Hoàn Thiên Thần Nổi Giận - Sidney Sheldon

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 1
New York, 4 tháng 9, 1969
Những người thợ săn đang khép chặt vòng vây để giết con mồi. Hai ngàn năm trước đây ở Rôm, cuộc đấu chắc được tổ chức tại rạp xiếc Nêrô hoạc ở Colosseum, nơi mà những con sư tử đói đuổi bắt nạn nhân trên đấu trường đầy m.áu và cát, nóng lòng muốn xé anh ta ra từng mảnh. Nhưng bây giờ đã là thế kỷ 20 văn minh và rạp xiếc được thay thế bằng khu tòa án hình sự ở trung tâm Manhattan, Phòng xử án số 16.
Ở vị trí của Suetonius(1) là một viên lục sự của tòa án, ghi lại sự kiện cho tương lai. Có hàng chục phóng viên và những người xem bị thu hút bởi những tít nổi bật trên các tờ báo hằng ngày về vụ xử án kẻ giết người, đang xếp hàng từ 7 giờ sáng ở ngoài phòng xử để kiếm chỗ ngồi xem.
Người bị săn đuổi, Michael Moretti, ngồi tại bàn bị cáo, là một người đàn ông trầm lặng, đẹp trai, hơn 30 tuổi một chút. Dáng người cao và rắn chắc, khuôn mặt được tạo bởi những đường nét cứng làm anh ta có vẻ gân guốc và hoang dại. Anh ta có bộ tóc đen để đúng mốt, cái cằm nhô ra với một lúm đồng tiền ít ai ngó lại ở đó và cặp mắt đen màu ô liu sâu thẳm. Anh ta mặc chiếc áo khoác màu xám, bên trong là chiếc áo sơ mi xanh da trời và đeo chiếc cà vạt còn xanh đậm hơn, dưới chân là đôi giày thửa bóng lộn. Trừ cặp mắt luôn đảo đi đảo lại khắp phòng xử án, Michael Moretti hoàn toàn bất động.
Con sư tử tấn công anh ta là Robert Di Silva, chưởng lý quận của khu vực New York, đại diện cho nhân dân. Nếu Michael Moretti phản ánh sự bất động thì Robert Di Silva là hiện thân của sự chuyển động không ngừng. Ông ta sống như thể lúc nào cũng muộn 5 phút với một cuộc hẹn. Dường như lúc nào ông ta cũng đang đánh nhau với một địch thủ tưởng tượng vô hình nào đó. Với thân hình thấp lùn chắc nịch và bộ tóc húi cao không hợp thời, Di Silva đã từng là một võ sĩ thời trẻ và mặt mũi ông ta vẫn còn mang những vết sẹo của thời kỳ đó. Đã có lần ông ta đánh chết một địch thủ trên võ đài và không hề hối tiếc điều đó. Trong những năm sau này, ông ta vẫn không biết đến thương cảm là gì.
Robert Di Silva là một người đầy tham vọng. Ông ta đã đấu tranh để đạt được vị trí hiện thời từ hai bàn tay trắng và không được một người có thế lực nào giúp đỡ. Trong khi leo dần lên những bậc thang xã hội, ông ta núp dưới cái vỏ là người phục vụ trung thành của nhân dân; nhưng dưới cái vỏ đó, ông ta là một người nhỏ nhen, không bao giờ tha thứ cho ai hoặc quên đi điều gì.
Thực ra, chưởng lý Di Silva không cần phải có mặt trong phòng xử án vào ngày hôm đó. Ông ta có một đội ngũ giúp việc đông đảo và bất kỳ một trợ thủ già dặn nào của ông cũng đủ khả năng luận tội trong vụ án này. Nhưng ngay từ đầu Di Silva đã biết rằng ông ta sẽ tự mình giải quyết vụ án Moretti.
Tin về Michael Moretti luôn ở trên trang nhất của các tờ báo. Anh ta là con rể của ông trùm Antonio Granelli, người đứng đầu gia đình lớn nhất trong số năm gia đình mafia miền Đông. Antonio Granelli ngày càng già yếu và người ta đồn rằng Michael Moretti được làm chú rể để sau này thay thế vị trí của bố vợ mình. Moretti đã từng dính líu vào hàng chục vụ phạm pháp từ gây rối đến giết người, nhưng không vị chưởng lý nào có thể buộc tội được anh ta.
Có quá nhiều mắt xích giữa Moretti và những người thi hành lệnh của anh ta. Di Silva đã mất công toi trong ba năm để tìm những chứng cớ buộc tội Moretti.
Và bất ngờ, vận may đã đến với ông ta.
Camillo Stela, một cộng sự gần gũi của Moretti đã bị bắt trong một vụ giết người cướp của. Để cứu lấy mạng sống của mình, Stela đã đồng ý hát. Đó là một bài hát hay nhất mà Di Silva từng nghe, một bài hát sẽ buộc gia đình mafia mạnh nhất ở miền đông phải quỳ gối, đưa Michael Moretti lên ghế điện và dẫn Robert Di Silva vào văn phòng thống đốc ở thành phố Albany. Những thống đốc trước kia của bang New York đã vào được Nhà Trắng: Martin Van Buren, Grover Cleveland, Teddy Roosevelt và Franklin Roosevelt. Di Silva muốn làm người kế tục họ. Thời điểm quả là thích hợp. Các cuộc bầu cử thống đốc bang sẽ được tổ chức sang năm.
Di Silva đã được ông sếp có thế lực chính trị nhất của bang nhắn nhủ: "Với tất cả sự chú ý của dư luận mà anh có được trong vụ này, anh chắc sẽ được giới thiệu ra tranh cử và rồi sẽ được bầu làm thống đốc". "Bobby, hãy đóng đinh Moretti và anh sẽ là ứng cử viên của chúng tôi".
Robert Di Silva chuẩn bị vụ án Michael Moretti cực kỳ cẩn thận. Ông ta bắt các cộng sự của mình thu thập bằng chứng, làm sáng tỏ những chỗ còn mơ hồ trong vụ án và bịt kín lỗ hổng về pháp luật mà luật sư của Moretti có thể tìm cách lợi dụng. Tất cả các lối thoát đã bị chận đứng. Chưởng lý phải mất gần hai tuần mới chọn xong đoàn uỷ viên công tố và Di Silva đòi bằng được phải chọn thêm sáu "bánh xe dự trữ" "các công tố viên thay thế để đề phòng khả năng không xử án được.
Trong các vụ án liên quan tới các nhân vật mafia quan trọng, các công tố viên thường biến mất hoặc bị những tai nạn chết người. Di Silva bố trí cho đoàn công tố viên ở cách ly ngay từ đầu và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho họ.
Chìa khoá cho vụ án Michael Moretti là Camillo Stela; và nhân chứng quan trọng này của Di Silva được bảo vệ cực kỳ chặt chẽ. Chánh án nhớ rất rõ trường hợp Abe Reles, nhân chứng của chính phủ đã bị "ngã từ tầng sáu của khách sạn Half Moon" (Nửa vầng trăng) xuống đất trong khi đang được cả một tiểu đội cảnh sát canh giữ. Robert Di Silva đã đích thân chọn lựa những người bảo vệ Camillo Stela và trước phiên tòa đêm đêm Camillo Stela được bí mật chuyển đến những chỗ giam giữ khác nhau. Giờ đây, khi vụ án bắt đầu được xét xử, Stela được giam trong một xà lim riêng biệt và được bốn cảnh sát vũ trang canh giữ.
Không ai được phép đến gần hắn, vì sự tự nguyện làm chứng của Stela dựa trên lòng tin của hắn về việc Di Silva có khả năng bảo vệ hắn trước sự trả thù của Michael Moretti.
o O o
Đó là buổi sáng ngày thứ năm của vụ xử.
Đó là ngày đầu tiên của Jennifer Parker tại phiên tòa. Cô ngồi tại bàn công tố cùng với năm trợ lý luật sư trẻ khác, những người đã cùng tuyên thệ với cô buổi sáng hôm đó.
Jennifer Parker là một cô gái tóc đen, hai mươi tư tuổi có dáng người mảnh dẻ, nước da hơi tái, khuôn mặt thông minh và sinh động, cặp mắt xanh luôn có dáng nghĩ ngợi. Khuôn mặt cô hấp dẫn hơn là xinh đẹp, trên đó ta thấy sự tự hào, lòng dũng cảm và cả độ nh.ạy cảm nữa, một khuôn mặt mà ai đã thấy khó lòng có thể quên được, cô ngồi vươn thẳng người, như thể đang thách thức những bóng ma vô hình của quá khứ.
Ngày hôm nay bắt đầu rất dở đối với Jennifer Parker. Lễ tuyên thệ ở phòng chưởng lý được dự định tổ chức vào lúc 8 giờ sáng. Jennifer đã cẩn thận chuẩn bị quần áo từ tối hôm trước và để chuông đồng hồ báo thức lúc sáu giờ để có đủ thời gian gội đầu.
Đồng hồ báo thức không reo vào buổi sáng hôm đó. Jennifer dậy lúc 7h30 và rất hốt hoảng. Trong lúc vội vàng mặc quần áo cô làm gãy gót giày. Sau đó lại phải thay quần áo. Lúc đóng sập cửa căn phòng bé xíu của mình, cô mới nhớ ra rằng mình đã để quên chìa khoá trong nhà. Cô đã định đi xe bus đến khu xử án nhưng bây giờ thì không thể làm điều đó được nữa và phải chạy vội ra đường vẫy tắc xi. Suốt con đường đến khu xử án cô phải nghe người tài xế giảng giải vì sao ngày tận thế sắp tới. Cuối cùng khi Jennifer mệt đứt hơi, tới được khu xử án ở 155 phố Leonard, cô bị muộn mất 15 phút.
Có hai mươi lăm luật sư tập trung trong văn phòng chưởng lý, phần lớn họ vừa tốt nghiệp trường luật, trẻ trung, háo hức, và rất hồi hộp khi sắp được làm việc cho chưởng lý quận của New York.
Căn phòng này gây cho người ta ấn tượng bởi sự bài trí trang nhã của nó. Trong phòng có một chiếc bàn làm việc lớn phía trước có ba chiếc ghế bành, phía sau là một chiếc ghế dựa bọc da, một bàn họp với hàng chục chiếc ghế xung quanh và những chiếc tủ tường chứa đầy sách luật.
Trên tường treo những ảnh chân dung lồng khung kính của J. Edgar Hoover, John Lindsay, Richard Nixon và Jack Dempsey.
Khi Jennifer chạy vội vào phòng vẻ mặt đầy hối lỗi, Di Silva đang đọc diễn thuyết. Ông ta dừng lại, nhìn sang Jennifer và nói:
- Có quỷ mới biết cô nghĩ đây là cái gì - một bữa tiệc trà chắc?
- Tôi hết sức xin lỗi, thưa ngài, tôi …
- Tôi cóc đếm xỉa đến việc cô có xin lỗi hay không. Lần sau đừng có bao giờ đến muộn nữa nghe không?
Mọi người trong phòng nhìn Jennifer với vẻ thông cảm giấu giếm.
Di Silva quay sang nhóm luật sư và gắt:
- Tôi biết vì sao tất cả các anh lại ở đây. Các anh sẽ bám lấy tôi để học hỏi kinh nghiệm ở tòa án và sau đó, khi cho rằng thế đã là đủ, các anh sẽ bỏ đi, hy vọng trở thành những luật sư nổi tiếng. Nhưng cũng có thể ai đó trong các anh sẽ thay thế tôi trong tương lai.
Di Silva ra hiệu cho người trợ thủ của mình:
- Cho họ tuyên thệ
Tất cả đọc lời tuyên thệ, giọng họ run run.
Khi buổi lễ tuyên thệ kết thúc, Di Silva nói:
- Tốt. Bây giờ các anh đã thề trước tòa án, Chúa sẽ phù hộ chúng ta. Căn phòng này sẽ là nơi xử án, nhưng dừng vội hy vọng. Các anh sẽ phải chúi mũi vào các công việc nghiên cứu pháp luật, các tài liệu dự thảo - trát đòi hầu tòa, trát truy nã - tất cả nhưng công việc đẹp đẽ mà người ta đã dạy các anh ở trường luật. Các anh sẽ chưa được tham gia xét xử trong vài năm tới.
Di Silva ngừng lời để châm một điếu xì gà ngắn và to kếch:
- Bây giờ tôi sắp sửa làm công tố một vụ án. Có lẽ các anh cũng đã biết qua về vụ đó. - Giọng ông ta chợt đượm vẻ châm biếm:
- Tôi có thể sử dụng 5, 6 người trong số các anh vào việc chạy giấy tờ.
Jennifer là người đầu tiên giơ tay. Di Silva đắn đo một chút, sau đó chọn cô cùng với năm người nữa.
- Hãy xuống phòng xử án số 16.
Khi những người này rời căn phòng, họ được phát giấy chứng nhận. Jennifer không bị ngã lòng bởi thái độ của chưởng lý. Ông ta cần phải cứng rắn, cô nghĩ như vậy. Ông ta đang làm một công việc khó khăn. Và bây giờ cô đang làm việc cho ông ta. Cô là một thành viên trong số những cộng sự của chưởng lý quận khu vực New York! Những năm tháng chán ngắt tưởng chừng không bao giờ hết của trường luật nay đã qua rồi. Các giáo sư đã làm cho môn luật trở nên phần nào trừu tượng và cũ kỹ, nhưng Jennifer luôn có khả năng nhìn thấy miền đất hứa ở phía trước: đó là một ngành luật thật sự liên quan tới con người và những sự ngu xuẩn của họ. Jennifer đỗ thứ hai trong lớp và đã có bài đăng trong tạp chí luật học. Cô đã đỗ cuộc thi tuyển luật sư ngay từ lần đầu trong khi một phần ba số bạn bè cùng thi bị trượt. Cô cảm thấy đã hiểu được Robert Di Silva và chắc rằng mình sẽ có khả năng xủ lý mọi công việc ông ta giao cho.
Jennifer đã học rất thuộc bài, cô biết rằng có bốn nhóm dưới quyền chưởng lý - xử án, thỉnh cầu, tống tiền và lừa đảo - và cô tự hỏi không biết mình sẽ được cử vào nhóm nào. Có hơn hai trăm phụ tá chưởng lý quận ở thành phố New York và năm chưởng lý quận.
Nhưng tất nhiên chưởng lý quận quan trọng nhất là người phụ trách quận Manhattan: Robert Di Silva. Lúc này Jennifer đang ngồi tại bàn công tố viên trong phòng xử án, và xem Robert Di Silva làm việc. Ông ta quả là một con người đầy quyền lực và không biết xót thưong.
Jennifer liếc nhìn bị cáo Michael Moretti. Mặc dù đã đọc tất cả về anh ta, cô vẫn không thể tin rằng đó là một tên giết người. Anh ta trông giống một ngôi sao điện ảnh trẻ đang đóng cảnh tòa án, cô nghĩ. Anh ta ngồi đó bất động, chỉ có đôi mắt đen sâu thẳm để lộ ra những tình cảm xáo trộn nội tâm của mình. Cặp mắt của anh ta đảo đi đảo lại không ngừng, xem xét mọi ngóc ngách của căn phòng như thể cố gắng tìm cách tẩu thoát. Không còn lối thoát nào nữa. Di Silva đã cố hết sức để làm điều đó.
Camillo Stela đứng ở bục nhân chứng. Nếu Stela là một con thú, thì chắc hắn sẽ là một con chuột chũi.
Hắn có một bộ mặt méo mó, và bé quắt, môi mỏng quẹt và răng cửa ố vàng. Cặp mắt hắn láo liên gian giảo và người ta không tin hắn, thậm chí trước khi hắn mở mồm nói bất cứ đlều gì. Robert Di Silva biết rõ những điểm yếu của nhân chứng của mình, nhưng điều đó không có ý nghĩa gì hết. Quan trọng là Stela phải nói những gì. Hắn có những câu chuyện rùng rợn để kể mà đó lại hoàn toàn là chuyện thật.
Vị chưởng lý khu vực bước tới khu nhân chứng nơi Stela vừa tuyên thệ.
- Ông Stela, tôi muốn hội đồng xử án biết rằng ông là một nhân chứng bất đắc dĩ và để thuyết phục ông ra đối chứng, chính quyền bang đã đồng ý cho ông nhận tội giết người không có chủ ý thay vào việc buộc ông tội cố sát. Có phải như vậy không?
- Đúng vậy, thưa ngài.
- Ông Stela, ông có quen bị cáo Michael Moretti không?
- Có thưa ngài. - Hắn không dám nhìn về phía bên bị cáo, nơi Michael Moretti đang ngồi.
- Thực chất q.uan hệ của các anh như thế nào?
- Tôi làm việc cho Mike.
- Anh biết Michael Moretti được bao lâu rồi?
- Khoảng 10 năm. - Giọng hắn hầu như không nghe rõ.
- Anh có thể nói to lên được không?
- Khoảng 10 năm. - Và hắn lúc lắc cổ.
- Anh có thể nói là anh có q.uan hệ gần gũi với bị cáo được không?
- Phản đối! - Thomas Colfax đứng phắt dậy. Trạng sư của Michael Moretti là một người đàn ông cao, tóc muối tiêu, trạc 50 tuổi, cố vấn của gia đình mafia này vốn là một trong những trạng sư hình sự khôn ngoan nhất ở nước Mỹ. - Chưởng lý khu vực định mớm cung cho nhân nhứng.
Chánh án Lawrence Waldman nói:
- Chấp nhận.
- Tôi sẽ đặt lại câu hỏi. Anh làm việc cho ông Moretti với c.ương vị nào?
- Tôi làm một việc mà ngài có thể gọi là người gỡ rối.
- Anh có thể nói rõ thêm chút nữa được không?
- Có chứ. Nếu có vấn để gì hoặc ai đó tỏ ra chệch choạc Mike sẽ bảo tôi đi sửa lại cho ngay ngắn?
- Anh làm như thế nào?
- Ngài biết đấy, bằng cơ bắp ấy mà.
- Anh có thể đưa ra thí dụ cho tòa được không?
Thomas Colfax lại đứng dậy:
- Phản đối, thưa chánh án. Kiểu đặt câu hỏi như thế này không làm sáng tỏ điều gì cả.
- Bác bỏ. Nhân chứng có thể trả lời tiếp.
- Vâng. Mike cho vay nặng lãi, đúng vậy không. Vài năm trước đây Jimmy Serrano không trả nợ đúng hẹn và Mike sai tôi đến dạy cho Jimmy một bài học.
- Bài học đó là gì vậy?
- Tôi đánh gãy chân hắn ta. Các ngài thấy đấy. - Stela giải thích hết sức thành khẩn - Nếu ta để một người quịt nợ, những kẻ khác sẽ làm theo hắn ngay.
Robert Di Silva có thể thấy phản ứng sốc trên mặt các quan tòa.
- Ngoài cho vay nặng lãi, Michael Moretti còn làm những việc gì nữa?
- Chúa ơi! Ngài cũng có thể kể ra được.
- Tôi muốn anh kể ra, Stela.
- Vâng. Mike có q.uan hệ chặt chẽ với các công đoàn ở bến cảng, trong ngành công nghiệp sản xuất quần áo. Mike có chân trong các sòng bạc, và các công việc tương tự như vậy.
- Stela, Michael Moretti bị ra tòa vì tội giết chết Eddie và Albert Ramos. Anh có biết họ không?
- Ồ, tôi biết họ rõ lắm.
- Lúc họ bị giết anh có ở hiện trường không?
- Thưa có. - Cả người hắn dường như cũng bắt đầu vặn vẹo.
- Ai là người giết họ?
- Mike. - Trong khoảnh khắc, hắn bắt gặp cái nhìn của Michael Moretti và Stela vội ngoảnh mặt đi.
- Michael Moretti?
- Đúng vậy.
- Bị cáo có nói cho anh biết vì sao y muốn giết anh em Ramos không?
- Sự thể là thế này, Eddie và Al phụ trách các sòng bạc của Mike, nhưng họ không chịu nộp đủ tiền thu được. Vì thế Mike buộc phải dạy cho họ một bài học. Anh ta nghĩ rằng…
- Phản đối.
- Chấp nhận. Nhân chứng phải bám vào các sự kiện.
- Sự thật là Mike bảo tôi mời hai anh em nhà đó…
- Eddie và Albert Ramos?
- Vâng. Mời họ tới một buổi liên hoan nhỏ ở Palican. Đó là một câu lạc bộ tư nhân ở gần bờ biển. - Cánh tay của hắn lại bắt đầu vặn vẹo và đột nhiên Stela nhận ra điều đó. Hắn dùng tay kia giữ chặt cánh tay hay vặn vẹo lại. Jennifer Parker quay sang nhìn Moretti.
Anh ta thản nhiên quan sát phiên tòa, toàn thân bất động.
- Sau đó điều gì đã xảy ra, Stela?
Tôi đón Eddie và Al, rồi lái xe đưa họ tới bãi để xe. Mike đã ở đó từ trước. Khi hai anh em này bước ra khỏi xe, tôi phóng đi và Mike bắt đầu nổ súng ngay.
- Anh có thấy anh em nhà Ramos ngã xuống đất không?
- Có thưa ngài.
- Anh có chắc là họ đã chết không?
- Hoàn toàn chắc chắn, thưa ngài.
Nhiều tiếng xì xào nổi lên khắp trong phòng xử án.
Di Silva chờ đợi cho đến khi phòng yên tĩnh trở lại.
- Anh Stela, anh có biết rằng những lời làm chứng của anh trước phiên tòa này chính là những lời buộc tội không?
- Tôi biết, thưa ngài.
- Và anh cũng biết rằng anh đã thề trước tòa và điều này liên quan đến sinh mạng của một con người?
- Tôi biết.
- Anh đã chứng kiến cảnh bị cáo, Michael Moretti, bắn chết hai người vì họ không trả đủ tiền cho hắn ta.
- Phản đối. Ông ta đang mớm cung cho nhân chứng.
- Chấp nhận.
Chưởng lý Di Silva nhìn các thẩm phán và hiểu rằng ông ta đã thắng trong vụ này. Ông ta quay sang Camillo Stela.
- Stela, tôi biết rằng anh cần rất nhiều can đảm để làm chứng tại phòng xử án này. Thay mặt nhân dân của bang, tôi muốn cám ơn anh. - Di Silva quay sang Thomas Colfax - Xin mời ngài đối chất.
Thomas Colfax lịch thiệp đứng dậy:
- Cám ơn, ngài Di Silva. - Ông liếc nhìn chiếc đồng hồ trên tường và quay về phía hội đồng xử án:
- Nếu ngài vui lòng, thưa ngài chánh án, bây giờ đã là gần giữa trưa. Tôi không muốn cuộc đối chất của mình bị gián đoạn. Tôi có thể đề nghị tòa nghỉ trưa và tôi sẽ đối chất vào chiều nay được không?
- Được thôi. - Chánh án Lawrence Waldman gõ nhẹ chiếc búa vào bục xử án. - Phiên tòa tạm nghỉ đến hai giờ chiều.
Mọi người lục tục đứng lên và đi qua cửa ngách của phòng xử án để ra ngoài. Các thẩm phán cũng lần lượt đi ra. Bốn cảnh sát có vũ khí hộ tống Camillo Stela đi sang phòng nhân chứng.
Các phóng viên lập tức vây quanh Di Silva.
- Xin ngài sẽ phát biểu vài lời với chúng tôi chứ?
- Thưa ngài chưởng lý, ngài nghĩ thế nào về vụ án này?
- Các ngài sẽ bảo vệ Stela như thế nào khi vụ án kết thúc?
Bình thường Robert Di Silva không bao giờ cho phép các phóng viên đột nhập vào phòng xử án như thế này. Nhưng giờ đây, với những tham vọng chính trị của mình, ông ta cần được sự ủng hộ của giới báo chí, và ông ta cố gắng tỏ ra lịch sự với các phóng viên.
Jennifer Parker cham chú theo dõi vị chưởng lý trả lời các câu hỏi của phóng viên.
- Ngài sẽ kết tội được chứ, thưa ngài chưởng lý?
- Tôi không phải là một nhà tiên tri, - Jennifer nghe thấy Di Silva trả lời khiêm tốn như vậy. - Thưa các ông các bà, đó là việc của các thẩm phán. Họ sẽ quyết định ông Moretti có tội hay không?
Jennifer quay sang Michael Moretti. Anh ta trông có vẻ bình tĩnh và thoải mái. Trông anh ta thật là trẻ con, Jennifer chợt nghĩ như vậy. Cô khó có thể tin rằng anh ta lạị phạm các tội ghê gớm mà người ta vừa buộc cho. Nếu mình phải chọn ai là kẻ có tội, Jennifer nghĩ, mình sẽ chọn Stela, kẻ hay vặn vẹo.
Các phóng viên đã đi khỏi và Di Silva đang thảo luận với các cộng sự của mình. Jennifer sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để biết được họ đang bàn bạc điều gì.
Jennifer nhìn thấy một người đàn ông đang nói chuyện với Di Silva, sau đấy người đó rời khỏi nhóm người đang vây quanh quan chưởng lý và bước vội tới chỗ cô. Ông ta cầm một chiếc phong bì to dán kín.
- Cô là Jennifer phải không ạ?
Jennifer ngạc nhiên nhìn lên:
- Vâng.
- Sếp muốn nhờ cô đưa cái này cho Stela. Cô hãy nói với hắn cố nhớ những số liệu này xem. Colfax sẽ cố gắng tìm ra những chỗ sơ hở trong lời khai của hắn chiều nay, và sếp muốn biết chắc rằng Stela sẽ không bị rối trí.
Ông ta đưa phong bì cho Jennifer và cô ngó sang Di Silva. Ông ấy nhớ tên mình, đó là một điềm tốt, cô nghĩ vậy.
- Cô hãy đi ngay đi. Ngài chưởng lý không nghĩ rằng Stela sẽ đọc nhanh được tất cả những điều đó đâu.
- Vâng, thưa ngài. - Jennifer vội đứng dậy.
Cô bước tới cánh cửa mà cô vừa thấy Stela đi qua.
Một viên cảnh sát vũ trang chắn cô lại.
- Tôi có thể giúp gì được cô nào?
- Tôi ở văn phòng chưởng lý. - Jennifer đáp gọn lỏn.
Cô rút giấy chứng nhận của mình ra và đưa cho anh ta xem. - Ngài Di Silva yêu cầu tôi đưa chiếc phong bì này cho ông Stela.
Người gác xem xét kỹ lưỡng thẻ của Jennifer, sau đó mở cửa và đưa cô vào phòng nhân chứng. Đó là một căn phòng nhỏ, nom tồi tàn, trong đó có một chiếc bàn rách, một chiếc ghế xô pha và mấy chiếc ghế gỗ cũ.
Stela đang ngồi trên ghế, tay văn vẹo liên hồi. Có bốn cảnh sát vũ trang cũng đang ở trong phòng.
Khi Jennifer bước vào phòng, một người gác nói:
- Ê, không ai được phép vào đây.
Người gác ở phía ngoài nói vọng vào:
- Ổn cả, Al, người của văn phòng chưởng lý đấy.
Jennifer đưa cho Stela chiếc phong bì.
- Ngài Di Silva muốn ông cố nhớ lại những tài liệu này.
Stela nheo mắt nhìn cô và vẫn tiếp tục vặn tay.
Chú thích
(1) Sử gia La Mã cổ đại.
Dịch từ nguyên bản tiếng Anh RACE OF ANGELS, Nhà xuất bản Fotana Collins, Glasgow, Great Britain, 1990
Tác giả: Sidney Sheldon
Dịch giả: Thu Nguyên
Nguồn: Nhà xuất bản LAO ĐỘNG, 1999
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 2
Trên đường đi ăn trưa, Jennifer dừng lại trước cửa phòng xử án vắng lặng. Cô không thể cưỡng lại ý muốn bước vào đó một lát.
Mỗi bên cánh gà có 15 hàng ghế dành cho những người dự xử án. Đối diện với ghế quan tòa là hai chiếc bàn dài, chiếc bên trái có hàng chữ nguyên cáo, chiếc bên phải dành cho bị cáo. Lô của hội đồng xử án gồm hai hàng ghế, mỗi hàng có tám cái. Đây là một căn phòng xử án bình thường, Jennifer nghĩ, đơn giản thậm chí còn xấu xí nữa, nhưng đó là trái tim của tự do. Căn phòng này cũng như tất cả các phòng xử án tương tự, thể hiện sụ khác nhau giữa văn minh và dã man. Quyền được xét xử tại tòa án là cốt lỗi của tất cả các quốc gia tự do. Jennifer nghĩ đến những nơi khác trên thế giới, nơi không có phòng xử án, nơi mà những công dân bình thường bị dựng cổ vào lúc nửa đêm, bị tra tấn và thủ tiêu mà không có lý do cụ thể nào hết.
Nếu như có lúc nào đó, các tòa án ở Mỹ bị tước bỏ quyền lực của mình, Jennifer nghĩ, nếu công dân của nước Mỹ bị tước quyền được xét xử bởi một tòa án, lúc ấy nước Mỹ sẽ không còn là một quốc gia tự do nữa.
Giờ đây, cô là một bộ phận của hệ thống pháp luật và cô rất tự hào về điều đó. Cô sẵn sàng làm mọi thứ để tôn trọng và bảo vệ hệ thống đó.
Khi Jennifer bước ra khỏi phòng xử án, cô để ý thấy có những tiếng ồn ào từ xa vọng lại. Chúng trở nên rõ ràng và to hơn khi Jennifer tiếp tục đi. Chuông báo động bắt đầu réo. Jennifer nghe thấy tiếng chân chạy vội vã dọc hành lang và nhìn thấy nhiều cảnh sát súng lăm lăm trong tay lao ra phía cửa ra vào của khu xử án. Chắc Michael Moretti trốn mất rồi, Jennifer sực nghĩ. Cô bước vội ra ngoài hành lang, khung cảnh ở đó cực kỳ hỗn loạn. Mọi người chạy đi chạy lại rối rít, quát tháo, ra lệnh giữa tiếng ồn của chuông báo động. Lính gác chặn hết các cửa ra. Các phóng viên đang gọi điện về tòa báo cũng ùa ra hành lang để xem điều gì đã xảy ra. Jennifer nhìn thấy chưởng lý Robert Di Silva ở phía cuối căn phòng. Ông ta đang giận dữ ra lệnh cho một toán cảnh sát, mặt ông trông tái nhợt.
Trời đất! Jennifer nghĩ, ông ta chắc sắp bị đau tim.
Cô xô đẩy đám đông để đi về phía ông ta, hy vọng có thể giúp ông phần nào. Khi cô đến gần, một viên cảnh sát canh giữ Camillo Stela nhìn lên và trông thấy cô.
Anh ta chỉ tay về phía cô và chỉ năm giây sau Jennifer Parker thấy mình bị giữ lại, trói giật cánh khuỷu và bị tuyên bố bắt giữ.
o O o
Có bốn người trong phòng của chánh án Lawrence Waldman: Chánh án Waldman, chưởng lý Robert Di Silva, Thomas Colfax và Jennifer.
- Cô có quyền yêu cầu một luật sư hiện diện ở đây trước khi cô tuyên bố bất cứ điều gì, - chánh án Waldman thông báo cho Jennifer, - và cô có quyền không trả lời nếu cô…"
- Tôi không cần luật sư, thưa ngài. Tôi có thể giải thích những gì đã xảy ra.
Robert Di Silva ghé sát Jennifer đến nỗi cô có thể thấy rõ mạch m.áu ở thái dương ông ta đang đập mạnh:
- Ai đã đưa tiền cho cô để cô đưa cái bọc đó cho Camillo Stela?
- Đưa tiền cho tôi? Làm gì có ai đưa tiền cho tôi, - giọng Jennifer run lên vì phẫn uất.
Di Silva nhặt chiếc phong bì to trên bàn của chánh án Waldman:
- Không ai đưa tiền cho cô. Cô chỉ đến chỗ nhân chứng của tôi và đưa cho anh ta cái này sao?
Ông ta rũ mạnh chiếc phong bì và xác một con chim hoàng yến rơi xuống bàn. Nó đã bị bẻ gãy cổ.
Jennifer nhìn chằm chằm vào con chim chết, hoảng sợ:
- Tôi… một người của ngài đã đưa nó cho tôi.
- Người nào của tôi?
- Tôi… tôi không biết.
- Thế mà cô lại biết rằng đó là người của tôi. - Giọng ông ta đầy vẻ hoài nghi.
- Vâng. - Tôi thấy anh ta nói chuyện với ngài rồi sau đó anh ta đến chỗ tôi và đưa tôi chiếc phong bì. Anh ta nói rằng ngài muốn tôi đưa nó cho ông Stela. Anh ta thậm chí còn biết cả tên tôi nữa.
- Tôi cuộc là hắn biết. Hắn đã trả cô bao nhiêu tiền?
Tất cả chỉ là một cơn ác mộng. Jennifer nghĩ. Mình sẽ tỉnh lại ngay bây giờ và lúc đó sẽ là 6 giờ sáng. Mình sẽ mặc quần áo và đến tuyên thệ ở phòng nhân viên của chưởng lý.
- Bao nhiêu? - Di Silva quát lên. Cơn giận dữ của ông ta mạnh đến mức làm cho Jennifer đứng bật dậy.
- Ngài buộc tội tôi về việc…
- Buộc tội cô à, - Robert Di Silva nắm chặt bàn tay. - Thưa cô, tôi chưa làm việc đó đâu. Nhưng đến khi cô ra tù, cô sẽ quá già để có thể tiêu xài số tiền đó!
- Không có tiền nong gì cả. - Jennifer nhìn ông ta một cách thách thức.
Thomas Colfax vẫn ngồi yên từ nãy đến giờ, chăm chú theo dõi câu chuyện. Bất chợt ông ta nói xen vào:
- Xin lỗi, thưa ngài chánh án, nhưng tôi e rằng chúng ta sẽ không đi đến đâu cả nếu cứ tiếp tục theo kiểu này.
- Tôi đồng ý, - chánh án Waldman đáp. Ông ta quay sang chưởng lý. - Anh đang ở đâu vậy, Bobby? Stela có còn sẵn sàng ra đối chứng nữa không?
- Đối chứng gì nữa? Hắn ta sợ phát rồ lên rồi. Hắn không còn dám ra làm chứng nữa đâu.
Thomas Colfax nói một cách trôi chảy:
- Nếu tôi không thể đối chất nhân chứng chính của bên nguyên, thưa ngài chánh án, tôi sẽ phải yêu cầu xoá bỏ phiên tòa.
Mọi người trong căn phòng đều hiểu điều đó có nghĩa như thế nào: Michael Moretti sẽ ra khỏi phòng xử án với tư cách một người tự do.
Chánh án Waldman nhìn qua chưởng lý:
- Anh có nói cho nhân chứng của mình là hắn sẽ bị xử thêm vì tội không tuân lệnh tòa không?
- Tôi đã nói rồi. Nhưng Stela sợ bọn chúng hơn là sợ chúng ta. - Ông căm phẫn nhìn sang Jennifer. - Hắn ta không tin rằng chúng ta có thể bảo vệ được hắn nữa.
Chánh án Waldman nói chậm rãi:
- Nếu vậy tôi sợ rằng tòa không có cách nào khác là phải làm theo yêu cầu của luật sư của bị cáo, và tuyên bố xoá bỏ phiên tòa.
Robert Di Silva đứng đó, lắng nghe người ta nói về thất bại của mình. Không có Stela, ông ta không thể buộc tội được. Michael Moretti bây giờ đã ở ngoài vòng kiểm soát của ông ta, nhưng Jennifer Parker thì chưa. Ông ta sẽ bắt cô phải trả giá về việc cô đã làm.
Chánh án Waldman nói:
- Tôi sẽ ra lệnh thả bị cáo và hủy bỏ phiên tòa.
Thomas Colfax đứng dậy:
- Cám ơn ngài chánh án.
Không có dấu hiệu đắc thắng nào trên khuôn mặt ông.
- Nếu không còn việc gì nữa…, - chánh án Waldman tiếp tục.
- Còn một việc nữa, - Robert Di Silva nói và quay sang Jennifer Parker. - Tôi muốn buộc tội cô ta về việc ngăn cản thực hiện công lý, đe dọa nhân chứng trong một vụ án quan trọng, về việc nhận hối lộ, về… - ông ta nghẹn giọng vì giận dữ.
Jennifer tức giận đập lại:
- Ông không thể chứng minh cho bất kỳ một lời buộc tội nào của ông, đơn giản vì chúng không đúng sự thật. Tôi… tôi có thể có tội là đã tỏ ra ngu ngốc, nhưng đó là tất cả tội lỗi của tôi. Không ai đút lót tôi để làm việc gì cả. Tôi đã cho rằng tôi cần chuyển một gói đồ hộ ông.
Chánh án Waldman nhìn Jennifer và nói:
- Dù động cơ là thế nào đi chăng nữa, hậu quả là hết sức nghiêm trọng. Tôi sẽ yêu cầu Uỷ ban kiểm tra tư cách luật gia điều tra vụ này và nếu Uỷ ban đó thấy đủ chứng cứ, họ sẽ tước quyền hành nghề luật sư của cô.
Jennifer thấy tim mình đau nhói:
- Thưa ngài chánh án tôi…
- Chúng ta hãy kết thúc ở đây, cô Parker.
Jennifer đứng lặng đi một lát, nhìn chằm chằm vào những khuôn mặt đầy ác cảm quanh cô. Cô không còn có thể nói thêm gì nữa.
Xác con hoàng yến trên bàn đã nói lên tất cả mọi điều
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 3
Jennifer Parker không chỉ xuất hiện trên tin tức buổi tối. Cô chính là toàn bộ tin tức.
Câu chuyện cô chuyển một con hoàng yến chết cho nhân chứng chính của chưởng lý có sức hấp dẫn không ai cưỡng lại được. Tất cả các kênh vô tuyến đều đưa hình ảnh Jennifer rời khỏi căn phòng của chánh án Waldrnan, khó khăn lách ra khỏi đám phóng viên và dân chúng vây lấy cô.
Jennifer không thể tưởng tượng được sự chú ý đáng sợ của dư luận đối với mình. Họ vây quanh cô tứ phía: Phóng viên của tivi, đài phát thanh và các nhà báo. Cô chỉ mong thoát khỏi họ càng nhanh càng tốt, nhưng lòng tự trọng buộc cô phải dừng lại.
- Ai đã đưa cho cô con hoàng yến, cô Parker?
- Cô đã gặp Michael Moretti bao giờ chưa?
- Cô có biết rằng Di Silva định dùng vụ án này để lọt vào văn phòng thống đốc bang không?
- Chưởng lý nói ông ta sẽ làm cho cô mất việc. Cô có chống lạì việc đó không?
Đối với từng câu hỏi, Jennifer chỉ mím môi trả lời ngắn gọn:
- Tôi không có ý kiến gì hết.
Trên chương trình tin tức buổi tối của hãng CBS người ta gọi cô là "Parker đi sai đường". Một phát thanh viên vô tuyến của hãng ABC đặt cho cô cái tên "chú hoàng yến". Trên kênh của hãng NBC, một nhà bình luận thể thao so sánh cô với Roy Riegels, một cầu thủ bóng đá đưa bóng vào lưới nhà từ cự li rất gần gôn.
o O o
Tại một khách sạn thuộc quyền sở hữu của Michael Moretti, có một bữa tiệc đang diễn ra. Có hơn một chục người trong phòng uống rượu và cười nói ồn ào.
Michael Moretti ngồi trầm ngâm một mình trước quầy rượu chăm chú theo dõi Jennifer Parker trên tivi. Anh ta nâng chén rượu lên chào cô và uống cạn.
Luật sư khắp nơi bàn tán về trường hợp Jennifer Parker. Một nửa trong số họ tin rằng cô ta đã bị mafia mua chuộc, nửa khác nghĩ rằng cô ta đã bị lừa vì quá ngây thơ. Tuy nhiên, dù ở phía nào đi nữa họ đều nhất trí một điểm: sự nghiệp ngắn ngủi của Jennifer Parker với tư cách là một luật gia đã chấm dứt.
Cô mới chỉ hành nghề có đúng 4 giờ đồng hồ.
o O o
Cô sinh ra ở Kelso, bang Washington, một thị trấn nhỏ được xây dựng vào năm 1947. Người lập nên thị trấn này, một nhà buôn gỗ người Scotland, đã dùng tên của quê mình để dặt cho thị trấn.
Cha của Jennifer là một luật sư. Đầu tiên ông làm việc cho các công ty gỗ, sau đó cho các công nhân ở xưởng cưa. Những ký ức về thời thơ ấu của Jennifer tràn đầy kỷ niệm vui vẻ.
Bang Washington là một nơi đẹp như tranh đối với cô bé, có những dãy núi kỳ thú, nơi trượt tuyết và các công viên quốc gia. Cô được trượt tuyết, bơi thuyền và khi lớn lên chút nữa được leo núi. Jennifer học leo núi ở đỉnh Rainier và trượt tuyết ở Timberline với cha cô.
Cha Jennifer luôn dành thời gian để chơi với cô. Trong khi đó mẹ cô, một người đàn bà đẹp và luôn bận rộn, rất ít khi có mặt ở nhà. Jennifer rất yêu cha. Ông Abner Parker là một người có dòng m.áu pha trộn giữa Anh, Irland và Scotland. Ông người tầm thước, tóc đen và mắt xanh lá cây, một người cực kỳ tốt bụng và công bằng. Ông không quan tâm tới tiền bạc mà quan tâm đến con người.. Ông thường ngồi nói chuyện với Jennifer hàng tiếng đồng hồ về các vụ kiện mà ông xét xử và những vấn đề mà mọi người đều trình bày với ông, tại văn phòng luật sư khiêm tốn và bé nhỏ. Mãi về sau, Jennifer vẫn không biết rằng ông nói chuyện với cô, vì ông không còn ai khác để chia sẻ những tình cảm của mình. Sau giờ học Jennifer thường chạy vội đến tòa án để xem cha mình làm việc. Nếu tòa án không có vụ xử kiện nào, cô thường đi xem văn phòng của cha, nghe ông tranh luận với các khách hàng của mình về các vụ kiện. Mọi người coi việc Jennifer sẽ học ở trường luật là điều đương nhiên.
Năm Jennifer 15 tuổi, cô bắt đầu làm việc cho cha vào kỳ nghỉ hè. Vào lứa tuổi khi các cô gái khác còn mải mê hẹn hò với bạn trai, Jennifer đã vùi đầu vào nghìên cứu các vụ kiện và chúc thư.
Các chàng trai rất thích cô, nhưng Jennifer ít khi đi chơi với họ. Khi cha cô thắc mắc điều đó, cô trả lời:
- Tất cả bọn họ đều còn quá trẻ, ba ạ.
Cô biết rằng một ngày kia cô sẽ lấy một luật sư giống như cha cô.
Đúng vào ngày sinh nhật thứ mười sáu của Jennifer, mẹ cô bỏ nhà ra đi cùng với cậu con trai 18 tuổi của nhà láng giềng, và cha Jennifer chết dần từ dạo đó. Bẩy năm sau trái tim ông mới ngừng đập, nhưng ông đã chết từ khi ông nghe tin về vợ mình. Cả thị trấn biết việc đó và họ rất thông cảm với ông. Điều này lại làm cho ông càng đau buồn, vì Abner Parker là một người đàn ông giầu lòng tự trọng. Ông quay ra rượu chè. Jennifer làm mọi điều cố thể để an ủi ông, nhưng cũng chẳng có ích gì. Mọi cái không thể trở lại như cũ được nữa.
Năm sau, Jennifer đến tuổi vào đại học nhưng cô muốn ở nhà với cha. Tất nhiên cha cô không đồng ý.
- Chúng ta sẽ thành đồng nghiệp, Jennifer ạ. - Ông bảo cô - Hãy học nhanh lên để lấy bằng con ạ.
o O o
Sau khi tốt nghiệp phổ thông, cô đăng ký học luật tại trường tổng hợp Washington ở thành phố Seattle.
Trong năm thứ nhất, khi các bạn cùng lớp bù đầu với những hợp đồng, chúc thư, bất động sản và các thủ tục kiện tụng của luật hình sự, thì Jennifer cảm thấy tự nhiên như ở nhà. Cô sống trong khu nội trú trường và làm cho thư viện luật của trường.
Jennifer yêu thích Seattle. Vào chủ nhật, cô thường cùng với một sinh viên Ấn Độ tên là Ammini William và một cô gái Irland to xương với tên gọi Josephine Collins, đi bơi thuyền trên hồ xanh ở trung tâm thành phố, hoặc tham gia vào các cuộc đua giành cúp vàng trên hồ Washington.
Có rất nhiều câu lạc bộ nhạc jazz hay ở Seattle và Jennifer thích nhất câu lạc bộ Poop Deck, ở đó người ta ngồi trên những thùng gỗ thay cho bàn ghế.
Vào buổi chiều Jennifer, Ammini và Josephine thường gặp nhau ở quán Hastv Tasty, nơi có món khoai tây rán ngon nhất thế giới.
Có hai chàng trai theo đuổi Jennifer. Một sinh viên trường y: trẻ, đẹp trai tên là Noal Larkin và một sinh viên luật tên là Ben Munro. Thỉnh thoảng Jennifer cũng đi chơi với họ, nhưng cô quá bận để có thời giờ nghĩ tới một chuyện tình nghiêm chỉnh.
Mùa hè nào, Jennifer cũng về nhà thăm cha. Ông đã thay đổi rất nhiều. Ông không bao giờ say nhưng cũng chẳng có lúc nào tỉnh táo cả. Ông đã ẩn vào một pháo đài tình cảm và không ai có thể hiểu được ông nữa.
Ông mất vào lúc Jennifer đang học năm cuối ở trường luật. Mọi người vẫn nhớ đến ông và có gần một trăm người tham dự đám tang Abner Parker, những người mà lúc sinh thời ông đã giúp đỡ, khuyên bảo và kết bạn. Jennifer không chỉ mất đi một người cha. Cô còn mất cả một người thầy và một người bảo trợ nữa.
o O o
Sau đám tang, Jennifer trở lại Seattle để học nốt năm cuối. Cha cô chỉ để lại cho cô gần 1000 đôla và cô phải quyết định sẽ làm gì trong tương lai. Cô biết rằng mình sẽ không thể hành nghề luật sư ở Kelso, vì ở đó người ta vẫn coi cô là một cô bé đáng thương có người mẹ bỏ nhà theo trai.
Do tốt nghiệp với kết quả cao, Jennifer đã được hàng chục hãng luật hàng đầu trong cả nước phỏng vấn và cô nhận được một số lời mời đến làm việc. Warren Oakes, giáo sư về luật hình sự của trường bảo cô:
- Đó quả là một cống vật thật sự, cô gái trẻ ạ. Thường thì một phụ nữ rất khó có thể tìm được chỗ làm việc trong một công ty luật có uy tín.
Khó khăn của Jennifer lúc này là cô không có một chỗ trú chân ổn định. Cô cũng chưa rõ mình sẽ sống ở đâu. Ngay trước khi cô tốt nghiệp, tình cờ khó khăn ấy đã được giải quyết. Giáo sư Oakes yêu cầu cô gặp ông sau giờ học.
- Tôi vừa nhận được một lá thư từ văn phòng chưởng lý quận Manhattan. Ông ta yêu cầu tôi giới thiệu một học sinh xuất sắc nhất về làm trợ lý. Cô có thích làm ở đó không?
Làm việc ở New York? Jennifer quá vui sướng và câu trả lời hầu như được bật ra ngay tức khắc:
- Có ạ, thưa thầy!
Cô bay đến New York để dự kỳ thi sát hạch và trở lại Kelso để đóng cửa văn phòng luật của cha cô. Đây là một công việc vừa cay đắng vừa ngọt ngào, tràn đầy những kỷ niệm của quá khứ, và Jennifer có cảm giác rằng cô đã lớn lên ở trong chính văn phòng này.
Cô kiếm việc làm ở thư viện luật của trường tổng hợp để sống qua ngày, trong khi chờ đợi kết quả của cuộc thi sát hạch ở New York.
- Đó là một trong những kỳ thi khó nhất trong cả nước đấy! - Giáo sư Oakes nhắc nhở cô.
Nhưng Jennifer biết rằng mình sẽ đỗ.
Cũng ngày hôm đó, cô nhận được thông báo về việc đã đỗ kỳ thi sát hạch và một giấy mời đến làm việc của văn phòng chưởng lý ở New York.
Một tuần sau đó, Jennifer đến New York.
Cô thuê một căn hộ nhỏ ở cuối đại lộ số Ba. Căn hộ này năm ở tầng tư của một tòa nhà không có lò sưởi. Tập thể dục sẽ có lợi cho sức khoẻ của mình, Jennifer tự nhủ. Căn hộ này có một phòng ngủ bé xíu, trong đó có một chiếc đi văng có thể biến thành gi.ường ngủ, một buồng tắm nhỏ có cửa sổ được chốt chặt. Đồ đạc trong phòng cực kỳ tồi tàn. Không sao, ta sẽ không sống ở đây lâu đâu mà, Jennifer nghĩ. Ta sẽ chỉ sống ở đây chừng nào ta chưa chứng tỏ được mình là một luật sư giỏi. Tất cả những cái đó chỉ là một giấc mơ. Thực tế là cô chỉ ở New York có gần 72 giờ đồng hồ. sau đó cô đã bị đuổi khỏi đội quân của chưởng lý và còn bị đe dọa tước quyền luật sư.
Jennifer bỏ đọc báo và tạp chí, ngừng xem vô tuyến bởi bất cứ lúc nào đụng đến chúng, cô đều thấy mình trong đó. Cô cảm thấy mọi người đều chú ý đến mình, trên đường phố, trên ôtô bus và ở ngoài chợ nữa. Cô bắt đầu ở lỳ trong nhà, không trả lời điện thoại hoặc ra mở cửa khi có chuông reo. Cô đã định thu dọn đồ đạc và trở lại bang Washington. Cô còn định tìm việc thuộc các lĩnh vực khác. Cô đã nghĩ đến việc tự tử. Cô dành hàng tiếng đồng hồ ngồi viết thư cho chưởng lý Robert Di Silva. Một nửa số thư buộc tội ông kém nh.ạy cảm và thiếu sự thông cảm. Một nửa khác gồm toàn những lời xin lỗi và cầu xin ông cho cô có cơ hội làm lại cuộc đời. Kết cục không có bức thư nào được gửi đi cả.
Lần đầu tiên trong đời, Jennifer chìm đắm trong tuyệt vọng. Cô không có bạn bè ở New York, không có ai để tâm sự cả. Cô tự nhốt mình trong phòng suốt ngày và đến khuya mới dám đi ra dạo trên các đường phố vắng lặng của thành phố. Những ngôi nhà vắng lặng, chủ nhân của đêm tối, không bao giờ bám lẵng nhẵng theo cô. Có lẽ chúng thấy nỗi cô đơn và tuyệt vọng của mình trong cặp mắt cô.
Vừa đi, Jennifer vừa hình dung lại cảnh xử án với phần kết cục luôn thay đổi.
"Một người đàn ông tách khỏi nhóm người đang vây quanh Di Silva và bước vội đến chỗ cô. Hắn ta mang theo một chiếc phong bì to.
- Cô là cô Parker?
- Vâng?
- Sếp muốn nhờ cô đưa cái này cho Stela.
Jenllifer lạnh lùng nhìn hắn ta:
- Xin cho tôi xem căn cước của ngài?
Người đàn ông sợ hãi bỏ chạy.
o O o
"Một người đàn ông tách khỏi nhóm người đang vây quanh Di Silva và bước vội đến chỗ cô. Hắn ta mang theo một chiếc phong bì to.
- Cô là cô Parker?
- Vâng?
- Sếp muốn nhờ cô đưa cái này cho Stela.
Hắn giúi chiếc phong bì vào tay cô. Jennifer mở phong bì và thấy con hoàng yến chết ở trong đó.
- Tôi ra lệnh bắt giữ anh.
o O o
"Một người đàn ông tách khỏi nhóm người đang vây quanh Di Silva và bước vội đến chỗ cô. Hắn ta mang theo một chiếc phong bì to. Hắn đi ngang qua Jennifer tới chỗ một trợ lý trẻ của chưởng lý. "Sếp muốn đưa cái này cho Stela".
o O o
Cô có thể tưởng tượng ra những cảnh như vậy bao nhiêu lần cũng được, nhưng làm như vậy cũng chẳng thay đổi được gì cả. Một sai lầm ngu ngốc đã làm hại cả đời cô. Nhưng mà ai nói là đời cô coi như bỏ đi nhỉ? Báo chí chăng? Hay là Di Silva? Cô vẫn chưa nghe nói gì về việc tước quyền hành nghề của mình, vì cô vẫn còn là một luật sư cơ mà. Sẽ có những hãng luật mời mình, cô tự nhủ.
Lòng tràn đầy quyết tâm, Jennifer tìm lại sách các hãng mà cô đã từng tiếp xúc và gọi điện cho họ. Không ai trong số người mà cô hỏi có mặt ở cơ quan, và họ cũng không trả lời cô sau đó. Phải mất năm ngày như vậy mới hiểu rằng mình đã biến ra một con chiên ghẻ của giới luật pháp. Sự ồn ã xung quanh vụ án đã dịu đi nhưng người ta vẫn còn nhớ đến nó.
Jennifer vẫn tiếp tục gọi điện cho các hãng luật, và tâm trạng của cô chuyển từ thất vọng sang phẫn nộ, khinh bỉ rồi lại trở lại thất vọng. Cô thường tự hỏi mình sẽ làm việc gì từ nay cho đến cuối đời và mỗi lần như vậy, câu trả lời vẫn là: "Tất cả những gì cô muốn làm, điều duy nhất cô quan tâm, là hành nghề luật": Cô là một luật gia mà. Cô nhất định phải tìm cách để làm công việc đó. Cô bắt đầu tới các văn phòng luật ở quận Manhattan. Khi đến đó, cô không bao giờ báo trước mà chỉ nói tên mình và yêu cầu người tiếp khách cho gặp sếp của văn phòng. Đôi lần cô cũng được phỏng vấn, nhưng những lúc đó cô hiểu rằng người ta làm như vậy chỉ vì tò mò. Cô là một con quái và họ muốn nhìn tận mắt xem cô trông như thế nào. Và sau khi phỏng vấn, người ta trả lời cô rằng hiện chưa có việc thích hợp cho cô.
Sau sáu tuần, Jennifer hầu như đã hết sạch tiền. Cô muốn chuyển sang một căn hộ khác rẻ hơn, nhưng không còn căn hộ nào rẻ hơn chỗ cô đang ở. Cô bắt đầu nhịn ăn sáng, ăn trưa và ăn tối ở một cửa hiệu tối tăm, thức ăn rất tồi nhưng rẻ tiền.
Sau khi đã liên hệ với tất cả các hãng luật lớn mà không xin được việc, Jennifer bắt đầu gọi điện cho các hãng nhỏ, nhưng ở đó người ta cũng đã biết cô. Họ chỉ gạ gẫm cô chứ không đã động đến chuyện công việc.
Cô bắt đầu thấy tuyệt vọng. Được rồi, nếu họ không muốn thuê mình, mình sẽ mở một văn phòng riêng. Nhưng vấn đề là phải có tiền, ít nhất là 10 nghìn đôla. Cần phải thuê nhà, điện thoại, trả lương người thư ký, sách luật, bàn ghế, văn phòng phẩm… Thế là cô không còn đủ tiền để mua tem thư nữa.
Cô hy vọng sẽ nhận được chút tiền nào đó từ văn phòng chưởng lý, nhưng tất nhiên là hy vọng ấy không thể có được. Cô không có cách nào để mở một văn phòng của riêng mình, dù nó nhỏ bé đến đâu chăng nữa. Bây giờ phải tìm người cộng sự để cùng lập văn phòng.
Jennifer mua một tờ Thời báo New York và bắt đầu xem xét các quảng cáo tìm việc. Ở gần cuối trang quảng cáo cô thấy dòng chữ: "Cần một cộng sự về luật, văn phòng chung với hai người. Tiền thuê với giá hạ". Hai chữ cuối cùng có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với Jennifer. Cô lập tức đi tầu điện ngầm đến địa chỉ ghi trong quảng cáo.
Đó là một tòa nhà cũ kỹ và đổ nát ở cuối đường Broadway. Văn phòng nằm ở tầng 10 với tấm biển đề đã bị long mất mấy chữ:
KENNETH BALLEY
Chuyên gia điều tra.
Dưới đó là dòng chữ:
HÃNG THU THẬP ROCKEFELER
Jennifer hít một hơi thở thật sâu, mở cửa và bước vào. Cô đã ở trong một căn phòng nhỏ không có cửa sổ. Có ba chiếc bàn sứt sẹo và mấy cái ghế nằm lay lắt trong phòng, trên hai chiếc ghế có hai người ngồi.
Một người đàn ông trung niên, đầu hói, ăn mặc lôi thôi, đang cắm cúi đọc các loại giấy tờ gì đó. Phía đối diện là một người đàn ông khác, chạc ngoài 30 một chút. Anh ta có bộ tóc mầu gạch đỏ và cặp mắt xanh sáng. Da anh ta tái nhợt và lấm tấm tàn hương. Anh ta mặc một chiếc quần bò bó sát người, một chiếc áo thể thao và đi đôi giầy trắng không tất. Anh ta đang nói chuyện trong điện thoại.
- Xin đừng lo lắng, bà Desser, tôi đã cho hai nhân viên giỏi nhất của mình giải quyết vụ việc của bà. Chúng ta sẽ sớm có tin tức về chồng bà. Tuy nhiên tôi e rằng chúng tôi cần thêm một số tiền nữa để tiến hành công việc… Ồ không, bà đừng gửi bưu điện làm gì. Chiều nay tôi có một số công chuyện ở gần chỗ bà ở và tôi sẽ ghé qua đó lấy tiền.
Anh ta đặt ống nghe xuống, ngước lên và thấy Jennifer. Lập tức, anh đứng dậy, mỉm cười và chìa bàn tay khoẻ và rắn chắc cho cô.
- Tôi là Kenneth Bailey. Tôi có thể giúp gì được cô trong buổi sáng hôm nay nào?
Jennifer nhìn quanh căn phờng nhỏ bé, thiếu không khí và nói một cách thiếu tự tin.
- Tôi, tôi đã đọc quảng cáo của các anh.
- Vậy à! – Cặp mắt xanh của anh tỏ rõ vẻ ngạc nhiên.
Người đàn ông hói lúc này cũng bắt đầu đầu chăm chú nhìn Jennifer.
Kenneth Bailey nói:
- Đây là Otto Wenzel. Ông ta là người của hãng thu thập Rockefeller.
Jennifer gật đầu chào ông này. Sau đó cô quay sang Kenneth Bailey:
- Còn anh thì là chuyên gia điều tra phải không?
- Đúng vậy. Còn cô làm gì?
- Tôi là luật sư.
Kenneth Bailey hoài nghi nhìn cô
- Và cô muốn mở văn phòng ở đây?
Jennifer nhìn lại căn phòng tồi tàn một lần nữa, mường tượng cảnh cô ngồi giữa hai người đàn ông này.
- Có lẽ tôi sẽ xem thêm chút nữa, - Cô nói. - Tôi không chắc…
- Cô chỉ phải trả 90 đôla tiền thuê nhà một tháng.
- Tôi có thể mua cả căn nhà này với giá 90 đôla một tháng - Jennifer trả lời, rồi quay ra định bỏ đi.
- Này, chờ một phút đã.
Jennifer dừng lại.
- Thôi, ta thoả thuận 60 đôla một tháng nhé. Khi nào công việc của cô tiến triển tốt, chúng ta sẽ bàn chuyện tăng tiền sau.
Jennifer biết rằng cô không thể nào tìm được chỗ khác với khoản tiền ít ỏi như vậy. Tuy nhiên cô vẫn phải đắn đo một điều: cô không có đủ 60 đôla.
- Thôi được tôi đồng ý! - Jennifer nói.
- Cô sẽ không phải hối tiếc đâu? - Kenneth Bailey hứa hẹn - Khi nào cô muốn dọn đồ đến đây?
- Tôi chẳng có đồ đạc gì cả.
o O o
Kenneth Bailey tự mình sơn hàng chữ trên cửa:
JENNIFER PARKER
Luật sư
Jennifer ngắm nghía tấm biển với tâm trạng vui buồn lẫn lộn. Chưa bao giờ, kể cả trong những lúc tuyệt vọng nhất, cô lại tưởng tượng rằng tên của mình được đặt dưới tên của một thám tử trẻ và một người thu thập biển quảng cáo. Nhưng, nhìn tấm biển, cô không khỏi thấy tự hào. Cô là một luật sư. Tấm biển trên cửa chứng tỏ điều đó.
Giờ đây Jennifer đã có văn phòng, điều duy nhất cô còn thiếu là khách hàng.
Jennifer ăn uống ngày càng kham khổ. Cô tự nấu bữa sáng, nhịn ăn trưa và ăn tối ở các quán ăn tồi tàn.
Sáng sáng cô đến văn phòng vào lúc chín giờ, nhưng cô chẳng có gì làm ngoài việc nghe Ken Bailey và Otto Wenzel nói chuyện điện thoại.
Dường như công việc của Ken Bailey chủ yếu là tìm trẻ lạc hoặc vợ chồng trốn nhà ra đi. Lúc đầu, Jennifer cho rằng anh ta là một kẻ lừa đảo hứa hẹn huyên thuyên để lấy những khoản tiền lớn. Nhưng Jennifer nhanh chóng nhận ra rằng Ken Bailey làm việc cật lực và khá có hiệu quả. Anh ta rất thông minh và nhanh nhẹn.
Otto Wenzel là một người rất khó hiểu. Điện thoại trên bàn ông ta réo liên tục. Ông ta thường nhấc ống nghe lên nói lúng búng mấy câu, ghi vài chữ lên giấy rồi sau đó biến đi đâu hàng giờ đồng hồ.
- Oscar làm công việc báo cáo, - Một hôm Ken Bailey giải thích cho Jennifer.
- Báo cáo gì cơ?
- À. Các công ty sử dụng ông ta để lấy lại ôtô, máy vô tuyến, máy giặt, v. v… - Anh ta tò mò nhìn Jennifer - Cô không có khách hàng nào à?
- Tôi sắp có việc phải làm - Jennifer nói lảng.
Anh ta gật đầu.
- Đừng để chuyện đó làm cô thất vọng. Ai cũng có thể mắc sai lầm.
Jennifer cảm thấy nóng mặt. Thì ra người này cũng biết cô.
Ken Bailey lấy ra một chiếc bánh sandwich nhân thịt bò.
- Cô có thích ăn một chút không?
Chiếc bánh trông thật ngon lành nhưng Jennifer c.ương quyết từ chối.
- Cám ơn, tôi không ăn trưa.
- Vậy à.
Cô nhìn anh ta ăn bánh một cách ngon lành. Nhìn vẻ mặt cô, Ken Bailey hỏi lại
- Có thật cô không muốn thử một chút không?
- Không, cám ơn. Tôi có hẹn rồi.
Ken Bailey nhìn theo Jennifer đang bước ra khỏi phòng, khuôn mặt anh có vẻ tư lự. Anh thường tự hào về khả năng đánh giá tính cách của mọi người, nhưng Jennifer Parker đã làm anh lúng túng. Qua báo chí và tivi anh chắc rằng người ta đã trả tiền cho cô gái này để cô phá vụ án xét xử Michael Moretti. Sau khi gặp Jennifer anh bắt đầu nghi ngờ chuyện đó. Anh đã lấy vợ một lần và chịu nhiều đau khổ trong cuộc sống gia đình, từ đó anh luôn đánh giá thấp phụ nữ. Nhưng có điều gì đó mách bảo anh rằng đây là một trường hợp đặc biệt. Cô thật là xinh đẹp, sáng sủa và rất tự trọng.
Chúa ơi! Anh tự nhủ. Đừng có mà ngu ngốc. Mình chịu khổ một lần đã là quá đủ rồi.
Jennifer nghĩ: Hãy đưa cho tôi những người dân nghèo khổ, mệt mỏi muốn hít thở tự do, những người không nhà cửa, tiền bạc. Thật đáng nực cười. Ở New York này, không ai quan tâm tới việc ta sống hay chết. Đừng có tự thương thân nữa. Jennifer tự nhủ.
Nhưng làm như thế đâu dễ. Cô chỉ còn có 18 đôla, hạn trả tiền thuê nhà đã đến và cô cũng chưa trả tiền thuê văn phòng. Cô không còn đủ tiền để ở lại New York lâu hơn nữa và cô cũng không đủ tiền để rời New York.
Jennifer đã xem hết cuốn danh bạ điện thoại, gọi điện cho các văn phòng luật theo thứ tự chữ cái, cố kiếm một công việc. Cô gọi điện từ buồng điện thoại dưới nhà vì không muốn Ken Bailey và Otto Wenzel nghe những câu chuyện của mình. Kết quả luôn giống nhau. Không hãng nào muốn thuê cô cả. Có lẽ đành quay về Kelso để kiếm một công việc gì đó, chẳng hạn như cố vấn luật pháp hoặc làm thư ký cho ai đó trong số bạn bè của cha cô. Nếu còn sống chắc cha cô sẽ bất bình lắm. Đó quả là một thất bại cay đắng nhưng cô không còn sự lựa chọn nào khác. Cô sẽ trở về nhà như một kẻ chiến bại. Vấn đề bây giờ là phải lo tiền tàu xe.
Cô lướt qua tờ Bưu điện New York ra buổi chiều và thấy có mục quảng cáo tìm người chung tiền thuê xe đi Seattle. Có cả số điện thoại và Jennifer đã gọi theo số đó. Không có ai trả lời. Cô định gọi lại vào sáng hôm sau.
Ngày hôm sau, Jennifer đến văn phòng lần cuối cùng. Otto đi vắng, nhưng Ken Bailey vẫn ngồi trực điện thoại như thường lệ.
- Tôi đã tìm thấy vợ ngài, - anh nói - Vấn đề khó khăn là bà ấy không muốn về nhà… Vâng tôi biết. Ai mà có thể hiểu hết được đàn bà kia chứ. Được rồi. Tôi sẽ nói cho ngài biết bà ấy đang ở đâu và ngài có thể thử dỗ bà ta quay về nhà xem sao. - Anh nói tên một khách sạn ở ngoại thành, rồi đặt máy xuống, quay sang Jennifer - Sáng nay cô đi làm muộn rồi.
- Ông Bailey, tôi có lẽ phải rời đây thôi. Khi nào có, tôi sẽ gửi trả ông tiền thuê nhà mà tôi còn nợ ông ngay lập tức.
Ken Bailey ngả người vào ghế và chăm chú nhìn Jennifer. Cái nhìn của anh làm cô lúng túng.
- Vậy có được không? - Cô hỏi.
- Cô quay lại bang Washington à?
Jennifer gật đầu.
Ken Bailey chậm rãi nói:
- Trước khi đi, cô có thể giúp tôi một việc nhỏ này được không? Một người bạn luật sư cứ khẩn khoản nhờ tôi đưa trát hầu tòa hộ anh ta, mà tôi thì quá bận rồi. Anh ta chi mười hai đôla rưỡi cho mỗi trát hầu tòa cùng chi phí đi lại. Cô giúp tôi chứ?
Một tiếng sau Jennifer đã có mặt ở văn phòng của hãng luật "Peabody và Peabody". - Đó chính là nơi mà cô từng nghĩ là sẽ làm việc ở đó. Cô được đưa tới một căn phòng nhỏ ở cuối tòa nhà, ở đó một cô thư ký mệt mỏi đưa cho cô một tập trát hầu tòa.
- Cô cầm lấy này. Và nhớ ghi lại quãng đường phải đi cô có ô tô chứ?
- Không. Tôi e rằng…
- Được rồi, nếu cô đi tàu điện ngầm hãy ghi lại giá vé nhé.
- Vâng.
Cả ngày hôm đó Jennifer đi đưa trát hầu tòa ở các vùng Bronx Brooklyn và Queens dưới trời mưa tầm tã.
Đến 8 giờ tối hôm đó cô đã kiếm được 50 đôla. Cô trở về căn phòng nhỏ bé của mình lạnh cóng và mỏi mệt.
Nhưng ít nhất cô cũng kiếm được một ít tiền, khoản đầu tiên kể từ khi cô đến New York. Và người thư ký nói với cô rằng còn vô số trát hầu tòa cần phải gửi đi. Đó quả là một công việc nặng nhọc, phải chạy đi chạy lại khắp thành phố, và tủi nhục nữa. Cô đã bị người ta đóng sập cửa trước mặt, bị chửi rủa, đe dọa và bị gạ gẫm nữa. Viễn cảnh của một ngày làm việc giống như thế nữa quả là đáng sợ, nhưng dù sao, chừng nào cô còn ở lại New York, cô vẫn có hy vọng dù là mỏng manh.
Jennifer bước vào bồn tắm nước nóng, thả mình trong đó và cảm thấy dễ chịu khi nước vỗ nhẹ lên d.a thịt mình. Lúc này cô mới thấy mình mệt mỏi đến mức nào. Dường như tất cả các thớ thịt đều nhức nhối. Cô quyết định phải ăn một bữa tối ngon lành để lấy lại tinh thần. Mình sẽ đến một khách sạn thật sự với khăn trải bàn và giấy ăn, Jennifer nghĩ. Có lẽ ở đó có nhạc nhẹ và mình sẽ uống một cốc rượu vang trắng, và…
Dòng suy nghĩ của Jennifer bị ngắt quãng bởi tiếng chuông réo.
Thật là lạ. Chưa có ai đến thăm cô kể từ khi cô dọn tới ở đây hai tháng nay. Có lẽ là bà chủ nhà đến hỏi tiền thuê đã quá hạn trả. Jennifer vẫn nằm yên, hy vọng bà ta sẽ bỏ đi.
Chuông lại réo. Jennifer uể oải bước ra khỏi bồn tắm ấm áp. Cô quấn vội chiếc áo choàng tắm vào người và bước ra phía cửa.
Một giọng đàn ông từ bên ngoài nói vọng vào:
- Cô Jennifer Parker phải không?
- Vâng, tôi đây.
- Tôi là Adam Warner, luật sư.
Hơi bối rối, Jennifer mở hé cửa nhìn ra. Người đàn ông đứng trước cửa trạc 35, 36 tuổi, cao lớn, vai rộng và tóc vàng. Ông ta có cặp mắt xanh sẫm trông thật hấp dẫn. Bộ com-lê của ông chắc phải đáng giá cả một gia tài.
- Tôi có thể vào được không? - ông hỏi.
Kẻ cướp thì đã không mặc comlê, đi giày Gucci và đeo cà vạt lụa. Chúng cũng không thể có bàn tay đẹp với những ngón tay dài, mềm mại được.
- Xin ông chờ cho một lát.
Jennifer mở rộng cánh cửa. Khi Adam Warner bước vào, Jennifer liếc quanh căn phòng của mình, và nhìn vẻ mặt của ông cô thấy xấu hổ. Rõ ràng là ông ta quen với những thứ tốt hơn ở đây nhiều.
- Tôi có thể làm gì được cho ngài, ngài Warner?
Vừa nói dứt lời, Jennifer chợt hiểu vì sao ông ở đây và cô thấy tràn đầy phấn khích. Có lẽ đây là người của hãng mà cô đã xin việc. Cô tiếc rằng mình đã không ăn mặc cho tử tế, đầu tóc chưa chải gọn gàng.
Adam Warner nói:
- Tôi là một thành viên của Uỷ ban kỷ luật của Hội luật gia New York. Chưởng lý Robert Di Silva và chánh án Lawrence Waldman yêu cầu Uỷ ban bắt đầu cho tiến hành thủ tục tước quyền hành nghề luật sư của cô.
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 4
Văn phòng luật của "Needham, Finch, Pierce và Warner" nằm ở số 30 phố Wall chiếm toàn bộ tầng trên của tòa nhà. Có 125 luật sư làm việc trong công ty. toàn bộ khu văn phòng toát lên vẻ lịch sự trang nhã, phù hợp với một tổ chức đại diện cho các ngành công nghiệp lớn nhất.
Adam Warner và Steward Needham đang cùng uống chè sáng như thường lệ. Steward Needham là một người đàn ông nhỏ nhắn, gọn gàng trạc ngoài 60 tuổi. Ông để một bộ ria được xén tỉa gọn ghẽ và mặc com-lê cổ áo gi-lê ở bên trong. Trông ông ta có vẻ như thuộc về một thế hệ cũ kỹ, nhưng như các đối thủ của ông đã từng biết. Stewald Needham là một con người của thế kỷ 20 hơn ai hết: ông ta là một người rất có thế lực nhưng tên của ông chỉ được biết tới trong những giới có liên quan. Ông thích đứng ở sau hậu trường, và sử dụng ảnh hưởng của mình tác động tới kết quả của một đạo luật, bổ nhiệm các quan chức cấp cao của chính phủ và nền chính trị quốc gia. Ông là một người kín đáo và rất ít nói.
Adam Warner lấy cháu gái của Needham, Mary Beth, và là người được Needham bảo trợ. Cha Adam là một thượng nghị sĩ được kính trọng, còn bản thân anh là một luật sư rất có triển vọng. Sau khi tốt nghiệp loại ưu tại trường luật Harvard, anh được rất nhiều hãng luật nổi tiếng trong nước mời chào. Anh chọn hãng "Needham, Finch và Pierce" và bảy năm sau trở thành một cộng sự của họ. Adam rất hấp dẫn về mặt hình thể và sự thông minh tạo thêm một lợi thế nữa cho anh. Tuy nhiên, anh luôn lảng tránh những khách hàng nữ quá đa tình của mình. Anh lập gia đình với Mary Beth 14 năm nay và không chấp nhận việc ngoại tình.
- Thêm một chút trà nữa chứ, Adam, - Steward Needham hỏi.
- Thôi, cám ơn. - Adam Warner ghét chè và từ tám năm nay sáng nào anh cũng uống, chỉ vì không muốn làm phật lòng đồng sự của mình. Đây là loại chè Needham tự pha lấy và rất khó nuốt trôi.
Steward Needham có hai điều muốn nói và như thường lệ, ông ta nói ra điều dễ chịu trước:
- Tôi vừa gặp mấy người bạn tối hôm qua. "Mấy người bạn có nghĩa là một nhóm người có quyền lực cao nhất ở Mỹ". - Họ đang tính đến việc yêu cầu anh ra tranh cử chức thượng nghị sĩ đấy, Adam.
Adam cảm thấy rất phấn khởi. Biết rõ về tính cẩn thận của Steward Needham, anh biết rằng đây không phải là một câu chuyện bình thường, nếu không Need hẳn chưa nói ra vội.
- Vấn đề chính là, liệu anh có thích điều đó không? Cuộc sống của anh chắc sẽ thay đổi rất nhiều đấy.
Adam Warner biết rõ điều đó. Nếu anh thắng cử, anh sẽ phải đến Washington, bỏ nghề luật và bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới. Anh chắc rằng Mary Beth sẽ rất thích điều đó. Nhưng về phần mình Adam vẫn thấy phân vân. Tuy nhiên, anh là một người được nuôi nấng để nhận lấy trách nhiệm, và anh cũng thấy thích thú khi có quyền lực.
- Tôi sẽ rất thích, Steward ạ.
Steward Needham gật đầu hài lòng:
- Tốt. Họ sẽ rất vui đấy, - ông ta rót một chén trà nữa và đề cập đến vấn đề thứ hai. - Có một việc nhỏ mà Uỷ ban kỷ luật của Hội luật gia muốn anh giải quyết, Adam. Có lẽ chỉ mất một vài tiếng đồng hồ thôi.
- Chuyện gì vậy?
- Đó là vụ án Michael Moretti. Rõ ràng là có ai đó đã mua chuộc được một cô trợ lý trẻ của Bobby Di Silva.
- Tôi đã đọc về vụ án này. Con hoàng yến chết chứ gì!
- Đúng vậy. Chánh án Waldman và Bobby muốn loại cô ta ra khỏi danh sách những người làm nghề cao quý của chúng ta. Tôi cũng muốn vậy.
- Vậy họ muốn tôi làm gì?
- Anh chỉ việc kiểm tra, xác nhận rằng cô gái này đã cư xử trái với đạo đức và pháp luật, rồi sau đó đề nghị tiến hành thủ tục tước quyền luật sư của cô ta. Cô ta sẽ được thông báo lý do, sau đó họ sẽ làm tất cả. Một công việc bình thường thôi.
Có cái gì đó làm Adam bối rối.
- Tại sao lại là tôi, Steward? Chúng ta có hàng chục luật gia trẻ ở đây, họ có thể làm được việc đó quá đi chứ!
- Chưởng lý đáng kính của chúng ta yêu cầu đích danh anh. Ông ta muốn chắc rằng sẽ không có chuyện gì sai sót. Nhưng cả tôi và anh đều biết, - ông ta nói thêm, - Bobby là người khó tha thứ cho người khác nhất thế giới đấy. Ông ta muốn lột da cô Parker này và đóng đinh lên tường phòng làm việc của ông ta cơ.
Adam Warner ngồi đó suy nghĩ về chương trình bận rộn của mình.
- Anh chưa biết bao giờ chúng ta cần có sự giúp đỡ của văn phòng tổng chưởng lý đâu, Adam. Mọi chuyện đều có đi có lại cả mà. Thôi cứ thế mà làm nhé.
- Thôi được rồi, Steward, - Adam đứng dậy.
- Anh thật không muốn uống thêm ít trà nữa à?
- Thôi, cám ơn. Chè ngon lắm.
o O o
Khi Adam trở lại văn phòng của mình, anh gọi điện cho cô thư ký Lucinda, một cô gái da đen trẻ trung và sáng sủa.
- Cindy, hãy thu thập cho tôi tất cả thông tin mà cô có về một luật sư tên là Jennifer Parker.
Cô thư ký bật cười và nói:
- Con hoàng yến chứ gì? Ai cũng biết về cô ta.
Suốt buổi chiều hôm đó Adam Warner nghiên cứu biên bản của vụ án: Nhân dân New York kiện Michael Moretti. Mãi đến nửa đêm Adam mới kết thúc công việc đó. Anh đã bảo Mary Beth đi dự bữa liên hoan tối một mình và ngồi nhà ăn bánh sandwich. Sau khi đọc kỹ biên bản anh đi đến kết luận là đáng lẽ Michael Moretti đã bị kết án, nếu số phận không can thiệp vào vụ này qua Jennifer Parker. Di Silva đã chuẩn bị rất chu đáo để buộc tội hắn.
Adam giở biên bản của cuộc thẩm vấn diễn ra tại phòng của chánh án Waldman sau đó.
Di Silva: Cô đã tốt nghiệp đại học?
Parker: Vâng, thưa ngài.
Di Silva: Cô tốt nghiệp trường luật?
Parker: Vâng, thưa ngài.
Di Silva: Và khi có một người lạ mặt đưa cho cô một cái gói, bảo cô đưa nó cho nhân chứng chính của một vụ án giết người, cô đã làm theo hắn ta. Cô có thấy là điều này vượt quá giới hạn của sự ngu xuẩn không?
Parker: Mọi chuyện không phải như vậy đâu!
Di Silva: Chính cô đã nói thế cơ mà.
Parker: Điều tôi muốn nói là tôi không nghĩ hắn ta là một người lạ. Tôi tưởng đó là một nhân viên của ngài.
Di Silva: Điều gì đã làm cô nghĩ như vậy?
Parker: Tôi đã nói với ngài rồi. Tôi thấy hắn nói chuyện với ngài, sau đó hắn đến chỗ tôi, gọi tên tôi và nói ngài muốn tôi đưa cái phong bì này cho nhân chứng. Mọi cái diễn ra nhanh đến nỗi…
Di Silva: Tôi không tin là mọi việc lại diễn ra nhanh như vậy. Tôi nghĩ rằng phải có thời gian để chuẩn bị. Phải có thời gian để người ta bố trí hối lộ cô chứ.
Parker: Điều đó không đúng sự thực. Tôi…
Di Silva: Điều gì không đúng sự thật. Có phải cô không biết là mình chuyển phong bì cho ai không?
Parker: Tôi không biết có gì ở trong đó.
Di Silva: Như thế có nghĩa là chúng đã trả tiền cho cô?
Parker: Tôi sẽ không để cho ngài bẻ quẹo lời của tôi đâu. Không có ai trả tiền tôi cả.
Di Silva: Cô làm như vậy vì thiện ý à?
Parker: Không. Tôi nghĩ là tôi làm theo lệnh của ngài.
Di Silva: Cô nói rằng người đàn ông đó gọi tên cô?
Parker: Vâng.
Di Silva: Làm sao hắn lại biết được tên cô?
Parker: Tôi không biết.
Di Silva: Thôi đi. Cô phải biết chứ. Có lẽ hắn đoán chăng? Hay có lẽ hắn chỉ nhìn quanh phòng xử án và thấy cô. Cô có nghĩ như vậy không?
Parker: Tôi đã nói với ngài rồi mà. Tôi không biết.
Di Silva: Cô đã bắt bồ với Michael Moretti bao lâu rồi?
Parker: Ngài Silva, chúng ta đã nói đi nói lại chuyện này quá nhiều rồi. Ngài đã hỏi tôi suốt năm tiếng đồng hồ. Tôi mệt quá rồi. Tôi chẳng có gì để nói thêm nữa. Tôi xin kiếu thôi!
Di Silva: Nếu cô rời khỏi chỗ này, tôi sẽ ra lệnh bắt cô ngay lập tức, cô đang gặp khó khăn lớn đấy, cô Parker ạ. Chỉ có một cách duy nhất giúp cô ra khỏi khó khăn này. Hãy nói sự thực đi.
Parker: Tôi đã nói với ngài đúng sự thật. Tôi đã nói tất cả những gì mà tôi biết.
Di Silva: Cô còn chưa nói ra tên người đàn ông đưa cho cô chiếc phong bì. Tôi muốn biết tên hắn và muốn biết hắn đã trả cô bao nhiêu.
Còn ba mươi trang biên bản nữa. Robert Di Silva đã làm mọi cách để buộc Jennifer Parker khai theo ý ông ta. Nhưng cô vẫn khăng khăng nói như cũ. Adam đóng tập biên bản lại và uể oải dụi mắt. Đã gần hai giờ sáng. Ngày mai anh sẽ xử lý vụ Jennifer Parker.
o O o
Thật đáng ngạc nhiên, vụ Jennifer Parker không dễ xử lý như Adam nghĩ. Là một người làm việc có phương pháp, anh bắt đầu bằng việc kiểm tra lại nguồn gốc của Jennifer Parker. Cô không hề có liên quan gì đến bọn tội phạm và cũng chẳng có q.uan hệ nào với Michael Moretti.
Có một việc làm Adam thấy không ổn. Những lời tự bào chữa của Jennifer Parker quá nông cạn. Nếu cô làm việc cho Moretti, hắn chắc phải bảo vệ cô bằng cách dựng lên một câu chuyện dễ tin hơn. Sự thực, lời khai của cô quá ngây thơ đến mức khó có thể tin được.
Buổi trưa, Adam nhận được điện thoại của chưởng lý:
- Tình hình thế nào, Adam?
- Tốt thôi, Robert.
- Tôi hiểu là anh đang làm một công việc khó chịu là giải quyết vụ Jennifer Parker.
Adam Warner nhăn mặt.
- Đúng là tôi đồng ý sẽ kiến nghị về vụ này.
- Tôi muốn tống khứ cô ả này đi cho khuất mất.
Adam hơi giật mình vì sự thù nghịch trong giọng của chưởng lý.
- Từ từ nào, Robert. Cô ta đã bị tước quyền hành nghề đâu?
Di Silva cười khúc khích.
- Tôi nghe nói anh có thể sẽ sớm chuyển về Washington. Tôi muốn anh biết rằng, anh có thể trông cậy vào sự ủng hộ hoàn toàn của tôi.
Sự ủng hộ đó sẽ rất đáng kể. Adam biết như vậy. Chưởng lý đã làm việc lâu năm, ông ta biết nhiều điều và ông ta cũng biết khi nào có thể sử dụng được vốn hiểu biết đó.
- Cám ơn, Robert. Tôi rất trân trọng điều đó.
- Có gì đâu Adam. Tôi chờ tin tức của anh đấy.
Tin tức về Jennifer Parker. Sự có đi có lại mà Steward Needham đã nhắc đến, và cô gái sẽ được sử dụng như một con chốt. Adam Walner nhớ đến câu nói của Robert Di Silva: "Tôi muốn tống khứ cô ả đi cho khuất mắt".
Sau khi đọc xong biên bản, Adam nhận thấy rằng không có chứng cứ thật sự nào để buộc tội Jennifer Parker. Trừ khi cô ta thú nhận, hoặc có ai đó đưa ra những chứng cớ mới buộc tội cô ta, Di Silva không thể đụng đến cô gái này được. Ông ta muốn dựa vào Adam để trả thù.
Từ ngữ trong biên bản thật lạnh lùng và rõ ràng, thế nhưng Adam vẫn muốn được nghe giọng nói của Jennifer Parker khi cô bác bỏ lời buộc tội.
Thực ra cũng không có gì khó thực hiện mong muốn của Steward Needham, chánh án Lawrence và Robert Di Silva, nhưng có cái gì đó khiến Adam Warner ngần ngại. Anh mở lại hồ sơ của Jennifer Parker, đánh dấu một số chỗ và bắt đầu gọi điện thoại đường dài.
Adam đã được giao một trách nhiệm, và anh định thực hiện nó với hết khả năng của mình. Anh đã quá quen với cảnh học tập gian khổ và làm việc vất vả để qua kỳ thi sát hạch, trở thành luật sư. Đó quả thực là một phần thưởng mà phải mất nhiều năm mới giành được, và anh sẽ không tước đoạt của ai quyền đó, chừng nào anh chưa chắc là điều đó đúng.
Sáng hôm sau Adam Warner bay đến Seattle, bang Washington. Anh gặp các giáo sư luật của Jennifer Parker, gặp chủ hãng luật nơi Jennifer làm thêm trong hai vụ hè, và một số bạn cùng lớp cũ của Jennifer.
Stewald Needham gọi điện cho Adam khi anh đang ở Seattle:
- Anh làm gì ở đó đấy, Adam? Anh có biết rằng còn một vụ quan trọng mà anh phải giải quyết ở đây không? Vụ Parker chỉ là chuyện vặt thôi.
- Có một vài vấn đề mới nảy sinh, - Adam thận trọng trả lời. - Tôi sẽ quay lại trong một vài ngày tới thôi, Steward ạ.
Yên lặng một lát.
- Tôi hiểu. Nhưng đừng có để phí thời gian vào vụ đó nhé.
Khi Adam Warner rời Seattle, anh cảm thấy mình hiểu Jennifer Parker gần bằng chính bản thân cô ta vậy. Anh đã hình dung được hình ảnh cô trong đầu từ thẻ căn cước, các giáo sư luật, chủ nhà trọ và các bạn học của cô. Nó hoàn toàn khác với những điều mà Robert Di Silva nói với anh. Trừ khi Jennifer Parker là một diễn viên cực kỳ tài giỏi, cô ta không thể tham gia vào một âm mưu để giải thoát một người như Michael Moretti.
Giờ đây, gần hai tuần sau khi anh có cuộc trò chuyện với Steward Needham vào buổi sáng hôm đó, Adam Warner gặp gỡ cô gái mà anh đã tìm hiểu kỹ quá khứ. Adam đã thấy ảnh của Jennifer trên báo, nhưng anh không ngờ rằng gặp gỡ trực tiếp với cô và cô lại gây cho anh ấn tượng mạnh mẽ như vậy. Dù trong chiếc áo choàng cũ, chưa trang điểm, tóc tai còn ướt sau khi tắm, trông cô vẫn đẹp dễ sợ.
Adam nói:
- Tôi được giao nhiệm vụ điều tra về vai trò của cô trong vụ án Michael Moretti, thưa cô Parker.
- Vậy à?
Jennifer thấy uất hận trào dâng. Thì ra họ vẫn chưa buông tha cô. Họ sẽ bắt cô phải trả giá suốt cuộc đời mình. Cô đã chịu đựng quá đủ rồi.
Khi Jennifer nói, giọng cô run lên vì giận dữ:
- Tôi không có gì để nói với ông cả? Ông hãy trở về và nói với họ điều gì mà ông thích. Tôi đã làm một việc ngu xuẩn, nhưng theo tôi được biết chưa có đạo luật nào kết tội ngu xuẩn cả. Chưởng lý nghĩ rằng tôi đã bị mua. - Cô vẫy tay một cách khinh bỉ. - Nếu tôi có tiền, ông có nghĩ là tôi sẽ sống ở một nơi tồi tàn như thế này không. - Giọng cô bắt đầu nghẹn lại. - Tôi không cần biết ông sẽ làm gì. Tôi chỉ muốn được ở yên một mình. Xin ông hãy đi cho.
Jennifer quay ngoắt đi, bước vào buồng tắm và đóng sập cửa lại. Cô đứng bên bồn tắm, hít thở thật sâu và lau nước mắt. Cô biết rằng mình đã cư xử thật ngu ngốc. Đây là lần thứ hai, cô buồn rầu nghĩ. Nhẽ ra cô phải cư xử với Adam Warner khác hẳn. Cô phải cố giải thích chứ không nên tấn công ông ta. Có thể nhờ thế mà cô không bị tước quyền luật sư. Nhưng cô biết rằng đó chỉ là mong muốn của mình. Cử người đến phỏng vấn cô chỉ là một động tác giả. Bước tiếp theo sẽ là gọi cô ra điều trần và bộ máy pháp luật sẽ hoạt động. Một Uỷ ban xử án gồm ba luật sư sẽ khuyến nghị với Hội đồng kỷ luật, và hội đồng này sẽ báo cáo lên Hội đồng thống đốc, khuyến nghị này chắc chắn sẽ tước quyền hành nghề của cô. Cô sẽ không được làm việc ở bang New York nữa. Jennifer cay đắng nghĩ, dù sao cũng có mặt tốt ở đây. Mình sẽ được ghi tên trong cuốn sách kỷ lục Guinness như là một luật sư có thời gian hành nghề ngắn nhất.
Cô lại bước vào bồn tắm, nằm dài trong đó để làn nước ấm áp vỗ nhẹ vào người, làm dịu nỗi căng thẳng trong lòng. Vào lúc này cô đã quá mệt để còn có thể quan tâm đến những gì xảy ra đối với mình. Cô nhắm mắt lại và thả hồn vơ vẩn. Cô thiếp đi một lúc cho đến khi chợt cảm thấy lạnh. Cô đã nằm quá lâu trong bồn đến mức nước đã nguội hết. Cô miễn cưỡng bước ra ngoài và lấy khăn tắm lau người.
Chẳng còn thấy đói nữa. Cảnh gặp gỡ với Adam Warner làm cho cô mất hứng.
Jennifer chải đầu, lấy kem xoa mặt và quyết định đi ngủ mà không ăn tối nữa. Đến sáng mai cô sẽ gọi điện lại để hỏi về chuyến đi Seattle. Cô mở cửa buồng tắm và bước sang phòng khách.
Adam Warner vẫn đang ngồi trên ghế đọc báo. Khi Jennifer bước vào, anh nhìn lên và thấy cô không một mảnh vải trên người.
- Xin lỗi! - Adam nói - Tôi…
Jennifer khẽ kêu lên vì hoảng sợ và chạy vội vào buồng tắm mặc quần áo. Khi lại bước ra gặp Adam, cô tức giận bừng bừng.
- Cuộc thẩm vấn đã hết. Tôi yêu cầu ông đi ngay cho.
Adam đặt tờ báo xuống và nhẹ nhàng nói:
- Cô Parker, cô có cho rằng chúng ta có thể thảo luận vấn đề này một cách bình tĩnh được không?
- Không - Cơn giận lại bừng lên trong Jennifer. - Tôi chẳng còn gì để nói với ông và cái Uỷ ban kỷ luật chết tiệt của ông nữa. Tôi đã quá mệt vì cách đối xử như kiểu tội phạm đối với tôi rồi.
- Tôi có nói cô là tội phạm đâu nhỉ? - Adam nhẹ nhàng hỏi.
- Ông chẳng phải vì điều đó mà ông có mặt ở đây sao?
- Tôi đã nói với cô vì sao tôi đến đây. Tôi được trao quyền điểu tra và khuyến nghị về việc có tước quyền hành nghề của cô hay không. Tôi muốn nghe ý kiến của cô.
- Vậy à? Thế tôi phải mua anh bằng cách nào bây giờ?
Adam nghiêm mặt lại.
- Tôi xin lỗi, cô Parker. - Anh đứng dậy và đi ra cửa.
- Hãy khoan.
Adam quay lại.
- Tha lỗi cho tôi - cô nói - Tôi…dường như tất cả mọi người đều là kẻ thù của tôì. Tôi xin lỗi.
- Lời xin lỗi của cô được chấp thuận.
Jennifer chợt để ý đến chiếc áo choàng mỏng mình đang mặc.
- Nếu ông còn muốn hỏi tôi, tôi sẽ đi thay quần áo và chúng ta sẽ nói chuyện tiếp.
- Hay đấy. Cô đã ăn tối chưa?
Cô ngập ngừng.
- Tôi…
- Tôi biết một tiệm ăn Pháp rất thích hợp với việc thẩm tra đấy!
o O o
Đó là một tiệm ăn yên tĩnh dễ thương ở phố 56, phía đông thành phố.
- Ít người biết chỗ này. – Adam Warner nói khi họ đã yên chỗ. – Cửa hàng này do một cặp vợ chồng trẻ người Pháp đã từng làm ở Les Pyrénées mở. Thức ăn ở đây ngon tuyệt.
Jennifer phải xin lỗi Adam vì cô chẳng còn phân biệt được mùi vị thức ăn gì nữa. Cô chưa ăn tí gì suốt cả ngày, nhưng vì hồi hộp cô không thể nuốt trôi bất cứ thứ gì. Cô cố gắng tỏ ra thoải mái nhưng không thể được dù anh ta có tỏ vẻ thế nào chăng nữa. người đàn ông duyên dáng ngồi trước mặt vẫn là kẻ thù của cô. Anh ta thật hấp dẫn, Jennifer phải thú nhận điều đó. Anh luôn vui vẻ và tế nhị: và giá như trong trường hợp khác Jennier đã có thể hưởng một buổi tối đầy thú vị; nhưng giờ đây, toàn bộ tương lai của Jennifer nằm trong tay con người này. Trong vài tiếng đồng hồ nữa hướng đi của toàn bộ cuộc đời cô sẽ được quyết định. Adam hết sức cố gắng làm cho cô thấy tự nhiên.
- Cô đã bao giờ ăn kem bọc Sôcôla chưa?
- Chưa bao giờ.
Anh cười:
- Ngon hơn châu chấu bọc sôcôla!
Anh kể về chuyến đi săn năm ngoái của mình ở Alaska và bị một con gấu tấn công. Anh kể về đủ mọi chuyện nhưng không đá động đến chuyện vì sao họ lại ở đây. Câu chuyện của Adam làm cho Jennifer vui vẻ được một lúc nhưng cuối cùng khi anh nói đến vấn đề chính, cô lại trở nên căng thẳng.
Anh đã ăn xong món tráng miệng và nhẹ nhàng nói:
- Tôi sẽ hỏi cô vài câu và tôi không muốn cô mất vui về chuyện đó. Được chứ.
Tự nhiên Jennifer thấy nghẹn cả cổ. Cô không chắc là mình có thể nói nên lời và đành gật đầu.
- Tôi muốn cô nói lại cho tôi chính xác về những điều đã xảy ra trong tòa án ngày hôm đó. Mọi điều mà cô nhớ và cảm thấy. Cứ thong thả.
Jennifer đã định thách thức anh, định bảo anh hãy làm những gì mà anh thích. Nhưng không hiểu vì sao ngồi đối diện với Adam Warner, lắng nghe giọng nói nhỏ nhẹ của anh, sự chống đối của Jennifer biến đâu mất.
Cô còn nhớ quá rõ mọi chuyện và mỗi khi nhắc đến cô cảm thấy nhức nhối trong lòng. Cô đã mất hơn một tháng để cố quên chuyện đó đi. Giờ đây anh ta lại bắt cô nhắc lại từ đầu.
Cô thở một hơi dài ngắt quãng và nói:
- Được rồi.
Jennifer bắt đầu kể lại các sự kiện xảy ra ở tòa án, lúc đầu còn nhát gừng nhưng càng ngày cô càng nói trơn tru hơn. Adam lặng lẽ lắng nghe, chăm chú theo dõi cô và không nói một lời.
Khi Jennifer kết thúc, Adam nói:
- Người đàn ông đưa cho cô chiếc phong bì ấy, hắn có ở trong phòng của chưởng lý buổi sáng lúc cô tuyên thệ không?
- Tôi cũng đã nghĩ nhiều đến chuyện đó. Thành thật mà nói, tôi không nhớ nữa. Có quá nhiều người ở trong văn phòng ngày hôm đó và tất cả đều là người lạ đối với tôi.
- Thế cô đã nhìn thấy hắn trước đó ở đâu chưa?
Jennifer lắc đầu tuyệt vọng.
- Tôi không thể nhớ được.
- Cô nói là cô thấy hắn nói chuyện với ông chưởng lý ngay trước khi đến chỗ cô và đưa cho có cái phong bì. Thế cô có thấy ông chưởng lý đưa chiếc phong bì đó cho hắn không?
- Tôi… không?
- Cô có thấy hắn thực sự nói chuyện với ông chưởng lý hay hắn chỉ ở trong nhóm người xung quanh ông?
Jennifer nhắm mắt lại một giây, cố gắng nhớ lại lúc đó.
- Tôi xin lỗi. Mọi cái đều rối tung cả lên. Tôi, tôi chẳng biết nữa.
- Cô có ý kiến gì về việc tại sao hắn lại biết tên cô không?
- Không.
- Tại sao hắn lại chọn cô?
Điều đó quá dễ. Chắc hắn biết rằng tôi là một con ngốc. - cô lắc đầu- Tôi xin lỗi, ông Warner, tôi chẳng biết gì hết.
Adam nói:
- Vấn để căng thẳng là ở chỗ này. Chưởng lý Di Silva đã săn đuổi Michael Moretti một thời gian dài. Trước khi cô xuất hiện, ông ta đã có đầy đủ chứng cớ để buộc tội hắn. Ông không hài lòng với cô đâu.
- Tôi cũng rất bực mình với bản thân, - Jennifer không thể trách cứ Adam Warner về những việc mà anh ta sẽ phải làm. Anh ta chỉ làm việc mình được giao. Họ muốn hại cô và họ sẽ làm được việc đó. Adam không chịu trách nhiệm gì với cô hết. Anh ta chỉ là công cụ mà họ sử dụng.
Tự nhiên Jennifer chỉ muốn ngồi một mình. Cô không muốn ai thấy nỗi tuyệt vọng của mình.
- Tôi xin lỗi. - Cô nói - Tôi… tôi thấy hơi mệt. Có lẽ tôi phái về nhà thôi.
Adam nhìn cô chăm chú:
- Cô có thấy khá hơn chút nào không nếu tôi nói cho cô biết, là tôi sẽ khuyến nghị không tước quyền hành nghề của cô?
Mấy giây sau, Jennifer mới hiểu anh nói gì. Cô nhìn chằm chằm vào anh, không nói nên lời.
- Thật vậy sao?
- Làm luật sư là một việc rất quan trọng đối với cô, phải vậy không?
Jennifer nghĩ tới cha cô, tới văn phòng luật sư bé nhỏ của ông tới những câu chuyện giữa hai cha con. Ôi những năm tháng dài đằng đẵng ở trường luật, hy vọng và ước mơ của họ.
Chúng ta sẽ thành đồng nghiệp. Con hãy cố học để lấy bằng nhanh lên.
- Vâng… - cô thì thào.
- Nếu cô vượt qua được bước đầu khó khăn, tôi tin rằng cô sẽ trở thành một luật sư giỏi.
Jennifer nở một nụ cười biết ơn:
- Cám ơn anh, tôi sẽ cố.
Mình nhất định sẽ cố, cô tự nhủ. Đúng là cô đang phải dùng chung văn phòng với một tay thám tử trẻ và một người nhặt nhạnh xe cũ, nhưng không hề chi.
Đó là một văn phòng luật. Cô là một thành viên của ngành luật và họ sẽ cho phép cô hành nghề. Cô thấy tràn ngập vui sướng. Cô nhìn xéo qua Adam và biết rằng suốt đời mình sẽ mang ơn người đàn ông này.
Người bồi bàn bắt đầu dọn bát đĩa, Jennifer cố nói nhưng cổ cứ nghẹn lại:
- Ngài Warner…
Anh cắt lời cô bằng một giọng rất nghiêm túc:
- Sau tất cả những gì mà chúng ta vừa trải qua, tôi nghĩ cô nên gọi tôi là Adam.
- Adam…
- Gì vậy?
- Em hy vọng điều này sẽ không làm hỏng q.uan hệ của chúng ta, nhưng… - Jennifer rên rỉ. - Em sắp chết đói đây!
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 5
Những tuần lễ tiếp sau đó trôi nhanh vùn vụt. Jennifer bận rộn từ sáng sớm đến đêm khuya đưa trát đòi hầu tòa cho các nhân chứng, cũng như những người phải ra đối chất trước tòa. Cô biết rằng mình không có khả năng kiếm việc ở các công ty lớn nữa, vì sau vụ tai tiếng mà cô vừa tham dự vào chẳng ai còn dám thuê cô cả. Cô phải tìm cách tạo lại thanh danh của mình và bắt đầu lại từ đầu. Còn hây giờ, hàng chồng trát hầu tòa chất đầy trên bàn cô ở công ty "Peabody và Peabody". Mặc dù đó không hoàn toàn là công việc luật pháp, nhưng đó là 25 đô la và chi phí đi lại.
Đôi khi, khi Jennifer đi làm việc về muộn, Ken Bailey rủ cô đi ăn tối. Bề ngoài anh có vẻ như là một người khinh bạc, nhưng Jennifer biết đó không phải là bản chất của anh. Cô cảm thấy anh luôn cô đơn. Anh đã tốt nghiệp trường tổng hợp Brown và là một người thông minh hiểu biết rộng. Cô không thể hiểu nổi tại sao anh ta lại bằng lòng làm việc trong một văn phòng tẻ ngắt, cố gắng tìm kiếm những ông chồng, bà vợ bỏ nhà ra đi. Hình như anh ta luôn bằng lòng với thất bại và sợ phải cố gắng để thành đạt.
Một lần, khi Jennifer nói đến chuyện hôn nhân của anh, cô đã bị gạt: "Đó không phải là chuyện của cô! ", và từ đó cô không bao giờ nhắc đến chuyện đó nữa.
Otto Wenzel thì lại hoàn toàn khác. Người đàn ông thấp lùn bụng phệ này lại rất hạnh phúc trong hôn nhân. Ông coi Jennifer như con gái và luôn mang súp với bánh do vợ làm đến cho cô. Rủi làm sao, vợ ông là một người nội trợ cực tồi và Jennifer phải tự ép mình ăn hết những gì Otto Wenzel mang tới vì không muốn làm ông phật ý.
Một buổi sáng, Jennifer nhận được điện thoại của cô thư ký riêng cho ông Peabody Cha.
- Ngài Peabody muốn gặp cô vào lúc 11 giờ trưa nay. Cô hãy đến đúng giờ nhé.
- Vâng. Thưa cô.
Trước đây Jennifer chỉ mới làm việc với các cô thư ký hoặc các nhân viên văn phòng của công ty Peabody.
Đây là một công ty lớn, rất có uy tín mà nhiều luật sư trẻ muốn được vào làm. Trong khi chờ đợi, Jennifer bắt đầu tưởng tượng.
Nếu đích thân ngài Peabody muốn gặp cô chắc phải có việc quan trọng. Có lẽ ông đã hiểu cô và sắp dành cho cô công việc luật sư trong hãng của ông tạo điều kiện để cô tự thể hiện mình. Cô sẽ làm cho tất cá mọi người ngạc nhiên. Một ngày nào đó công ty sẽ trở thành Peabody, Peabody và Parker" cũng nên!
Jennifer đi đi lại lại dọc hành lang văn phòng nửa giờ đồng hồ trước khi bước vào phòng tiếp khách đúng 11 giờ. Cô không muốn tỏ ra quá nôn nóng. Tuy nhiên, cô phải chờ mất 2 tiếng đồng hồ mới được mời vào phòng ông Peabody Cha. Đó là một người đàn ông cao, gầy. Quần áo và giày của ông toàn là hàng thầu tại London.
Ông ta chẳng buồn mời cô ngồi xuống.
- Cô Potter. - giọng ông the thé nghe rất khó chịu.
- Họ tôi là Parker, thưa ngài.
Ông ta nhặt một tờ giấy trên bàn lên.
- Đây là một tờ trát hầu tòa. Tôi muốn cô chuyển giúp tôi.
Jennifer lập tức hiểu ra rằng cô sẽ chẳng bao giờ trở thành luật sư của công ty này. Ông Peabody Cha đưa cho cô tờ trát và nói thêm:
- Tiền công của cô sẽ là 500 đôla.
Jennifer tưởng mình nghe nhầm:
- Ngài nói là 500 đôla ạ?
- Đúng vậy. Tất nhiên là với điều kiện đưa được nó tới tay đương sự.
- Có chuyện gì khó khăn chăng? - Jennifer đoán.
- Ồ đúng thế! - Peabody Cha thừa nhận - Chúng ta mất hơn một năm với thằng cha này rồi. Tên hắn là William Carlisle. Hắn sống trong một dinh thự ở Long Island và không bao giờ ra ngoài cả. Có cả chục người đến đưa trát cho hắn nhưng không được. Hắn có lính canh và không ai vào được khu nhà hắn cả.
Jennifer nói:
- Tôi không hiểu làm sao tôi…
Ngài Peabody Cha nhổm dậy.
- Có rất nhiều tiền liên quan đến vụ này. Nhưng tôi không thể đưa William Carlisle ra tòa nếu tôi chưa đưa được trát hầu tòa cho hắn, cô Potter ạ.
Jennifer chẳng buồn sửa lại lời ông ta nữa.
- Cô có thể giải quyết vụ này được không?
Jennifer nghĩ đến những việc cô có thể làm được với 500 đô la trong tay.
Tôi sẽ tìm cách.
o O o
Đúng 2 giờ chiều, Jennifer đã có mặt ở ngoài dinh thự của William Carlisle. Đó là một ngôi nhà kiểu Georgian nằm giữa một khu đất rộng. Một con đường ô tô ngoằn ngoèo dẫn tới trước cửa ngôi nhà. Hai bên đường trồng những cây thông rất đẹp. Jennifer suy nghĩ rất lâu. Vì không thể vào được nhà, chỉ còn cách là buộc ông Carlisle ra khỏi nhà. Cách đó không xa là một chiếc xe của công ty công viên. Jennifer ngắm nghía nó một lúc và tiến đến gần, tìm xem có các nhân viên ở đó không. Cô thấy ba người đang làm việc, tất cả đều là người Nhật.
- Ai là người chỉ huy ở đây? Jennifer hỏi.
Một người trong số họ đứng thẳng dậy:
- Tôi ạ.
- Tôi có một việc nhỏ muốn nhờ các anh… - Jennifer mở đầu.
- Xin lỗi, thưa cô, chúng tôi đang bận lắm!
- Nhưng việc này chỉ làm 5 phút là xong thôi mà.
- Không được. Chúng tôi không thể…
- Tôi sẽ trả các anh 100 đôla.
Cả ba người đều ngừng tay và nhìn cô chằm chặp.
Người chỉ huy nói:
- Cô trả 100 đô la cho 5 phút làm việc sao?
- Đúng vậy.
Thế chúng tôi phải làm gì?
Năm phút sau chiếc xe của công ty công viên đã lọt vào khu vườn của dinh thự William Carlisle. Jennifer và ba người làm vườn bước ra. Cô nhìn quanh, chỉ vào một cây thông đẹp ngay trước lối vào và nói với họ:
- Hãy đào cây này lên.
Những người này lấy cuốc xẻng từ ô tô xuống và lập tức bắt tay vào việc. Chưa đầy một phút sau, cánh cửa trước của ngôi nhà bật mở và một người đàn ông to béo trong bộ đồng phục quản gia lao ra.
- Các anh làm cái trò quỷ gì ở đấy vậy?
Công ty công viên Long Island, - Jennifer đáp gọn lỏn - Chúng tôi sẽ đào tất cả cây ở đây lên.
Người quản gia nhìn chằm chằm vào cô:
- Các cô sẽ làm gì?
Jennifer giơ ra một tờ giấy:
- Tôi nhận được lệnh phải đào hết cây ở đây lên!
- Không thể có chuyện đó được. Ngài Carlisle sẽ giận điên lên mất? - Ông ta quay sang mấy người làm vườn - Hãy dừng ngay lại!
- Thưa ông, ông hãy cẩn thận đấy! - Jennifer nói - Tôi chỉ làm những việc được ra lệnh. - Cô bảo toán người – Tiếp tục đào đi, các cậu.
- Không! - Tay quản gia gào lên. Đây chắc là có sự nhầm lẫn gì rồi! Ngài Carlisle không hề ra lệnh đào cây cối gì cả?
Jennifer nhún vai và nói:
- Sếp của tôi nói ông ta yêu cầu như vậy đấy!
- Tôi có thể liên hệ với sếp của cô ở đâu?
Jennifer nhìn đồng hồ.
- Bây giờ ông ta đang có tiệc ở Brooklyn. Ông ấy sẽ về văn phòng vào khoảng 6 giờ chiều.
Viên quản gia nhìn cô tức tối.
- Hãy chờ một chút đã! Đừng có làm gì trước khi tôi quay lại đấy.
- Cứ đào đi, - Jennifer bảo mấy người làm vườn.
Viên quản gia quay lại, chạy vội vào nhà đóng sập cửa lại. Một lát sau ông ta quay ra cùng với một người đàn ông trung niên nhỏ bé.
- Xin cô vui lòng cho biết cái trò ma quái này là gì vậy?
- Điều đó có liên quan gì đến ông nào? – Jennifer vặn lại.
- Tôi sẽ nói cho cô biết nó có liên quan gì đến tôi, - ông ta bắt đầu to tiếng - Tôi là William Carlisle, và đây không may lại là tài sản của tôi.
- Nếu vậy, thưa ngài Carlisle, - Jennifer nói - Tôi có cái này cho ngài đây. - Cô móc túi lấy ra tờ trát và giúi vào tay ông ta. Đoạn quay sang bảo mấy người làm:
- Các anh có thể ngừng tay được rồi đấy.
o O o
Sáng sớm hôm sau, Adam Warner gọi điện. Jennifer nhận ra giọng anh ngay lập tức.
- Tôi nghĩ là cô muốn biết điều này, - Adam nói. - Các thủ tục để tước quyền hành nghề của cô đã bị chính thức bác bỏ. Cô sẽ không phải lo lắng gì nữa đâu.
Jennifer nghẹn ngào nói:
- Tôi… Tôi không biết nói gì nữa để cảm tạ anh.
- Công lý không phải lúc nào cũng mù quáng đâu.
Adam không nói cho cô biết những gì đã xảy ra giữa anh với Steward Needham và Robert Di Silva.
Needham tỏ ra thất vọng nhưng vẫn giữ bình tĩnh. Nhưng ông chưởng lý thì lồng lên như một con bò đực hung dữ:
- Anh để cho con khốn nạn đó thoát sao? Trời ơi, nó là mafia. Adam. Anh không thấy sao? Nó lừa anh rồi?
Ông ta cứ lải nhải mãi cho đến lúc Adam phát mệt.
- Tất cả những chứng cớ buộc tội cô ta đều là ngẫu nhiên. Robert ạ. Cô ta ở sai chỗ và sai thời gian nên đã bị mắc bẫy. Điều đó đối với tôi, không có nghĩa là mafia.
Cuối cùng Robert Di Silva nói:
- Thôi đành vậy, nó vẫn là một luật gia. Tôi chỉ cầu trời sao cho nó hành nghề ở New York và bất cứ lúc nào nếu nó xuất hiện trong phòng xử án của tôi, tôi sẽ cho nó biết tay để rửa nhục.
Giờ đây, khi nói chuyện với Jennifer, Adam không đá động một chút gì về chuyện đó. Jennifer đã có một kẻ thù không đội trời chung và cô chắc sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Robert Di Silva là một người thù dai và Jennifer lại là một mục tiêu rất dễ bị hạ. Cô thật hoạt bát, đầy lý tưởng, lại quá trẻ, và dễ thương nữa.
Adam biết rằng mình không được gặp lại cô nữa.
o O o
Đó là những ngày tháng mà nhiều lúc Jennifer chỉ muốn vứt bỏ tất cả. Tấm biển trên cửa vẫn còn dòng chữ "Jennifer Parker, Luật sư" nhưng nó chẳng đánh lừa được ai, kể cả Jennifer. Công việc cô làm chẳng có liên quan gì đến nghề nghiệp của cô cả. Cả ngày cô phải đi lại khắp nơi dưới trời mưa tuyết để đưa trát hầu tòa cho những người thù ghét cô về việc đó. Thỉnh thoảng cô cũng làm cố vấn pháp luật cho các cụ già đòi phiếu ăn, hoặc những người da đen hay người Puertô Ricô gặp khó khăn. Nhưng cô luôn cảm thấy bế tắc.
Ban đêm còn tồi tệ hơn ban ngày. Chúng dường như dài vô tận vì Jennifer bị bệnh mất ngủ và khi cô chợp mắt được một chút, các giấc mơ của cô đầy ma quý. Cô mắc các triệu chứng đó từ đêm đầu tiên mẹ cô từ bỏ hai bố con ra đi.
Cô luôn thấy cô đơn. Thỉnh thoảng cô cũng đi chơi với một vài luật sư trẻ, nhưng cô luôn so sánh họ với Adam Warner và thấy họ quá kém cỏi so với anh. Sau bữa ăn tối họ thường đi xem kịch hoặc phim, và cuối cùng là cảnh vật lộn trước cửa nhà Jennifer. Cô chẳng biết họ muốn ngủ với cô vì đã chi tiền ăn tối cho cô, hay vì họ phải leo lên leo xuống bậc thang chênh vênh nhà cô. Có lúc cô đã định đồng ý chỉ vì muốn có người bên cạnh mình qua đêm, có người ôm hôn và chia xẻ th.ân thể với mình. Nhưng điều cô cần ở trên gi.ường mình nhiều hơn là một th.ân thể biết nói chuyện. Cô cần một người thật sự yêu cô và cô có thể yêu lại.
Những người đàn ông thú vị nhất từng tán tỉnh Jennifer đều đã có vợ và cô từ chối thẳng thừng lời mời đi chơi của họ. Cô nhớ rõ một câu trong bộ phim "Căn hộ" tuyệt vời của Billy Wilder: "Khi bạn yêu một người đàn ông đã có vợ, bạn chẳng cần phải kẻ mắt nữa". Mẹ của Jennifer đã làm tan vỡ một gia đình, đã giết cha cô. Cô không bao giờ quên được điều đó.
Jennifer đón Nôen và năm mới một mình. Mấy hôm đó trời mưa tuyết rất nặng và cả thành phố trông giống như một chiếc bưu thiếp mừng giáng sinh khổng lồ.
Jennifer đi dọc trên hè phố, ngắm nhìn khách bộ hành vội vã trở về ngôi nhà ấm cúng của họ và cô thấy quặn đau vì cảm giác cô đơn. Cô thấy nhớ cha kinh khủng và vui mừng vì những ngày lễ đã kết thúc. 1970 sẽ là một năm tốt đẹp hơn đối với mình, cô tự nhủ.
Vào những lúc Jennifer thấy buồn bã nhất, Ken Bailey thường an ủi cô. Anh mời cô đi xem kịch, xem phim và đôi khi đi nhảy nữa. Jennifer biết rằng anh rất quý mình nhưng vẫn cố giữ khoảng cách với cô.
o O o
Vào tháng ba, Otto Wenzel quyết định chuyển về Florida sống với vợ.
- Xương cốt tôi đã quá già không chống đỡ nổi mùa đông ở New York nữa rồi, - ông nói với Jennifer.
- Cháu sẽ rất nhớ bác đấy, - Jennifer nói. Cô quả thật rất quý ông.
- Hãy để ý đến Ken nhé!
Jennifer nhìn ông dò hỏi.
- Anh ta không nói gì với cô sao?
- Nói gì với cháu cơ ạ?
Ông ngập ngừng rồi nói:
- Vợ anh ta tự tử. Anh ta quy lỗi cho bản thân.
Jennifer bằng hoàng:
- Kinh khủng quá? Nhưng vì sao chị ấy lại làm thế ạ?
- Cô ta thấy Ken nằm trên gi.ường với một chàng trai tóc vàng.
- Trời đất!
- Cô ta bắn Ken rồi sau đó tự bắn mình. Anh ta vẫn còn sống, còn cô ta thì chết.
- Tội quá nhỉ. Cháu chẳng hề biết tí gì cả.
- Tôi biết. Anh ấy cười nhiều lắm, nhưng bên trong tâm hồn anh ấy là cả một điạ ngục đấy?
- Cám ơn bác đã nói ch.uyện ấy cho cháu.
Khi Jennifer quay lại văn phòng, Ken nói:
- Vậy là ông già Otto đã bỏ chúng ta.
- Vâng.
Ken Bailey cười:
- Tôi nghĩ rằng bây giờ chỉ còn tôi và cô chúng ta chống lại cả thế giới.
- Tôi cũng nghĩ vậy.
Phần nào, điều đó cũng đúng thật, Jennifer tự nhủ.
o O o
Jennifer bắt đầu nhìn Ken với con mắt khác. Họ cùng ăn trưa và tối với nhau, có điều cô không phát hiện được dấu hiệu nào cho thấy Ken là một người đồng tính luyến ái. Nhưng cô biết rằng Otto Wenzel đã nói đúng một điều: Ken Bailey mang theo cả một địa ngục bên mình.
Đã có một số khách hàng đến văn phòng của Jennifer. Họ thường ăn mặc tồi tàn, bộ dạng bối rối. Các cô gái điếm đến nhờ Jennifer giúp cho họ được tại ngoại và Jennifer nhiều lúc phải sửng sốt trước vẻ trẻ trung và dễ thương của vài người trong số đó. Họ đã trở thành một nguồn thu nhập tuy nhỏ nhưng chắc chắn cho cô. Chẳng biết ai bảo cho họ đến đây. Khi cô hỏi Ken Bailey chuyện đó, anh lắc đầu tỏ ý không biết gì hết. Khi có khách hàng đến hỏi Jennifer, Ken Bailey thường kín đáo bỏ đi. Anh giống như một người cha, luôn khuyến khích Jennifer thành công.
Jennifer được yêu cầu giúp một số vụ ly hôn nhưng cô luôn từ chối. Đa phần những luật sư giải quyết ly hôn có tiếng tăm không hay. Câu nói cửa miệng của mọi người là các cặp vợ chồng càng lục đục thì luật sư càng kiếm được nhiều tiền. Một luật sư về ly hôn đắt giá thường được gọi là máy bay ném bom, vì ông ta thường dùng những điều khoản dễ gây bùng nổ về pháp luật, để làm cho khách hàng của mình thắng kiện, và trong quá trình đó làm hỏng cả cuộc đời của người chồng, người vợ và con cái của họ.
Thỉnh thoảng có vài khách hàng đặc biệt đến văn phòng của Jennifer và họ thường làm cho cô lúng túng.
Đó là những người ăn mặc rất lịch sự, tác phong toát lên vẻ giàu có và những vụ kiện cáo của họ không giống như các vụ rẻ tiền mà Jennifer quen giải quyết. Đó là những vụ về bất động sản có trị giá lớn, hoặc những vụ kiện mà các hãng luật lớn cũng phải lấy làm vui sướng nếu được đại diện cho họ. "Tại sao ngài lại biết tôi" - Jennifer thường hỏi.
Tuy nhiên các khách hàng thường lẩn tránh câu trả lời trực tiếp "Tôi biết cô từ một người bạn…, tôi đã đọc về cô, tôi nghe đến cô trong một buổi liên hoan, v. v…"
Cho đến khi một khách hàng trong lúc giải thích về câu chuyện của mình vô tình nhắc đến Adam Warner.
Jennifer mới chợt hiểu ra tất cả.
- Có phải ngài Warner giới thiệu ông đến đây không?
Người khách hàng tỏ ra lúng túng:
- Ô, thực ra ông ấy gợi ý là không nên nhắc đến tên ông ấy với cô.
Jennifer quyết định gọi điện cho Adam. Dù sao cô vẫn còn mang ơn anh. Cô sẽ tỏ ra lịch sự trang nghiêm. Cô không muốn để anh có ấn tượng gì khác về việc cô gọi điện, ngoài lý do để cảm ơn anh. Cô sắp xếp câu chuyện sẽ nói với anh rất kỹ lưỡng. Cuối cùng, khi Jennifer có đủ dũng cảm để gọi điện, một cô thư ký báo cho cô biết rằng ngài Warner đã đi châu Âu, và phải vài tuần nữa mới trở về. Jennifer tự nhiên thấy buồn hẳn.
o O o
Cô thấy mình ngày càng nghĩ nhiều đến Adam Warner hơn. Cô luôn nhớ lại buổi tối hôm anh đến nhà cô và cô đã cư xử thật tệ như thế nào. Anh cư xử thật là tuyệt vời trước thái độ trẻ con của cô, khi cô trút hết cơn giận dữ lên anh. Giờ đây anh lại còn giới thiệu khách hàng đến cho cô nữa.
Jennifer chờ ba tuần rồi lại gọi điện cho Adam. Lần này anh lại đi Nam Mỹ rồi.
- Cô có nhắn gì không? - Cô thư ký hỏi.
Jennifer ngập ngừng:
- Thôi vậy.
Jennifer cố quên Adam đi nhưng không thể được.
Cô tự hỏi không biết anh đã cưới vợ hoặc đính hôn chưa. Không hiểu làm bà Adam Warner sẽ như thế nào nhỉ? Đôi lúc cô nghĩ hay mình điên.
Thỉnh thoảng Jennifer thấy tên Michael Moretti trên báo và tạp chí. Có một bài dài về Antonio Granelli và các gia đình mafia miền đông trên tờ New Yorker. Antonio đang suy yếu nghiêm trọng và người ta cho rằng Michael Moretti, con rể ông ta sẽ tiếp quản vương quốc của ông ta. Tờ Life đang một bài về cuộc sống của Michael Moretti và phần cuối bài có nhắc đến vụ án Moretti.
Camillo Stela đang ngồi tù ở Leavenworth trong khi Michael đã được tự do. Bài báo nhắc nhở độc giả nhớ lại việc Jennifer Parker đã làm hỏng vụ án, đáng lẽ sẽ đưa hắn vào tù hoặc lên ghế điện. Jennifer giận sôi lên khi đọc bài báo đó. Cô chỉ muốn được tự tay bật nút điện giết chết Michael Moretti.
Đa số khách hàng của Jennifer không có giá trị gì mấy, nhưng kiến thức cô thu được thì vô giá. Chỉ sau vài tháng, Jennifer đã biết rõ tất cả các văn phòng ở khu tòa án hình sự ở số 100 phố trung tâm và những người sống ở đó.
Khi một trong những khách hàng của cô bị bắt vì tội ăn cắp trong cửa hàng, cướp giật, đĩ điếm hoặc buôn ma tuý lậu, cô thường xuống khu trung tâm, thu xếp để người đó được tại ngoại sau khi nộp tiền bảo lãnh.
- Tiền bảo lãnh là 500 đôla?
- Thưa chánh án, bị cáo không có nhiều tiền như vậy đâu ạ. Nếu tòa giảm mức tiền bảo lãnh xuống còn 200 đô la anh ta có thể nộp, để trở lại với công việc và nuôi cả gia đình.
- Thôi được. Đồng ý 200 đôla.
- Hết sức cảm ơn ngài.
Jennifer đã quen với người phụ trách phòng xét hỏi, nơi người ta gửi đến danh sách những người bị bắt.
- Lại là cô à, cô Parker! Trời đất, cô không bao giờ ngủ ư?
- Chào ông thượng uý. Một khách hàng của tôi bị bắt về tội vô gia cư. Tôi có thể xem lệnh bắt được không. Tên anh ta là: Connery. Clarence Connery.
- Hãy nói cho tôi biết, cô gái xinh đẹp, tại sao cô lại phải đến đây vào lúc ba giờ sáng để bảo trợ cho một gã du đãng du thủ du thực?
Jennifer cười phá lên:
- Để tôi khỏi phải ở ngoài phố.
Cô trở nên quen thuộc với những phiên tòa buổi tối, tổ chức tại phòng 218 của tòa án ở phố Trung tâm. Đó là một thế giới hôi hám, chật chội với những ngôn ngữ bí ẩn mà chỉ riêng nó có. Lúc đầu Jennifer lúng túng.
- Tôi đến đây để cãi cho cô Luna Tamer.
- Chúa ơi?
- Ngài có thể cho tôi biết về tội trạng của cô ta không?
- Chờ một chút, để tôi xem lại hồ sơ. Luna Tamer. Một ca khó đây. Làm đĩ bị CWAC tóm.
- Ai bắt cô ta ạ?
- Cô là người mới ở đây phải không? CWAC nghĩa là đơn vị chống tội phạm của thành phố. Cô hiểu chưa?
- Hiểu rồi ạ.
Các phiên tòa buổi tối làm Jennifer rất mệt mỏi. Từng làn sóng người ra vào phòng xử án gây nên một khung cảnh đáng ngán. Có đến hơn 150 vụ được nêu ra mỗi tối.
Người ta xét xử gái điếm, người say rượu và bọn chích hút. Có những người Puertô Ricô, người Mêhicô, Do Thái, Irland, Hy Lạp, và Ý. Họ bị buộc tội hiếp dâm, trộm cắp, tàng trữ vũ khí, cướp giật hoặc làm đĩ. Tất cả giống nhau ở một điểm: họ đều rất nghèo. Họ là những thứ cặn bã, rác rưới mà xã hội đã gạt ra ngoài rìa. Phần lớn những người này ở khu trung tâm Harlem và bởi vì các phòng giam đã chật cứng, chỉ trừ những kẻ phạm tội nghiêm trọng nhất, đa số họ chỉ bị phạt tiền rồi được tha. Họ trở về nhà ở đại lộ Thánh Nicolas, các đại lộ Momingside Manhattan, nơi mà chỉ trong ba dặm rưỡi vuông có tới 233. 000 người da đen, tám nghìn người Puertô Ricô và quãng một triệu con chuột.
Đa số khách hàng của Jennifer là những người đã bị nghèo khổ làm cho mất hết ý chí. Họ đã đầu hàng cuộc sống từ lâu. Sự lo sợ của họ lại giúp cô thêm tự tin. Cô không nghĩ là mình cao hơn họ. Cô cũng chẳng thể coi mình là một tấm gương sáng cho họ, nhưng cô biết có một sự khác biệt lớn giữa cô và họ, các khách hàng của mình: cô không bao giờ mất ý chí.
o O o
Ken Bailey giới thiệu Jennifer với cha Francis Joseph Ryan. Cha Ryan là một người đàn ông trạc ngoại 50, nhanh nhẹn, đầy sức sống với bộ tóc muối tiêu trùm tai. Lúc nào ông cũng thấy cần phải đi cắt tóc. Jennifer thấy mến ông ngay lập tức.
Thỉnh thoảng, khi một trong những con chiên của ông tự nhiên mất tích, cha Ryan thường đến gặp Ken nhờ giúp đỡ. Và Ken luôn được việc, anh tìm thấy người chồng, người vợ hoặc con trai mất tích, không bao giờ có chuyện tính toán tiền nong giữa hai người.
- Đó là khoản tiền mua chỗ trên thiên đường, - Ken giải thích.
Một buổi chiều, khi Jennifer chỉ có một mình ở văn phòng, cha Ryan bỗng nhiên tạt vào.
- Ken đi vắng rồi cha ạ. Mai anh ta mới tới cơ.
- Ta đến đây để gặp con đấy, Jennifer ạ. - Cha Ryan nói. Ông ngồi xuống chiếc ghế cũ kỹ trước bàn Jennifer.
- Ta có một người bạn gặp chút khó khăn.
Đó là câu cửa miệng của cha Ryan mỗi khi ông có việc nhờ Ken.
- Có chuyện gì vậy, thưa cha?
- Có một con chiên của cha, một bà già đang gặp khó khăn về việc nhận tiền bảo hiểm xã hội. Bà ta mới dọn đến ở gần chỗ cha vài tháng nay và máy tính điện tử đã làm thất lạc hết hồ sơ của bà ấy. Máy móc quỷ quái!
- Vậy à?
- Cha biết con đã hiểu việc này. - Cha Ryan nói và đứng lên. - Có điều là con sẽ chẳng nhận được gì từ vụ đó đâu.
Jennifer mỉm cười:
- Cha đừng ngại con sẽ cố gắng giải quyết xong. - Cô tưởng đó là một công việc hết sức đơn giản, thế mà cũng phải mất đến gần 3 ngày mới xong.
Một buổi sáng sau đó một tháng, cha Ryan lại đến văn phòng của Jennifer và bảo:
- Cha rất ngại làm phiền con, cô gái bé bỏng ạ, nhưng cha có một người bạn gặp khó khăn. Mà anh ta lại không có… - Ông ngập ngừng.
- Tiền phải không ạ? - Jennifer đoán.
- Chính là như thế đấy. Nhưng anh chàng tội nghiệp này rất cần được giúp đỡ.
- Thôi được rồi. Cha hãy nói cho con biết về anh ta.
- Tên anh ta là Abraham. Abraham Wilson. Đó là con trai của một con chiên của cha. Abraham đang ngồi tù chung thân ở nhà tù Sing Sing, vì tội giết một chủ quán rượu trong một cuộc ấu đả.
- Nếu anh ta đã bị buộc tội và nhận án, con sợ là chẳng giúp gì được anh ta nữa đâu, thưa cha.
Cha Ryan nhìn Jennifer và thở dài:
- Đó không phải là vấn đề khó khăn của anh ta.
- Thế thì là việc gì ạ?
- Mấy tuần trước đây Abraham lại giết một người nữa - một bạn tù tên là Raymond Thorpe. Họ sẽ buộc anh ta tội giết người và xử tử.
Jennifer đã đọc ở đâu đó về vụ này.
- Nếu con nhớ không nhầm, anh ta đã đánh chết một người.
- Họ nói như vậy đấy.
Jennifer lấy giấy bút ra.
- Cha có biết có nhân chứng nào trong vụ này không?
- Cha e rằng có đấy!
- Bao nhiêu người ạ.
- Ồ hàng trăm ấy. Chuyện xảy ra ở ngay sân tù mà.
- Ghê quá nhỉ. Vậy cha muốn con làm gì bây giờ?
Cha Ryan nói ngan gọn:
- Giúp Abraham.
Jennifer thả bút rơi xuống bàn:
- Thưa cha, chỉ có sếp của cha mới có thể giúp anh ta được. - Cô ngả người trên ghế - Anh ta có ba tội: Là người da đen, một tên giết người đã bị kết án và lại còn giết một người nữa trước mắt hàng trăm người. Chẳng có cơ sở nào để bênh vực anh ta đâu. Nếu có người đe dọa anh ta, anh ta có thể kêu cứu. Nhưng anh ta lại không làm như vậy. Chẳng có tòa án nào trên thế giới lại không kết tội anh ta cả.
- Dù sao thì đó vẫn là một con người. Con thử nói chuyện với anh ta xem nhé.
Jennifer thở dài:
- Con sẽ nói chuyện với anh ta nếu cha muốn vậy, nhưng con chẳng dám hứa hẹn gì đâu.
Cha Ryan gật đầu:
- Cha hiểu. Chắc mọi người sẽ làm ồn ào lên đấy.
Cả hai cùng nghĩ đến một điều. Abraham Wilson không phải là người duy nhất bị ghét bỏ.
o O o
Nhà tù Sing Sing nam ở thị trấn Ossining, cách Manhattan 30 dặm trên bờ phía đông của sông Hudson, nhìn ra vịnh Haverstraw. Jennifer đi xe bus đến đó.
Cô đã gọi điện thoại cho viên phó giám đốc nhà tù và ông này đã bố trí để cô gặp Abraham Wilson, hiện đang bị cấm cố.
Trên đường đi đến nhà tù, Jennifer thấy tràn ngập cảm giác quyết tâm mà cô đã mất đi trong một khoảng thời gian dài. Cô đến Sing Sing để gặp một người có thể là khách hàng bị buộc tội giết người. Đó chính là trường hợp mà cô đã học, đã chuẩn bị để làm. Lần đầu tiên trong một năm cô cảm thấy mình thật sự là một luật sư nhưng cô cũng biết rằng mình không thực tế.
Cô không đến gặp một khách hàng. Cô chỉ đến để nói với một người rằng cô không thể cãi cho anh ta được.
Cô không muốn dính líu đến một vụ được dư luận nhắc đến nhiều, mà cô không có cơ hội thắng kiện. Abraham Wilson cần phải tìm một người khác để cãi cho anh ta.
o O o
Một chiếc taxi cà khổ đưa Jennifer từ nhà ga xe bus tới nhà tù. Jennifer bấm chuông cửa ra vào và một người gác ra mở cửa, kiểm tra tên cô theo bản danh sách anh ta đang cầm và dẫn cô tới văn phòng của viên phó giám đốc nhà tù. Đó là một người đàn ông to béo, vuông vắn, tóc húi cua theo kiểu nhà binh. Ông ta tên là Howard Patterson.
- Tôi mong được ông kể cho đôi lời về Abraham Wilson, - Jennifer mở đầu câu chuyện.
- Nếu cô định tìm kiếm sự thoải mái, cô sẽ không thấy ở đây đâu! - Patterson liếc nhìn đống hồ sơ trên bàn của ông.
- Wilson vào tù ra tội suốt cuộc đời của hắn ta. Năm 11 tuổi hắn bị bắt vì tội ăn trộm ô tô, năm 13 vì tội cướp giật. Năm 15 tuổi hắn lại bị bắt vì tội hiếp dâm và năm 18 tuổi hắn trở thành một tên ma cô dắt gái, bị kết án vì đã làm thương tích một cô gái điếm… - Ông ta lật lật tập hồ sơ. - Cô biết đấy - trộm cắp, hiếp dâm, cướp của và cuối cùng là giết người.
Jennifer hỏi:
- Liệu có khả năng Abraham Wilson không giết Raymond Thorpe không?
- Hãy quên điều đó đi. Wilson đã thú nhận việc này, nhưng dù hắn có không nhận thì cũng chẳng có gì thay đổi cả. Chúng tôi có tới 120 nhân chứng.
- Tôi có thể gặp Wilson được không?
Howard Patterson đứng dậy:
- Tất nhiên, nhưng cô chỉ phí thời gian thôi.
o O o
Abraham Wilson là một người xấu xí nhất mà Jennifer Parker từng thấy. Hắn đen thui, mũi gãy gập, răng cửa cũng bị mất và khuôn mặt đầy vết dao chém.
Trông hắn cao to và khỏe mạnh. Nếu Jennifer định tìm một từ để miêu tả Abraham Wilson, từ đó chỉ có thể là "ghê tởm". Cô có thể tưởng tượng được hắn sẽ gây ra ấn tượng như thế nào ở tòa án.
Abraham Wilson và Jennifer ngồi trong một căn phòng được canh gác cẩn mật, có một hàng rào dây thép gai ngăn giữa hai người và có người canh cửa.
Wilson vừa được đưa từ phòng cấm cố ra, mắt hắn còn đang chớp lia lịa vì chói sáng. Trước khi đến đây, Jennifer đã không có ý muốn làm vụ này, sau khi thấy Abraham Wilson cô càng chắc về điều đó. Chỉ ngồi đối diện với hắn cô đã thấy ghê sợ trước vẻ thù hằn toát ra từ hắn.
Jennifer mở đầu câu chuyện:
- Tôi là Jennifer Parker, luật sư. Cha Ryan muốn tôi đến gặp anh.
Abraham Wilson tia nước bọt qua kẽ răng:
- Cái thằng cha làm việc thiện chó đẻ ấy chứ gì.
Mở đầu hay ho thật, Jennifer nghĩ. Cô kiềm chế không chùi nước bọt bắn trên mặt:
- Anh có cần gì không, Wilson?
Hắn ngoác mồm ra cười:
- Anh cần một cái hĩm, cô em ạ. Em có thích không nào?
Cô làm ngơ:
- Anh có muốn nói cho tôi biết về những điều đã xảy ra không?
- À em muốn biết chuyện đời anh phải không, phải trả tiền anh mới kể đấy. Anh sẽ bán nó cho một hãng phim. Có khi anh sẽ đóng vai chính trong bộ phim đó cơ đấy.
Cơn giận dữ toát ra từ hắn thật là đáng sợ. Jennifer chỉ muốn chạy ngay khỏi nơi này. Viên phó giám đốc nhà tù nói đúng. Cô chỉ phí thời giờ vô ích mà thôi.
- Tôi sợ rằng chẳng làm gì giúp anh được nếu anh không giúp tôi, Wilson. Tôi đã hứa với cha Ryan là ít nhất cũng đến nói chuyện với anh.
Abraham Wilson lại ngoác miệng cười:
- Cô em tốt quá nhỉ. Liệu cô có đổi ý về chuyện "cái hĩm" đó không?
Jennifer đứng lên. Cô hết chịu nổi nữa:
- Anh thù ghét tất cả mọi người à?
- Biết nói với bé thế nào nhỉ. Hãy thử thay đổi màu da của chúng ta đi rồi lúc đó hẵng nói chuyện yêu ghét.
Jennifer đứng đó, nhìn thẳng vào khuôn mặt đen đủi, xấu xí và cô hiểu những gì anh ta vừa nói. Cô chậm rãi ngồi xuống:
- Anh có muốn nói cho tôi biết sự thực mọi chuyện không?
Anh ta nhìn Jennifer trừng trừng, không nói năng gì. Jennifer chờ đợi, lòng tự hỏi mình sẽ ra sao nếu mang màu da của anh ta. Cô không biết có bao nhiêu vết sẹo ẩn dưới làn da đó. Cả hai người yên lặng hồi lâu. Cuối cùng, Abraham Wilson nói:
- Tôi đã giết thằng chó đẻ đó.
- Sao anh lại giết hắn?
Anh ta nhún vai:
- Nó cầm một con dao phay và định chém tôi.
- Đừng bịp tôi. Tù nhân làm sao có thể mang dao được?
Khuôn mặt Wilson rản đanh lại và anh ta nói:
- Cút mẹ ra khỏi đây đi, thưa bà. Tôi có yêu cầu bà đến đâu. - Anh ta đứng lên. - Và đừng có đến quấy rầy tôi nữa, nghe không. Tôi rất bận đấy. - Anh ta quay ngoắt lại và bước đến chỗ người gác tù. Cả hai biến mất sau đó.
Vậy đấy ít nhất Jennifer cũng có thể kể với cha Ryan là cô đã nói chuyện với người này. Cô không làm hơn thế.
Một người gác đưa Jennifer ra khỏi khu trại giam.
Cô đi ngang qua sân ra cổng chính, vừa đi vừa nghĩ về Abraham Wilson và phản ứng của cô đối với anh ta.
Cô ghét người đàn ông đó và vì vậy cô đã làm một việc mà cô không có quyền làm: cô đã xét xử anh ta. Cô đã buộc tội anh ta trước khi anh ta được xét xử. Có lẽ có ai đó đã tấn công anh ta, tất nhiên không phải bằng dao nhưng có thể bằng gạch đá gì đó. Jennifer dừng bước phân vân. Linh tính mách bảo cô hãy quay về Manhattan và quên Abraham Wilson đi. Jennifer quay bước đi về phía văn phòng của viên phó giám đốc nhà tù.
o O o
- Đó là một vụ khó đấy, - Howard Patterson nói.
- Khi còn có thể chúng tôi cố cải tạo hơn là trừng phạt, nhưng gã Abraham Wilson này đã đi quá xa rồi. Chỉ có ghế điện mới làm hắn dịu lại.
Thật là một thứ lôgich chết tiệt, Jennifer nghĩ.
- Anh ta nói với tôi rằng người đàn ông bị anh ta giết, tấn công anh ta bằng một con dao phay.
- Có lẽ thế không biết chừng!
Câu trả lời làm cô choáng cả người.
- Ngài nói gì vậy, chả lẽ tù nhân ở đây lại có cả dao. Dao phay nữa ư?
Howard Patterson nhún vai:
- Cô Parker, chúng tôi có tới 1240 tù nhân ở đây, và nhiều người là những tài năng lớn đấy. Đi theo tôi, tôi sẽ chỉ cho cô xem vài thứ.
Patterson dan Jennifer đi theo một hành lang dài dẫn đen một cánh cửa khác. Ông ta chọn một chiếc chìa trong đám chìa khoá, mở cửa và bật đèn lên. Jennifer theo sau ông vào căn phòng trơ trụi những chiếc giá - Đây là chỗ chúng tôi giữ của quý của các tù nhân.
Ông bước tới một chiếc hòm lớn và mở ra.
Jennifer nhìn vào hòm, không tin vào mắt mình nữa. Cô nhìn lên Howard Patterson và nói:
- Tôi muốn gặp lại khách hàng của mình.
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 6
Jennifer chuẩn bị cho phiên tòa xử Abraham Wilson hết sức cẩn thận. Cô dành không biết bao nhiêu thời gian trong các thư viện luật để xem lại các thủ tục bào chữa, và nói chuyện với khách hàng của mình để rút ra càng nhiều thông tin càng tốt. Đó không phải là một công việc dễ dàng. Ngay từ đầu Wilson đã tỏ ra bướng bỉnh và hay châm chọc.
- Cô em, muốn biết về anh à? Được thôi, anh chơi gái lần đầu khi anh mười tuổi. Lúc đó em mấy tuổi nhỉ?
Jennifer cố buộc mình làm ngơ sự thù hằn và khinh ghét của anh ta, vì cô biết rằng dưới cái vỏ đó là sự sợ hãi ghê gớm. Và Jennifer kiên trì tìm hiểu xem thời thơ ấu của Wilson như thế nào, cha mẹ của anh ta ra sao và những gì tác động đến quá trình trưởng thành của anh ta. Một vài tuần sau, Abraham Wilson bắt đầu tỏ ra quan tâm và từ quan tâm chuyển sang thích thú.
Chưa bao giờ anh ta nghĩ mình là loại người gì và tại sao lại như vậy. Các câu hỏi của Jennifer bắt đầu gợi lại ký ức của anh ta, những kỷ niệm vui buồn và đau đớn nữa. Vài lần, khi Jennifer hỏi về cha của Wilson, người thường đánh đập anh ta hết sức dã man, Wilson phải yêu cầu cô để anh ta một mình. Cô bỏ đi, nhưng một lát sau quay lại.
Nếu trước kia Jennifer có rất ít thời giờ cho riêng mình, giờ đây cô không còn chút nào nữa. Khi cô không ở chỗ Abraham, cô đến văn phòng, bảy ngày một tuần, từ sáng sớm cho đến tận nửa đêm, đọc tất cả những tài liệu mà cô tìm được về tội giết người, ngộ sát hay cố sát. Cô nghiên cứu hàng trăm quyết định của tòa án, các lời khai, tang chứng, kiến nghị v. v. Cô xem hàng chồng tài liệu về chủ ý từ trước, tự vệ và mất trí tạm thời.
Cô tìm cách để lời buộc tội giảm xuống thành ngộ sát Abraham không định giết người đó. Nhưng tòa có tin điều đó không? Vả lại đây chỉ là một phiên tòa địa phương thôi. Cư dân ở thị trấn này rất căm ghét các tù nhân. Jennifer xin chuyển phiên tòa tới xử ở Manhattan và được chấp thuận.
Jennifer cần phải quyết định một vấn đề quan trọng. Cô có nên để Abraham Wilson ra đối chứng không? Anh ta trông xấu xí thật nhưng nếu các quan tòa nghe anh ta kể, có thể họ sẽ thông cảm chút nào với anh ta chăng. Vấn đề là nếu để Abraham Wilson xuất hiện trước tòa, người ta sẽ thấy màu da cũng như quá khứ của anh ta, kể cả vụ giết người anh ta phạm phải trước đây.
Jennifer tự hỏi không biết chưởng lý Di Silva sẽ chọn ai trong số phụ tá của mình để làm đối thủ của cô. Có đến nửa tá phụ tá của ông rất giỏi về buộc tội các vụ giết người, và Jennifer cố làm quen với các thủ đoạn của họ.
Cô dành rất nhiều thời gian ở nhà tù Sing Sing, tưởng tượng lại cảnh giết người ở sân chơi, nói chuyện với những người gác và Abraham, đồng thời phỏng vấn hàng chục tù nhân chứng kiến cảnh chém giết đó.
- Raymond Thorpe tấn công Abraham Wilson bằng một con dao. - Jennifer nói - Một con dao bầu to. Anh chắc phải nhìn thấy?
- Tôi á? Tôi chả nhìn thấy dao diếc gì cả.
- Chắc chắn là anh phải thấy. Anh ở ngay đó mà.
- Thưa cô tôi chả thấy gì tất?
Không một ai trong số họ muốn dính líu vào chuyện này.
o O o
Đôi lúc Jennifer cũng đi ăn ở hiệu, nhưng cô thường chỉ ăn vội một chiếc bánh sandwich ở quán cà phê của tòa án. Cô bắt đầu sút cân và hay thấy chóng mặt.
Ken Bailey tỏ ra lo lắng cho cô. Anh dẫn cô đến quán Forlini ở đối diện với tòa án, và gọi một bữa trưa thật thịnh soạn.
- Cô định tự giết mình đấy à? - anh hỏi.
- Tất nhiên là không rồi.
- Độ này cô có soi gương không?
- Ồ không.
Anh nhìn cô chăm chú và nói:
- Nếu cô còn có chút hiểu biết, cô sẽ bỏ vụ kiện này.
- Sao vậy?
- Vì những việc cô làm chỉ uổng công mà thôi, tôi đã nghe người ta bàn tán như vậy. Giới báo chí cũng định làm cho cô bẽ mặt một lần nữa đấy.
- Tôi là một luật sư. - Jennifer bướng bỉnh nói - Abraham Wilson xứng đáng được xử một cách công bằng. Tôi sẽ cố gắng để làm việc đó? - Cô thấy vẻ lo lắng trên khuôn mặt Ken Bailey. - Đừng lo, vụ này rồi sẽ không có gì ồn ào lắm đâu.
- Vậy sao? Cô có biết ai sẽ luận tội không?
- Không.
- Robert Di Silva.
o O o
Jennifer đến cửa lối phố Loanard vào khu xử án hình sự, lách qua đám người đang tụ tập ở đó, đi qua mặt những cảnh sát mặc đồng phục, những thám tử ăn mặc kiểu híp-pi, những luật sư được nhận biết bởi các cặp họ xách theo. Cô đi tới thang máy và ấn nút lên tầng 6 gặp chưởng lý quận. Gần một năm đã trôi qua kể từ lần gặp gỡ cuối cùng giữa cô với Robert Di Silva, và cô chẳng muốn có cuộc gặp gỡ hôm nay. Cô sắp thông báo cho ông ta biết mình sẽ không cãi cho Abraham Wilson nữa.
Jennifer đi tới quyết định này sau 3 đêm thức trắng.
Cô làm như vậy vì cho rằng sẽ tốt hơn cho khách hàng của mình. Vụ Wilson thực ra không đủ quan trọng để Di Silva đích thân đứng ra buộc tội. Do vậy, lý do duy nhất để chưởng lý quan tâm đến vụ này là sự dính líu của Jennifer. Di Silva muốn trả thù. Ông ta định sẽ dạy cho Jennifer một bài học. Vì thế, Jennifer kết luận rằng cô chẳng còn cách nào khác ngoài việc thôi cãi hộ cho Wilson. Cô không thể để ông ta bị hành quyết vì một lỗi lầm mà cô từng mắc phải. Nếu cô không tham gia vào vụ án, có lẽ Robert Di Silva sẽ nhẹ tay hơn đối với Wilson. Jennifer đang tìm cách cứu Abraham Wilson. Có một cảm giác kỳ lạ vì quá khứ đang sống lại khi cô ra khỏi thang máy, và tiến tới chiếc cửa quen thuộc có dòng chữ "Chưởng lý quận khu vực New York".
Trong phòng, vẫn cô thư ký ấy ngồi bên chiếc bàn quen thuộc ấy.
- Tôi là Jennifer Parker. Tôi có hẹn với…
- Cô vào ngay đi" - Cô thư ký nói - Ngài chưởng lý đang chờ đấy!
Robert Di Silva đang đứng bên bàn nhai một điếu xì gà và ra lệnh cho hai trợ lý của mình. Ông dừng lại khi Jennifer bước vào phòng.
- Tôi đã cuộc là cô không dám đến đây.
- Tôi đã đến đây.
- Tôi tưởng là cô đã phải cúp đuôi chạy khỏi thành phố này từ lâu rồi chứ. Cô muốn gì?
Có hai chiếc ghế bành đối diện với bàn của Robert Di Silva, nhưng ông ta không mời Jennifer ngồi.
- Tôi đến đây để bàn về khách hàng của tôi, Abraham Wilson.
Robert Di Silva ngồi ngả ra sau ghế, tỏ vẻ suy nghĩ:
- Abraham Wilson… A đúng rồi. Đó là thằng cha da đen giết người. Hắn lại vừa đánh chết một người nữa trong tù. Cô sẽ không có khó khăn gì để cãi cho hắn đâu.
Ông ta liếc nhìn các trợ lý của mình và họ lập tức rời khỏi phòng.
- Thế nào, bà thầy cãi?
- Tôi muốn nói về một thoả thuận.
Robert Di Silva nhìn cô với vẻ ngạc nhiên giả tạo:
- Vậy ra cô đến đây để thoả thuận với tôi à? Cô làm tôi sửng sốt đấy. Tôi cứ tưởng rằng một luật sư tài năng như cô có thể cãi cho hắn ta trắng án được kia chứ.
- Robert Di Silva, tôi biết vụ này có vẻ như đã rõ ràng - Jennifer bắt đầu nói, - nhưng vẫn còn những tình tiết giảm nhẹ. Abraham Wilson đã…
Chưởng lý Di Silva ngắt lời:
- Để tôi nói bằng ngôn ngữ luật pháp cho cô hiểu. Hãy để những tình tiết giảm nhẹ xuống dưới đít cô ấy! - Ông ta đứng dậy, giọng run lên vì giận dữ. - Thoả thuận với cô ư, thưa cô? Cô đã làm hại sự nghiệp của tôi, cô biết không? Có một xác chết và thằng cha mà cô cãi hộ sẽ bị xử tử vì chuyện đó. Cô có nghe tôi nói không? Tôi sẽ đích thân làm cho thằng cha ấy lên ghế điện.
- Tôi đến đây để báo cho ngài biết tôi sẽ rút khỏi vụ này. Xin ngài hãy giảm tội xuống còn ngộ sát. Wilson đã bị tù chung thân. Ngài có thể…
- Không có lôi thôi gì hết. Hắn ta phạm tội giết người, rất đơn giản và rõ ràng!
Jennifer cố kìm cơn giận:
- Tôi tưởng chánh án mới là người quyết định việc đó chứ?
Robert Di Silva méo mó cười.
- Cô không thể biết thật là thú vị như thế nào, khi có một chuyên gia như cô đến giảng giải về luật ở văn phòng của tôi đâu.
- Chúng ta có thể quên chuyện riêng được không?
- Không thể được chừng nào tôi còn sống. Gửi lời chào tay bồ Michael Moretti của cô hộ tôi.
o O o
Nửa tiếng đồng hồ sau, Jennifer ngồi uống cà phê với Ken Bailey.
- Tôi chẳng còn biết làm gì nữa. - Jennifer thú nhận. - Tôi tưởng là nếu mình rút khỏi vụ kiện, Abraham Wilson có thể có cơ hội tốt hơn. Nhưng Di Silva không chịu thoả thuận, ông ta không phải săn đuổi Wilson mà là tôi.
Ken Bailey trầm ngâm nhìn cô:
- Có lẽ ông ta muốn dọa cô chăng.
- Chẳng cần ông ta dọa tôi cũng đang sợ rồi đấy. - Cô nhấp một ngụm cà phê và thấy đắng ngắt. - Vụ này thật dở. Anh hãy nhìn Abraham Wilson mà xem. Những gì mà tòa sẽ làm là chỉ việc nhìn anh ta và họ sẽ buộc tội.
- Khi nào vụ án bắt đầu?
- Bốn tuần nữa.
- Tôi có thể giúp gì cô không?
- Ồ anh hãy thoả thuận với Di Silva đi.
- Cô có nghĩ rằng có khả năng giúp Wilson giải tội không?
- Theo cách nhìn bi quan, tôi đang cố gắng chống chọi với vị chưởng lý giỏi nhất nước, một người cực thù ghét tôi, và khách hàng của tôi là một người da đen đã phạm tội giết người, nay lại phạm tội đó một lần nữa ngay trước mặt 120 nhân chứng.
- Dở quá nhỉ. Vậy cách nhìn lạc quan thì sao?
- Tôi có thể bị xe chẹt chiều nay.
o O o
Chỉ còn ba tuần nữa là đến ngày xử án.
Jennifer thu xếp để Abraham Wilson được chuyển đến nhà tù ở đảo Riker. Anh ta bị nhốt trong trại cấm cố đàn ông, khu rộng nhất và kỉên cố nhất của nhà tù. Chín mươi lăm phần trăm bạn tù của anh ta cũng đang chờ bị xét xử vì các tội như: giết người, đốt nhà, *** hiếp, cướp có vũ trang.
Ô tô riêng không được phép lên đảo và Jennifer đến đó bằng xe bus. Tới khu kiểm tra, Jennifer xuất trình giấy tờ và được đưa đến khu cầm cố, nơi Abraham Wilson sẽ gặp cô. Đi dọc theo hành lang dài tới nơi gặp Wilson, Jennifer nghĩ: Đây thật giống như một phòng đợi để sang địa ngục. Có hơn một trăm tù nhân trong mỗi xà lim, họ nói chuyện ồn ào suốt ngày đêm.
Khi Jennifer ngồi đối diện với Abraham Wilson, cô nghĩ: tính mạng của người đàn ông này đang nằm trong tay mình đây. Nếu anh ta phải chết, đó là do mình không giúp gì được anh ta.
- Tôi sẽ cố làm mọi việc tôi có thể làm được! - Jennifer hứa.
Ba ngày trước khi vụ án Abraham Wilson bắt đầu, Jennifer được biết chánh án phiên tòa sẽ là ngài Lawrence Waldman, người đã từng là chánh án trong vụ Michael Moretti và đã tìm cách để tước quyền luật sư của cô.
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 7
Vào lúc 4 giờ sáng một buổi sáng thứ hai cuối tháng 9 năm 1970, ngày bắt đầu phiên tòa xử Abraham Wilson, Jennifer thức giấc, đầu choáng váng và mắt cay sè. Cô ngủ không yên, buổi tối hôm trước toàn mộng mị về chuyện tòa án. Một lần cô mơ thấy Robert Di Silva đưa cô vào bục nhân chứng và hỏi cô về Michael Moretti. Mỗi lần Jennifer cố gắng trả lời câu hỏi, đoàn hội thẩm lại ngắt lời cô bằng những tiếng thét: "Nói dối! Nói dối! Nóì dối! ".
Trong giấc mơ cuốí cùng, cô thấy Abraham Wilson bị đưa lên ghế điện. Khi Jennifer cúi xuống an ủi anh ta, anh ta nhổ vào mặt cô. Jennifer thức dậy, run rẩy và không thể nào ngủ lại được nữa. Cô ngồi ghế cho đến tận sáng và ngắm cảnh mặt trời mọc. Cô chẳng còn muốn ăn uống gì nữa. Cô ước giá được ngủ ngon buổi tối hôm trước, giá mà cô không bị quá căng thảng, và ngày hôm nay sẽ qua đi nhanh chóng.
Tắm rửa xong, cô mặc quần áo và thay vì mặc chiếc áo đen, cô chọn chiếc áo xanh mà cô đã mua tại cửa hàng hạ giá Loehmann.
8h30, Jennifer đến khu tòa án hình sự để bắt đầu cãi cho vụ nhân dân bang New York kiện Abraham Wilson. Đã có một đám đông tụ tập ở lối vào và thoạt đầu Jennifer tưởng vừa có vụ tai nạn xe cộ ở đó. Cô thấy ống kính camera và micro chĩa ra tua tủa và trước khi hiểu được điều gì đang xảy ra, cô đã bị một đám phóng viên vây quanh.
Một phóng viên hỏi:
- Thưa cô Parker, đây có phải là lần đầu tiên cô xuất hiện ở tòa án, kể từ khi cô làm hỏng vụ án Michael Moretti của ngài chưởng lý quận không?
Ken Bailey đã báo trước cho cô biết. Chính cô là trung tâm của sự chú ý chứ không phải là khách hàng của cô. Các phóng viên đến đây không phải với tư cách của những quan sát viên khách quan. Họ đến đây như những con chim săn mồi, và cô chính là miếng mồi ngon của họ.
Một phóng viên nữ trẻ trung trong bộ quần áo bò, dí micro vào sát mặt Jennifer:
- Có đúng là chưởng lý Di Silva quyết tâm trả thù cô không?
- Không có bình luận gì hết. - Jennifer bắt đầu phải xô đẩy để tiến tới lối vào.
- Tối hôm qua ngài chưởng lý vừa tuyên bố, là ông ta nghĩ lẽ ra không nên cho phép cô hành nghề ở các tòa án New York nữa. Cô có nhận xét gì không?
- Không nhận xét gì hết - Jennifer đã chen được tới lối vào.
- Năm ngoái chánh án Waldman định làm cho cô bị tước quyền hành nghề. Cô có định yêu cầu ông ta phải…
Jennifer đã lọt vào trong khu xử án.
Phiên tòa được dự định tổ chức ở phòng 37. Người ta chen nhau ở ngoài hành lang để lọt vào phòng nhưng bên trong đã chật cứng. Tiếng ồn ào bao trùm khắp căn phòng và có một không khí hội hè ở đây. Có mấy hàng ghế thêm để dành cho các phóng viên.
Di Silva đã chuẩn bị trước chuyện đó, Jennifer nghĩ.
Abraham Wilson ngồi tại bàn bị cáo, cao vượt lên trên tất cả mọi người xung quanh, trông như một ngọn núi ma quái. Anh ta mặc chiếc áo veston màu xanh đậm quá nhỏ so với khổ người, bên trong là chiếc sơ mi trắng và cà vạt xanh mà Jennifer đã mua cho anh ta.
Nhưng điều đó cũng chẳng giúp ích gì. Abraham Wilson trông giống như một tên giết người xấu xí trong bộ veston xanh thẫm. Jennifer thấy nản lòng ngay từ đầu. , Wilson nhìn xung quanh một cách thách thức, hằn học đối với những ai bắt gặp ánh mắt của anh ta.
Jennifer đã hiểu khách hàng của mình quá rõ, và biết rằng đằng sau vẻ khiêu khích của anh ta là sự sợ hãi cực điểm. Nhưng ấn tượng bao trùm đối với tất cả mọi người "kể cả chánh án và đoàn hội thẩm" là vẻ thù địch và căm ghét toát ra từ anh ta. Người đàn ông to lớn này là một mối đe dọa. Họ sẽ coi anh ta là một kẻ đáng sợ đáng bị trừng phạt.
Không có một dấu vết đáng mến nào trong phong cách của Abraham Wilson. Vẻ ngoài của anh ta cũng không có gì để gợi lên lòng thương cảm. Chỉ có khuôn mặt xấu xí, sứt sẹo với chiếc mũi gẫy và hàm răng thiếu, thân hình đồ sộ đó gây nên sự sợ hãi.
Jennifer bước tới bàn bị cáo và ngồi xuống cạnh Abraham Wilson:
- Chào anh, Abraham.
Anh ta liếc nhìn cô và nói:
- Tôi không nghĩ là cô lại đến đây.
Jennifer nhớ lại giấc mơ của mình. Cô nhìn thẳng vào cặp mắt ti hí của anh ta:
- Anh biết là tôi sẽ đến chứ?
Anh ta lắc đầu lãnh đạm:
- Chẳng có ích gì đâu. Chúng sẽ tóm tôi thôi. Rồi chúng sẽ kết án tôi vào tội giết người, sẽ nấu tôi trong vạc dầu. Đây sẽ không phải là một phiên tòa. Đây chỉ là một màn diễn kịch thôi!
Có tiếng ồn ào nổi lên từ bàn công tố viên, và Jennifer nhìn lên thấy chưởng lý Di Silva đang ngồi xuống chỗ của mình, bên chiếc bàn sát ngay đội trợ lý của ông ta, ông ta nhìn Jennifer và mỉm cười. Cô thấy lo sợ trước nụ cười ấy.
Một nhân viên của tòa án hô:
- Tất cả đứng dậy.
Và chánh án Lawrence Waldman tiến vào phòng.
- Nghe đây nghe đây, mọi người hãy chú ý. Chánh án Lawrence Waldman sẽ chủ trì phiên tòa này.
Chỉ có một người không chịu đứng dậy, đó là Abraham Wilson. Jennifer thì thầm với anh ta:
- Đứng dậy đi.
- Kệ cha bọn nó. Chúng nó sẽ phải đến lôi tôi đứng dậy.
Jennifer cầm lấy bàn tay to lớn của anh ta.
- Đứng dậy đi Abraham. Chúng ta sẽ thắng họ.
Anh ta nhìn cô một lúc lâu rồi chậm rãi đứng lên.
Chánh án Waldman ngồi xuống ghế quan tòa. Mọi người cũng lục tục ngồi xuống theo. Viên mõ tòa đưa cho chánh án chương trình làm việc của tòa.
- Nhân dân bang New York kiện Abraham Wilson về tội giết Raymond Thorpe.
Jennifer thoạt đầu mong đoàn hội thẩm toàn là người da đen, nhưng trong trường hợp này, cô lại không chắc chắn về chuyện đó. Wilson không phải là người của họ. Anh ta là một tên giết người, một kẻ đã làm nhục nòi giống của mình. Có khi họ còn sẵn sàng kết tội anh ta hơn là những quan tòa da trắng. Tất cả những gì mà Jennifer có thể làm là cố để cho những người quá thiên kiến không tham gia vào đoàn hội thẩm. Nhưng những người này rất khó nhận biết. Họ luôn giữ kín thiên kiến của mình và chỉ chờ dịp thuận lợi mới bộc lộ ra.
Vào cuối buổi chiều ngày thứ hai, Jennifer đã sử dụng hết quyền hỏi vặn của mình. Cô cảm thấy những câu hỏi của mình đối với các thẩm phán thật vụng về và ngốc nghếch, trong khi đó Di Silva lại rất trơn tru và khéo léo ông ta có tài làm cho các thẩm phán thấy thoải mái, làm cho họ tin tưởng ông ta.
Làm sao mình lại quên rằng Di Silva là một diễn viên cực tài nhỉ? Jennifer tự hỏi.
Robert Di Silva đứng dậy và bắt đầu bài nói của mình.
- Trước hết tôi xin được cảm tạ quý tòa, các ông, các bà đã dành thì giờ quý báu của mình để tham gia phiên tòa này. - ông ta cười thông cảm. - Tôi biết hầu tòa vất vả như thế nào. Các ông các bà đều có công việc làm, có gia đình để chăm lo.
Ông ta làm như mình cũng là một người trong số họ, vị thẩm phán thứ 13, Jennifer nghĩ.
- Tôi hứa là sẽ làm mất thời giờ của các vị càng ít càng tốt. Đây quả thực là một vụ án rất đơn giản. Bị cáo ngồi kia - Abraham Wilson bị buộc tội giết một bạn tù ở nhà lao Sing Sing. Chắc chắn anh ta đã làm việc đó. Và anh ta cũng đã thú nhận. Luật sư của anh ta sẽ biện hộ để tòa khép vào tội giết người để tự vệ.
Viên chưởng lý quay sang nhìn Abraham Wilson và đoàn hội thẩm cũng nhìn theo ông ta. Jennifer có thể thấy phản ứng trên khuôn mặt của họ. Cô cố tập trung để nghe Di Silva nói.
- Nhiều năm trước đây, mười hai công dân rất giống các vị ở đây đã biểu quyết để đưa Abraham Wilson vào tù. Bởi vì có một số thủ tục pháp lý, tôi không được phép trao đổi với các vị về tội ác mà Abraham Wilson đã phạm phải. Tôi có thể nói với các vị rằng tòa án đó đã thành thật tin rằng nhốt Abraham Wilson vào tù sẽ ngán không cho hắn phạm thêm tội ác. Thật đáng buồn, họ đã lầm. Bởi vì thậm chí khi đã bị nhốt trong tù Abraham Wilson vẫn còn có khả năng đánh, giết người để thoả mãn thú tính khát m.áu của hắn. Giờ đây chúng ta biết rằng chỉ có một cách để ngăn Abraham Wilson giết người thêm nữa. Đó là xử tử hắn ta. Điều đó không làm cho Raymond Thorpe sống lại, nhưng nó có thể đảm bảo cuộc sống cho những người có thể trở thành nạn nhân tiếp theo của bị cáo.
Di Silva đi dọc theo bàn hội thẩm, nhìn từng hội thẩm viên.
- Tôi đã nói là vụ này sẽ không làm mất nhiều thời giờ của các vị. Bây giờ tôi sẽ giải thích vì sao lại như vậy. Bị cáo ngồi kia Abraham Wilson đã giết người có chủ đích. Hắn đã nhận tội đó. Mà nếu hắn không nhận, chúng ta cũng có nhân chứng. Hơn một trăm nhân chứng, thật vậy. Chúng ta hãy xem lại câu "Có chủ đích". - Giết người vì bất cứ lý do gì cũng là ghê tởm đối với tôi và tôi biết các vị cũng nghĩ như vậy. Tuy nhiên, giết người đôi khi phạm phải vì những lý do mà ít nhất chúng ta còn có thể hiểu được. Chẳng hạn có ai đó dùng vũ khí đe dọa những người thân yêu của các vị: con, vợ, hoặc chồng. Nếu lúc đó trong tay các vị có một khẩu súng, các vị có thể bóp cò để cứu người thân của mình. Các vị và tôi có thể không dung thứ hành động đó. Nhưng tôi chắc rằng chúng ta ít nhất cũng hiểu được. Một ví dụ khác. Nếu cáo vị bất chợt bị dựng dậy vào lúc nửa đêm và có kẻ đe dọa mạng sống của các vị, nếu có cơ hộì chắc các vị sẽ giết hắn để tự cứu mình. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều hiểu được điều đó. Và làm như vậy chúng ta cũng không bị coi là kẻ sát nhân hay những con người xấu xa, đúng vậy không? Giọng Di Silva đanh lại. - Nhưng giết người có chủ ý lại là một chuyện khác. Cướp đi mạng sống của một con người mà không hề đắn đo, vì tiền, hay chỉ vì cái thú được giết…
Rõ ràng ông ta định dẫn dắt tòa nhưng luôn giữ giới hạn để không ai có thể phản đối ông ta về chuyện Jennifer ngắm nhìn khuôn mặt của các hội thẩm.
Không còn nghi ngờ gì nữa, họ đã ngả theo Di Silva. Họ đồng tình với mỗi từ của ông ta nói ra. Họ lắc đầu, nhăn mặt và thở dài. Ông ta như một nhạc trưởng và đoàn hội thẩm là dàn nhạc. Jennifer chưa bao giờ thấy một cảnh như vậy. Mỗi lần chưởng lý nhắc tới tên Abraham Wilson - và ông ta nhắc tới luôn - đoàn hội thấm lại quay sang nhìn bị cáo. Jennifer đã thận trọng nhắc Wilson đừng nhìn vào các hội thẩm mà hãy nhìn quanh phòng xử án. Giờ đây cô kinh sợ khi thấy Abraham Wilsnn cứ dán mắt vào đoàn hội thẩm, đấu mắt với họ. Từ người anh ta toát lên vẻ khiêu khích rõ rệt.
Jennifer trầm giọng nói:
- Abraham…
Anh ta không quay lại.
Chưởng lý kết thúc bản cáo trạng của mình:
- Kinh thánh có câu "ăn miếng trả miếng". Đó là sự trả thù. Chúng ta không yêu cầu trả thù. Chúng ta chỉ cần công lý. Công lý cho người đàn ông tội nghiệp đã bị Abraham giết chết. Xin cám ơn các vị.
Chưởng lý ngồi xuống.
Khi Jennifer đứng lên để đọc lời bào chữa, cô cảm thấy rõ sự thù địch và sốt ruột của đoàn hội thẩm. Cô đã đọc nhiều cuốn sách nói về việc luật sư có thể đọc được ý nghĩ của các hội thẩm và nghi ngờ chuyện đó Giờ đây cô tin là nó có thật. Thông điệp của đoàn hội thẩm tới cô là quá rõ. Họ đã quyết định kết tội khách hàng của cô và họ sốt ruột vì Jennifer đang làm mất thời gian của họ, giữ họ ở tòa án trong khi họ có biết bao việc quan trọng hơn phải làm, như người bạn của họ, ngài chưởng lý đã chỉ rõ. Jennifer và Abraham Wilson là kẻ thù của họ.
Jennifer hít một hơi dài và nói:
- Xin phép ngài chánh án, - sau đó quay sang đoàn hội thẩm "Thưa quý ông quý bà, lý do chúng ta có tòa án, lý do mà chúng ta có mặt ở đây ngày hôm nay là vì luật pháp, với sự công minh của nó, biết rằng trong một vụ kiện luôn có hai mặt. Nghe bản luận tội của ngài chưởng lý đối với khách hàng của tôi, nghe ông ta tuyên bố khách hàng của tôi có tội mà chưa có phán quyết của tòa, người ta buộc phải nghĩ khác.
Cô tìm kiếm dấu hiệu đồng tình, hoặc thông cảm trên khuôn mặt các hội thẩm viên nhưng không thấy.
- Ngài chưởng lý Di Silva nhắc đi nhắc lại một câu - Abraham Wilson có tội. Đó là một lời nói dối. Chánh án Waldman sẽ nói để các vị biết không có bị cáo nào có tội chừng nào tòa chưa buộc tội anh ta. Đó là điều mà chúng ta phải làm ở đây, có phải vậy không ạ. Abraham Wilson bị buộc tội giết một người bạn tù ở nhà lao Sing Sing. Nhưng anh ta giết người không vì tiền hay vì khát m.áu. Anh ta giết để tự vệ. Và tôi có thể nói với tất cả mọi người ở tòa hôm nay, rằng bất kỳ ai trong số chúng ta trong trường hợp tương tự như vậy cũng đều làm như thế cả. Ngài chưởng lý và tôi nhất trí ở một điều: Mọi người đều có quyền bảo vệ mạng sống của mình. Nếu Abraham Wilson không làm như anh ta đã làm, anh ta đã là một xác chết rồi.
Giọng Jennifer bắt đầu rung lên. Cô đã mất hết vẻ hồi hộp vì niềm tin mãnh liệt của mình.
- Tôi muốn từng người trong các vị nhớ lại một điều: Theo pháp luật của bang này, chúng ta chỉ kết tội khi không còn nghi ngờ gì nữa, hành động giết người diễn ra không phải là để tự vệ. Và trước khi phiên tòa này kết thúc chúng tôi sẽ đưa ra những bằng chứng vững chắc, để các vị thấy Raymond Tholpe bị giết, để anh ta không thể giết khách hàng của tôi. Xin cảm ơn.
Những nhân chứng của Di Silva bắt đầu lên khai trước tòa Từng người một họ kể lại câu chuyện đã xảy ra. Mỗi lần một nhân chứng khai xong, chưởng lý lại quay sang Jennifer và hỏi: "Cô có chất vấn gì không? ". Và mỗi lần như thế Jennifer đều trả lời "Không cần đối chứng".
Cô biết rằng bắt bẻ các nhân chứng đó cũng chẳng có ích gì. Họ kể về Raymond Thorpe như thể hắn là một vị thánh chứ không phải là một tù nhân bị bắt về tội cướp nhà băng và *** hiếp. Tất cả đều có bàn tay đạo diễn của Di Silva.
Một điểm cực kỳ tai hại cho Jennifer và khách hàng của cô là sức vóc của Raymond. Hắn rất thấp nhỏ so với Abraham Wilson. Robert Di Silva biết điều đó và luôn nhắc tới nó.
Ông ta vẽ lên một bức tranh đầy kịch tính về cảnh Abraham Wilson đã tấn công một người nhỏ yếu hơn mình như thế nào, đã đập đầu Thorpe vào cánh cửa xi măng và giết chết hắn ta ra sao. Trong khi ông ta nói, đoàn hội thẩm nhìn chằm chằm vào bị cáo với vẻ căm tức không giấu giếm.
Chưởng lý tiếp tục:
- Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết nguyên nhân nào dẫn đến việc Abraham Wilson tấn công người đàn ông bé nhỏ và vô hại đó.
Tim Jennifer nhảy dựng lên. Di Silva đã nói ra một từ mà cô thấy có thể tấn công lại được.
- Chúng ta không biết vì sao bị cáo đánh nạn nhân, nhưng có một điều chúng ta biết, thưa quý ông quý bà… người bị nạn không phải là một mối đe dọa đối với Abraham Wilson.
- Tự vệ chăng? - ông ta quay sang chánh án Waldman.
- Thưa ngài, ngài có thể yêu cầu bị cáo đứng lên được không ạ?
Chánh án Waldman nhìn Jennifer:
- Luật sư bào chữa không phản đối chứ?
Jennifer biết điều gì sắp xảy ra, nhưng cô có phản đối thì cũng chỉ làm cho sự thể xấu hơn mà thôi.
- Không, thưa ngài.
Chánh án Waldman nói:
- Bị cáo có thể đứng lên được không?
Abraham Wilson ngồi lặng một lát rồi từ từ đứng dậy, mặt đầy vẻ thách thức.
Di Silva nói:
- Có một lục sự ở đây, đó là ngài Galin. Ông ta có chiều cao đúng bằng Raymond Thorpe. Ngài Galin, ngài có thể đến đứng cạnh bị cáo một lát được không?
Viên lục sự đến bên Abraham Wilson. Sự tương phản giữa hai người quá rõ ràng. Jennifer hiểu rằng cô lại bị chưởng lý ghi điểm. Ông ta nhìn hai người đàn ông và nói với đoàn hội thẩm với giọng gần như thì thầm:
- Tự vệ ư?
Phiên tòa diễn ra còn tồi hơn so với những cơn ác mộng xấu nhất của Jennifer. Cô có thể thấy toàn bộ đoàn hội thẩm nóng ruột muốn kết thúc phiên tòa để đưa ra phán quyết đối với bị cáo.
Ken Bailey ngồi ở chỗ các quan sát viên và trong một lúc nghỉ, Jennifer trao đổi vài câu với anh.
- Đây là một trường hợp khó khăn đấy, - Ken nói thông cảm. - Giá mà khách hàng của cô không giống King Kong thì tốt. Chúa ơi, chỉ cần nhìn anh ta cũng đủ thấy sợ rồi.
- Đó đâu phải lỗi của anh ấy?
- q.uan hệ giữa cô và ngài chưởng lý đáng kính ra sao rồi?
Jennifer cười nhăn nhó:
- Sáng nay ngài Di Silva có nhắn với tôi, rằng sẽ tìm mọi cách để loại tôi ra khỏi giới luật gia.
Khi tất cả những nhân chứng buộc tội đã khai xong, Jennifer đứng lên và nói:
- Tôi muốn Howard Patterson đến bục làm chứng!
Viên phó giám đốc nhà tù Sing Sing miễn cưỡng đứng dậy và đi đến bục làm chứng. Mọi con mắt đổ dồn vào anh ta. Robert Di Silva căng thẳng nhìn Patterson thề trước tòa. Đầu óc ông ta soát lại tất cả các khả năng có thể xảy ra. Ông ta tin rằng mình đã thắng trong vụ này.
Jennifer nói với nhân chứng:
- Ngài có thể nói với đoàn hội thẩm về lai lịch của mình không, thưa ngài Patterson?
Chưởng lý Di Silva đứng dậy:
- Chúng ta có thể bỏ qua phần khai lai lịch để tiết kiệm thời gian và tôi có thể chứng nhận rằng ngài Patterson là phó giám đốc nhà lao Sing Sing.
- Cám ơn, - Jennifer nói - Tôi nghĩ cần phải báo cho tòa biết là ngài Patterson phải có trát hầu tòa mới chịu đến đây hôm nay. Ông ta là một nhân chứng bắt buộc.
Jennifer quay sang Patterson.
- Khi tôi đề nghị ngài đến đây tự nguyện và làm chứng thay cho khách hàng của tôi ngài đã từ chối, đúng vậy không?
- Đúng.
- Ngài có thể nói cho tòa biết vì sao phải có trát hầu tòa ngài mới đến?
- Sẵn sàng thôi. Tôi đã từng tiếp xúc với loại người như Abraham Wilson suốt đời mình. Bọn này sinh ra để làm phiền nhiễu cho xã hội.
Robert Di Silva vươn người ra phía trước cười sung sướng, và nóì thầm với một viên trợ lý của mình:
- Xem nó tự treo cổ kìa.
Jennifer tiếp tục:
- Ngài Patterson, Abraham Wilson không phải bị xử về tội gây phiền nhiễu. Anh ta bị xử về tội giết người. Ngài có sẵn lòng giúp một con người bị kết án tử hình oan không?
- Nếu anh ta bị oan, thì được.
Từ "bị oan" làm cho khuôn mặt các hội thẩm có chút biến đổi.
- Trước vụ này vẫn có án mạng trong nhà lao, đúng vậy không? Trong những vụ án mạng mà ngài biết, có nhiều mục đích khác nhau phải không?
- Ồ tôi cho là như vậy. Đôi khi…
- Xin ngài nói rõ cho là có hay không nào?
- Thế tự vệ có phải là một trong những mục đích của các vụ án không?
- À đôi khi… - Ông thấy vẻ mặt của Jennifer và nói.
- Vậy thì, dựa trên kinh nghiệm phong phú của ngài, liệu hoàn toàn có thể hay không khả năng Abraham Wilson thực sự tự vệ, khi anh ta giết Raymond Thorpe?
- Tôi không nghĩ điều đó…
- Tôi chỉ muốn biết có hay không thôi.
- Rất khó có khả năng như thế, - Patterson đáp lại một cách bướng bỉnh.
Jennifer quay sang chánh án Waldman.
- Thưa chánh án, xin ngài yêu cầu nhân chứng trả lời câu hỏi.
Chánh án Waldman nhìn xuống Howard Patterson.
- Nhân chứng sẽ trả lời câu hỏi.
Nhưng thái độ của ông ta đã được đoàn hội thẩm ghi nhận.
Jennifer nói tiếp:
- Nếu tòa cho phép, tôi sẽ yêu cầu nhân chứng mang đến một số đồ vật và muốn đưa ra để mọi người xem.
Chưởng lý Di Silva đứng phắt dậy:
- Đồ vật gì vậy?
- Những đồ vật chứng tỏ khách hàng của tôi tự vệ.
- Phản đối, thưa ngài chánh án.
- Ngài phản đối gì cơ chứ? - Jennifer hỏi. - Ngài đã thấy chúng đâu?
Chánh án Waldman nói:
- Tòa sẽ xem xét các tang vật. Tính mạng của một con người đang được cân nhắc. Bị cáo được quyền xem xét dưới mọi góc độ.
- Cám ơn, ngài chánh án, - Jennifer quay sang Patterson:
- Ngài có mang nó theo không đấy? - Cô hỏi.
Howard Patterson nhìn xuống khu người ngồi xem, ở đó có một người trong quân phục gác ngục. Patterson gật đầu với anh ta. Người này đứng dậy và đi đến bục nhân chứng cùng với một chiếc hòm gỗ đậy kín.
Jennifer lấy chiếc hòm từ tay anh ta.
- Thưa chánh án, bên bị muốn đưa ra những thứ trong hòm này.
- Cái gì vậy? Chưởng lý Di Silva hỏi.
- Đây là hòm đựng đồ quý.
Có tiếng xì xào trong đám người ngồi xem.
Chánh án Waldman nhìn xuống Jennifer và nói chậm rãi.
- Cô nói đó là hòm đựng đồ quý. Vậy có gì trong đó, cô Parker?
- Vũ khí. Vũ khí được các tù nhân chế tạo tại nhà lao Sing Sing để….
- Phản đối! - Chưởng lý đứng bật dậy và gào lên. Ông ta chạy đến bàn hội thẩm. - Tôi sẵn sàng tha thứ cho đồng nghiệp của mình vì tội thiếu kinh nghiệm, nhưng nếu cô ta thật sự muốn hành nghề luật hình sự, tôi cho rằng cô ta cần học lại những nguyên tắc cơ bản về tang chứng. Không có mối liên hệ nào giữa cái gọi là hòm đựng đồ quý với vụ án đang được xét xử ở đây.
- Chiếc hộp này chứng tỏ rằng…
- Nó chẳng chứng tỏ được điều gì cả. - Chưởng lý ngạo nghễ nói. Ông ta quay sang chánh án Waldman. - Chúng tôi phản đối việc đưa ra tang chứng này, coi đó là không thích hợp.
- Chấp nhận phản đối.
Và Jennifer đứng đó, chứng kiến thất bại của mình.
Mọi thứ đều chống lại cô: Chánh án, đoàn hội thẩm, Di Silva, tang chứng. Khách hàng của cô sẽ phải lên ghế điện trừ khi… Jennifer hít một hơi thật dài:
- Thưa chánh án, tang chứng này có tầm quan trọng đặc biệt đối với chúng tôi. Tôi cảm thấy…
Chánh án Waldman ngắt lời:
- Cô Parker, tòa không có thời gian và cũng không có ý muốn dạy cô về luật, nhưng ông chưởng lý nói hoàn toàn đúng. Trước khi đến phòng xử án này cô cần làm quen với những nguyên tắc cơ bản về tang chứng. Nguyên tắc đầu tiên là cô không được phép đưa ra tang chứng không liên quan gì đến vụ kiện. Trong biên bản không hề nói đến việc người bị hại có vũ khí hay không. Do vậy vấn đề vũ khí là yếu tố ngoại lai. Cô bị bác bỏ.
Jennifer thấy m.áu dồn lên mặt.
- Tôi xin lỗi, - cô bướng bỉnh nói. - Nhưng đây không phải là yếu tố ngoại lai.
- Thôi đủ rồi. Cô có thể xin bảo lưu.
- Tôi không cần bảo lưu, thưa ngài chánh án. Ngài đang tước đoạt quyền lợi của khách hàng của tôi.
- Cô Parker, nếu cô cứ tiếp tục như vậy tôi sẽ buộc tội cô lăng nhục tòa.
- Tôi không cần biết ngài sẽ làm gì tôi? Jennifer nói - Tôi có cơ sở để trưng bày tang vật này. Chính ngài chưởng lý tạo ra cơ sở đó.
Di Silva hỏi lại:
- Cái gì? Tôi chưa hề…
Jennifer quay sang viên lục sự của tòa:
- Xin ông hay đọc bản luận tội của ngài Di Silva bắt đầu từ dòng - Chúng ta có lẽ không bao giờ biết điều gì khiến cho Abraham Wilson tấn công.
Chưởng lý nhìn lên chánh án Waldman.
- Thưa chánh án, ngài định cho phép…?
Chánh án Waldman giơ một tay lên. Ông ta quay sang Jennifer.
- Tòa không cần cô phải giảng luật ở đây, cô Parker. Khi phiên tòa này kết thúc cô sẽ bị buộc tội làng mạ tòa và đây là một vụ nghiêm trọng, tôi sẽ cho phép đọc tiếp.
Viên lục sự giở mấy trang hồ sơ và bắt đầu đọc "Chúng ta có lẽ sẽ không bao giờ biết điều gì khiến cho Abraham Wilson tấn công một người nhỏ bé, không có gì để tự vệ…"
- Đủ rồi, - Jennifer cắt lời anh ta - Xin cám ơn.
Cô nhìn Robert Di Silva và chậm rãi nói:
- Đó là lời của ngài, thưa ngài Di Silva.
Quay sang chánh án Waldman, cô nói:
- Thưa ngài chánh án, câu cơ bản nhất ở đây là không có gì tự vệ. Vì chính ngài chưởng lý nói với phiên tòa này rằng nạn nhân không có gì để tự vệ, ông ta đã để ngỏ một khả năng khác. Đó là việc nạn nhân chưa chắc đã không có gì để tự vệ và thực tế anh ta có thể có vũ khí. Vì vậy chúng tôi có thể đưa ra tang vật để làm đối chứng.
Mọi người chợt im lặng hồi lâu.
Chánh án Waldman quay sang Robert Di Silva:
- Cô Parker nói đúng một điểm. Ngài đã để ngỏ một khả năng.
Robert Di Silva tưởng mình nghe nhầm:
- Nhưng tôi chỉ…
- Tòa sẽ cho phép đưa ra tang chứng.
Jennifer thở phào nhẹ nhõm.
- Cám ơn ngài chánh án.
Cô nhấc chiếc hộp lên, giơ về phía đoàn hội thẩm.
- Thưa quý ông quý bà, ngài chưởng lý chắc sẽ nói với các vị những gì trong hộp này không phải là tang chứng trực tiếp. Ông ta đúng. Ông ta chắc cũng sẽ nói rằng không có liên hệ gì giữa những vũ khí này và người bị nạn. Ông ta cũng đúng. Tôi sẽ cho trưng bày tang chứng vì một lý do khác. Mấy ngày hôm nay các vị đã được nghe kể, về việc bị cáo đánh chết Raymond Thorpe một cách dã man như thế nào. Bức tranh được dựng lên một cách cẩn thận và giả tạo của bên nguyên là hình ảnh một kẻ giết người tàn bạo, hạ sát đồng loại mà chẳng có lý do gì cả. Nhưng xin các vị hãy tự hỏi: "Có phải luôn có động cơ gì đó không? Tham lam, thù ghét, dục vọng, một cái gì đó chứ? Tôi tin rằng và tôi đặt cược tính mạng của khách hàng mình vào sự tin tưởng đó là có một động cơ dẫn đến việc sát nhân. Động cơ duy nhất, như chính ngài chưởng lý vừa nói với các vị có thể biện minh cho việc đó, là tự vệ. Người ta phải đấu tranh để bảo vệ mạng sống của chính mình. Các vị đã nghe Howard Patterson chứng thực rằng có nhiều vụ giết người xảy ra trong nhà tù, rằng các tội nhân tự tạo ra được những vũ khí chết người. Điều đó có nghĩa là có khả năng Raymond Thorpe đã sử dụng một trong những thứ vũ khí đó và trên thực tế chính hắn ta đã tấn công bị cáo. Bị cáo trong lúc chống cự đã buộc phải giết hắn ta để tự vệ. Nếu các vị quyết định rằng Abraham Wilson đã giết Raymond Thorpe một cách dã man và không có động cơ gì hết, lúc đó các vị sẽ đưa ra lời phán quyết có giá trị như ngài chưởng lý đã yêu cầu. Tuy nhiên, nếu sau khi xem tang chứng này các vị có những mối băn khoăn đáng kể, các vị sẽ có trách nhiệm đưa ra lời phán quyết vô tội.
Chiếc hộp gỗ bỗng trở nên nặng trĩu trong tay cô.
- Lần đầu tiên khi tôi nhìn vào chiếc hộp này, tôi không tin vào mắt mình nữa. Các vị chắc cũng khó có thể tin được, nhưng các vị nên lưu ý rằng chiếc hộp này đã được đem tới đây dưới sự phản đối của phó giám đốc nhà lao Sing Sing. Đây là một bộ sưu tập các loại vũ khí tịch thu của các phạm nhân ở nhà lao này!
Trên đường đi tới bàn hội thẩm, Jennifer dường như bị mất thăng bằng và khụyu xuống. Chiếc hộp trượt khỏi tay cô rơi xuống đất, và những đồ trong hộp văng tung toé ra khắp nơi. Tiếng ồn ào nổi lên. Các thẩm phán bắt đầu đứng dậy để xem cho rõ hơn. Họ nhìn chằm chằm vào các loại vũ khí đáng sợ vừa văng ra từ chiếc hộp đó. Có khoảng 100 cái, đủ các kích cỡ và thể loại. Dao díp, dao găm, kéo nhọn đầu, kìm. Có cả những sợi dây thép có tay cầm dùng để xíết cổ.
Người xem và đám phóng viên nhốn nháo cả lên, ai cũng cố nghển cổ nhìn cho rõ. Chánh án Waldman giận dữ đập búa lia lịa để giữ trật tự.
Chánh án Waldman nhìn cô với vẻ mặt mà cô không hiểu nổi. Một nhân viên phục vụ vội chạy đến nhặt các vũ khí rơi vãi lên. Jennifer xua tay:
- Cám ơn. - Cô nói - Để tôi dọn cũng được.
Dưới sự theo dõi của các thẩm phán và những người tham dự phiên tòa. Jennifer quỳ xuống và bắt đầu nhặt những vũ khí vương vãi trên sàn cho vào hộp. Cô làm việc đó một cách chậm rãi, ngắm nghía mỗi thứ một tí trước khi bỏ vào hộp. Các thẩm phán đã ngồi xuống nhưng vẫn chăm chú theo dõi Jennifer. Phải mất đến 5 phút cô mới nhặt hết đống vũ khí, trong khi đó chưởng lý Di Silva ngồi nhìn tức tối.
Sau khi đã bỏ chiếc dao cuối cùng vào hộp, Jennifer đứng dậy, nhìn Patterson, rồi quay sang nói với Di Silva:
- Mời ngài đối chất.
- Không cần. - Chưởng lý đáp cụt lủn.
- Vậy thì tôi muốn gọi Abraham Wilson lên bục khai!
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 8
- Tên anh là gì?
- Abraham Wilson
- Anh có thể nói to hơn được không?
- Abraham Wilson.
- Anh Wilson, có phải anh đã giết Raymond Thorpe không?
- Có, thưa cô.
- Anh có thể nói cho tòa biết lý do được không?
- Nó định giết tôi.
- Raymond Thorpe nhỏ con hơn anh nhiều. Anh có thật sự tin rằng anh ta có thể giết được anh không?
- Hắn ta cầm trong tay một con dao và vì thế cũng cao chả kém gì tôi.
Jennifer đã giữ lại hai vật trong hộp đựng vũ khí.
Một con dao nhọn và một chiếc kéo lưỡi dài. Cô giơ con dao lên:
- Có phải đây là con dao mà Raymond Thorpe định dùng để giết anh không?
- Phản đối. Bị cáo làm sao mà biết được…
- Tôi xin đặt lại câu hỏi. Con dao này có giống với con dao mà Raymond Thorpe dùng để dọa anh không?
- Có, thưa cô.
- Anh có xích mích gì với Thorpe trước đó không?
- Có thưa cô.
- Và khi anh ta tiến đến chỗ anh với con dao trên tay, anh buộc phải giết anh ta để tự vệ phải không?
- Vâng, thưa cô.
- Cám ơn anh.
Jennifer quay sang Di Silva:
- Ngài có thể hỏi.
Robert Di Silva từ từ đứng dậy.
- Anh Wilson, trước kia anh đã từng giết người phải không? Tôi muốn hỏi đây không phải là lần đầu tiên anh giết người chứ?
- Tôi đã phạm tội và tôi đang phải trả giá đây. Tôi…
- Xin anh đừng sám hối ở đây. Anh trả lời có hay không nào?
- Có nghĩa là một mạng người không có nghĩa lý gì đối với anh phải không?
- Không phải thế. Tôi…
- Anh có định coi việc giết hại người là quý trọng sinh mạng con người không? Anh thích giết bao nhiêu nếu anh không còn coi mạng người ra gì nữa? Năm, mươi hay hai mươi?
Ông ta đặt bẫy Abraham Wilson và anh ta mắc ngay vào đó. Anh ta nghiến chặt hàm răng, mắt long lên vì giận dữ.
- Tôi chỉ giết có hai người.
- Chỉ có? Anh chỉ giết có hai người? - Chưởng lý lắc đầu tỏ vẻ kinh sợ. Ông ta tiến đến gần bị cáo và nhìn anh ta chằm chằm. - Tôi cuộc là anh luôn có cảm giác là người mạnh vì th.ân thể to lớn của mình. Có lẽ anh thấy mình giống như một chúa trời bé nhỏ. Khi nào anh thích, anh có thể lấy đi một mạng sống ở nơi này nơi khác.
Abraham Wilson vươn thẳng người lên:
- Ông là đồ chó đẻ.
- Đừng! - Jennifer cầu nguyện. - Đừng làm như vậy!
- Ngồi xuống. - Di Silva quát lên. - Có phải đó là kiểu tức giận mà vì thế anh đã giết Raymond Thorpe không?
- Thorpe định giết tôi.
- Với con dao này à
- Robert Di Silva giơ con dao lên.
- Tôi tin chắc là anh có thể đoạt được nó từ tay anh ta dễ dàng.
Abraham Wilson nhỏ nhẹ đáp:
- Vậy ông đi mà thử đi?
Phiên tòa nghỉ trong 8 tiếng trước khi kết án.
Robert Di Silva và các cộng sự của mình rời phòng xử án để nghỉ, nhưng Jennifer vẫn ngồi nguyên tại chỗ, không đủ sức đứng dậy nữa.
Khi đoàn hội thẩm đã rời ra ngoài hết, Ken Bailey đi đến chỗ Jennifer.
- Uống chút cà phê nhé?
- Tôi không thể nuốt được bất cứ cái gì lúc này đâu.
Cô ngồi lặng trong phòng, đắm chìm trong suy nghĩ và hầu như không để ý đến những người xung quanh.
Mọi chuyện đã kết thúc. Cô đã làm hết sức mình. Cô cố cầu nguyện nhưng trong lòng vẫn rất lo lắng. Cô có cảm tưởng như mình và Abraham Wilson sắp bị kết án tử hình.
Đoàn hội thẩm đã quay trở lại, mặt đầy vẻ trầm trọng và suy tư. Tim Jennifer bắt đầu đập nhanh hơn.
Cô có thể thấy trên nét mặt họ ý định sẽ tuyên án tử hình. Cô sợ mình sẽ ngất đi mất. Chỉ vì cô mà một người sắp bị giết. Đáng ra cô không được tham gia vào vụ này mới phải. Cô có quyền gì quyết định sinh mạng của một người. Cô thật là điên rồ khi nghĩ rằng có thể thắng được một người đầy kinh nghiệm như Robert Di Silva. Cô muốn xông lên chỗ đoàn hội thẩm và nói trước khi họ kết án. Hãy đợi đã! Abraham Wilson không được xử một cách công bằng. Hãy để một trạng sư khác cãi cho anh ta. Một người nào đó giỏi hơn tôi ấy. Nhưng đã quá muộn rồi, Jennifer nhìn trộm khuôn mặt Abraham Wilson. Anh ta ngồi bất động như một pho tượng. Cô không còn thấy vẻ thù hận của anh nữa, chỉ còn lại vẻ tuyệt vọng sâu xa. Cô muốn nói vài lời để an ủỉ anh, nhưng không tìm ra được.
Chánh án Waldman bắt đầu:
- Đoàn hội thẩm đã đưa ra lời phán quyết cuối cùng chưa?
- Đã, thưa chánh án.
Chánh án gật đầu và viên thư lại của tòa đi đến chỗ người đứng đầu của đoàn hội thẩm, lấy từ ông ta một tờ giấy và trao lại cho ông. Jennifer thấy tim mình như sắp nhảy ra ngoài lồng ngực. Cô không thở được nữa. Cô chỉ muốn giờ phút này kéo dài mãi mãi, để khỏi phải nghe lời tuyên án.
Chánh án Waldman đọc kỹ tờ giấy trong tay; sau đó ông chậm rãi nhìn quanh phòng xử án. Ông dừng lại ở đoàn hội thẩm, ở Robert Di Silva, Jennifer và cuối cùng là Abraham Wilson.
- Xin mời bị cáo đứng dậy.
Abraham Wilson chậm rãi đứng lên, mệt mỏi và uể oải như thể anh ta không còn chút năng lượng nào trong người nữa.
Chánh án Waldman bắt đầu đọc:
- Phiên tòa này cho rằng bị cáo Abraham Wilson không phạm tội như bị buộc tội.
Cả phòng xử án lặng đi một lúc và những câu nói tiếp sau của chánh án bị chìm đi trong tiếng ồn ào của mọi người.
Jennifer đứng đó, choáng váng và không tin vào tai mình nữa. Cô quay sang Abraham Wilson, giọng nghẹn lại. Anh ta nhìn cô một lát với cặp mắt ti hí xấu xí. Và rồi khuôn mặt sứt sẹo đó nở một nụ cười thoải mái mà Jennifer chưa từng thấy. Anh ta cúi xuống ôm lấy Jennifer và cô phải cố lắm mới cầm được nước mắt.
Giới phóng viên lập tức vây quanh Jennifer, yêu cầu cô tuyên bố và đặt hàng loạt câu hỏi.
- Cô thấy thế nào khi thắng được ngài chưởng lý?
- Cô có nghĩ là cô sẽ thắng vụ này không.
- Cô sẽ làm gì nếu họ đưa Wilson lên ghế điện?
Jennifer chỉ lắc đầu. Cô không thể nói chuyện với họ lúc này được. Họ đến đây để xem một vở kịch, xem cảnh một con người bị dồn đến chỗ chết như thế nào.
Nếu lời phán quyết khác đi… Cô không dám nghĩ đến chuyện đó. Jennifer bắt đầu thu xếp giấy tờ và nhét chúng vào cặp.
Một viên mõ tòa đi đến chỗ cô:
- Chánh án Waldman muốn gặp cô tại phòng của ngài, thưa cô Parker.
Cô đã quên mất rằng mình có thể bị phạt vì tội lăng mạ tòa, nhưng bây giờ ngay cả chuyện đó cũng chẳng có gì là quan trọng nữa. Vấn đề chủ yếu là cô đã cứu được mạng sống của Abraham Wilson.
Jennifer liếc sang bên nguyên cáo. Chưởng lý Di Silva đang cáu kỉnh nhét giấy tờ vào cặp và quát mang một trợ lý của mình. Ông ta bắt gặp cái nhìn của cô và hiểu tất cả.
Chánh án Lawrence Waldman đang ngồi bên bàn khi Jennifer bước vào. Ông nói cụt lủn.
- Ngồi xuống cô, Parker.
Cô ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông.
- Tôi không cho phép cô hoặc bất kỳ một ai biến phòng xử án của tôi thành một rạp hát.
Jennifer đỏ mặt:
- Tôi có lỗi. Tôi đã không kìm được.
Chánh án Waldman giơ một tay lên:
- Thôi, xin đủ!
Jennifer lập tức cắn chặt môi.
Chánh án Waldman ngồi ngả về phía trước:
- Một điều nữa tôi không thể dung thứ là sự thô lỗ trước tòa.
Jennifer uể oải nhìn ông, không nói không rằng.
- Cô đã vượt quá giới hạn trong buổi chiều hôm nay. Tôi nhận thức rằng nhiệt tình quá đáng của cô xuất phát từ lòng mong muốn cứu vớt sinh mạng một con người. Vì thế, tôi quyết định không kiện cô về tội lang mạ tòa.
- Xin cám ơn ngài chánh án!
Jennifer miễn cưỡng nói. Khuôn mặt ông ta vẫn kín như bưng khi ông tiếp tục nói:
- Thường thường, khi một vụ án kết thúc tôi luôn có cảm giác là công lý có được thực hiện hay không. Trong vụ này, thành thật mà nói, tôi không chắc về điều đó.
Jennifer chờ ông nói tiếp.
- Đó là tất cả những gì tôi muốn nói, cô Parker.
Trên báo chí và ti vi tối hôm đó, Jennifer lại xuất hiện trở lại, nhưng lần này cô là nhân vật anh hùng. Cô là David của giới luật đã quật ngã gã khổng lồ Goliath. Hình của cô cùng với Abraham Wilson và chưởng lý Di Silva được đăng trên trang nhất. Jennifer đọc ngấu nghiến tin tức về mình, nhấm nháp chúng một cách thú vị. Đó quả là một chiến thắng ngọt ngào sau bao nhiêu tủi nhục mà cô phải trải qua.
o O o
Ken Bailey dẫn cô đến nhà hàng Luchon để ăn mừng. Ở đó ông chủ quán và nhiều khách hàng đã nhận ra cô. Nhiều người lạ gọi tên cô và đến chúc mừng. Thật là một buổi tối hạnh phúc.
- Cô thấy vui sướng chứ? - Ken cười hỏi.
- Tôi chả cảm thấy gì hết.
Có ai đó gửi một chai vang đến bàn hai người.
- Tôi chả cần uống gì nữa đâu, Jennifer nói. - Tôi thấy như đã say rồi đấy.
Nhưng thực ra cô đang khát và uống cạn ba cốc rượu, trong khi kể lại diễn biến ở phiên tòa cho Ken.
-Tôi thật sợ quá. Anh có biết tôi cảm thấy gì khi nắm trong tay tính mạng của một người không? Giống như là đóng vai trò của Đức Chúa trời ấy. Anh có thể nghĩ ra điều gì dễ sợ hơn thế không? Ta uống một chai nữa chứ Ken?
- Cô muốn gì cũng được.
Ken gọi một bữa thịnh soạn cho cả hai, nhưng Jennifer quá phấn khích đến độ chẳng ăn chút nào cả.
- Anh có biết Abraham Wilson nói gì với tôi, khi tôi gặp anh ta lần đầu tiên không? Anh ta nói:
- Chúng ta hãy thay đổi màu da cho nhau đi, rồi tôi đã mang cùng màu da với anh ta, và anh có biết không? Tôi nghĩ rằng đoàn hội thẩm sẽ xét xử tôi. Tôi cảm thấy như mình sắp bị xử tử. Tôi yêu Abraham Wilson. Ta uống nữa chứ nhỉ?
- Cô đã đụng tí thức ăn nào đâu?
- Tôi chỉ khát thôi.
Ken lo ngại nhìn Jennifer tiếp tục rót đầy rượu vào cốc.
- Cẩn thận đấy nhé.
Cô phẩy tay:
- Đó là rượu vang California đấy mà. Uống như nước lã thôi. - Cô uống một hớp nữa. - Anh là người bạn tốt nhất của tôi. Thế anh có biết ai không phải là bạn tốt nhất của tôi không? Ngài Robert Di Silva đáng kính đấy.
- Di Silva à?
- Đúng vậy. Ông ta ghét tôi ghê lắm. Anh có để ý khuôn mặt ông ta ngày hôm nay không. Ô, ông ta đã phát điên lên đấy. Ông ta dọa sẽ đuổi tôi ra khỏi tòa nhưng ông ta không làm được điều đó, phải không nhỉ?
- Không, ông ta…
- Anh có biết tôi nghĩ gì? Anh có biết tôi thật sự nghĩ gì không?
- Di Silva nghĩ rằng tôi là Ahab và ông ta là con cá voi trắng.
- Nhưng thực ra không phải thế.
- Cám ơn, Ken. Tôi lúc nào cũng có thể dựa vào anh.
- Làm chai nữa nhỉ?
Cô vẫn chưa thấy đủ hay sao?
- Cá voi hay khát nước lắm, - Jennifer khúc khích cười.
- Đó chính là tôi, chú cá voi trắng khổng lồ. Tôi đã nói với anh là tôi yêu Abraham Wilson chưa nhỉ. Anh ấy là người đàn ông đẹp nhất mà tôi từng gặp. Tôi nhìn vào mắt anh ấy, Ken ạ, anh ấy tuyệt vời. Anh đã bao giờ nhìn vào mặt Di Silva chưa? Ô hô, lạnh lẽo lắm. Ông ấy như là một tảng băng ý. Nhưng ông ấy không phải là người xấu đâu. Tôi yêu tất cả mọi người. Anh có biết tại sao không Ken. Vì Abraham Wilson còn sống tối nay. Anh ta không bị giết. Hãy uống một chai nữa để mừng anh ta nhé?
Khi Ken Bailey đưa Jennifer về nhà đã là hai giờ sáng. Anh giúp cô leo lên bốn tầng gác tới căn phòng nhỏ bé của cô.
Tới nơi, anh thở hổn hển vì mệt.
- Cô biết không, - Ken nói - Tôi đã thấy hậu quả của bữa rượu rồi đấy.
Jennifer nhìn anh thương hại:
- Ai không uống được thì đừng có cố.
Nói xong, cô xỉu luôn.
o O o
Cô thức dậy vì tiếng điện thoại réo gay gắt. Cô cẩn thận nhấc ống nghe lên và cử động đó làm cô đau hết mình mẩy.
- Jennifer đấy à? Ken đây.
- A, chào Ken.
- Nghe giọng cô ghê quá. Cô không làm sao chứ?
Cô nghĩ một chút.
- Tôi mệt quá. Mấy giờ rồi nhỉ?
- Gần trưa rồi đấy. Tốt nhất cô hãy đến sở đi.
- Ken. Tôi sợ tôi sắp chết mất.
- Hãy nghe đây. Hãy ra khỏi gi.ường, từ từ thôi, uống hai viên aspirin, tắm nước lạnh và uống một cốc cà phê nóng. Sau đó chắc cô sẽ sống lại ngay.
Một tiếng sau, khi Jennifer đến văn phòng, cô thấy đỡ hơn. Chưa khoẻ hắn, nhưng đỡ hơn, cô nghĩ.
Hai máy điện thoại đều đổ chuông khi cô bước vào phòng.
- Tất cả đều gọi cô đấy, - Ken cười. - Họ gọi liên tục. Cô cần có một tổng đài riêng mất.
Báo chí, tivi và đài phát thanh đều gọi điện đến yêu cầu được viết bài về cuộc đời cô. Chỉ qua một đêm cô đã trở nên nổi tiếng. Có những cú điện thoại khác nữa, những cú mà cô đã mơ ước được nhận. Các công ty luật đã từ lâu từ chối cô, nay hỏi xem khi nào cô có thể gặp họ được.
o O o
Tại văn phòng của mình ở trung tâm thành phố, Robert Di Silva rên rỉ với trợ lý thứ nhất của mình:
- Tôi yêu cầu anh bí mật theo dõi Jennifer Parker. Tôi muốn được biết về các khách hàng của cô ta. Hiểu chứ?
- Vâng, thưa ngài.
- Hành động đi.
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 9
T
rong nhà bếp của một trang trại kiểu Hà Lan ở bang New Jersey có ba người đàn ông đang nói chuyện: Nick Vito, Joseph Colella và Salvatore Fiore "Bông hoa nhỏ". Có người đã từng gọi Colella là vườn rau: Colella có mũi hình củ khoai tây, đôi tai như xúp-lơ và óc bã đậu. Colella nói giọng cao, nhỏ nhẹ và tính cách tưởng như là hào hoa. Hắn có vợ và 6 con. Chuyên nghề của hắn là dùng súng, axít và dây xích. Vợ hắn, Carmelina, là một người thiên chúa sùng đạo và vào chủ nhật hàng tuần, khi Colella không hoạt động, hắn thường đưa vợ con đến nhà thờ.
Người thứ ba, Salvatore Fiore, khá nhỏ bé. Hắn cao 1, 57m và nặng 52kg. Hắn có khuôn mặt ngây thơ như cậu lễ sinh tại giáo đường và cũng quen dùng súng hoặc dao. Phụ nữ rất thích gã đàn ông bé nhỏ đó và hắn có một vợ, nửa tá bồ bịch và một cô tình nhân xinh đẹp. Fiore đã từng tham gia đua ngựa trên chặng đường từ Pimlico đến Tijuana. Khi một uỷ viên hội đồng đua ngựa tại công viên Hollywood đuổi Fiore vì đã dùng chất k.ích th.ích cho ngựa, một tuần sau xác của ông ta được tìm thấy đang trôi nổi trên hồ Tahoe.
Cả ba tên đều là quân trong gia đình Antonio Granelli, nhưng chính Michael Moretti đã mua chúng và chúng đã thuộc về y, cả linh hồn cũng như thể xác.
Cuộc họp của gia đình đang diễn ra trong phòng ăn.
Ngồi chủ toạ bàn họp là Antonio Granelli, ca-phô (1) của gia đình mafia mạnh nhất ở bờ biển phía đông. Ở tuổi 72, ông ta vẫn là người trông còn tráng kịên với đôi vai và bộ ngực rộng của một người lao động, cùng mớ tóc trắng bù xù. Sinh trưởng tại Palermo ở đảo Sicily. Năm 15 tuổi, Antonio Granelli đến Mỹ và làm việc tại bến cảng phía tây thuộc khu dưới Manhattan. Đến 21 tuổi, anh ta đã là người thay thế ông chủ cầu cảng. Hai người đã tranh cãi nhau và khi ông chủ bí ẩn biến mất, Antonio Granelli thay thế. Bất cứ ai muốn làm việc ở cầu cảng đều phải trả tiền cho anh ta. Anh ta đã dùng tiền để leo dần lên bậc thang quyền lực và đã mở rộng nhanh chóng vào các ngành như lừa gạt nợ, tống tiền, mãi dâm, cờ bạc, thuốc phiện và giết người. Trong những năm qua, Granelli đã bị truy tố 32 lần và chỉ bị kết án nhẹ một lần về tội hành hung. Granelli là kẻ nhẫn tâm, hoàn toàn phi đạo lý với tính xảo quyệt thực tế của một người nông dân.
Ngồi bên trái Granelli là Thomas Colfax, cố vấn của gia đình. Trước đây 25 năm, tương lai Colfax đầy xán lạn khi làm luật sư cho một tổ hợp, nhưng ông ta đã bảo vệ cho một công ty nhỏ kinh doanh dầu ôliu mà sau hoá ra là do mafia kiểm soát, và dần dần ông đã bị dẳn dắt vào giải quyết các vụ việc khác cho mafia, đến khi cuối cùng qua nhiều năm, gia đình Granelli trở thành khách hàng riêng của ông ta. Đó là một khách hàng rất có lợi và Thomas Colfax đã trở nên một kẻ giàu có với số bất động sản ngày càng nhiều và tài khoản ngân hàng trên khắp thế giới.
Phía bên phải Antonio Granelli là Michael Moretti, con rể ông ta: Michael đầy tham vọng, đó là điểm làm cho Granelli lo lắng. Michael không hợp với mẫu người trong gia đình. Cha y, Giovanni, có họ xa với Antonio Granelli, không phải sinh ở Sicily mà ở Florence. Chỉ riêng điều đó đã làm cho gia đình Granelli phải nghi ngờ, vì mọi người đều biết rằng người Florence không đáng tin cậy.
Giovanni Moretti đến Mỹ và mở một cửa hàng làm giày kinh doanh rất trung thực và thậm chí không hề có phòng hậu dành cho đánh bạc, lừa gạt nợ hoặc gái. Điếu đó khiến mọi người coi ông ta như kẻ ngớ ngẩn.
Con trai Giovanni là Michael lại hoàn toàn khác. Y có chí vào học tại trường kinh doanh Wharton và Yale. Khi tốt nghiệp, Michael đến gặp bố với một yêu cầu được gặp Antonio Granelli và họ hàng xa của y. Người làm giày già nua đến gặp họ hàng ông ta và đã sắp xếp được cuộc gặp gỡ. Granelli chắc rằng Michael sẽ hỏi vay tiền để kinh doanh một công việc nào đó, có thể như mở một cửa hàng giày giống như người cha lầm lì của y. Nhưng cuộc gặp gỡ mang đầy ngạc nhiên.
- Tôi biết cách làm cho ông giàu có, - Michael Moretti bắt đầu câu chuyện.
Antonio Granelli nhìn vào gã trai trẻ lấc cấc và cười mỉm độ lượng.
- Tôi giàu rồi.
- Không. Đó là ông nghĩ vậy thôi.
Nụ cười chợt biến mất.
- Mày đang nói cái gì vậy, nhóc?
Và Michael Moretti đã mách bảo cho ông ta.
Đầu tiên, Antonio Granelli hành động rất thận trọng, thử kỹ từng phần lời khuyên của Michael. Mọi việc đều đã thành công rực rỡ. Trước đây, gia đình Granelli chỉ quan tâm đến những hoạt động bất hợp pháp mang lại lợi nhuận, thì nay dưới sự giám sát của Michael Moretti, công việc được mở rộng ra các ngành khác. Trong vòng 5 năm, gia đình Granelli đã lao vào nhiều công việc kinh doanh hợp pháp, bao gồm việc đóng hộp thịt, cung cấp vải lãnh, mở các cửa hàng ăn, các công ty vận tải và các hiệu được phẩm. Michael đã tìm ra các công ty gặp khó khăn về tài chính và gia đình đầu tư vào với tư cách là bên góp cổ phần thứ yếu và dần dần kiểm soát, tước đoạt hết mọi tài sản hiện có tại công ty. Các công ty lâu năm có danh tiếng hoàn hảo bỗng nhiên tự thấy bị phá sản. Các công việc kinh doanh đó đã đưa đến một lợi nhuận khá thoả mãn và Michael tiếp tục duy trì, nâng lợi nhuận lên rất cao, bởi vì các công nhân làm việc tại đó bị công đoàn của y chi phối và công ty lại mua bảo hiểm thông qua một trong những công ty bảo hiểm của gia đình, đồng thời họ lại mua ôtô từ một trong những hãng buôn bán ôtô của gia đình. Michael đã tạo ra một hệ thống khổng lồ gồm một loạt công việc kinh doanh, qua đó người tiêu dùng luôn bị bòn rút và số tiền đó chảy vào túi của gia đình.
Mặc dù đạt được nhiều thành công nhưng Michael Moretti luôn biết rằng y luôn có vấn đề. Một khi y đã chỉ cho Antonio Granelli thấy sự giàu có, đó là chân trời xán lạn của các xí nghiệp hợp pháp thì Granelli không còn cần y nữa. Y cũng giàu có bởi ngay từ ban đầu y đã thuyết phục được Antonio Granelli dành cho y một số phần trăm lợi nhuận và người ta tưởng là không đáng kể. Nhưng khi các ý kiến của Michael bắt đầu mang lại kết quả và lợi nhuận đổ vào, Granelli đã suy nghĩ lại. Tình cờ Michael được biết là Granelli đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận vấn đề liệu gia đình nên làm gì đối với y.
- Tôi không muốn thấy toàn bộ số tiền đó rơi vào tay thằng nhóc - Granelli nói - Chúng ta phải loại trừ hắn:
Michael đã làm hỏng kế hoạch đó bằng cách cưới xin để lọt vào gia đình. Rosa, con gái duy nhất của Antonio Granelli đã 19 tuổi. Mẹ cô chết trong khi sinh cô. Rosa được nuôi dưỡng trong tu viện và chỉ được phép về thăm nhà vào ngày lễ. Bố cô rất yêu quý cô, ông luôn chăm lo đến việc cô được bảo vệ và che chở.
Rosa đã gặp Michael Moretti vào kỳ nghỉ lễ phục sinh.
Đến khi trở lại tu viện, cô đã yêu y say đắm. Ký ức về khuôn mặt đẹp trai hơi ngăm ngăm của y đã khiến cô, khi ở một mình, làm những điều mà các nữ tu sĩ đã bảo cô là tội lỗi phỉ báng chúa.
Antonio Granelli đã tưởng rằng con gái ông coi ông chỉ là một nhà kinh doanh có tài, nhưng năm tháng qua, bạn bè cùng lớp Rosa đã cho cô xem những bài báo và tạp chí về bố cô, và công việc thực sự của ông.
Và bất cứ khi nào chính phủ định truy tố hay kết án ai trong gia đình Granelli, Rosa đều biết được. Cô không hề bàn cãi điều này với bố, bởi vậy ông vẫn vui mừng tin rằng con gái còn thơ ngây, và cô sẽ tránh được con sốc của sự thật.
Nếu như ông biết, sự thực có lẽ làm Granelli ngạc nhiên, bởi vì Rosa thấy công việc của bố cực kỳ thú vị.
Cô căm ghét kỷ luật của các tu sĩ tại tu viện và điều đó dẫn đến việc cô ghét tất cả mọi chính quyền. Cô luôn mơ mộng về bố cô như là Robin Hood, thách thức mọi cường quyền, chống lại chính phủ. Việc Michael Moretti là một nhân vật quan trọng trong tổ chức của bố cô, đã khiến y hấp dẫn hơn nhiều đối với cô.
Ngay từ đầu, Michael đã rất thận trọng trong việc đối xử với Rosa. Khi y ở một mình với cô, họ thường ôm hôn nhau thắm thiết nhưng Michael không bao giờ để việc đó đi quá xa. Rosa đang còn con gái nhưng cô sẵn sàng, thậm chí nóng lòng trao cuộc đời của cô cho người mà cô yêu. Michael là người đã kiềm chế được.
- Anh quá tôn trọng em, Rosa, nên không thể ăn nằm cùng em trước khi cưới.
Thực sự người mà y quá tôn trọng lại là Antomo Granelli. Hắn sẽ thiến ta mất, Michael nghĩ. Và sự việc đó xảy ra vào lúc Antomo Granelli đang bàn cách tốt nhất để loại bỏ Michael Moretti. Michael và Rosa đã đến gặp ông, nói rằng họ yêu nhau, và dự định sẽ cưới.
Ông già tức giận hét lên và đưa ra hàng trăm lý do rằng điều đó chỉ có thể xảy ra khi một trong hai người chết. Nhưng cuối cùng, tình yêu chân chính đã chiến thắng, Michael và Rosa đã tổ chức cưới với nghi lễ trọng thể.
Sau đám cưới, ông già gọi Michael đến bên.
- Rosa là tất cả những gì tao có, rõ chưa, Michael. Mày sẽ chăm sóc nó chu đáo chứ?
- Vâng, thưa bố!
- Tao sẽ phải theo sát mày. Mày nên làm cho nó hạnh phúc. Mày biết tao muốn gì chứ, Mike?
- Con biết ạ.
- Không được chơi gái, hiểu chưa? Rosa rất thích nấu nướng. Mày nhớ phải ở nhà ăn tối thường xuyên. Mày phải là một đứa con rể đáng được tự hào.
- Con sẽ cố gắng nhiều, thưa bố.
Antonio Granelli nói thản nhiên:
- Này, Michael, bây giờ mày đã là một thành viên của gia đình, nên những thoả thuận về số tiền lợi nhuận cho mày có lẽ cần phải thay đổi.
Michael vỗ nhẹ lên tay ông:
- Con cám ơn bố, nhưng số đó cũng đủ cho chúng con rồi. Con sẽ có thể mua cho Rosa mọi thứ mà cô ấy muốn.
Sau đó y bỏ đi, để mặc ông già nhìn theo.
Điều đó đã xảy ra cách đây 7 năm và những năm tiếp theo rất tuyệt vời đối với Michael. Rosa rất thoải mái, dễ sống cùng và cô ngưỡng mộ y nhưng Michael biết rằng, nếu như cô ta chết, hoặc bỏ đi, y có thể tiếp tục sống mà không cần có cô. Y có thể tìm dễ dàng một người khác làm mọi điều mà cô ta đã làm cho y không yêu Rosa. Michael không hề nghĩ rằng y có thể yêu một con người khác. Điều đó như là không tồn tại trong y.
Y không hề có tình cảm đối với mọi người, ngoài các con thú. Khi tròn 10 tuổi, Michael đã được tặng một con chó chăn cừu nhỏ. Từ đó cả hai luôn gắn liền với nhau. Sáu tuần sau, con chó đã bị chết trong một tai nạn mà người lái xe bỏ chạy mất. Khi bố Michael định mua cho y một con chó khác, y đã từ chối. Y không bao giờ có một con chó khác kể từ khi đó.
Khi trưởng thành, Michael đã chứng kiến bố y phải làm nô lệ cả cuộc đời vì những đồng xu, và Michael đã quyết tâm để điều đó không bao giờ xảy ra đối với y.
Y đã biết những gì y muốn, kể từ lần đầu được nghe thấy người họ hàng xa nổi tiếng của y là Antonio Granelli. Có 26 gia đình mafia ở Mỹ, trong đó có 5 gia đình ở thành phố New York mà gia đình Antonio mạnh nhất. Từ thuở thơ ấu, Michael đã rất thích thú những câu chuyện về mafia. Bố y đã kể cho y nghe về đêm ngày 10-9-1931 ở vùng Vespers của người gốc Sicily khi cán cân quyền lực được chuyển giao. Chỉ trong tối hôm đó, những người trẻ tuổi gốc Thổ của tổ chức mafia đã gây ra cuộc lật đổ đẫm m.áu, giết chết hơn 40 người thuộc thế hệ già có gốc từ Ý và đảo Sicily.
Michael là người thuộc thế hệ mới. Y đã từ bỏ những suy nghĩ cũ và đã đưa ra những ý kiến đầy mới mẻ. Một Uỷ ban quốc gia gồm 9 người, hiện nay đã kiểm soát tất cả các gia đình và Michael biết rằng một ngày nào đó, y sẽ chỉ đạo Uỷ ban này.
Lúc này, Michael quay ra quan sát hai người đàn ông ngồi tại bàn trong phòng ăn ở trang trại New Jersey. Antomo Granelli còn sống được một vài nắm nữa, nhưng thật may mắn là không quá lâu.
Thomas Colfax là địch thủ. Gã luật sư này đã chống Michael ngay từ đầu. Khi ảnh hưởng của Michael đối với ông già tăng lên, thì ảnh hưởng của Colfax bị giảm đi Michael đã đưa ngày càng nhiều người của y vào trong tổ chức, những người như Nick Vito, Salvatore Fiore và Joseph Colella, tuyệt đối trung thành với y.
Thomas Colfax không thích điều này.
Khi Michael bị truy tố về tội đã giết anh em gia đình Ramos, và Camillo Stela đồng ý làm chứng chống lại y tại tòa án, gã luật sư già tin rằng cuối cùng gã sẽ loại trừ được Michael, bởi vì viên chưởng lý khu vực rất nghiêm khắc.
Michael đã nghĩ được kế thoát ra khỏi vụ án vào giữa đêm hôm đó. Lúc bốn giờ sáng, y đã đi đến trạm điện thoại tự động và gọi Joseph Colella.
- Tuần sau có vài luật sư mới sẽ tuyên thệ nhậm chức trong văn phòng viên chưởng lý quận. Mày có thể cho tao biết tên của chúng được không?
- Tất nhiên! Mike. Dễ thôi.
- Còn điều này nữa. Hãy gọi cho nhóm ở Detroit và thu xếp chuyến bay cho chúng. Bố trí một tên chưa từng bị theo dõi.
Sau đó Michael gác máy.
Hai tuần sau, Michael Moretti ngồi trong phòng xét xử quan sát những người trợ lý của viên chưởng lý quận y xem xét họ một cách kỹ lưỡng, đảo mắt tới từng khuôn mặt vừa tìm kiếm, vừa tỉnh táo. Điều mà y dự định làm rất nguy hiểm, nhưng can đảm thì có thể làm được. Y đang phải đương đầu với những người tập sự trẻ tuổi, mà họ thường lo lắng không dám đưa ra quá nhiều câu hỏi, nhưng rất sẵn lòng giúp đỡ và muốn được nổi tiếng. Tất nhiên sẽ phải làm cho ai đó trở nên nổi tiếng.
Cuối cùng Michael đã lựa chọn Jennifer Parker. Y rất thích thú trước việc cô ta chưa từng trải, luôn tỏ ra căng thẳng và đang cố gắng che giấu điều đó. Y cũng cho rằng đàn bà thường bị nhiều sức ép hơn đàn ông.
Khi Michael hài lòng với quyết định của mình, y quay sang gã đàn ông mặc bộ đồ màu xám ngồi giữa những người tham dự phiên tòa và gật đầu về phía Jennifer.
Tất cả chỉ có vậy!
Michael đã quan sát viên chưởng lý quận kết thúc việc kiểm tra chứng cứ đối với tên chó đẻ Camillo Stela.
Ông ta quay sang Thomas Colfax và nói:
- Xin mời người đối chất của ông.
Thomas Colfax đứng dậy.
- Nếu như ngài cho phép, tôi không muốn cuộc đối chất của tôi bị ngắt quãng vì giờ đã gần trưa rồi. Tôi có thể yêu cầu tòa tạm dừng để nghỉ trưa và tôi sẽ đối chất vào buổi chiều được không?
Sau đó tòa "tạm nghỉ". Và bây giờ đã đến lúc hành động! Michael trông thấy người của y thản nhiên trôi vào dòng người vây quanh viên chưởng lý quận, gã đó đã nhập vào một nhóm người. Một lúc sau gã đi về phía Jennifer và đưa cho cô ta một phong bì lớn. Michael vẫn ngồi đó, nín thở, thầm cầu mong Jennifer cầm lấy phong bì đi về phía phòng nhân chứng. Cô ta đã làm đúng như vậy. Mãi đến khi Michael trông thấy cô ta quay lại tay không, thì y mới cảm thấy nhẹ nhõm.
Chuyện đó đã xảy ra cách đây một năm. Báo chí đã làm ầm ĩ về cô gái, nhưng đó là việc của cô ta. Michael không hề nghĩ gì nữa về Jennifer Parker. Cho đến khi gần đây báo chí lại bắt đầu viết về phiên tòa Abraham Wilson. Báo chí đưa lại trường hợp cũ của vụ Michael Moretti và vai trò của Jennifer Parker, trong đó họ chụp cả ảnh của cô. Cô ta trông rất hấp dẫn, nhưng còn một điều nữa là cảm giác về tính tự chủ của cô đã gây được ấn tượng đối với y. Y đã nhìn ảnh đó rất lâu.
Michael bắt đầu theo dõi phiên tòa Abraham Wilson với một sự thích thú ngày càng tăng. Khi chúng kỷ niệm thắng lợi tại bữa ăn sau khi Michael được tuyên bố trắng án, Salvatore Fiore đã nâng cốc chúc mừng:
- Thế giới này đã loại trừ được một tên luật sư chết tiệt nữa. - Nhưng thực sự thế giới này không thể loại trừ được cô ta, Michael nghĩ. Jennifer Parker đã lại sức và vẫn còn ở đó để chống chọi. Michael rất thích thú điều đó.
Y đã xem cô ta trên vô tuyến vào tối hôm trước, thảo luận việc cô ta thắng Robert Di Silva và thật kỳ cục là Michael đã rất hài lòng.
Antomo Granelli đã hỏi:
- Thế cô ta không phải do mày dựng lên để nói lại những điều mày muốn à, Michael?
- Ô, nhưng cô ta cũng có suy nghĩ riêng, bố ạ. Có thể chúng ta sẽ sử dụng cô ấy vào một ngày gần đây.
Chú thích
(1) Thủ lĩnh (tiếng Ý)
 

heokool

Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?
Thành viên thân thiết
Tham gia
22/9/2011
Bài viết
14.934
CHƯƠNG 10
Một ngày sau khi tuyên án vụ Abraham Wilson, Adam Warner đã gọi điện đến.
- Tôi chỉ muốn điện thoại để chúc mừng cô.
Jennifer đã nhận ra ngay giọng anh và nó đã gây ấn tượng hơn là cô tưởng.
- Tôi là…
- Tôi biết rồi - Lạy chúa, Jennifer nghĩ - Mình đã nói gì vậy? Không có lý gì để cho Adam biết là trong những tháng qua cô đã từng nghĩ đến anh như thế nào.
- Tôi muốn nói rằng tôi nghĩ cô đã giải quyết vụ Abraham Wilson rất tuyệt. Cô thật xứng đáng đạt được điều đó.
- Cảm ơn anh. - Anh ấy sắp gác máy mất. Jennifer thầm nghĩ. Mình sẽ không bao giờ được gặp lại anh ấy mất. Có lẽ anh ấy quá bận rộn với gia đình.
Nhưng Adam Warner nói tiếp:
- Tôi đang tự hỏi liệu cô có thể đi ăn tối với tôi vào một hôm nào đó được không?
Đàn ông thường không thích những cô gái quá dễ dãi. Jennifer nghĩ nhưng vẫn nói:
- Tối nay, thì sao?
Jennifer nghe thấy tiếng cười trong giọng nói của anh ta.
- Tôi e rằng tối rỗi rãi đầu tiên của tôi lại là thứ sáu. Cô có bận không?
- Không. - Suýt nữa thì cô nói thêm "tất nhiên là không".
- Tôi sẽ đón cô tại nhà chứ?
Jennifer nghĩ đến căn hộ nhỏ bé tối tăm của mình với chiếc ghế dài lồi lõm và chiếc bàn để là đặt ở một góc.
- Tốt hơn là chúng ta nên hẹn nhau ở đâu đó.
- Cô có thích đồ án ở tiệm Lutece không?
- Tôi có thể nói cho anh biết sau khi tôi đã ăn ở đó được không?
Anh ta phá lên cười.
- Tám giờ tối nhé?
- Tốt thôi.
Tốt thôi. Jennifer gác ông nghe và ngồi yên với vẻ mặt đỏ ửng thẹn thùng. Thật nực cười, cô nghĩ. Có thể anh ta đã có vợ và vài tá con ấy chứ. Điều gần như đầu tiên mà Jennifer chú ý về Adam khi họ ăn tối trước đây là anh ta không đeo nhẫn cưới. Chứng cứ đó chưa thể kết luận được, cô nghĩ gượng gạo. Chắc cần phải có một bộ luật buộc mọi người chồng phải đeo nhẫn cưới.
Ken Bailey chợt bước vào phòng.
- Cô luật sư có khỏe không? - Anh ta nhìn kỹ cô hơn. - Trông cô như vừa bị khách hàng quấy rầy ấy.
Jennifer ngập ngừng giây lát, rồi nói:
- Ken này, anh có thể giúp kiểm tra một người cho tôi được không?
Anh bước lại bàn cô, lấy tập giấy và cái bút chì.
- Cô nói đi. Ai vậy?
Cô định nói tên của Adam, sau đó lại dừng lại và cảm thấy mình như bị khùng. Mình chõ mũi vào đời sống riêng tư của Adam Warner làm gì cơ chứ? Lạy chúa, cô tự nhủ, anh ấy chỉ mời mình ăn tối thôi mà, chứ có phải cưới anh ấy đâu. - À, không có gì đâu.
Ken đặt bút chì xuống.
- Thì cô nói gì cũng được.
- Ken này…
- Gì cơ?
- Adam Warner. Tên anh ta là Adam Warner.
Ken nhìn cô đầy vẻ ngạc nhiên.
- Trời đất ơi, cô không cần tôi kiểm tra anh ta làm gì. Chỉ cần đọc báo là rõ thôi.
- Anh biết gì về anh ta?
Ken Bailey ngồì phịch xuống ghế đối diện Jennifer và lồng các ngón tay vào nhau.
Để tôi xem xem. Anh ta có cổ phần trong công ty Needham, Finch, Pierce và Warner; tốt nghiệp đại học Luật ở Harvard; xuất thân từ gia đình nổi tiếng giàu có; ở giữa quãng tuổi từ 30 đến 40…
Jennifer tò mò nhìn anh.
- Làm sao anh biết về anh ta nhiều vậy.
Ken nhấp nháy mắt:
- Tôi có bạn bè giữ c.ương vị khá cao. Nghe nói là họ định đưa ông Warner ra tranh cử vào thượng nghị viện. Thậm chí họ còn có lúc muốn anh ta ra tranh cử tổng thống. Anh ta có mọi đức tính có thể thu hút được cử tri.
Anh ấy chắc chắn có, Jennifer thầm nghĩ. Cô cố gắng đặt câu hỏi tiếp theo tự nhiên hơn.
- Thế cuộc sống riêng tư của anh ta ra sao?
Ken Bailey nhìn cô một cách kỳ quặc.
- Anh ta lấy con gái một viên cựu Bộ trưởng hải quân. Cô vợ là cháu gái của Steward Needham, bạn cùng hành nghề luật với Warner.
Trái tim Jennifer như tan vỡ. Vậy ra là thế đó.
Ken quan sát cô, lo lắng.
- Vì sao bỗng nhiên cô lại quan tâm đến Adam Warner thế?
- Tôi chỉ tò mò một chút thôi.
Sau khi Ken Bailey đi khỏi, Jennifer ngồi lại nghĩ về Adam. Anh ấy mời mình ăn tối với tác phong nhã nhặn chuyên nghiệp. Anh ấy chỉ muốn chúc mừng mình thôi. Nhưng anh ấy đã làm như vậy qua điện thoại rồi mà. Không rõ vì sao lại thế nhỉ? Mình sẽ gặp lại anh ấy, không hiểu anh ấy liệu có nhắc đến việc anh ấy có vợ rồi không? Tất nhiên là không rồi. Thôi được mình sẽ đi ăn tối với Adam vào thứ sáu và sẽ chỉ có vậy thôi.
Cuối chiều hôm đó, Jennifer đã nhận được điện thoại gọi từ công ty "Peabody và Peabody". Người gọi điện chính là ông chủ cao cấp của hãng.
- Tôi định gọi cho cô từ lâu rồi. - Ông ta nói. - Tôi tự hỏi liệu cô có thể ăn trưa với tôi vào ngày gần đây được không?
Giọng nói bình thản của ông ta không lừa được Jennifer. Cô tin rằng ý nghĩ ăn trưa với cô không hề có trong ông ta, đến tận khi ông ta đã đọc được về quyết định vụ án Abraham Wilson. Chắc chắn không phải ông muốn gặp cô để thảo luận việc đưa các trát hầu tòa.
- Ngày mai nhé, - ông ta mời - Tại câu lạc bộ của tôỉ
Họ gặp nhau vào bữa cơm trưa hôm sau. Người cha thuộc hãng Peabody là một ông già xanh xao, giống như con trai ông nhưng có già hơn. Chiếc áo gi-lê không che giấu được cái bụng lép kẹp của ông ta.
Jennifer không hề cảm thấy thích ông già này cũng như đứa con trai của ông.
- Công ty của chúng tôi đang thiếu chỗ cho một luật sư trẻ, tài ba trong các vụ xét xử, thưa cô Parker. Chúng tôi có thể trả cho cô lương khởi điểm là 15 nghìn đô la một năm.
Jennifer ngồi đó lắng nghe ông ta, thầm nghĩ rằng một năm trước đây lời đề nghị đó thật đáng giá biết bao đối với cô, khi mà cô đang tuyệt vọng đi tìm việc và cần được ai đó đặt lòng tin vào khả năng của cô.
Ông ta nói tiếp:
- Tôi chắc trong một vài năm nữa sẽ có cổ phần cho cô trong hãng chúng tôi.
15 nghìn đô la một năm và được góp cổ phần.
Jennifer nghĩ về văn phòng nhỏ của cô chung với Ken và căn hộ phải leo bộ bốn tầng tồi tàn, chật chội của cô với bệ lò sưởi giả.
Ông Peabody cho sự im lặng của cô có nghĩa là đồng ý.
- Rất tốt. Chúng tôi muốn cô bắt đầu công việc càng sớm càng tốt. Có thể cô làm việc vào thứ hai. Tôi…
- Tôi không muốn.
- Ồ. Nếu như thứ hai không thuận tiện cho cô…
- Không, tôi muốn nói là tôi không thể chấp nhận đề nghị của ông, ông Peabody ạ. - Jennifer nói, và tự cô cũng thấy ngạc nhiên.
- Ra thế, ông ta im lặng một chút. - Có thể chúng tôi sẽ trả cô hai mươi nghìn đô la một năm vậy. - Ông ta thấy nét mặt cô thay đổi. "Hay 25 nghìn? Tại sao cô không cân nhắc việc này nhỉ? "
- Tôi đã cân nhắc rồi. Tôi sẽ tự mình tiếp tục công việc.
Khách hàng bắt đầu tìm đến. Tuy không được dồi dào nhưng vẫn có khách hàng. Văn phòng của cô trở nên quá nhỏ bé.
Vào một buổi sáng lúc Jennifer để hai khách hàng đợi bên ngoài ở lối vào, trong khi cô đang giải quyết công việc với người khách thứ ba, Ken đã bảo:
- Thế này không được rồi! Cô phải chuyển khỏi đây và kiếm một văn phòng tươm tất khác ở phố trên.
Jennifer gật đầu đồng ý.
- Tôi biết vậy. Tôi cũng đang nghĩ về việc đó.
Ken đang bận đọc một số giấy tờ, bởi vậy anh đã tránh được phải nhìn thẳng vào mắt cô.
- Tôi sẽ rất nhớ cô.
- Anh nói gì vậy? Anh phải chuyển cùng tôi chứ.
Những lời đó chìm đi trong một lúc. Anh ngước lên và nụ cười sảng khoái đã làm nhăn nhó khuôn mặt đầy tàn nhang của anh.
- Chuyển cùng cô ấy à? - Anh nhìn quanh căn phòng không cửa sổ chật hẹp. - Và bỏ tất cả những thứ này đi chứ?
Tuần tiếp theo, Jennifer và Ken Bailey rời đến văn phòng lớn hơn ở khu nhà 500 buồng ở đại lộ số Năm.
Khu nhà mới chỉ được trang bị đồ đạc sơ sài và có ba phòng nhỏ: một phòng cho Jennifer, một phòng cho Ken và một phòng cho người thư ký.
Người thư ký họ thuê là một là cô gái trẻ tên là Cynthia Eliman, vừa tốt nghiệp Đại học Tổng hợp New York.
- Thời gian đầu cô không có nhiều việc đâu, Jennifer xin lỗi, - nhưng mọi việc sẽ khá hơn.
- Ồ em tin như vậy, thưa chị Parker. - Giọng cô gái đầy vẻ tôn sùng.
Cô ta muốn trở thành người như mình, Jennifer thầm nghĩ. Lạy chúa, đừng để như vậy!
Ken Bailey bước vào phòng và nói:
- Này, tôi cảm thấy cô quạnh khi ở một mình trong văn phòng lớn như thế này. Ta có thể ăn tối và đi xem kịch được không?
Tôi e rằng tôi… - Cô hơi mệt mỏi và còn phải đọc một số bản tóm tắt vụ án, nhưng Ken là bạn thân nhất của cô, nên cô không thể từ chối anh được.
- Tôi rất muốn đi.
Họ đi xem vở Tràng vỗ tay hoan nghênh, và Jennifer rất thích vở đó. Diễn viên Lauren Bacal cực kỳ hấp dẫn. Sau đó Jennifer và Ken đã ăn tối ở nhà hàng Sardi.
Khi họ đã gọi món ăn, Ken nói:
- Tôi có hai vé xem ba lê vào tối thứ sáu. Tôi nghĩ rằng có thể…
Jennifer ngắt lời:
- Tôi xin lỗi, Ken ạ. Tối thứ sáu tôi lại bận mất rồi.
- Ồ! - Giọng anh hơi chán nản.
Nhiều lần, Jennifer thấy Ken nhìn chằm chằm cô khi anh tưởng rằng không bị ai chú ý, và khuôn mặt anh biểu lộ một tình cảm mà Jennifer cảm thấy khó có thể định nghĩa được. Cô biết rằng Ken cô độc, mặc dù anh không bao giờ nói chuyện về bạn bè và cuộc sống riêng tư của anh. Cô không thể quên được những điều Otto đã nói với cô và cô tự hỏi là liệu bản thân Ken có biết anh muốn gì ở cuộc sống này hay không. Cô luôn mong muốn có thể giúp được anh bằng cách nào đấy.
Jennifer cảm thấy ngày thứ sáu đó như không bao giờ đến. Khi buổi hẹn ăn tối cùng Adam Warner đến gần, Jennifer càng thấy khó tập trung hơn vào công việc. Cô luôn thấy mình nghĩ về Adam. Cô biết rằng mình thật buồn cười. Cô chỉ gặp người đàn ông đó có một lần trong cuộc đời, vậy mà cô không thể xoá nhòa hình ảnh anh trong suy nghĩ của mình. Cô đã cố tự bào chữa bằng cách tự nhủ rằng đó là vì anh đã cứu cô, khi cô phải đương đầu với việc bị khai trừ khỏi đoàn luật sư sau đó lại gửi các khách hàng đến cho cô. Đó là sự thực nhưng Jennifer biết rằng còn hơn thế. Đó là điều mà cô không thể giải thích được, thậm chí đối với bản thân cô. Cảm giác cô chưa hề có trước đây, đó là sự quyến rũ mà cô chưa từng cảm thấy đối với bất kỳ người đàn ông nào khác. Cô tự hỏi vợ Adam Warner như thế nào nhi. Cô ta chắc là một trong những người đàn bà đã được chọn lựa sẵn, và thứ tư hàng tuần thường qua cánh cửa ở hiệu Elizabeth Arden, để được trang điểm tỉa tót từ đầu tới chân trong một ngày. Cô ta có lẽ rất bóng bẩy và thạo đời, với tinh hoa chói lọi của một người giàu có giao thiệp rộng.
Vào mười giờ buổi sáng thứ sáu thần kỳ đó, Jennifer có hẹn đến làm đầu tại tiệm người Ý mà theo cô thư ký Cynthia thì tất cả những người mẫu đều đến làm đầu ở đây. Nhưng lúc mười giờ rưỡi cô lại gọi điện đến huỷ bỏ. Vào lúc mười một giờ, cô lại hẹn lại.
Ken Bailey mời Jennifer đi ăn trưa, nhưng cô hồi hộp quá nên không thể ăn được gì. Thay vào đó, cô đi mua sắm ở cửa hàng Bendel. Cô đã mua một cái váy the ngắn màu xanh sẫm phù hợp với đôi mắt của cô, một đôi giày khiêu vũ thon thon màu nâu và một chiếc ví tương xứng. Cô biết rằng cô đã tiêu quá nhiều so với ngân quỹ của mình, nhưng cô không thể tự buộc mình ngừng lại được.
Cô đi ngang qua gian hàng nước hoa ở lối ra và một bản năng cuồng nhiệt đã khiến cô mua một lọ nước hoa Joy. Đó là sự cuồng nhiệt bởi vì anh ấy đã có vợ rồi.
Jennifer rời văn phòng lúc năm giờ và về nhà thay quần áo Cô tắm và ăn bận trong hai giờ liền chỉ vì Adam, và khi xong xuôi cô ngắm nghía mình trong gương. Sau đó cô giận dữ chải tung mớ tóc đã được cắt cẩn thận và buộc lại bằng dải băng màu xanh. Như vậy tốt hơn, cô thầm nghĩ. Mình là một luật sư đi ăn tối với một luật sư khác. Nhưng khi đóng cửa lại, cô đã để phảng phất một mùi thơm hoa nhài và hoa hồng trong phòng.
Tiệm ăn Lutece không hề giống như Jennifer tưởng.
Cờ ba màu của Pháp tung bay trên lối ra vào của ngôi nhà nhỏ ở thị trấn. Phía bên trong có căn phòng chật hẹp dẫn đến một quán bar nhỏ, và phía ngoài là buồng khách nhiều cửa sổ sáng sủa có các khăn trải bàn bằng gai kẻ sọc vuông. Jennifer được ông chủ tiệm André Soltner đón tại cửa.
- Tôi có thể giúp gì cô?
Tôi hẹn gặp ông Adam Warner. Tôi cho rằng tôi đến hơi sớm một chút.
Ông ta vẫy tay chỉ cho Jennifer về phía quán bar nhỏ.
- Cô có muốn uống một chút trong khi chờ đợi không, cô Parker?
- Thật tuyệt, - Jennifer nói. - Xin cảm ơn ông.
Tôi sẽ bảo người hầu bàn đến.
Jennifer tìm chỗ ngồi và tự tiêu khiển bằng cách quan sát những phụ nữ đeo đầy nữ trang, ăn mặc áo lông thú đến tiệm cùng bạn đồng hành. Jennifer đã đọc và nghe nhiều về tiệm Lutece. Người ta đồn rằng đó là tiệm ưa thích nhất của bà tổng thống Jacqueline Kennedy và có đồ ăn tuyệt vời.
Một người tóc bạc trông khá bảnh bao bước đến gần Jennifer và nói:
- Tôi ngồi với cô một chút không phiền chứ.
Jennifer ngồi thẳng người dậy.
- Tôi đang đợi một người. - Cô bắt đầu nói. - Anh ấy sẽ đến đây…
Ông già mỉm cười và ngồi xuống ghế.
- Tôi không phải là người tình cờ đâu, thưa cô Parker. - Jennifer nhìn ông một cách ngạc nhiên nhưng không thể nghĩ ra ông ta là ai. - Tôi là Lee Browning, thuộc công ty Hà Lan và Browning. - Đó là một trong những công ty luật có uy tín nhất ở New York. - Tôi chỉ muốn chúc mừng cô về cách cô đã làm trong vụ xét xử Wilson.
- Cảm ơn ông Browning.
- Cô gặp dịp may lớn. Đó là trường hợp không thể thắng được - Ông già xem xét cô trong giây lát. - Luật lệ thường là khi cô ở bên bị trong trường hợp bất phân thắng bại, phải đảm bảo rằng công luận không được dính líu tới. Mánh khoé là làm nổi bật những kẻ thắng cuộc và đá bỏ những kẻ thua cuộc. Cô đã làm điên đầu nhiều kẻ trong chúng tôi. Cô đã gọi đồ uống chưa?
- Chưa…
- Tôi có thể gọi…? - Ông vẫy tay ra hiệu cho người hầu bàn.
- Anh Victor này, hãy mang cho chúng tôi một chai sâm banh nhãn Do Perignon nhé.
- Có ngay, thưa ông Browning.
Jennifer mỉm cười:
- Ông không định gây ấn tượng với tôi đấy chứ?
Ông ta cười phá lên.
- Tôi đang cố để thuê cô làm. Tôi hình dung là cô đang được nhiều nơi mời.
- Cũng có vài nơi.
- Công ty chúng tôi làm hầu hết công việc của các tập đoàn cô Parker ạ, nhưng một vài khách hàng giàu có thường mất tự chủ và cần một luật sư bảo vệ đối với các vụ tội phạm. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể đưa ra một để nghị khá hấp dẫn đối với cô. Cô có muốn đến văn phòng tôi thảo luận vấn đề đó không?
- Cảm ơn ông Browning. Tôi thật sự cảm kích, nhưng tôi vừa mới dọn đến văn phòng riêng. Tôi đang hy vọng là mọi việc đều thuận lợi. - Ông già nhìn cô một lúc lâu. - Mọi việc sẽ tốt cả.
Ông ngước mắt lên nhìn một người đang đến gần, rồi đứng dậy và chìa tay ra:
- Chào Adam, anh khoẻ chứ!
Jennifer ngước lên và thấy Adam Warner đang đứng đó bắt tay Lee Browning. Tim cô đập nhanh hơn và cô như cảm thấy má đỏ bừng. Mình thật là cô nữ sinh ngốc nghếch?
Adam Warner nhìn Jennifer và Browning rồi nói:
- Hai người biết nhau à?
- Chúng tôi vừa mới bắt đầu làm quen nhau, - Lee Browning nói nhẹ nhàng. - Anh đến hơi sớm đấy.
- Đúng lúc chứ. - Anh cầm tay Jennifer. - Chúc ông may mắn hon trong dịp khác nhé, ông Lee ạ.
Người hầu bàn chính đến gần Adam.
- Ông muốn đặt bàn ăn ngay hay muốn uống một chút ở quầy bar trước, thưa ông Warner?
- Chúng tôi muốn đặt bàn ăn ngay, Henri ạ.
Sau khi họ ngồi xuống cạnh bàn ăn, Jennifer nhìn quanh phòng và nhận ra đến nửa tá nhân vật có tiếng tăm.
- Chỗ này như chỗ cho các danh nhân ấy? - cô nói.
Adam nhìn cô. Hiện giờ thì đúng như vậy đó!
Jennifer cảm thấy lại đỏ bừng mặt. Hãy dừng lại nào, đồ ngốc nghếch ạ. Cô tự hỏi rằng Adam Warner đã đưa bao nhiêu cô gái đến đây rồi trong khi vợ anh ở nhà ngóng đợi. Cô cũng không biết liệu ai trong số đó biết rằng anh đã có vợ, hay là anh luôn giữ được bí mật đó đối với họ. À vậy là cô có một lợi thế hơn. Ngài sẽ phải ngạc nhiên lắm, ngài Warner ạ, Jennifer thầm nghĩ.
Họ gọi đồ uống và thức ắn, sau đó bận rộn nói chuyện. Jennifer để Adam nói hầu hết câu chuyện. Anh tinh nhanh và quyến rũ nên cô tự cố phòng thủ trước sự hấp dẫn đó. Điều này không dễ chút nào. Cô thấy mình mỉm cười khi nghe những câu chuyện vui anh kể.
Chắc chẳng mang lại gì tốt lành cho anh ấy đâu, Jennifer tự nhủ. Cô không tìm kiếm một q.uan hệ nhanh chóng. Bóng ma của mẹ cô vẫn còn ám ảnh. Cảm giác nồng nàn sâu sắc trong Jennifer làm cho cô e ngại nó bùng nổ và mọi người sẽ thấy.
Họ đang ăn tráng miệng và Adam vẫn chưa hề nói một câu nào để bị hiểu sai. Jennifer đã vô ích dựng lên bức tường bảo vệ để chống lại một sự tấn công không hề có, và cô cảm thấy mình như một kẻ ngốc nghếch.
Cô tự hỏi liệu Adam sẽ nói gì nếu như anh biết điều cô đang suy nghĩ cả tối nay. Jennifer cười nhạo sự hư cấu của mình.
- Tôi không thể có dịp cảm ơn anh về các khách hàng mà anh đã đưa đến cho tôi, - Jennifer nói. - Tôi đã gọi điện cho anh vài lần, nhưng…
- Tôi biết cả rồi. - Adam ngập ngừng và ngượng nghịu nói thêm. - Tôi không muốn gọi trả lời lại cô.
Jennifer nhìn anh đầy vẻ ngạc nhiên.
- Tôi ngại lắm, - anh nói rất giản dị.
Chỉ có vậy thôi. Anh đã đột nhiên bắt được cô, phá tan mọi hàng rào bảo vệ, và ý nghĩa lời nói của anh không thể nhầm lẫn được. Jennifer biết những gì sẽ đến tiếp và cô không muốn anh nói điều đó. Cô không muốn anh giống như những kẻ khác, có vợ con rồi mà còn giả vờ độc thân. Cô coi khinh họ và cũng không muốn khinh thường người đàn ông này.
Adam lặng lẽ nói:
- Jennifer, anh muốn em biết rằng anh đã có vợ.
Cô ngồi đó nhìn chằm chằm vào anh, miệng hơi hé mở.
- Anh xin lỗi, lẽ ra anh phải nói với em sớm hơn. - Anh cười gượng. - Ờ mà có lúc nào sớm hơn được đâu, phải vậy không em?
Jennifer tràn ngập nỗi bối rối lạ lùng.
- Nhưng, sao, sao anh lại mời em đi ăn tối nay, hả Adam?
- Vì anh muốn được gặp lại em.
Mọi việc bắt đầu như hư ảo đối với Jennifer. Cô như thể bị những ngọn sóng thủy triều lớn lôi cuốn đi. Cô ngồi đó lắng nghe Adam nói về tình cảm của anh đối với cô và cô biết rằng mọi lời đó đều là sự thật. Cô biết thế bởi vì cô cũng cảm thấy như vậy. Cô nửa muốn anh ngừng lại đừng nói quá nhiều, nhưng cùng nửa muốn anh tiếp tục nói thêm nữa.
- Anh hy vọng là không xúc phạm em chứ? Adam nói.
Sự ngượng ngùng đột nhiên của anh đã làm xáo trộn Jennifer.
- Adam, em… em…
Anh ngắm cô và mặc dầu họ chưa chạm vào nhau, cô như thể đã nằm trong đôi cánh tay anh.
Jennifer nói run rẩy:
- Anh hãy kể cho em về vợ anh.
- Mary Beth và anh lấy nhau từ 15 năm nay. Vợ chồng anh không có con cái.
- Ra vậy.
- Cô ấy, à chúng tôi quyết định không có con. Chúng tôi lấy nhau khi còn rất trẻ. Anh biết cô ấy khá lâu. Gia đình chúng tôi là hàng xóm của nhau tại khu nghỉ mát ở Maine. Cha mẹ cô ấy bị chết trong một tai nạn máy bay khi cô ấy 18 tuổi. Nỗi đau đớn làm cho Mary Beth như phát điên. Cô ấy rất là cô độc. Anh, à, sau đó chúng tôi lấy nhau.
Anh đã cưới cô ấy vì thương xót, anh ấy thật xứng đáng là một người quân tử, Jennifer thầm nghĩ.
- Cô ấy là một phụ nữ tuyệt vời: Chúng tôi luôn q.uan hệ tốt với nhau.
Anh nóí với Jennifer nhiều hơn cô mong muốn, nhiều hơn điều cô có thể hiểu được. Mọi bản năng trong cô bảo cho cô phải bỏ đi, phải chạy trốn. Trước đây cô có thể dễ dàng đương đầu với những người có vợ đã cố gắng quyến rũ cô, nhưng Jennifer như cảm thấy được rằng lần này hoàn toàn khác. Nếu như cô để mình rơi vào tình yêu của người đàn ông này, có lẽ sẽ không có lối thoát ra. Cô sẽ phát điên phát cuồng nếu dính líu với anh.
Jennifer cẩn thận nói:
- Adam, em rất quý anh. Em không muốn dính líu vào những người có vợ.
Anh mỉm cười, đôi mắt sau cặp kính chứa đầy trung thực và rất ấm áp.
- Anh không tìm kiếm một tình yêu vụng trộm. Anh thích được bên em. Anh rất tự hào về em. Anh muốn chúng ta thỉnh thoảng gặp nhau.
Jennifer suýt nữa nói: "Điều đó có ích gì đâu", nhưng những lời khác tự bật ra.
- Điều đó thật tuyệt.
Vậy chúng ta sẽ cùng ăn trưa mỗi tháng một lần.
Jennifer nghĩ. Điều đó sẽ không hề hại gì đến ai cả.
 
Top