Bài Van-Xơ ngày vĩnh biệt ( Lu-Y A-Ra-Gông) Nguyễn Thụy Ứng dịch từ tiếng Pháp. NXB Tác phẩm mới. Hội Nhà văn Việt Nam - 1989.

Meika

Thành viên
Tham gia
26/12/2023
Bài viết
69
LỜI NGƯỜI DỊCH

Nhà văn người Pháp Klôt Roa viết trong cuốn Người được nói tới :

« A-ra-gông hình như ra đời để chứng minh tính chất ngớ ngẩn của những ý nhàm toái đã san sửa kỹ lưỡng theo thói cho rằng quá độ trong bất cứ điều gì cũng là sai, của những sườn dốc thoai thoải vốn là dạng thái địa chất của những ngọn đồi chín chắn, của định lý nổi tiếng : cái gì làm to ra cũng không quan trọng, của mực thước thần thánh, vv... Con người không khoan nhượng này là nhiều A-ra-gông, song tất cả các A-ra-gông đều lao tới những cực đoan. A-ra-gông yêu là yêu như điên, A-ra-gông căm tức là cuồng nộ, A-ra-gông công kích là gươm tuốt trần, A-ra-gông viết là mỗi ngày ba mươi trang, A-ra-gông cười là động đất, A-ra-gông khóc là hồng thủy, A-ra-gông chảy máu là biển đỏ. Tâm hồn A-ra-gông như mắt loài ruồi, có hàng ngàn mắt. A-ra-gông là một kẻ sôi nổi điên khùng, cũng là một ca sĩ quyến rũ ; một chánh án Tòa án tôn giáo Trung cổ, cũng là con người của quán rượu trên các đường cây Pa-ri ; một tay lính tráng, cũng là một con người nhẹ nhàng tế nhị ; một xe ủi đất, cũng là một cây vi-ô-lông Krê-mô-na; một kẻ trái tính trái nết, một thiên tài ; kẻ nham hiểm xảo trả nhất, cũng là người bạn rộng lượng nhất ; sự độc ác rít lên như rắn, và sự trìu mến dịu như tiếng nhạc... »

Tất cả, từng lúc từng nơi, hình như có như thế, và về A-ra-gông chúng ta có thể đọc thấy ở giới bình luận văn học phương Tây nhiều nhận xét tương tự, với những tính từ ở cấp cao nhất, nhưng cái « bất biến trong vạn biến », của ông, sự cân nhắc chín chắn của ông ít được nói tới. A-ra-gông làm người ta khó hiểu : con nhà tư sản mà suốt đời đấu tranh cho giai cấp vô sản; một sĩ quan quân đội Pháp được thưởng huân chương, huy chương trong cả hai đại chiến thế giới, kêu gọi cầm vũ khí chống Đức, mà là ủy viên Hội đồng Hòa bình thế giới, được Giải thưởng Hòa bình Lê-nin, một người sáng lập trường phái siêu hiện thực mà chuyển sang chủ nghĩa hiện thực, làm những bài thơ đi vào trái tìm khối óc quần chúng, diễn đạt trong sáng đến trở thành những bài hát; một thanh niên đúng là của những quán rượu Pa-ri mà hơn năm mươi năm trời, đến chết, chỉ yêu một người đàn bà, và vì người đàn bà này viết « những câu thơ tình hay nhất của thế hệ ».

Để thấy được nhiều A-ra-gông thật ra chỉ là một A-ra-gông, để nắm được tính nhất quán, sợi chỉ đỏ xuyên từ đầu đến cuối cuộc đời và sáng tác của ông, có lẽ cách tốt nhất là chúng ta hãy nhìn lại một lượt cuộc đời và sáng tác ấy.





A-ra-gông sinh ngày 3-10-1897 ở Nơi-i trên sông Xen. Sau khi đỗ tú tài, ông vào Trường cao đảng La Xoóc-bon, rồi học y « cho mẹ vui lòng ».

Năm 1917, ông chiến đấu trong trung đoàn bộ binh 355, được thưởng Huân chương Chữ thập. Trong quân đội, ông làm quen với Ang-đrê Brơ-tông, rồi Phi-lip Xu-pô, và cùng hai người tham gia nhóm Đa-đa của các nghệ sĩ và nhà văn nổi loạn, chống tính chất phi lý của thời đại và đặt lại vấn đề các phương thức diễn đạt cổ truyền.

Ba người ra tạp chí Văn học (1919). Năm sau A-ra-gông xuất bản tập thơ Lửa hân hoan làm ông trở thành một trong những người sáng lập trường phái siêu hiện thực, chuyên từ tính chất hư vô vô chính phủ của nhóm Đa-đa sang hướng không chối bỏ thế giới mà cải tạo nó như mong muốn.

Năm 1924, Brơ-tông ra tuyên ngôn đầu tiên của chủ nghĩa siêu hiện thực. Đường hướng này tự đặt cho mình mục đích biểu hiện hoạt động của tư duy bằng cách tự buông thả theo thôi thúc nội tâm, không kiểm tra chút gì về mỹ học và đạo đức, Họ chú trọng thể hiện các bí mật của mộng mơ với những ý kết hợp hết sức phi lý, coi ngẫu nhiên là yếu tố cực quan trọng. Năm ấy tạp chí Cuộc cách mạng siêu hiện thực được xuất bản.

Người siêu hiện thực coi tiểu thuyết là thể loại văn học đã hết thời, nhưng từ 1921, A-ra-gông đã viết truyện dài đầu tiên A-ni-xê hay toàn cảnh và năm 1922 lại cho ra Các cuộc phiêu lưu của Tê-lê-mac trong đó ông là người đầu tiên chống lại tính phi lý của chủ nghĩa lãng mạn mới. Tê-lê-mac của A-ra-gông nói : «Tôi là Tê-lê-mac, một con người, sự chuyển động tự do tung ra trên mặt đất, là khả năng đi lại tùy thích ». Ông thầy Măng-to trả lời: «Cứ như nghe tiếng nói của một viên bi-a ».

Năm 1924, các truyện ngắn trong tập Phóng đãng được người đọc coi là những bài thơ văn xuôi. Từ đó A-ra-gông càng gắn bó với tiểu thuyết, coi tiểu thuyết là công cụ tìm hiểu quá khứ và tương lai, cũng để biến đổi thực tại.

Năm 1925, những người siêu hiện thực phẫn nộ trước sự tàn bạo của chính phủ Pháp ở Ma-rốc, ngả theo Đảng Cộng sản. A-ra-gông vào Đảng Cộng sản năm 1926 (có tài liệu viết 1925, 1927, thậm chí 1954). Brơ-tông thì không. Năm ấy A-ra-gông xuất bản Người nông dân ở Pa-ri trong đó, như Uy-be Gicanh viết, A-ra-gông « tìm cách làm sáng tỏ các yếu tố của một tính huyền kỳ hiện đại trong một đợt cảm xúc trữ tình lớn ».

1928 là năm bản lề trong đời A-ra-gông. Ông gặp Mai-a-côp- xki, rồi En-xa Tơ-ri-ô-lê, em vợ Mai-a, sống với En-xa và hai người chỉ xa rời nhau năm 1970, khi En-xa qua đời. Năm ấy, trong tập bút chiến Luật về phong cách, A-ra-gông công kích giai cấp tư sản và chế giễu « cách viết tự động » mà những người siêu hiện thực ưa thích. Ông nhấn mạnh chủ nghĩa siêu hiện thực căn bản là một sự thăm dò, thám hiểm, tóm lại là chuyển động, vì thế nó không được ngưng đọng trong một công thức bất biến. Như vậy là ông xác định cho mình một nhu cầu luôn luôn đổi mới, và đã mãi mãi làm đúng thế. Cuối cùng năm 1932, A-ra-gông cắt đứt với Brơ-tông, với « nổi loạn chống tất cả ». Theo ông, chỉ «nổi loạn chống một cái gì » mới có sức lao tới nhờ mục đích chính xác, và « cái gì» ấy là giai cấp chiếm hữu.

Năm 1930, A-ra-gông cùng En-xa sang Liên Xô dự Đại hội lần II các Nhà văn cách mạng, và ông chính mắt thấy cách mạng là thế nào. Vì thể tập thơ Kẻ khủng bố bị khủng bố (1931) đánh thẳng vào tất cả những kẻ bóc lột và đàn áp trong xã hội. Những bài thơ về tình yêu, về tự do trong đó được đánh giá là « có sức mạnh chưa từng thấy sau Những sự trừng trị của Vich-to Huy-gô ». Đặc biệt bài Mặt trận đỏ với nhịp thơ giật mạnh mẽ và câu :

Giết bọn cớm, các đồng chí, giết bọn cớm đi.

Vì câu này, ngày 16-1-1932, A-ra-gông bị tòa án kết tội kích động dùng bạo lực.

Năm 1933, ông làm biên tập cho tờ Nhân đạo và năm 1934, cùng A. Bac-buyt, R. Rô-lăng, Pôn Vai-ăng Cu-tuy-ri-ê, tham gia Đại hội toàn Liên bang các Nhà văn Liên Xô. Ông đứng trong hàng đầu các chiến sĩ chống chủ nghĩa phát xít. Mỹ học Mác cùng tính tư tưởng trong nghệ thuật trở thành lập trường xuất phát của ông.

Năm ấy, trong tập thơ Hu-ra U-ran, người vô sản không còn là những kẻ bị đói nghèo, nô dịch hành hạ nữa, mà là giai cấp nhận sứ mệnh xây dựng tương lai và đưa cá nhân tới thực hiện tính người thật sự của mình. Trong Kẻ khủng bố bị khủng bố, A-ra-gông vẫn chủ trương từ ngữ lựa chọn mình, chứ mình không lựa chọn từ ngữ, nhưng bây giờ không còn có sự bắt chộp những liên tưởng nảy sinh từ vô thức ; ông cho rằng mỗi bài thơ, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải có một hiệu năng nghệ thuật trong một trận chiến đấu lịch sử nhất định, và nhiệm vụ xã hội, chứ không thơ, là mục tiêu cao cả nhất, cấp thiết nhất, vì thế hình thức phải dễ được quần chúng rộng rãi tiếp thu.

Cũng 1934, Những cái chuông thành Ban thật sự mở đầu thời kỳ sáng tác tiểu thuyết lớn của A-ra-gông. Đây là cuốn đầu trong loạt truyện dài Thế giới hiện thực. Tác phẩm này viết về tình hình đấu tranh giữa chủ và thợ từ 1905 đến 1912, trong đó nhân vật rất đẹp Ca-tơ-rin mà chúng ta sẽ gặp trong Nói dối đúng sự thật dưới đây, không thể yêu một sĩ quan nữa, từ ngày cô chứng kiến cảnh quân đội đàn áp những người bãi công và gây ra cái chết của một đứa trẻ.

Cuốn thứ hai của loạt tiểu thuyết này, Các khu phố đẹp xuất bản năm 1936. Chuyện xảy ra về cơ bản năm 1913, trong không khí sắp chiến tranh.

Trong chiến tranh Tây-ban-nha 1936-1939, A-ra-gông đứng và phía những người Cộng hòa. Ông sang Tây-ban-nha viết nhiều bài thơ sôi động, và tham gia tổ chức Đại hội quốc tế lần 11 các Nhà văn bảo vệ Văn hóa ở Bac-xê-lô-na, Ma-đrit, Va-len-xia, bế mạc ở Pa-ri.

Năm 1937, ông cùng Giăng Ri-sa Blốc sáng lập và biên tập tờ báo hàng ngày Chiều nay bị Chính phủ Đa-la-đi-ê đình bản năm 1939, nhưng đến 1945 lại tái bản.

1939 – 1945, A-ra-gông vào quân đội, chiến đấu ở Đoong kéc, được thưởng Huân chương Chữ thập và huy chương chiến đấu, tuy là người cộng sản.

Đến khi quân Đức chiếm đóng nước Pháp (1940– 1944), A-ra- gông giải ngũ cùng En-xa rút vào bí mật, hoạt động ở Li-ông trong tổ chức của Phong trào Giải phóng Pháp. Cùng Pôn Ê-luy-a, ông là nhà thơ kháng chiến đầu tiên, có tác động mạnh mẽ nhất, với bút danh Phrăng-xoa. Lòng phẫn nộ. Ông cùng En-xa động viên tinh thần kháng chiến của trí thức, những bài ông viết được in bí mật trong nước, cũng được xuất bản ở Thụy sĩ, Anh, Mỹ.

Năm 1941, tập thơ Dao đâm vào tim và những tiếng kêu thống thiết, cũng là lời nói lên hy vọng và kêu gọi đấu tranh. Tác giả làm sống lại lối thơ « đếm chữ », thi pháp cô điển, coi như một sự « khẳng định lại Tổ quốc trong đau thương ».

Năm sau, ông tham gia tổ chức tuần báo bí mật Văn học Pháp và tập thơ Cặp mắt En-xa được xuất bản ở Thụy Sĩ. « Tôi ca ngợi con người và các vũ khí của nó, đúng lúc cần phải làm việc này hơn bao giờ hết ». Tình yêu En-xa là tình yêu trong tai họa, gắn liền với tai họa nhưng đem lại sức mạnh đấu tranh chống tai họa. En-xa với nước Pháp là một. Vẫn « thơ đếm chữ »

Tập thơ tiếp theo Viện bảo tàng Grê-vanh in bí mật ở Li-ông năm 1943 và phân phát thành truyền đơn ở Pa-ri viết về những con ma tương lai trong viện bảo tàng: Pê-tanh, La-van, Hit-le, Mut-xô-li-ni. Những lời kêu gọi chống khủng bố, chống sự phản bội của Vi-si, vạch ra chân trời giải phóng.

Cũng trong thời kỳ kháng chiến, A-ra-gông viết nhiều truyện ngắn, được in gộp lại năm 1945 thành tập «Nhục và vinh của người Pháp(Những cảnh trong những năm khủng khiếp).

Năm 1942 xuất bản Những hành khách trên chiếc xe ngựa hai tầng viết từ trước chiến tranh (1939, tập III của loạt Thế giới hiện thực. Rồi năm 1944, tiểu thuyết Ơ-rê-liêng ngày càng được coi là một trong những truyện tình hay nhất với nhân vật nữ không thể nào quên Bê-nê-rít. Năm ấy, A-ra-gông bắt đầu làm giám đốc tờ Văn học Pháp, cho đến 1970 tờ này đóng cửa.

1945, ông cho ra hai tập thơ viết trong kháng chiến, Rạng đông PhápỞ đất nước lạ lùng ngay trên đất nước tôi, phần lớn các bài đã được in thành truyền đơn. Bài tựa của Rạng đông Pháp lập tức nổi tiếng là một bài thơ văn xuôi và nước Pháp bị chiếm đóng và kháng chiến.

Đến 1948 xuất bản Lại dao đâm vào tim viết sau khi Gi. R. Blốc qua đời. Văn mạch thơ của Dao đâm vào tim, nhưng trong hoàn cảnh khác : các cuộc chiến tranh thuộc địa. « Niềm tự hào dân tộc bị hy sinh cho một cường quốc nước ngoài ».

Năm 1949 A-ra-gông bị tước quyền công dân (10 năm) với tư cách là người lãnh đạo tờ Chiều nay, nhưng vẫn là giám đốc tờ báo này cho tới khi nó bị đóng cửa năm 1955. Năm ấy ông tích cực tham gia Đại hội Bảo vệ Hòa bình Thế giới ở Pa-ri, cũng như sau này ở Viên năm 1952.

Từ 1949 đến 1951, lần lượt ra sáu tập của bộ Những người Cộng sản kết thúc loại Thế giới hiện thực. Bộ này kể lại các sự kiện xảy ra ở Pháp từ tháng 2-1939 đến 1940, là một trong những tác phẩm xúc động nhất, một tiểu thuyết lịch sử thật sự, chứ không là lịch sử nhìn qua những «phiêu lưu » cá nhân. A-ra-gông nói tên sách cần được hiểu là giống cái vì phần lớn viết về những đảng viên nữ.

Năm 1950 ông thành lập nhà xuất bản Các nhà xuất bản Pháp hợp nhất, là ủy viên Hội đồng toàn quốc các Nhà văn, ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1945 xuất bản Con mắt và trí nhớ, tự truyện bằng thơ, và năm 1955, Truyện dài viết dở, trường thi, cũng tự truyện, có thể coi là đỉnh cao của thơ A-ra-gông sau chiến tranh.

Năm 1953, A-ra-gông nhận Giải thưởng Hòa bình Lê-nin. Cũng năm ấy xuất bản Tuần trước lễ Phục sinh viết về những ngày 18 đến 25-3-1815, khi Na-pô-lê-ông ở đảo En-bơ về Lu-i XVIII chạy tới biên giới Hà-lan, với nhân vật chính là họa sĩ Giê-ri-cô. Trong tác phẩm này, con người của thế kỷ 20 thể nghiệm lại tình cảnh những nhân vật thế kỷ trước trong cơn lốc với nhũng lo lắng, ám ảnh của bản thân.

Năm 1960 xuất bản Những nhà thơ là một trường thi kết hợp rất nhiều thế thơ, viết về O-ma Khay-am, Vec-len, Pu-skin...

Năm 1962, A-ra-gông ký tên phần Liên Xô trong bộ lịch sử song song Mỹ-Liên Xô, phần Mỹ do Ang-đrê Mô-roa ký tên.

Truyện thơ Người mê En-xa (1963) có tính chất sử thị, viết về thời vương quốc Bec-be ở Gra-na-đa, dùng nhiều thể thơ lẫn cả văn xuôi. Một nhà thơ hát rong ca ngợi tình yêu của En-xa, người đàn bà anh còn chưa gặp, hát cả về những chuyện tình tương lai : Đông Giuy-ăng, Tháng Giăng Thánh giá, Sa-tô-bri-ăng, Phrê-đê-ri-cô Gac-xi-a Loóc-ca. Triết học, trữ tình, lịch sử, tâm lý, trường thi này có thể coi như một di chúc tinh thần của tác giả.

Tập thơ tình Cuộc du lịch Hà-lan (1964) chứng tỏ một sự điêu luyện lạ lùng, dùng tất cả các thể thơ, các kiểu văn, nhịp.

Hành quyết (1965) không còn tính chất tuyến tính như các tác phẩm trước nữa. Đây là cuốn tiểu thuyết độc đáo và xé ruột xé gan nhất của A-ra-gông. Nó nêu gay gắt vấn đề « Một con người thật ra là ai ? », và phần nào là hồi âm cuốn Cái «không bao giờ » vĩ đại của En-xa ra bốn tháng trước.

Blăng-sơ hay sự lãng quên (1967) là một cuộc độc bạch khắc khoải, với những suy tư thống thiết về tình yêu. A-ra-gông coi đây là cuốn sách về tiểu thuyết có xu hướng trở thành một lý thuyết về tiểu thuyết.

Một số nhà bình luận coi Người mê En-xa, Hành quyết và Băng-sơ hay sự lãng quên là ba tác phẩm lớn nhất của A-ra-gông.

Cuối cùng, ngày 24-12-1982, kết thúc cuộc đời lao động nghệ thuật và hoạt động xã hội đẹp vô cùng của một người vừa kế tục các truyền thống nhân quyền, nhân đạo của Cách mạng Pháp, vừa tiếp nhận vào khối óc, trái tim mình lý tưởng của cách mạng vô sản.

Mong rằng chút ít tài liệu trên đây giúp các bạn có được bối cảnh để hiểu rõ thêm từng bài trong tuyển tập này, và có thể ước lượng thời gian sáng tác những bài không ghi năm tháng viết.





85 tuổi đời, hơn sáu mươi năm làm thơ và viết văn, tám chục đầu sách phần lớn là những đóng góp xứng đáng cho văn học, một sáng tác có thể nói là hùng vĩ, mênh mông và đa dạng lạ lùng : đủ các chủ đề, thể loại, phong cách. Hình như A-ra-gông đánh dấu hỏi vào không thiếu điều gì, lật lại tất cả các quan niệm của mình cũng như của người luôn luôn dùng tư duy nghệ thuật để tự nhận thức và nhận thức thế giới bên ngoài, dùng óc tưởng tượng tiên đoán các biến đổi khôn lường trong lòng người, « đọ sức với Thượng để» trong sáng tạo. Tất cả các tác phẩm của ông đều được viết với tầm hiểu biết rộng và sâu đến nỗi uyên bác là tính ngữ thường gắn liền với A-ra-gông trong các bài bình luận.

Nói tới cuộc đời và sáng tác của A-ra-gông thì không thể không nêu một yếu tố quyết định là sự có mặt của En-xa bên cạnh ông. Về tư tưởng chính trị thì tám năm trước ngày gặp En-xa tại quán cà phê Mái vòm ở Mông-pac-nat (2-11-1928), A-ra-gông đã có ý muốn vào Đảng Cộng sản và đã vào Đảng được hai năm. Song chính nhờ En-xa, ông đã gặp thế giới hiện thực trong thơ văn, dần dần thoát khỏi những sự hoài nghi nhiễm vào mình từ giới văn học siêu hiện thực. Tình yêu En-xa và tình yêu của En-xa đã giúp ông tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa hiện thực, coi nghệ sĩ là con người tổng thể sống trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, phải có ý thức về trách nhiệm của mình đối với cộng đồng dân tộc và cộng đồng loài người cũng như đối với sự thật, hiểu rõ mình phải làm gì, viết gì và làm thế nào, viết thể nào từng nơi, từng lúc.

Trước đây hơn chục năm đã xuất bản Các tác phẩm « bắt chéo » của En-xa Tơ-ri-ô-lê và A-ra-gông. Trong đó, bằng những lời tựa giải thích, hai nhà văn kể lại con đường sáng tác bên cạnh nhau, nhờ đó chúng ta có thể thấy vì sao A-ra-gông ca ngợi En-xa đến thế, thấy tác động các cuốn truyện của En-xa đối với việc dựng các cuốn của A-ra-gông, và giữa hai người tựa như đã có một cuộc đối thoại bằng tiểu thuyết. En-xa đánh giá rất cao ảnh hưởng của Cái «không bao giờ», vĩ đại đối với Hành quyết, ông kể rằng một suy nghĩ của En-xa đã quyết định kết cấu khá lạ lùng của Những cái chuông thành Ban.

Rất đáng tiếc là tuyến tập tiếng Việt này không có một bài nào viết trực tiếp về En-xa.

Tuy nhiên cần nói rằng dù có chịu những ảnh hưởng sâu mạnh và phong phú: từ Ranh-bô đến Mai-a và En-xa, A-ra-gông vẫn là nhà thơ hết sức độc lập trong sáng tác. Chứng cứ hiển nhiên là sự bất đồng giữa ông, trước kia với những người siêu hiện thực, và về sau với những người muốn áp đặt một chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa sơ lược. Tính độc lập này, không ai có thể phủ nhận ở A-ra-gông, dù ông thường bị các nhà văn tự do phương Tây chê trách là « có cam kết », « đứng về một phía ».

A-ra-gông độc lập trong sáng tác đến mức không chịu cả sự gò bó của thói quen, không muốn đi con đường mình đã qua. Ông nói với Phrăngxi Krê-mi-ơ (1964): « Tôi viết không chỉ để có một cuốn sách mới, mà phần lớn hơn là để người ta quên những cuốn tôi đã viết ». Đây là một sự nhận chiến với thực tại, với đối tượng thể hiện và đối tượng tiếp thu mới, một sự thách thức bản thân. Những bài tựa của các cuốn sách cho thấy A-ra-gông kiên quyết đến gân bướng thể nào trong việc thực hiện sự đổi mới này. Tuy nhiên đọc các tác phẩm viết theo hướng mới vẫn thấy rất tự nhiên, thoải mái, cứ như cái mới đã nằm trong máu ông. Nếu chủ nghĩa siêu hiện thực có khía cạnh chống công thức cũ, đòi hỏi luôn luôn sáng tạo, táo bạo vượt bản thân mình, thì có thể nói về khía cạnh này, A-ra-gông bao giờ cũng là người siêu hiện thực.

Nhưng A-ra-gông không đổi mới bất chấp hết thảy, bằng bất cứ giá nào. Ông sử dụng nhuần nhuyễn các phương thức biểu đạt cổ truyển (giữ cách) và chỉ vượt khuôn khô các phương thức ấy (phá cách) đến mức đông đảo người đọc có thể chấp nhận. Mà A-ra-gông không chỉ phá cách một lần, ông phá cách liên tục. Tuy nhiên việc giữ tỷ lệ thích đáng luôn luôn thay đổi giữa « cách » và « phá cách » này, A-ra-gông làm có vẻ « như bỡn », « võ rất kín », với lời văn chính xác mà linh hoạt, cách dùng từ ngữ tinh vi, làm Klô-đen phải nói tới một « cách diễn đạt như bùa mê» và không nhà bình luận nào không nói tới sự điêu luyện của A-ra-gông.

Và A-ra-góng đã dùng cái « vạn biến » của sự đổi mới này, để giữ một trong các « bất biến » của ông đến trọn đời : bao giờ ông cũng là nhà thơ của tình yêu. Ông nói trong một cuộc phỏng vấn : « Tình yêu không là cái nói lên một nhu cầu tuyệt đối, nó là sự tuyệt đối... Những người không tin có tình yêu, tôi không thể đối thoại với họ ».

A-ra-gông yêu. Ông yêu sự thật, công lý, hòa bình, yêu Tổ quốc ông với các truyền thống của nó, yêu cái đẹp, nhất là lời ca đẹp yêu đàn bà nói chung (các nhân vật nổi nhất đẹp nhất của ông là đàn bà), và đặc biệt yêu En-xa. Song ở A-ra-gông, tất cả những cái ông yêu đều hòa hợp với nhau, ăn nhập vào nhau, và En-xa là đại diện của tất cả.

A-ra-gông yêu mãnh liệt : trước mối đe dọa sống còn đối với những gì ông yêu, ông không trù trừ cầm vũ khí và dùng lời ca đẹp kêu gọi cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù. Lúc ấy tiếng súng tiếng bom là tiếng nhạc (Nhục và vinh của người Pháp).

A-ra-gông còn có một điều bất biến nữa là ông thường nói đến mộng mơ. Những người siêu hiện thực cũng thích đi vào bí mật của mộng mơ, song A-ra-gông có lập luận riêng, rõ ràng: « Trong cuộc đời, dĩ nhiên là các giấc mơ chiếm tỉ lệ nguy hiểm, nhưng cả trong các giấc mơ cũng cần biết đọc thấy đời sống của mình, nhìn xa hơn đời sống của mình. Nhìn xa hơn bản thân mình», và « Tôi nói... bằng cách trộn lẫn các giấc mơ với đời sống, để sau đó học được tốt hơn cách tách rời hai mặt ấy ».





Ở đây cần nói riêng tới lời văn xuôi của A-ra-gông. Tuy không đánh đồng hai thể loại, A-ra-gông dành cho văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết, một sứ mệnh cao cũng như thơ. Vì thế văn xuôi của ông rất đặc biệt.

Trong vấn đề này, chúng ta cũng nên tham khảo quan niệm của En-xa về việc sử dụng từ ngữ. En-xa viết trong bài Việc đặt thành từ ngữ : « Từ ngữ là vài chiếc lá tạo ấn tượng một cái cây với tất cả lá của nó, ảo tưởng nói hết, không những cái cây, mà cả cái mát mẻ của nó, bóng râm, nơi ẩn náu, tâm hồn. Tính ước lệ của từ ngữ, tranh vẽ, bằng chữ cái, làm ý nghĩa không hoàn chỉnh của nó trở nên lấp lửng. Các văn bản luật, truyền đơn, quảng cáo đòi hỏi những người được nói với phải có một cách ứng xử chuẩn xác, tránh kỹ điều mơ hồ, nhưng luật pháp được người ta hiểu như truyền đơn, quảng cáo thường chệch mục đích, thậm chí những điều ngăn cấm đơn giản cũng thiếu rõ ràng: thêm cho mấy chữ Cẩm hút thuốc, có thề vẽ cả một điếu Gi-tan. Thế là rõ ràng hơn. Thí dụ về sự ngăn cấm và một sự quảng cáo đều rành rọt như nhau.

Nghệ thuật nói hết về một cái cây. Chỉ cần nói cái cây là có thể có ý niệm về một cái cây, ai cũng biết gọi tên một vật, một tình cảm, một sự việc: tôi đói, tôi yêu, tôi đau khô. Muốn nói nhiều hơn về những cái ấy, cần có một năng khiếu đặc biệt. Mọi người đều đi, nhưng mọi người không thề là nghệ sĩ nhào lộn hay vũ đạo. Ước lệ, sáng tạo... Toàn trái đất vang rộn những tiếng ríu rít phát âm rõ ràng. Toàn nhân loại , người sáng tạo viết thành tiểu thuyết, các từ ngữ - lá cây của anh ta nở hoa trên ảo tưởng một cái cây. »

Vậy thì các từ ngữ – lá cây của nghệ sĩ vũ đạo điêu luyện trong ngành tiểu thuyết, nhà thơ A-ra-gông nở hoa như thế nào ? Có thể nói rất độc đáo.

Trước hết ông không muốn ngôn ngữ bị gò bó trong « ý nghĩa » mà có thể trở thành hồi âm của tâm hồn, giữ được tính huyền diệu « đa thanh » trong « thông báo văn học » của nó, vì thế nhiều khi vượt qua các ước lệ, viết bất chấp ngữ pháp. Trong một lời tựa, ông đã từng viết rằng nhiệm vụ của nhà ngữ pháp không là quy định nhà thơ phải viết thể nào, mà là đi theo nhà thơ để ghi lại cách nhà thơ dùng câu, chữ.

Ngoài ra A-ra-gông là một người kể chuyện rất có duyên, rất Pháp, với « cái lối nói năng nhấm nhẳn của thời đại chúng ta ». Điều này làm người đọc phải hiểu về tính giản dị trong sáng của lời văn khác với hồi mài đũng quần trên ghế nhà trường.

Hơn nữa, phần nhiều A-ra-gông không độc bạch, mà đối thoại với người đọc, mời người đọc tham gia sáng tạo, hoặc tin rằng mình không cần nói hết câu người đọc cũng hiểu được, thành thử có những câu bỏ lửng, khi xem bổ sung thế nào cũng được. Trò chơi này thú vị, nhưng nó đòi hỏi một cách đọc tích cực, sáng tạo, chưa quen thì đọc hơi mệt, nhưng quen rồi thì có thể mê.

Vì thế A-ra-gông viết một thứ văn khi đọc không thể bỏ qua một chữ hay một dấu phây, loại văn « đọc lại là đọc lần đầu”, như Giăng Cốc-tổ nói về tác phẩm cổ điển. Điều này đã làm tôi phải đắn đo rất nhiều. Tất nhiên tôi cố sao cho bạn đọc Việt Nam dễ hiểu, nhưng trách nhiệm bắt tôi có, phản ánh cả hai mặt : A-ra-gông viết gì và A-ra-gông viết thế nào. Tôi không dám làm khác, vì nếu không sẽ như chữa tranh Đông Hồ Đánh ghen chẳng hạn theo lượt xa gần và giải phẫu mỹ học phương Tây, hoặc sửa tranh Pi-cat-xô cho hợp với thị hiếu những người chưa quen cách này.

Mười tám truyện ngắn và tùy bút này chỉ là « vài chiếc lá » tạo được ý niệm nào đó về truyện ngắn và tùy bút của A-ra-gông. Trong đó Nói dối đúng sự thật mà chính A-ra-gông coi là một bản trình bày về nghệ thuật viết tiểu thuyết, một văn bản rất quan trọng, được đặt sát cuối sách, trước Bài van xơ ngày vĩnh biệt, có lẽ viết hai năm sau khi En-xa qua đời, có thể coi như lời dối đăng của nhà thơ lớn, tiếng kêu cuối cùng của con đại bàng. Càng về trên càng là những truyện cụ thể, càng về sau bạn đọc càng đi sâu vào bí quyết sáng tác của A-ra-gông.

Ngoài ra, vì cuốn sách ra mắt bạn đọc nước ta đúng năm kỷ niệm lần thứ 200 Cách mạng Pháp, nên các truyện được chọn để bạn đọc lần lượt có thể thấy các suy tư của nhà thơ cộng sản về tình hình nước Pháp từ thời kỳ sau Cách mạng và đế chế Na-pô-lê-ông, qua Đại chiến thế giới thứ I, thời kỳ Mặt trận Bình dân, Đại chiến thế giới thứ II, cho đến gần đây.

Tha thiết mong nhận được ý kiến đóng góp của các bạn về công việc tối đã làm trong hai năm về cuốn sách này



NGUYỄN THỤY ỨNG

2-11-1988​
 
Quay lại
Top Bottom