Meika
Thành viên
- Tham gia
- 26/12/2023
- Bài viết
- 66
II
XÊDA LÂM NẠN (5)
XÊDA LÂM NẠN (5)
- Anh cháu ạ, Pidơrô bảo Xêda, rồi đây anh định sẽ làm gì ?
- Tiếp tục nghề buôn
- Ý chú không như thế, Pidơrô nói. Cháu nên thanh lý và chia hết số tiền có cho chủ nợ, thôi, đừng trở lại thương trường Pari nữa. Chú cũng đã từng giả thiết một tình huống tương tự như cháu hiện nay... (Ừ, trong nghề buôn bán, phải dự tính trước mọi sự ! người đi buôn mà không nghĩ đến chuyện phá sản thì cũng như ông tướng cầm quân mà không bao giờ tính đến chuyện mình có thể thua trận, đi buôn như vậy là mới đi buôn có một nửa !)Ở địa vị chú, chú chẳng bao giờ tiếp tục. Làm sao lại luôn luôn phải hổ thẹn với những người mình đã làm thiệt hại, phải nhận những cái nhìn nghi ngờ và những lời chê trách không nói ra ? Thà chú nghĩ đến chuyện tự sát !... Sật một cái, là xong tất cả. Chứ còn có cái đầu sống lại đấy để rồi thì cảm giác như hàng ngày nó bị chặt, chú cho đó là một khổ hình không thể không tránh được. Nhiều người họ lại bắt tay vào việc y như không có chuyện gì xảy ra ! càng tốt .. họ có bản lĩnh hơn Clốt Giôdép Pidơrô này. Nếu anh mua bán được bằng tiền mặt, cho là anh bắt buộc phải làm như thế, người ta cũng sẽ bảo là anh đã cất giấu của cải, nếu anh không tiền thì chẳng bao giờ anh có thể đứng dậy được. Thôi chào anh ! Từ bỏ số có của anh, để cho họ bán tất cả tài sản đi và làm nghề khác.
- Nghề gì ? Xêda nói.
- Coi kìa ! Pidơrô nói, tìm lấy một chỗ làm công. Anh không có một ai che chở cho anh ? Ông bà công tước Lơ nôngcua, bà Đơ Mo xốp,ông Đơ Văngđơnét ! anh viết thư cho họ đi, đến gặp họ, họ có thể kiếm cho anh một chỗ làm nào đó trong hoàng cung với vài nghìn êqui ; vợ anh cũng sẽ kiếm ra được bấy nhiêu, con gái anh có lẽ cũng vậy. Tình thế không phải đến tuyệt vọng. Ba bà con mỗi năm cũng dồn được mươi nghìn phrăng. Trong mười năm, anh có thể trả một trăm nghìn phrăng, vì anh không phải tiêu gì trên số tiền làm ra ấy : vợ con anh đã có một nghìn năm trăm phrăng nơi tôi để tiêu pha, còn phần anh, chúng ta tính sau !
Không phải Xêda mà Côngxtăng ngẫm nghĩ về những lời nói có lý đó. Pidơrô đi thẳng đến Sở chứng khoán đặt trong một công trình tạm thời bằng ván thành một buồng hình tròn, cửa ra vào nằm ở phố Phêđô. Ông nhà buôn chất thơm lâu nay được trọng vọng và nhiều người ganh ghét, nay có tin phá sản, tin ấy nhiều người đã biết và trong giới đại thương gia, bấy giờ đều thuộc phe lập hiến, dư luận đã xôn xao khắp nơi. Những nhà buôn phái tự do coi vũ hội của Birôttô là một hành động táo bạo xâm lấn vào tình cảm của họ. Phái chống đối muốn giữ cho mình độc quyền được yêu đất nước. Cho phép những người bảo hoàng được yêu vua, còn yêu tổ quốc là đặc quyền của phe tả : dân chúng thuộc về họ. Chính quyền dùng các cơ quan của mình để bày tỏ sự vui sướng đối với một sự kiện mà họ muốn chỉ riêng họ được khai thác, là một sự lầm. Một người được cung điện che chở, một người đứng về phía chính phủ, một người bảo hoàng bất trị mà ngày 13 tháng Hái Nho dám chửi vào quyền tự do và chiến đấu chống lại Cách mạng Pháp quang vinh, sự suy sụp của một người như vậy gây ra nhiều điều bàn tán ồn ào và cả sự tán thành hoan hô của Sở chứng khoán. Pidơrô muốn biết, muốn tìm hiểu dư luận. Ông nhận thấy ở một trong những nhóm sôi nổi nhất có Tidê, Gôbenhem —— Kenle, Nuyxanhgiăng, lão già Ghiôm và rể lão Giôdép Lơba, Claparông, Gigonnê, Mônggiơnô, Camuydô, Gốpxéc, Ađônph Kenle, Panma, Sipphrơvin, Matipha, Granhđô và Luốcđoa.
- Thế thì, có bao nhiêu thận trọng cũng không thừa ! Gôbenhem nói với Tidê, chỉ chút nữa là các ông anh vợ tôi mở cho hắn ta một ngân khoản rồi.
- Phần tôi, tôi cũng đóng góp vào đó số mười nghìn phrăng mà hắn ta yêu cầu tôi cách đây mười lăm hôm ; hắn ta chỉ ký là tôi đưa ngay. Nhưng ngày xưa hắn có giúp tôi, tôi có mất bấy nhiêu cũng không ân hận gì.
- Hắn ta cũng làm như bao nhiêu kẻ khác thôi, anh cháu ông đó, ông Pidơrô ạ, hắn ta đã tổ chức lễ lạc, hội hè ! Giá một tên ăn cắp nó làm mờ mắt người ta để gây tín nhiệm thì tôi hiểu được, đằng này một con người được coi như chất kem trong giới lương thiện, lại đi dùng những mưu mẹo của trò lang băm như vậy, hỏi người ta không bị mắc sao được !
- Bị đỉa nó bám chứ lị, Gốpxéc nói.
- Chỉ nên tin những kẻ chịu sống trong nhà ổ chuột, như Claparông thôi, Gigonnê nói.
- Này này, tử tước Nuyxanhgiăng nói với Tidê, anh đã chơi xỏ tôi khi anh giới thiệu Birôttô đến tôi. Tôi không hiểu vì sao, y vừa nói vừa quay về phía Gôbenhem, chủ xưởng, tôi không cho đi lấy năm mươi nhìn phrăng, nếu có, e tôi đã đưa cho hắn ta rồi.
- Ô, không phải, Giôdép Lơba nói, thưa tử tước. Ông hẳn biết là Ngân hàng quốc gia đã từ chối giấy tờ của ông ấy, và ông đã bắn nó sang ủy ban chiết khấu. Ông ấy là một người tôi còn rất tín nhiệm, việc của ông ấy có những trường hợp lạ lùng...
Bàn tay Pidơrô nắm chặt bàn tay Lơba.
- Khó lòng mà cắt nghĩa những gì đã xảy ra, trừ phi nghĩ rằng, đằng sau Gigonnê, có những chủ nhà băng họ muốn giết chết vụ đất cát ở Mađơlen.
- Ông ấy đã gặp cái mà những kẻ muốn vượt ra ngoài chuyên môn của mình thường phải gặp, Claparông nói, ngắt lời Mônggiơnô. Giá ông ấy cứ tự mình dựng món dầu sọ não của mình, chứ đừng nhảy vào đất cát trong Pari và tăng giá lên làm gì, thì dù có mất một trăm nghìn phrăng ở Rôganh cũng không chuyện gì đến phải phá sản. Ông ấy sẽ hoạt động dưới cái tên của Pôpinô...
- Coi chừng Pôpinô, Gigonnê nói.
Theo dư luận của đám nhà buôn này, Rôganh chỉ là ông Rôganh không may, còn anh nhà buôn chất thơm là tên Birôttô tệ hại. Rôganh coi như được tha về cái tội yêu mê say, còn Birôttô thì ra vẻ đáng tội hơn vì nguyên muốn chơi trội. Rời Sở chứng khoán, Gigonne qua phố Peranh Gátxơlanh trước khi trở về phố Grơnêta và vào nhà mụ Mađu bán quả khô.
- Bà nội ơi, lão nói với vẻ bỗ bã độc ác, thế nào, hàng họ của bà ra làm sao ?
- Cũng trôi chảy, mụ Mađu đáp, lễ phép, và đưa cái ghế bành độc nhất cho lão cho vay nặng lãi với vẻ trân trọng thân ái mà mụ ta chỉ dành cho ông nhà quá cố. Mụ Mađu là người phụ nữ có thể hất ngã lăn anh phụ xe ba gác cứng cổ hay đùa dai, đã từng xông lên tấn công vào điện Tuylori ngày 10 tháng mười, có thể cười nhạo những bạn hàng tốt nhất của mình, và cuối cùng có thể mang lên tận nhà vua mà không chút run sợ những lời thỉnh cầu nhân danh các bà ở Chợ, mụ Angiêlic Mađu ấy tiếp đón Gigonnê với vẻ kính trọng sâu xa. Đứng trước lão, mụ như nhũn người ra, mụ run run trước cái nhìn gai góc của lão. Dân chúng lâu nữa hãy còn run rẩy trước tên đao phủ. Gigonnê là tên đao phủ trong nghề buôn này. Ở Chợ, chả quyền hành nào được kính trọng bằng quyền hành của kẻ buôn bạc. Tất cổ những thiết chế khác của loài người đều không kể ra gì bên cạnh nó. Bản thân công lý cũng hiện ra trước mắt mọi người ở Chợ thành là ông cảnh sát trưởng, nhân vật mà ở Chợ đã quá quen thuộc. Nhưng cái nghề cho vay nặng lãi chễm chệ sau những mảnh bìa xanh, cái nghề mà người ta đến vừa cầu xin vừa sợ trong lòng, cái nghề ấy làm cho lời đùa bỡn phải tắc cạn, cuống cổ hóa khô cứng, cái nhìn mất hết vẻ tự tôn và dáng đứng phải khép nép.
- Thưa ông, ông có điều gì hỏi tôi ? mụ nói.
- Không có gì đáng kể; một điều khốn khổ : bà hãy sẵn sàng để trả tiền các thương phiếu Birôttô, ông ấy đã phá sản, tất cả đều đòi được, ngày mai, tôi sẽ gởi đến bà số tiền phải thanh toán. Đôi mắt của mụ dồn một lại như mắt mèo, rồi tóe ra lửa.
- À, cái thằng khố rách ! à ! cái đồ sát nhân ! hắn đã thân hành đến đây bảo hắn là ông phụ tá, lại trưng cái huân chương ra nữa chứ ! Chó má quá, cái nghề buôn bán. nó như thế ! Chả còn tin tưởng gì ở các ông thị trưởng chính phủ lừa dối chúng tôi. Ông chờ cho, tôi phải đi bắt họ phải trả, tôi..
- Kìa ! trong những việc như vậy, mỗi người đều cố thoát ra theo khả năng của mình, bà bạn ạ ! Gigonnê vừa nói vừa dở chân lên bằng một cử động đột ngột giống như cử động của con mèo muốn bước qua một chỗ ướt, con mèo mà lão mang tên. Có nhiều kẻ quyền cao chức trọng họ muốn thoát ra khỏi những bước khó khăn.
- Tốt ! tốt ! tôi sẽ rút lại quả phỉ của tôi. – Mari Gian ! đưa đôi guốc và cái khăn choàng bằng lông thỏ đây, mau, không thì tao cho mồm ăn trầu bây giờ.
- Điệu này, lên đầu phố, mụ sẽ nổi tam bành lên Gigonnê tự bảo và xoa xoa bàn tay. Tidê chắc phải bằng lòng. Bởi vì trong khu sẽ xảy ra một vụ lố lăng ầm ĩ. Ta không hiểu anh nhà buôn chất thơm quỉ quái ấy đã làm gì nó ; ta thì ta thấy thương hại anh ta như thương hại một con chó bị què một chân. Anh ta không phải là một người đàn ông, anh ta chẳng còn sức lực gì.
Bảy giờ tối, mụ từ ngoại ô Xanh Ăngtoan đi ra, hùng hổ như một đoàn người nổi loạn; mụ đi đến cửa nhà Birôttô tội nghiệp hùng hùng hổ hổ xô cho cửa mở toang ra, vì cuộc cuốc bộ đã làm cho mụ nóng bừng cả đầu óc.
- Đồ sâu mọt, trả tiền tao đây, trả đây ! Phải trả ngay cho tao, không thì tạo sẽ bê đi tất, túi con, đồ linh tinh bằng xa tanh, quạt, tất cả những hàng hóa gì cho đủ hai nghìn phrăng của tao ! Đời thuở nhà ai mà thị trưởng lại đi ăn trộm dân bao giờ ! nếu mà không trả thì tao sẽ cho đi tù chung thân, tao sẽ đến kêu ông biện lý, rồi bộ máy của công lý sẽ chuyển động, sẽ đi theo nhịp độ của nó ! Tóm lại, tao sẽ không ra khỏi nơi đây nếu tao không lấy được tiền.
Mụ giả vờ dở các miếng kính tủ lên để lấy những đồ quí trong đó.
- Con mẹ Mađu lên cơn, Xêlêxtanh nói nhỏ với người bên cạnh. Mụ nhà buôn nghe được. Trong những lúc tình cảm bị đẩy đến tột cùng, giác quan con người ta hoặc là tiêu ma hoặc là hoàn thiện hơn, tùy theo thể trạng của từng người ; mụ cho Xêlêxtanh một cái tát trời giáng xưa nay chưa từng thấy trong một cửa hiệu chất thơm.
- Bà cho con biết là phải trọng phụ nữ, con ơi, mụ nói và đừng có mà trêu vào tên kẻ khác.
- Thưa bà, bà Birôttô từ nhà sau bước lên, nói, trời đất ơi, xin bà đừng làm ồn ào quá mà người qua đường họ kéo tới.
- Sao! Họ cứ kéo tới, mẹ nó, tôi sẽ nói hết với họ cái trò hề này ! Phải, cái trò lấy hàng lấy tiền mồ hôi nước mắt của tôi để mà vũ hội vũ hiếc. Nghĩa là các người ăn bận như một bà hoàng với cái len các người vặt ở những con chiên nghèo như tôi ! Trời! tôi cháy ruột cháy gan đây, của cải của tôi mà họ cướp mất hở trời ! Tôi chỉ còn có cái khố rách trên người thôi, nhưng nó là của tôi. Ôi ! quân ăn cướp, ăn trộm, trả tiền đây cho tao, không thì...
Mụ nhảy xổ đến một cái hộp cẩn đá rất xinh đựng đồ trang sức quí giá.
- Bà để cái đó xuống đi, Xêda hiện ra, nói, ở đây không còn cái gì là của tôi, tất cả thuộc về các chủ nợ, tôi chỉ còn con người tôi thôi, nếu bà muốn chiếm lấy, muốn cho vào tù, thì tôi lấy danh dự cam đoan với bà rằng (một giọt nước mắt của anh trào ra) tôi đợi người mõ tòa của bà, người bảo vệ thương mại và trợ thủ của họ...
Giọng nói, cử chỉ nhịp nhàng với hành động ở Birôttô làm hạ cơn thịnh nộ của mụ.
- Tài sản của tôi, một tên chưởng khế cuỗm đi mất, tôi thật vô tội nhưng đã gây ra bao nhiêu chuyện đổ vỡ, Xêda nói tiếp ; dần dà rồi tôi sẽ trả cho bà, dù tôi có phải vất vả đến chết hay phải làm lụng như người lao công ở Chợ với nghề khuân vác.
- Thôi, ông là một người tử tế, mụ đàn bà ở Chợ nói.
- Xin bà bỏ lỗi cho những lời nói của tôi, thưa bà : nhưng e tôi phải nhảy xuống sông mất, vì Gigonnê sắp truy tố tôi, mà tôi thì chỉ có những hối phiếu hạn mười tháng nữa để trả những thương phiếu ác tăng của ông ấy.
- Sáng mai bà đến tìm tôi, Pidơrô nói và hiện ra, tôi sẽ thu xếp cho bà với tỉ suất năm phần trăm ở nhà một người bạn tôi.
- Trời ! Ông cụ Pidơrô hiền lành. —Ông cụ là chú bà, mụ nói với Côngxtăng. Thôi, đều là bà con làm ăn lương thiện cả, tôi không sợ mất cái gì cả, có phải không ạ ? – Thôi, ngày mai, ông già quạt mo nhé, mụ nói với ông hàng sắt ngày xưa.
Xêda nhất định muốn ở lì trong cảnh suy sụp, định cư thế này mà giải thích cho các chủ nợ. Bà Birôttô thì hết lời năn nỉ với ông chú, nhưng ông chú lại tán thành Xêda, và đưa anh trở lên phòng ở. Ông già đa mưu liền chạy đến nhà Hôđri, trình bày tình thể của Birôttô, xin được một đơn thuốc an thần, chạy đi mua luôn về và đêm ấy ở luôn bên cạnh cháu mình. Đã bàn trước với Xêdarin, ông ép Xêda cùng uống với ông và Xêdarin. Liều thuốc làm ông ngủ say và khi ông thức giấc, mười bốn giờ sau, ông đã nằm trong phòng ông chú Pidơrô, phố Buốeđonne như thể bị giam ở đó, còn ông chú thì ngủ trên chiếc gi.ường vải trong phòng khách. Lúc nghe chiếc xe ngựa đưa Xêda sang nhà ông chú, Côngxtăng không còn giữ nổi bình tĩnh nữa. Thói thường, khi cần phải nâng đỡ một người yếu hơn mình thì sức mình được kích thích mà mạnh thêm. Bây giờ thì người phụ nữ tội nghiệp này khóc òa lên như thể chồng đã qua đời, vì thấy chỉ còn ở đây có một mình với con gái.
- Mẹ a, Xêdarin vừa nói vừa ngồi vào lòng mẹ, vừa vuốt ve mẹ bằng những cử chỉ âu yếm mà chỉ riêng phụ nữ mới có với nhau, mẹ từng nói với con là nếu con chịu giải quyết phần mình một cách can đảm, thì mẹ sẽ có đủ nghị lực để vượt qua tai nạn kia mà. Mẹ đừng khóc mẹ ạ. Con sẵn sàng đi làm công ở một nhà hàng nào cũng được, và con chẳng tơ tưởng gì đến quá khứ nữa. Con sẽ làm như mẹ hồi còn trẻ, làm một cô gái bán hàng, và mẹ sẽ không bao giờ nghe con than vãn hay tiếc nuối đậu mẹ ạ. Con có một hy vọng. Mẹ có nghe ông Pôpinô không ?
- Thằng bé thân mến, nó sẽ không là rể của mẹ đâu...
- Ôi ! Mẹ ơi...
- Nó sẽ là con trai chính thức của mẹ.
- Tai nạn, Xêdarin nói và ôm hôn mẹ, có cái hay là giúp chúng ta biết ai là bạn bè thật sự.
Cuối cùng Xêdarin làm dịu bớt nỗi buồn của mẹ. Nàng đóng vai trò bà mẹ bên cạnh mẹ mình. Sáng hôm sau, Côngxtăng đến nhà công tước Lơnôngcua, một trong những cận thần hàng đầu của nội cung, và để lại đó bức thư xin gặp công tước một giờ nào đó trong ngày. Trong khi chờ đợi, bà đến nhà ông Đơ La Bidácđie, trình bày với ông tình hình Xêda lâm vào sau khi lão chưởng khế bỏ trốn, yêu cầu ông ủng hộ bà và nói dùm với công tước vì bà sợ mình nói năng trình bày không được rành rọt. Bà muốn xin một chỗ làm cho chồng. Birôttô sẽ là một thủ quỹ trung thực nhất, nếu nghề ấy cần phải phân biệt với nghề khác ở đức trung thực.
- Nhà vua vừa mới của bá tước Đơ Phôngten giữ chức tổng giám đốc trong hoàng cung, phải mau mau đừng để mất thì giờ.
Hai giờ chiều, La Bidácđie và bà Xêda bước lên chi cầu thang to tướng của dinh thự Lơnôngcua, phố Xanh Đôminic, và được đưa vào gặp ông quí tộc cận thần được nhà vua ưa, nếu có thể nói vua Lui XVIII thật sự có những điều ưa và không ưa. Đó là một trong những nhà quí tộc xứng với tên ấy còn sót lại từ thế kỷ trước. Việc ống đón tiếp niềm nở làm cho bà Xêda có hy vọng. Bà vợ ông nhà buôn chất thơm, trong cảnh đau buồn, lại tỏ ra cao thượng và giản dị. Đau buồn thường làm cho người tầm thường nhất cũng có gì cao đẹp, bởi vì đau buồn cũng có cái cao quí của nó ; và muốn được ngời sáng thì nó chỉ cần chân thật là đủ. Côngxtăng là một người chân thật từ trong bản chất. Vấn đề là phải trình bày ngay với nhà vua.
Câu chuyện bàn bạc đang dở thì có tin báo ông Đơ Văngđơnét đến. Ông công tước kêu lên :
- Vị cứu tinh của chúng ta đây rồi.
Bà Birôttô không phải là người hoàn toàn xa lạ đối với anh thanh niên này. Đã một hai lần anh đến cửa hiệu của bà để hỏi mua đôi thứ linh tinh mà có tầm quan trọng không khác gì những cái to lớn. Ông công tước trình bày ý đồ của Đơ La Bidácđie. Khi nghe tin tai nạn đã xảy đến với người con đỡ đầu của hầu tước Uyxen, Văngđơnét lập tức cùng Đơ La Bidácđie đến nhà bá tước Đơ Phôngten, và đề nghị bà Birôttô ngồi chờ.
Bá tước Đơ Phôngten cũng như La Bidácđie là một trong những nhà quí tộc tốt bụng ở tỉnh nhỏ, đã từng là những anh hùng vô danh làm nên vụ Văngđê. Birôttô không phải là người xa lạ đối với ông, ông đã từng gặp hồi xưa ở Nữ hoàng hoa hồng. Kẻ nào đã đổ máu cho ngôi vua bấy giờ đều được hưởng những đặc quyền mà nhà vua giữ bí mật để bọn người tự do khỏi phát khùng.
Đ. Phôngten là một người được Lu-i XVIII sủng ái, và coi như được nhà vua hoàn toàn tín nhiệm. Không những ông bá tước hứa chắc một chỗ làm, mà ông còn đến tận nhà công tước Lơnôngcua bấy giờ là thường trực, để yêu cầu xin cho ông một cuộc gặp gỡ vào buổi tối, và xin cho La Bidácđie được gặp Đức ông, — Đức ông vốn là người ưa thích đặc biệt nhà ngoại giao cũ của xứ Văngđê này.
Ngay tối hôm đó, bá tước Đơ Phôngten từ Tuylơri đến nhà Birôttô để báo bà hay rằng chồng bà sau khế ước hòa giải với các chủ nợ, sẽ được chính thức cử vào một chức vụ lương bổng hai nghìn năm trăm phrăng ở quỹ khấu hao. Bấy giờ tất cả các ngự sở của hoàng cung đều đầy những chức viên ngoại ngạch mà trước kia nhà vua đã từng hứa hẹn trọng dụng.
Thành công này mới là một phần của công khó bà Birôttô. Bà còn đến phố Xanh Đơni, đến khu Mèo cuộn chỉ để tìm Giôdép Lơba. Trên đường bà gặp bà Rôganh ăn bận rất sang, có lẽ là đi mua hàng. Bốn mắt gặp nhau. Vẻ hổ thẹn mà người sung sướng không kìm giữ được khi thấy người suy sụp đã làm cho bà thêm can đảm.
- Không đời nào ta thèm lên xe xuống ngựa với đồng tiền của kẻ khác, bà nghĩ bụng.
Lơba tiếp bà tử tế. Bà yêu cầu ông ta tìm cho con gái mình một chỗ làm công trong một nhà hàng đứng đắn. Lơba không dám hứa ; nhưng tám ngày sau, Xêdarin được nhận vào làm công ở cửa hàng tân phẩm giàu có nhất Pari, vừa mở thêm một sở mới ở khu Người Ý, với điều kiện được ăn, ở và hưởng lương một nghìn ê qui. Giữ két và trông coi kho hàng là hai việc được giao cho cô con gái ông nhà buôn chất thơm. Đứng trên cô gái bán hàng, nàng thay mặt ông chủ bà chủ của cửa hiệu.
Về phần bà Xêda, cũng ngày hôm ấy, bà đến nhà Pôpinô nói với anh ấy để được giữ két, sổ sách và chăm lo cả việc nội trợ. Pôpinô hiểu rằng chỉ nhà anh là chỗ đã bà ấy được người ta kính trọng một cách xứng đáng và bà mới có được một vị trí không đến nỗi thấp hèn. Anh con trai hiếu thảo ấy cấp cho bà ba nghìn phrăng mỗi năm, cộng với điều kiện ăn, ở mà anh xếp đặt được, còn riêng mình thì lại ở một căn gác áp mái dành cho các người ký lục. Như vậy là, bà nhà buôn chất thơm, sau một tháng hưởng thụ cảnh nhà sang trọng, bây giờ phải ở cái buồng đáng sợ nhìn ra mảnh sân tối om, ẩm ướt, nơi đó Gôđixa, Ăngxem và Phinô đã khánh thành dầu sọ não.
Khi Môlinơ, được tòa án thương mại chỉ định làm nhân viên thanh lý đến ký nhận số có của Xêda Birôttô, Côngxtăng, có Xêtêxtanh giúp sức đã duyệt lại bản kiểm kê với lão. Xong, hai mẹ con, quần áo giản dị, cùng ra khỏi cửa hàng đi bộ về nhà ông chú Pidơrô, không quay nhìn trở lại ngôi nhà họ nương náu đã một phần ba cuộc đời. Họ đi im lặng về phía phố Buốcđonne, và ở đó, họ lại cùng ăn tối với Xêda lần đầu từ bữa chia tay nhau. Bữa cơm thật buồn. Trước đó ai nấy đều có thì giờ suy nghĩ, bao quát hết tầm rộng lớn của nhiệm vụ, và thăm dò sức dũng cảm của mình. Cả ba đều như những người thủy thủ sẵn sàng chiến đấu với thời tiết xấu mà không giấu che sự nguy hiểm. Birôttô lấy lại được can đảm khi nghe nhiều nhân vật cấp trên đã thu xếp cho mình được yên phận với một tấm lòng rộng lượng biết bao nhiêu ; nhưng ông lại khóc khi nghe thân phận con gái mình. Rồi ông đưa tay nắm lấy tay vợ khi thấy vợ mình đã can đảm trở lại bắt đầu làm việc.
Ông chú Pidơrô cũng lần cuối cùng trong đời thấy mắt mình đẫm lệ trước cảnh tượng ba con người kia đoàn kết với nhau, lẫn lộn với nhau trong một cái hôn chung, ở đó, Birôttô, con người yếu ớt nhất, mệt mỏi nhất, lại giơ tay lên nói:
- Hãy hy vọng !
- Để có thể tiết kiệm được ông chú nói, anh ở với tôi, ăn với tôi, lấy phòng tôi mà dùng. Từ lâu, ở một mình tôi cũng thấy buồn, có thằng con nó qua đời rồi, anh thay nó vậy. Từ đây đến phố Ôratoa, anh chỉ đi mấy bước là tới chỗ làm việc.
- Ô ! Chú là Phúc thần của cháu, Birôttô kêu lên, giữa cơn bão tố mịt mùng, chú vẫn như ngôi sao dẫn đường.
Chịu đựng nhiều, con người hoạn nạn ấy mới thấm phía hết tai họa của mình. Đến đó, đối với Birôttô, mọi sự sụp đổ coi như đã hoàn tất, anh đồng tình và anh trở lại mạnh lên.
Sau khi đã khai phá sản, một nhà buôn chỉ còn lo tìm trong nước hay ngoài nước một ốc đảo để sống chứ không nhúng tay vào bất cứ việc gì nữa. Luật pháp, coi họ như một đứa trẻ con, chưa đủ trưởng thành, chưa có thể có một hành động nào hợp pháp, dân sự hay công dân được. Nói thế nhưng mà chẳng phải. Trước khi trở lại xuất hiện ngoài đời, họ chỉ chờ một tờ thông hành mà chẳng bao giờ người thẩm phán thanh lý hay chủ nợ lại từ chối, bởi vì không có giấy mà người ta bắt gặp ngoài đường thì chỉ có vào tù. Trái lại, nắm cái bùa hộ mệnh ấy trong tay, họ có thể dạo chơi trong hàng ngũ địch, như một ông nghị, không phải vì hiếu kỳ, mà đã đập tan những ý đồ xấu của luật pháp đối với người phá sản. Bất kỳ luật lệ nào đụng chạm đến tài sản riêng của người ta, đều đưa đến hậu quả là phát triển phi thường mọi sự gian dối. Ý nghĩ của kẻ phá sản, cũng như của tất cả những kẻ mà quyền lợi bị một đạo luật nào đó ngăn trở, là thủ tiêu đạo luật ấy trong thực tế hành động của họ. Người phá sản bị coi như đã chết về dân sự và họ phải nằm im như con nhộng trong tổ kén. Tình trạng ấy kéo dài gần ba tháng. Đó là thời hạn cần thiết để tiến hành các thủ tục trước khi đi đến hội nghị cho hai bên chủ nợ và con nợ ký kết với nhau một hiệp ước hòa bình, một biện pháp hòa giải gọi là khế ước hòa giải. Chữ ấy cũng rõ nghĩa là sự hòa hợp đã trở lại sau bão táp của những quyền lợi xung đột nhau.
Sau khi duyệt xong tờ khai phá sản, tòa án thương mại củ ngay một thẩm phán — thanh lý, ông này có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của đám chủ nợ đồng thời cũng ngăn ngừa các chủ nợ nổi khùng có thể có những hành động phiền nhiễu người phá sản : hai nhiệm vụ thực hiện được thì rất hay, nếu các ông thẩm phán – thanh lý có đủ thì giờ. Thẩm phán — thanh lý lại trao quyền cho một nhân viên tiếp nhận tất cả tài sản, hối phiếu, hàng hóa, và duyệt lại số có đã ghi trong tờ khai. Cuối cùng phòng lục sự phát lệnh triệu tập tất cả chủ nợ bằng cách đăng lên báo những bản tin rầm rộ. Chủ nợ, thật hay giả, đều phải chạy đến họp để cử ra những quản tài lâm thời. Quản tài lâm thời thay thế tiền bạc, đứng vào địa vị người phá sản, và do sự bịa đặt của luật pháp, trở thành như bản thân chính người phá sản, có thể thanh toán tất cả, bán tất cả, dàn xếp tất cả, tóm lại, điều hòa mọi mặt để có lợi cho các chủ nợ, trong trường hợp người phá sản không có ý gì phản đối. Phần lớn các vụ phá sản ở Pari đều dừng ở quản tài lâm thời. Lý do như sau :
Cử một hay nhiều quản tài chính thức là một công việc khiến nhiều người say sưa. Đó là những chủ nợ khao khát trả thù, bị người ta lừa đảo, chế nhạo, đùa cợt, gạt gẫm, nắn túi, phỉnh phờ. Nói chung, chủ nợ đều bị phỉnh phờ, nắn túi, gạt gẫm, bị túm cổ, đùa cợt, chế nhạo và lừa đảo. Tuy vậy, ở Pari, không có sự say sưa nào trong nghề thương mại mà sống đến chín mươi ngày. Trong nghề này, chỉ có những thương phiếu là biết đứng lên, đòi hỏi được trả tiền, thời hạn ba tháng. Kéo đến chín mươi ngày, tất cả các chủ nợ đều mệt mỏi, hết hơi, vì những bước tiến bước lùi tất nhiên phải có trong một vụ phá sản. Họ đem ra ngủ yên bên cạnh cô vợ trẻ của mình. Điều này có thể giúp cho người nước ngoài hiểu tại sao, ở Pháp, cái lâm thời lại chính thức đến nước ấy ; một nghìn quản tài làm thời không có đến năm trường hợp trở thành chính thức. Và vì sao người ta tuyên bố từ bỏ các mối thù hằn do phá sản gây nên, thì lý lẽ đương nhiên có thể hình dung được. Tuy nhiên, cũng cần phải giải thích cho những ai không có hạnh phúc làm nhà buôn tấn kịch của một vụ phá sản, để cho họ hiểu được vì sao ở Pari tấn kịch ấy lại là một trong những trò đùa cực kỳ quái gở của luật pháp, và vì sao vụ phá sản của Xêda lại sẽ trở thành một ngoại lệ to lớn,
Tấn kịch hay ho ấy của giới thương mại bao gồm ba màn khác nhau : màn tiền bạc, màn quản tài, màn hòa giải. Cũng như mọi vở kịch, có hai cách nhìn đối với nó : một mặt nó được đạo diễn để trình bày trước công chúng, một mặt nó cất giấu cho nó một số thủ đoạn riêng ; có quan cảnh nhìn từ phía khán giả, và cũng có quan cảnh nhìn từ sau hậu trường. Trong hậu trường có người phá sản và đại diện của anh ta, có người đại tụng các nhà buôn, các quản tài và tiền bạc, và cuối cùng viên thẩm phán thanh lý. Thẩm phán ở tòa án thương mại là thứ quan tòa lạ lùng nhất mà xã hội có thể tự mình sáng tạo ra. Điều đó không một ai ở ngoài Pari biết được, còn ở Pari thì không một ai lại không biết. Viên thẩm phán ấy bất kỳ lúc nào cũng có thể sợ cái công lý của mình lại buộc lấy mình. Ở Pari đã trông thấy cánh vị chánh án tòa án thương mại của mình buộc lòng phải khai phá sản. Lẽ ra đương chức ấy phải là một nhà buôn về già, đã thôi việc kinh doanh, và như vậy chức thẩm phán cũng coi như phần thưởng cho một đời trang sạch. Đường này, viên ấy lại là một nhà buôn chồng chất bao nhiêu cuộc kinh doanh to tát, và đứng đầu một hãng buôn đồ sộ. Điều kiện không thể thiếu được để bầu cử viên ấy là bản thân ông ta phải khó khăn lắm mới điều khiển được công việc của riêng mình. Thế mà ông ta lại có nhiệm vụ xét xử hàng đống những vụ án thương mại không ngớt xảy ra ở thủ đô. Tòa án thương mại ấy, đáng ra phải được thành lập để làm nơi chuyển tiếp có ích cho nhà buôn có thể đi lên cõi quyền quí mà không để cười trong thiên hạ. Nhưng nó lại gồm những nhà buôn đang hành nghề có khả năng trở lại gánh chịu những phán quyết của chính mình khi gặp những phần tử bất mãn như trường hợp Birôttô gặp Tidê vậy.
Thẩm phán thanh lý không khỏi là một nhân vật người ta nói rất nhiều trước mặt, nhưng phần ông ta, ông ta vừa nghe vừa nghĩ đến công việc riêng của mình, còn thì phó thác công việc chung cho các quản tài và người đại diện. Trừ vài trường hợp lạ lùng, kỳ quặc, trong đó việc đánh cắp xảy ra ở những hoàn cảnh độc đáo khiến ông ta phải cho rằng chủ nợ và con nợ đều là những kẻ tài tình. Nhân vật ấy đặt vào tấn kịch thì cũng chẳng khác gì bức tượng bản thân của nhà vua bày ở một phòng tiếp kiến. Ông ta có mặt buổi sáng, trong khoảng từ năm giờ đến bảy giờ, ở xưởng thợ, nếu ông ta là nhà buôn gỗ ở hiệu buôn nếu ông ta như Birôtô trước đây làm nghề buôn chất thơm, và buổi tối sau bữa cơm, hoặc ăn bơ hoặc ăn phô mát, nghĩa là luôn luôn vội vàng một cách kinh khủng. Như vậy cho nên nhân vật ấy thường là im lặng. Cũng hãy biết điều với luật pháp : luật lệ đặt ra vội vàng, để quản lý công việc thực tế, đã trói tay viên thẩm phán thanh lý, nên trong nhiều trường hợp ông ta xác nhận dược những vụ gian lận mà không thể nào ngăn cản được. Điều đó chốc nữa ta sẽ thấy.
- Nhân viên thanh lý đáng lẽ là người của chủ nợ lại có thể trở thành người của con nợ. Chủ nợ nào cũng hy vọng được chia nhiều nhiều về phần mình nếu tranh được cảm tình của người phá sản, bởi vì bao giờ người ta cũng ức đoán người phá sản còn giấu những của ngầm. Như vậy, nhân viên thanh lý có thể phục vụ cho cả hai bên ; hoặc không làm náo loạn các công việc làm ăn của người phá sản, hoặc kiếm chác một cái gì cho những kẻ có thể lực hơn cả ; ông ta chơi trò bắt cá hai tay. Thường khi có thanh lý viên lành nghề xóa được án đã xử bằng cách mua lại các khoản nợ, dựng nhà buôn phá sản dậy, và nhà buôn ấy từ đó lại dội trở lên cao như một quả bóng cao su. Thanh lý viên quay về phía dễ ăn hơn cả, dù phải che cho những chủ nợ mạnh nhất để phơi bày con nợ ra, hay dù phải hy sinh các chủ nợ để cứu vãn tương lai cho nhà buôn. Vì thế mà hành động của thanh lý viên là yếu tố quyết định. Thanh lý viên, cũng như người đại diện, có vai trò quan trọng trong vở kịch, và cả hai, không người nào lại nhận sắm vai mình mà không nắm chắc phần thù lao. Lấy trung bình thì trong một nghìn vụ phá sản có đến chín trăm năm mươi vụ thanh lý viên là người của kẻ bị phá sản. Thời gian câu chuyện này xảy ra, hầu như luôn luôn những người đại diện đến tìm thẩm phán thanh lý, và giới thiệu để ông ta cử làm thanh lý viên một người của phía họ ; người ấy biết rõ công việc làm ăn của nhà buôn phá sản, và có khả năng điều hòa quyền lợi của quần chúng với quyền lợi của con người phẩm giá gặp bước gian truân. Mấy năm nay, các thẩm phán lành nghề đều bảo người ta chỉ cho mình thanh lý viên người ta ưng ý để khỏi phải lầm lẫn, và cố gắng cử cho được người gần như đức hạnh.
Trong khi thẩm phán thanh lý làm việc ấy thì các chủ nợ thật hay giả đều đến trình diện để chỉ định những quản tài lâm thời, thực ra, như người ta nói, là những quản tài chính thức. Trong hội nghị bầu cử ấy, kẻ có nợ năm mươi xu cũng có quyền bỏ phiếu như người có nợ năm mươi nghìn phrăng : mỗi tiếng nói kể một tiếng chứ không có tiếng nặng, tiếng nhẹ. Người phá sản xen vào hội nghị ấy những chủ nợ giả để tham gia bầu cử, và riêng họ là những kẻ không bao giờ vắng mặt khi bỏ phiếu. Hội nghị đưa ra những người ứng cử trong số các chủ nợ để thẩm phán thanh lý, mang danh chánh án nhưng chẳng quyền hành gì, sẽ có trách nhiệm lựa chọn các quản tài. Như vậy, thẩm phán thanh lý hầu như luôn luôn phải nhận từ tay người phá sản những quản tài hợp ý họ : đó là một thói tệ khác làm cho tại họa phá sản thở thành một tấn trò khôi hài bậc nhất mà pháp lý có thể bao dung được. Con người phẩm giá gặp bước gian truân, bấy giờ làm chủ trận địa, bèn hợp pháp hóa vụ biển thủ đã toan tính từ trước. Nói chung, giới buôn bán nhỏ ở Pari là trong sạch, không có gì đáng chê trách. Một chủ hiệu mà đến nước phải khai phá sản, thì con người lương thiện tội nghiệp ấy thường là đã bán đến khăn quàng của vợ, đem cầm các đồ bằng bạc trong nhà, đã dùng đủ các cách để chạy tiền và cuối cùng đã ngã quị, tay không, của cải hết sạch, không còn tiền cho người đại diện, và người đại diện cũng chẳng quan tâm gì mấy đến anh ta.
Luật pháp muốn điều ước hòa giải hoãn một phần nợ cho người phá sản và trao trả anh ta những công việc kinh doanh của anh. Điều ước phải được đa số tiền nợ và đa số chủ nợ bỏ phiếu ưng thuận. Công việc to tất ấy đòi hỏi người phá sản, các quản tài, người đại diện đều phải tiến hành một hoạt động ngoại giao khéo léo để điều hòa các quyền lợi trái ngược đang tròng tréo nhau, va chạm nhau. Thủ đoạn quen dùng, thông tục, là tặng cho phân số những chủ nợ làm nên cái đa số theo luật pháp mong muốn đó những phần thưởng mà con nợ phải trả, ngoài phần chia đã thỏa thuận trong điều ước hòa giải. Bệnh gian lận to lớn ấy không thể có thuốc nào chữa được : ba mươi tòa án thương mại, cái này nối tiếp cái kia đều biết rõ, vì đã làm như thế. Chỉ có quen làm như vậy lâu ngày, cuối cùng họ mới quyết định thủ tiêu các thương phiếu dính dáng vào việc gian lận ; và do người phá sản có lợi khi kêu ca về sự cưỡng chiếm ấy, các thẩm phán lại hy vọng như vậy là làm cho việc phá sản có màu sắc đạo đức. Kỳ thực họ lại đẩy nó đến chỗ phi luân hơn : các chủ nợ lại sáng tạo ra một số hành động mất dạy hơn, mà các thẩm phán kia, với tư cách là quan tòa thì sẽ buộc tội, nhưng với tư cách là nhà buôn thì lại sẽ lợi dụng để kiếm chác.
Một thủ đoạn khác vô cùng thông dụng đã đưa đến thành ngữ chủ nợ nghiêm nghị và hợp pháp. Nội dung của nó là tạo ra những chủ nợ, cũng như Tide đã tạo ra một nhà băng, và chùi vào đó một số những tên Claparông, Người phá sản sẽ đội lốt những tên này để ẩn núp. Từ đó, người phá sản sẽ giảm dần phần chia của các chủ nợ thật, và tạo cho mình vốn liếng cho tương lai, tuy phải dè dặt để đảm bảo cho có được số lượng tiếng nói và số lượng tiền bạc cần thiết nhằm đạt được bản khế ước hòa giải có lợi cho mình. Những chủ nợ vui tươi và phi pháp cũng giống như những cử tri giả chui vào danh sách bầu cử. Chủ nợ nghiêm nghị và hợp pháp có thể làm gì được chủ nợ vui tươi và phi pháp ? Gạt họ ra bằng cách tấn công vào họ? Tốt lắm. Nhưng để tống khứ kẻ gian ngụy kia đi, chủ nợ nghiêm nghị và hợp pháp phải bỏ công việc của mình, giao cho người đại diện đi kiện thay cho mình, trong khi người đại diện đó thấy chẳng có lợi lộc gì việc ấy và thích điều khiển những vụ phá sản hơn, nên chẳng mặn mà gì với vụ kiện cỏn con đó. Để làm cho lời anh chủ nợ vui tươi ra, cần thiết phải len vào mớ bòng bong của mọi công việc kinh doanh, tìm ngược lên những giai đoạn xa xưa, lục lọi các số sách, dựa vào uy danh của pháp lý để có được tài liệu về chủ nợ giả, phát hiện ra chỗ vô lý của sự giả mạo, chứng minh cái đó cho thẩm phán của tòa án, rồi kiện tụng, đi đi, về về, đốt nóng nhiều quả tim nguội lạnh ; rồi lại làm cả cái nghề Đông Kisốt ở trường hợp mỗi một chủ nợ phi pháp và vui tươi : mà nếu tên chủ nợ phi pháp này có bị thuyết phục hắn đúng là vui tươi đi nữa, thì hắn chỉ có rút lui rồi đưa tay chào quan tòa và nói : « Xin lỗi, các ngài làm rồi, tôi rất nghiêm nghị. « Tất cả đều chẳng hại gì đến quyền người phá sản, và người phá sản có thể lôi vị Đông Kisốt ra trước tòa thượng thẩm. Trong thời gian đó, công việc làm ăn của Đông Kisốt lại hư hỏng và anh ta lâm vào tình trạng có khả năng phải khai phá sản.
Bài học là: Người con nợ tự mình cử các quản tài xem xét lại các món nợ, và xếp đặt khế ước hòa giải của mình.
Theo những dữ kiện ấy, ai còn không đoán được những câu chuyện sẽ xảy ra do hai hệ thống kia phát triển lên ? nó là những trò lừa đảo của Xganaren, những bịa đặt của Phrôngtanh, những câu nói dối của Mátxcarid, những túi rỗng của Xcapanh. Chẳng vụ phá sản nào mà không đẻ ra cho tác giả ý muốn mô tả khá nhiều những thứ ấy, những thứ đã làm chất liệu cho mười bốn tập Claritx Haclu. Chỉ riêng một thí dụ cũng đủ. Tên Gốpxéc lừng danh, bậc thầy của tất cả các bọn Panma, Gigonne, Vơcbruốck, Kenle và Nuyxanhgiăng, đã dính vào một vụ phá sản. Y định bụng phải đày đọa gắt gao một nhà buôn đã từng có khả năng trừng trị y. Nhưng trong vụ ấy, sau bản hòa giải, y lại nhận một số tiền bằng thương phiếu sẽ trả, số tiền ấy cộng với phần được chia, lại là toàn bộ số nợ của y. Y quyết định chấp nhận một bản hòa giải trong đó xác nhận việc hoàn lại cho người phá sản bảy mươi lăm phần trăm. Như vậy là các chủ nợ đã bị lừa gạt nhưng lại được lợi cho Gốpxéc. Tuy nhiên, nhà buôn đã ký những thương phiếu bất hợp pháp mặc dù tư cách phá sản không cho phép, lại có thể áp dụng vào thương phiếu ấy nguyên tắc chiết trừ ra bảy mươi lăm phần trăm. Cuối cùng, Gốpxéc, cái tên Gốpxéc vĩ đại ấy cũng chỉ nhận được gần năm mươi phần trăm. Tuy vậy, đối với con nợ, y vẫn chào một cách vừa kính trọng vừa chế giễu.
Vì mười hôm trước ngày phá sản mà đương sự lại tiến hành những công cuộc kinh doanh nào thì tất cả những cuộc kinh doanh ấy đều có thể buộc tội cả, nên có người thận trọng đã lo đến việc khởi sự bàn bạc một số việc với một số chủ nợ. Số chủ nợ này quyền lợi cũng giống như người phá sản là mong cho mau ký kết được một bản điều ước hòa giải. Nhiều chủ nợ tinh khôn đi tìm những chủ nợ ngốc nghếch hoặc quá bận bịu, miêu tả vụ phá sản thành một cảnh tượng xấu xí, rồi mua lại số nợ của họ, tính bằng nửa giá trị của nó trong cuộc thanh lý. Số tiền ấy họ sẽ lấy lại bằng phần chia cho các món nợ, và họ sẽ kiểm thêm được nữa, hoặc một phần ba, một phần tư số nợ đã mua.
Phá sản có nghĩa là đóng cửa một cách ít nhiều tắc tị đối với một hãng buôn, trong đó một cuộc cướp phá đã xảy ra nhưng còn bỏ sót lại một vài túi bạc. Sung sướng thay nếu anh chủ nhà lại chui ra được theo lối cửa sổ, mái nhà, đường hầm, hay bằng một lỗ trống nào, và chộp lấy được một túi, rồi từ đó nhân lên ! Thật là một cuộc tan rã, khẩu hiệu mạnh ai nấy chạy như ở trận Bêrêdina đã vang lên ; tất cả đều bất hợp pháp và hợp pháp, giả và thật, lương thiện và bất lương. Ai đó biết che mình, kẻ ấy được ca ngợi. Che mình có nghĩa là chiếm đoạt những hối phiếu nào đó phạm vào quyền lợi những chủ nợ khác. Cả nước Pháp đã đồn ầm về các cuộc tranh cãi chung quanh một vụ phá sản to lớn nổ ra ở một thành phố nợ có tòa thượng thẩm. Các thẩm phán ở đó, vốn có sổ vãng lai ở nhà người phá sản, đã mặc cho mình những áo khoác cao su nặng đến nỗi làm thủng cả áo khoác của pháp lý. Để tránh sự ngờ vực chính đáng, các vị ấy buộc lòng phải chuyển việc xét xử vụ phá sản sang một tòa án khác. Trường hợp đó lại là vỡ nợ nên chẳng còn có thẩm phán thanh lý, nhân viên thanh lý, tòa án thẩm quyền nào nữa.
Sự tình bát nháo ấy trong giới thương mại, ở Pari lại được đánh giá rất cao. Đến nỗi, nếu không bị dính vào việc phá sản vì một món tiền to lớn, thì mọi nhà buôn, dù ít bận bịu đến đâu, cũng đón nhận việc phá sản như một thiên tai không có kẻ bảo hiểm. Họ chuyển số thua lỗ qua mục lãi và lỗ, và không chịu phạm cái dại dột tiêu hoang thì giờ vô ích, họ tiếp tục chăm sóc công việc của riêng họ. Còn đối với buôn bán nhỏ, thường bị thúc bách ghê gớm, vào cuối tháng, lại phải chạy theo đồng tiền, thì một vụ kiện kéo dài và tốn kém đáng sợ làm họ hoảng hốt. Họ chả muốn hiểu rõ làm gì, họ theo gương những nhà buôn lớn, cúi đầu và cam chịu mất mát. Các nhà buôn lớn họ không khai phá sản, họ xếp đặt để được thanh lý một cách êm thấm : các chủ nợ cấp thu chứng và nhận cái người ta đưa đến cho mình. Họ tránh những điều tai tiếng, những thời hạn của pháp lý, tránh những đại diện phải thù lao, tránh việc hàng hóa bị mất giá. Ai nấy tin rằng phá sản sẽ đem lại cho mình ít kết quả hơn là bán thanh lí. Ở Pari người ta bán thanh lí nhiều hơn là phá sản.