-lê-ông đã lui về phía sau như lá cờ quá cũ. Các bậc thềm của Quảng trường Tây-ban-nha đầy lái buôn và thầy tu. Đằng kia, trong điện Va-ti-căng, Pi VII được bảo vệ bởi các vệ sĩ Thụy-sĩ. Binh lính của Phrăng-xoa II đi tuần. Các bạn của Đa-vit sẽ thế nào nếu anh kéo được họ về bên ấy trong chiến dịch Đồng minh đánh Pháp? Chà, tin tức Pa-ri cũng chẳng hơn kém gì tin tức Lơn-đơn. Vấn đề chỉ là thêm hay bớt một nàng công chúa nhỏ bé mà người ta nhốt vào nhà tù vàng son của nàng, vì nàng tưởng mình có một trái tim! Chẳng còn hiểu được chút gì về những điều người ta viết ra. Người ta nói rằng Hiến chương của Lu-i XVIII(1) Muy-ra, là toàn bộ di sản Cách mạng... Còn Muy-ra, người đã nói với binh sĩ tháng Sáu năm ngoái: Hoàng đế chỉ muốn chiến tranh. Tôi sẽ phản bội các lợi ích Tổ quốc cũ của tôi, cũng như lợi ích của các người, nếu tôi tách rời ngay quân đội của tôi khỏi quân đội của Hoàng đế để hợp nhất với các cường quốc Đồng minh... Tuy nhiên người ta nói rằng ở Viên, Lu-i XVIII yêu cầu Đại hội truất ngôi Muy-ra, và nếu tin lời người Ý... những người mà Đa-vit gặp, như anh đã gặp những người Bình đẳng ở Ang-gie... Ôi nước Ý, nước Ý! nếu một chàng trai Pháp muốn đóng góp vào nền độc lập của anh. Tổ quốc của Ê-mi-li-ô và Xê-xi-li-a! Mùa thu năm nay khi họ đều hiểu rằng họ cùng gắn bó với một lời thề, tổ chức Đón tiếp thân thiết ở Ang-gie cũng theo nghi thức Ê-côt... Đó là vì giáo hoàng vừa ban lệnh cấm hội Phrăng Ma-xông(2) Như vậy thì liệu Đa-vit có lần tránh được không? Danh dự! Nhưng Muy-ra Thiện ở đâu, ác ở đâu? Họ nói rằng Muy-ra là hy vọng của nước Ý... Một số người trong đám trước kia đã rất tin Na-pô-lê-ông..

— Đa-vit mơ hồ cảm thấy ghen với tay đi phò đẹp trai mặc áo nhung, to lớn, có cái ánh mắt rừng rực mà đàn bà họ thích... Mình không thích mắt hắn. Đa-vit thì nhỏ bé, xấu xí... Song dù sao cũng không đến nỗi bé như anh bạn Anh-grơ của anh. Chưa biết chừng, — Đa-vit nghĩ thầm chua chát — trong điều này, đối với anh, cũng có một lý do những tình cảm anh dành cho bạn... thôi đi, chuyện ngớ ngẩn:

Một cái nhìn cuối cùng trên Rô-ma, rồi anh rẽ về phía đường Grê-gô-ri-a-na. Chuông đóng khắp nơi trong thành phố. Giờ này chắc chắn Đô-mi-nich có nhà.

(1) Louis XVIII (1755-1824) vua Pháp sau Đế chế, ban Hiến chương 4-6-1814 (n.d.).
(2) Franc-maçonnerie Hội kín ở nhiều nước, chủ trương kiềm ái (n.d.).
 
Quay lại
Top Bottom