Quốc bảo chân kinh: Phục hưng văn hóa cội nguồn Tiên Rồng Việt Nam

KHAI KINH SỐ 3

KHAI KINH

CẦU AN




Chuông đánh ba hồi 3 tiếng

Kế đến

Tiếng chuông tiếng mõ

Tiếng chuông tiếng mõ

Tiếng chuông tiếng mõ



Thắp đèn đốt hương, ban chủ lễ đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực Chủ Lễ xướng tụng.



Chuông Mõ truyền đi thấu cõi trời

Truyền rằng Trần Thế tại chúng nơi

Việt Nam tỏ rạng lời Trời dạy

Thiên Ý cam lồ thiện sinh sôi

(gõ chuông đồng bái lạy).



TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới: tịnh yên nhờ có Đạo

Non sông: có Đạo mới bình yên

Gia đình xã hội chúng dân

Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng

Án lam xóa ha

(gõ chuông đồng bái lạy).



TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân

Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người

Ý lành tận độ muôn loài

Làm cho hết thảy không còn khổ đau

Án ta phạ bà phạ, Truật đà ta phạ

Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám

(gõ chuông đồng bái lạy).



Chủ Lễ bước tới trước một bước. Quỳ ngay thẳng Tả Hữu hai bên chắp tay lắng nghe. Chủ Lễ cầm 3 cây hương dân ngang trán xướng đọc.



CẦU NGUYỆN

Nay có Thánh Đức tên là: ---------------------Pháp Danh------------------cùng cộng sự đồng Đạo

Tên Là:-----------------

Hôm nay nhằm Ngày--------------Tháng-------------Năm------------------Thôn/Xã-------------------Quận/Huyện------------------Tỉnh--------------------Nước Việt Nam.

Tại nơi Cư Gia, Đền thờ, Chùa chuyền Am Cốc, Miếu, Thất.

Giờ Tốt: Khai Kinh: Chư Chức Sắc. Đức Thầy. Chư Tăng. Đại Đức. Cùng toàn thể, thiện nam, tín nữ. cũng như con cháu. gái trai, già trẻ. Thành tâm cung kính lễ lạy cúng dường. Nhang, đèn, hương hoa, trà, quả, rượu, nước, tinh khiết lập thành nghi thức dâng lên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ngưỡng mong ba ngôi tối cao. Ban xuống ân sâu. Khai tâm mở trí. Sáng láng thông minh. Thừa hành di chí ơn trên. Hành trì chánh giáo. Thuận theo Thiên Ý. Người sống thời được bình an. Người mất siêu sanh. Tất cả chứng thành quả Đạo. An vui tự tại dứt hết não sầu. Lời kinh vang vọng xin cầu.

Tổ Tiên, Địa Mẫu, Cha Trời chứng tri. Nam Mô A Men

(gõ chuông đồng lễ lạy)



Chủ Lễ cùng Tả Hữu hai bên đồng xướng đọc Kệ cúng hương.



Đốt nén tâm hương đến Cha Trời

Linh Căn dâng trọn dưới chân người

Cầu xin bảo bọc cùng che chở

Họa kiếp tai ương dứt tiêu trừ

Đốt nén tâm hương đến Mẹ Trời

Cầu cho nhân thế sống trên đời

Họa tai tan biến tâm an lạc

Gia Đình Xã Hội sống thảnh thơi

Đốt nén tâm hương dứt lòng tà

Nhớ lời truyền dạy đức Trời Cha

Sống theo Thiên Ý thông đạt giáo

Trở về Thiên Giới sống âu ca

(gõ chuông đồng bái lạy).

* * *



TÁN DƯƠNG

Cha Trời pháp thuật vô biên

Thần thông quảng đại tam thiên cúi chầu

Mẹ Trời pháp thuật cao sâu

Tam thiên cuộc sống Mẹ hầu chở che

Chúng con thành kính lắng nghe

Cúi xin Cha Mẹ chuyển xây yên bình

Nam Mô cuộc sống an lành

A Men như ý không còn khổ đau

Chú pháp Cha Mẹ ban cho

Linh thiên mầu nhiệm họa tai chẳng còn

Chú pháp đêm lại cát tường

Thiên La, Địa Pháp hiệp cùng ứng linh

Thiên La Thần, Địa La Thần

Thân ly nạn, Nạn ly thân

Nhất thiết tai ương hóa vi trần

Nam Mô cung thỉnh nguyện cầu

A Men linh ứng nhiệm mầu ứng linh

(gõ chuông đồng bái lạy).

* * *



TÁN DƯƠNG

Lời kinh thấu đến Cha Trời

Đức lành ngào ngạt khắp thời tam thiên

Cầu cho nhân loại bình yên

Não phiền dứt sạch keo sơn hiệp hòa

Cội Nguồn truyền thống Ông Cha

Sáng soi nhân đức trổ hoa thái bình

Hiển linh ứng ứng hiển linh

Lời kinh chuyển hóa muôn nghìn vận may

Nam Mô vô tận hư không

A Men như ý ước mong đạt thành

(gõ chuông đồng bái lạy).



SÁM GIÁC CA

Một lòng quy kính Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa

Hành thiện điều ác tránh xa

Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng

Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng

Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau

Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu

Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu

Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời

Chỉ cần làm được một lời cũng linh

Cha Trời hộ độ khai tâm

Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa

Ngộ rồi trí huệ sáng soi

Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn

Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng

Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy

Nghịch Thiên thời được cái chi

Muôn điều tai họa hết mong yên bình

Tai ương khắp chốn khắp cùng

Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra

Cầu lên ba đấng Ông Cha

Tối cao vũ trụ khai sinh đất trời

Quyền năng vô hạn tột cùng

Khai sinh tất cả vạn loài tam thiên

Thuận Trời muôn sự bình yên

Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành

Thuận Thiên tai họa tiêu trừ

Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm

Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng

Cũng nhờ công đức thuận Thiên Cha Trời

Cầu lên ba đấng cao vời

Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con

Sống thời thường được bình an

Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành

Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng

Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân

Non sông Tổ Quốc giang sơn

Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ

Khắp nơi phồn thịnh sang giàu

Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no

Cầu cho Quốc Thới dân an

Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa

Cầu cho Nam Việt nước nhà

Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh

Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương

Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng

Dân giàu nước mạnh anh hùng

Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm

Nam Mô vạn sự bình yên

A Men như ý sám nguyền ứng linh

Nam Mô vạn sự đều nên

A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu

Nam Mô vạn sự thỉnh cầu

A Men như ý, nguyện cầu ứng linh

Ta bà ha,

Án,

Tất điện đô mạn đà ra.

Bạt đà gia, ta bà ha.

Yết đế yết đế

Ba la tăng yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

(gõ chuông tất cả đồng lễ lạy)



Chủ lễ xướng đọc

Cội nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Tả lễ xướng đọc

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Hữu lễ xướng đọc

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Cả 3 hợp nhất cùng xướng đọc

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

Chủ lễ xướng nguyện

Nam Mô A Men

Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời Địa Mẫu. thuận theo kinh bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Tả lễ xướng nguyện

Nam Mô A Men

Đương nguyện thế nhân phát vô thượng tâm thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải

Hữu lễ xướng nguyện

Nam Mô A Men

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại

Cả 3 cùng nguyện

Nguyện cho cuộc sống bình yên

Nguyện cho nhân loại não phiền sạch không

Nguyện cho khắp cả thế nhân

Sớm mau giải thoát siêu sanh thiên đàng

Nguyện đem công đức tụng trì

Hướng hồi khắp cả loài người, chúng sanh

Mau thành trí huệ thậm thâm

Chân như Đại Đạo trường sanh an nhàn.

* * *

Bái bốn bái.



Phần khai kinh Cầu An số 3 đến đây là hết. Còn cầu an lớn đại sự. Thời phải tụng Đại Bi cùng Bát Nhã. Cũng như Chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo Khai Kinh cho việc trì tụng tiếp theo. Hoặc chọn phần kinh trong những bộ kinh như sau: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Thiên Tạng. Kinh Pháp Tạng. Kinh Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau thời Hậu Đế, v.v...

* * *
 
KHAI KINH SỐ 4

KHAI KINH CẦU SIÊU




Thắp đèn đốt hương xong. Khai ba hồi chuông ba tiếng, ba hồi mõ ba tiếng. Rồi nhập chuông mõ đánh cùng một lúc. Chủ lễ cũng như Tả Hữu hai bên chủ lễ, đứng ngay ngắn, chắp tay trước ngực Chủ lễ bước lên trên một bước xướng niệm đọc.



TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo

Non sông có Đạo mới bình yên

Gia đình, xã hội, chúng dân

Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng

Án lam xóa ha

(gõ chuông đồng bái lạy).



TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân

Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người

Ý lành truyền dạy Đạo Trời

Làm cho cuộc sống không còn khổ đau

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.

Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám

(gõ chuông đồng bái lạy).



Cả ba đồng xướng



Nguyện thắp nén hương lòng

Bay lên khắp tầng trời

Cúng dường ngôi Tiên Tổ

Cha Trời cùng Địa Mẫu

Quốc Vương Thỉ Thỉ Tổ

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Khắp pháp giới mười phương

Quá khứ hiện tại vị lai

Thiên đàng trần gian địa phủ

Ban xuống ân sâu

Cứu khổ hồn linh

Siêu sanh thiên giới

Nam Mô A Men

(gõ chuông đồng lạy)

Chủ lễ quỳ xuống xướng đọc.



KỲ NGUYỆN

Hôm nay Thánh Tử tên là:-------------------Pháp danh-----------------kỳ nguyện khai kinh Cầu Siêu

Nhằm Năm------------Tháng------------Ngày------------Giờ-----------

Hiện tại Nước------------------Tỉnh-----------------Quận/Huyện------------------Xã-----------------Thôn/Xóm--------------------

Tại nơi Cư Gia. Am, Thất, Chùa, Đền, Đình, Miếu.

Gia Chủ, Thí Chủ, Tín Chủ tên là: ----------------------Phẩm vật dâng lên nhang đèn, hương hoa, trà, quả, đồ ăn thức uống, tinh khiết. Lập thành nghi thức.

Chư Thầy Đại Đức, cùng Thiện Nam Tín Nữ quỳ trước anh linh tối cao vũ trụ. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tụng kinh trì chú, xưng tán hồng danh. Một dạ chí thành.

Nguyện cầu ân trên, phóng quang cứu khổ Hương Linh.

Tên là:--------------------Pháp Danh---------------------tiêu trừ khổ ách, thường hoạch kiết tường, tai nạn không còn. Âm Siêu Dương Thới, người sống kẻ mất, mê lầm tan biến, đều được lợi ích an vui.

(gõ chuông đồng bái lạy)



Cả ba chủ lễ

Xướng kệ triệu hồn


Thiên Cơ chuyển đến thời đến lúc

Hồn mau mau về đến nghe kinh

Trần gian bể khổ mông mênh

Mau mau hướng thiện siêu lên cõi trời

Thiện - Ác đáo đầu chung hữu báo

Nhân nào quả nấy có sai chi

Theo Trời, Trời chuyển Trời xây

Tiêu tan tai họa siêu sanh thiên đàng

Phật với Ma tự mình khai tạo

Nào khó chi Ác - Thiện rõ thông

Rõ rồi thời phải gieo nhân

Hương Linh thành kính quy y Cội Nguồn

Bể trần khổ khốn cùng sanh tử

Nào tai ương họa dữ chiến chinh

Mau theo Nguồn Cội Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu anh linh tột cùng

Về Thiên Giới an nhàn vui thú

Cõi Thiên Tiên châu báu giàu sang

Đâu như cõi tạm trần gian

Sanh già bệnh tử biết bao khốn cùng

Lời Trời dạy phước phần cam lộ

Khi uống vào dứt sạch khổ đau

Mau mau hồn hãy mau mau

Thành tâm lễ lạy quy y Cội Nguồn

Thất Phật diệt tội xong rồi

Hồn Linh siêu thoát về trời an vui

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế

Đà la ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế

Ma ha già đế, chơn lăng càng đế

Ta Bà Ha.

Gõ một tiếng chuông.



TUYÊN SỚ

Cúi đầu đảnh lễ đấng Cha Ông

Cầu mong giải thoát cứu Hương Linh

Vô Biên khổ ải không còn nữa

Thiên Đàng sống mãi dứt tử sinh.



Hôm nay Thánh Tử: Phụng sự cầu siêu, cúng kinh trai tuần húy kị. kỳ siêu độ sự.

Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Phụng báo Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. duy nguyện hào tướng quang trung phủ thùy minh chứng.



ĐỌC SỚ



PHỤC DĨ


Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang cứu khổ tiếp dẫn Hương Linh siêu sanh thiên giới.



BÀI SỚ VỊ

Việt Nam Quốc----------------Tỉnh---------------Huyện--------------Xã hiện cư ngụ tại-----------------

Phụng sự trì chú tụng kinh (Thiên Cửu------------húy kỵ khai kinh chi lễ, báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.

Kim cư gia: Tang Chủ.

Đồng gia môn hiếu quyến. Nam Nữ. Nội, Ngoại. Đại tiểu đẳng. Duy nhật bái can. Mong ơn trên Tổ Tiên Cha Trời. Địa mẫu tiếp độ.



THỐNG NIỆM

Phụng vị--------------Hương Linh: (Phủ quân” nhụ nhơn chi linh cửu) chi linh.



TRƯỢNG THỪA

Cội Nguồn Đại Đạo dĩ siêu thăng. Toàn lại kinh văn nhi giải thoát tư lâm.

Khai Kinh chủ lễ, kiền trượng thiền hòa (Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng. Đại Thừa Thiên Ý Văn Kinh.

Tôn kính gia trì vãng sanh tịnh độ thần chú

Nam mô a di đa bà dạ, đá tha già đa dạ

Đá địa dạ tha. A đi rị đô bà tỳ. A di rị đá, tất đam bà tỳ

A di rị đa, tỳ ca lan đế. A đi rị đa, tỳ ca lan đa. Già di nị, già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.



Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, chứng minh công đức cầu siêu tận độ. Ứng linh tiếp dẫn Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.



• Nếu không sớ thì đọc:

• Kim tắc (1) cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Dung nguyện từ bi phủ thì tiếp độ.

• Phụng vị tên-----------------Hương Linh. Chi Hương nương theo hào quang Thiên Ý dĩ siêu thăng. Toàn kinh văn nhi giải thoát. Khuông phò tín chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt lại Tổ Tiên Cha Trời Địa Mẫu ấn chứng minh. Cần Bạch

(gõ chuông đồng bái lạy)



Tam chủ lễ

Đồng xướng kệ


Hương Linh vốn khốn khổ

Do lạc Cội mà ra

Hương linh mãi đọa sa

Là do:

Thân khẩu ý gieo nghiệp dữ

Hương Linh nay lìa bỏ

Hướng thiện mãi làm lành

Hương Linh quy Cội Nguồn

Hương Linh:

Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa

Nam Mô A Men.

(gõ chuông đồng bái xá).



Phần khai kinh cầu siêu Thánh Tử đến đây là hết tiếp theo là phần khai kinh tụng kinh trì chú Đức Thầy, Thiện Nam Tín Nữ.



KHAI KINH KỆ

Đức Thầy

Xướng đọc


Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu

(gõ chuông đồng bái lạy).

Tiếp theo

Trì tụng Long Hoa Đại Bi Thần Chú. Phần đầu Quốc Bảo khai kinh.

Tiếp theo

Trì Tụng Kinh Long Hoa. Phần kinh nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người. Nằm trong các bộ kinh. Như kinh Long Hoa Thiên Tạng. Kinh Long Hoa Mật Tạng.

Tiếp theo

Trì Tụng Long Hoa Bát Nhã. Phần cuối của Quốc Bảo khai kinh.

Cuối cùng là tụng sám từ vân.



SÁM TỪ VÂN

Một lòng khổ nhọc không nài

Cầu về Thiên Giới thoát vòng trầm luân

Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên

Cội Nguồn hết thảy ức muôn vạn loài

Lòng con quy kính Cội Nguồn

Nguyện làm hiếu đạo tôn thờ Mẹ Cha

Cầu mong quả Đạo thậm thâm

Cầu mong trí huệ vô biên tận cùng

Con nay chí nguyện lòng thành

Cầu mong Cha Mẹ chứng lòng độ cho

Trở về Thiên Giới an vui

Không còn khổ sở bơ vơ luân hồi

Cha Trời cùng với Mẹ Trời

Thương con thời hãy cứu thời chúng con

Trần gian khổ lắm Mẹ ơi

Biển trần lặn hụp biết bao khổ sầu

Chúng con cầu được về trời

Thuận theo kinh giáo không còn lầm mê

Thiên Đàng đất báu hào quang

Lầu đài cung điện vàng son ngọc ngà

Sống đời trẻ mãi không già

Không đau không bệnh, không là tử sanh

Nguyện rằng con nguyện theo chân

Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên, Cội Nguồn

Phát tâm thương hết muôn loài

Cầu cho nhân loại đồng là siêu sanh

Trở về Cực Lạc quê tiên

Xa lìa mộng tưởng đảo điên luân hồi

Nam Mô cứu khổ Cha Trời

A Men đức Mẹ độ thời chúng con

(gõ chuông đồng bái lạy).



TAM NGUYỆN:

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(gõ chuông bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm. Thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ chuông bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

(gõ chuông bái lạy)



Chú Nguyện:

Nguyện đem công đức nầy

Hướng về khắp tất cả

Giải thoát muôn sự khổ

Siêu sanh và an vui

Nam Mô A Men

(bái xá)

* * *

Lễ khai kinh số 4 cũng như phần tụng kinh trí chú đến đây là hết. Nếu muốn tụng thêm thời chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo khai kinh, cho việc trì tụng tiếp theo. Cũng như chọn những phần kinh trong những bộ kinh sau đây cho việc trì tụng tiếp theo: Kinh Nhân Luân, Kinh Long Hoa, Kinh Long Hoa Thiên Tạng, Long Hoa Pháp Tạng, Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương, Long Hoa Thi Tập, Sau Thời Hậu Đế, v.v...

* * *
 
KHAI KINH SỐ 5

NGHI THỨC

KHAI KINH NHẬP ĐẠO




Con Cháu, Đệ Tử Thiện Nam Tín Nữ. Khi nghe hồi chuông. Tập trung vào chánh điện. Hội Đồng Thánh Đức Áo Tràng nghiêm chỉnh. Tất cả chắp tay hướng về Thiên Ấn. Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu. Lắng tâm nghe một hồi Chiêng Trống. Chuông Kim Cang. Trống Bát Nhã. Chuông Mõ khai lễ. Rồi tất cả điều quỳ xuống nghe Hội Đồng Thánh Đức dâng lên lời phụng báo lên ba đấng tối cao. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đại diện cho Hội Đồng Thánh Đức. Ban Chủ Lễ gồm 3 vị bước lên trên đại chúng, tới trước anh linh Thiên Ấn, anh linh Cha Trời Địa mẫu đọc văn bút phụng báo như sau.



Ban Chủ Lễ 3 vị



Quỳ ngay thẳng

Chánh Chủ Lễ Đọc Văn Sớ

Còn hai bên Tả, Hữu chủ lễ

Tịnh tâm lắng nghe

Chủ Lễ

Xướng kệ sớ như sau:



Thành tâm cung kính lạy

Dâng lên lời phụng sự

Kính báo đấng Cha Ông

Nay dâng sớ tâu lên

Tổ Tiên, Cha Trời Địa mẫu

Long Hoa giáo chủ

Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Khắp pháp giới hư không

Quá khứ, hiện tại, vi lai

Thiên Đàng Trần Gian, Địa Phủ

Chứng tri lễ nhập đạo sanh khai

(đánh tiếng Chiêng, tiếng trống)

Chủ Lễ vẫn quỳ ngay ngắn

Hai bên Tả Hữu chủ lễ

Lạy một lạy



Chủ Lễ

Xướng đọc tiếp

Kỳ Nguyện


Hôm nay nhằm ngày---------tháng---------năm---------Thôn-----------------Xã-----------------Quận/Huyện-----------------

Tỉnh------------------Nước Việt Nam.

Tại nơi Am, Thất, Đình, Đền, Chùa. Cầu thỉnh Hội Đồng Thánh Đức, Tác lễ chứng nhận hội nhập thành viên vào Thiên Ý Đại Đạo.

(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

Ba Vị Chủ Lễ phụng báo đứng dậy lui qua một bên

Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo

Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời lễ lạy

Tuyên đọc uy danh những vị hội nhập Đại Đạo

Đọc xong

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo lui về một bên



Tiếp đến ba vị chủ lễ phụng báo. Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời. Quỳ xuống.



Chủ Lễ

Xướng đọc tiếp


Thành tâm cung kính. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Lai lâm chứng giám. Phù trì hộ độ cho ngày hội nhập Thiên Ý Đại Đạo. Tiếp nhận con cháu vào Thiên Luật. Dự phần vào ngôi Thánh Đức. Thừa hành di chí Ông Cha.

Kính mời đại diện tối cao Hội Đồng Thánh Đức Truyền Thánh Chỉ Hội nhập THIÊN Ý ĐẠI ĐẠO, do Hội Đồng Thánh Đức chủ trì ban ra.

(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống) ban chủ lễ lui qua một bên.



Tiếp đến là lễ hội nhập

Thiên Ý Đại Đạo

Hết sức trang nghiêm

Xong đâu vào đấy

Tam Chủ Lễ

Đồng Xướng đọc kệ rằng:



(Kèm theo nhạc cụ

Kèn, đàn, sáo đệm theo)



Đức Tổ Tiên bao trùm rỗng lặng

Mẹ, Cha Trời vô tận hư không

Quyền năng vô hạn vô biên

Chuyển xây vũ trụ, ức muôn vạn loài

Trước Cha Trời tâm con chí nguyện

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y

Từ đây giới luật tinh nghiêm

Thừa hành di chí Tổ Tiên, Cha Trời

Lòng Trung Hiếu sáng ngời muôn thuở

Luôn hành theo dạy bảo Trời Cha

Làm cho nhân loại âu ca

Chung hòa hạnh phúc siêu lên cõi trời

Nam Mô Đại Đạo cao vời

A Men như ý đạt thành ước mong



(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Cả ba Chủ Lễ đồng bái lạy



Sau đây là

Hội Viên. Đạo Viên đồng xướng kệ rằng:


Hôm nay ngày nhập Đạo

Ngày trở về Nguồn Cội

Khôi phục lại linh căn

Vào ngôi!

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Bao lầm mê tội lỗi

Gieo ra từ vô thỉ

Lạc loài trong ác đạo

Xoay vần trong ác nghiệp

Ngược lại ý Trời Cha

Mãi luân hồi đọa sa

Tai ương không kể xiết

Trải qua vô số kiếp

Khốn khổ mãi khôn cùng

Trăm ức muôn vạn nghìn

Đọa lạc thảm thảm thê

Nay dứt sạch lầm mê

Trở về nơi bờ giác

Một lòng thành kính quy y

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Long Hoa Giáo Chủ

Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Khắp pháp giới mười phương

Chứng tri tấm lòng biết ơn

Hết lòng ra công dạy bảo

Xót thương phù trì che chở

Khai tâm mở trí

Tuệ quang sáng láng

Trí huệ như hải

Chúng con mãi mãi

Nỗ lực làm lành

Nguyện tận độ linh hồn

Chuyển hóa những khổ đau

Chuyển hóa những họa tai

Tiêu tan không còn nữa

Theo di chí!

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Sống cuộc sống bình đẳng

Lòng đại nghĩa từ bi

Vì nhân loại anh em

Vì giải thoát khổ đau

Luôn hết lòng tận tụy

Nam Mô vô tận Cha Ông

A Men cứu khổ dứt đi đọa đày

(Gõ tiếng chuông tiếng mõ)

Nhạc cụ nổi lên hòa theo

Lời xướng tụng sau đây

Trước Ấn linh, Cha Trời Địa Mẫu

Cúi đầu xin tội lỗi tiêu tan

Linh Linh ứng hóa vô biên

Chuyển xây vận mệnh thoát siêu an nhàn

Nay con đã bước vào Đại Đạo

Thời tâm con thành nguyện nghe theo

Cầu cho ác nghiệp tan tiêu

Mau thành chánh quả vào ngôi Thánh Hiền

Lời Trời dạy không gì hơn được

Cao ngút ngàn vi diệu thậm thâm

Nay con nghe thấy nguyền tu học

Nguyện rõ lời Cha lý đạt thông

Lời trì tụng ứng linh cùng khắp

Thân khiêm cung nguyện thoát tai ương

Ý thuần phục nguyện lòng tỏa sáng

Dẫu cho tạo tội to hơn núi

Cũng nguyện tiêu tan sạch chẳng còn

Nam Mô quy kính Cội Nguồn

A Men Đại Đạo nguyện thành A Men



(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

(đồng bái lạy)



Tiếp theo

Hội Đồng Thánh Đức

Thuyết giảng về ý nghĩa quy y nhập đạo



Thưa Đạo Hội!

Quy Y nhập Đạo là gì?


Quy: Có nghĩa là trở về nương tựa vào ba ngôi tối cao Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

Y: Có nghĩa là không thay đổi, trước sao sau vậy. Trọn lòng tôn thờ hiếu kính đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời.

Khi chúng ta đã quy y trở về với Nguồn với Cội. Là chúng ta tuyệt đối trọn lòng tôn kính hiếu Đạo đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu Mẹ Trời.

Tổ Tiên là gì? mà chúng ta thành tâm quy y?

Như chúng ta đã biết, và cũng thường nghe Ông Bà chúng ta dạy. Tổ Tiên là trên hết.

Sao gọi là trên hết?

Vì Tổ Tiên là Đấng Tối Cao khai sanh ra tất cả. Khai sanh ra vũ trụ Tam Thiên, Đại Thiên thế giới. Khai sanh ra Thiên Đàng, Trần Gian, Địa phủ. Khai sanh ra Càn Khôn Thiên Địa. Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà, Ngân Hà. Thậm chí khai sanh ra không khí cho chúng ta hít thở. Khai sanh ra Cây Cỏ, Ngũ Cốc, muôn loài vạn vật để nuôi dưỡng sanh mạng chúng ta. Thậm chí Linh Hồn chúng ta cũng từ Đại Linh Hồn Tổ Tiên phân hóa sanh ra tiểu Linh Hồn chúng ta. Như thế Tổ Tiên là Cội Nguồn tất muôn sanh linh cùng vạn vật trong đó có chúng ta. Vì thế chúng ta quy y trở về với Cội với Nguồn, của chúng ta. Là chúng ta vô cùng khôn ngoan, vì chúng ta không còn lạc lõng bơ vơ trong vũ trụ. Lạc loài trong trời đất. Luân hồi sanh tử khốn khổ vô cùng. Chúng ta đã trở về với Cội với Nguồn của chúng ta. Là chúng ta như nước có nguồn, như cây có Cội. Nhất định nở cành xanh ngọn. Muôn phúc vạn lành sẽ đến với chúng ta.

Tóm lại: Tổ Tiên là Cội Nguồn của chúng ta, chúng ta phải quy y trở về Nguồn Cội của chính mình. Đó là sự quy y chân chính nhất, không có sự quy y nào cao hơn nữa. Chúng ta trở về với Cội với Nguồn, là chúng ta không bao giờ sa đọa xuống các tầng Địa Phủ nữa. Mà trở về quê hương Thiên Đàng cực. Tổ Tiên chúng ta đã khai tạo ra các Thiên Giới vô số vô biên cõi nước Trời Là để cho chúng ta những người con cháu trở về Nguồn Cội hưởng phước sanh sống an vui tự tại. Không còn khốn khổ luân hồi sa đọa nữa.

Cha Trời, Địa Mẫu là ai? mà chúng ta thành kính quy y

Cha Trời, Địa Mẫu là Hiện Thân của Khai Hóa Tổ Tiên

Hai đấng tối cao vũ trụ. Cha Rồng, Mẹ Tiên


Nhân loại con người có ra, là do Cha Trời Mẹ Trời sanh ra. Lưu truyền nòi giống con người cho đến tận bấy giờ.

Chúng ta đang mang dòng máu trong người, chính là dòng máu của Cha Trời Mẹ Trời.

Nhưng chúng ta đã quên Nguồn quên Cội lạc loài bơ vơ mãi trong chốn bụi trần. lặng hụp mãi trong bể khổ trầm luân. Cũng tại vì chúng ta không biết mình từ đâu sanh ra. Như cây mất gốc nên mãi héo cành rũ ngọn. Như nước không nguồn cạn phước cạn đức khốn khổ triền miên hết khổ nầy đến khổ khác. Trải qua không biết bao nhiêu số kiếp đọa đày. Nay chúng ta trở về với Nguồn với Cội là chúng ta đại giác ngộ nhận thức được rằng. Cha Trời Mẹ Trời không những là hai đấng Cội Nguồn của chúng ta. Mà còn là Hai đấng quyền năng vô hạn. Thần thông pháp thuật vô biên chuyện gì làm cũng được. Lại là hai đấng giàu có nhất vũ trụ. Chủ nhân của tất cả nhất là sự giàu có về ngọc ngà châu báu. Khắp toàn tam thiên đại thiên thế giới. Cũng như thất sơn châu báu hạ thiên vũ trụ.

Tóm lại

Chúng ta trở về với Cội Nguồn là chúng ta muốn gì được nấy. muốn được giàu có như ý, quyền năng như ý, hạnh phúc như ý thời chúng ta phải biết nghe lời Cha Trời dạy bảo, tùy làm theo lời dạy bảo Cha Trời nhiều hay ít mà hưởng phước Trời lớn hay nhỏ. Công lớn thời làm vua trời. Công nhỏ thời làm dân trời. Nói chung làm theo lời Trời dạy đều được lợi ích. Nhất là lợi ích siêu sanh về Thiên Giới sanh sống, không còn sa đọa khốn khổ nữa. Tổ Tiên, Cha Trời Địa mẫu là ba ngôi tối cao vũ trụ, không ai cao hơn Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Ba ngôi vô thượng tối cao nầy. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng chỉ là con cái, con cháu của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu mà thôi. Ba ngôi tối cao nầy quyền năng vô hạn quyền phép vô biên. Sanh vũ trụ, tận diệt vũ trụ theo ý muốn của mình. Ba ngôi hóa Công của Tạo Hóa. Có đủ quyền năng ban phước cho những ai làm lành hướng thiện không nghịch lại Thiên Ý Cha Trời. Giáng họa cho những ai hành ác đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời.

Chúng ta đã quy y trở về Cội Nguồn là chúng ta từ đây đi vào con đường hết khổ. Chúng ta tuyệt đối tin vào lòng thương yêu của Cha Trời Mẹ Trời đối với chúng ta. Chúng ta càng thành tâm tỏ lòng hiếu kính quỳ dưới chân Cha Mẹ. Cầu mong Cha Mẹ che chở. Và ban ân đức cho chúng ta. Thời chúng ta sẽ được như ý. Nhất là siêu sanh về các cõi trời sống trên châu báu Thiên Đàng Cực Lạc.

Chúng ta đã quy y Nguồn Cội. Là chúng ta đi vào ngôi vị thừa kế những gì Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu đã tạo ra, và tiến đến làm chủ tất cả. Làm chủ vũ trụ. Làm chủ tam thiên, đại thiên thế giới. Làm chủ Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Làm chủ Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà Ngân Hà. Cho đến làm chủ muôn loài vạn vật.

Trong sự làm chủ nhất là làm chủ Thiên Bút Văn Kinh của Trời. Truyền bá lại cho các thế hệ sau. Thời phải nói sự làm chủ nầy không thể nghĩ bàn. Dù cho trăm nghìn ức kiếp cũng không thể nào kể hết những lợi ích của sự truyền bá Thiên Bút cho đời. Có thể nói sự thành đạt như ý.

Chúng ta đã quy y trở về với Cội với Nguồn là sự quy y cao nhất không còn sự quy y nào cao hơn nữa. Lấy Thiên Ý làm kim chỉ nam. Lấy Thiên Luật làm sự sống nhất là Thiên Luật Nhân Quả, gieo giống gì thời trổ ra giống nấy. Vì thế chúng ta phải tuyệt đối gieo ra giống lành những hạt giống Văn Hóa Cội Nguồn mà Cha Trời đã trao cho chúng ta.

Đã nhập Đạo. Thời từ đây luôn yêu thương đồng loại Đồng Bào Anh Em. Làm cho nhân loại anh hạnh phúc Nhất là làm cho Thân - Khẩu - Ý thường trong sạch. Hội tụ đủ Nhân Hạnh, Đức Độ, Tài Năng. Thừa hành di chí Ông Cha. Tận độ nhân loại Anh Em. Siêu sanh về các cõi trời Đạo Quả Viên Mãn.

Hội Đồng Thánh Đức thuyết giáo xong đồng phất nước trong cam lộ về phía đại chúng bắt ấn Tí, bắt ấn Ngọ làm phép. Nguyện rằng:

Cơ Trời ứng hóa

Thuận theo Thiên Ý

Đương nguyện nhơn sanh trở về Nguồn Cội, thấu suốt Đại Đạo. Phát vô thượng tâm.

Cơ Trời ứng hóa

Thuận theo Thiên Ý

Đương nguyện nhơn sanh, thâm nhập chánh kinh, thấu suốt Thiên Ý cha Trời, hành trì Thiên Luật, trí huệ như hải.

Cơ Trời ứng hóa

Thuận theo Thiên Ý

Đương nguyện nhơn sanh, theo bước Cha ông. Thừa hành di chí, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.

Lễ khai kinh nhập Hội, nhập Đạo đến đây là hết. Đại chúng bái lạy ấn xá rồi lui ra. Nếu lễ lớn thời Chiêng, Trống, Nhạc. Khai lễ cũng như Bế Mạc long trọng hơn nữa.

* * *

Những điều cần chú ý:

Quốc Bảo khai kinh là những Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt Văn Kinh. Cho phù hợp hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Hay người khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Tỳ Nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh, cho phù hợp nơi hành lễ.

* * *
 
KHAI KINH SỐ 6

THEO NGHI THỨC VẠN ĐẠI

NGHI THỨC

PHONG THÁNH




Nghi Thức: giới thiệu thành phần tham dự

Thành phần cao cấp, cũng như chức sắc cao cấp

Nghi Thức: giới thiệu thành phần tài trợ

Nghi Thức đi vào đại lễ

Nghi thức đi vào đại lễ:

Chuông kim cang. Trống bát nhã hiệp nhau đánh 3 hồi 3 tiếng.

Chủ lễ văn tế 3 vị

Tới trước bàn thờ tam cấp. Tổ Tiên Thiên Ấn. Cha Trời, Mẹ Trời. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương Uy Nghi Trang Nghiêm. Thắp đèn, đốt hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ. Chủ lễ bước tới một bước quỳ xuống xướng đọc văn tế. Hai bên Tả Hữu chủ lễ phía sau lắng nghe.



VĂN TẾ DÂNG HOA

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe



Tinh Hoa rực thắm sắc hương hoa

Thành tâm dâng hiến Cội! Ông Cha

Thuận Hiếu! chúng con lòng đóa tưởng

Cha Trời, Địa Mẫu mãi ngợi ca

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống



VĂN TẾ TỬU

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe



Tửu Vị ấm nồng tửu vị hương

Thành tâm dâng hiến Đức Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu lòng thương tưởng

Chúng con thành kính nguyện náo nương

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống



VĂN TẾ DÂNG TRÀ

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe



Thảo Mộc tinh hoa mỹ vị trà

Thành tâm dâng hiến Cội! Ông Cha

Cầu mong Đại Đạo nguồn Thiên Ý

Thiên Luật bao trùm Đạo Tinh Hoa

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống



VĂN TẾ KHAI

CHIÊNG - CHUÔNG


Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe



Kim cang Chuông kệ chuyển âm vang

Truyền tấu càn khôn khắp hư không

Nay ngày Phong Thánh Ngôi Thiên Ý

Thừa hành di chí Đạo khai thông

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống





VĂN TẾ KHAI TRỐNG

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe



Phúc Thiên Âm Pháp Trống dậy vang

Ấn truyền đại Đạo khắp thế gian

Phong Thánh, Thiên Quyền ngôi Thiên Ý

Uy linh tột thế, đại vinh quang

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống



VĂN TẾ CHIÊNG - TRỐNG

HỢP NHẤT


Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe



Âm Dương Chiêng Trống hiệp ban ra

Truyền tấu Ý Trời, khắp bao la

Vinh quang truyền Ấn ngày phong Thánh

Linh quang chiếu diệu khắp hà sa

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống



VĂN TẾ KHAI NHẠC

Chủ lễ xướng đọc



Ngày phong Thánh. Sáo, Kèn, Chiêng, Trống

Đờn hòa theo Truyền Thống Thánh Ca

Chung nhau hiệp lực ban ra

Truyền đi Thánh Lễ đăng quang lẫy lừng



(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Cả 3 chủ lễ đồng lạy xuống

Tất cả lắng nghe: Đàn, kèn, sáo chiêng trống tấu bài Thánh Lễ. xong đâu vào đấy. Ban Chủ Lễ tiếp tục xướng đọc Văn Tế. Diễm Văn với giọng trầm hùng

* * *

VĂN TẾ

ĐỌC DIỄN VĂN


Ban chủ lễ quỳ ngay thẳng

Hai bên Tả Hữu chủ lễ chắp tay trước ngực lắng nghe

Chủ lễ xướng đọc văn tế với giọng bồn bi ai

Có đờn bầu cùng các nhạc cụ khác hòa theo



Khổ thay:

Sống ở đời mấy ai là yên ổn

Trần Gian bể khổ!

Chỉ là nơi cõi tạm!

Thế mà hoạn nạn, tai ương, bệnh tật, tử sanh

Một cuộc sống bể dâu!

Lênh đênh ba chìm bảy nổi

Họa vô đơn chí lòng lo mãi

Kiếp con người trần tục

Mấy ai không khổ ải

Nhọc nhằn bươn chải

Nhưng kết quả ra đi, cũng trắng tay

Khéo thương thay

Cuộc sống trần gian

Mãi bán lấy tai ương quanh quẩn

Khổ ơi là khổ

Biết bao thảm cảnh trên đời

Ngậm ngùi rơi lệ kiếp người trần gian

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Chủ lễ xướng đọc tiếp với giọng kể lể

Đờn tranh sáo trúc hòa theo



Một tấm lòng thương

Một cuộc hy sinh

Xả thân vì đời, vì nhân loại anh em

Nào đợi tập rèn, tài trí siêu nhân

Nào đợi giàu sang, tài ba xuất chúng

Chỉ vì người

Một manh áo vải

Lao vào bể khổ cứu với nhân loại anh em

Chỉ một nắm rau ranh

Cũng thấy đà ngon miệng

Màng chi cao lương mỹ vị

Khắp Đông - Tây vạn dặm cứu người

Thời vận may

Gặp Cội gặp Nguồn

Rèn chí lớn trong ngôi nhà Đạo Đức

Gươm nghĩa nhân đầy dũng khí tự tin

Kể chi hiểm nguy

Kể chi bản thân

Kể chi nhọc nhằn gian khổ

Kể chi ngăn cản yêu ma

Chí đại hùng thúc dục

Lòng đại bi nhẫn nhục vượt qua

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Với giọng hào khí cao ngút chủ lễ xướng đọc



Nào sợ chi

Tù ngục đao to búa lớn

Liều mình như chẳng có

Làm cho

Yêu Tinh, Quỉ Dữ kinh hồn bạt vía

Gươm trí huệ

Tuy chưa mài

Nhưng vô cùng sắc bén

Bước dọc ngang theo khí thế Ông Cha

Chữ đức chuyển xây

Chữ tài ẩn nhẫn

Trước mắt là biển khổ

Sau lưng là phiền não, nghiệp dữ hoành hành

Nhưng luôn vững chí

Tận độ dân tình

Chốn trần đời

Bao trùm u minh địa ngục

Khắp nhân sanh tuôn lệ vạn nghìn sầu

Nhìn thế sự lạc vào vinh nhục

Mà quên đi Nguồn Cội Ông Cha

Hỡi mấy ai

Ngược dòng trần thế

Nằm sương gối tuyết

Tắm mưa gội gió

Kể gì thân xác

Vì đại nghĩa

Vượt qua nguy khốn cứu dân

Thà thác mà linh hồn hiển Thánh

Còn hơn sống mà chỉ biết cái ta

Chết đi thành Quỉ thành Ma

Luân hồi sanh tử còn chi Linh Hồn

Phải ra sức!

Ngăn đường Địa Phủ

Thiên Đàng mở cửa khai ra

Chí cứu dân, lòng người Trời Tỏ

Trên Ân Thiên nâng đỡ hiển vinh



(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Chủ lễ xướng đọc giọng trầm hùng cao vút

Nhạc lễ Kèn, trống, chiêng, đàn, sáo hòa theo



Mừng ngày hôm nay!

Ngày anh linh phong thánh

Đại lễ bừng lên

Vũ trụ ngút ngàn tỏa sáng

Nổi lên chiêng trống

Đất trời dậy sóng chuyển rung

Nhạc lễ hòa theo

Đất trời anh linh tỏa sáng

Tiếp nối di chí.

Cha Ông năm nghìn năm Văn Hiến

Truyền trao Ấn Bút

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đồng vui

Tột thế Uy linh.

Nhang đèn khói hương cờ xí

Lời ca tiếng hát, cao ngút trời xanh

Khí thế bừng lên

Truyền thống Cha Ông vang lừng vạn cõi

Anh Linh Quốc Tổ

Sơn hà rực rỡ trỗi xuân

Đất trời chuyển giao

Non sông Rồng Tiên phất phới

Bừng lên Quốc Giáo

Trổi dậy Hồn Thiên sông núi

Khí thế oai linh

Hổ dậy, Rồng bay Phụng múa

Nhân loại hướng về một mối

Đạo cao tột thế

Cơ đồ Thánh Đức Ông Cha

Nối chí Hùng Vương

Sừng sững công ơn Quốc Tổ



Nhớ thuở xưa!

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Khai sanh tất cả!

Vũ trụ, tam thiên, ba cõi

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Nhật, Nguyệt, Tinh Tú

Thiên Địa Càn Khôn

Muôn loài vạn vật sanh linh

Công lao gian nan vất vả

Để lại cháu con thừa hưởng

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Chủ lễ xướng đọc với giọng khoan thai

Ngân nga.



Đẹp thay!

Những ai có tấm lòng nhớ tưởng

Vẻ vang thay! rực rỡ thay!

Những ai bước vào ngôi Thánh Đức

Tiếp nối mặt trời Thiên Ấn

Mãi sáng bừng 84 triệu năm

Chí công lao một thời khó khăn

Mà trải dài muôn ức vạn nghìn thế hệ

Cội Tiên Rồng trên ngôi cao chín bệ

Năm màu da đồng loại anh em

Xin cúi nguyện!

Tình đồng loại, nghĩa Đồng Bào

Mãi thương yêu đùm bọc chan hòa

Một Cội năm nhành!

Năm màu da luôn đoàn kết keo sơn

Nền Thiên Luật Cha Ông, luôn rộng mở

Dựng cơ đồ theo di chí Quốc Tổ Hùng Vương

Hết dạ vì dân

Tiếp Ấn Trời Cha không gì lay chuyển

Hùng khí Cha Ông vạn tuế muôn năm

Sơn Hà trỗi dậy ứng linh

Non Sông Tổ Quốc chuyển mình cao bay

* * *

TIẾP THEO

LỄ PHONG ẤN

DO HỘI ĐỒNG THÁNH ĐỨC TRUYỀN TRAO VÀ LỜI TUYÊN THỆ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHONG ẤN


1 - Là nguyện hết lòng Phụng sự: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đời đời kiếp kiếp. Sống theo Thiên Ý hành theo Thiên Luật.

2 - Là nguyện hết lòng Phụng sự nhân loại am em. Làm cho nhân loại anh em hội nhập Cội Nguồn trở thành chánh đẳng chánh giác, trí huệ như hải.

3 - Là nguyện hòa đồng cùng Hội Thánh coi nhau như anh em ruột thịt chan hòa. Keo sơn chặt chẽ. Đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công đại thành công.



LỜI THỀ QUYẾT ĐỊNH


Đã trở thành Đạo Viên. Thiên Đạo Cội Nguồn Tối Cao Vũ Trụ mà phản lại lời Nguyện Thệ của chính mình. Thời căn thân linh hồn sẽ bị hủy diệt. Không mong gì trở lại kiếp con người. Đời đời khốn khổ sa đọa nơi u tối. XIN THỀ, XIN THỀ, XIN THỀ.



NHỮNG VỊ ĐƯỢC PHONG THÁNH ĐỒNG TỤNG BÀI KỆ TÁN THÁN UY LINH TỔ TIÊN CHA TRỜI MẸ TRỜI CÓ NHẠC KÈM THEO



Đấng Cha Ông Vô Thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Tổ Tiên khắp trời người

Nay con nguyện nương về

Dâng lên lời ca ngợi

Ức kiếp không cùng tận

Cội Cha Ông như như rỗng lặng

Cảm ứng linh chẳng thể nghĩ bàn

Pháp Thân vi diệu đạo tràng

Ứng linh, linh ứng khắp cùng ứng linh

Chúng con thệ nguyện quy y

Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành

Nam Mô vô tận Cội Nguồn

A Men như ý nguyện thành A Men

(đánh hồi Chiêng hồi Trống bế mạc kết thúc)

Các vị Thánh lễ bái rồi lui ra

Lễ phong Ấn, phong Thánh đến đây là hết.

* * *


Những điều cần chú ý:

Quốc Bảo khai kinh là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt. Cho phù hợp tình thế, NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như cá nhân có trách nhiệm đứng ra tổ chức khai kinh. Không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm, hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi tổ chức hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.

* * *
 
KHAI KINH SỐ 7

ĐỌC TỤNG NHÂN LUÂN

HIẾU NGHĨA




Chuông đánh ba hồi 3 tiếng, thắp đèn đốt hương

Chắp tay ngang ngực niệm

Án Lam xóa ha (3 lần)

Đánh tiếng chuông niệm tiếp

Án Ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.

Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)

Tiếp theo

Lạy 3 lạy quỳ ngay thẳng cầm ba cây hương ngang trán niệm.

Nguyện đem lòng thành kính

Cầu lên đức Tổ Tiên

Cha Trời cùng Địa Mẫu

Cứu khổ chúng chúng con

Tai họa biến tiêu tan

Sống bình yên an lạc



CẦU NGUYỆN

Nay có Con, Cháu, Đệ Tử tên là:--------------------ở tại Thôn-----------------Xã-----------------Quận/Huyện----------------Tỉnh-----------------Nước Việt Nam

Tại nơi Cư Gia, Am, Thất, Miếu, Đình, Đền, Chùa. Tụng kinh trì chú. Nhơn Luân Hiếu Nghĩa. Xả bỏ mê đồ. Siêu sanh thiên giới. Gia đình hạnh phúc, gia đạo yên vui. Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh chứng giám. Nam Mô A Men.

Nhất tâm cung kính: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối cao Tam Bảo. Pháp Thân vô cùng vô tận khắp pháp giới hư không. Bao trùm quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính: Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính: Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Pháp Thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Khắp cả Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)



KHAI KINH

Gõ 5 tiếng Chuông xong. Gõ 4 tiếng Mõ rời từng tiếng một, nghỉ hai nhịp. Tiếp theo gõ hai tiếng Mõ liền nhau, rồi nghỉ một nhịp gõ tiếng Mõ cuối cùng, tổng cộng là 7 tiếng Mõ.

Sau đó Chuông - Mõ hòa nhau như sau.

Chuông một tiếng, Mõ một tiếng.

Chuông đủ 3 tiếng, thời ngưng chờ Mõ đánh thêm một tiếng nữa, tiếng thứ 4, thứ 5, thứ 6 liền nhau rồi Chuông gõ cùng lúc với tiếng Mõ thứ 7.



Tiếp theo là xướng kệ, tụng kinh



Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)



Tụng kinh công đức thù thắng hạnh

Tiêu tan tai họa chuyển siêu sanh

Phổ nguyện Cha Trời Thiên Ý Luật

Về Trời hưởng phước rạng uy danh

(gõ chuông đồng bái lạy)



Nguyện theo Truyền Thống chí Cha Ông

Phổ hóa Chân Như Cội đại đồng

Tiêu tan nghiệp chướng vô ức kiếp

Diệt trừ phiền não huệ linh thông

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)



Nguyện theo Nguồn Cội Đức Trời Cha

Thành Phật, Thánh, Tiên khắp hà sa

Cứu khổ ban vui cùng nhân loại

Từ Bi mở rộng huệ nở hoa

Cha Trời, Địa Mẫu sáng soi

Chứng tri công đức chúng con hành trì

Lời kinh chuyển khắp, Hửu, Vô vi

Gieo nền Chánh Giáo sanh sôi nẩy mầm

Lời kinh tận độ khắp cùng

Xóa tan khốn khổ trở về Thiên Ban

Nam Mô vô tận hư không

A Men như ý ước mong đạt thành

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Phần khai kinh đến đây là hết



Tiếp theo là phần tụng kinh. Chọn lấy những phần kinh trong Kinh Nhân Luân, Hiếu Nghĩa. Trì Tụng.

* * *

Tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa xong

Thời xướng tụng đọc tam nguyện.



Nam Mô A Men:

Đương nguyện Thế Nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Ban hộ niệm cũng như ban trì tụng đồng xướng kệ tụng đọc rằng.

Nguyện đem công đức nầy

Hồi hướng đến khắp cùng

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Hết khổ sống hạnh phúc an vui

* * *

Phần khai kinh, cũng như tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa đến đây là hết.

* * *
 
KHAI KINH SỐ 8
NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU
CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU

NGHI THỨC
Đại chúng tề tựu, ban chủ lễ thắp đèn, đốt hương. Một bên Duyệt chúng (Mõ) một bên duy ma (chuông) ban chủ lễ đứng ngay ngắn chắp tay trước ngực. Nghe chuông đánh ba hồi 3 tiếng.
Chủ Lễ bước tới trước một bước mật niệm.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Án lam xóa ha (đọc 3 lần)
Gõ tiếng chuông niệm tiếp

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám
Chủ Lễ lạy quỳ ngay thẳng. Cầm 3 cây hương dâng lên ngang trán xướng niệm.
Nguyện đem lòng thành kính
Dâng lên đấng Tổ Tiên
Đấng tối cao thiêng liêng
Cùng Cha Trời, Địa Mẫu
Phật, Thánh, Tiên, cao cả
Khắp pháp giới mười phương
Nguyện tối cao ân trên
Cảm ứng linh gia hộ
Cảm ứng linh tận độ
Xa biển khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN
Kim (nay) có đệ tử chúng con tên là:--------------------
Niên --------------nguyệt-----------------nhật----------------
Kim cứ (Tại) Cư Gia, Chùa, Đình, Đền, Thất, Thôn--------------------Xã----------------------
Quận/Huyện-----------------------Tỉnh----------------------Nước Việt Nam.
Gia Đường: Kiến đàn cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tu hương phúng kinh--------------(phục hồn) Tiên Linh húy kỵ----------------) cầu siêu độ sự.
Kim (nay) tên gia chủ ------------------phụng vị-------------
Tên hương linh. Dứt sạch nghiệp chướng, tốc xả mê đồ siêu sanh Thiên Giới. Cung kính Cha Trời Mẹ Trời. Duy nguyện phù thùy chứng giám.

TÁN DƯƠNG
Đấng Cha Ông Tối Thượng
Vũ Trụ chẳng ai bằng
Cội Nguồn của muôn loài
Cha Trời luôn truyền dạy
Quy Y về Nguồn Cội
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Siêu sanh trở về trời
Hưởng phước vô cùng tận.

QUÁN TƯỞNG
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Cảm ứng linh không thể nghĩ bàn
Pháp thân vi diệu Đạo Tràng
Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Cội Nguồn cung kính quy y
Về trời sống mãi không gì vui hơn.

KÍNH LỄ
Nhất tâm cung kính:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối cao Tam Bảo. Cội Nguồn tất cả. Khắp pháp giới hư không. Bao trùm Trần Gian, Thiên Đàng Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nhất tâm cung kính:
Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nhất tâm cung kính:
Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ. Pháp thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ khắp Ta Bà thế giới sanh linh.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Ban Chủ Lễ cũng như ban hộ niệm đồng tụng LONG HOA ĐẠI BI ở phần đầu Quốc Bảo Khai Kinh

TÁC BẠCH TIÊN SỚ
Kế thủ ứng linh đấng Cha Ông
Cảm tương phước đức khấc từ ân
Vô biên khổ ải, vô biên dứt
Ngũ thể đầu thành tịnh lục căn.

Kim hữu đệ tử chúng con.------------------phụng sự tu hương phúng kinh-----------------(tịch điện” trai tuần, húy kỵ)--------------kỳ siêu độ sự.
Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy hào tướng quang trung, phủ thùy minh chứng. (đọc sớ)

PHỤC DĨ:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ban xuống ân sâu. Ứng linh giải thoát chi môn. Siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc.

BÀI VỊ SỚ:
Việt Nam Quốc.-------------------Tỉnh-------------------Quận/Huyện. Hiện trú ngụ tại Thôn----------------Xã Phụng sự tu hương phúng kinh (thiên cửu------------------ (*) --------------húy kỵ) Khai kinh chi lễ báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử (tang chủ) Đồng gia môn hiếu quyến. Nội, Ngoại đại tiểu đẳng.

DUY NHẬT BÁI CAN
Cội Nguồn Cha Ông phủ thùy tiếp độ

THỐNG NIỆM
Phụng vị------------------(phủ quân” nhụ nhơn” chi linh cửu) chi linh.

TRƯỢNG THỪA
Cội Nguồn: Dĩ siêu thăng. Toàn lại Thiên Bút Kinh Văn nhi giải thoát tư lâm------------ (*) -------------khai kinh chi lễ, kiền trượng thiền hòa (Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng Đại Thừa. Đại Đạo Thiên Ý Trời Cha. Gia trì siêu sanh Thiên Giới.

ĐẢNH LỄ
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tập thử hương nhơn cầu siêu độ sự. Kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái bạch.
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tác đại chứng minh
Nam Mô A Men
Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa. Tác đại chứng minh.
Nam Mô A Men

CUNG PHỤNG
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tiếp dẫn. Địa Tạng Từ Tôn, tiếp xuất u đồ chi khổ. Minh Dương Liệt Thánh đồng thùy mẫn niệm chi tâm.

PHỤC NGUYỆN
Từ bi vô lượng lân mẫn hữu tình. Tiếp hương linh Thiên Đàng Cực Lạc tiêu diêu. Phò dương quyến Nam Sơn thọ khảo.

NGƯỠNG LẠI
Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn sớ.
Tuế thứ ---------------niên--------------nguyệt--------------nhật.
Con Cháu đệ tử chúng đẳng:
Hòa Nam Thượng Sớ.

Nếu không sớ thì:
Kim tắc (1) Cung Bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện từ bi phủ thùy tiếp độ:
Phụng vị --------------tên hương linh---------------chi hương linh. Nguyên thừa ơn trên dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Khuông phò Tín Chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt Lại hồng ân Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn bạch.

LINH CHÚ DIỆT TỘI CHƠN NGÔN
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế. Đà la ni đế, ni ha ra đế
Ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha (3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Đồng niệm: cho đến khi rước linh ảnh, hoặc bài vị đến trước bàn thờ Cha Trời Mẹ Trời.
Nam Mô A Men. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa linh ứng, ứng linh.

CHỦ LỄ XƯỚNG
Trở về Cội Nguồn. Thành Tâm kính lễ
Đồng Hòa.
Tam Bái
Hữu chức xướng:
Hồ quỳ:
Hương Linh quy y Cội Nguồn
Hương Linh quy y Cha Trời
Hương Linh quy y Địa Mẫu
Hương Linh quy y Cội Nguồn. Hương Linh không còn sanh tử
Hương Linh quy y Cha Trời. Hương Linh không còn khổ não
Hương Linh quy y Mẹ trời. Hương Linh không còn sa vào ác đạo
Hương Linh trở về Cội Nguồn. Hương Linh thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

NGUYỆN
Tổ Tiên Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang tiếp độ ------------------Phục vị ----------------chi Hương Linh

ĐỒNG HÒA
Siêu sanh Thiên Giới

CHỦ LỄ SÁM THÁN
Tội từ tâm khởi, đem tâm sám
Tâm giác ngộ rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là chơn sám hối
Nguyện Hương Linh.

ĐỒNG HÒA
Tội ức kiếp biến tan

ĐỒNG TÁN
Thiện Tài đồng tử
Ngũ phận tam tham
Siêu sanh tử độ hương hồn
Tảo vãng về trời
Nhược nhơn, nhược nhơn quy y Nguồn Cội
Bất đọa tam đồ:
Nam Mô A Men: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chứng minh (3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG
Linh tại Cửu Huyền, đảnh lễ tạ

ĐỒNG HÒA
Tam Bái

TẢ CHỨC XƯỚNG
Thỉnh Linh hoàn cựu sở.

KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG:
Long Hoa bát nhã mật đa tâm kinh. Ở phần sau cùng Quốc Bảo khai kinh.

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.

HỒI HƯỚNG
Cầu siêu công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh
Tốc vãng vô lượng quang siêu độ
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Nguyện theo Thiên Ý hành Đại Đạo
Nguyện an trụ chân như Nguồn Cội
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sanh
Giai cọng thành Đại Đạo.

PHỤC NGUYỆN
Đệ Tử Chúng Đẳng: Cập Tín Chủ cung tựu Cha Trời Địa Mẫu, phúng tụng đại thừa kinh chú, xưng tán hồng danh Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Công đức chuyên vì kỳ siêu Hương Linh-----------------pháp danh---------------tốc xả mê đồ, siêu sanh Thiên Giới. Nhất thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu.
Nguyện Hương Linh đắc Đạo cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc. Âm Siêu Dương thái, pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình. Nhân Loại anh em khắp cùng, tề thành Đại Đạo.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cứu khổ ban xuống ân sâu

TAM TỰ QUY Y
Tự Quy Y Nguồn Cội: Tổ Tiên, tối cao vô thượng.
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thế giải Đại Đạo phát vô Thượng Tâm.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)
Tự Quy Y Thiên Ấn, Thiên Bút:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân Loại anh em, thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)
Tự Quy Y Cha Trời, Địa Mẫu:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 3 lạy bái bốn bái)
* * *
SỚ LÀM TUẦN
Vạn Đức Từ Tôn. Chững tế u minh chi lộ----------------tuần phủ chi kiền, kỳ tiến bạt chi chương. Nhứt niệm chí thành, thập phương cảm cách.

BÀI SỚ VỊ
Việt Nam Quốc--------------Tỉnh------------------Quận/Huyện------------------Xã--------------------Thôn. Cung tự vu----------------------Tự Phụng Sự tu hương phúng kinh--------------------chi trai tuần báo đức thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử chúng con--------------------
Duy Nhật Bái Can:
Cội Nguồn Tối Cao: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phủ thùy tiếp độ.

THỐNG NIỆM
Phụng vị---------------------
Trượng Thừa:
Hồng Ân Cha Trời, Địa Mẫu, ban cho các cõi nước Trời. Y diệu pháp cao đăng Thiên Đàng Cực Lạc.
Tư Lâm-----------------Chi trai tuần. Chánh tri khôn phủ đệ----------------Điện------------------Minh Vương án tiền trình quá. Do thị túc thanh phạm vũ. Tổ Triễn trai nghi, kiền trượng thiền hòa tuyên dương pháp sự. Phúng tụng Đại Thừa. Pháp bảo tôn kinh. Gia thì vãng sanh tịnh độ thần chú.

ĐẢNH LỄ
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tam Thân Bửu Tướng. Vạn Đức Kim Dung, tập thử Thiện Nhơn. Kỳ cầu siêu độ. Kim tắc cẩn cụ, sớ văn hòa nam bái bạch.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu hóa độ Linh Căn cảm ứng chứng minh.
Nam Mô A Men:
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cảm ứng chứng minh

DIÊM PHỤNG
Tam thừa Thượng Thánh. Tứ Phủ Vương Quan. Thập Điện Tử Vương. Minh Vương Liệt Thánh đồng thùy tiếp độ, cộng chứng vãng sanh.

PHỤC NGUYỆN
Từ Bi bất xả. Tế độ vô biên. Quá giả xá. Tội giả trừ. Tiếp Hương Linh, suyền đăng siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Phước tự tăng, lộc tự chí.
Bảo nhi tôn thọ hưởng Nam Sơn.

NGƯỠNG LẠI
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Chứng minh cẩn sớ
Tuế thứ---------------niên---------------nguyệt---------------
Đệ Tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
* * *
Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh, là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt kinh văn. Cho phù hợp khuôn khổ hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng người tổ chức khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.
* * *
 
KHAI KINH SỐ 8
NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU
CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU

NGHI THỨC
Đại chúng tề tựu, ban chủ lễ thắp đèn, đốt hương. Một bên Duyệt chúng (Mõ) một bên duy ma (chuông) ban chủ lễ đứng ngay ngắn chắp tay trước ngực. Nghe chuông đánh ba hồi 3 tiếng.
Chủ Lễ bước tới trước một bước mật niệm.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Án lam xóa ha (đọc 3 lần)
Gõ tiếng chuông niệm tiếp

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám
Chủ Lễ lạy quỳ ngay thẳng. Cầm 3 cây hương dâng lên ngang trán xướng niệm.
Nguyện đem lòng thành kính
Dâng lên đấng Tổ Tiên
Đấng tối cao thiêng liêng
Cùng Cha Trời, Địa Mẫu
Phật, Thánh, Tiên, cao cả
Khắp pháp giới mười phương
Nguyện tối cao ân trên
Cảm ứng linh gia hộ
Cảm ứng linh tận độ
Xa biển khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN
Kim (nay) có đệ tử chúng con tên là:--------------------
Niên --------------nguyệt-----------------nhật----------------
Kim cứ (Tại) Cư Gia, Chùa, Đình, Đền, Thất, Thôn--------------------Xã----------------------
Quận/Huyện-----------------------Tỉnh----------------------Nước Việt Nam.
Gia Đường: Kiến đàn cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tu hương phúng kinh--------------(phục hồn) Tiên Linh húy kỵ----------------) cầu siêu độ sự.
Kim (nay) tên gia chủ ------------------phụng vị-------------
Tên hương linh. Dứt sạch nghiệp chướng, tốc xả mê đồ siêu sanh Thiên Giới. Cung kính Cha Trời Mẹ Trời. Duy nguyện phù thùy chứng giám.

TÁN DƯƠNG
Đấng Cha Ông Tối Thượng
Vũ Trụ chẳng ai bằng
Cội Nguồn của muôn loài
Cha Trời luôn truyền dạy
Quy Y về Nguồn Cội
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Siêu sanh trở về trời
Hưởng phước vô cùng tận.

QUÁN TƯỞNG
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Cảm ứng linh không thể nghĩ bàn
Pháp thân vi diệu Đạo Tràng
Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Cội Nguồn cung kính quy y
Về trời sống mãi không gì vui hơn.

KÍNH LỄ
Nhất tâm cung kính:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối cao Tam Bảo. Cội Nguồn tất cả. Khắp pháp giới hư không. Bao trùm Trần Gian, Thiên Đàng Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nhất tâm cung kính:
Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nhất tâm cung kính:
Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ. Pháp thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ khắp Ta Bà thế giới sanh linh.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Ban Chủ Lễ cũng như ban hộ niệm đồng tụng LONG HOA ĐẠI BI ở phần đầu Quốc Bảo Khai Kinh

TÁC BẠCH TIÊN SỚ
Kế thủ ứng linh đấng Cha Ông
Cảm tương phước đức khấc từ ân
Vô biên khổ ải, vô biên dứt
Ngũ thể đầu thành tịnh lục căn.

Kim hữu đệ tử chúng con.------------------phụng sự tu hương phúng kinh-----------------(tịch điện” trai tuần, húy kỵ)--------------kỳ siêu độ sự.
Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy hào tướng quang trung, phủ thùy minh chứng. (đọc sớ)

PHỤC DĨ:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ban xuống ân sâu. Ứng linh giải thoát chi môn. Siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc.

BÀI VỊ SỚ:
Việt Nam Quốc.-------------------Tỉnh-------------------Quận/Huyện. Hiện trú ngụ tại Thôn----------------Xã Phụng sự tu hương phúng kinh (thiên cửu------------------ (*) --------------húy kỵ) Khai kinh chi lễ báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử (tang chủ) Đồng gia môn hiếu quyến. Nội, Ngoại đại tiểu đẳng.

DUY NHẬT BÁI CAN
Cội Nguồn Cha Ông phủ thùy tiếp độ

THỐNG NIỆM
Phụng vị------------------(phủ quân” nhụ nhơn” chi linh cửu) chi linh.

TRƯỢNG THỪA
Cội Nguồn: Dĩ siêu thăng. Toàn lại Thiên Bút Kinh Văn nhi giải thoát tư lâm------------ (*) -------------khai kinh chi lễ, kiền trượng thiền hòa (Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng Đại Thừa. Đại Đạo Thiên Ý Trời Cha. Gia trì siêu sanh Thiên Giới.

ĐẢNH LỄ
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tập thử hương nhơn cầu siêu độ sự. Kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái bạch.
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tác đại chứng minh
Nam Mô A Men
Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa. Tác đại chứng minh.
Nam Mô A Men

CUNG PHỤNG
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tiếp dẫn. Địa Tạng Từ Tôn, tiếp xuất u đồ chi khổ. Minh Dương Liệt Thánh đồng thùy mẫn niệm chi tâm.

PHỤC NGUYỆN
Từ bi vô lượng lân mẫn hữu tình. Tiếp hương linh Thiên Đàng Cực Lạc tiêu diêu. Phò dương quyến Nam Sơn thọ khảo.

NGƯỠNG LẠI
Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn sớ.
Tuế thứ ---------------niên--------------nguyệt--------------nhật.
Con Cháu đệ tử chúng đẳng:
Hòa Nam Thượng Sớ.

Nếu không sớ thì:
Kim tắc (1) Cung Bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện từ bi phủ thùy tiếp độ:
Phụng vị --------------tên hương linh---------------chi hương linh. Nguyên thừa ơn trên dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Khuông phò Tín Chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt Lại hồng ân Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn bạch.

LINH CHÚ DIỆT TỘI CHƠN NGÔN
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế. Đà la ni đế, ni ha ra đế
Ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha (3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Đồng niệm: cho đến khi rước linh ảnh, hoặc bài vị đến trước bàn thờ Cha Trời Mẹ Trời.
Nam Mô A Men. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa linh ứng, ứng linh.

CHỦ LỄ XƯỚNG
Trở về Cội Nguồn. Thành Tâm kính lễ
Đồng Hòa.
Tam Bái
Hữu chức xướng:
Hồ quỳ:
Hương Linh quy y Cội Nguồn
Hương Linh quy y Cha Trời
Hương Linh quy y Địa Mẫu
Hương Linh quy y Cội Nguồn. Hương Linh không còn sanh tử
Hương Linh quy y Cha Trời. Hương Linh không còn khổ não
Hương Linh quy y Mẹ trời. Hương Linh không còn sa vào ác đạo
Hương Linh trở về Cội Nguồn. Hương Linh thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

NGUYỆN
Tổ Tiên Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang tiếp độ ------------------Phục vị ----------------chi Hương Linh

ĐỒNG HÒA
Siêu sanh Thiên Giới

CHỦ LỄ SÁM THÁN
Tội từ tâm khởi, đem tâm sám
Tâm giác ngộ rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là chơn sám hối
Nguyện Hương Linh.

ĐỒNG HÒA
Tội ức kiếp biến tan

ĐỒNG TÁN
Thiện Tài đồng tử
Ngũ phận tam tham
Siêu sanh tử độ hương hồn
Tảo vãng về trời
Nhược nhơn, nhược nhơn quy y Nguồn Cội
Bất đọa tam đồ:
Nam Mô A Men: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chứng minh (3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG
Linh tại Cửu Huyền, đảnh lễ tạ

ĐỒNG HÒA
Tam Bái

TẢ CHỨC XƯỚNG
Thỉnh Linh hoàn cựu sở.

KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG:
Long Hoa bát nhã mật đa tâm kinh. Ở phần sau cùng Quốc Bảo khai kinh.

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.

HỒI HƯỚNG
Cầu siêu công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh
Tốc vãng vô lượng quang siêu độ
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Nguyện theo Thiên Ý hành Đại Đạo
Nguyện an trụ chân như Nguồn Cội
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sanh
Giai cọng thành Đại Đạo.

PHỤC NGUYỆN
Đệ Tử Chúng Đẳng: Cập Tín Chủ cung tựu Cha Trời Địa Mẫu, phúng tụng đại thừa kinh chú, xưng tán hồng danh Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Công đức chuyên vì kỳ siêu Hương Linh-----------------pháp danh---------------tốc xả mê đồ, siêu sanh Thiên Giới. Nhất thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu.
Nguyện Hương Linh đắc Đạo cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc. Âm Siêu Dương thái, pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình. Nhân Loại anh em khắp cùng, tề thành Đại Đạo.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cứu khổ ban xuống ân sâu

TAM TỰ QUY Y
Tự Quy Y Nguồn Cội: Tổ Tiên, tối cao vô thượng.
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thế giải Đại Đạo phát vô Thượng Tâm.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)
Tự Quy Y Thiên Ấn, Thiên Bút:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân Loại anh em, thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)
Tự Quy Y Cha Trời, Địa Mẫu:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 3 lạy bái bốn bái)
* * *
SỚ LÀM TUẦN
Vạn Đức Từ Tôn. Chững tế u minh chi lộ----------------tuần phủ chi kiền, kỳ tiến bạt chi chương. Nhứt niệm chí thành, thập phương cảm cách.

BÀI SỚ VỊ
Việt Nam Quốc--------------Tỉnh------------------Quận/Huyện------------------Xã--------------------Thôn. Cung tự vu----------------------Tự Phụng Sự tu hương phúng kinh--------------------chi trai tuần báo đức thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử chúng con--------------------
Duy Nhật Bái Can:
Cội Nguồn Tối Cao: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phủ thùy tiếp độ.

THỐNG NIỆM
Phụng vị---------------------
Trượng Thừa:
Hồng Ân Cha Trời, Địa Mẫu, ban cho các cõi nước Trời. Y diệu pháp cao đăng Thiên Đàng Cực Lạc.
Tư Lâm-----------------Chi trai tuần. Chánh tri khôn phủ đệ----------------Điện------------------Minh Vương án tiền trình quá. Do thị túc thanh phạm vũ. Tổ Triễn trai nghi, kiền trượng thiền hòa tuyên dương pháp sự. Phúng tụng Đại Thừa. Pháp bảo tôn kinh. Gia thì vãng sanh tịnh độ thần chú.

ĐẢNH LỄ
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tam Thân Bửu Tướng. Vạn Đức Kim Dung, tập thử Thiện Nhơn. Kỳ cầu siêu độ. Kim tắc cẩn cụ, sớ văn hòa nam bái bạch.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu hóa độ Linh Căn cảm ứng chứng minh.
Nam Mô A Men:
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cảm ứng chứng minh

DIÊM PHỤNG
Tam thừa Thượng Thánh. Tứ Phủ Vương Quan. Thập Điện Tử Vương. Minh Vương Liệt Thánh đồng thùy tiếp độ, cộng chứng vãng sanh.

PHỤC NGUYỆN
Từ Bi bất xả. Tế độ vô biên. Quá giả xá. Tội giả trừ. Tiếp Hương Linh, suyền đăng siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Phước tự tăng, lộc tự chí.
Bảo nhi tôn thọ hưởng Nam Sơn.

NGƯỠNG LẠI
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Chứng minh cẩn sớ
Tuế thứ---------------niên---------------nguyệt---------------
Đệ Tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
* * *
Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh, là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt kinh văn. Cho phù hợp khuôn khổ hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng người tổ chức khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.
* * *
 
KHAI KINH SỐ 9
NGHI THỨ TANG LỄ CƯ GIA
LỄ KHAI KINH

CỬ TÁN
Tâm nhiên ngũ phận
Phổ biến thập phương
Hương yên đồng tử ngộ chơn thường
Tỷ quán thiệt nan lường
Thoại ái trường quang
Kham hiến pháp trung ương.

Nam Mô A Men: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa (3 lần)

CỬ TÁN TIẾP
Hải chấn triều Âm thuyết phổ môn
Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn
Dương chi nhất đích chơn cam lộ
Tán tác sơn hà địa địa xuân.

Nam Mô A Men: Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

CHỦ LỄ NÓI PHÁP NGỮ
Phù thử thủy giả
Bát công đức thủy tự thiên chơn
Tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần
Biến nhập tỳ lô hoa tạng giới
Cá trung vô xứ bất siêu luân
Thủy bất tẩy thủy
Diệu cực pháp thân
Trần bất nhiễm trần
Phản tác tự kỷ
Quyên trừ Nội Ngoại
Đản địch đàn tràng
Sái khô mộ chi, tác dương xuân (hay phùng xuân)
Kiết uế ban nhi thành tịnh độ
Sở vị Đạo Nội Ngoại
Trung Gian vô trược uế
Thánh, Phàm, u hiển
Tổng thanh lương

CỬ TÁN
Bồ Tát liễu đầu cam lộ thủy
Năng linh nhất đích biến thập phương
Tinh chuyên cấu uế tận tiêu trừ
Phổ sái pháp diên (đàn tràng) tất tịnh thanh.

Nam Mô A Men Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu (3 lần)

CHỦ LỄ CỬ
Giáo hữu Đại Bi Chơn Ngôn cẩn trì y tụng.

ĐỒNG TỤNG LONG HOA ĐẠI BỊ
Ở phần trước Quốc Bảo Khai Kinh
Tụng xong Chủ Lễ

CỬU TÁN
Cha Trời Địa Mẫu: Như tịnh mãn nguyện. Diệt như thiên nhật phóng quang minh.
Viên quang phổ chiếu ư thập phương
Hỷ xả từ bi giai cụ túc
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Vô tận hư không cảm ứng linh thiên khắp cùng vũ trụ.

CHỦ LỄ XƯỚNG
Kê thủ từ bi đấng Giác Tôn
Cảm đương phước đức khất từ ân
Vô biên khổ ải vô biên chứng
Ngũ thể đầu thành sạch nhục căn
Chí Tôn: Đức tướng nan tận tán dương
Kim hữu đệ tử ------------------chúng đẳng tu hương hiến cúng phúng kinh----------------(khai kinh------------------)
Kỳ siêu độ sự.
Kim tắc cần cụ khai khởi sớ chương: Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy nguyện từ bi phủ thùy chứng giám.
(đến đây công văn đọc sớ)

CỬ TÁN
Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh thiên
Cứu độ Hồn Linh khắp mọi miền
Thành tâm cung kính dù một niệm
Siêu sanh thiên giới sống bình yên
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. (3 lần).

ĐỒNG TỤNG
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG
LONG HOA BÁT NHÃ MẬT ĐA TÂM KINH
Ở phần sau cùng Quốc Bảo Khai Kinh
Xong rồi tiếp đến tụng vãng sanh quyết định chơn ngôn
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha dà đa dạ. Đá địa dạ tha. A di lị đô bà tỳ. A di li đá, tất đam bà tỳ. A di li đá, tỳ ca lan đế. A di li đá, tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ. Ta bà ha (3 lần)

ĐỒNG TỤNG:
Nguyện sanh Thiên Giới sống an vui
Cực Lạc trường sanh không già chết
Trở về Nguồn Cội ngộ tâm giải thoát
Hết khổ hết sầu dứt đọa sa.

ĐỒNG HÒA
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, ứng linh khắp cả pháp giới hư không cứu khổ Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.

ĐỒNG XƯỚNG TỤNG:
Cội Cha Ông hư không rỗng lặng
Cảm ứng linh khó đặng nghĩ bàn
Pháp Thân vi diệu Đạo Tràng
Linh Linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Chúng con thệ nguyện quy y
Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men
* * *
GHI CHÚ
Trước khi làm lễ khai kinh. Trên bàn phải có quyển kinh để sẵn. Trong lúc đại chúng tụng tám câu kinh kệ nầy. Vị Chủ Lễ đưa tay trái mở quyển kinh ra thời mới đúng pháp khai kinh.
* * *
BÀI SÁM TÁNG
Đưa Tang. Hay Tụng Kinh siêu độ hồn linh
Cõi hồng trần gởi thân trăm tuổi
Kiếp phù sanh thay đổi vô thường
Có thân nên khổ không ngừng
Sanh già bệnh tử có chừa ai đâu
Bởi phàm thân khó mong tránh khổ
Thân mất rồi chôn bỏ nghĩa trang
Hay là tống táng đồng hoang
Hay là chôn cất xốm làng cách xa
Mau giác ngộ thiện tâm giải thoát
Nương Cội Nguồn chuyển kiếp siêu sanh
Cha Trời, Địa Mẫu anh linh
Thần thông vô hạn vô biên tận cùng
Hồn Linh nhớ niệm Cha Trời
Siêu thăng cực lạc phản hồi Thiên Quê
Xa Cội Nguồn lạc lối lầm mê
Vô Minh xây chuyển ê hề họa tai
Trần gian cõi tạm xưa nay
Sống thời còn đó trắng tay lìa trần
Khi chết đi sang giàu cũng bỏ
Hồn ra đi muôn thuở trở về
Dù cho giàu đến cỡ nào
Cũng đành bỏ lại rốt cùng như không
Còn thân còn cả giang sang
Mất thân đến cả cả cháu con cũng lìa
Hồn thức tỉnh mau về Nguồn Cội
Niệm Trời Cha hết tội siêu thăng
Không còn sa đọa chuyển luân
Ra vào ba cõi xuống lên sáu đường
Đời dĩ vãng gương người còn đó
Tranh giành nhau nào có được chi
Làm vua đến lúc ra đi
Cung vàng điện ngọc đem theo được nào
Gieo nghiệp ác Âm Tào tới trước
Cõi Âm Ti muôn kiếp khốn nguy
Hồn linh khốn khổ biết bao
Hành hình đủ thứ đớn đau nghìn trùng
Khi còn sống không tìm về Cội
Thân mất rồi Hồn lạc sông mê
Ác nghiệp xây chuyển thảm thê
Luân hồi báo quả biết bao thảm sầu
Hồn mau tỉnh quay đầu bờ giác
Nghe kệ kinh giải thoát họa tai
Mau mau tỉnh giấc u mê
Tìm về Nguồn Cội theo chân Cha Trời
Quyền lực mấy kiếp người giả tạm
Sang đến đâu khó trọn mang theo
Rốt rồi tất cả đều không
Chỉ còn nghiệp ác mang theo đọa đày
Trường danh lợi mưu nầy kế nọ
Án công hầu thủ đoạn đua chen
Sang, giàu, nghèo, khổ tài năng
Chung quy rồi cũng một phen tan tành
Kiếp bụi trần trả lại bụi trần
Hồn lìa khỏi xác thảy đều trắng tay
Bao những kẻ lầm mê tàn bạo
Tưởng đâu rằng sự nghiệp muôn năm
Thủy Hoàng thời được cái chi
Hít-Le đổ nát biết bao nhọc nhằn
Vậy mới biết sang hèn quyền thế
Dại với khôn giàu có vua quan
Cuối cùng một nấm mồ hoang
Cái thân thối rữa đất ăn còn gì
Ôi sách sử còn ghi phản tỉnh
Họ Thạch giàu hơn cả ông vua
Cuối cùng cũng lại trắng tay
Chết đi hóa kiếp sanh ra thằn lằn
Hồn ơi hỡi phản hồi thức tỉnh
Tám trăm năm Bành Tổ sống lâu
Cuối cùng xác cũng già nua
Xác trần bỏ lại ở nơi cõi trần
Biết bao kẻ xanh mày mặt ngọc
Biết bao người vàng bạc ức muôn
Xem đi xét lại chung quy
Cuối cùng rốt lại còn chi sạch sành
Hãy tỉnh giấc quy về Nguồn Cội
Niệm Trời Cha vạn hội siêu thăng
Thiên Đàng cực lạc an ban
Đất đai châu báu hào quang sáng ngời
Mùi tục lụy vướng vào là khổ
Bả lợi danh cám dỗ khốn nguy
Sống thời thấy chết còn chi
Mấy ai sống mãi uổng công tranh giành
Còn chút trí xét đời nghĩ lại
Chốn trần gian cõi tạm vô thường
Vắng đi hơi thở còn gì
Xác thân bỏ lại Linh Hồn bơ vơ
Hãy thức tỉnh nương nhờ Nguồn Cội
Niệm Cha Trời hồn đặng siêu thăng
Về Trời sống mãi vô biên
Thiên Đàng Cực Lạc bình yên sang giàu
Lời kệ kinh nghe rồi tỉnh giấc
Muôn việc đời rốt hết là không
Chỉ còn tánh đức thiện căn
Mới là đáng quý linh thiên tột cùng
Xét thân nầy đến hồi tan rã
Thời hết mong khó nổi tu nhơn
Nghiệp trần xây chuyển hồn linh
Tam đồ sa đọa biết bao khốn cùng
Chờ đến lúc không còn hơi thở
Thời ôi thôi khó thể lo toan
Hồn linh vào cảnh tối tăm
Khó mong thoát khỏi Âm Ti đọa đày
Sống cứ mãi mê lầm trần thế
Mà quên đi cái chết không xa
Trăm năm cũng chẳng đâu là
Cuối cùng nhận lấy nấm mồ nghìn thu
Bóng trăng lu buồn ru ác xế
Tháng ngày qua thăm ghé mộ phần
Cỏ xanh quạnh quẽ vô cùng
Gió, Mưa, Nắng, Tuyết, bão bùng cô đơn
Hồn tỉnh giấc nghe kinh nhẹ gót
Vượt sông mê bờ giác không xa
Kìa là Đức Mẹ Trời Cha
Nương nhờ thần lực vượt qua mê lầm
Nguyện siêu sanh về miền cực lạc
Nguyện xa lìa ác nghiệp trần lao
Thiên Đàng tiên cảnh an vui
Trường xuân tự tại, tiêu dao hưởng nhàn
Nam Mô vô tận Đạo Tràng
A Men giải khổ linh hồn, A Men
* * *
 
KHAI KINH SỐ 10

NGHI THỨC CẦU AN

LỄ THÀNH HÔN




Những điều cần biết trước:

Trước khi cử hành nghi thức. Cầu an, lễ thành hôn:

Hai Họ. Phải có mặt tại Cư Gia, hay Đền Thờ, Chùa, Thất.

Từ nơi Bệ Thờ Chánh Điện Đại Đạo nhìn ra.

Hai Họ sắp hai hàng:

Nam Giới đứng bên trái.

Nữ giới đứng bên phải.

Cô Dâu, Chú Rể: đứng ở giữa hai họ phía sau ban chủ lễ. Dâu bên phía Nữ. Rể bên phía Nam.

Ban Chủ Lễ: đốt nhang, đèn, xông trần. Rồi mới thỉnh Đức Thầy. Hay Tôn Sư, ra làm Chủ Lễ Khai Kinh.

Chuông đánh 3 hồi trước. Trống đánh 3 hồi sau.



ĐI VÀO NGHI THỨC HÀNH LỄ

Chuông nhỏ đánh 3 tiếng


Chủ Lễ xướng tụng. Cô Dâu, Chú Rể quỳ xuống lắng nghe lời kinh.



Nhất tâm cung kính:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp Thân Linh Giác Tối Cao Tam Bảo. Khắp pháp giới mười phương. Bao trùm, Trần Gian, Thiên Đàng, Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Nhất tâm cung kính:

Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương

Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Khắp pháp giới hư không, quá khứ, hiện tại, vị lai.

Thiên Đàng, Trần Gia, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Nhất tâm cung kính:

Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ. Phân Hóa

Mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng,

Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế

Giới.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Chủ Lễ xướng tụng: cùng ban chủ lễ xướng tụng theo

Nguyện cho đôi phu thê

Luôn bình an vạn sự

Chung một lòng thệ nguyện

Tỏa ngát hương thủy chung

Sống an vui trăm tuổi

Gắng bó mãi yêu thương

Sống hòa thuận yên vui

Nhọc nhằn luôn có nhau

Như dạ xốn lòng đau

Như cờ bay trong gió

Mãi như chim liền cánh

Mãi như cây liền cành

Dù cho biển cạn

Dù cho non mòn

Lòng vẫn ngập tràn

Chung thủy cùng nhau

Dù cho nhan sắc tàn phai

Cũng không thay đổi tình yêu vợ chồng

Nam Mô Tiên Tổ, Cha Trời.

A Men Địa Mẫu chứng thời chứng tri

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)



PHỤNG BẠCH

Hôm nay Ngày-------------Tháng -------------Năm-----------

Nước Việt Nam.

Tại nơi: Cư Gia. Đền Thờ. Có cô Dâu, chú Rể.

Thiện Nam Chú Rể tên là-------------------pháp danh nếu

Có.-----------------------

Tín Nữ Cô Dâu tên là--------------------pháp danh nếu có-----------------Được sự đồng ý hai bên Cha Mẹ. Long trọng tổ chức thành hôn vu quy cho hai con

Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Ban xuống ân sâu, hạnh phúc lứa đôi vạn sự bình yên, trăm năm hảo hợp. Vạn hạnh keo sơn.

Sanh con đẻ cái hiếu báo ơn trên Ông Bà Cha Mẹ lưu truyền nòi giống.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)



Cô dâu chú rể

Hướng về bệ thờ Cha Mẹ Trời

Đồng xướng nguyện rằng:



Đã yêu, yêu đến bạc đầu

Không vì hờn giận chia lìa lẫn nhau

Hiếu nghĩa đối với hai bên

Cũng đều cho trọn mười phân vẹn mười

Tơ duyên là đạo của Trời

Thương yêu là đạo của người mình yêu

Chúng con thề nguyện thỉ chung

Trăm năm tơ tóc keo sơn một lòng

Nam Mô vô tận Cội Nguồn

A Men như ý nguyện thành A Men



Cô Dâu, Chú Rể ngâm kệ thệ nguyện xong

Đức Thầy, hay Tôn Sư: bưng chén nước trên bệ thờ xuống.

Dùng một bông hoa. Nhúng vào chén nước Thánh Thủy rồi điểm nhẹ lên trên đỉnh đầu của hai người.

Niệm Chú:

Đát chỉ đá. Ám dà la phạ đá, dà la phạ đá, la dà phạ đá, la dà phạ đá sa ha. Thiên La Thần, Địa La Thần. Nhân ly nạn, nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Hạnh phúc đâm chồi tai họa tiêu tan.



Tiếp theo là phần hai bên trao nhẫn cho con

Chủ Lễ xướng đọc kệ rằng:

Gói gắm trao con chiếc nhẫn nhà

Rằng đây quà tặng của Mẹ Cha

Báu vật nói lên trong dụng ý

Thương nhau nhường nhịn phước nở hoa

Đạo Nhẫn nhu hòa vật điểm trang

Với ba chữ nhẫn quý hơn vàng

Hạnh phúc bình yên nhờ đức nhẫn

Nhẫn là nhường nhịn nghĩa tào khang

Nhẫn nhịn vì nhau chẳng phải hèn

Gặp phải sự đời lúc khó khăn

Nhớ lấy công phu thường nhịn nhẫn

Vượt qua giông bão đến đất bằng

Tam nhẫn hành trang nhớ công phu

Vợ Chồng nhẫn nhịn rạng đường tu

Thuận hòa hạnh phúc nhờ nhịn nhẫn

Nhẫn nhịn tai qua, võng lọng dù.



Chủ Lễ tuyên bố. Lễ cầu an thành hôn đến đây là kết thúc. Chúc hai Họ vạn sự như ý.

(đánh hồi chuông, hồi trống kết thúc)

* * *



LONG HOA

BÁT NHÃ TÂM KINH

1

Nầy tất cả Thiện Nam nghe rõ

Với cùng là Thiện Nữ nghe đây

Muốn thành chánh quả Như Lai

Phải tường phải tận Tổ Tiên Cội nguồn

Cần phải rõ thấu cùng chân Tướng

Thể Cội nguồn không cấu nhiễm ô

Cội Nguồn thể Tướng Hư Vô

Bao trùm rộng khắp hư không tận cùng

Cần hiểu rõ Cội Nguồn chân Tánh

Không Tánh gì mới thấy Tánh Chân

Tánh không, không Tánh Cha Ông

Khắp cùng vũ trụ linh thông đất trời

Cần hiểu rõ Cội nguồn Chân Pháp

Thể giác linh cùng khắp hư không

Ý không, không ý, ý không

Như như độc lập dung thông Đại Đồng

Nào hiểu rõ cội Nguồn Linh Giác

Không thinh hương xúc pháp mắt tai

Cũng không miệng mũi chân tay

Cũng không màu sắc thinh thinh bao trùm

Thể Linh Giác Cội Nguồn trong sạch

Tối linh thiên không diệt không sanh

Thường hằng thanh tịnh vô vi

Không thêm không bớt như như thường còn

Nầy hiểu rõ cho tường Nguồn Cội

Thể an nhiên vô niệm như như

Còn như động niệm pháp thân

Sanh sanh hóa hóa vô biên tận cùng

Sanh ra ngũ uẩn, lục trần

Cũng như lục thức hình thành lục căn

Sanh ra mười hai nhân duyên

Hợp tan, tan hợp không sao kể cùng

Khởi sanh đủ loại chủng hình

Diệt sanh, sanh diệt tận cùng diệt sanh

Tịnh thời tất cả đều không

Động thời tất cả khởi sanh trùng trùng

Tịnh là chân pháp đại thiền

Như như vắng lặng hiệp vào Chân Như

Vô Niệm phiền não sạch không

Còn đâu vọng chấp còn đâu não phiền

Nếu không hội ngộ Cội Nguồn

Vô minh vọng chấp níu trì khởi sanh

Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức sanh sôi

Hình thành căn nghiệp ôi thôi trùng trùng

Căn Thân Ngũ Uẩn ra đời

Là do vọng chấp sanh thời khởi sanh

Ngũ Uẩn Nguồn Cội giai không

Tử sanh, sanh tử rõ thông biến bờ

Có - Không làm chủ được rồi

Tử sanh, sanh tử phản hồi tự nhiên

Không thì tất cả đều không

Có thì có cả khắp trong đất trời

Chúng con hội ngộ được rồi

Không còn lo sợ sanh thời tử sanh

Vô vi linh thể Cha Ông

Không hình không tướng cũng không sắc màu

Cội Nguồn trong sạch nhiệm mầu

Không hương không vị không mùi không thân

Tự nhiên không đến không đi

Bao trùm vũ trụ hư không tột cùng

Không rờ đụng thể vô hình

Không tai, mắt mũi, muôn nghìn cái không

Không thể sờ mó thấy xem

Hiển linh, linh hiển vô biên tận cùng

Cội Nguồn pháp thể đại đồng

Pháp thân bình đẳng khắp cùng mọi nơi

Cội Nguồn pháp thể Cha Ông

Không thêm không bớt như như bao trùm

Thế mà khởi dụng lạ lùng

Sanh sanh hóa hóa khắp cùng khắp nơi

Tạo ra sự sống vô biên

Tạo ra thế giới nhân duyên xoay vần

Từ không sang có nối liền

Lục trần, lục thức cùng là lục căn

Hình thành chứng đắc ngại ngăn

Là do phân biệt ái ưa gieo mầm

Chúng con thức tỉnh được rồi

Giai không ngũ uẩn phản hồi chân nguyên

Không còn sợ hãi tử sanh

Không còn mộng tưởng đảo điên xa lìa

Vô Minh tận diệt được rồi

Cũng không diệt hết phần nào Vô Minh

Cội Nguồn hội ngộ chân như

Ba la thần chú, thậm thâm thượng thừa

Đẳng đẳng minh chú tiêu trừ

Diệt vô lượng khổ hết còn khổ đau

Không còn thần chú nào hơn

Giải thoát tất cả sạch trơn khốn cùng

Yết đế yết đế

Ba la yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

* * *



LONG HOA

BÁT NHÃ TÂM KINH

2

Khi hội ngộ Cội Nguồn

Mới giác ngộ ra rằng

Do phân biệt vọng chấp

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Cấu kết hiện sanh ra

Năm uẩn Cội trống không

Giá ngộ được điều đó

Sanh tử hết lo xa

Mọi khổ đau ách nạn

Tận diệt mọi tai qua

Cội Nguồn vốn sạch không

Vô vi cùng cùng khắp

Cội Nguồn không hình tướng

Cũng không màu không sắc

Không thêm cũng không bớt

Không ý cũng không thức

Không không và sạch không

Cho nên trong cái không

Vi diệu thậm thậm thâm

Khởi sanh ra tất cả

Vọng chấp luôn thọ tưởng

Khởi sanh ra ngũ uẩn

Sáu trần và sáu căn

Sáu thức cũng như thế

Nhân duyên luôn lôi kéo

Theo định luật nhân quả

Luân hồi sanh sanh tử

Khi hội ngộ làm chủ

Không có Vô Vô Minh

Cũng không hết Vô Minh

An như và tự nhiên

Không đi vào chứng đắc

Không khởi tâm chấp trước

Cội Gốc là không không

Trở về Cội Cha Ông

Nên tâm hết chướng ngại

Nên không còn sợ hãi

Làm chủ sanh sanh tử

Động Tịnh theo tự nhiên

Cảm ứng vô vô biên

Cội Nguồn linh chú lớn

Cao tột đại linh thiên

Không có chú nào hơn

Có thể so sánh được

Cội Nguồn vô vô tận

Diệt tiêu tan tai nạn

Diệt trừ mọi khốn khổ

Cha Trời tuyên tuyên thuyết

Linh chú qua bờ giác

Bát Nhã mật đa tâm kinh

Yết đế yết đế

Ba la yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

* * *



LONG HOA

BÁT NHÃ TÂM KINH

3


Nầy Thiện Nam Tín Nữ

Cội Nguồn Cha Ông. Linh Giác Chân Như, thể tướng rộng lớn như hư không. Linh Giác Tối Cao Cội Nguồn. Chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch. Chẳng thêm chẳng bớt, thể tướng rộng khắp bao trùm tam thiên đại thiên thế giới, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ chỗ nào cũng có. Linh Giác Cội Nguồn vô nhiễm vô vi. Cội Nguồn Bản Thể Linh Giác Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp thân vô thỉ vô chung. Không có tai, mắt, mũi, lưỡi, không có thân, ý, thậm chí không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Không có vọng chấp phân biệt. Nên không có ý thức giới. Linh Giác Cội Nguồn Tổ Tiên. Thấy - Nghe - Hay - Biết tự nhiên. Nên không có ngũ uẩn. Bản thể linh giác chân như Tổ Tiên rộng khắp vi diệu thâm thâm không thể nghĩ bàn. Muốn hội nhập Cội Nguồn. Không nên có sở trí. Sở đắc. nên không diệt hết vô minh, thế mà vô minh tận. Lão Tử tận. Chân tướng Cội Nguồn. Trong cái không động niệm hiện ra cái có, tất cả cái có Cội Nguồn rối ráo là không. Cho nên không còn sợ hãi. Lìa xa mộng tưởng đảo điên. Cứu cánh hội nhập trở về Cội Nguồn tự nhiên an vui tự tại. Thần thông cảm ứng vô tận. Uy lực vô biên. Đại Minh Thần Chú. Vô Thượng Thượng Chú, Vô Đẳng Đẳng Chú. Tiêu trừ khổ ách nạn tai.

Yết đế, yết đế. Ba la tăng yết đế, ba la tăng yết đế. Bồ đề A Men như ý tát bà ha.

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo nghĩa cả. Thiên Ý Cha Trời.

Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(gõ chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.



Nguyện đem công đức nầy

Hồi hướng khắp tất cả

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Hết khổ, hạnh phúc, an vui

* * *

Quốc Bảo khai kinh đến đây là hết. Những gì lợi ích trong Quốc Bảo khai kinh là không thể nghĩ bàn. Nơi nào có Quốc Bảo khai kinh. Thời nơi đó có Cha Trời, Địa Mẫu. Phật Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Giáng ngự. Hồn Thiêng Dân Tộc phò trì. Khí Thiêng Sông núi bảo bọc che chở. Quốc bảo khai là báu vật đất trời tối đại linh thiêng chỉ cần thành tâm ca ngợi cũng đặng siêu thoát vô lượng tội ác. Tai họa lớn biến thành tai họa nhỏ. Tai họa nhỏ biến thành tiêu tan. Huống chi là đọc tụng. Dù chỉ là một câu cũng linh ứng vô cùng. Nếu nhớ được một câu, hay một bài khai kinh thời coi như chuyển họa thành phúc. Vì Quốc Bảo khai kinh chính là Thiên Ý, Thiên Bút của trời.



QUỐC BẢO KHAI KINH
ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT


CHỦ BÚT: TƯỜNG KHÔNG VÂN​
 
HỒI KÝ

LONG
HOA
LƯỢC
THUẬT


HÀNH TRÌNH
DỰNG DẬY
CỘI NGUỒN
DÂN TỘC


(Giai đoạn: 1985-2015)



Cao Văn Hiến





LONG HOA LƯỢC THUẬT

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT mở màn

Khi chưa viết kinh, Thầy Tổ từ khi ra đời trải qua 26 năm là thời chiến tranh loạn lạc, nam bắc phân tranh nồi da nấu thịt, thậm chí cha con tương tàn, nói gì đến bà con họ hàng anh em ruột thịt. Thầy Tổ chứng kiến biết bao cảnh ngộ đau lòng. Đến năm 16 tuổi Thầy Tổ phải rời quê hương lưu lạc khắp nơi, vừa kiếm cơm vừa thiền định hầu tìm ra chân lý, tìm ra con đường giải thoát khổ đau, nhưng chỉ ở cảnh giới tứ thiền Tôn Hành Giả Ngộ Không mà thôi, ở vào cảnh giới tứ thiền Thầy Tổ đã khám phá ra nhiều điều bí mật vũ trụ. Đến 1975 kết thúc chiến tranh, Thầy Tổ trở về quê hương, nhưng vì Thầy Tổ là con của Ngụy, không những không cho học hành, mà còn bị lưu đày hết công trường này đến công trường khác. Làm công nhân trong cảnh đói khác chẳng đủ no. Thầy Tổ tuy bị gian khổ với bao tháng ngày lao động, nhưng tâm trí Thầy Tổ luôn ở cảnh giới ngộ không, ăn chay trường với những hạt muối trắng, khi đi làm kiếm vài bụi rau má. Thầy Tổ kiệt sức mất dinh dưỡng bại xụi đôi chân, có lẽ đụng đâu ăn đó vì cái đói không bao lâu thời đau ruột phải đi mổ. Thời đó mổ ruột thời là mỗ banh chành ruột ra, họ thấy Thầy Tổ không thể lao động nặng được nữa họ cho Thầy Tổ trở về quê nhà. Trở về quê nhà Thầy Tổ tự kiếm thuốc nam chữa trị, vì không có tiền để mua thuốc. Vừa chữa trị đôi chân, vừa nhập định hầu tìm ra chân lý diệt khổ, nỗi khổ chiến tranh, nỗi khổ đau bệnh, nỗi khổ áp bức vùi dập. Cho đến năm Thầy Tổ 28 tuổi chỉ trong một đêm trong trạng thái tự nhiên đại định Thầy Tổ ngộ ra tất cả và cũng hiểu rõ mình từ đâu đến. Phải nói là thông suốt, từ đó Thầy Tổ truyền bá chánh pháp. Người ta theo về rất đông, dù cho chính quyền ngăn cản họ cứ tìm về. Người ta hỏi sao lại phải đi theo người đó. Những người theo Thầy Tổ trả lời, là ở trên Phật Mẫu, nhập xuống bảo như thế, đấng cứu thế đã ra đời.

- Khi ấy ánh sáng Tâm Linh Thầy Tổ đã tỏa sáng khắp cùng vũ trụ. Báo động Đức Chuyển Luân Thánh Vương đã đến cõi trần. Thế là khắp hư không thế lực Vô Minh vô hình đến quấy phá. Mỗi lần Thầy Tổ tịnh tâm ngồi thiền. Ngũ ác Ma, Đại ác Quỷ quyền lực không thua gì Phật, hung tàn nhất vũ trụ, kẻ cầm dao người cầm kiếm đâm chém Thầy Tổ không ngừng, Thầy Tổ bắt ấn niệm chú Nam Mô A Men thời chúng biến mất. Cho đến một hôm Thầy Tổ Nghĩ chân tâm chân tánh vốn bất sanh bất diệt, an trụ chân tâm chân tánh như hư không thanh tịnh tự nhiên thời làm gì chém được. Chẳng qua chém bậy cái xác thân tạm mượn này mà thôi. Thầy Tổ thấy ác Ma ác Quỷ hiện đến liền nói. Nếu xa xưa Ta nợ các ngươi thời các ngươi cứ chém giết. Ta không kháng cự cũng không oán hận các ngươi. Thế là Thầy Tổ nhắm mắt xuôi tay để cho Ác Ma và Đại Quỷ chúng chém. Thầy Tổ thấy chúng vung đao vung kiếm loang loáng chém xuống. Nhưng chờ mãi không thấy chúng chém, Thầy Tổ mở mắt ra thì ra chúng biến đi đâu mất tự bao giờ, từ đó ác Ma ác Quỷ không xuất hiện nữa. Đó là nói cảnh giới tâm linh vô hình, còn hữu hình thời sao.

- Thế lực cửa quyền cậy thế, hầu hết là những người có chức cao địa vị lớn, điều khiển toàn lực lượng chống phá trù dập kinh thiên động địa. Cấm cố không cho ai đến nhà Thầy Tổ. Thầy Tổ là Quốc Tổ lâm phàm trở về, đương nhiên nhà nước tâm linh Văn Lang bảo bọc gia hộ, trí huệ Thầy Tổ vô biên tự tìm ra con đường đối kháng, trước là cứu đất nước Việt Nam, sắp rơi vào tay Trung Cộng. Hai là đưa nhân loại năm màu da anh em về trời, vì tiểu kiếp thứ 9 sắp kết thúc. Thầy Tổ tự phong tỏa 6 căn, không cho tiếp xúc với 6 trần, tự mình vào bốn bức tường, không khác chi ở tù biệt lập, không còn tiếp xúc với ai nữa, và khuyên những người theo Thầy Tổ lên chùa tu học. Thế mà thế lực đen tối cửa quyền chúng cũng không tha, chúng rêu rao còn đóm lửa thời còn cháy rừng. Và từ đó trận chiến giữa thế lực cập quyền, và trí huệ chánh đẳng chánh giác đấu phép. Cũng chính là đấu trí, mỗi ngày một thêm dữ dội, sự sống chết trong đường tơ kẽ tóc, cứ thế kéo dài.

- Cho đến năm Thầy Tổ 31 tuổi 1985 Thầy Tổ cho ra đời bộ kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa. Chúng thấy Thầy Tổ bị hành bị hạ mời lên mời xuống thế mà vẫn viết thành kinh, ngoài sức tưởng tượng của chúng, chúng biết Thầy Tổ là Đấng dị thường, bằng tăng thêm chiêu pháp lợi hại, hể ra đòn là đối thủ ngã gục. Từ xưa tới nay chưa ai thoát khỏi sự đấu tố. đấu tố hết trận này đến trận khác, lúc nào cũng trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, phong ba bão táp, sấm sét dập dồn, nếu Thầy Tổ không có tài thoát ra trước thiên la tai họa, địa võng tai ương thời Thầy Tổ không còn trên đời.

- Trong số người theo Thầy Tổ phải nói là rất nhiều, nhưng vì phong ba quật ngã, bão táp cuốn phen, chỉ còn lại hai người quyết không rời Thầy Tổ. Chính là hai vị Thánh Trần Minh Thắng và Đinh Hùng Chung. Đinh Hùng Chung chính là Đinh Bộ Lĩnh đầu thai. Trần Minh Thắng chính là Bát Tiên xuống thế. Đinh Hùng Chung đòi tự thiêu nếu họ còn động đến Thầy Tổ. Nói chung hai vị này trấn thủ cửa tử chết thay cho Thầy Tổ, có nghĩa là muốn nhổ cái Gốc Thầy Tổ phải vượt qua hai cái xác phàm trần này.

- Câu chuyện ở đây chỉ tóm tắt, nếu viết không bỏ sót rõ ràng thời không thể nào tưởng tượng được. Phải nói là chấn động người xem. Nếu còn chút sức Thầy Tổ sẽ viết tiếp, chào các bạn, chào các anh em.
 
LONG HOA LƯỢC THUẬT

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT 2

Từ năm 1985 Thầy Tổ bị cấm cố cô lập, mỗi bước chân của Thầy Tổ đều có người giám sát, những ai gặp Thầy Tổ đều bị mời lên làm việc. Và moi móc thông tin Thầy Tổ nói những gì, đáng lý ra Thầy Tổ chỉ cần viết Kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa vài tháng là xong, nhưng vì cuộc sống cái đói, Thầy Tổ chỉ biết sống nhờ mấy đám ruộng, thế mà chúng đòi lấy luôn không cho Thầy Tổ làm, Thầy Tổ gồng mình đấu tranh mới giữ được, nhà Thầy Tổ chúng đòi dời đi chỗ khác, tức là dời vào xó núi không cho quan hệ với ai, dù là anh em ruột thịt, cũng như gia tộc. Có những điều rất kỳ lạ, Thầy Tổ không học nghề mà lại thông thạo nhiều nghề ở vào thời ấy thợ mộc đang thời hưng thịnh, Thầy Tổ liền mở ra trại mộc để kiếm sống, nhưng chúng lấy sạch hết gỗ, đúng là khắp nơi tại họa, khắp chỗ tai ương.

- Ở vào thời đó ăn chay trường thời coi như liệt vào mê tín, chúng tác động vào dòng họ gia đình cô lập Thầy Tổ, động viên Thầy Tổ phá giới ăn mặn. Sự đánh phá không ngừng như vậy, làm cho Thầy Tổ không còn tâm trí để mà viết kinh. Nhưng Thầy Tổ là Đấng Chí Tôn xuống trần, Với đôi tay, tay cày tay cuốc, làm nên hạt gạo để nuôi sống bản thân, bước chân trên bờ ruộng kiếm từng cọng rau má để mà ăn bao nỗi khó khăn cũng không dập tắt ý chí cứu con cháu thoát khỏi nanh vuốt nô lệ của bầy sói beo Trung Cộng ngày đêm thôn tính xâm lược.

- Đáng lý ra chỉ cần mấy tháng là viết xong bộ Nhân Luân Hiếu Nghĩa soi sáng cho con cháu Việt Nam hầu lấy lại uy phong đạo đức xuống cấp trầm trọng, cũng như nhân loại thế giới, nhưng vì phong ba bão táp, sấm chớp cửa quyền dập vùi, liên miên bất tận phải nói là không có một ngày yên, nên việc viết kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa kéo dài đến 3 năm.

- Lại nói về Thầy Tổ chỉ trong một đêm ngộ ra tất cả, thấy những cái mà không ai thấy được. Biết những sự việc xảy ra trong tương lai, thấy rõ trên các tầng trời, chư thiên reo hò vui mừng, vì đã nhận được tín hiệu từ trần gian, ánh sáng Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời.

- Tức thời đồng loạt những vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Phát nguyện sanh xuống nhân gian làm Hộ Pháp, làm Thiên Sứ, làm Tiên Phong. Truyền bá nguyện lực của Đấng Cứu Thế đi vào thành danh, còn Đắng Cứu Thế thành đạo.

- Cũng như thấy rõ con cháu Việt Nam, đã đi sai đường bỏ Nguồn bỏ Cội, chạy theo xu thế ngoại bang, một Dân Tộc mất Gốc như thế, có nghĩa là sắp đi vào diệt vong nô lệ. Nhưng lần này không những đi vào nô lệ, mà còn mất luôn đất nước Địa Long Việt Nam, thành thuộc địa tỉnh lỵ của Trung Cộng. Trung Cộng từ lâu đã hiểu rõ có được Địa Long vũ trụ thời coi như bá chủ Địa Cầu.

- Với trăm phương ngàn kế chúng đã nuốt Hoàng Sa, và dần dần nuốt luôn Trường Sa, coi như biển đông không còn, biển bạc kết thúc.

- Với sách lược in tiền giả, chúng mua lần đất đai với giá cao, hầu đưa dân qua để ở, dùng văn hóa phương bắc đồng hóa lần dân tộc Việt Nam.

- Trung Cộng đầu tư vào Việt Nam, về mặc lợi ích kinh tế chỉ là phần nhỏ, chủ yếu chiếm lĩnh đất đai, trở thành đặc khu kinh tế, nhưng thật ra chiếm lĩnh trọng yếu chiến lược.

- Khi quân sự xảy ra, với chiêu bài từ biển đánh vào, trong đất liền có dân Trung Cộng, có những đặc khu trọng yếu tiếp ứng. Với thế lực vũ khí hiện đại, binh hùng tướng mạnh, chỉ nội trong ba ngày thời Việt Nam không còn là Việt Nam nữa.

Nếu không phải Đấng Chuyển Luân lâm phàm cứu thế, Quốc Tổ lâm phàm trở về thời không ai có thể cứu được đất nước Việt Nam thoát khỏi bàn tay xâm lược Trung Cộng đã đi đến giai đoạn chỉ cần há miệng là nuốt chửng đất nước Việt Nam.

- Từ trong bốn bức tường cô độc một mình, như hòn đá cuội ra sức ngày đêm, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn con đường Đại Đạo vũ trụ, chuyển xoay tình thế, lập trận ngũ hành, có nghĩa là đi vào năm mấu chốt quan trọng, đi vào chủ trương nhà nước, đi vào trung ương lãnh đạo, trụ vững Cội Nguồn, trụ vững anh linh truyền thống. Nương tựa vào cái tàng trung ương che chở bảo bọc, hầu chống lại thế lực cửa quyền đang ráo riết ngày đêm chống phá ép Thầy Tổ vào con đường ngàn cân treo sợi tóc. Phong ba bão táp dậy trời, Thiên la tai họa giáng xuống, địa võng tai ương dập vùi, hung khí cuộn cuồn, mây đen ập tới.

- Mỗi lần mây đen xuất hiện, không phải là trời sắp mưa, mà là hung khí xông lên, tạo thành mây đen, trời đang nắng chang chang mây đen bao phủ Bát Tiên Trần Minh Thắng kinh hãi miệng lầm thầm chúng sắp đánh lớn rồi không xong xuống báo cho Thầy Tổ biết. Thầy Tổ nghe xong liền mỉm cười đâu phải đây là lần đầu, mà đã nhiều lần mây đen xuất hiện như vậy. Nhưng rồi mọi chuyện đều tai qua nạn khỏi. Hơn nữa chúng Ta đã đạt đến cảnh giới trống không, không có gì cả. Vườn không nhà trống, không có cái Ta. Chỉ có Cội Nguồn trong tâm.

- Thế là Thầy Tổ chuyển xoay binh pháp, tìm người có tài có đức gánh trách nhiệm khó khăn, cứu vãn tình thế, may ra giữ được mạng sống trước thiên la tai họa, địa võng tai ương, chấn động làng quê, làm kinh hãi lòng người. Ở vào thời điểm này ai cũng nghĩ rằng Thầy Tổ sẽ biến mất nơi chốn nhân gian trở về cát bụi. Nhưng đối với Thầy Tổ gian nan chỉ làm Thầy Tổ thêm quyết chí, vàng thử lửa, vàng càng sáng ra. Mặc cho bão táp phong ba như hòn đá cuội trơ trơ giữa đời, mặc cho chúng quyết dập vùi nhưng hòn đá cuội không hề lung lay.

- Với những người đã từng theo Thầy Tổ chí quyết khơi dậy Văn Hóa Cội Nguồn. Như khi vào trường thi khảo đảo đều rớt sạch trơn, thuyền rồng vừa lướt ra khơi, binh tôm tướng cá chúng xơi sạch sành. Chỉ còn lại một người mang 500 chữ ký lên đường cứu nguy. Người ấy là Đinh Hùng Chung, mang đơn Thầy Tổ lên Trung Ương trình bày. Giải trình khôi phục Cội Nguồn, thờ phụng Vua Hùng toàn dân. Trong khi chủ nghĩa Mác Lê vẫn còn đỏ rực nóng ran đất trời. Thế thời, thời thế, thế thời. Ông Chung gian khổ bao là gian truân. Chết trong gang tất như không, hùng, bi, trí, dũng vượt non trèo đèo. Xem đi xét lại gan trời, mới không nao núng giải bày ước mong. Câu chuyện tóm tắt đã qua, vì không cho phép bỏ qua nhiều điều. bấy nhiêu cũng đã kinh hồn, khó khăn biết mấy ra đời Quốc Bảo Kinh, Thơ. Nếu còn chút sức lực Thầy Tổ sẽ viết tiếp để xem cũng không thừa.
 
LONG HOA LƯỢC THUẬT

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT 3

- Nói về đất nước Việt Nam chính là Địa Long vũ trụ hình chữ S một bên là biển cả, một bên là đất liền, nằm giữa trung tâm địa cầu, Địa Long Thái Cực Hà Đồ. Địa Linh nhất địa cầu, nơi có nhiều cơ sấm ra đời, nói về vận mệnh đất nước Việt Nam. Như cơ sấm Trạng Trình, cơ sấm Bà Chúa Liễu, cơ sấm Cao Đài, cơ sấm Hòa Hảo, Phật Thầy Tây An, và còn nhiều cơ sấm khác, nhất là các vị vô hình nhập xác nói ra cơ mật của Tạo Hóa.

- Một địa cuộc Thái Cực Hà Đồ, khí thiên sông núi rất mạnh. Thiên thời địa lợi thuộc hàng bậc nhất địa cầu. Ai sanh ra trên mảnh đất Địa Long Vũ Trụ Hà Đồ, cũng như du nhập đến ở. Thời phải nói là tu luyện nhiều đời nhiều kiếp. Mới sanh ra trên mảnh đất hình chữ S Thái Cực Địa Long Hà Đồ, một mảnh đất linh thiên về sau sẽ có Thiên Ý xuất hiện chính là Thiên Thư Quốc Bảo. Ai làm chủ Thiên Thư Quốc Bảo thời người đó có kho báu vũ trụ. Các vị Thần Tiên cũng biết điều này, nên đã lâm phàm xuống trần. Góp nhặt Thiên Ý làm giàu cho Tâm Linh. Truyền bá Thiên Ý hầu lập công trong cơ Thánh Đức, tỏa sáng công danh.

- Thần, Tiên, biết sự quý hiếm của Địa Long Vũ Trụ Hà Đồ, thời Ma Vương Đại Quỷ cũng biết. Thần Tiên lâm phàm làm chủ Địa Long, thời Ma Vương Đại Quỷ cũng lâm phàm tranh giành Địa Long vũ trụ. Biến đất nước Việt Nam đi vào chiến tranh triền miên, dẫn đến đói nghèo điêu tàn lạc hậu. Cơ sấm cũng đã nói rõ Quỷ, Ma tranh nhau Địa Long ở vào giai đoạn cuối thời mạc pháp.

- Quỷ, Ma giao chiến khắp nơi

Ma ở trên trời, quỷ ở dưới hang

Cỏ cây non nước điêu tàn

Ma nọ đầu hàn, Quỉ ấy mới thôi

Thân Rồng đã tách làm đôi

Bóng câu in dấu muôn đời nhuốc nhơ

- Một Địa Long Hà Đồ, về sau có Thiên Thư Ngọc Thụ xuất hiện quý hiếm như vậy thời Ác Ma Ác Quỷ chúng bỏ qua sao được, đầu thai làm người sanh ra trên mảnh đất Địa Long Hà Đồ. Tranh giành làm chủ, gây ra tang tóc chiến tranh, còn chi nước Việt Địa Long Hà Đồ.

- Yêu Ma Ác Quỷ chúng luôn đầu độc chính sách ngu dân, không cho Lương Tâm tỏa sáng, mãi mãi u minh khó mà phát hiện ra non nước Địa Linh quý hiếm Thái Cực Hà Đồ Địa Long. Để chúng làm chủ mãi mãi.

- Nên chúng Luôn ra sức dập tắt ánh sáng Tâm Linh. Ánh sáng soi sáng tất cả, không những làm lộ rõ nguyên hình của chúng, mà còn soi sáng thấy rõ Địa Long Vũ Trụ Hà Đồ quý hiếm, chúng khó mà làm chủ được lâu. Nên chúng rất ghét ánh sáng Tâm Linh. - Những Yêu Tinh Ma Quỷ thuộc hàng cao cấp. Chúng biết quê hương Thiên Ấn Thiên Bút Quảng Ngãi, Gò Hội Đức Phổ, là nơi Thiên Ý ra đời. Vì có điềm trời báo trước đặt tên núi Thiên Ấn, Thiên Bút. Chúng cũng đoán được, ở vào giai đoạn 1900 đi lần về cuối những thập niên đi đến 2000. Ánh Sáng Tâm Linh sẽ xuất hiện ra đời, biết thế nhưng chúng không nắm rõ độ chính xác ra đời ở thập niên nào.

- Tuy chúng nắm rõ thiên cơ hiểu rõ chu kỳ vận hóa. Cuối thời mạc pháp, âm khí cực thịnh, sẽ có điểm Dương xuất hiện, chính là Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý ra đời Thiên Thư xuất thế. Cực Âm sanh Dương, chúng đã thấu hiểu thiên cơ nên đầu thai sanh ra làm người nơi quê hương Thiên Ấn Thiên Bút Quảng Ngãi, Đức Phổ rất đông toàn là cấp cao Yêu Tinh Ma Quỷ. Tuy mang thân người nhưng Lương Tâm không có, tuy trở thành những vị Quan cấp cao nhưng đi vào biến thái, cửa quyền. Chúng ngự trị quê hương Thiên Ấn. Thiên Bút, Gò Hội Đức Phổ phải nói là rất đông.

- Tuy sanh ra làm người, nhưng ác tánh của chúng luôn dấy khởi, Lúc nào cũng dòm ngó thấy ánh sáng Tâm Linh xuất hiện là chúng bao vây trù dập tiêu diệt.

- Không nơi nào cái ác cực mạnh bao trùm như nơi quê hương Thiên Ấn Thiên Bút, Gò Hội Đức Phổ. Không may cho những người theo đạo. Nhất là Đạo Cao Đài, bị chúng hành quyết, chôn sống, chặt đầu hàng loạt. cái ác cực mạnh thời cái thiện không còn chỗ đứng.

- Không may cho Thầy Tổ mượn xác trần ra đời nơi này, liền bị cái ác bao vây, từ khi mới lọt lòng cho đến khi lớn lên, tai họa trùng trùng tai ương lớp lớp, nạn sau nối tiếp nạn trước hết năm này đến năm khác, trở thành người thất học, cũng vì sự thất học này đưa Thầy Tổ đến một con đường khác đó là con đường Đạo. Từ con đường Đạo ngày Thầy Tổ đi đến phá vỡ vô minh. Trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Thành Đạo tại Trung, khai Đạo tại Nam. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời tại trung luân chuyển vào Nam, rồi tỏa sáng khắp cùng đất nước.

- Ở đời người nào hiểu được Hà-Đồ là rõ cơ trời. Hà có nghĩa là Sơn Hà. Đồ có nghĩa là Địa Đồ bản Đồ. Nói chung là địa cuộc hình Đồ, một Sơn Hà thái cực chữ S, Địa cuộc Trời sanh, địa linh Trời chọn, nên mới nói. Thiên Ý sẽ ra đời trên non nước này. Người truyền Thiên Ý trở thành Chuyển Luân Thánh Vương ra đời.

- Chuyển Luân Thánh Vương ra đời chính là Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Bảo Thiên Thư ra đời. Trở thành Bảo Hà, Quốc Bảo quý hiếm nhất nơi trần gian nói riêng, nói chung quý hiếm nhất nơi vũ trụ.

- Bảo Hà chính là Quốc Bảo Văn Hóa Cội Nguồn trở thành Linh Hồn Hà Đồ Sơn Hà của non sông đất nước Địa Long, nói về Cơ Sấm thời không mấy ai giải được, chỉ khi nào Chuyển Luân Thánh Vương ra đời mới giải được. Vì chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện ra đời làm theo Thiên Ý, Làm theo Thiên cơ sấm ký, cơ trời.

- Bảo Hà chính là Quốc Bảo Thiên Thư ra đời, luân chuyển vào nam. Đi vào Bảo Giang Môn. Bảo Giang Môn chính là những con sông cuối của sông Mê Kông chảy ra biển. Cửu Long Giang. Nói đến Hà Đồ là nói đến đất nước hình chữ S Việt Nam. Nói đến Bảo Hà là nói đến Quốc Bảo Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Thư Ngọc Thụ Thiên Ý Cha Trời.

- Nói đến Địa Long thời đầu Rồng ở bắc. Nhưng nói đến Thủy Long thời đầu Rồng ở Nam. Ở vào thời đại Quân Chủ thời đầu của Thiên Hạ ở bắc. Nhưng ở vào thời đại Dân Chủ, Dân là Nước thời đầu của Dân chính là ở Nam. Ở vào thời Quân Chủ mà đầu của Thiên Hạ ở nam là không đúng chỗ phải đi vào lao đao sụp đổ không còn. Có nghĩa là sự tồn tại không được lâu. Ý trời là thế khó mà chống cãi cho được, thuận Thiên dã tồn, nghịch Thiên dã vong.

- Nói về Thầy Tổ từ năm 28 tuổi đến năm 31 tuổi đụng đâu họa đó, tai ương dẫy đầy, thậm chí không làm gì phạm tội cũng bị mời lên mời xuống. tra khảo xét hỏi không ngừng mạng sống trong đường tơ kẽ tóc. Nên Thầy Tổ lúc nào cũng chủ động tỉnh táo giành lấy mạng sống tồn tại trên đời. Nếu mất đi thời coi như Văn Hóa Cội Nguồn sẽ biến mất.

- Dân Tộc Rồng Tiên Việt Nam lại phải tiếp tục đi vào tối tăm tăm tối. Dẫn đến mất nước Địa Long vũ trụ Hà Đồ không còn, vì đã rơi vào tay giặc Tàu. Lại tiếp tục trên con đường nô lệ đau khổ tang thương. Trong con đường chết phải tìm ra con đường sống. Vì còn sống mới hoàn thành đi mệnh của Cha Trời. Tâm Linh Thầy Tổ tỏa sáng thời cái khổ cũng dập dồn, họa chồng lên họa. Không sao kể xiết sống được ngày nào hay được ngày nấy. Thần Tiên trên trời nhìn rơi nước mắt. Cũng chỉ vì muốn lưu truyền Thiên Ý đưa nhân loại về trời mà bị lao đao khốn khổ trù dập như vậy.

- Sự tôi luyện trong lò lửa bạo quyền kéo dài ba năm từ năm 28 tuổi đến năm 31 tuổi ở vào giai đoạn này Huệ Mạng Anh Linh Thầy Tổ tỏa sáng, chuyển thành Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Thiên Thư ra đời vào năm 1985.

- Sự ra đời Anh Linh Huệ Mạng Thầy Tổ đánh dấu một bước ngoặc mở ra một thời đại mới, thời đại đi vào Kỷ Nguyên Thánh Đức. Đến lúc này Căn Thân Huệ Mạng Thầy Tổ cũng chính là Căn Thân Huệ Mạng Anh Linh Quốc Tổ, Ánh sáng Chánh Đẳng Chánh Giác Thầy Tổ phát ra mỗi ngày mỗi mạnh tỏa sáng khắp cùng vũ trụ. Làm chấn động Thiên Chúng Chư Thiên, cũng như Yêu Tinh, Ma Quỷ. Vô vi lẫn hữu vi. Ánh sáng Tâm Linh xuất hiện, đồng nghĩa là bọn chúng khó mà tồn tại, nên bọn Yêu, Tinh Ác Quỷ chúng kéo đến càng đông hầu dập tắt ánh sáng tâm linh, thế là Thầy Tổ bị thiên la tai họa, địa võng tai ương trùng trùng ập tới, ai nhìn thấy cũng kinh hồn bạt vía.

- U Minh Đại Đế điều khiển thế lực đen tối, qua sóng Tâm từ trường, ví như dùng cái mót điều khiển tivi. U Minh Đại Đế là cái Mót. Những tánh ác trong Tâm Hồn con người ví như hệ số cảm ứng tivi. Sự tương thông hệ số tánh ác với nhau. Tánh ác Đại Đế Ma Vương Quỷ Vương điều khiển tánh ác trong tâm con người, theo ý muốn của mình qua tần sóng Âm. Có nghĩa là Tánh Ma Vương Đại Đế, Quỷ Vương Đại Đế điều khiển tánh ác con người qua tần sóng Âm lực từ trường Làm cho tánh ác trong tâm con người khởi động mạnh, làm chủ Thân, Khẩu, Ý hành động hung tàn bạo ác.

- Do có sự tham gia điều khiển của Đại Đế ác Ma ác Quỷ dẫn đến hung khí xông lên mây đen hiện ra bao phủ. Những con người không còn Lương Tâm, chỉ biết hành động theo ác tánh làm theo ý niệm của Đại Đế Ma Vương Đại Đế ác Quỷ mà không hề hay biết. Cũng như tivi, làm theo cái mót.. Cái mót làm gì nghĩ gì, thời ti vi làm theo nấy. Thế là Thầy Tổ bị những trận đòn như sấm sét. Theo ý niệm chúa tể bóng đêm.

- Suốt mấy mươi năm Thầy Tổ bị bọn ác Quỷ ác Ma đem ra đấu tố xẻ thịt, phải nói không biết bao nhiêu lần. Lần nào Thầy Tổ cũng may mắn thoát chết. Sự xẻ thịt Thầy Tổ không phải một lần mà rất nhiều lần, mỗi lần mỗi kiểu đóng tuồng xẻ thịt đấu tố khác nhau, nhưng ở đây chỉ điển hình một câu chuyện bày trận đấu tố. Nếu kể cho hết sự đấu tố thời viết cả năm cũng không hết.

- Vì không tiện nói tên những ác Ma ác Quỷ không phải Thầy Tổ sợ, nhưng vì lòng từ bi Thầy Tổ không muốn làm hại đến một ai dù người đó thường làm hại Thầy Tổ. Nên tạm thời Thầy Tổ đặt tên cho những tên quan ác bá, như Quan Heo, Quan Beo, Quan Báo, Quan Cáo, Quan Sói. Câu chuyện đem Thầy Tổ ra xẻ thịt tóm tắt như sau. Viết tới đây Thầy Tổ cảm thấy hơi mệt, sức khỏe Thầy Tổ bây giờ cũng đã suy yếu, không như thời còn trẻ. Thầy Tổ sẽ cố gắng viết những đoạn Hồi Ký tiếp theo.
 

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT 4

- Nói về bọn biến thái cửa quyền ác bá địa phương thấy dân chúng càng ngày càng mến mộ Thầy Tổ, tức thời mời lên cơ quan h.ãm hại nhổ phứt cây gai trong mắt. Sự vô Thiên vô Pháp không còn Lương Tâm của những thành phần biến thái ác bá cửa quyền, chúng đã đạt đến cảnh giới Luật Pháp là Tao, Tao là Pháp Luật, chuyện không hóa có. Không tội cũng làm cho có tội. Muốn ai sống thời sống, muốn ai chết thời chết. Sự sống hay chết đều năm trong tay của bọn ác quan nầy.

- Vào hôm ấy trời đang trong xanh bỗng mây đen hiện ra che kín bầu trời, báo hiệu điềm chẳng lành sắp xảy ra

Đối với Thầy Tổ, thời cũng biết chuyện gì sắp xảy ra. Thầy Tổ nhận được giấy triệu tập mời lên cơ quan, cả nhà ai nấy đều lấy làm kinh sợ. Thầy Tổ nói có gì phải sợ khi mình hướng về Nguồn Cội tôn thờ Ông Cha. Sẽ có Ông Cha che chở bảo bọc.

- Lúc bấy giờ là lúc vẫn còn trong thời kỳ bao cấp, sự độc tài đã lên tới đỉnh điểm, bè phái ác quan sanh ra, gian manh cửa quyền đầy thủ đoạn.

- Thầy Tổ nhận được giấy triệu tập hình dung ra cảnh trên đe dưới búa, cá nằm trên thớt. Sống chết là chuyện thường tình, trẻ không chết thời già cũng chết. Tâm hồn Thầy Tổ đi vào định tĩnh như không có chuyện gì xảy ra. - Thầy Tổ nghĩ thầm không ngờ mình lại có giá béo bở như thế, có lẽ mình đã tu vô lượng kiếp chúng tranh nhau mà táp. Ăn thịt Thầy Tổ không những nhổ được cái gai trong mắt, mà công trạng cũng béo bở lên, thăng quan tiến chức nhanh hơn. Bao lần Thầy Tổ nhờ may mắn thoát chết. Nhưng lần này thoát được hay không chưa có thể đoán biết trước được. Thôi thì nếu có chết cũng phải ăn một bữa thật no, tội gì chết đói.

- Nói về những tay chuyên nghiệp xét hỏi tên nào tên nấy nanh vuốt dài thoàng súng ống đao kiếm sáng ngời. Nhất là mưu mô xảo quyệt đạt đến cảnh giới siêu đẳng thậm thâm, chỉ cần phun ra một lời, nhẹ thời cũng phải đi tù, nặng thời bỏ mạng, nhất là Tên Cáo quan địa phương nổi tiếng xưa nay là tay sát thủ chưa ai thoát khỏi nanh vuốt của tên Cáo quan địa phương này.

- Vừa đến cơ quan thật bất ngờ Thầy Tổ thấy dân chúng có mặt rất đông, cũng như đủ các phần ngành trong huyện, trước khi chúng muốn hại một ai đó, thường là đi đến đóng tuồng đấu tố h.ãm hại, rồi buộc tội trước công chúng làm gương thị chúng làm cho dân chúng khiếp sợ. Chúng tin tưởng là chúng ghép tội cho Thầy Tổ một cách dễ dàng trước nhân dân. Chúng ung dung nhìn Thầy Tổ mới đến. coi Thầy Tổ như là con mồi chỉ biết cúi đầu nhận tội, như bao người khác, nồi nước đấu tố đã sôi sùng sục chúng chỉ cần ném con mồi vào nồi là xong.

- Với bộ mặt ác quỷ xảo trá lão luyện, nhất là khi ra đòn của Cáo quan, xưa nay không ai thoát được, con chim bay trên trời cũng phải rớt xuống. con cá lặng dưới sâu cũng phải toi mạng đi đời.

- Hắn làm ra vẻ kính trọng Thầy Tổ, nhưng thật ra chúng nhìn Thầy Tổ như nhìn con heo trước khi bị thọc cổ. Hắn nói mời Ông Hiến ngồi. Thầy Tổ vừa ngồi chưa kịp nóng đít, hắn liền ra chiêu phóng chưởng ra đòn.

- Cáo quan nhìn về chúng dân nháy mắt mấy cái hình như ra lệnh cho ai đó. Thầy Tổ linh tính, cuộc đấu tố đi vào mở màng. tức thời từ trong đám đông đi ra một người. Thầy Tổ không lạ gì người này Ông Ta tên là Ba Hại, thường đến nhà Thầy Tổ để chơi. Ông Ta hiện ra bộ mặt nanh vuốt khác với ngày thường, lên tay xuống ngón chỉ Thầy Tổ nói, tôi bị Ông này dụ dỗ tôi nhẹ dạ nghe theo Ông ta, kết bè kết phái tôn thờ Quốc Tổ. Tôi đã biết sai tự thú trước Chính Quyền.

- Cáo quan nhìn Thầy Tổ với bộ mặt ăn tươi nuốt sống rồi quay sang nói với dân chúng, xưa nay bản quan đã ra đòn thời không một tội phạm nào có thể lọt lưới. Cáo quan ra chiều đắc ý thầm nghĩ, xưa nay mọi chuyện. Chuyện, trắng. Cáo hóa thành đen, không tội Cáo biến thành có tội như trở bàn tay. Nhưng chúng nào ngờ mọi chuyện ngoài sự dự định của chúng. Không để lâu Cáo quan ra đòn phủ quyết.

- Này Ông Hiến Cáo Quan nói, Ông biết tội chưa, dân chúng đã tố giác Ông. Với chiêu đấu tố buộc tội này nhất định con cừu non bị trúng chưởng đi tiêu. Thầy Tổ nói thưa quan trên, người ta không biết đường về nhà, lại quên mất Ông Cha của họ, tôi chỉ đường cho họ về nhà nhận lại Tổ Tông, như vậy là có tội sao.

- Ông Ba Hại quên mất ngôi nhà Việt Nam, chỉ biết ca ngợi nước Nga nước Tàu, ca ngợi người ngoài quên đi Ông Quốc Tổ của mình. Tôi chỉ đường Ông Ba Hại về nhà ca ngợi ngôi nhà đất nước Việt Nam, cũng như nhận lại Tổ Tông Quốc Tổ Vua Hùng của Ông. Không còn lạc Nguồn lạc Cội nữa. Ông không mang ơn tôi thì thôi, sao lại tố tôi.

- Hơn nữa tôi chỉ đường Ông theo Tiên Tổ Quốc Tổ Vua Hùng của Ông, nào phải Ổng theo gì tôi. Giả như theo tôi, chưa chắc gì tôi nhận một con người quên Cội quên Nguồn của chính Ông. Quên ngôi nhà chung Tổ Quốc Việt Nam. Người như Ông ta đã trở thành kẻ có tội với Ông Cha của chính mình, với non nước mình. Xin Quan hãy trừng trị người này vì cái tội bất trung bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa đối với Ông Cha, đối với non sông Tổ Quốc của chính mình. Ba Hại nghe Thầy Tổ nói cúi đầu ra chiều hổ thẹn. Chúng dân thời kinh ngạc trước tài đánh trả của Thầy Tổ. Biến nguy thành an một cách tài tình.

- Cáo quan lấy làm sững sờ con cá đã xé lưới ra khơi, nhưng Cáo quan nào phải tay chơi, chiêu này không thành công thời ra chiêu khác. Cáo quan nhìn Thầy Tổ nói cái tội của Ông là tội khác không phải là tội tố giác kia. Ông thành thật khai ra, để được nhẹ tội.

- Thầy Tổ nói cái tội của tôi thật đáng ăn đòn, tôi rất ăn năng hối hận vì tôn thờ Cha Ông có công dựng nước hơi muộn. cũng như tôn thờ những người có công giữ nước hơi trễ. Tôn thờ non sông đất nước hơi chậm. Đáng lý ra tôi phải tôn thờ sớm hơn nữa. Cái tội của tôi là như thế.

- Tên Cáo quan bất ngờ với lối trả lời vừa châm vừa chỉa, vừa tố giác những kẻ quên Cội quên Nguồn chống phá Ông Cha. Không những hóa giải độc chưởng của y mà còn cho y một bài học. Tên Cáo quan không còn trầm tỉnh được nữa hùng hổ quát lớn ta đang hỏi chuyện khác sao ngươi lại nói chuyện này.

- Thầy Tổ bình tỉnh trả lời chuyện khác là chuyện nào tôi không rõ. Tôi chỉ biết tôi đang tôn thờ Cội Nguồn Ông Cha mà thôi. Cáo quan cứng họng.

- Thấy Cáo quan thua lý. Báo quan nhảy vào ra đòn với những cú đấm hắn cho là tuyệt chiêu, không ai đỡ nổi. Hắn nói ai khiến ông làm điều này? Hắn đi tới đi lui cái còng số 8 đeo trên lưng lăng căng lẳng cẳng. Như báo hiệu tới giờ Thầy Tổ đi vào tù.

- Thầy Tổ nghe xong với chiêu độc hiểm của Báo Quan hễ trả lời là chết, nghe theo ai cũng chết. Mà không trả lời thời cũng chết, không trả lời có nghĩa là đã nhận tội.

- Báo quan liền mở cái còng số 8 xuống. Thầy Tổ như không nhìn thấy dõng dạc nói. Chuyện tôn thờ Nguồn Cội Cha Ông mà còn để cho người ta khuyên bảo, thời còn gì Nhân, Nghĩa, Hiếu, Tung. Đánh mất bổn phận và trách nhiệm con cháu đối với Cha Ông. Lương Tâm tôi khiến tôi phải nhớ mình là con cháu, phải có bổn phận tôn thờ Cội Nguồn Cha Ông Quốc Tổ. Thể hiện lòng biết ơn Uống Nước Nhớ Nguồn, Ăn Quả Nhớ Người Trồng Cây. Quan hỏi như thế thời quan là người ngoại quốc không phải là người Việt Nam mới hỏi tôi câu hỏi vừa kém hiểu biết vừa ngớ ngẩn chẳng hiểu gì về bổn phận và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam đối với Cha Ông đối với Tổ Tiên, đối với non sông đất nước.

- Báo quan bị Thầy Tổ phản đòn tới tấp, đòn nào đòn nấy như trời giáng, Báo Quan đỏ mặt hét lớn định chém cho Thầy Tổ một đao, gỡ gạc chút đỉnh vì mất mặt trước dân chúng.

- Beo quan cản lại nói để tôi. Beo quan nhìn Thầy Tổ như nhìn một đối thủ đáng gờm, múa chân múa tay đi tới đi lui rồi tung ra một đòn chí tử, ai cho phép ông tuyên truyền lôi kéo dân chúng làm mất trật tự an ninh xã hội? Với chiêu quỷ trảo này đối thủ khó mà chống đỡ chỉ còn chờ chết mà thôi.

- Thầy Tổ nhờ tu luyện Trung Can Hiếu Nghĩa nhiều đời, lúc nào cũng nghĩ đến Cội Nguồn Cha Ông, trở thành ý chí kim cang cứng hơn sắt thép. Hùng, Bi, Trí, Dũng như núi như non. Thầy Tổ điềm nhiên nói, nói đến cội Nguồn thời ai ai cũng có quyền tuyên truyền cả, người đi trước giáo dục cho người đi sau, hiểu về Cha Ông, hiểu về non sông đất nước của mình. Hầu giữ gìn vẻ đẹp nhân bản truyền thống anh linh, dựng nước giữ nước của Ông Cha ta. Cần chi phải cho phép, luôn thể hiện bổn phận trách nhiệm nhắc nhở đối với con cái, bạn bè, người dân. Uống nước nhớ Nguồn ăn quả nhớ người trồng cây. Tôi cũng thế mà quan cũng thế đều là con cháu Vua Hùng, không lẽ làm dân như tôi, nói đôi lời tốt đẹp về Ông Cha, còn làm quan như Ngài lại quên, không nói được một lời tốt đẹp nào về Ông Cha, mà còn vùi dập Ông Cha, bằng chứng là tôi ca ngợi Ông Cha, truyền những lời Ông Cha dạy, dù khó khăn đến đâu cũng không được quên Cội quên Nguồn. Nên mới bị triệu tập lên đây. Ông Cha ta thường dạy với hạng người quên Tổ, quên Tiên, bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, là người có tội lại không có đức. Cổ nhân thường dạy người không có đức còn thua cục cứt bỏ cho cây. Dân chúng cười ô lên hay quá, lối phản đòn thật là hấp dẫn.

- Beo quan tức quá định rút súng ra bắn, Heo quan cản lại nói để đó cho tôi. Heo Quan ủn ỉn sờ cái bụng phệ của mình bốc mùi rượu bia, thịt quay gà nướng hích hai lỗ mũi lên trời như lấy sức, bất ngờ tung đòn sấm sét. Ai cho phép ông cấu kết với những thành phần xấu, cũng như lôi kéo dân chúng đi theo con đường mê tín, chống phá lại nhà nước chính quyền, ông còn gì để nói nữa không. Với lời buộc tội này thời Thầy Tổ coi như con cá đã nằm trên thớt chỉ cần ấn nhẹ con dao là rồi đời hồn du địa phủ.

- Thầy Tổ bình tỉnh trả lời chẳng cần né tránh ăn miếng trả miếng chưởng đối chưởng. Thầy Tổ nhìn Heo Quan rồi nói. Tin theo chủ trương, làm theo chủ trương nhà nước, quan hệ mật thiết với trung ương ủng hộ những người có tâm vì đất nước làm như thế là cấu kết với những thành phần xấu hay sao? Đoàn kết dân tộc giúp đỡ cùng nhau vượt qua gian khổ, lá lành đùm bọc lá rách, nhường cơm xẻ áo trong lúc gặp khó khăn, tắt lửa tối đèn tình làng nghĩa xóm, bầu thương lấy bí sự quan hệ với nhau như thế, là lôi kéo dân chúng hay sao?

- Đồng cùng một dân tộc Việt Nam, đồng chung nhau một Quốc Tổ, đồng hướng về Cội Nguồn tôn thờ Cha Ông nhắc nhở nhau phải có trách nhiệm bổn phận gìn giữ những gì tốt đẹp nhất của Cha Ông để lại, làm như thế mà lôi kéo chúng dân vào con đường mê tín hay sao? Siết chặt tình Quân Dân thân thiện với trung ương. Ai nói Trung Ương là thành phần xấu. Cùng nhau hướng về Cội Nguồn sao gọi là mê tín dị đoan.

- Chống phá Chính Quyền là những thành phần không tuân thủ pháp luật, không hành sự theo chủ trương. Mà hành sự theo cảm tính cá nhân. Tao là Luật Pháp, Luật Pháp là Tao, phép Vua thua Lệ Làng. Tự tung tự tác muốn làm gì thì làm. Lũ Biến Thái ác quan càng nghe càng kinh sợ. Thầy Tổ không dừng lại ở đây, mà tiếp tục nói lên những tiếng nói chân chính.

- Thưa các quan, trên đầu con cháu Việt Nam là Cha Ông, Quốc Tổ. Trước mặt dân chúng là chủ trương của đảng và nhà nước, Bên phải của người dân là truyền thống anh linh dân tộc dựng nước giữ nước. Bên trái của Đồng Bào, là Hiến Pháp, Luật Pháp. Sau lưng người dân là lời dạy của những bậc cấp cao lãnh đạo. Ví như lời dạy của Chủ Tịch Nước, Của Tổng Bí Thư, của Thủ Tướng vân. V.

- Tôi chỉ là người dân trên thời tôn thờ Nguồn Cội. Đi theo chủ trương nhà nước, nghe theo lời dạy những lãnh đạo cao cấp, sống theo Hiến Pháp Luật Pháp. Không quên Truyền Thống Anh Linh dựng nước giữ nước. Tôi chỉ là người như thế. Chẳng có gì ngoài bổn phận của một người công dân, bổn phận cháu con đối với Ông Cha. Nếu cho là có tội. Thời cái tội tôi ở chỗ nào, Các quan hãy cho tôi biết, tôi mới thừa nhận là mình có tội.

- Nghe Thầy Tổ nói những lời như thế, người có tội không phải là Thầy Tổ. Cấu kết thành phần xấu không phải Thầy Tổ, lôi kéo dân chúng mê tín dị đoan không phải là Thầy Tổ, phá hoại chủ trương chống lại Nhà Nước không phải là Thầy Tổ. Mà là những ác quan biến thái, đi ngược lại chủ trương. Nên Thầy Tổ hỏi có cán bộ nào trả lời, việc làm của tôi sai trái chỗ nào không.

- Không có vị quan biến thái nào trả lời cả. Đồng nghĩa là Thầy Tổ vô tội. Những ác quan nhìn Thầy Tổ bằng con mắt kinh dị, không nói là phi thường. Với lối hùng biện phản đòn không ai ngờ tới. Thầy Tổ nói tiếp đã là người dân sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, những gì Hiến Pháp, Pháp Luật không cấm thời người dân có quyền làm, Huống chi là Hiến Pháp, Pháp Luật cho phép. Người dân có quyền tham gia phản biện những gì đúng sai, cũng như cống hiến những gì tốt đẹp cho nhà nước, làm như vậy là chống phá nhà nước hay sao?

- Làm theo Trung Ương mà là xấu, theo chủ trương nhà nước mà là sai.

Người phạm tội không phải là tôi mà chính là các Ông, coi thường chủ trương, xem thường Hiến Pháp, Luật Pháp, coi thường Cội Nguồn, ngăn cản người dân không được tôn thờ Quốc Tổ. Trong khi Quốc Tổ cũng là Quốc Tổ của Đảng và Nhà nước. Quốc Tổ của cấp cao lãnh đạo. Chống Quốc Tổ là chống cấp cao lãnh đạo. Chỉ có những vị quan, quên Cội quên Nguồn, chống phá Cội Nguồn, hành động ấy rất có lợi cho quân xâm lược, hầu đưa dân tộc Việt Nam đến con đường nô lệ. Sự hành động phá hoại Cội Nguồn ấy. Bằng chứng các quan ép tôi, cũng như người dân địa phương phải từ bỏ Cội Nguồn không theo chủ trương nhà nước. Việc này chúng Tôi phải trình lên trung ương, để trung ương xem xét và kết luận. Tôi có tội Hay là: các Ông có tội. Tòa Án xét xử tối cao, không phải là tòa án Địa Phương, mà là Viện Tối Cao Trung Ương. Đám quan biến thái cửa quyền càng nghe Thầy Tổ giải trình chúng càng tái mặt. Thầy Tổ đã ra đòn thời ra cho tới bến. Thầy Tổ nói.

- Đã là người Việt Nam, thời mỗi người dân có bổn phận tôn thờ Nguồn Cội cũng như có trách nhiệm, truyền đạt lại những gì tốt đẹp của Cha Ông, nhắc nhở cùng nhau, bảo vệ quê hương đất nước.

- Thật ra người dân có tôn thờ gì tôi đâu chẳng qua họ đến với tôi là vì họ muốn nghe những gì tốt đẹp của Cha Ông Họ. Tôi thấy họ có Nhân, có Nghĩa, có Trung, có Hiếu, nên tôi mới bỏ chút thời giờ kể về Ông Cha của họ. cho họ nghe.

- Còn những người Tổ Tiên không thờ, tôn thờ ngoại bang, bất Nhân, bất Nghĩa, bất Trung, Bất Hiếu. đối với Cội Nguồn Cha Ông của mình. Dù cạy răng tôi cũng không bao giờ nói. Vì những người này không xứng đáng để được nghe những gì tốt đẹp của Ông Cha Cội Nguồn của chính họ.

- Những kẻ có tội không phải là tôi, mà là những kẻ phản bội Ông Cha ngăn cản không cho người dân hướng về Cội Nguồn. Trù dập tấm lòng trung quân, hiếu nghĩa, có trách nhiệm và bổn phận đối với quê hương non sông đất nước. Tôi xin nhắc lại lần nữa kẻ có tội chính là các Ông, không phải là Tôi.

- Tôi cũng như bao nhiêu người dân luôn hướng về Cội Nguồn tôn thờ Cội Nguồn, luôn thành kính biết ơn. Và kế thừa những gì tốt đẹp của Cha Ông để lại, phát huy và gìn giữ. Tôi thừa nhận là dân chúng có mến mộ đức độ của tôi, ca ngợi sự hiểu biết của tôi. Nhưng họ không đi theo tôi, mà đi theo chủ trương của nhà nước hướng về Nguồn Cội ca ngợi Truyền Thống Anh Linh dựng nước giữ nước, đó là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam.

- Với lập luận vững chắc hùng hồn xé lưới thiên la địa võng của chúng.

- Hơn mười tên quan ngơ ngác. Dân Chúng thời tỉnh ngộ nhất là những người yêu mến Cội Nguồn không còn sợ sệt gì nữa.

- Với tài nghiệp vụ biến trắng thành đen, không tội làm cho có tội, nhưng trước một người có lối trả lời hết sức kỳ dị như Thầy Tổ. Cáo quan, Báo quan, Beo quan, Heo Quan, nhìn nhau thăm dò ý kiến. Sói quan từ nảy giờ theo dõi trận đấu trí, thấy đàn em bị đánh tơi bời, không đi vào án kết được nữa. Bằng nói để đó cho cấp trên.

- Với ngón nghề hơn hẳn đàn em, mấy mươi năm điêu luyện chưa có lần nào là con mồi thoát khỏi khi đã ra tay, bằng tung tuyệt chiêu hầu hạ gục con mồi.

- Sói quan nói này Ông Hiến ông nói dân mến mộ đức độ của Ông, đức độ của Ông là cái gì Ông hãy trình bày ra đây cho Quan rõ. Quan Beo, Quan Heo, Quan Cáo thấy đàn anh ra đòn hấp dẫn, bồi thêm mấy chưởng Ông nên thành khẩn khai thật ra đây.

- Dân chúng nín thở ai cũng nghĩ lần này Thầy Tổ có thoát ra được mẻ lưới xảo quyệt của bọn cửa quyền hay không. Nếu không thời coi như hết đời thật tội nghiệp cho Thầy Tổ. Bọn biến thái cửa quyền ác bá nhìn Thầy Tổ như muốn ăn tươi nuốt sống. Chạy đâu cho khỏi thiên la tai họa, địa võng tai ương của bọn tao. Tên nào tên nấy đằng đằng sát khí nanh vuốt càng mọc ra dài thoàng, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạt vía.

- Thầy Tổ bình tỉnh tăng thêm công lực biện tài vô ngại, dõng dạc trả lời. Đức là Đạo Đức ví như Đức Tính uống nước nhớ Nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, dân chúng thấy tôi luôn ca ngợi Cha Ông tôn thờ Cội Nguồn. Sáng cái Đức Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, dân chúng muốn học tập cái Đức trung hiếu nhân nghĩa này, nên họ thường tìm đến tôi. Tôi lúc nào cũng làm theo chủ trương của nhà nước, luôn đoàn kết không chia rẽ tình Đồng Bào Nghĩa Quân Dân. Cái Đức của tôi là như vậy.

- Cho nên lối sống của tôi, lối sống có Đạo có Đức, sống có tình nghĩa, tình làng nghĩa xóm. Lá lành đùm bọc lá rách, tỏa sáng cái Đức thương người. Thương người như thể thương thân, hại người như thể bỏ phân cho người. Đức nhân tỏa sáng ngời ngời. Nên phần nhiều dân chúng mến mộ tôi.

- Lại nữa Hiến Pháp, Luật Pháp cho phép mỗi người dân có quyền theo, hay không theo tôn giáo đạo giáo. Cái quyền của người dân được Hiến Định trong Hiến Pháp. Quyền được theo. Quyền Không Theo. Nên tôi chọn đi theo Truyền Thống Anh Linh Dựng Nước Giữ Nước. Tôn thờ những người có công đối với đất nước non sông. Sáng cái Đức biết ơn đối với tiền nhân. Sáng cái Đạo làm người, Đạo làm con cháu có trách nhiệm và bổn phận, trên thời ca ngợi Ông Cha, kế thừa những gì Ông Cha để lại. Dưới thời truyền dạy những gì tốt đẹp của Ông Cha truyền dạy cho thế hệ sau. Nên người dân luôn ca ngợi và mến mộ tôi.

- Ông Cha ta thường dạy sức yếu thời làm việc nhỏ miễn là có ích cho đời cho xã hội. Trước kia tôi thấy mẻ chai giữa đường tôi không bao giờ lượm, nhưng nay thời lại khác tôi không những lượm mẻ chai bỏ đi mà con khuyên người đừng bỏ mẻ chai ra đường. Trước đây tôi không biết kính trọng người già nhưng từ khi tìm hiểu qua lịch sử Ông Cha, tiên học lễ, hậu học văn. Vì thấm nhuần lời dạy tiền nhân, từ đó tôi ra đường thường tôn kính người già, nhường đường cho người già đi không chen lấn tranh giành. Trước đây tôi ít đóng góp ngày công cho xã hội, nay thời tôi hăng hái xung phong đi đầu. Xưa kia tôi hay nói láo đâm thọc thêu diệt, nhưng nay tôi nói cái gì cũng thật, nói lời nào cũng hữu ích cho xã hội, Thầy Tổ kể hết Đạo Đức này đến Đạo Đức kia lũ biến thái cửa quyền ác quan nghe như tiếng sấm rền vang.

- Có lẽ Sói quan chịu không nổi vỗ xuống bàn cái rầm thịnh nộ quát Ông khai kiểu gì lạ vậy khai như thế làm sao kết án đem ra xét xử. Thầy Tổ trầm tỉnh trả lời Quan biểu tôi thành thật khai báo. Tôi đã khai đúng những gì tôi đã làm không có một chút gian dối.

- Sói Quan tức điên lên rút súng ra định bắn. Thầy Tổ nhìn khẩu súng rồi nói, tôi cũng muốn chết từ lâu. Không lẽ nhảy xuống sông tự tử thời bị thiên hạ cho là ngu, còn uống thuốc độc tự tử thiên hạ cho là dại, tự mình đập đầu chết thiên hạ cho là điên. Tôi luôn nghĩ đến cái chết, chết như thế nào là chết xứng đáng, chết vang danh muôn đời. Nay được chết vì Cha Ông, chết vì làm theo chủ trương nhà nước, thời còn gì bằng. Người tu ai chẳng mơ ước cái chết như thế. Bây giờ không chết thời già cũng chết, quan cứ ra tay. Quan cứ nổ súng.

- Mười mấy tên quan ai nấy cũng lấy làm kinh dị. Dân chúng nghe xong không cầm được nước mắt. Những tên biến thái ác quan xầm xì bàn tán với nhau rồi đi đến kết luận, chưa kết tội được thời tạm tha, khi nào có kế mới thời mời đến làm việc. Dân chúng thở phào nhẹ nhõm mừng cho Thầy Tổ. qua khỏi kiếp nạn. Viết tới đây Thầy Tổ, không khỏi thở dài. Trách chi một lũ thằng hề, khói mây rồi cũng trở về khói mây. Xin tạm dừng nơi đây Thầy Tổ sẽ cố gắng viết tiếp những gian nan khốn khổ cay đắng cuộc đời.
 

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT 5

- Nói về Thầy Tổ vào năm 28 tuổi là năm chuyển số đổi đời có thể nói trở thành một con người khác, năm ấy là năm Nhâm Tuất. Đi vào cơ Tuất Hợi phục sinh. Có nghĩa là Thầy Tổ phá vỡ Vô Minh nhớ lại tất cả hồi phục linh căn trở lại là Anh Linh Quốc Tổ.

- Từ nơi hư không vũ trụ. Đại Đế Xà Vương thế lực bóng đêm, biết linh căn Thầy Tổ sắp phục hồi trở lại nguyên căn là Anh Linh Quốc Tổ. Xà Vương Đại Đế liền sai khiến một con rắn mái gầm to lớn nọc độc rất mạnh từ nơi bụi lùm ống cống gần nhà Thầy Tổ. Bò vào nhà cắn chết Thầy Tổ. Thầy Tổ mất đi cái xác phàm trần, Linh Căn Thầy Tổ chỉ còn trở về Thiên Giới mà thôi. Ánh sáng Tâm Linh Chánh Đẳng Chánh Giác không còn ra đời nơi chốn trần gian.

- Nói về Thầy Tổ trong đêm tối ấy Thầy Tổ đang ngủ say vì trời nóng nên không bận áo ngủ để mình trần cho mát. Trong lúc ngủ Thầy Tổ cảm giác như có thứ gì bò lên nhớt trầy lành lạnh cứ bò lên mặt rồi bò xuống mình. Thầy Tổ liền quờ tay lấy cái (đèn) bin bấm lên rọi coi thử cái gì, thời không khỏi kinh hoàng thì ra là một con rắn mái gầm to lớn. Thầy Tổ hất con rắn rồi ra khỏi nhà đóng cửa lại. Ở vào thời điểm ấy chưa có điện 24 trên 24 chỉ có từ 7 giờ đến 9 giờ, qua 9 giờ phải thắp ngọn đèn dầu leo lắc trong nhà, vì nơi đâu cũng tối om. Thầy Tổ khi phát hiện ra con rắn mái gầm to lớn, thời không còn ở trong nhà nữa vì sợ rắn cắn. Mà ra nằm ngoài sân Theo như sự truyền miệng Mái Gầm cắn chết tại chỗ. Rắn Hổ cắn về nhà mới chết.

- Nhưng không may cho con rắn mái gầm, chưa cắn được Thầy Tổ, thời bị thiên hạ Đồng Bào con Rồng cháu Tiên giết chết.

- Nói về hàng xóm mới sáng đã nghe tin Thầy Tổ may mắn thoát chết trong gang tấc, bằng rủ nhau đến nhà Thầy Tổ xem có thiệt không. Bà con vào nhà lục lạo một hồi phát hiện con rắn Mái Gầm nằm trong hộc tủ. Thế là bà con hàng xóm tóm cổ xách đi nghe đâu bỏ vào thẩu ngâm rượu. Vụ bắc con rắn mái gầm trong đó có Ông Tâm, Ông Tâm bằng đem câu ch.uyện ấy nói với Ông Như kể lại đầu đuôi. Ông như là người trí thức học rộng hiểu nhiều, rất giỏi giải mã những câu chuyện kỳ lạ.

- Ông Tâm nhờ Ông Như giải mã dùm sự vụ Ông Hiến rắn Mái Gầm bò lên mình mà không cắn là điềm gì. Ông Như nói không phải là không cắn đâu. Con rắn cắn chưa được vì có Thần Linh che chở bảo bọc. Ông Hiến là người ăn chay trường ở vào thời đại bao cấp bấy giờ là điều hiếm có, mỗi lần ao trong nhà nước cạn. Ông bắt thả hết cá ra sông rất quý sanh mạng dù là loài cá. Nhịn không dám ăn đem tiền mua thuốc giúp cho người khác. Phi ân bất cầu báo không mấy ai làm được. Thường đem gạo lúa giúp cho người xung quanh theo đạo đức Cha Ông lá lành đùm lá rách, tu hành nổi tiếng, nghe đâu cưỡi xe đạp đi ngoài đường, thấy đàn kiến bò ngang liền xuống xe bê xe qua không đạp đàn kiến, lòng từ bi như thế đương nhiên có Thánh Thần che chở phù hộ.

- Sự vụ rắn mái gầm bò lên mình Ông Hiến không phải là ban ngày mà là ban đêm, bò tới bò lui trên mình mà không cắn, không phải là chuyện ngẫu nhiên bình thường. Như có một điềm gì báo trước.

- Xưa nay ở đời, mở màng cho một sự nghiệp nào đó, thường là rắn thần chậm đường cản trở. Nếu không trảm xà thời khó mà vượt qua. Nhưng ở đây không phải Ông Hiến trảm xà. Mà là Thiên Hạ Đồng Bào trảm xà thay cho Ông Hiến giết chết con rắn độc. Khó mà đón biết được điều gì xảy ra trong tương lai. Gặp đại họa Ông Hiến không chết, đương nhiên có đại phúc xuất hiện nơi Ông Ta. Để mà xem là chuyện gì. Trong khi thế thời phải nói là mịt mù u ám. Theo như kinh sấm.

Đời này những quỷ cùng ma

Chẳng phải người thế chẳng ra người hiền

- Cũng trong năm đại nạn qua khỏi ấy Thầy Tổ phá vỡ Vô Minh phục hồi linh căn trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác Anh Linh Quốc Tổ phục hồi. (có nghĩa là: năm 28 tuổi linh căn Thầy Tổ phá vỡ Vô Minh. Phục Hồi Linh Căn trở về Chánh Giác Anh Linh Quốc Tổ, Huệ Mạng Chánh Đẳng Chánh Giác Anh Linh Quốc Tổ, tiếp nhận Thiên Ý chuyển hóa ra đời trở Thành Kinh Luân. Đi vào cơ Nhị Ngũ Dư Bình từ 2010 đến 2020.)

- Nói về từ khi Thầy Tổ phá vỡ Vô Minh Phục Sinh phục hồi Linh Căn, rõ mình là Quốc Tổ. Đúng như những gì trong sấm nói (Tuất Hợi phục sinh) Từ đó về sau là thiên la tai họa giáng xuống, địa võng tai ương ập vào. Nhưng Huệ Mạng Anh Linh Thầy Tổ mỗi lúc một tỏa sáng, tiếp nhận Thiên Ý lần lượt chuyển hóa thành Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử ra đời.

- Nói về Quỷ Vương Đại Đế thấy Thầy Tổ thoát chết trong gang tấc do Xà Vương sai khiến rắn mái gầm h.ãm hại. nhưng không thành công. Đại họa không chết trở thành đại phúc Căn Thân Huệ Mạng Thầy Tổ liền sau đó phát sáng phá vỡ Vô Minh. Trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác tiếp nhận Thiên Ý chuyển hóa thành kinh luân, nhưng mới sơ khai còn non trẻ Bộ Nhân Luân Hiếu Nghĩa mới bắc đầu ra đời. Bằng tìm kế hại cái xác thân tạm vay mượn của Thầy Tổ. Hầu dập tắt đi ánh sáng Mặt Trời Văn Hóa Xuất Hiện ra đời nơi chốn nhân gian.

- Quỷ Vương Đại Đế tìm cách mưu hại bằng thổi một luồng gió xoáy rất mạnh, làm gãy đầu an-teng của Ông Hai, nhà kế bên. Ông Hai là thương phế binh muốn hạ trụ an-teng xuống rất khó. Một phần vì thương tật lại một mình không thể nào hạ an tên xuống được, bằng nhờ nhiều người trong đó có Thầy Tổ.

- Quỷ Vương Đại Đế xuôi khiến những người Ông Hai mượn hạ trụ an-teng, vào vị trí an toàn. Dây chằng an tên không có người nắm giữ. Thầy Tổ phải nắm giữ dây chằng an-teng. Trong khi đang hạ trụ an tên xuống thời một luồng gió mạnh làm cho trụ an-teng vướng vào dây điện cao thế đường dây chính bắt vào nhà. Thế là Thầy Tổ bị điện giật dính luôn không cách gì gỡ dây chằng an-teng ra khỏi tay cầm được. Thầy Tổ thấy người như bị đốt sạch chỉ còn lại trái tim, chống cự lại. Đã là xác phàm thời làm gì chống lại điện cao thế. Nếu may sống thời sức lực trong người cũng như thần kinh bị tổn hại khó mà hồi phục. Thân Thầy Tổ đã tím đen. Những người có mặt họ đứng im tại chỗ như người trồng, chỉ nhìn Thầy Tổ sắp cháy đen lòng kinh hãi mà thôi.

- Có lẽ lúc ấy Cha Trời Địa Mẫu cũng biết, nên truyền một luồn thần lực vào người Thầy Tổ, Thầy Tổ liền vùng lên một cái rất mạnh, tức thời đầu dây chèn an tên chập điện vào đường dây chính bắt vào nhà bung ra, thế là Thầy Tổ thoát chết. Nhưng sức khỏe thời xuống cấp trầm trọng phải hơn cả năm nhờ tu thiền luyện khí mới hồi phục lại được nhưng Thần Lực giảm sút không còn như trước nữa. Không vì Thần Lực giảm sút mà ý chí Thầy Tổ giảm sút, trái lại càng mạnh mẽ hơn trước tiếp tục trên con đường viết kinh. Thế lực u minh bóng đêm không khỏi thất kinh, càng hại Thầy Tổ ý chí Thầy Tổ càng mạnh. Không khác gì đổ dầu vào lửa, càng đổ dầu ngọn lửa càng cao, càng cháy lớn. Sức nóng kinh hồn làm tan chảy đất, đá, sắt, thép.

- Thầy Tổ nay đã già, ôn lại những gì trải qua một chặng đường dài những kiếp nạn nối nhau 81 kiếp nạn mới viết xong kinh, thơ, triết, truyện, văn, sử. những câu chuyện kiếp nạn xảy ra không thể nào kể hết ra đây. Lần nào gặp nạn mạng sống cũng nằm trong đường tơ kẽ tóc.

- Nói về Thầy Tổ vào năm 31 tuổi, năm 1985 năm ất sửu, năm Linh Căn Thầy Tổ chuyển hóa Thành Kinh Luân. Có nghĩa là Thầy Tổ đi vào thành Đạo. Cùng lúc ấy có vị tướng trời đã lâm phàm xuống trần xuất hiện đến gặp Thầy Tổ, theo phò chánh pháp Văn Hóa Cội Nguồn.

Chân mệnh người này chính là Sao Ngưu. Người Ấy là Ông Đinh Hùng Chung. Cao Đài Đại Bồ Tát Tiên Ông. Cũng chính là Đinh Tiên Hoàng tái sanh trở lại. Đức Cao Đài Tiên Ông đã từng theo phò Đức Chí Tôn, nhiều đời nhiều kiếp.

- Lại nói về ở vào thời ấy tức là 1985 do sự sai khiến những tay Đại Đế U Minh tác động qua từ trường sóng Âm sai khiến những người không có Lương Tâm, thành phần biến chất trong chính quyền, tự tung tự tác có thể nói mình là Pháp Luật. Luật Pháp là mình. Một tay che trời, đi ngược lại chủ trương nhà nước. Thế lực cửa quyền khi mà nắm toàn quyền thời làm mưa làm gió. Chúng điều động tất cả các ban ngành vào cuộc mở ra những trận chống phá Cội Nguồn long trời lở đất. Những người có lòng hướng về Cội Nguồn tôn thờ Quốc Tổ kinh hồn bạt vía lưng mật sợ quá mà chết. Sự khảo đảo thế lực biến thái cửa quyền cứ thế kéo dài hết năm này đến năm khác, cho đến khi Thầy Tổ được 43 tuổi đời, 13 năm Thành Đạo.

- Có nghĩa là: Thầy Tổ ngộ đạo vào năm 1982 năm Nhâm Tuất khi ấy Thầy Tổ 28 tuổi đời kéo dài 3 năm trong cảnh giới Ngộ Đạo. Đến 1985 năm Ất Sửu, Thầy Tổ đi vào Thành Đạo, khi ấy Thầy Tổ 31 tuổi đời. 1 tuổi Thành Đạo, cho đến tuổi Thành Đạo được 13 năm, khi ấy tuổi Đời Thầy Tổ là 43 tuổi. Thầy Tổ cũng đã viết được nhiều bộ kinh thơ. Đáng lý ra Thầy Tổ gặt nhiều phúc báo, nhưng không phải vậy kiếp nạn vẫn cứ xảy ra. Do sự khai khiến của các thế lực Đại Đế U Minh. Những thành phần không còn Lương Tâm, ví như tivi, bị cái mót thế lực Đại Đế U Minh điều khiển. Đi vào chống phá Cội Nguồn càng về sau càng mạnh, không nói là gào thét hãi hùng ai nghe thấy cũng kinh hồn khiếp vía. Phát thanh truyền thanh liên tục phát ra chống phá khắp cùng Quận, Huyện, hầu dập tắt ngọn lửa Cội Nguồn.

- Sự chống phá này rất được lòng những gì ngoại xâm mong đợi. Mất đi Văn Hóa Cội Nguồn đồng nghĩa là đi vào mất nước. Càng chống mạnh thời ngoại xâm càng có lợi. Thầy Tổ hiểu rõ như vậy, nhưng không thể nói ra được. Chỉ biết nhẫn nhục cũng như giữ được mạng sống tiếp tục viết Kinh, Thơ, Văn, Sửu, Triết, Truyện.

- Sự chống phá dai dẳng càng ngày càng nguy hiểm. Thầy Tổ không còn cách nào hơn, là tìm người có tài có đức gánh vác trách nhiệm khó khăn, cứu vãn tình thế càng lúc càng nguy cập. Cũng như lập trận ngũ hành, chống trả lại thiên la tai họa địa võng tai ương. Sự khảo đảo cửa quyền là sự khảo đảo cao nhất không còn sự khảo đảo nào cao hơn. Có những người gan đồng dạ sắt bị sự khảo đảo tan chảy ra nước đành bỏ cuộc không dám đi trên con đường Cội Nguồn nữa.

- Ở vào thời ấy, phải nói người ta theo Thầy Tổ rất đông. Nhưng Thầy Tổ đều báo trước, con thuyền tận độ. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời, ai đã lên thuyền thời vững tâm trụ vững dù cho bão tố phong ba, ầm ầm sóng dữ cũng không rời thuyền. Nhưng rồi những người đã lên thuyền không chịu nổi sự khảo đảo dai dẳng kinh hồn, rời thuyền bị binh tôm tướng cá chúng xơi sạch sành. Trong tâm không còn nhớ gì về Ông Cha nữa. Trên thuyền còn lại hai người kim cang dũng khí vẫn còn trơ trơ.

- Hai người còn lại trên thuyền chính là Ông Đinh Hùng Chung, Trần Minh Thắng. Ông Đinh Hùng Chung phát đại nguyện đại diện cho số bà con anh em 500 chữ ký mến yêu Cội Nguồn. ký tên xin xây dựng đền thờ Hùng Vương. Tỏ lòng hiếu kính với người dựng nước dựng non. Sự phát nguyện của Ông Chung ứng vào sấm cơ.

Ngõ hầu gặp hội mây rồng

Công danh choi chói chép trong vân đài

Bây giờ phỉ sức anh tài

Lọ là cho phải nhọc nhằn ngược xuôi

- Khi ấy Thế thời, thời thế khó khăn, Mác Lê chủ nghĩa nóng ran đất trời. Mấy ai can đảm dám lên đường để gặp Trung Ương. Trong khi chủ nghĩa vô thần xông lên cuồn cuộn chín tầng mây cao

- Để cứu vãn tình thế thiên la tai họa, địa võng tai ương, phải nhờ đến Trung Ương che chở can thiệp, Ngoài Ông Đinh Hùng Chung ra, thời không ai làm nổi. Ông Đinh Hùng Chung mang đơn Thầy Tổ cùng 500 chữ ký lên đường ra gặp Trung Ương, trình bày nguyện vọng, giải trình khôi phục Cội Nguồn, thờ phụng Quốc Tổ Vua Hùng toàn dân. Có thể nói có đi không về, coi như đã đi vào cửa tử.

- Sự mơ ước cái này cái kia nói thời dễ, nhưng đi vào thực hành là vô cùng khó khăn,

- Bước đầu tiên, có nghĩa là tiền đâu để mà lên Trung Ương, trong khi năm qua tháng lại không làm ăn gì được, trong sự cấm cố trù dập triền miên. Thầy Tổ ở vào thời ấy trong túi lúc nào cũng trống không, không có một đồng xu chỉ ăn bám vào gia đình. Lấy đâu ra tiền trợ lực cho Ông Chung.

- Nói về Ông Đinh Hùng Chung, nghị lực dũng khí khác thường, có một không hai, sự hi sinh cũng không ai bì kịp, bán máy bơm. Bán máy gạo, bán bớt đất đai trong vườn, chỉ còn lại cái nhà để ở mà thôi.

- Ông Đinh Hùng Chung mang đơn Thầy Tổ, tức là mang Thiên Ý cùng 500 chữ ký lên đường. Ứng theo sấm cơ -

- Gà kêu cây ngọc trời nghiêng bắc.

- Trâu tới đồng lam bóng rạng đông.

Ý nói Ông Chung tuổi con Trâu. Lại gặp năm con Trâu 1997 cơ trời đánh thức Sao Ngưu dậy, đến tháng 8 tháng Dậu Gà Kêu, thời mang Ý Chỉ của Trời, tức là Ý Tưởng khôi phục lại Cội Nguồn Ngọc Thụ. đi về Hướng Bắc lên Trung Ương, ứng vào câu Trời Nghiêng Bắc. đến gặp cụ Phạm Văn Đồng, đi vào câu Trâu Tới Đồng Lam. Có nghĩa là Ông Chung gặp Ông Đồng. cũng là lúc Văn Hóa Cội Nguồn đi vào bóng rạng đông. Có nghĩa Mặt Trời Văn Hóa Cội Nguồn chưa lên, chỉ mới hừng đông, ánh sáng Cội Nguồn mới bắt đầu ló dạng. Ông Chung tuổi con Trâu, đi đến Đồng Lam, tức là gặp Phạm Văn Đồng. Trở thành đại Đồng Chung tiếng vang từ đó trỗi dậy nổi lên.

Trâu ra Đồng ruộng Trâu cày,

Mới nên Hạt Ngọc sau này ấm no.

Cũng là chuyến đi mở đường cho Ngọc Thụ Văn Hóa Cội Nguồn ra đời, tức là Ý Trời ra đời, Văn Hóa Cội Nguồn ra đời đi vào cơ Nhị Ngũ Dư Bình. Từ năm 2010 đến 2020 Sấm đã chỉ đường cứ theo đó mà đi.

- Ở vào thời ấy mỗi bước chân Ông Đinh Hùng Chung là mỗi bước chân luôn cho người giám sát, đâu phải đi ngang nhiên mà lên trung ương được. Phải ra khỏi địa phận quê hương Đức Phổ. Đón xe ra Hà Nội vào lúc nửa đêm.

- Gian khổ phải nói là không thể nào diễn tả nỗi, gian truân khổ cực vì Cội Nguồn, vì nước non Dân Tộc đương nhiên nhà nước Tâm Linh Văn Lang, Hồn Thiên Dân Tộc luôn theo sát che chở bảo bọc cho Ông Đinh Hùng Chung. Nên Ông mới tai qua nạn khỏi nhiều lần. Ông Chung ra Hà Nội mới xuống xe đi một đoạn đường, thời từ đâu không biết bọn côn đồ vây đánh Ông Chung, cướp giật đồ Ông Chung. Có nghĩa là cướp lấy đơn gửi Trung Ương cũng như 500 chữ ký, hầu phá hủy chuyến đi. Bổng từ xa nhiều người vác đao chạy tới chém bọn côn đồ. Ông Chung vì thế mà thoát nạn.

Viết tới đây lòng bồi hồi xúc động xin dừng bút, nếu còn sức lực thời viết tiếp, hồi ký những gì đã qua.
 

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT 6

Để hiểu rõ thêm về sự ra đời của Thầy Tổ, có thể tóm tắt những ý văn hồi ký như sau.

Thầy Tổ trở lại trần gian, đầu thai mượn xác thân phàm tục, sanh ra đời. Nhưng vì tái sanh làm người phàm tục, xác thân phàm tục khí huyết ô trược, làm cho trí giác Thầy Tổ không còn nhớ về quá khứ tiền kiếp của mình là ai. Chỉ biết khác thời uống, đói thời ăn, nương theo Cha Mẹ người thân để sống. Lớn lên trong hoàn cảnh bom rơi đạn nổ, còn nhỏ mà đã lưu lạc tứ phương. Trải qua 27 năm tâm linh còn nằm trong cảnh giới phàm, tuy tu thiền, nhập định, quán tưởng, như chỉ ở cảnh giới Ngộ Không. Chưa ra khỏi tam giới, vẫn còn bị nhốt trong tam giới dù cố gắng thoát ra nhưng không bao giờ thoát được. Biết rằng Thầy Tổ đã đạt đến cảnh giới tứ thiền mọi ý niệm đều vắng lặng không không.

- Nhưng còn vọng chấp cái Ta. Ta Đắc Nầy Ta Chứng Kia. Chưa ra khỏi vọng chấp nên chưa ra khỏi luân hồi sanh tử. - Đôi lúc Thầy Tổ nghĩ về non sông đất nước với nền Văn Hiến hơn bốn nghìn năm. Thật kỳ lạ Thầy Tổ cũng chính là Văn Hiến. Cái tên gắn liền với Nền Văn Hiến lâu đời. Như cảm nhận mình có liên quan đến non sông đất nước, nhưng chưa được rõ ràng cho lắm.

- Cho đến một đêm vào đêm 19 tháng 6 năm 1982 lúc ấy thầy Tổ 28 tuổi. Thâm Tâm Thầy Tổ đi vào tự nhiên đại định. Có nghĩa là an trụ Chân Tâm Chân Tánh vô trụ vô niệm tự nhiên, không còn cái Ta, vô chứng vô đắc. Mỗi lúc đi vào tự nhiên thanh tịnh đại định. Tất cả mọi sự trong tâm Thầy Tổ đều thay đổi. Có thể ví như con gà phá vỡ vỏ trứng ra đời. Ý Thức Thầy Tổ liền ra khỏi tam giới, ra khỏi sanh tử, hiểu rõ càn khôn, làm chủ càn khôn. Đi vào Ngộ Đạo, ngộ ra tất cả, và cũng hiểu rõ mình từ đâu đến, liền Nhận Tổ Quy Tông. Hội nhập trở lại Cội Nguồn. Tiếp nhận Thiên Ý.

- Nhưng mãi đến ba năm sau, vào đêm 19 tháng 6 năm 1985 mới đi vào Thành Đạo, có nghĩa là Căn Thân Huệ Mạng Thầy Tổ, chuyển hóa thành Kinh Luân đi vào thành Đạo, một tuổi thành Đạo ra đời, trở thành chuyển luân Pháp Vương. Chuyển Luân Pháp Vương chính là Văn Hóa Cội Nguồn ra đời, cũng chính là Huệ Mạng Anh Linh Thầy Tổ ra đời. Huệ Mạng Anh Linh Quốc Tổ cũng đó. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời trở thành Bảo Hà Quốc Bảo. Đi và câu sấm ký.

- Ngọc Thụ ra đời Thiên Tử Xuất. Có nghĩa là Văn Hóa Cội Nguồn ra đời Con Trời xuất hiện.

Tóm lại: Quốc Tổ lâm phàm ra đời, với hai giai đoạn, giai đoạn bào thai nằm trong xác phàm trí thức bị giam trong tam giới 27 năm không biết mình là ai từ đâu tới.

- Nên không gọi là Anh Linh Quốc Tổ. Mà gọi là Anh Linh Văn Hiến. Cho đến khi Thầy Tổ nhận ra mình là ai, từ đâu đến, thời mới đi vào Anh Linh Quốc Tổ. Hay còn gọi là Chuyển Luân Thánh Vương. Tiếp nhận Thiên Ý Cha Trời, hành sự theo Thiên Cơ.

- Từ đây trở đi Anh Linh Huệ Mạng Quốc Tổ trở thành Thiên Mệnh, làm theo Thiên Ý cơ trời. Không còn ý cá nhân nữa. Ý Trời cũng chính là Ý Quốc Tổ, đi vào câu sấm cơ.

Gà kêu cây ngọc, Trời nghiêng bắc,

Trâu tới Đồng lam bóng rạng đông

Có nghĩa là: Đến năm Đinh Sửu 1997 Trời kêu Sao Ngưu thức dậy. Ông Đinh Hùng Chung tuổi con Trâu Thức Dậy, Nhận Thức việc mình phải làm dù cho khó khăn cách mấy. Chờ cho Gà kêu năm Đinh Sửu tháng 8 Dậu. thời lên đường. Mở đường cho Ngọc Thụ Ý Trời, ra đời, đi vào cơ Nhị Ngũ Dư Bình, ứng theo sấm cơ.

Phá Điền Thiên Tử Xuất,

Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

Phá Điền, chính là con Trâu dẫn đầu mở đường. Cho Ý Trời Ngọc Thụ Văn Hóa Cội Nguồn đi vào đời. Có nghĩa là đi vào Trung Ương. Văn Hóa Cội Nguồn chính là Văn Hóa Chơn Mệnh Thiên Tử. chuyển lên đầu rồng, lúc bấy giờ đầu Thiên Hạ ở Bắc, có nghĩa là Ý Trời chuyển lên cho Trung Ương đầu của Thiên Hạ. Mở đường cho Trung Ương trở về Cội Nguồn. đi vào câu sấm ký:

- Long Hoa Muôn Thuở Biên Cương.

- Việt Thường Con Cháu Tiên Rồng vẻ Vang.

Ý nói đầu Thiên Hạ trở về Nguồn thời cả Thiên Hạ đi vào vẻ vang. Hay nói một cách khác Việt Nam tỏa sáng đi vào vẻ vang.

- Người được chọn Phá Điền, mở đường, mở ra thời đại mới, thời đại đi vào cơ Thánh Đức chính là Sao Ngưu. Sao Ngưu, đi tới Đồng Lam. Cũng là lúc Hừng Đông, Mặt Trời Văn Hóa Cội Nguồn ửng hồng xuất hiện. Cũng là lúc Đại Đồng Chung rền vang cõi bờ. Dậy đi dậy đi nhân loại con người. Gieo trồng hạt ngọc cày bừa cùng nhau. Nghĩa là cùng nhau gieo trồng Thiên Ý ngọc châu. Cho non cùng nước về sau huy hoàng.

- Nói về Ông Đinh Hùng Chung tuổi con Trâu ứng vào sao Ngưu. Ở vào thời Hùng Vương thời Văn Minh lúa nước, mở đầu là con Trâu đi vào cày bừa. làm ra những hạt ngọc, nuôi sống con người. Tiếng Gà đã gáy. Dậu Kê báo thức Bình Minh sắp dậy, ứng vào câu.

- Kê Minh, Ngọc Thụ, Thiên Khuynh Bắc.

- Ngưu xuất lam điền, nhật chính đông

Hay là:

- Gà kêu cây ngọc, trời nghiêng bắc

- Trâu tới đồng lam bóng rạng đông

Đồng là Phạm Văn Đồng, Chung là Đinh Hùng Chung. Hai người này gặp nhau trở thành Đại Đồng Chung. Đại Đồng Chung ngân lên, đi vào đánh thức. Báo hiệu đất nước Việt Nam đi vào trang sử mới. ứng vào câu

- Nhược Đãi Ưng Lai, Sư Tử Dậy,

- Thế Gian Tận Hưởng, Thái Bình Phong

Hay là:

- Nhìn Thấy Tương Lai, Sư Tử dậy

- Thế Gian Tận Hưởng Thái Bình An

Có nghĩa là Trời sắp sáng, đàn Sư Tử nhìn thấy tương lai, quay đầu trở lại Cội Nguồn, làm cho đất nước thái bình an lạc tận hưởng âu ca.

Cơ Tạo Hóa tuy đã ấn định như vậy, nhưng không tận lực thời không thành, nên mới có câu Tận Lực Tri Thiên Mệnh. Nhìn thấy Tương Lai nhưng không ra sức hành sự làm theo cơ vận của trời. Thời khó mà gặt hái những gì Trời Cho.

- Ông Đinh Hùng chung theo Sấm Ký chỉ đường

Gà Kêu Cây Ngọc Trời Nghiêng Bắc. Trâu Tới Đồng Lam Bóng Rạng Đông. Nắm rõ Huyền Cơ Ông Chung lên đường ra bắc. lên Trung Uong gặp cụ Đồng. Vang lên tiếng đại Đồng Chung. Đánh thức Sư Tử dậy. Nhìn về tương lai Tiên Rồng vẻ vang Thái Bình An Lạc, Thái Bình Phong.

- Ông Đinh Hùng Chung lên Trung Ương nhờ sự giúp đỡ của nhiều người trong đó có Ông Phan Niêm luật sự quốc hội, cũng như nhiều người ở Viện Sử Học như Ông Trung, Ông bài và Ông Hùng chỉ đường Ông Đinh Hùng Chung gặp Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, vào ngày 8 tháng 9 năm 1997 từ nơi Phủ Thủ Tướng. Ông Phạm Văn Đồng cho xe con đến rước Ông Đinh Hùng Chung vào Phủ Thủ Tướng.

- Ông Chung gặp Cụ Đồng cơ duyên tiền định hai người gặp nhau lấy làm mừng. Ông Chung trình bày giải trình nguyện của Ông cũng như nguyện vọng Đồng Bào Đức Phổ, Cụ Đồng nghe xong lấy làm rất vui, và muốn được nghe nhiều hơn nữa về việc khôi phục Cội Nguồn. Cũng như thờ phụng Quốc Tổ Vua Hùng toàn Dân, hai người kẻ nói qua người nói lại say sưa quên cả thời gian. Trợ lý Cố Vấn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng là Nguyễn Tiến Năng, và Phạm Văn A.

- Hai người thấy Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng say sưa nói chuyện quá giờ. Bằng nói quá giờ rồi Thủ Tướng. Cụ Phạm Văn Đồng nói để ta nói chuyện thêm vài phút nữa. Thế là cụ Đồng tiếp tục nghe Ông Đinh Hùng Chung trình bày giải trình càng nghe càng khâm phục thích thú.

- Cụ Đồng nói với Ông Đinh Hùng Chung, việc to lớn như thế này mà ra đời nơi quê hương Đức Phổ thời nhỏ quá, nên ra Hà Nội xây dựng đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương hoành tráng, cũng như khơi dậy khôi phục Cội Nguồn, Anh Linh Truyền Thống Dân Tộc. Ta sẽ đề đạt với các ban ngành Trung Ương. Cụ Đồng lại nói tiếp việc khôi phục Cội Nguồn truyền thống Anh Linh Dân Tộc rang danh con cháu Tiên Rồng, thời không ai ngăn cản được không ai phá nổi. Muốn làm nhỏ thời ra đời ở huyện ở tỉnh. Muốn làm lớn thời ra hà nội mà làm.

- Việc Ông Đinh Hùng Chung gặp Cố vấn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng để nói chuyện là việc hoang tưởng không thể tin. Nên Ông Đinh Hùng Chung yêu cầu cuộc nói chuyện giữa Cụ Đồng và Ông Đinh Hùng chung phải có người chứng kiến xác nhận.

- Nơi Văn Phòng Cố Vấn Phạm Văn Đồng. Ông Nguyễn Tiến Năng là Trợ Lý Cố Vấn, viết giấy xác nhận cuộc nói chuyện trao đổi giữa Ông Đinh Chung và Cố Vấn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, về việc khôi phục Cội Nguồn thờ phụng Quốc Tổ Hùng Vương.

Giấy xác nhận nội dung như sau.

- Văn Phòng Cố Vấn Phạm Văn Đồng.

- Hà Nội ngày 8 tháng 9, năm 1997

GIÂY XÁC NHẬN

Văn Phòng cố Vấn Phạm Văn Đồng,

Xác nhận.

Ông Đinh Hùng Chung, quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, có đến gặp Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, trình bày ý nguyện xây dựng đền thờ Hùng Vương tại Đức Phổ.

Cố Vấn Phạm Văn Đồng đã tiếp, và cho rằng ý nguyện trên là chính đáng. Cần báo cáo và bàn bạc với các cấp thẩm quyền. Từ địa phương đến Trung Ương.

Trợ lý Cố Vấn Phạm Văn Đồng.

Nguyễn Tiến Năng.

* * *

- Ông Đinh Hùng Chung không những gặp Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng mà còn đến gặp các ban ngành Trung Ương, tỏ bày quan điểm, cũng như trình bày giải trình khôi phục Cội Nguồn, cũng như thờ Quốc Tổ Hùng Vương đi vào toàn dân, được các ban ngành tiếp đón vui vẻ, không những gặp các ban ngành Trung Ương.

- Mà Ông Đinh Hùng Chung còn đến Đền Thờ Hùng Vương Tỉnh Phú Thọ. Thắp nén hương cho Quốc Tổ cũng như các Vua Hùng, tại núi Nghĩa Linh, thuộc thôn Cổ Tích, Xã Hy Cương, Huyện Phong Châu Tỉnh Phú Thọ.

- Trước sự ngỡ ngàng Ông Đinh Chung nhìn đền thờ nhện giăng bụi bám, ngói đã hư mục nhìn thấy trời Ông Đinh Hùng Chung không cầm được giọt nước mắt. Ông Chung tìm gặp Trưởng Ban Đền Hùng ở vào thời ấy trưởng ban đền Hùng là Ông Khiêm. Phó Ban Ông Thịnh. Ông Đinh Hùng Chung hỏi lý do vì sao mà Đền Hùng không tu sửa lại sụp xệ, nhện giăng, ngói hư không lợp lại, mưa dột khắp nơi.

- Ông Khiêm Ông Thịnh cho biết, ngân sách đâu mà tu sửa. Ông Chung bằng nói, ngân sách trên Trung Ương chớ đâu. Quốc Tổ là Quốc Tổ chung, trong đó có Nhà Nước. Viết đơn xin kinh phí tu sửa lại Đền Hùng. Gửi lên cho Thủ Tướng Phan Văn Khải. Việc phải như thế ai làm khó mình. Viết đơn nhanh đi trình lên Trung Ương.

- Ông Khiêm Ông Thịnh, phó ban, trưởng ban, nghe Ông Đinh Hùng Chung nói nghe có lý. Bằng viết đơn trình lên Thủ Tướng Phan Văn Khải. Không bao lâu Ông Chung nghe Trung Ương rót cho vài chục tỷ. Đền Thờ Hùng Vương Phú Thọ, đi lần vào bề thế như ngày hôm nay có một phần đóng góp kế sách của Ông Đinh Hùng Chung. Mỗi lần Ông Đinh Hùng Chung đến thăm Đền Hùng, ở vào thời đó được Ban Tổ Chức, Đền Hùng tiếp đón nồng hậu.

- Ông Đinh Hùng Chung lên Trung Ương mỗi lần đi kéo dài cả tháng, đôi lúc nhịn đói nhịn khát tiết kiệm chi phí, vì không có ai tài trợ cho một đồng nào. Khổ cực trăm bề. Nhưng không vì thế mà than vãn, Chỉ biết vì Cội vì Nguồn không nề sống chết, khó khăn cho mấy cũng quyết chí vượt qua.

- Vào lúc 10h ngày năm tháng 1 Ông Đinh Hùng Chung đến Bộ Nội Vụ trình bày giải trình nguyện vọng của Đồng Bào Đức phổ là khôi phục lại Cội Nguồn cũng như lập đền thờ Quốc Tổ. Bộ Nội Vụ vui vẻ tiếp Ông Đinh Hùng Chung, nghe Ông Đinh Hùng Chung trình bày giải trình tận tường sự việc cũng như xem đơn của Thầy Tổ cùng 500 chữ ký. Bộ Nội Vụ nói việc này không thuộc thẩm quyền của Công An. Bộ Nội Vụ hướng dẫn Ông Đinh Hùng Chung đem các giấy tờ của các Ban Ngành Trung Ương đề nghị, về địa phương bàn bạc giải quyết. Phòng tiếp dân Bộ Nội Vụ, Nguyễn Công Khánh.

- Nói về Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Có nhận được đơn của bà con nhân dân Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi. Kèm theo 500 chữ ký, do Ông Đinh Hùng Chung gửi đến, sau khi đã được trình bày với cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Lại được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chỉ đạo đề nghị. Gửi công văn cho Viện Sử Học xem xét giải quyết. Công Văn số 13 MTTW Hà Nội ngày 14 tháng 1 năm 1998, TM Văn Phòng, Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Chánh Văn Phòng, Trần Đình Phùng.

- Nói về Viện Sử Học tiếp Ông Đinh Hùng Chung như tiếp người thân quen lâu đời. Nghe Ông Đinh Hùng Chung trình bày giải trình về việc khôi phục Cội Nguồn, cũng như thờ phụng Quốc Tổ khắp toàn dân. Viện sử học cho đây là việc vô cùng chính đáng. Không nói là cấp bách. Nên Viện Sử Học ra công văn kiến nghị với các cấp lãnh đạo Thị Trấn Đức Phổ, Huyện Đức Phổ. Phiên Bản nội dung công văn như sau.

Viện Sử Học

38 Hàng Chuối Hà Nội

TeL. 8253200

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

Hà Nội ngày 10 tháng 6 năm 1997

Kính gửi: Các Đồng Chí Lãnh Đạo Đảng,

Ủy Ban Nhân Dân

Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc, Thị Trấn Đức Phổ. Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

- Chúng tôi được tin bà con nhân dân Thị Trấn Đức Phổ có ý nguyện, xây dựng một ngôi đền tưởng niệm các Vua Hùng ngay tại Thị Trấn để đông đảo nhân dân, đều có điều kiện tỏ lòng thành kính, trước hương hồn các vị đã có công khai sáng non sông đất Việt.

- Chúng tôi hết sức hoan nghênh ý định đó và cảm ơn nhân dân, đã bày tỏ lòng yêu kính Quốc Tổ, Tổ Quốc quê hương.

- Viện sử học xin kiến nghị với các cấp lãnh đạo Thị Trấn, nghiên cứu và giải quyết nguyện vọng nói trên của nhân dân phù hợp với chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời phát huy được truyền thống quý báu của dân tộc ta, giáo dục các thế hệ mãi mãi giữ vững truyền thống đó.

- Kính chúc các đồng chỉ khỏe, thành công trong công cuộc xây dựng quê hương giàu mạnh.

- Trân trọng cảm ơn các đồng chí.

TM. Viện Sử Học Việt Nam

Trưởng Ban Nghiên Cứu Lịch Sử

Địa Phương và Chuyên Ngành

PTS. Trần Hữu Đính

- Thầy Tổ viết hồi ký những gì đã qua, cách đây trên 20 năm không phải là chuyện mới mẻ gì. Tuy là câu chuyện tóm tắc nhưng có đủ bằng chứng những gì đã xảy ra trong thời ấy. Phải nói là không ai có thể ngờ tới được, nếu Thầy Tổ không kể lại.
 
LONG HOA LƯỢC THUẬT

CÂU CHUYỆN TÓM TẮT 7

- Nói về Ông Đinh Hùng Chung chơn mệnh Sao Ngưu lại làm theo nguyện vọng của nhân dân, cũng chính là làm theo cơ trời Thiên Ý, việc làm hợp chủ trương chính sách Nhà nước. Nên Ông Chung được một số ban ngành Trung Ương những người có Tâm nghĩ về Cội Nguồn ủng hộ việc làm của Ông Chung. Cũng như rất yêu mến Đồng Bào Đức Phổ. Quảng Ngãi. Có tâm nghĩ về Cội Nguồn.

- Cụ thể như là Trung Tâm Trung Ương Khoa Học Xã Hội. Và Nhân Văn Quốc Gia.

Kính Biếu Đồng Bào Đức Phổ, Bộ khảo cổ, Hùng Vương Dựng Nước, quý hiếm nơi Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia. Và còn một số ban ngành khác như. Như Đài Tiếng Nói Việt Nam, sau khi nghe trình bày giải trình của Ông Đinh Chung, cũng như xem đơn của 500 chỉ ký Đồng Bào Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi nguyện ước tôn thờ Quốc Tổ cũng như xây dựng đền thờ Hùng Vương. Phải nói là những tấm lòng hiếm thấy.

Ra công văn đề nghị địa phương, tôn trọng nguyện vọng chính đáng của người dân, tạo điều kiện cho bà con Đồng Bào Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi, được tôn thờ Quốc Tổ Hùng Vương, cũng như xây dựng đền thờ Hùng Vương, phát huy Cội Nguồn Dân Tộc. Hà Nội ngày 3/ 1/ 1998 Luật Gia Nguyễn Sỹ Lý.

- Đài truyền hình Việt Nam cũng tiếp nhận đơn nguyện vọng của Đồng Bào Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi, ngày 5, 1, 1998. Cũng như nghe Ông Đinh Hùng Chung trình bày giải trình khôi phục Cội Nguồn, cũng như thờ phụng Quốc Tổ toàn dân, Ông Hoan Đài Truyền Hình ca ngợi không hết lời, ca ngợi Ông Đinh Hùng Chung bỏ công sức phải nói là dũng cảm trước khó khăn, và cho số điện thoại liên lạc tận tình giúp đỡ. Số điện thoại 048343180 Khi Đồng Bào Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi cần sự giúp đỡ.

- Ủy Ban Trung Ương, Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam. Sau khi nhận được đơn thư của Ông Đinh Hùng Chung gửi, sau khi nghiên cứu nội dung trong đơn thư, trình bày giải trình khôi phục Cội Nguồn, cũng như thờ phụng Quốc Tổ toàn dân, nội dung vô cùng mới mẻ, đượm chất nhân văn, phải nói là mở ra hướng đi mới. Nên ban thường trực Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ra công văn số 109. ngày 3 tháng 5 năm 1999 Kính gửi văn phòng Chính Phủ, đề nghị các cơ ban ngành xem xét trả lời cho đương sự là Ông Đinh Hùng Chung, và thông báo cho Ban Thường Trực, Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết. Chánh Văn Phòng, Trần Đình Phùng.

- Sau đó Ông Đinh Hùng Chung nhận được nhiều tín hiệu tốt đẹp từ Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ra hàng loạt công văn chỉ thị đề nghị xuống các cấp chính quyền địa phương cấp Tỉnh cấp huyện Thị Trấn Đức Phổ,

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Giám Đốc Sở Thông Tin Văn Hóa Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến Quý Cơ Quan đề nghị xem xét giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân, Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến Ông Chủ Tịch HĐND Huyện Đức Phổ- đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Chủ Tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến UBMT Tổ Quốc, đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Trưởng Công An Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến quý cơ quan, đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Giám Đốc Công An Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến Quý Cơ Quan, đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến Ông Chủ Tịch Quảng Ngãi, đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Công Văn số. 297 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 31 tháng 7, 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân, Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Đề ngày 23 tháng 6 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến Ông Chủ Tịch UBND Huyện, đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Ủy Ban Trung Ương

Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Công Văn số. 380 KN- TC/ MTTW. Hà Nội ngày 10 tháng 9, năm 1997. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quảng Ngãi.

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Ông Đinh Hùng Chung ở Đức Phổ. Đề ngày 10 tháng 9 năm 1997 về việc xin xây dựng khu đền thờ Tổ Hùng Vương.

Sau khi nghiên cứu xem xét phù hợp chính sách chủ trương Nhà Nước, chúng tôi chuyển đến Ông Chủ Tịch UBND Tỉnh Quảng Ngãi, đề nghị giúp đỡ. Cũng như trả lời cho đương sự, và trả lời cho Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam biết.

Chánh Văn Phòng Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Trần Đình Phùng.

* * *

Ủy Ban Trung Ương

Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Công Văn số. 13 / MTTW. Hà Nội ngày 14 tháng 1, năm 1998. Nội dung công văn.

Kính Gửi: Viện Sử Học Việt Nam

Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã nhận được đơn thư. Bà con nhân dân Huyện Đức Phổ. Tỉnh Quảng Ngãi, về việc xin xây dựng đền thờ các Vua Hùng tại Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi (kèm theo 500 chữ ký của bà con) Sau khi đã được trình bày với Cố Vấn Phạm Văn Đồng, và đã được Cố Vấn Phạm Văn Đồng cho ý kiến (kèm theo Văn Bản của Văn Phòng Cố Vấn Phạm Văn Đồng) Chúng tôi chuyển hồ sơ tới quý Viện xem xét và giải quyết.

Và chúng tôi đồng kính gửi

- Bộ Văn Hóa Thông Tin

- Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Nhân Văn

Lưu VP + Ban DCPL, MTTW

Chánh Văn Phòng, Trần Đình Phùng

* * *

Điều đáng nói ở đây, vào năm 2000 các tỉnh thành về dự Giỗ Tổ Hùng Vương. Thi nhau hốt đất, múc nước về lập chỗ thờ, không có Tỉnh Thành nào được nhận lá Cờ Thần, có đề bốn chữ Hội Tụ Bốn Phương. Chỉ riêng Đức Phổ được nhận hai lá cờ Thần, đây là niềm vinh dự của quê hương Đức Phổ, Quảng Ngãi. Và Ban Đền Hùng Phú Thọ còn hứa, nếu xây xong Đền Hùng. Thời Đền Hùng Phú Thọ biếu tặng nhiều di vật khảo cổ vào thời niên đại Hùng Vương.

- Sự cấp cho Đồng Bào Huyện Đức Phổ hai lá cờ Thần có giấy tờ xác nhận như sau.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc

- Đền Hùng ngày 14 tháng 4 năm 2000

Kính Gửi: Đồng Bào Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

- Theo nguyện vọng của Đồng Bào Huyện Đức Phổ.

Thay mặt cán bộ Ban QL KDT Đền Hùng. Xin Tặng lại cho Đồng Bào Huyện Đức Phổ, hai lá Cờ Thần được treo trong dịp Giỗ Tổ Đền Hùng,

- Năm canh thìn. 2000

- Kính chúc Đồng Bào an khang thịnh vượng.

Ban Quản Lý. Khu Di Tích Đền Hùng.

Nguyễn Thị Tuyết Hạnh.

* * *

- Việc được các Ban Ngành Trung Ương Ủng Hộ, Đề Nghị, Cho Phép. Cũng như ban tổ chức Đền Thờ Phú Thọ ủng hộ nhiều mặt, có cả công văn đề nghị tạo điều kiện cho Đồng Bào Đức Phổ có khu di tích tưởng niệm các Vua Hùng, là một sự thành công lớn. Ông Chung đi Trung Ương mười chuyến, kéo dài hơn cả năm. Vô cùng gian nan, mang nợ mấy năm sau mới trả hết.

Nói đến giấy tờ các Ban Ngành Trung Ương đề nghị về Địa Phương giúp đỡ phải nói là rất nhiều, nhưng ở đây chỉ minh chứng một số ít mà thôi. Còn những giấy tờ khác không kém phần quan trọng.

- Nhưng địa phương những thành phần biến thái cửa quyền Luật Pháp Là Tao, tao là Pháp Luật muốn làm gì thời làm, không coi Ông Đinh Hùng ra gì mà còn cho Ông Đinh Hùng Chung làm bậy lên Trung Ương là vi phạm pháp luật, bày mưu tính kế hại Ông Đinh Hùng Chung. Bỏ Tù Ông Đinh Hùng Chung, ba năm với lý do gây rối trật tự. Hầu dập tắt khôi phục Cội Nguồn, cũng như phá tan nguyện vọng Đồng Bào Đức Phổ xin xây dựng Đền Thờ Hùng Vương. Viết đến đây không khỏi xót xa ngậm ngùi rơi lệ những kẻ vô ơn phũ phàng. Quốc Tổ là Quốc Tổ của họ, truyền thống Anh Linh Dựng Nước Giữ Nước cũng là truyền thống Anh Linh của chính họ. Trung Ương thời hết lòng ủng hộ, Địa Phương những thành phần biến thái cửa quyền ra sức chống phá. Ở vào thời ấy phải nói là vô cùng thảm khóc, cho những ai hướng về Cội Nguồn thờ phụng Quốc Tổ Hùng Vương. Thầy Tổ giờ đây sức cũng đã yếu dần cố gắng lắm mới viết lên dòng hồi ký đau thương.
 
Quay lại
Top Bottom