Bài Van-Xơ ngày vĩnh biệt ( Lu-Y A-Ra-Gông) Nguyễn Thụy Ứng dịch (2)

Meika

Thành viên
Tham gia
26/12/2023
Bài viết
71
NƯỚC NGA THIÊNG LIÊNG

Sau khi phá tán hết tiền của vợ, công tước Don-gô-ru-ki không khỏi sung sướng khi thấy cô em gái Ca-tơ-rin, được dạy dỗ tại trường Xmon-nưi bằng tiền quỹ riêng của vua Nga, có vinh dự làm vừa ý A-lêch-xan II. Nhất là nhà vua lại tặng công tước, ở Xanh Pe-lec-bua, trên bến cảng Người Anh, một tòa lâu dài mà ông dành cho cô em tầng dưới.

Ca-tơ-rin mê thích chó. A-lêch-xan đã tặng Ca-tơ-rin một con, giống su-su: trắng muốt, những lông là lông, với hai con mắt như hai mũ ghim đen. Nhà vua cũng cho Ca-tơ-rin ba đứa con từ 1872 đến 1880. Ngày 17 tháng Hai 1880, tại Cung điện Mùa Đông, trong bữa yến mừng công tước Bun-ga-ri (1), một trái bom nổ trong phòng ăn, con chó trắng bị giết. Để an ủi Ca-tơ-rin vừa qua một cơn khiếp hãi trước sự tàn ác của con người, vua Nga cho Ca-tơ-rin hai con chó: một con trắng, một con đen.

(1) Cuối thế kỷ XIV, Bun-ga-ri bị Thổ nhĩ kỳ xâm lược, đến 1878 mới thành lập một công quốc ở Bắc Bun-ga-ri, vẫn là chu hầu của Thổ-nhĩ-kỳ (n.d.).

Ngày 3 tháng Sáu 1880, hoàng hậu Ma-ri-a A-lếch- xan-drôp-na bỗng có ý nghĩ xác đáng là qua đời, Ít lâu nay người ta chữa bệnh cho bà bằng cách bọc bà trong những tấm da bò vừa giết còn đầy máu. Lễ tang của một hoàng hậu Nga chỉ kéo dài sáu tuần. A-lêch-xan II tặng Ca-tơ-rin một con chó chân cao giống Lê-vri-ê, và trước sự phẫn nộ rất lớn của hoàng tộc, nhà vua lấy bà, cho bà có quyền được gọi là Đức bà chí hiền chí kính Công tước phu nhân Iu-ri-ep-xcai-a. Trong cung bắt đầu lo vua Nga phong Ca-tơ-rin làm hoàng hậu Nga và đặt con trai bà là Gioóc-giơ lên ngôi thay đồng cung thái tử A-lêch-xan.

Nhưng, rất kịp thời để giải quyết số phận dòng Rô- ma-nôp, một trái bom giết A-lêch-xan II ngày 11 tháng Ba 1881. A-lêch-xan III lên ngôi, cho bà vợ góa của bố tòa lâu đài bằng đá hoa màu hồng, trước kia vốn xây dựng cho công tước phu nhân Xu-vô-rô-va I-ta-li-a, nhưng bà này đã thua bạc mất tòa lâu đài này trong khi quay số ở Mông-tê Cac-lô. A-lêch-xan lại cho treo cổ sáu nhà cách mạng, trong đó có một người thuộc họ U-li-a-nôp, mà người em trai Vla-đi-mia sau này mang tên Lê-nin. Tòa lâu đài có một khu vườn rộng mênh mông, trong đó Ca-tơ-rin chi dùng cả một kho của cho những con chó của bà có được một thiên đường để chơi đùa. Ngoài tài sản riêng mà vua Nga để lại, bà còn được hưởng tới khi ba đứa con trưởng thành chín triệu rúp mà ông bố cho chúng.

Trong cuộc đời Đức bà chí hiền chí kính, đây là thời Kỳ bà bị ruồng rẫy, vì A-lêch-xan III không thích bà. Do đó bà chỉ ở Pê-tec-bua mùa hè... Còn lại bao nhiêu thời gian, bà sống tại ngôi nhà lộng lẫy trên đường cây Xa-blông ở Nơ-i và tòa biệt thự của bà ở Ni-xơ. Với dân chủ ngày càng dồng, bà tự an ủi về chuyện không được mặc những chiếc áo dài mà người ta đã đặc biệt vẽ kiểu để chuẩn bị lễ sắc phong hoàng hậu của bà. Bà còn giữ các bức phác thảo này trên tường tòa nhà thờ riêng, giữa một bức hình thánh và chân dung A-lêch-xan II.

Các con bà đã không làm bà vui lòng. Gioóc-giơ, người con cả, biệt hiệu là Gô-gô, mà bà đã nghĩ tới chuyện đưa lên làm một vua Nga, lại tằng tịu với một ả Di-gan. Đó là lý do để không cho hắn hưởng ba triệu rúp vốn là phần của hắn. Ông hoàng đáng thương chỉ còn được lĩnh mỗi năm 40.000 rúp (160.000 phrăng) mà Nhi-cô-la II đã cấp cho sau khi A-lêch-xan II (1)qua đời. Ngoài ra ông vua mới còn cho mỗi người chị em của Gô-gô một món trợ cấp hàng năm 30.000 rúp, còn mẹ họ mỗi năm được 180.000 rúp. Món tiền này cho phép sửa sang ít nhiều khu vườn của tòa lâu đài.

(1) Có lẽ A-lêch-xan III mới đúng (n d.).

Nói cho đúng, Đức bà chí hiển chí kính Công tước phu nhân Iu-ri-ep-xcai-a ngày càng thích ngôi nhà lộng lẫy ở Nơ-i và biệt thự ở Ni-xơ hơn tòa lâu đài ở Pê- tec-xbua. Ở nước Nga có quá nhiều vụ mưu sát, bãi công, rối loạn. Dân chúng ở đấy thật đáng tởm. Nước Pháp cũng có là một nước cộng hòa, song những người trong chính phủ ở đấy rất lễ phép, còn cuộc cách mạng của họ thì đã lui vào sử cũ. Cuối cùng ở Pa-ri có những cuộc triển lãm chó thật mê hồn. Một con chó con lông dài giống Pô-mê-ra-ni của công tước phu nhân đã được giải năm 1913, năm con trai bà là Gô-gô qua đời.

Năm ấy bà phải mổ ruột, và bị cái chết đe dọa. Lúc ấy tâm hồn cao đẹp của Đức bà đã biểu hiện trong một hành động đáng yêu : bà làm di chúc và trong đó bà đã ghi cho Goóc-đông, một con chó lai, trong số những con chẳng đem lại cho bà vinh dự gì cả, món tiền 25.000 phrăng. Nhưng con Goóc-đông này, như một kẻ quá vội hưởng gia tài, thiếu chút nữa thì giết bà trong thời kỳ là dưỡng bệnh. Nó rất nặng, nhưng công tước phu nhân sai đặt nó lên chiếc ghế nằm của bà kê ngoài vườn. Trong khi vuốt ve nó, bà đã làm vết sẹo còn non trên cái bụng già nua vương giả của bà bục ra như một phát rắm, tôi nói không hề muốn thất lễ với các bạn. Người ta đã phải khâu lại.

Hồi ấy bà sống có phần eo hẹp, bèn bán (một triệu hai trăm ngàn rúp) tòa lâu đài bằng đá hoa màu hồng cùng khu vườn của nó, rồi từ đấy ở hẳn bên Pháp, nơi bà ăn tòa lâu đài của bà cũng như bà đã ăn phần lớn các đồ trang sức và đất đai mà A-lêch-xan II để lại. Mỗi năm hai tháng, tòa nhà đồ sộ trên đại lộ Xa-blông lại vang rộn tiếng sủa của những con chó. Bà thường xuất hiện ở rừng Bu-lô-nhơ trên chiếc xe song mã không mui, tay ôm con chó săn nhỏ lông dài giống cốc-co trắng và nâu. Rồi bà tới sống trên bờ biển A-duya. Bà cùng đàn chó của bà ăn ngôi nhà đồ sộ ở Nơi-i, ở lại hán Ni-xơ, và chỉ còn được hưởng món trợ cấp của Nhi-cô-la, bảy trăm hai mươi ngàn rúp mỗi năm, một món tiền thảm hại hồi trước chiến tranh ! Trong khu vườn tòa biệt thự, cuối năm sau bà lập một nghĩa địa cho những con chó của bà.

Cần nói rằng hồi ấy đang là thời chiến, và tất cả các diễn biến bên ấy đều hướng đầu óc Đức bà chí hiển chí kính tới những ý nghĩ ảm đạm và trang nghiêm. Vì thế, bà muốn lưu giữ một hình ảnh bền lâu của mỗi con vật bà nuôi, bèn thuê những nhà điêu khắc nổi tiếng, thường gặp trên bờ biển Ri-vi-ê-ra, tạc những bức tượng chân dung thật giống các con chó chết của bà, nhưng phải toàn thân, để tô điểm cho các nấm mồ của chúng. Thậm chí đôi khi bà nghĩ rằng những con cún yêu quí của bà sống quá lâu, bà lo chết trước chúng nó, và nếu thế ai biết chúng nó được tạc tượng hay không ? Bà bèn thuê tạc phòng xa rất nhiều tượng chó. Chiến tranh quả là một trò kỳ quặc, thật ra nó không chỉ thúc đẩy những bà hoàng đi tới chứng cuồng tạo tượng !

Dưới những cây cọ trong vườn biệt tng của bà, tháng Hai 1917 bà rất sung sướng nghĩ tới chuyện mình đã bán tòa lâu đài ở Pê-tơ-rô-grat và được ở xa tất cả các chuyện phiền muộn ấy. Chung quanh bà, cả một đám thần dân những con chó lăng xăng ríu rít, chen chúc xô đẩy nhau khi bà lấy trong cái đĩa một miếng thịt gà tây hay một lát to thịt vai cừu và lắc trên những cái đầu thèm khát. Một con chó nhỏ giống Bắc-kinh cố đứng hai chân phía sau những con khác, to hơn, và lần nào nó cũng ngã lăn kềnh. Đáng yêu quá chừng ! Chao ôi, nếu bọn dân đen cũng thế này nhỉ ! Hình như cũng có những đứa không độc ác thì phải.

Thẳng Nhi-cô-la này, bà chưa bao giờ thấy nó thông minh lắm. Tất nhiên nó không là một con người như ông nó. Bà không bao giờ hiểu rất rõ nó có thể làm những trò gì, thẳng Nhi-cô-la ấy, như bà thường gọi ông vua Nga này, nhưng rốt cuộc sự thật là Nhi-cô-la II không gửi cho bà món trợ cấp nữa, và người ta bắt đầu nói tới những người Bôn-sê-vich cùng mọi thứ tin không vui đưa từ nước Nga sang. Các món công trái chiến tranh mà công tước phu nhân Iu-ri-ep-xcai-a đã mua không đem lại chút gì cho bà nữa. Một trong hai người con gái bà, lấy một công tước dòng Ô-bô-len-xki, hiện nay hát ở rạp miu-dich-hôn (1), thậm chí đưa cả cái họ của cô lên áp-phích: Ô.-bô-len-xcai-a, Iu-ri-ep-xcai-a. Chỉ thiếu ghi thêm «con gái A-lêch-xan II, của tất cả các miền Nga và đại diện của Thượng đế trên Trái đất » ! Thật ra cô đã từ bỏ tôn giáo mà ông bố lẫm liệt của cô là giáo chủ, và đã theo đạo Gia-tô, vì có lẽ cô thấy đạo này thích hợp hơn với môi trường miu-dich-hôn.

(1) Nhà hát trình diễn những tiết mục ca vũ nhạc, áo xống nữ diễn viên thường rất hở hang (n.d.).

Bà công tước phu nhân già bắt đầu thanh toán các thứ đăng ten, tư trang, những lọ thuốc ngửi, những chân dung gia đình, những cái đĩa nến bằng đá màu lục. Song đàn chó phàm ăn một cách ghê gớm. Những bản vẽ mẫu áo dùng cho ngày lên ngôi hoàng hậu biến đi cũng như những bức hình thánh, như bản thân A-lếch-xan II và những bức thư tình của A-lêch-xan II. Như vậy, về cuối đời, Ca-tơ-rin Đôn-gô-ru-ca tiếp tục sống dựa vào những đêm của bà năm 1867, hồi bà lén lút đến Pa-ri gặp hoàng đế của bà, khi ông này đến thăm hội chợ quốc tế cùng với Na-pô-lê-ông III.

Thỉnh thoảng bà có gặp công tước phu nhân Xu-vô-rô-va I-ta-li-a(mà A-lêch-xan II cũng đã mê trong những năm 60), bà này sống được hơn bà một năm. Công tước phu nhân Xu-vô-rô-va ấy, bà ta còn đảng thương hơn cả bà : suốt đời bà ta không yêu chó, mà chỉ thích quay số. Vì thế bà ta rất cô độc trong những ngày về già, và cũng chẳng đẹp mặt gì cho bà ta khi một trong những phòng của sòng bạc Mông-lê-cac-lô, xây dựng phần lớn bằng những món tiền bà ta để lại đấy, đã mang lên Xu-vô-rôp để tỏ lòng kính trọng bà ta ! Giữa những con chó, hai bà ngồi dưới những cây cọ trong biệt thự Gioóc-giơ, để nói về tòa lâu đài bằng đá hoa màu hồng mà cả hai đã từng làm chủ.

Con chó Goóc-đông bị liệt từ bụng trở xuống đi bậy thoải mái hầu như bất cứ chỗ nào. Người ta nói rằng đang có nạn đói trên sông Von-ga. Trẻ con ở đấy chết như ruồi. Như vậy lại lóe lên vài tia hy vọng là bà sẽ được nhận những món trợ cấp hàng năm bị mất một cách đáng bực mình trong biến động. Vì viên quận trưởng quận An-pơ miền biển đã thổi phồng khuếch đại với Đức bà chí hiển chí kính về một viên tướng Vrăng-ghen (1) đang lại nắm được tình thế trong tay. Con Goóc-đông đáng thương ! Chưa biết chừng mày sẽ được hưởng phần gia tài của mày ! Đức bà chưa mệt mỏi lắm chứ ? Chưa, chưa đâu...

(1) Wrangel (1878 - 1928) tư lệnh Bạch vệ năm 1620, chống Hồng quân ở U-krai-na và Krưm (n.d.).

... Bà đã thỉu đi rất nhẹ nhàng năm 1922, Đức bà ấy, mà không kịp chứng kiến những chuyện đủ mọi loại rất có thể là những nguồn vô tận làm bà ngạc nhiên. Biệt thự Gioóc-giơ đã bị đem bán, bây giờ nó mang cái tên « Cái ghế đệm bông »! Nhưng nghĩa địa chó vẫn còn, được người hầu phòng cũ của công tước phu nhân trông nom rất cẩn thận, có hoa trên mỗi nấm mồ. Con Goóc-đông còn sống vất vưởng ở đấy thêm vài năm, như một con vật tiền sử, gớm guốc, rớt rãi, bò lết. Cuối cùng người ta phải đập chết nó, bảy năm sau khi Nhi- cô-la II và gia đình ông ta bị xử tử.

Cả một xã hội ra đi

1933
 
Quay lại
Top Bottom