Hoàn Sáng, Trưa, Đêm - Sidney Sheldon

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 1 - DỊCH TỪ NGUYÊN BẢN TIẾNG ANH: MORNING, NOON & NIGHT
Dmitri hỏi:
- Ông có biết chúng ta đang bị bám đuôi không, ông Stanford?
- Biết. - Ông phát hiện ra họ đã hai mươi tư giờ nay.
Hai gã đàn ông và người đàn bà đó ăn bận xoàng xĩnh, cố trà trộn vào đám du khách mùa hạ đang đi vãn cảnh trên những con phố rải cuội vào lúc sáng sớm, song ở đâu chứ trong cái làng nhỏ xíu của xứ St. Paul de Vence nầy thì giữ cho mình khỏi bị tình nghi quả không phải là dễ.
Lần đầu tiên Harry Stanford nhận ra họ bởi họ ăn bận xoàng xĩnh quá, cố gắng quá mới không nhìn vào ông. Bất cứ ông quay về hướng nào cũng thấy một trong ba người đó vật vờ trước mặt.
Bám theo một mục tiêu như Harry Stanford thì có gì là khó. Ông cao một mét chín mươi, mái tóc bạch kim đổ xuôi xuống cổ áo và một gương mặt với những đường nét cao sang quí phái gần như là đế vương. Cùng đi với ông là một cô gái trẻ và đẹp đến choáng ngợp, một con chó chăn cừu giống Đức trắng tuyền, và Dmitri Kaminsky, gã vệ sĩ cao hơn hai mét với cái cổ bò mộng và cái trán gồ. Chúng ta thì lẫn vào đâu cho được, Stanford nghĩ bụng.
Ông biết ai là kẻ đã phái họ theo dõi ông, biết cả lý do của nó nữa. Và ông cũng linh cảm được một nỗi nguy hiểm đang sắp sửa xẩy đến. Từ lâu ông đã có thói quen tin vào linh cảm của mình. Chính linh cảm và trực giác đã giúp ông trở thành một trong nhứng nhân vật giầu có nhất hành tinh. Tạp chí Forbes ước tính giá trị tài sản của tập đoàn Stanford Enterprises ở mức sáu tỉ đô la, trong khi tờ Fortune 500 thì cho là bảy tỉ. Cả Wall Street Journal, Barron s lẫn Financial Times đều cố gắng lột tả Harry Stanford, cố giải thích cái bí ẩn trong ông, cái khả năng kỳ diệu về sắp xếp thời gian và cảm quan nhạy bén không tin nổi của ông để có thể gây dựng nên cái tập đoàn Stanford Enterprises khổng lồ như ngày nay. Song không một tạp chí hay tờ báo nào thực sự thành công khi khám phá về ông cả.
Điều mà ai nấy đều thừa nhận là ông có một sức lực phi phàm, không biết mệt mỏi là gì. Triết lí của ông thật đơn giàn: Một ngày không giao kết được một vụ làm ăn là một ngày bỏ đi. Ông khiến cả đối thủ lẫn nhân viên của mình và bất cứ ai khác tiếp xúc với ông đều kiệt sức. Ông là một hiện tượng kỳ lạ một cái gì đó lớn hơn cả bản thân cuộc sống. Ông nghĩ về mình như một kẻ hữu thần. Ông tin vào Chúa, và vị Chúa ông tin muốn ông phải giàu có còn kẻ thù của ông thì phải chết.
Harry Stanford là một hình ảnh quảng đại, và báo chí biết mọi điều về ông. Harry Stanford là một hình ảnh riêng tư, và báo chí chẳng biết gì về ông hết. Họ từng viết về sức lôi cuốn của ông, về lối sống phóng túng của ông, về chiếc máy bay chuyên cơ, cái du thuyền, cùng với những toà nhà huyền thoại của ông ở Hobe Sound, Morocco, Long Island, London, Pháp, và dĩ nhiên, về toà lâu đài Rose Hill hùngvĩ của ông ở vùng Back Bay, Boston. Thế nhưng con người thật của Harry Stanford ra sao thì vẫn là một hiện tượng bí ẩn.
- Chúng ta đang đi đâu đây? - Cô gái hỏi.
Ông đang mải nghĩ nên không đáp. Hai kẻ bám đuôi phía bên kia đường đang sử dụng kỹ thuật chuyển chéo, và chúng đã thế chân nhau một lần nữa. Cùng với cảm giác về mối nguy hiểm, Stanford thấy giận sôi người vì chúng đang xâm phạm tới quyền tự do cá nhân của ông. Chúng cả gan mò tới đây săn ông, tới cái nơi nghỉ ngơi bí mật không một ai biết đến nầy của ông.
St. Paul de Vence là một cái làng trung cổ, phong cảnh ngoạn mục, dấu những nét cổ kính huyền thoại của mình trên dãy Alps Maritimes, giữa Cannes và Nice. Làng được bao quanh bởi một loạt những quả đồi lúp xúp và những thung lũng ngập tràn những hoa, cây ăn quả và những rừng thông. Bản thân ngôi làng là nơi hội tụ của những xưởng vẽ, phòng tranh và những hiệu đồ cổ, một cái nam châm khổng lồ thu hút du khách bốn phương.
Đoàn của Harry Stanford rẽ sang đường Rue Grande. Ông hỏi Sophia, tên cô gái:
- Em có thích các viện bảo tàng không?
- Thưa ông, có. - Nàng đang háo hức được làm vui lòng ông. Nàng chưa gặp một ai như Harry Stanford cả. Hãy đợi cho đến khi ta kể cho các bạn gái của ta nghe về anh. Ta từng nghĩ, về t.ình d.ục ta chẳng còn gì để học hỏi thêm nữa cả, nhưng Chúa ơi, anh sáng tạo quá đi! Anh sẽ rút kiệt sức lực của ta mất.
Họ leo đồi lên viện bảo tàng nghệ thuật Fondation Maeght và xem lướt những bộ sưu tập nổi tiếng của Bonnard và Chagall cùng nhiều nghệ sĩ đương thời khác. Khi Stanford giả bộ vô tình liếc quanh, ông trông thấy người đàn bà bám đuôi đang mải ngắm một bức của Miró.
- Ông quay sang Sophia:
- Đói chưa?
- Em đói rồi, nếu như anh cũng đã đói. - Mình không được ép anh ấy.
- Tốt lắm. Chúng ta sẽ ăn trưa ở La Colombe d Or.
La Colombe d Or là một trong những nhà hàng khoái khẩu của Stanford, một toà nhà xây từ thế kỷ mười sáu, nằm ngay lối vào làng, gần đây nó được chuyển thành một khách sạn và nhà hàng. Stanford và Sophia ngồi trong vườn, cạnh hồ nước, còn Prince, con chó chăn cừu tuyền trắng nằm dưới chân ông với đôi mắt đầy cảnh tỉnh. Con chó là biểu tượng của Stanford. Ông đi đâu Prince theo đó. Có lời đồn rằng khi Stanford ra lệnh, con vật có thể cắn nát họng người ta. Không ai muốn thử xem lời đồn đại đó thực hư thế nào.
Dmitri ngồi bên chiếc bàn kề lối vào khách sạn; quan sát cẩn thận những kẻ đang theo dõi Stanford khi họ cứ thay nhau xuất hiện rồi bỏ đi:
Stanford quay sang Sophia:
- Em yêu, anh gọi món cho em nhé?
- Dạ.
Stanford luôn tự hào về mình là kẻ sành ăn. Ông gọi một đĩa xa lát xanh và món Fricas Bee de lotte cho hai người. Khi hầu bàn bê món chính tới, Danielle Roux, người đàn bà điều hành khách sạn cùng chồng mình là François, đi đến bên ông và mỉm cười:
- Mọi việc ổn cả chứ, ngài Stanford?
- Tuyệt lắm, thưa bà Roux.
- Và mọi chuyện sẽ tuyệt cả thôi. Chúng nó là một nhóm người lùn Pygmy đang cố tạo cho mình cảm giác của những chàng khổng lồ. Chúng tới đây để chuốc lấy một nỗi thất vọng lớn
Sophia nói:
- Lần đầu tiên em tới đây đấy. Cái làng mới dễ thương làm sao.
Stanford quay sang nhìn nàng. Dmitri vừa "thửa" cho ông cô bé nầy hôm qua.
- Ông Stanford, tôi "mua" cho ông một người đấy.
- Có trục trặc gì không? - Nghe vậy, Stanford hỏi.
Dmitri ngoác miệng cười. "Không". Anh ta thấy cô nàng ở sảnh khách sạn Negresco, bèn sán lại.
- Xin lỗi, cô có nói được tiếng Anh không?
- Có - Nàng đáp bằng một thứ tiếng Anh ngữ điệu Italia.
- Bạn tôi muốn mời cô dùng bữa tối với ông ấy.
Nàng nổi cáu:
- Tôi không phải điếm. Tôi là một diễn viên điện ảnh. - Thực thì nàng từng kiếm được một vai phụ trong bộ phim mới nhất của Pupi Avati và một vai với hai dòng thoại trong một phim của Giuseppe Tornatore. - Làm sao tôi có thể ăn tối với một người lạ cơ chứ?
Dmitri lôi ra một cục tiền một trăm đô la và dúi vào tay nàng năm tờ.
- Bạn tôi hào phóng lắm. Ông ấy có một cái du thuyền, và ông ấy đang cô đơn. - Gã quan sát thái độ của Sophia đang thay đổi từ cáu giận sang tò mò, rồi ham thích.
- Thực thì tôi đang trong thời gian chờ đợi cuốn phim tới. - Nàng nhoẻn cười. - Chắc ăn tối với bạn ông cũng chẳng hại gì.
- Tốt lắm. Ông ấy sẽ rất vui.
- Thế ông ta đang ở đâu?
- Ở St. Paul de Vence.
Dmitri chọn khá lắm. Gái Ý hẳn hoi. Tuổi ngoài hai nhăm. Khuôn mặt gợi tình, tựa như mặt mèo nhung vậy. Bộ ngực thật cao và đầy. Lúc nầy nhìn nàng ngồi bên kia bàn, Stanford bỗng nẩy ra một ý:
- Em có thích du lịch không, Sophia?
- Em thích lắm.
- Tốt. Chúng ta sẽ đi chơi với nhau một chuyến ngắn. Anh xin lỗi một phút nhé.
Sophia nhìn ông đi ra một máy điện thoại công cộng đặt kế buồng vệ sinh nam.
Stanford tra đồng xu vào khe máy và quay số:
- Cho xin tổng đài viên hàng hải.
Vài giây sau có tiếng đáp:
- Đây là người điều hành liên lạc vùng bờ biển…
- Tôi muốn đặt một cuộc gọi cho du thuyền Blue Skies, chín tám không…
Cuộc gọi kéo dài chừng năm phút và khi kết thúc, Stanford gọi tiếp cho sân bay Nice. Lần nầy thời gian đàm thoại ngắn hơn.
Xong, Stanford quay sang nói gì đó với Dmitri và gã nầy nhanh chóng đi ra khỏi nhà hàng. Stanford trở lại với Sophia:
- Em sẵn sàng chưa?
- Dạ, rồi.
- Vậy chúng ta hãy đi dạo một lát. - Ông cần thời gian để vạch ra một kế hoạch.
***
Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Nắng chiếu hồng những áng mây và ánh sáng bạc tràn ngập những con đường rải cuội.
Họ đi dọc đường Rue Grande, ghé qua nhà thờ Eglise, một nhà thờ cổ kính xây cách đây đã hai nghìn năm. Tới trước cửa nhà thờ, họ dừng lại mua một ít bánh mì nóng. Khi quay đi thì một trong ba kẻ theo dõi đã đứng sẵn ở bên ngoài, đang vờ chăm chú ngắm mặt trước của nhà thờ. Thấy Dmitri đã đang đợi ở đó, Stanford dúi túi bánh mì cho Sophia:
- Em mang lên nhà trước dùm anh. Anh sẽ lên ngay.
- Vâng.
Stanford nhìn Sophia đi xa dần, rồi quay sang Dmitri:
- Cậu có phát hiện ra được gì không?
- Con đàn bà và một gã đang ở tại khách sạn Le Hameau, trên đường La Colle.
Stanford biết chỗ nầy.
- Còn gã thứ ba?
- Ở Le Mas d Artigny. Ngài muốn tôi làm gì với chúng đây?
- Không làm gì cả. Tự tôi sẽ săn sóc chúng.
***
Toà biệt thự của Stanford nằm trên đường Rue de Casette, trong một quần thể những ngôi nhà rất cổ và những con phố nhỏ rải cuội. Biệt thự xây bằng đá cổ trát vữa. Tầng hầm có ga ra và một cái hang giả làm hầm rượu. Một cầu thang bằng đá dẫn lên lô phòng ngủ, phòng làm việc, và một sân hiên lợp ngói. Toàn bộ toà nhà được trang trí bằng đồ cổ Pháp và đâu cũng có hoa.
Lúc Stanford về đến nhà thì Sophia đang nằm đợi ông trong phòng ngủ. Nảng đã hoàn toàn sẵn sàng:
- Sao đi lâu vậy anh? - Nàng hỏi thì thào.
Ngoài những lúc đóng phim, Sophia Matteo phải làm thêm nghề kỹ nữ phục vụ qua điện thoại để kiếm sống, và thường khi làm tình nàng luôn giả bộ mình đạt được tột đỉnh khoái cảm để chiều lòng khách. Song với người đàn ông nầy thì nàng khỏi phải "diễn" làm gì. Ông ta tham lam vô độ và nàng thấy mình liên tục được ông đưa lên tận trời xanh.
Khi cả hai đã mệt lả, Sophia ôm ngang người ông và lẩm bẩm một cách mãn nguyện, "Em có thể ở lại nơi nầy mãi mãi".
- Tôi chỉ cũng mong muốn có vậy thôi, - Stanford thầm nghĩ và thấy thoáng buồn.
Họ ăn tối ở nhà hàng Le Café de la Place, ngay lối vào làng. Bữa tối thật ngon miệng, và đối với Stanford, mối nguy hiểm thực sự đã thêm gia vị vào thức ăn.
Trên đường về biệt thự, Stanford bước chậm rãi để đoán chắc những tên bám đuôi theo được.
Lúc một giờ sáng, gã đàn ông đứng bên kia đường thấy đèn trong biệt thự đã tắt hết, bèn bỏ đi.
Lúc bốn rưỡi sáng, Stanford đi sang phòng ngủ dành cho khách, nơi Sophia đang ngáy ngon lành.
- Ông khẽ lay vai nàng:
- Sophia…
Nàng mở mắt, mỉm cười chờ đợi, song lại cau mặt ngay. Ông đă ăn mặc chỉnh tề. Nàng ngồi dậy.
- Có chuyện gì vậy, anh?
- Không có chuyện gì cả, em yêu ạ. Em nói em thích đi du lịch. Thì được, chúng ta sẽ đi với nhau một chuyến ngắn nhé.
Nàng đã tỉnh ngủ hoàn toàn.
- Đi vào lúc nầy ư?
- Đúng. Chúng ta phải hết sức khẽ khàng mới được!
- Nhưng mà…
- Vội lên đi.
Mười lăm phút sau, Stanford, Sophia, Dmitri và Prince đã thao bậc thang đá xuống tầng hầm, nơi chiếc Renault màu nâu đang đỗ. Dmitri nhẹ nhàng mở cửa ga ra và nhìn ra đường. Ngoài chiếc Corniche trắng của Stanford đang đỗ ở đó tịnh không còn một vật gì khác.
- Sạch sẽ, - gã nói.
Stanford quay sang Sophia:
- Chúng ta sẽ chơi một trò chơi nhỏ. Anh và em sẽ nằm dán xuống sàn xe ở hàng ghế sau.
Nàng mở to mắt:
- Tại sao lại phải thế?
- Một đối thủ làm ăn đang theo dõi anh, - ông nói không giấu giếm: - Anh sắp kết thúc một vụ lớn, còn chúng thì đang muốn khám phá xem đó là vụ gì. Nếu để chúng biết thì anh sẽ phải thua thiệt nhiều lắm.
- Em hiểu, - nàng đáp, song thực thì chẳng hiểu ông đang nói gì.
Năm phút sau họ đã tới cổng làng và phóng về xa lộ đi Nice. Một gã đàn ông ngồi trên ghế băng nhìn chiếc Renault tăng tốc độ lao qua cổng. Sau tay lái là Dmitri, còn cạnh gã là con Prince. Gã đàn ông vội rút điện thoại di động và bấm số.
- Chúng ta có thể có rắc rối, - gã báo với người đàn bà.
- Rắc rối gì vậy?
Chiếc xe Renault nâu đã ra khỏi làng. Dmitri Kaminsky cầm lái. Ngoài gã ra trong xe chỉ có con chó thôi.
- Không thấy Stanford à?
- Không.
- Tôi không tin. Gã vệ sĩ không bao giờ rời hắn một bước lúc đang đêm, còn con chó thì luôn ở bên hắn.
- Chiếc Corniche còn đỗ ở trước biệt thự không? - Gã đàn ông kia hỏi.
- Còn, song hắn có thể đổi xe lắm chứ!
- Chúng ta trúng mẹo hắn rồi! Gọi sân bay ngay.
Một phút sau họ đã liên lạc được với đài chỉ huy bay.
- Máy bay của ông Stanford ấy à? Nó vừa hạ cánh cách đây một giờ và đã nạp xong nhiên liệu.
Toán bám đuôi Stanford lập tức chia đôi, hai ra sân bay, người còn lại tiếp tục canh toà nhà lúc đó đang im lìm ngủ.
- Xe vừa qua La Coalle-sur-Loup, Stanford ngồi hẳn lên ghế:
- Ngồi dậy được rồi đấy, Sophia. - Ông quay sang Dmitri, - Phi trường Nice. Nhanh!
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 2 - SÁNG
Nửa giờ sau, tại phi trường Nice, chiếc Boeing 727 chậm rãi lăn bánh trên đường băng tới điểm xuất phát. Trên đài chỉ huy, nhân viên kiểm soát bay nói:
- Rõ là họ đang vội lên đường. Viên phi công đã yêu cầu được cất cánh ba lần rồi.
- Chiếc máy bay đó của ai?
- Harry Stanford.
- Chắc hắn đang đi kiếm thêm vài ba tỉ gì đó. - Viên kiểm soát bay quay nhìn chiếc Learjet cất cánh rồi nhấc microphone và nói:
- Boeing tám chín năm Cha, phòng kiểm soát cất cánh sân bay Nice đây. Các anh được phép cất cánh. Còn năm phút nữa. Sau khi cất cánh, lượn phải về hướng một bốn không.
Viên lái chính và lái phụ của Stanford nhìn nhau nhẹ nhõm. Lái chính ấn nút microphone:
- Roger đây. Boeing tám chín năm Cha sẵn sàng cất cánh. Sẽ lượn ngay sang hướng một bốn không.
Tích tắc sau, chiếc phi cơ khổng lồ gầm máy trên đường băng và lao vút vào trời đêm.
Viên lái phụ lại nói vào microphone:
- Cất cánh, Boeing tám chín năm Cha đang ra khỏi ba ngàn để lên mức bay bảy không. - Anh ta quay sang lái chính. - Hô, ông già Stanford chắc lo chúng ta không cất cánh nổi lắm, đúng không?
Lái chính nhún vai:
- Việc của chúng ta không phải là luận xem tại sao. Việc của chúng ta là hoặc làm hoặc chết. Nó ra sao ở phía sau?
Viên phụ lái đứng lên bước tới ngưỡng cửa nhìn sang khoang hành khách rồi ngoảnh lại nói vào khoang lái:
- Nó đang nghỉ.
Từ trong xe họ gọi đài chỉ huy sân bay:
- Máy bay của ông Stanford còn dưới mặt đất không?
- Không, thưa ông. Nó đã cất cánh rồi.
- Phi công có lưu lại kế hoạch bay không?
- Dĩ nhiên là có, thưa ông.
- Tới đâu?
- Máy bay nhằm hướng JKF.
- Cám ơn. - Gã quay sang đồng sự. - Phi trường Kennedy. Chúng ta sẽ cho người đón hắn ở đó.
Lúc chiếc Renault đã vượt qua ngoại ô Monte Carlo, nhằm hướng biên giới Ý, Stanford nói:
- Còn khả năng chúng vẫn bám đuôi không, Dmitri?
- Không đâu, thưa ông. Chúng đã mất vết chúng ta rồi.
- Tốt. - Stanford ngả người ra ghế, thư giãn. Chả còn phải lo nghĩ gì nữa. Họ sẽ bám theo chiếc máy bay.
Ông điểm lại tình huống trong đầu. Vấn đề là họ đã biết gì và biết từ khi nào. Họ chỉ là những con chó rừng lẩn theo vết sư tử mà thôi, hy vọng sẽ hạ gục được ông. Stanford cười thầm. Họ đánh giá quá thấp cái người đang khiến họ bận tâm. Những kẻ từng phạm những sai lầm loại nầy đều đã phải trả giá đắt. Lần nầy rồi cũng vậy thôi. Ông là Harry Stanford, bạn bè của các vị tổng thống và các vị vua chúa, có đủ quyền lực và sức mạnh tài chính để vực dậy hay làm lụn bại nền kinh tế của cả chục quốc gia chứ đâu phâi chuyện đùa.
Chiếc Boeing 727 đang bay trên bầu trời Marseilles. Lái chính nói vào microphone:
- Marseilles nghe đây, Boeing tám chín năm Cha đang ở trong tầm kiểm soát của các vị. Chúng tôi đang ra khỏi tầng bay một chín không để vào tầng hai ba không. Roger.
***
Chiếc Renault tới San Remo ngay khi trời vừa sáng. Stanford còn nhớ rõ thành phố nầy lắm, song nó cũng thay đổi rất nhanh. Ông nhớ ngảy nó còn là một mảnh đất tao nhã với những khách sạn và nhà hàng hạng nhất, với một sòng bạc mà các con bạc khi bước vào đều phải đeo cà vạt đen và người ta có thể thắng hoặc thua cả một gia tài trong một buổi tối. Nay nó đã không chống đỡ nổi với tệ nạn du lịch, với những ông bầu lớn miệng đánh bạc trong ống tay áo.
Xe của Stanford tiến dần tới vịnh, cách biên giới Pháp-Ý mười hai dặm đường. Vịnh có hai hải cảng, Marina Porto Sole ở phía đông và Porto Communale ở phía tây.
- Chúng ta tới cảng nào đây? - Dmitri hỏi - Porto Communale, - Stanford đáp. Càng vắng người càng hay.
Chỉ vài phút chiếc Renault đã đỗ sát bên mạn du thuyền Blue Skies, một chiếc tàu bóng mượt dài một trăm tám mươi bộ. Thuyền trưởng Vacarro và mười hai thành viên thuỷ thủ đoàn đã xếp hàng chờ sẵn trên boong. Thuyền trưởng xăng xái đi xuống đón đoàn.
- Chào ngài Stanford. Để chúng tôi xách hành lí cho, và…
- Không có hành lí. Nhổ neo thôi.
- Rõ, thưa ngài.
- Chờ một phút. - Stanford nhìn đám thuỷ thủ và cau mặt. - Người đứng cuối hàng ấy. Anh ta mới vào đúng không?
- Vâng, thưa ngài. Buồng lái của chúng tôi thiếu mất một thuỷ thủ do ngã bệnh ở Capri, chúng tôi bèn tuyển anh ta vào thay chân. Anh ta…
- Tống cổ nó đi, - Stanford ra lệnh.
Viên thuyền trưởng bốì rối nhìn ông.
- Trả tiền và hãy để nó đi khỏi con tàu nầy.
Thuyền trưởng gật đầu: "Rõ, thưa ngài".
Nhìn quanh, linh tính cho Stanford thấy có chuyện chẳng lành. Cảm giác đó mỗi lúc một trỗi lên, rõ ràng tới độ ông gần như có thể đưa tay ra là sờ được nó. Ông không muốn có một người lạ mặt nào ở gần mình. Thuyền trưởng Vacarro cùng thuỷ thủ đoàn đã đi với ông nhiều nằm nay. Ông có thể tin cậy ở họ. Ông quay nhìn cô gái. Dmitri đã nhặt cô ta một cách ngẫu nhiên nên có thể coi nguy hiểm sẽ không đến từ phía đó. Còn với Dmitri, gã vệ sĩ nầy đã cứu mạng ông không chỉ một lần trong đời. Stanford quay sang bảo gã:
- Hãy luôn ở bên tôi.
- Vâng, thưa ông.
Stanford nắm tay Sophia:
- Lên tầu đi, em yêu.
Dmitri đứng trên boong quan sát đám thuỷ thủ chuẩn bị khởi hành. Gã nhìn bao quát hải cảng một lượt song không thấy gì khả nghi. Vào lúc sáng sớm thế nầy chưa có một hoạt động nào diễn ra cả. Động cơ kỳ vĩ của chiếc du thuyền khởi động và con tàu lừng lững lướt đi.
Viên thuyền trưởng đến gần Stanford:
- Ngài chưa nói chúng ta sẽ đi đâu, thưa ngài Stanford.
- Chưa, tôi chưa nói, hẳn thế? - Ông suy nghĩ một giây - Đi Portofino.
- Rõ, thưa ngài.
- Mà nầy, tôi cấm ông không được sử dụng liên lạc bằng sóng vô tuyến.
Thuyền trưởng Vacarro cau mày:
- Không được sử dụng liên lạc vô tuyến ư? Rõ, thưa ngài, nhưng ngộ nhỡ…
- Khỏi lo chuyện đó. Cứ làm như tôi nói đi. Và tôi không muốn một ai sử dụng điện thoại vệ tinh.
- Rõ, thưa ngài. Chúng ta có nán lại Portofino không ạ?
- Tôi sẽ cho ông biết có nán lại đó hay không.
Stanford dẫn Sophia đi một vòng quanh tầu. Con tầu là một trong những tài sản đoạt giải của ông nên ông thích phô trương nó. Ai nhìn cũng phải choáng ngợp trước sự xa xỉ nầy. Nó có một lô phòng ở cao cấp, kèm phòng chờ và một phòng làm việc.
Phòng làm việc, rộng thênh thang và tiện lợi với một chiếc đi văng, vài ghế mềm và một cái bàn giấy mà trên đó, có đủ mọi phương tiện để điều hành cả một thành phố nhỏ. Trên tường treo một tấm bản đồ điện tử lớn với một chiếc thuyền nhỏ chuyển động cho thấy vị trí thực của con tàu. Hai cửa kính trượt mở ra một hàng hiên có đặt một xích đu, một bàn với bốn chiếc ghế. Vào những ngày thanh bình Stanford thích dùng bữa sáng ngoài hàng hiên nầy.
Có sáu phòng ngủ dành cho khách. Phòng nào cũng được trang trí bằng lụa có hoạ tiết thủ công, có cửa sổ và bồn tắm. Còn thư viện lớn thì được ốp gỗ kola.
Phòng ăn đủ chỗ cho mười sáu thực khách. Du thuyền có một hầm rượu và một phòng chiếu phim lí tưởng.
Harry Stanford là một trong những nhà sưu tầm phim khiêu dâm lớn nhất thế giới. Tất thẩy đồ đạc trang trí trong du thuyền đều là nhữag thử quí hiếm độc nhất vô nhị, còn các bức hoạ thì có thể khiến bất cứ viện bảo tàng nào cũng phải thèm thuồng.
- Vậy là em đã xem gần hết du thuyền rồi đấy, - Stanford nói với Sophia. - Anh sẽ cho em xem nốt những gì còn lại vào ngày mai.
Nàng cảm thấy ngượng ngùng:
- Chưa bao giờ em được thấy một cái gì như thế nầy! Nó giống… nó giống như một thành phố vậy.
Stanford nhoẻn cười trước sự ngưỡng mộ của nàng.
- Em sẽ được chỉ cho phòng riêng và hãy nghỉ ngơi cho thoải mái nhé. Anh có ít việc phải làm cho xong đã Stanford trở lại phòng làm việc và kiểm tra vị trí của con tàu.
Chiếc Blue Skies đã đến Biển Ligurian và đang đi về hướng đông bắc. Chúng sẽ không đoán nổi ta đi đâu, Stanford nghĩ bụng. Chúng sẽ chờ ta ở JKF. Khi tới Portofino ta sẽ làm rõ mọi chuyện với chúng.
Ở độ cao ba mươi lăm dặm trong không trung, lái chính của chiếc Boeing 727 đang nhận chỉ thị mới.
"Boeing tám chín năm Cha, anh được phép bay thẳng đến Delta India November đúng như trong hồ sơ đường bay."
Anh ta nói với lái phụ, đoạn đi ra cửa vào khoang hành khách.
- Vị hành khách của chúng ta ra sao rồi? - Anh lái phụ hỏi.
- Nó có vẻ đói.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 3 - SÁNG
Xa từ ngoài biển nhìn vào, Portofino đã gây ấn tượng với những sườn đồi xanh ngát ô liu, thông, bách và cọ: Stanford, Sophia và Dmitri đứng trên boong ngắm cảnh trong khi con tầu tiến dần vào bờ.
Sophia hỏi:
- Anh có đến Portofino thường xuyên không?
- Mới vài lần thôi.
- Thế nơi ở chính của anh ở đâu?
Câu hỏi riêng tư quá. Stanford bèn đáp:
- Em sẽ được thưởng ngoạn Portofino, Sophia. Nó rất đẹp.
Thuyền trướng Vacarro đến gần:
- Ngài có dùng bữa trưa trên tầu không, thưa ngài Stanford?
- Không, chúng tôi sẽ dùng bữa ở Splendido.
- Tốt lắm. Vậy tôi có phài sẵn sàng nhổ neo ngay sau bữa trưa không?
- Tôi nghĩ là không. Hày thưởng thức phong cảnh của thành phố nầy cho chán đã.
Viên thuyền trưởng nhìn Stanford, bối rối. Mới một nháy mắt trước ông ta còn cuống cà kê là vậy, giờ đã đổi giọng hoàn toàn, cứ như ông ta đang có cả nghìn năm để sống. Còn cái vụ cấm ngặt sử dụng liện lạc vô tuyến nữa. Chúa ơi!
Khi chiếc Blue Skies đã thả neo, Stanford cùng Dmitri và Sophia đáp xuồng vào bờ.
- Chúng ta sẽ ăn trưa ở khách sạn trên đỉnh đồi. Từ trên đó nhìn ra biển đẹp lắm, - Stanford nói với Sophia. - Em hãy tới chỗ kỳa bắt tắc xi, anh sẽ đến sau vài phút.
- Dạ.
Stanford nhìn theo Sophia cho đến khi nàng đi xa, đoạn ông quay sang Dmitri:
- Tôi phải gọi một cú điện thoại.
Không thể gọi từ trên tàu được. Dmitri nghĩ bụng.
Hai người đi ra hai buồng điện thoại công cộng kề mép ke. Dmitri nhìn Stanford bước vào một buồng điện thoại, nhấc máy và thả đồng xu vào khe.
- Điện thoại viên, tôi muốn đặt một cuộc gọi tới Nhà băng Union, Thuỵ Sĩ.
Vừa lúc đó có một người đàn bà bước tới buồng điện thoại thứ hai. Dmitri đứng chắn lấy lối vào.
- Xin lỗi, - bà ta nói. - Tôi…
- Tôi đang đợỉ một cuộc gọi.
Bà ta ngạc nhiên nhìn gã, "Ra thế", rồi quay nhìn buồng điện thoại mà Stanford đang ở trong đó.
- Theo tôi thì bà không nên đợi, - Dmitri gầm gừ nói. - Ông ta sẽ còn gọi lâu đấy.
Người đàn bà nhún vai rồi bỏ đi.
- A lô?
Dmitri nhìn Stanford nói vào máy.
- Peter đấy hả? Chúng tôi đang gặp phải một trục trặc nho nhỏ. - Stanford đóng chặt cửa buồng điện thoại lại. Ông nói rất nhanh khiến Dmitri không thể thấy gì được hết. Cuộc gọi kết thúc Stanford mới mở cửa và bước ra.
- Mọi chuyện ổn cả chứ, ông Stanford?
- Đi ăn trưa thôi.
Splendido mới là hòn ngọc của Portofino. Đấy là một khách sạn có tầm nhìn khoáng đạt xuống mặt vịnh lóng lánh như thuỷ tinh ở bên dưới. Khách sạn được xây dựng để đón những vị khách cực kỳ giàu có nên luôn rất dè chừng với uy tín của mình.
Stanford, Sophia và Dmitri ăn trưa ở ngoài hiên.
- Anh lại gọi món cho em nhé? - Stanford hỏi - Họ có một số món đặc biệt mà anh đoán em sẽ thích.
- Vâng.
Stanford gọi món trenette al pesto, một món mì địa phương, thịt bê và focalina, một thứ bánh mì trộn muối cũng của bản xứ.
- Và cho chúng tôi một chai Schram tám tám. - Ông quay sang Sophia. - Loại rượu nầy đã đoạt huy chương vàng tại cuộc thi rượu vang quốc tế ở London. Chủ vườn nho là tôi đó.
Nàng nhoẻn cười.
- Ông thật là may mắn.
May rủi chẳng liên quan gì tới đây hết.
- Tôi tin là con người ta sinh ra là để tận hưởng những của ngon vật lạ trên đời.
- Ông là con người khiến ai cũng phải kinh ngạc.
- Cám ơn.
Stanford thấy thú vị khi có một cô gái đẹp ngưỡng mộ mình. Cô bé nầy đủ trẻ để làm con gái ông và điều đó càng khiến ông khoái trá hơn.
Ăn xong Stanford cười hết cỡ:
- Chúng ta ra tầu thôi.
- Ồ, phải rồi!
Harry Stanford là một người tình không kiên định, rất đam mê và điệu nghệ. Cái tôi lớn lao khiến ông cố làm cho người tình của mình thoả mãn hơn là vì sự thoả mãn của chính mình. Ông biết cách k.ích th.ích vào những vùng nh.ạy cảm của đàn bà, và ông điều khiển cái dàn nhạc ân ái hài hoà tới mức có thể đưa người tình của mình lên những độ cao họ chưa bao giờ đạt tới trong đời.
Hai người sài trọn cả buổi chiều trong lô phòng của Stanford, và khi cuộc làm tình kết thúc thì Sophia cũng mệt rã rời. Stanford mặc quần áo và ra ngoài tìm thuyền trưởng Vacarro.
- Ngài muốn tới Sardinia phải không, ngài Stanford?
- Hãy tới Elba trước.
- Rõ. Còn điều gì khiến ngài không được hài lòng không?
- Không đâu, anh làm việc tốt lắm.
Stanford lại bỗng cảm thấy cơn hứng tình trỗi dậy, bèn lộn trở lại phòng Sophia.
Họ tới Elba vào chiều hôm sau và thả neo ở cảng Portoferraio.
***
Khi chiếc Boeing 727 vào không phận Bắc Mỹ, lái chính liên lạc với đài điều khiển mặt đất:
- Trung tâm bay New York, Boeing tám chín năm Cha đang ở trong vùng điều khiển của các vị. Chúng tôi chuẩn bị qua tầng hai sáu không để vào tầng hai bốn không.
Trung tâm bay New York đáp:
- Roger, anh được phép vào đến tầng một hai bảy, thẳng hướng JKF
Từ phía sau vẳng tới một tiếng gầm gừ khe khẽ.
- Yên nào, Prince. Để tao quàng dây an toàn quanh người mày.
Có bốn người đã đợi sẵn khi chiếc 727 hạ cánh.
Họ đứng ở những vị trí khác nhau để có thể quan sát trọn vẹn các hành khách ra khỏi máy bay. Họ chờ nửa tiếng đồng hồ. Vị hành khách duy nhất bước xuống là con chó chăn cừu giống Đức tuyền trắng.
***
Portoferraio là trung tâm siêu thị của Elba. Hai bên hè phố là những cửa hiệu hào nhoáng và tối tân, còn mặt sau vịnh là những căn nhà thế kỷ mười chín ẩn trong bóng một pháo đài lừng lững do Quận công Florence xây dựng từ thế kỷ mười sáu.
Stanford đã đến hòn đảo nầy nhiều lần, và lạ thay, ông thấy nơi nầy thân thuộc như ở nhà mình vậy. Napoleon Bonaparte từng bị đày ở đây.
- Chúng ta sẽ tham quan nhà của Napoleon, - Ông nói với Sophia. - Anh sẽ gặp em ở đó. - Ông quay sang Dmitri. - Đưa cô ấy tới biệt thự del Mulini.
- Vâng, thưa ông.
Stanford nhìn theo Dmitri và Sophia, rồi liếc nhìn đồng hồ. Thời gian đang trôi. Giờ nầy hẳn chiếc máy bay của ông đã hạ cánh xuống Kennedy. Khi thấy ông không có mặt trong chuyến đó, bọn kia hẳn sẽ lại săn đuổi từ đầu. Chúng phải mất một thời gian để tìm ra dấu vết của ta, Stanford thầm nghĩ. Đến khi đó thì mọi việc đã đâu vào đấy cả rồi.
Ông vào một buồng điện thoại công cộng và nhấc máy:
- Tôi muốn nói chuyện với London. Nhà băng Barclays. Một bảy một…
Nửa giờ sau ông qua đón Sophia và đưa nàng trở lại cảng.
- Em lên thuyền trước nhé. Anh phải đi gọi tiếp vài cuộc điện thoại nữa.
Nàng nhìn ông đi về phía buồng điện thoại công cộng và tự hỏi không hiểu tại sao Stanford lại không sử dụng phương tiện liên lạc ở trên tầu.
Trong buồng điện thoại, Stanford đang nói:
"Sumitomo Bank ở Tokyo…"
Mười lăm phút sau, ông trở lại tầu, sắc mặt hết sức nghiêm nghị.
- Chúng ta có thả neo ở đây qua đêm không? - Thuyền trưởng Vacarro lại hỏi.
- Có - Stanford đáp nhát gừng. - Không! Hãy đi Sardima. Ngay lập tức.
Costa Smeralda ở Sardinia là một trong những nơi có thắng cảnh đẹp nhất của miền Địa Trung Hải. Thị trấn nhỏ Porto Cervo là nơi nghỉ ngơi của những người giầu có khi họ cần yên tĩnh. Thị trấn có một khu lớn những biệt thự do Aly Khan xây dựng.
Việc đầu tiên Stanford làm khi bước chân lên bờ là tìm một buồng điện thoại. Dmitri theo sát chân ông và đứng canh ở ngoàỉ.
- Tôi muốn đặt một cuộc gọi đi Rome… - cánh cửa phòng điện thoại khép lại.
Cuộc đàm thoại lần nầy kéo dài ngót nghét nửa giờ.
Khi bước ra, sắc mặt của Stanford trông rầu rĩ. Dmitri thầm hỏi không biết có chuyện gì đang xảy ra.
Stanford và Sophia ăn trưa trên bãi biển Liscia di Vacca. Stanford gọi món cho cả hai người.
- Chúng ta sẽ bắt đầu với món malloreddus, rồi đến món porceddu. Về thức uống ta sẽ dùng Vernaccia, còn thức nhắm ngọt sẽ là sebadas.
Đang nói với Sophia thì ông bỗng giật mình khi thấy ngay lối vào nhà hàng có hai người đàn ông đang ngồi bên một chiếc bàn và chăm chú nhìn ông.
Mặc com lê đen sang trọng giữa cái nắng mùa hạ nầy, rõ là chúng chẳng buồn đóng vai khách du lịch nữa. Chúng đang bám theo ta hay đây chỉ là những người lạ tình cờ có mặt? Không được để mất khả năng tưởng tượng. Stanford bụng bảo dạ.
Sophia đang nói:
- Em chưa hỏi là anh đang kinh doanh trong lĩnh vực gì?
Stanford nhìn kỹ nàng. Đi cùng một người không biết gì về ông quả có làm ông hưng phấn lên thật.
- Tôi đã nghỉ hưu và đang chơi quanh thế giới cho thoả chí tang bồng thôi.
- Ông sống độc thân sao? - Giọng nàng dần thông cảm. - Hắn ông cảm thấy cô đơn lắm nhỉ?
Suýt nữa thì Stanford phá ra cười.
- Phải, tôi cô đơn lắm. Tôi rất vui vì có cô ở bên.
Nàng để tay mình lên tay ông. "Em cũng vậy"
Khi bữa trưa đã tàn, Stanford cùng Dmitri và Sophia trở vào thị trấn.
Stanford lại xăm xăm đi tìm một buồng điện thoại.
- Tôi muốn nói chuyện với Credit Lyonnais ở Paris…
Nhìn ông, Sophia nói với Dmitri:
- Ông ta thật là một con người tuyệt vời, đúng không? Không có ai như ông cả.
- Anh theo ông ta đã lâu chưa?
- Hai năm, - Dmitri đáp.
- Anh may mắn thật đấy.
- Tôi biết - Dmitri tới buồng điện thoại và đứng canh ở ngoài. Gã nghe Stanford nói: "René đấy à? Anh biết tại sao tôi gọi chứ? Đúng… đúng… Anh sẽ làm vậy chứ… Tuyệt lắm? - Giọng ông nhẹ nhõm hẳn đi. - Không… không phải ở đấy. Hãy gặp nhau ở Corsica thì hơn. Tốt lắm. Sau khi gặp nhau rồi chúng ta có thể chạy thẳng về nhà. Cám ơn anh nhé, René".
Stanford cúp máy, đứng lặng một giây, túm tỉm cười đoạn quay một số máy ở Boston. Người thư ký thưa máy:
- Văn phòng ngài Fitzgerald đây.
- Tôi là Harry Stanford. Hãy cho tôi nói chuyện với ông ta.
- Ồ ngài Stanford? Tôi xin lỗi, ngài Fitzgerald đang đi nghỉ. Còn ai hầu chuyện được ngài không?
- Không. Tôi đang trên đường về Mỹ. Cô nói với ông ta rằng tôi muốn ông ta có mặt ở Boston, tại Rose Hill vào chín giờ thứ hai. Bảo ông ta mang theo bức di chúc của tôi và một chứng viên nhé.
- Tôi sẽ cố…
- Chớ có cố! Hãy làm đi, cô bé. - Ông bỏ máy xuống và đứng lặng đi. Đầu óc quay cuồng. Lúc bước ra khỏi phòng điện thoại, giọng ông trở nên trầm lắng. - Anh có chút việc phải làm, Sophia. Em hãy tới khách sạn Pitrizza và chờ anh ở đó.
- Vâng, em sẽ tới đó. Anh đừng đi lâu quá nhé, - Sophia ngoan ngoãn đáp.
- Anh sẽ đến với em ngay.
Hai người đàn ông nhìn nàng bước đi.
- Quay lại tầu thôi. - Stanford nói với Dmitri. - Chúng ta phải lên đường.
Dmitri ngạc nhiên nhìn chủ:
- Còn…
- Nó sẽ tìm được đường về nhà.
Về đến du thuyền, Stanford bảo thuyền trưởng Vacarro:
- Chúng ta sẽ đi Corsica. Nhổ neo thôi.
- Tôi vừa nhận được bản tin cập nhật thời tiết, thưa ngài Stanford. Tôi e là đang có một cơn bão lớn. Tốt nhất là chúng ta nên chờ ở đây cho nó tan đi rồi hãy lên đường.
- Tôi muốn đi ngay, thuyền trưởng ạ.
Thuyền trưởng Vacarro do dự:
- Chuyến đi sẽ vất vả lắm, thưa ngài. Đây là một cơn libeccio - gió đông nam. Sẽ có những cơn lốc rất dữ dội.
- Tôi chả quan tâm tới chuyện đó.
Cuộc gặp gỡ ở Corsica sẽ giải quyết hết mọi vấn đề trắc trở của ông. Ông quay sang Dmitri. - Tôi muốn anh bố trí một chiếc trực thăng đón chúng ta ở Corsica đi Naples. Anh hãy dùng điện thoại công cộng trên cảng ấy.
- Vâng, thưa ông.
Dmitri lên cảng gọi điện thoại.
Hai mươi phút sau, chiếc Blue Skies khởi hành
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 4 - SÁNG
Thần tượng của gã là Dan Quayle và gã thường dùng cái tên đó như một tiêu thức.
- Tôi cóc cần biết anh nói gì về Quayle, ông ta là chính trị gia duy nhất với những giá trị đích thực. Gia đình: tất cả là ở đó. Gia đình đã bại hoại thì quốc gia cũng suy vong. Hãy xem bọn trẻ đang sống chung sống chạ với nhau, ngủ với nhau tùm lum, rồi thậm chí sinh con đẻ cái mà chẳng cưới xin gì. Nghe mà hãi. Vậy thì tội phạm cả đống như vậy cũng đâu có lạ. Nếu Dan Quayle ứng cử Tổng thống thì chắc chắn ông ta sẽ được một phiếu của tôi. - Thật là một nỗi nhục, gã thầm nghĩ, khi gã không thể bỏ phiếu bởi một nền luật pháp ngu xuẩn, song dù thế nào đi nữa thì gã cũng hậu thuẫn Quayle đến cùng.
Gã có bốn con: Billy lên tám và ba đứa con gái - Amy, Clarissa, và Susan, mười, mười hai và mười bốn tuổi. Chúng là những đứa trẻ tuyệt vời và niềm hạnh phúc lớn lao nhất của gã là chơi với con cái.
Những phút như vậy đã được gã gọi là thời gian chất lượng. Gã dành trọn mọi kỳ nghỉ cuối tuần cho bọn trẻ. Gã nướng thịt cho chúng ăn, đùa nghịch với chúng, đưa chúng đi xem phim, xem thể thao và giúp chúng làm bài tập ở nhà. Mọi bọn trẻ trong khu đều ngưỡng mộ gã. Gã sửa xe đạp và đồ chơi cho chúng, gã dẫn chúng đi pic nic cùng với gia đình mình. Chúng tặng cho gã cái tên lóng - "Cha".
Một buổi sáng thứ bảy nắng đẹp, gã ngồi trên khán đài xem một trận bóng chày. Đứa con lên tám của gã Billy, lúc đó đang chơi ở một vị trí quan trọng, trông rất có dáng nhà nghề và lớn hắn lên trong bộ đồng phục đội bóng thiếu niên. Ba cô con gái và vợ gã ngồi bên cạnh. Không thể khá hơn thế nầy được nữa, gã sung sướng nghĩ thầm. Sao tất cả những gia đình khác đều không như chúng ta?
Lúc đó đã cuối lượt chơi thứ tám, tỉ số đang sát nút, với hai lần bóng ra ngoài sân và đưa vào cuộc.
Billy đang ở vạch ngang, phải ứng phó với ba bóng và hai cú đánh.
"Cha" cao giọng cổ xuý: "Bắt lấy chúng, Billy?"
Billy đang chờ cú ném bóng. Đường bóng đi căng và thấp. Billy vung gậy quật thật lực, nhưng trượt.
Trọng tài nổi còi kết thúc lượt chơi.
Những tiếng than thở chán ngán xen lẫn tiếng cườỉ nói hỉ hả trỗi lên từ đám cổ động viên là các bậc cha mẹ lũ trẻ cầu thủ. Billy đứng như trời trồng nhìn hai đội đổi sân.
"Cha" la lớn:
- Không sao đâu, Billy. Lần tới con sẽ đánh trúng.
Billy cố nhoẻn cười.
John Cotton, huấn luyện viên của đội Billy đang chờ nó:
- Em ra khỏi sân ngay! - Ông ta bảo.
- Nhưng, thưa ông Cotton…
- Không nhưng gì hết. Ra khỏi sân ngay.
Cha của Billy đau đớn nhìn con thất thểu rời sân cỏ. Ông ta không thể làm như thế, gã bụng bảo dạ. Ông ta phải cho Billy thêm một cơ hội nữa chứ. Ta phải nói chuyện với ông ta mới được. Vừa lúc đó, điện thoại di động của gã đổ chuông. Gã cho nó reo bốn lần mới tiếp nhận cuộc gọi. Chỉ có một người biết được số máy cầm tay của gã thôi. Hắn biết mình muốn được yên vào những ngày cuối tuần mà, gã tức tối nghĩ.
Người ở máy bên kia nói khẽ độ vài phút. "Cha" lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu. Rút cuộc gã đáp:
- Vâng, tôi hiểu. Tôi sẽ lo việc đó.
- Mọi chuyện ổn cả chứ, anh yêu? - Vợ gã hỏi.
- Không, anh e là không. Họ muốn anh làm việc cả vào thứ bảy và chủ nhật còn anh thì đã có kế hoạch làm món thịt nướng cho cả nhà vào ngày mai.
Vợ gã cầm lấy tay gã mà nói âu yếm:
- Anh khỏi phải lo chuyện đó. Công việc của anh quan trọng hơn.
Không có gì quan trọng hơn gia đình ta hết. Dan Quay le hẳn hiểu điều nầy.
Tay gã bắt đầu ngứa ran và gã gãi. Sao nó lại ngứa ghê thế nhỉ? Ta sẽ phải đi gặp bác sĩ da liễu mình được.
***
John Cotton làm trợ lý giám đốc siêu thị địa phương. Ông ta là người lực lưỡng, tuổi ngoài năm mươi.
Cotton nhận lời làm huấn luyện viên cho đội tuyển thiếu nhi bởi có con trai chơi trong đó. Đội ông ta thua trận hôm thứ bảy là do lỗi của Billy.
Khi siêu thị đã đóng cửa và John Cotton đang đi ra xe thì một người lạ mặt tiến đến.
- Xin lỗi, ông Cotton.
- Vâng?
- Không biết ông có cho phép tôi nói chuyện với ông một lát không?
- Siêu thị đã đóng cửa.
- Ồ không phải chuyện cái siêu thị. Tôi muốn nói chuyện với ông về con trai tôi kia. Billy đã rất chán nản khi ông đuổi nó ra khỏi sân và nói với nó rằng nó sẽ không được chơi nữa.
- Billy là con trai ông à? Tôi lấy làm tiếc vì đã để nó chơi. Nó sẽ không bao giờ trở thành một cầu thủ bóng chày được.
Cha của Billly chân thành nói:
- Ông làm như vậy là không công bằng, ông Cotton.
- Tôi biết Billy chứ. Nó là đứa chơi tốt. Rồi ông sẽ thấy nó chơi trong trận thứ bảy tới.
- Nó sẽ không chơi vào thứ bảy tới đâu. Tôi đuổi nó rồi.
- Nhưng mà…
- Không nhưng gì cả. Chuyện thế đấy. Thôi nhé, nếu không còn gì khác thì xin phép ông, tôi đi đây.
- Ồ, vẫn còn đấy. - Cha Billy mở cái gói trong tay ra, để lộ một cây gậy bóng chày. Gã nói với giọng nài nỉ. - Đây là cây gậy Billy vẫn dùng. Ông thấy đấy cây gậy đã vỡ đầu nên thật không công bằng khi phạt nó như vậy…
- Nầy ông, tôi cóc cần biết cáì gậy đó ra sao đâu. Con ông đã bị đuổi!
Cha Billy thở dài chán ngán:
- Ông có tin là mình sẽ không đổi ý không?
- Không có cơ hội cho tôi đổi ý đâu.
Cotton vừa sờ vào tay nắm cửa xe thì cha Billy cũng vung cây gậy lên và đập vỡ tan kính hậu.
Cotton bàng hoàng nhìn gã.
- Ông… ông làm cái trò gì thế?
Khởi động chút xíu cho ấm người ấy mà, - vừa nói gã vừa đánh mạnh vào xương bánh chè của Cotton.
John Cotton thét lên và ngã xuống, quằn quại vì đau đớn.
- Mày điên rồi. Cứu tôi với.
Cha Billy quì xuống bên cạnh, nói khẽ:
- Mày mà còn kêu thêm một tiếng là tao đập vỡ nốt cái xương bánh chè còn lại.
Cotton kinh hoàng nhìn gã. Gã lạnh lùng tiếp:
- Nếu con trai tao không có mặt trong đội hình vào thứ bảy tới thì tao sẽ giết mày và giết con trai mày. Tao nói vậy đã rõ chưa?
Cotton cố nghiến răng kỳm cơn đau và gật đầu.
- Ồ mà tao không muốn chuyện nầy lộ ra đâu nhé.
- Tao có bạn bè. - Gã nhìn đồng hồ. Gã vừa đủ thời gian để đáp chuyến bay tới Boston.
Tay gã lại bắt đầu ngứa.
Vào lúc bảy giờ sáng ngày chủ nhật, gã vận com lê, tay xách chiếc cặp da sang trọng đi bộ qua Quảng trường Copley ra phố Stuart. Gã bước vào toà nhà hiệp hội Luật gia Boston. Với cả tá chủ nhân trong toà nhà đồ sộ đó, nhân viên bảo vệ có tài thánh cũng chẳng nhận ra gã là ai.
- Chào ông, - gã lên tiếng.
- Chào ngài. Tôi có thể giúp gì ngài không?
Gã thở dài:
- Đến Chúa cũng chẳng giúp gì được tôi. Người ta nghĩ tôi chẳng có việc gì khác ngoài bỏ ra cả ngày chủ nhật để làm cái việc mà một kẻ nào khác có thể đã làm rồi.
Viên bảo vệ nói, giọng thông cảm:
- Tôi hiểu cảm giác đó. - Ông ta kéo chốt cửa. - Ông làm ơn kí vào đây.
Gã kí đánh xoẹt và đi ra chỗ thang máy. Văn phòng mà gã đang tìm nằm ở tầng năm, song gã theo thang máy lên tầng sáu rồi mới lội bộ xuống. Đi dọc hành lang một đoạn gã thấy có tấm biển đồng, ghi: "RENQUIST, RENQUIST & FITZGERALD, LUẬT SƯ".
Gã nhìn quanh, và khi thấy hành lang trống trơn mới mở cặp, lôi ra một túi đồ nghề. Gã mở cửa phòng trong khoảng năm giây.
Gian tiếp tân được bài trí theo lối cổ, thị hiếu bảo thủ, đúng kiểu một hãng luật hàng đầu Boston. Gã đứng yên một lát để định vị, đoạn đi vào gian lưu trữ hồ sơ. Trong đó có một dãy tủ sắp xếp theo thứ tự chứ cái. Gã lần đến chứ R-S. Tủ khoá.
Gã bèn rút trong cặp ra một bản chìa khoá chưa khoét răng, một cái cưa nhỏ và một đôi giũa. Gã tra bản chìa khoá vào ổ, lắc nhẹ một lát. Sau vài giây gã rút nó ra và ngắm nghía những vệt đen hằn trên đó rồi hí hoáy giũa. Miệng gã nhoẻn cười khi nhận ra mình đang lẩm bẩm: "Phải đi những nơi thật xa"
Một kỳ nghỉ thực thụ nhé. Ta tin lũ trẻ sẽ rất khoái Hawaii
Cánh cửa tú rút cuộc cũng được mở. Chỉ nháy mắt gã đã tóm được bộ hồ sơ cần tìm. Gã rút chiếc máy ảnh Pentax nhỏ ra và bắt đầu bấm. Mười phút sau thì xong. Đoạn gã lấy vài mẩu giấy Kleenex, đi ra vòi nước nhúng cho ướt rồi thấm sạch những vụn kim loại rơi ra sàn nhà. Gã khoá tủ hồ sơ lại, bước ra hành lang, đóng nốt cửa văn phòng và chuồn khỏi toà nhà.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527

CHƯƠNG 5 - SÁNG
Ngoài khơi tối hôm ấy, thuyền trưởng Vacarro tới phòng Stanford.
- Ngài Stanford…
- Có tôi.
Thuyền trưởng chỉ lên tấm bản đồ điện tử trên tường và nói:
- Tôi e là cơn bão đang mạnh lên. Tâm cơn Libeccio nầy nằm ở eo biển Bonifacio. Theo thiển ý của tôi, chúng ta nên tạm lánh vào vịnh chờ đến khi…
Stanford vội cắt ngang:
- Đây là một con tầu tốt, và ông là thuyền trưởng tốt Tôi tin ông có thể vượt qua cơn bão.
Thuyền trưởng Vacarro lưỡng lự:
- Tôi sẽ cố hết sức, thưa ngài.
- Tôi tin như vậy, thuyền trưởng ạ.
Stanford ngồi trong văn phòng và vạch chiến lược của mình. Ông sẽ gặp René ở đảo Corsica và giải quyết mọi chuyện trong buổi gặp ấy. Sau đó, trực thăng sẽ đưa ông đi Naples, rồi từ Naples ông sẽ gọi máy bay đưa ông về Boston. Mọi chuyện sẽ suôn sẻ cả ông thầm nghĩ. Ta chỉ cần có bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Chỉ bốn mươi tám tiếng thôi.
***
Ông tỉnh giấc vào lúc hai giờ sáng bởi tiếng gió rít và con tàu tròng trành dữ dội quá. Stanford đã gặp bão biển nhiều lần, song chưa có cơn nào ghê gớm như cơn nầy. Thuyền trưởng Vacarro nói đúng.
Stanford ngồi dậy, tay bám chặt thành gi.ường cho khỏi ngã rồi lần mò đi ra chỗ tấm bản đồ. Con tầu đang ở vùng eo biển Bonifacio. Chúng ta sẽ tới Ajaccio trong vài giờ nữa. Tới được đó là an toàn
Những sự kiện tiếp theo xảy ra trong đêm đó chỉ là sự phỏng đoán. Báo chí chọ rằng bâo lớn đã hất một số người xuống biển, và Stanford đã cố cứu họ, song vì con tầu tròng trành nên ông đã mất thăng bằng và ngã ra ngoài bao lơn. Dmitri Kaminsky thấy ông ngã xuống nước liền vớ lấy máy liên lạc nội bộ và kêu lên:
- Có người rơi!
 
Hiệu chỉnh bởi quản lý:

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 6 - SÁNG
Đại uý cảnh sát trưởng đảo Corsica, François Durer, đang trong tâm trạng bực bội. Hòn đảo nầy giờ nhung nhúc những khách du lịch mùa hè vụng dại đến độ ngay cả việc giữ tấm hộ chiếu, ví tiền hay thậm chí cả con cái mình cũng không xong.
Những lời phàn nàn đổ như thác cả ngày về cái phòng cảnh sát bé tí hon của gã ở số 2, đường Napoleon.
- Tôi bị đánh cắp mất ví tiền.
- Tàu của tôi nhổ neo và bỏ rơi tôi. Vợ tôi lại ở trên tàu.
- Tôi mua cái đồng hồ nầy từ một kẻ bán rong ngoài phố. Mở ra thì bên trong rỗng tuyếch.
- Các hiệu thuốc ở đây chả quan tâm tôi thực sự cần cái gì.
Các vụ việc cứ thế được trình báo một cách bất tận.
Và giờ thì hình như có một viên thuyền trưởng đang giữ một cái xác trong tay.
- Tôi không có thời gian giải quyết việc nầy ngay bây giờ đâu, - gã cáu kỷnh nói.
- Nhưng người ta đang chờ ở ngoài kia, - viên phụ tá thông báo. - Tôi biết nói gì với họ đây?
Đại uý Durer đang nóng lòng về với tình nhân, chỉ muốn nói, "Bảo họ mang cái xác sang đảo khác," song nghĩ cho kỹ thì gã đường đường là một sĩ quan cảnh sát trên hòn đảo nầy.
- Thôi được, - gã thở dài. - Tôi sẽ tiếp họ một lát vậy Không đầy một phút sau, thuyền trưởng Vacarro và Dmitri đã hiện ra lù lù trong phòng.
- Ngồi xuống, - Đại uý Durer hất hàm nói.
Hai người làm theo.
- Hãy nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra?
Thuyền trưởng Vacarro đáp:
- Tôi không biết chính xác lắm. Tôi đã không trông thấy những gi xảy ra. - Ông ta quay sang Dmitri. - Anh ấy mới là người tận mắt chứng kiến. Có lẽ nên để anh ấy trình bày thì hơn.
Dmitri hít một hơi thật sâu:
- Chuyện thật là kinh hoàng. Tôi làm việc… tôi từng làm việc cho ông ấy.
- Ông làm cái gì?
Vệ sĩ, mát xa, tài xế. Tầu chúng tôi gặp bão đêm qua. Cơn bão thật dữ dội. Ông ấy bảo tôi xoa bóp cho ông ấy đỡ mỏi. Sau đấy ông ấy bảo tôi mang cho vài viên thuốc ngủ. Thuốc ngú lúc đó đang để trong phòng tắm. Khi tôi quay lại thì ông ấy đang đứng ngoài hiên, tựa vào lan can tầu, trong tay cầm một tập giấy. Một tờ bị gió thổi bay ra, và ông ấy nhoài người cố bắt lấy nó nên mất thăng bằng và ngã lộn ra ngoài. Tôi chạy tới cứu, song không kỵp, đành bó tay. Tôi gọi cấp cứu. Thuyền trưởng Vacarro lập tức dừng con tàu lại, và nhờ những hành động dũng cảm của thuyền trưởng chúng tôi mới tìm thấy ông ta. Song quá muộn rồi. Ông ấy đã chết đuối.
- Tôi rất lấy làm tiếc. - Đại uý Durer nói nhẹ tênh.
Thuyền trưởng Vacarro lên tiếng:
- Gió và sóng biển dưa cái xác trở lại con tầu. Thật ra thì đấy chỉ là sự may mắn thôi, nay chúng tôi muốn xin phép đưa cái xác về nhà.
- Cái đó không khó. - Gã vẫn còn đủ thời gian uống với người tình một li rượu trước khi về nhà với vợ. Tôi sẽ cấp ngay cho quí vị một giấy chứng nhận tử vong và một thị thực xuất cảnh cho cái xác - Gã cầm lên một tệp giấy mầu vàng. - Tên nạn nhân là gì?
- Harry Stanford
Đại uý Durer bỗng ngây người ra. Gã nhìn lên:
- Harry Stanford à?
- Vâng.
- Ông Harry Stanford đó?
- Vâng.
Đại uý Durer liền nẩy ra một ý. Vậy là Chúa đã thả vàng vào lòng gã rồi. Harry Stanford là một huyền thoại của cả hành tinh! Tin về cái chết của ông ta mà tung ra khắp thế giới thì xôm phải biết.
Thì đại uý Durer đang kiểm soát cái đó chứ còn ai?
Vấn đề bây giờ là làm sao nhào nặn nó theo hướng có lợi nhất cho gã. Durer nhìn trân trân vào khoảng không, suy nghĩ rất căng.
- Sau bao lâu thì cái xác có thể được xuất cảnh? - Thuyền trưởng Vacarro hỏi.
Đạỉ uý Durer ngẩng lên.
- À câu hỏi hay lắm. - Sau bao lâu báo chí có thể tới đây? Có nên đề nghị viên thuyền trưởng cùng tham gia trả lời phỏng vấn không nhỉ? Không nên. Việc gì phải chia sẻ vinh quang với hắn? Ta sẽ xử lí một mình. - Phải chuẩn bị một số giấy tờ. Có thể mất một tuần hoặc hơn.
Thuyền trưởng Vacarro ngạc nhiên:
- Một tuần hoặc hơn ư? Nhưng ngài vừa nói…
- Có một số thủ tục hành chính nhất định phải tuân thú. Những việc như thế nầy không vội được đâu - Gã lại cầm tệp giấy màu vàng lên. - Ai là thân nhân của nạn nhân?
Thuyền trưởng Vacarro nhìn Dmitri cầu cứu:
- Tôi nghĩ câu hỏi nầy nên dành cho các luật sư của ông ta ở Boston trả lời.
- Tên vị luật sư đó là gì.
- Hãng luật Renquist, Renquist & Fitzgerald.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 7 - SÁNG
Tuy tấm biển trên cửa đề RENQUIST, RENQUIST & FITZGERALD hai vị Renquist đều đã quá cố từ lâu. Chỉ còn Simon Fitzgerald là vẫn sống khoẻ, và ở tuổi bảy mươi sáu ông vẫn là cái đầu tầu cung cấp năng lượng cho cả văn phòng với sáu mươi luật sư làm việc dưới trướng ông. Ông gầy, với mái đầu bạc trắng, và dáng đi thẳng như dáng đi của một nhà binh. Vào lúc nầy ông đang đi tới đi lui, đầu óc rối bời.
Ông dừng lại trước mặt cô thư kí:
- Lúc ông Stanford gọi điện tới, ông ta có để lộ dấu hiệu nào cho thấy muốn gặp tôi gấp như vậy về việc gì không?
- Không, thưa ông. Ông ta chỉ nói muốn ông có mặt tại nhà ông ta vào lúc chín giờ sáng thứ hai, khi đi mang theo di chúc của ông ta và một công chứng viên.
- Cám ơn. Cô làm ơn gọi Sloane vào cho tôi gặp.
Steve Sloane là một trong những luật sư thông minh và năng động nhất trong văn phòng Fitzgerald.
Steve tốt nghiệp Trường Luật Harvard năm bốn mươi tuổi. Anh ta có đáng người cao, rắn chắc, mái tóc vàng, đôi mắt xanh vui nhộn. Anh ta là chuyên gia giải quyết bế tắc của hãng và được Simon Fitzgerald lựa chọn làm người kế vị của mình trong tương lai. Nếu ta có một đứa con trai thì ta muốn nó phải giống Steve. Ông nhìn Steve đi vào.
- Ông có kế hoạch đi câu ở tận Newfoundland cơ mà? - Steve nói.
- Có một trục trặc nhỏ khiến tôi không đi được.
- Cậu ngồi xuống đây, Steve. Chúng ta đang có vấn đề phải giải quyết.
Steve thở dài:
- Còn gì rắc rối nữa dây?
- Chuyện của Harry Stanford.
Stanford là một trong những khách hàng sộp nhất của hãng. Hàng chục các hãng luật khác đang làm đại diện cho các chi nhánh khác nhau của Stanford Enterprises, song chỉ có Renquist, Renquist & Fitzgerald là hãng duy nhất được chăm lo đời sống của ông. Ngoài Fitzgerald ra chưa một ai trong hãng từng được thấy mặt Stanford, ông chỉ ở trong tâm trí các nhân viên như một huyền thoại mà thôi.
- Stanford đã làm gì lần nầy? - Steve hỏi.
- Ông ta đã làm cho mình hồn lìa khỏi xác.
Steve trố mắt nhìn xếp:
- Ông ta làm gì?
- Tôi vừa nhận được fax từ phòng cánh sát đảo Corsica. Hôm qua, rõ là Stanford đã ngã lộn ra ngoài thành tàu và chết đuối.
- Chúa ơi!
- Tôi biết anh chưa từng gặp ông ta, nhưng tôi thì đã đại diện cho ông ta suốt ba chục năm nay. Ông ta là người rất khó chơi. - Fitzgerald ngả người ra ghế, hồi tưởng lại quá khứ. - Thực thì có hai con người Harry Stanford. Con người mà ai nấy đều biết là một Harry Stanford hái tiền như người ta hái lá trên cây, còn một Harry Stanford súc sinh kia thì lấy sự huỷ diệt con người làm nguồn vui. Ông ta có thể là con người đáng mến, song cũng có thể vờn múa với anh như một con rắn hổ mang bành. Ông ta có hai tính cách, là hai mặt của một con rắn.
- Nghe đầy kích động.
- Khoảng ba mươi năm trước, chính xác là ba mươi mốt năm, khi tôi vào làm cho hãng luật nầy. Thời đó ông già Renquist đang làm luật sư riêng cho Stanford. Anh có biết người ta thường nói " lớn hơn cả cuộc sống không?" Thế nầy nhé, Stanford thực là con người lớn hơn cả cuộc sống chứ không ngoa.
Cứ như ông ta là do trời đất sinh ra vậy. Đó là một gã khổng lồ. Ông ta có một năng lượng và những tham vọng thật khủng khiếp, là một vận động viên điền kinh đại tài. Thời sinh viên ông ta từng là võ sĩ đấm bốc và là cầu thủ polo 10 bàn thắng. Song thậm chí khi còn rất trẻ, Stanford đã là người không ai bì kỵp. Ông ta độc ác và thích báo thù, và ông ta có một bản năng tàn nhẫn. Ông ta thích đẩy đối thủ tới phá sản. Người ta đồn rằng có không ít người phải tự tử vì ông ta.
- Nghe cứ như ông ta là một con quái vật vậy.
- Điều đó đúng ở một mặt. Mặt khác, ông ta nhận đỡ đầu cho một trại trẻ mồ côi ở New Guinea và một bệnh viện ở Bombay, ông ta từng tặng hàng triệu đô la tiền từ thiện. Thực không ai hiểu chuyện gì xảy ra tiếp theo.
- Làm sao ông ta có thể giàu có đến thế nhỉ?
- Kiến thức về thần thoại Hy Lạp của anh tới đâu?
- Thứ kiến thức đó ở tôi cùn lắm.
- Anh biết chuyện Ơ-đíp chứ?
Steve gật đầu:
- Ông ta đã giết cha mình để lấy mẹ mình.
- Đúng vậy đó, chính là Harry Stanford. Chỉ có điều ông ta đã giết cha để lấy lá phiếu của mẹ mình.
Steve ngây ra nhìn.
- Cái gì?
Fitzgerald nhổm người lên trước.
- Vào đầu những năm ba mươi, bố của Harry có một cửa hiệu tạp hoá ở thành phố Boston nầy. Cửa hiệu của ông làm ăn phát đạt tới mức chẳng mấy chốc ông mở thêm cái thứ hai, thứ ba, rồi cả một hệ thống. Lúc Harry tốt nghiệp đại học bố Harry liền đưa ông ta vào làm ăn cùng và thu xếp cho ông ta một chân trong hội đồng quản trị. Như tôi đã nói, Harry là người giầu tham vọng. Thay vì mua thịt đóng hộp, ông ta muốn có cả dây chuyền sản xuất. Ông ta muốn mua đất và tự trồng lấy rau, đóng hộp lấy sản phẩm của mình. Ông bố không nhất trí, và hai cha con cãi vã thường xuyên. Rồi một hôm Harry nói với bố rằng ông muốn công ty xây dựng một hệ thống các siêu thị bán mọi thứ từ xe hơi đến vật dụng tiện nghi, bảo hiểm sinh mạng với giá hạ rồi thu của khách hàng một khoản phí hội viên. Bố Harry cho con trai đã hoá điên bèn gạt phăng ý định đó. Nhưng Harry đã quyết là làm.
Việc đầu tiên là phải loại bỏ ông già đã. Ông thuyết phục bố đi nghỉ mát thật lâu, và nhân lúc ông bố đi vắng, Harry ra sức lấy lòng hội đồng quản trị. Harry Stanford là một nhà buôn thông minh và ông ta bán được món hàng với điều kiện của mình. Lại còn chèo kéo bà cô và ông cậu mình, là những thành viên của hội đồng quản trị, bỏ phiếu cho mình.
Rồi ông ta mơn trớn và khen ngợi những thành viên khác. Ông ta mời họ đi ăn, đi săn với người nầy, đánh golf với người kia. Ông ngủ với bà vợ một thành viên hội đồng quản trị, người có ảnh hưởng lớn đối với quyết định của chồng mình. Song mẹ ông ta lại là người có cổ phần lớn nhất và là người ra lá phiếu quyết định. Harry bèn thuyết phục bà nhường cổ phần cho ông và bỏ phiếu chống.lại chồng mình.
- Thật không thể tin nổi!
Lúc bố Harry trở về ông mới nhận ra mình đã bị bỏ phiếu loại khỏi công ty.
- Lạy Chúa?
- Còn hơn thế nữa. Harry đâu có chịu dừng lại ở đó Khi bố Harry cố lọt vào văn phòng của con trai, ông nhận thấy mình bị chặn lại trước cửa toà nhà.
Và hãy nhớ, lúc đó Harry mới ngoài ba mươi. Cả công ty gọi ông ta bằng cái tên lóng "Người băng".
Nhưng ông ta biết giữ chữ tín ở những đâu cần chữ tín, Steve ạ. Một tay ông ta gây dựng Stanford Enterprises thành một trong những tập đoàn lớn nhất hành tinh. Ông ta mở rộng hoạt động công ty sang các lĩnh vực cao su, hoá chất, viễn thông, điện tử và bất động sản.
- Ông ta quả là con người huyền thoại, - Steve nói.
- Đúng thế. Huyền thoại với cả đàn ông lẫn đàn bà.
- Ông ta có vợ không?
Simon Fitzgerald trầm ngâm một lúc rồi mới nói:
- Harry Stanford lấy một phụ nữ đẹp nhất mà tôi từng gặp trong đời, Emily Temple. Họ có với nhau ba đứa con, hai trai một gái. Emily xuất thân từ một gia đình danh giá ở Hope Sound, Florida. Bà ta mê Harry và cố nhắm mắt làm ngơ trước cá tính hoang đàng của ông, nhưng rồi một ngày bà cảm thấy không chịu đựng nổi nữa. Bà nuôi một nữ gia sư tên là Rosemary Nelson để dạy dỗ mấy đứa con.
Trẻ và hấp dẫn. Cái làm cho cô gia sư ngày càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt Harry Stanford là việc cô kiên quyết không chịu ngủ với ông. Harry điên cuồng vì thế. Ông đâu có chịu nổi sự từ chối bao giờ? Song một khi Harry Stanford muốn tỏ ra dễ thương thì đàn bà thật khó lòng cưỡng nổi. Rút cuộc ông ta cũng kéo được Rosemary lên gi.ường. Ông ta làm cho Rosemary có thai, và cô ta bèn tìm tới bác sĩ. Khốn thay đứa con rể ông bác sĩ là nhà báo, nhặt được mẩu tin liền cho đăng ngay. Tiếp theo đó là một vụ scandal ghê gớm. Anh còn lạ gì cái thành phố Boston nầy. Thẩy báo chí đều làm rùm beng. Tôi còn lưu giữ vài bài ở đâu đây thì phải.
- Cô ta có phá thai hay không?
Fitzgerald lắc đầu:
- Không. Harry thì muốn, nhưng cô ta lại không, nhất định không. Ông ta bèn nói rằng yêu cô ta và muốn lấy làm vợ. Dĩ nhiên ông ta đã nói như vậy với cả chục người đàn bà. Nhưng Emily nghe được mẩu đối thoại trên và ngay đêm đó đã tự vẫn.
- Khủng khiếp quá. Thế chuyện gì đã xảy ra với cô gia sư?
- Rosemary Nelson biến mất. Chúng tôi biết cô ấy đã sinh hạ một đứa con gái tên là Julia ở bệnh viện Joseph, thành phố Milwaukee. Cô ta gửi thư báo cho Stanford biết song tôi tin ông ta đã chẳng thèm trả lời. Đến khi đó ông ta đã cặp kè với một người đàn bà khác ông ta chẳng còn thích thú gì Rosemary nữa. Tấn bi kỵch thực thụ sau đó mới diễn ra. Con cái đổ lỗi cho cha đã đẩy mẹ chúng tới chỗ tự tử.
Lúc đó chúng mới lên mười, mười hai và mười bốn. Đủ khôn lớn để cảm nhận nỗi đau, song lại quá non nớt để chống lại cha mình. Chúng chỉ còn biết căm thù ông ta. Và nỗi sợ hãi lớn nhất của Harry là đến một ngày nào đó chúng sẽ đối xử với ông như ông đã cư xử với cha mình. Bởi thế mà ông ta làm tất cả những gì có thể để đoán chắc điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Ông ta gửi chúng đi thật xa, tới các trường nội trú và trại hè khác nhau, và sắp đặt sao cho chúng gặp nhau càng ít càng tốt. Ông ta không cho chúng tiền. Chúng sống bằng số tiền lãi ít ỏi mà mẹ chúng để lại. Suốt cả quãng đời chúng, ông sử dụng chiến thuật treo củ cà rốt trước mũi con bò. Ông chia gia sản của ông ra như củ cà rốt, rồi thu nó về khi chúng làm mếch lòng ông.
- Chuyện gì đã đến với lũ trẻ?
- Tyler làm thẩm phán cho toà biện lý ở Chicago. Woodrow chẳng có nghề ngỗng gì. Anh ta là tay chơi. Anh ta sống ở Hobe Sound, chuyên chơi cá độ golf và polo. Vài năm trước anh ta chài một cô bồi bàn ở một bữa ăn tối, làm cô ta có thai, rồi cưới cô ta trước sự ngạc nhiên của mọi người. Kendall là một nhà thiết kế mẫu thời trang thành đạt, lấy một ông chồng người Pháp. Họ sống ở New York. - Fitzgerald đứng lên. - Anh đã bao giờ đến Corsica chưa?
- Chưa.
- Tôi muốn anh bay sang đó. Người ta đang giữ xác của Harry Stanford và cảnh sát không chịu nhả nó ra. Tôi muốn anh làm cho rõ chuyện.
- Tốt thôi.
- Liệu anh có thể thu xếp bay ngay hôm nay không?
- Được
- Cám ơn anh.
Trên chuyến bay từ Paris tới Corsica, Steve mới bắt đầu đọc cuốn sách du lịch về hòn đảo nầy. Anh hiểu ra rằng phần lớn diện tích hòn đảo là núi, thành phố cảng chính là Ajaccio, và đây cũng là nơi Napoleon Bonaparte đã sinh ra. Quyển sách chứa đầy những con số thống kê thú vị, song vẻ đẹp của hòn đảo mới khiến Steve bất ngờ.
Máy bay đáp xuống phi trường Ajaccio. Taxi đưa Steve về phố Napoleon, con phố chính chạy dài từ Place General de Gaulle lên tận ga xe lửa ở phía bắc. Anh đã thu xếp một chiếc máy bay dự phòng để chở xác Harry Stanford về Paris, nơi chiếc quan tài sẽ được chuyển tiếp về Boston. Anh chỉ cần lấy được cái xác ra là xong việc.
Steve cho taxi đỗ lại trước cửa toà nhà quận trưởng trên phố Napoleon và đi thẳng vào phòng tiếp tân.
Viên hạ sĩ mặc quân phục ngồi sau bàn hỏi:
- Xin chào, tôi giúp được gì cho ngài?
- Ai phụ trách ở đây?
- Đại uý Durer.
- Làm ơn cho tôi gặp ông ta.
- Ông có q.uan hệ gì với đại uý?
Steve chìa danh thiếp của mình ra.
- Tôi là luật sư riêng của Harry Stanford. Tôi tới để đưa xác ông ta về Mỹ.
Viên hạ sĩ cau mày.
- Ông chờ cho một lát.
Nói xong hắn lặn mất vào văn phòng của đại uý Durer, cẩn thận khép cửa lại. Văn phòng lúc đó đang chật ních những phóng viên truyền hinh và báo chí từ mọi ngõ ngách trên địa cầu. Tất cả nhao nhao cùng nói:
- Thưa đại uý, lí do gì khiến ông ta lên tàu khi đang cơn bão?
- Làm sao ông ta có thể rơi ra khỏi tầu?
- Có dấu hiệu gì về một cú chơi bẩn không?
- Các ông có giải phẫu tử thi không?
- Còn những ai khác ở trên tàu với ông ta?
- Xin quí vị trật tự. - Đại uý Durer giơ tay lên và nói. - Xin quí vị giữ trật tự. - Gã nhìn quanh gian phòng, vào đám phóng viên đang nuốt lấy từng lời gã, và gã ngây ngất sung sướng. Gã mơ một giây phút như thế nầy từ lâu lắm rồi. Nếu mình thu xếp tốt vụ nầy hẳn phải được thăng chức lớn chứ chẳng chơi. Viên hạ sĩ bỗng cắt ngang luồng suy nghĩ của gã.
Hắn thì thầm vào tai Durer và chìa cho gã xem tấm danh thiếp của Steve.
Đại uý Durer cau mày ngắm tấm danh thiếp một lúc rồi đáp:
- Tôi không tiếp ông ta ngay bây giờ được đâu. Bảo ông ta quay lại đây vào mười giờ sáng mai.
- Rõ, thưa đại uý.
Đại uý Durer trầm tư nhìn theo viên hạ sĩ. Còn lâu gã mới để người ta cướp mất khoảng khắc huy hoàng nầy. Gã quay lại với đám phóng viên và mỉm cười tủm tỉm.
- Nào, các vị đang hỏi gì ấy nhỉ?
Ở phòng ngoài viên hạ sĩ nói với Steve.
- Thành thực xin lỗi ông, đại uý Durer của chúng tôi hiện đang rất bận. Ông ta muốn ông trình diện vào mười giờ sáng mai.
Steve hoảng hốt nhìn hắn:
- Sáng mai ư? Như vậy thì kỳ cục quá. Tôi không muốn phải chờ lâu đến thế đâu.
Viên hạ sĩ nhún vai.
- Cái đó tuỳ ông.
- Ông có thể chỉ dùm tôi một khách sạn không?
- Tôi khuyên ông trú tại khách sạn Colomba, số tám, đại lộ Paris.
Steve do dự.
- Có cách gì…?
- Hẹn gặp ông mười giờ sáng mai.
Steve quay người bước ra khỏi toà nhà.
Trong văn phòng của Durer, một phóng viên truyền hình hỏi:
- Làm sao ông đoán chắc đó là một tai nạn?
Durer nhìn thẳng vào camera:
- Cũng may mà có một nhân chứng chứng kiến sự khủng khiếp đó. Cabin của ngài Stanford nhìn ra một cái sân hiên. Rõ là có một số giấy tờ quan trọng bỗng tuột khỏi tay ông, bị gió cuốn ra ngoài, và ông ta đã đuổi theo để bắt lấy chúng. Khi vươn người ra ông bị mất thăng bằng và ngã xuống nước. Vệ sĩ của ông thấy vậy bèn lập tức kêu cứu. Con tàu dừng lại, và họ đã vớt được cái xác lên.
- Kết quả giải phẫu cho thấy điều gì?
- Corsica là một hòn đảo nhỏ, thưa quí vị. Chúng tôi không được trang bị để tiến hành một cuộc giải phẫu đầy đủ và nghiêm túc. Tuy nhiên kết quả khám nghiệm sơ bộ cho thấy nguyên nhân cái chết là do nạn nhân đã uống nhiều nước. Chúng tôi phát hiện thấy nước biển trong phổi của ông. Không phát hiện thấy các vết bầm tím hay bất kỳ dấu hiệu nào của bạo lực trên thi thể nạn nhân.
- Xác nạn nhân hiện đang ở đâu?
- Chúng tôi đang bảo quản trong buồng lạnh và đang chờ giấy phép để có thể đưa thi thể nạn nhận đi.
Một nhà nhiếp ảnh nói:
- Xin đại uý cho phép chúng tôi chụp ảnh ngài.
Đại uý Durer lưỡng lự một giây:
- Không được. Mà thôi, xin quý vị cứ việc.
Và các đèn máy ảnh bắt đầu loé chớp.
Lúc đó Corsica đang vào mùa du lịch. Đường phố nhộn nhịp du khách nói tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Nhật và tiếng Đức.
Tối ấy, Steve ăn tại một nhà hàng Italia rồi trở về khách sạn của mình.
- Có ai nhắn lại gì tôi không? - Anh hỏi người trực phòng.
- Không, thưa ngài.
Anh nằm trên gi.ường và bị ám ánh bởi nhưng gì Simon Fitzgerald đã kể về Harry Stanford.
"Cô ta có phá thai không". "Không. Harry thì muốn, nhưng cô ta lại không nhất định không. Ông ta bèn nói rằng yêu cô ta và muốn lấy làm vợ. Dĩ nhiên ông ta đã nói như vậy với cả chục người đàn bà. Nhưng Emily nghe được mẩu đối thoại trên và ngay đêm đó đã tự vẫn".
Steve thầm hỏi không biết Emily đã tự tử thế nào.
Rồi anh ngủ thiếp đi.
Đúng mười giờ giáng hôm sau, Steve xuất hiện trước toà nhà quận trưởng. Vẫn viên hạ sĩ hôm qua ngồi ở bàn tiếp tân.
- Xin chào, - Steve nói.
- Chào ông, liệu tôi có thể giúp gì ông?
Steve lại đưa cho viên hạ sĩ một tấm danh thiếp.
- Tôi tới để gặp đại uý Durer.
- Ông chờ cho một phút. - Viên hạ sĩ nói và biến mất vào trong.
Đại uý Durer mặc bộ quân phục mới toanh, đang trả lời phỏng vấn trước một phóng viên truyền hình từ Italia. Gã đang nhìn vào ống kính.
- Khi tôi nhận trách nhiệm xử lí vụ nầy, việc đầu tiên tôi làm là giám định xem có sự hành hung nào liên quan tới cái chết của ngài Stanford không?
- Và ông đã hài lòng vì rằng cái chết của ngài Stanford không phải do bạo lực gây ra?
- Hoàn toàn hài lòng. Chắc chắn ông ta đã chết do một tai nạn.
Đạo diễn nói:
- Hãy chuyển ống kính ra một góc quay khác gần hơn.
Viên hạ sĩ thừa cơ dúi vào tay đại uý tấm danh thiếp của Steve. "Ông ta đang chờ ngoài kia".
- Anh làm sao thế? - Durer lừ mắt hỏi. - Anh không thấy tôi đang bận hay sao? Bảo ông ta ngày mai quay lại. - Gã vừa hay tin có một toán hơn chục phóng viên nữa đang tới, một số từ những vùng xa xăm như Nga hay Nam Phi.
- Ngài đã sẵn sàng chưa, thưa đại uý? - Đạo diễn hỏi.
Đại uý Durer mỉm cười.
- Tôi đã sẵn sàng.
Viên hạ sĩ trở ra phòng ngoài.
- Xin ông thứ lỗi. Đại uý Durer hôm nay đi công vụ vắng.
- Thì tôi cũng đang đi công vụ đây, - Steve vặc lại - Nói với ông ta rằng ông ta chỉ việc ký giấy thả xác ông Stanford ra cho tôi là tôi đi liền. Tôi đâu có yêu sách gì ghê gớm, hẳn thế.
- Đấy là một yêu sách ghê gớm, thưa ông. Đại uý có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, và…
- Còn ai khác có thẩm quyền cấp giấy phép cho tôi không?
- Ồ không, thưa ông. Chỉ mình đại uý có thẩm quyền thôi.
Steve tức tối đến lặng cả người.
- Bao giờ tôi mới có thể gặp ông ta?
- Ông cứ thử một lần nữa vào sáng mai xem.
Chữ "thử lại lần nữa" vang trong tai Steve như tiếng lựu đạn nổ.
- Tôi sẽ làm như vậy. Mà nầy, vệ sĩ của ngài Stanford, Dmitri Kaminsky, đã tận mắt chứng kiến tai nạn xảy ra?
- Đúng thế.
- Tôi muốn nói chuyện với anh ta. Liệu ông có thể cho tôi biết anh ta đang ngụ ở đâu không?
- Australia.
- Đấy là một khách sạn à?
- Không, thưa ông. - Giọng viên hạ sĩ pha chút thương hại. - Đấy là tên một nước.
Steve cao giọng phẫn nộ:
- Phải chăng anh đang nói với tôi rằng nhân chứng duy nhất trong cái chết của Stanford đã được cảnh sát cho phép rời khỏi đây trước khi có ai đó kỵp tiếp xúc với anh ta?
- Đại uý Durer đã tiếp xúc.
Steve hít một hơi thật sâu:
- Cám ơn.
- Không có gì, thưa ông.
Trở về khách sạn, Steve liền báo cáo lại cho Simon Fitzgerald.
Có vẻ như tôi còn phải ở đây thêm một đêm nữa.
- Sao vậy, Steve?
- Gã phụ trách đồn có vẻ rất bận rộn. Bây giờ đang mùa du lịch ở đây. Hẳn gã ta đang mải tìm mấy cái ví tiền bị đánh cắp. Tôi nhất định sẽ phải rời khỏi đây ngày mai.
- Liên lạc thường xuyên với tôi nhé.
***
Tuy trong lòng tức tối, Steve vẫn không khỏi rung động trước vẻ đẹp của Corsica. Hòn đảo có hàng nghìn dặm bờ biển, với những ngọn núi đá Granit cao vút, đỉnh phủ tuyết trắng tới tận tháng Bảy mới tan. Người Ý từng thống trị hòn đảo cho đến khi người Pháp tiếp quản nó. Chính sự kết hợp giữa hai nền văn hoá đã mang đến cho hòn đảo một sức quyến rũ kỳ lạ.
Trong bữa ăn tối tại nhà hàng Crêperie Usan Carlu, Steve nhớ lại những gì Simon Fitzgerald mô tả về Harry Stanford. Stanford là người duy nhất tôi biết không ai bì kỵp. Ông ta độc ác và thích báo thù, và ông ta có một bản năng tàn nhẫn.
Thực hư thế nào chưa biết, chỉ thấy Harry Stanford đang gây ra cả đống rắc rối, thậm chí khi đã về chầu ông vải rồi, Steve nghĩ thầm.
Trên đường về khách sạn, Steve dừng lại mua một tờ International Herald Tribune. Một hãng tít lớn đập vào mắt anh: CHUYỆN GÌ SẼ ĐẾN VỚI ĐẾ CHẾ STANFORD? Anh trả tiền toan quay đi thì lại thấy một loạt những hàng tít khác na ná như vậy trên những tờ báo nước ngoài. Anh cầm chúng lên, lướt nhìn mà thấy tay mình run lên vì giận dữ. Thẩy mọi tờ báo đều dành trang nhất để mô tả cái chết của Stanford, và ở đâu hình ảnh đại uý Durer cũng nổi lên như một ngôi sao. Ra gã bận vì thế nầy đây! Mình phải săn sóc thêm gã nầy mới được.
Chín giờ bốn mươi nhăm phút sáng hôm sau, Steve quay lại phòng tiếp khách của đại uý Durer. Viên hạ sĩ đang không có ở đấy, còn cửa phòng đại uý Durer thì mở hé. Anh bèn bước vào trong. Viên đại uý lại thay thêm một bộ quân phục mới nữa và đang hí hoáy chuẩn bị cho các cuộc phỏng vấn buổi sáng của mình. Gã ngẩng nhìn Steve:
- Anh làm gì ở đây? Đây là văn phòng riêng. Hãy ra ngay!
- Tôi là phóng viên của tờ New York Times, - Steve tự giới thiệu.
Sắc mặt Durer bỗng sáng ngời lên.
- Mời vào, mời vào… Ông nói tên ông là…
- John. John Jones.
- Ông dùng gì? Cà phê? Cognac?
- Không, cám ơn.
- Mời ông ngồi xuống. Mời. - Durer rối rít nói. - Hẳn ông tới đây về tấn bi kỵch khủng khiếp đã xẩy đến với hòn đảo nhỏ nầy của chúng tôi. Ngài Stanford xấu số tội nghiệp.
- Đến bao giờ các ông mới có kế hoạch thả cái xác ra?- Steve hỏi.
Đại uý Durer thở dài:
- À, tôi hy vọng việc đó sẽ không mất nhiều ngày cho lắm. Một trường hợp quan trọng như ngài Stanford thì sẽ có một số tờ khai phải điền vào. Có những thủ tục phải theo, ông hiểu đấy.
- Tôi nghĩ là tôi hiểu, - Steve nói.
- Có thể mất mười ngày, có thể hai tuần gì đó. - Lúc ấy chắc cái tin không còn giật gân với báo chí nữa.
- Đây là danh thiếp của tôi. - Steve dí tấm danh thiếp vào mũi Durer.
Durer nhìn kỹ rồi thốt lên:
- Ra ông là luật sư chứ không phải nhà báo?
- Không. Tôi là luật sư của Harry Stanford. -Steve vừa nói vừa đứng lên. - Tôi muốn có giấy phép thả xác ông ấy ra.
- Ra thế. Tôi cũng muốn cấp cái giấy phép đó cho ông lắm chứ. Hiềm một nỗi tay chân tôi bị trói hết cả rồi. Tôi không thấy có cách gì…
- Ngày mai.
Không thể làm gì được! Không có cách gì giải quyết vào ngày mai được…
- Tôi khuyên ông nên liên lạc với thượng cấp của mình ở Paris. Stanford Enterprises có một số nhà máy rất lớn ở Pháp. Nếu hội đồng quản trị của chúng tôi quyết định đóng cửa tất cả và chuyển sang xây dựng ở những nước khác thì ông hiểu điều gì sẽ xảy ra.
Đại uý Durer ngây ra nhìn Steve.
- Tôi… không thể kiểm soát những việc như vậy, thưa ông.
- Nhưng tôi thì kiểm soát được, - Steve đoan quyết - Hoặc nội nhật ngày mai ông thả xác của Stanford ra, hoặc ông sẽ thấy mình gặp những rắc rối mà lúc nầy nếu ông có cố hình dùng cũng chẳng nổi đâu.
- Hãy đợi một chút, thưa ông. Hy vọng trong vài ngày tới tôi có thể…
- Ngày mai. - Và Steve biến mất.
Ba giờ sau, Steve nhận được một cú điện thoại tại khách sạn:
- Ông Sloane? Tôi có tin mới cho ông đây! Tôi đã thuyết phục được thượng cấp hoàn thành ngay thủ tục trả xác ngài Stanford cho ông. Tôi hi vọng ông thông cảm cho khó khăn của chúng tôi…
- Cám ơn ông. Sẽ có chuyên cơ tới vào tám giờ sáng mai để đưa chúng tôi trở về. Tôi cho mọi giấy tờ sẽ được hoàn tất trước khi đó.
- Vâng, dĩ nhiên rồi. Xin ông khỏi lo. Tôi sẽ thu xếp sao cho…
- Tốt lắm, - Steve nói và cúp máy.
Đại uý Durer ngồi lặng đi một lúc. Merde! Xúi quẩy quá! Không có cái gã chết dẫm ấy xuất hiện thì có phải mình còn vui thêm được một tuần nữa không?
Khi máy bay chở xác Stanford đáp xuống sân bay quốc tế Logan ở Boston thì đã có một đám đông cùng một chiếc xe tang chờ sẵn. Tang lễ sẽ được cử hành sau đó ba ngày.
Steve nói lại tình hình cho Simon Fitzgerald.
- Vậy là cuối cùng ông ta cũng đã trở về nhà, - Fitzgeral nói. - Chắc chắn đây sẽ là một cuộc đoàn tụ lớn.
Đoàn tụ ư?
- Đúng. Một cuộc đoàn tụ thú vị. Con cái của Harry Stanford đã trở về để ăn mừng cái chết của cha chúng. Tyler, Woody và Kendall.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 8 - SÁNG
Thẩm phán Tyler Stanford lần đầu tiên hay tin bố chết là qua kênh truyền hình WBBM của Chicago
Y nhìn màn hình như bị thôi miên, trống ngực đập thình thình. Y thấy ảnh chiếc Blue Skies, và người bình luận viên đang nói, "… tai nạn xảy ra trong một trận bão tại vùng biển Corsica. Dmitri Kaminsky, vệ sĩ của Harry Stanford đã tận mắt chứng kiến tai nạn song không thể cứu nổi chủ mình. Harry Stanford được giới tài chính biết đến như một nhà tài phiệt lẫy lừng nhất…"
Tyler ngồi đó, nhìn những hình ảnh dịch chuyển và hồi tưởng lại…
Tiếng cãi vã oang oang khiến nó giật mình tỉnh giấc vào lúc nửa đêm. Năm đó nó mười bốn tuổi.
Nó lắng nghe tiếng nói giận dữ một lúc rồi ra khỏi phòng, lẳng lặng đi xuống cầu thang. Trong phòng nghỉ bên dưới bố mẹ nó đang có một cuộc chiến kỵch liệt. Mẹ nó gào thét, và nó nhìn thấy bố tát vào mặt mẹ.
Màn hình tivi chuyển sang một cảnh khác. Harry Stanford ở trong văn phòng hình ô-van của toà Bạch Ốc, đang bắt tay tổng thống Ronald Reagan. "Là một trong những con át chủ bài trong đội quân xung kích tài chính của Tổng thống, Harry Stanford từng là một cố vấn quan trọng của… "
Chúng chơi bóng ở sân sau. Em nó, Woody, ném quả bóng về phía toà nhà. Tyler chạy đuổi theo. Vừa nhặt quả bóng lên thì nghe thấy tiếng cha mình nói ở bên kia bờ dậu. " Anh yêu em. Em biết thế mà!"
Nó dừng lại, sướng điên lên vì nghĩ cha mẹ nó đã làm lành với nhau. Nhưng rồi nó nghe tiếng cô gia sư Rosemary. " Anh có vợ rồi. Em muốn anh để em yên".
Lòng nó quặn lại. Nó yêu cả mẹ nó lẫn Rosemary.
Chỉ có cha là người lạ mặt mang đến nỗi kinh hoàng.
Tivi chuyển sang giới thiệu một loạt ảnh Harry Stanford ngồi với Margaret Thatcher… Tổng thống Mitterand… Mikhail Gorbachev… Bình luận viên nói: "Nhà tài phiệt huyền thoại nầy bình đẳng như người thân trong gia đình với cả công nhân ở nhà máy lẫn lãnh đạo quôc gia siêu cường…"
Nó vừa bước qua ngưỡng cửa vào văn phòng của cha thì nghe tiếng Rosemary. "Tôi đi đây…". Rồi tiếng cha nó, "Anh sẽ không để em đi đâu. Em phải hợp lí một chút, Rosemary! Đây là cách duy nhất để anh và em có thể…"
- Em không thể nghe theo anh được. Em sẽ giữ đứa bé.
Rồi Rosemary biến mất.
Màn hình tivi lại chuyển cảnh lần nữa. Gia quyến Stanford đứng trước cửa nhà thờ nhìn chiếc quan tài đang được đưa lên xe tang. Tường thuật viên nói, "… Harry Stanford và các con ông bên quan tài. Bà Stanford tự tử được cho là do sức khoẻ suy sụp Theo các điều tra viên, Harry Stanford…"
Đang lúc nửa đêm cha nó bỗng dựng nó dậy.
- Dậy đi, con trai. Bố có tin dữ muốn báo với con.
c.ậu bé mười tuổi bỗng run lên lẩy bẩy.
- Mẹ con bị tai nạn, Tyler ạ.
Đấy là một lời nói dối. Cha nó đã giết mẹ nó. Mẹ nó tự vẫn vì cha nó và cuộc tình vụng trộm của ông với Rosemary.
Bào chí làm rùm beng về cái chết của mẹ nó. Đấy là một vụ scandal làm rung chuyển cả Boston, và các báo khổ nhỏ tận dụng hết ưu thế lá cải của mình. Không có cách gì bưng bít với bọn trẻ được nữa. Các bạn cùng lớp bàn tán làm chúng khổ tâm vô cùng. Trong vòng có hai mươi bốn giờ, ba đứa trẻ đã mất đi hai người mà chúng yêu mến nhất. Đó là mẹ và cô gia sư. Tất cả chỉ tại cha chúng.
- Em cóc cần biết ông ta có phải là bố của chúng ta không. - Kendall nức nở. - Em căm thù ông ta.
- Anh cũng thế!
- Em cũng thế!
Chúng tính chuyện bỏ đi, song không biết đi đâu, bèn quyết định nổi loạn.
Tyler cầm đầu lũ trẻ nói chuyện với cha.
- Chúng tôi muốn một ông bố khác. Chúng tôi không muốn ông.
Harry Stanford nhìn nó và nói lạnh lùng:
- Tao nghĩ chuyện đó có thể thu xếp được.
Ba tuần sau mỗi đứa được gửi tới một trường nộỉ trú khác nhau.
Năm tháng qua đi, bọn trẻ gặp cha chúng rất ít.
Chúng đọc về cha chúng trên báo, xem ông trên tivi, lúc thì đi cùng người đàn bà đẹp nầy, lúc thì đàm đạo với một nguyên thủ khác. Chúng chỉ ở bên cha mình vào những dịp đặc biệt như tuần lễ Giáng sinh hoặc những ngày nghỉ, khi ông cần chứng tỏ ông là người cha hết lòng vì con cái như thế nào. Sau đấy mỗi đứa mỗi ngả về trường của mình.
Tyler ngồi lặng đi. Tivi đang giới thiệu một loạt những nhà máy tại những miền khác nhau trên thế giới, cùng những bức ảnh của cha y. "… một trong nhưng tập đoàn tư nhân lớn nhất thế giới. Harry Stanford, người đã tạo ra nó, là một hưyền thoại. Các chuyên g ia tài chính của Wall Street đang đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy đến với tập đoàn khi người sáng lập nó đã ra đi? Harry Stanford để lại ba đứa trẻ, song chưa rõ ai trong chúng sẽ là người thừa kế cái tài sản nhiều tỉ đô la mà Stanford đã bỏ lại đằng sau, hoặc ai sẽ là người lãnh đạo tập đoàn…"
Nó lên sáu. Nó thích sục sạo vào mọi ngõ ngách của toà nhà, khám phá từng gian phòng bí ẩn một.
Nơi duy nhất nó không thể tới là văn phòng của cha nó. Tyler biết rằng các cuộc họp quan trọng thường diễn ra ở trong đó. Những người đàn ông vận comple đen sang trọng thường xuyên lui tới gian phòng.
Việc nó không được phép vào đã đẩy trí tò mò của nó lên tới tột cùng.
Một ngày, nhân lúc cha đi vắng, Tyler quyết định đột nhập vào văn phòng xem sao. Gian phòng mênh mông được cấp điện thừa mứa, không khí tẻ nhạt.
Tyler đứng nhìn chiếc bàn lớn và chiếc ghế da đồ sộ mà cha nó thường ngồi . Sẽ có ngày mình ngồi vào cái ghế đó, và mình cũng sẽ quan trọng như cha mình. Nó đi tới chiếc bàn và ngó nghiêng một lúc.
Trên đó có cả chục tập giấy tờ trang trọng. Nó vòng sang bên kia bàn và chễm chệ ngồi vào chiếc ghế bành bọc da. Tuyệt quá. Giờ mình cũng đă quan trọng rồi.
- Mày làm cái khỉ gì thế?
Tyler giật mình ngẩng lên. Cha nó đang đứng lù lù trên ngưỡng cửa, vẻ mặt tức tối.
- Ai bảo mày có thể ngồi ra sau chiếc bàn kia?
c.ậu bé run lẩy bẩy:
Con… con chỉ muốn xem nó như thế nào thôi.
Bố lập tức sừng sộ:
- Để tao cho mày biết nhé, mày sẽ không bạo giờ biết được nó như thế nào đâu! Không bao giờ! Giờ mày hãy cút khỏi đây và tránh xa nó ra!
Tyler khóc nức nở chạy lên phòng mình. Mẹ nó vào với nó. Bà vòng tay ôm lấy cậu con trai:
- Đừng khóc, con yêu của mẹ. Mọi chuyện sẽ ổn cả thôi.
- Không… không ổn đâu mẹ ạ, - nó nói trong tiếng nấc. - Ông ta… ông ta ghét con lắm.
- Không đâu. Ông ta không ghét con đâu.
- Tất cả những gì con đã làm là ngồi vào chiếc ghế của ông ta.
- Đấy là chiếc ghế của ông ta, con yêu ạ. Ông ta không muốn ai ngồi lên nó cả.
Nó khóc không nín được. Bà ôm chặt lấy nó mà an ủi:
- Tyler, khi cha mẹ cưới nhau, cha nói là ông muốn mẹ trở thành một thành viên của công ty. Ông tặng mẹ một cổ phiếu. Việc đó trở thành chuyện tiếu lâm trong gia đình. Nay mẹ tặng lại cổ phiếu đó cho con. Mẹ dành cho con toàn bộ lãi cổ phần đấy. Như vậy là con đã trở thành một thành viên của công ty rồi. Được không?
Tập đoàn Stanford có cả thảy một trăm cổ phiếu như vậy, và Tyler giờ có thể tự hào rằng nó đang nắm một phần trăm cổ phần công ty.
Lúc Harry Stanford hay chuyện vợ mình làm, ông ta cáu kỷnh nói:
- Em nghĩ nó có thể làm nên tích sự gì với tờ cố phiếu đó? Mua lại cả công ty chắc?
Tyler tắt tivi và ngồi suy nghĩ về những dòng tin vừa nhận được. Y cảm thấy hoàn toàn thoả mãn.
Thông thường, những đứa con trai luôn gắng thành đạt để làm nức lòng cha. Còn với Tyler Stanford, y chỉ muốn thành đạt để đủ sức tiêu diệt cha mình.
Lúc còn thơ dại, nó ấp ủ ước vọng cha nó bị kết tội giết chết mẹ nó, còn nó là người chịu trách nhiệm thông qua bản án. Ta kết tội ngươi phải chết trên ghế điện. Đôi khi mơ ước của nó thay đổi, và nó muốn cha nó bị treo cổ, hạ độc hay bị bắn. Nay thì y gần như đã được toại nguyện rồi.
Trường quân sự mà nó được gửi đến là trưỡng võ bị Mississippi, và đấy là bốn năm nó sống trong cảnh địa ngục. Tyler ngán lối sống kỷ luật cứng nhắc.
Năm đầu vào trường, nó không nghĩ tới chuyện gì khác ngoài tự tử. Song nó không làm chuyện đó bởi không muốn cho cha nó hưởng cái sung sướng được thấy nó tự tử. Lão đã giết chết mẹ mình. Lão sẽ không thể giết mình theo cách đó.
Tyler có cảm giác các sĩ quan hết sức nghiệt ngã với nó, và tin chắc rằng cha nó phải chịu trách nhiệm về những nỗi thống khổ nầy. Tyler quyết không để trường học đánh gục mình. Tuy nó chỉ phải về nhà vào những ngày nghỉ, những cuộc gặp hiếm hoi giữa hai cha con mỗi ngày một trở nên khó chịu hơn.
Hai em nó cũng về nhà vào những ngày nghỉ, song giữa chúng không có tình m.áu mủ thông thường.
Cha chúng đã huỷ diệt thứ tình cảm đó. Chúng hoàn toàn xa lạ với nhau, chỉ mong ngày nghỉ chóng qua để lại được ra đi.
Tyler biết cha nó có nhiều tỉ đô la, song nó, Woody và Kendall lại phải sống bằng sự trợ giúp của bà mẹ. Càng lớn Tyler càng băn khoăn không biết nó có được thừa hưởng tài sản của gia đình không. Nó biết chắc rằng anh em nó đang bị đánh lừa. Mình cần một luật sư. Cái đó thì đúng quá đi rồi, song ý nghĩ tiếp theo của nó là, mình sẽ trở thành một luật sư. Lúc bố Tyler biết được kế hoạch của con trai, ông nói:
- Vậy là mày sẽ trở thành luật sư đấy? Mày nghĩ tao sẽ cho mày một việc làm ở Harry Stanford chứ gì? Quên đi nhé. Tao sẽ không để mày lởn vởn tới gần nó quá một dặm đâu.
Lúc Tyler tốt nghỉệp trường luật, y có thể thực tập tại Boston, và với uy tín gia đình hàng chục công ty sẵn sàng mời y vào hội đồng quản trị. Song y lại muốn tránh cha mình ra thật xa. Y quyết định thực tập nghề luật sư ở Chicago.
Những ngày đầu thật vất vả. Vì y không chịu tận dụng thanh danh của gia đình nên chẳng có mấy thân chủ chịu tìm đến với y. Tuy vậy, sống ở Chicago, Tyler nhanh chóng nhận ra rằng một luật gia trẻ cần phải tham gia vào Hội Luật gia quận Cook thì mới có cơ nên người. Y tìm được việc làm ở văn phớng luật sư quận. Y có trí nhớ tốt và học rất nhanh. Chẳng bao lâu y đã trở thành một tài sản vô giá của văn phòng luật. Y khởi tố mọi phạm nhân có thể buộc tội được, và bảng thành tích của y ngày một dài ra.
Y được thăng tiến rất nhanh và cuối cùng được bổ nhiệm làm thẩm phán toà biện lý quận Cook. Y tin cha y sẽ tự hào về y. Song y đã nhầm.
- Mày ấy à? Một thẩm phán toà biện lý ấy à? Vì Chúa, tao sẽ không để mày xử thậm chí một vụ kiện mất gà.
Thẩm phán Tyler Stanford thấp, mập, có đôi mắt tinh nhanh và khoé miệng rắn rỏi. Y không thừa hưởng được một đường nét hấp dẫn nào ở người cha. Cái nổi bật nơi y là một giọng nói trầm, khoẻ, vang, như được trời phú cho để đọc các bản án Tyler Stanford là kẻ ít c.ởi mở, không bao giờ bộc lộ ý nghĩ của mình. Y bốn mươi tuổi, song trông già hơn nhiều. Y tự hào vì mình chẳng có lấy một chút tính hài hước nào hết. Cuộc đời quá ảm đạm để mà cười. Thú vui duy nhất của y là cờ tướng, và môi tuần một lần y chơi ở một câu lạc bộ địa phương, nơi y luôn thắng tuyệt đối.
Tyler Stanford là một luật gia lỗi lạc, được các thẩm phán đồng nghiệp đánh giá rất cao, và họ thường xuyên tìm tới y để tham khảo ý kiến. Rất ít người biết rằng y chính là con trai của Harry Stanford. Y chưa bao giờ nhắc tới tên cha mình. Các đồng nghiệp của Tyler biết rất ít về cuộc đời của y. Họ chỉ nghe phong phanh rằng y có một cuộc hôn nhân cay đắng, và rằng y sống một mình trong một ngôi nhà nhỏ ba buồng trên đường Kimbark, quận Hyde Park. Y không kết bạn với một láng giềng nào, và các láng giềng cũng chẳng biết gì về y. Y thuê một người tới dọn dẹp mỗi tuần ba lần, riêng việc mua sắm thì y tự làm lấy. Thỉnh thoảng, tại những buổi gặp mặt chính thức, Tyler có trò chuyện với vợ các đồng nghiệp của mình. Họ cảm thấy y là gã trai cô đơn và tìm cách giới thiệu cho y một vài bạn gái, hoặc mời y tới nhà chơi. Y luôn chối từ: "Tối nay tôi bận rồi".
Dường như tất cả các buổi tối y đều bận, có điều họ không hiểu y bận cái gì.
- Tyler không quan tâm tới điều gì khác ngoài luật - một thẩm phán giải thích với vợ mình. - Và anh ta chưa quan tâm tới phụ nữ đâu. Anh nghe anh ta dã từng có một cuộc hôn nhân tồi tệ.
Vị thẩm phán nói không sai.
Sau khi li hôn, Tyler thề sẽ không bao giờ dính líu vào chuyện tình cảm nữa. Rồi y gập Lee, và mọi chuyện bỗng đổi khác. Lee đẹp, nh.ạy cảm và tận tuỵ - con người mà Tyler muốn dành toàn bộ cuộc đời còn lại để chung sống. Tyler yêu Lee, nhưng sao Lee lại phải yêu y? Là một người mẫu thành đạt, Lee có cả tá người ngưỡng mộ, phần đông trong số họ đều rất giầu sang. Và Lee thì lại thích những đồ đắt tiền.
Tyler cảm thấy vô vọng. Về sức quyến rũ, Tyler chẳng so bì được với ai. Tuy nhiên, chỉ trong một đêm, với cái chết của cha y, mọi chuyện có thể đổi khác. Y sẽ trở nên giầu có ngoài sức tưởng tượng ngông cuồng nhất của y.
Y có thể cho Lee cả thế giới.
Tyler bước vào phòng làm việc của chánh án.
- Keith, tôi e rằng mình phải đi Boston vài ngày. Việc gia đình. Không biết bà có thể thu xếp ai đó xử nốt những vụ án còn dang dở của tôi hay không?
- Dĩ nhiên rồi. Tôi sẽ thu xếp việc đó, - vị chánh án đáp.
- Cám ơn bà.
Chiều hôm đó, thẩm phán Tyler Stanford lên đường về Boston. Trên máy bay, một lần nữa y nhớ lại lời cha y đã nói trong cái ngày khủng khiếp đó: "Tao biết cái bí mật nhỏ ghê tởm của mầy".
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 9 - SÁNG
Paris hôm đó đổ mưa, một cơn mưa tháng bảy khiến khách bộ hành nháo nhác tìm chỗ trú. Trong thính phòng của một toà nhà màu xám đồ sộ ở góc đường Faubourg St. Honoré mọi người cũng đang trong cơn hoảng loạn. Hàng chục người mẫu mình trần chạy ngược xuôi va cả vào nhau, trong khi các nhân viên chỉ chỗ ngồi đang sắp đặt ghế còn các tay thợ mộc thì hối hả đóng nốt những cái mộng cuối cùng. Ai cũng gào thét và khuơ khoắng tay chân loạn bậy, tiếng ồn đạt tới mức đủ làm thủng màng nhĩ người ta.
Đứng giữa trung tâm cơn bão, cố dẹp yên cái mớ hỗn mang đó là Kendall Stanford Renauld. Bốn giờ trước khi màn trình diễn thời trang dự định bắt đầu thì mọi chuyện đổ vỡ ra từng mảng.
Thảm hoạ: John Fairchild bỗng dưng tới Paris mà không còn lấy một chỗ trống nào dành cho ông ta.
Bi kỵch: hệ thống loa phóng thanh không làm việc.
Tai biến: một trong những người mẫu hạng nhất bị ốm.
Tình trạng khẩn trương hai nhân viên hoá trang cắn xé nhau ở hậu trường nên không theo kỵp chương trình.
Nói cách khác, Kendall mông lung nghĩ, mọichuyện đều bình thường.
Nhìn Kendall Stanford Renauld ai cũng nghĩ nàng là người mẫu, và đã có thời nàng làm người mẫu.
Mọi thứ về nàng, từ búi tóc, mầu sơn móng tay, cho đến điệu cười toát lên một vẻ hết sức quí phái. Gương mặt nàng, nếu gột bỏ lớp phấn trang điểm thì thực sự không phải là quá đẹp, song nghệ thuật trang điểm của nàng đạt tới độ không một ai nhận ra điều đó cả
Cùng lúc nàng đang có mặt ở khắp nơi.
- Ai chiếu sáng đường chạy đó, hả Ray Charles?
- Tôi muốn một cái phông xanh…
- Đường kẻ nầy lộ quá. Chấm lại đi!
- Tôi không muốn các người mẫu làm tóc và trang điểm trong khu vực chờ Hãy bảo Lulu tìm cho họ một phòng thay quần áo!
Viên giám đốc chương trình của Kendall vội vã đỉ tớỉ chỗ nàng:
- Kendall, ba mươi phút thì dài quá! Dài quá! Buổi trình diễn chỉ dừng lại ở hai mươi lăm phút là vừa.
Kendall ngưng việc mình đang làm lại.
- Anh muốn đề nghị gì, Scott?
- Chúng ta có thể cắt đi một vài cảnh…
- Không. Tôi sẽ cho người mẫu vận động nhanh hơn.
Nàng lại nghe có người gọi tên mình, bèn quay lại.
- Kendall, chúng tôi không tìm thấy Pia đâu cả. Cô có muốn Tami chuyển sang bộ áo vét tím than không?
- Không. Đưa bộ đó cho Dana.
- Còn chiếc áo nịt len mầu tối thì sao?
- Dành cho Monique. Nhớ bảo cô ta đi tất màu tối nhé.
Kendall nhìn lên tấm biển lớn dán ảnh các người mẫu trong những chiếc áo choàng khác nhau. Khi tấm biển hoàn thành, các bức ảnh sẽ được đặt vào vị trí chính xác của chúng.
- Hãy thay đổi bố cục tấm biển nầy. Tôi muốn chiếc áo len đan mầu be xuất hiện trước, tiếp theo là những chiếc áo xẻ, rồi đến những chiếc áo nịt bằng lụa không đai, rồi đến chiếc áo choàng mặc buổi tối bằng vải mỏng, đồ mặc buổi chiều cùng với áo vét.
Hai phụ tá đi tới chỗ nàng.
- Kendall, chúng tôi đang tranh luận về chỗ ngồi. Bà muốn những người bán lẻ ngồi với nhau, hay để họ ngồi lẫn với những người danh tiếng?
Viên phụ tá kia nói:
- Chúng ta có thể cho những nhân vật danh tiếng ngồi lẫn với giới báo chí.
Kendall không còn nghe thấy gì nửa. Nàng đã thức trắng hai đêm, kiểm tra từng chi tiết để chắc chắn rằng không còn gì trục trặc xảy ra.
- Các anh cứ tự thu xếp lấy! - nàng nói.
Nàng quan sát tất cả những hoạt động đang diễn ra và nghĩ về buổi trình diễn sắp sửa bắt đầu cùng những tên tuổi lớn từ khắp nơi trên thế giới đổ về để chiêm ngưỡng những gì nàng đã sáng tạo nên.
Mình nên cám ơn cha vì tất cả. Ông đã bảo mình sẽ chẳng bao giờ thành công…
Nàng luôn biết rằng mình muốn trở thành một nhà tạo mốt. Từ khi còn là một cô bé nàng đã có một cảm nhận bẩm sinh về kiểu dáng. Những con búp bê của cô bé luôn có những bộ váy hết sức vui mắt. Cô bé thường cho mẹ xem những sáng tác mới nhất của mình. Lần nào mẹ cũng ôm lấy cô và nói: "Con của mẹ thật là tài năng. Một ngày nào đó con sẽ trở thành một nhà tạo mốt lớn".
Và Kendall hoàn toàn tin như vậy.
Ở trường, Kendall học thiết kế đồ hoạ, vẽ kết cấu, các phương pháp bố cục không gian, và phối mầu.
- Cách tốt nhất để bắt đầu, - một thầy giáo khuyên nàng, - là tự em phải làm một người mẫu. Bằng cách đó em sẽ được gặp những nhà tạo mốt hạng nhất, và nếu tinh ý, em sẽ học hỏi được rất nhiều từ họ.
Khi Kendall nói cho cha biết mơ ước của mình, ông trố mắt nhìn nàng và bảo, "Mày mà cũng đòi làm người mẫu cơ đấy! Thật không biết xấu hổ!".
Tốt nghiệp phổ thông trung học, Kendall trở về Rose Hill. Cha cần mình lo toan công việc ở nhà, nàng nghĩ. Trong nhà nuôi hàng chục gia nhân song không có ai đứng đầu. Harry Stanford thì đi vắng thường xuyên nên đám gia nhân mạnh ai nấy làm.
Kendall gắng tổ chức lại công việc. Nàng lên kế hoạch cho từng gia nhân, tiếp khách khứa cho cha mỗi khi có tiệc tùng vả làm tất cả những gì có thể để ông cảm thấy dễ chịu. Nàng chỉ mong nhận được một lời khen của cha. Nhưng không, ông chỉ biết quở mắng mà thôi.
- Ai thuê thằng tài xế chết giẫm đó? Hãy tống cổ nó đi cho tao.
- Tao không thích những cái đĩa mày mới mua. Thị hiếu của mày làm sao thế hả?
- Ai nói với mày rằng mày có quyền trang trí lại phòng ngủ của tao? Chớ có đụng đến nó.
Dù Kendall làm gì, thì việc đó cũng chưa bao giờ đủ tốt.
Chính sự nhẫn tâm của người cha rút cuộc đã đuổi nàng ra khỏi nhà. Đó luôn là một ngôi nhà không có tình yêu, với ông bố chẳng bao giờ để tâm tới con cái ngoại trừ việc cố gắng kiểm soát và đưa chúng vào kỷ c.ương. Một đêm Kendall nghe bố nói với một người khách, "Con gái tôi có bộ mặt giống như mặt ngựa. Nó sẽ cần cả đống tiền để chài một thằng khố rách áo ôm cho mà xem".
Đấy là giọt nước cuối cùng. Ngày hôm sau, Kendall bỏ Boston lên New York.
Nằm một mỉnh trong phòng khách sạn, Kendall nghĩ, Cũng được. Vậy là mình đã tới New York. Mình sẽ trở thành nhà tạo mode bằng cách gì đây? Mình sẽ thâm nhập vào công nghiệp thời trang bằng con đường nào? Làm sao để người ta nhận thấy mình? Nàng nhớ lời thầy dặn. Mình sẽ làm một cái mẫu trước. Đó là cách duy nhất để khới đầu.
Sáng hôm sau, Kendall lật những trang vàng tìm danh sách các đại lí thời trang và bắt đầu đi một vòng. Mình phải trung thực với họ mới được. Mình sẽ nói với họ rằng mình chí có thể làm việc đó tạm thời thôi, cho đến khi.mình tự thiết kế được Nàng bưởc vào văn phòng của đại lí đầu tiên. Một người đàn bà trung niên ngồi sau bàn hỏi:
- Tôi có thể giúp gì cô?
- Bà có thể giúp tôi đấy. Tôi muốn làm một người mẫu.
- Tôi cũng thế, cô bé ạ. Quên chuyện đó đi.
- Cái gì?
- Cô cao quá.
Quai hàm Kendall bạnh ra.
- Tôi muốn gặp người phụ trách văn phòng nầy.
- Cô đang nhìn vào bà ta đấy. Tôi là chủ của văn phòng nầy.
Dăm cuộc viếng thăm tiếp theo không mang lại kết quả nào khá quan hơn.
- Cô thấp quá.
- Gầy quá.
- Mập quá.
- Trẻ quá.
- Lớn tuổi quá.
- Không hợp típ.
Cho đến cuối tuần thì Kendall hoàn toàn thất vọng.
Trên danh sách chỉ còn lại một cái tên.
***
Paramount Model là đại lí thời trang hàng đầu ở Manhattan. Không có ai trực tại bàn tiếp tân cả.
Một giọng nói từ một văn phòng bên trong vang ra:
- Bà ta sẽ có mặt ở đây từ thứ hai tuần tới. Song cô chỉ có thể gặp bà ta vào một ngày thôi. Tất cả thời gian còn lại cho ba tuần tiếp theo đã chật hết cả rồi.
Kendall đi tới gian phòng đó và nhìn vào trong.
Một phụ nữ mặc đồ may sẵn đang nói chuyện điện thoại.
- Đúng, tôi sẽ xem tôi có thể làm gì. - Roxanne Marinack bỏ máy và ngẩng lên. - Xin lỗi, chúng tôi không tìm kiếm típ người mẫu như cô.
Kendall tuyệt vọng đáp:
- Tôi có thể trở thành bất cứ típ người mẫu nào bà muốn. Tôi có thể cao lên hoặc thấp đi. Tôi có thể gầy đi hoặc mập ra, già đi hoặc…
Roxanne chìa tay ra cho Kendall bắt.
- Tôi chỉ muốn có một cơ hội thôi. Tôi cần nó lắm.
Roxanne lưỡng lự. Cô ta ham nghề quá, còn thân hình của cô ta thì khó mà chê vào đâu được. Cô ta không đẹp. Song nếu biết cách trang điểm…
- Cô đã có kinh nghiệm gì trong nghề nầy chưa?
- Có. Tôi đã mặc quần áo từ bé đến giờ.
Roxanne cười.
- Thôi được. Hãy cho tôi xem bộ ảnh của cô?
Kendall ngây ra nhìn bà:
- Bộ ảnh của tôi…?
Roxanne thở dài:
- Cô gái thân mến của tôi, không một người mẫu tự trọng nào lại đi tìm việc mà không mang theo một bộ ảnh của họ Đấy là thánh kinh của mọi người mẫu. Các thân chủ sẽ xem chúng trước. – Roxanne lại thở dài. - Tôi muốn cô chụp lấy hai kiểu ảnh đầu; một cái cười, cái kia nghiêm túc. Quay đằng sau xem.
- Được - Kendall bắt đầu xoay người.
- Chậm thôi - Roxanne quan sát Kendall thật kỹ. - Không tồi lắm. Tôi cần thêm một kiểu ảnh cô mặc đồ tắm hoặc đồ lót, thứ gì tôn nổi nhất thân hình của cô ấy.
- Tôi sẽ chụp cả hai, - nàng hồ hởi nói.
Roxanne lại mỉm cười trước sự sốt sắng của nàng.
- Tốt lắm. Cô… cô khác, song cô vẫn phải có ảnh.
- Cám ơn bà.
- Chớ có cám ơn tôi vội. Làm người mẫu cho một tạp chí thời trang không đơn giản như người ta tưởng đâu. Đây là một nghề rất khó nhọc.
- Tôi sẵn sàng chấp nhận khó nhọc mà.
- Để rồi xem. Tôi sẽ phải thử thách cô đấy. Tôi sẽ cho cô đi ra mắt một vài nơi.
- Dạ.
- Ra mắt là việc các thân chủ làm quen với các người mẫu mới. Các đại lí khác cũng có người mẫu mới của mình. Việc nầy nó na ná như chọn giống súc vật ấy mà.
- Tôi sẽ ứng phó được.
Mọi việc đã khơi đầu như vậy. Kendall phải tham gia hàng chục buổi ra mắt khác nhau mới có được một nhà tạo mốt chấp nhận cho nàng mặc thử bộ quần áo do ông ta thiết kế. Căng thẳng quá, suýt nữa thì nàng làm hỏng cơ hội của mình bởi đã nói quá nhiều.
- Tôi thực sự thích bộ quần áo của ông, và tôi nghĩ nó rất hợp với tôi. Tôi muốn nói nó hợp với bất cứ phụ nữ nào, dĩ nhiên là thế. Chúng thật tuyệt. Nhưng tôi nghĩ tôi mà mặc nó thì không còn gì đẹp hơn.
Nhà tạo mốt gật đầu thương cảm:
- Đây là việc làm đầu tiên của cô, có đứng không?
- Vâng, thưa ông.
Nhà tạo mốt mỉm cười.
- Thôi được, tôi sẽ để cô mặc thử. Cô nói tên cô là gì nhỉ?
- Kendall Stanford. - Nàng thầm hỏi không biết cái tên đó có tạo nên một mối liên quan gì giữa nàng với ông Stanford kia không, song dĩ nhiên là nhà tạo mốt không thể nhận ra mối liên hệ đó.
Roxanne nói không sai. Làm nghề người mẫu thật cực. Kendall phải học cách chấp nhận sự từ chối liên tục những buổi ra mắt không dẫn tới đâu và những tuần nằm dài không có việc làm. Khi có việc, nàng phải trang điểm xong vào lúc sáu giờ sáng, thử mốt xong ở một nơi rồi đến nơi khác, và thường quá mười hai giờ đêm mới về đến nhà.
Một buổi tối, sau ngày thử mốt dài lê thê với một chục cô gái mẫu khác, Kendall nhìn vào gương và bỗng rên lên:
- Tớ không thể đi lâm ngày mai được. Mắt tớ sưng vù lên rồi đây nầy!
Cô bạn đồũg nghiệp bèn khuyên:
- Hãy đắp vài lát dưa chuột lên là khỏi thôi mà. Nếu không có dưa chuột thì thả vài túi chè vào nước nóng, để nguội rồi đắp lên mắt trong mười lăm phút.
Sáng hôm sau, những vết sưng đã biến đâu mất.
Kendall lấy làm ghen ty với những cô gái mẫu được mời thường xuyên. Nàng thường nghe Roxanne sắp đặt công việc:
- Cho Scaasi đi thử lần hai ở Michelle. Hãy gọi điện và báo cho họ biết cô ta sẽ có mặt…
Kendall nhanh chóng nhận ra một bài học: không bao giờ được phê phán những bộ quần áo mà nàng trưng diện. Dần dà nàng làm quen được với những nhà nhiếp ảnh hạng nhất và đã có được một bộ ảnh rất có sức thuyết phục. Nàng luôn mang theo mình một cái xắc tay đựng những vật dụng cần thiết - son phấn, dụng cụ sửa móng tay, nữ trang, v v…
Nàng biết cách búi tóc để tạo cho nó một kiểu dáng hoặc làm những búp tóc xoăn bằng cách uốn tóc con lăn. còn bao nhiều thứ phải học hỏi. Nàng được lòng các nhà nhiếp ảnh, và một người đã kéo nàng ra một góc mà khuyên:
- Kendall nầy, hãy nhớ chụp các điệu cười vào cuối buổi thử. Bằng cách đó miệng em sẽ tươi tắn hơn.
Mỗi ngày qua đi Kendall lại thêm nổi tiếng. Vẻ đẹp của nàng không rỗng tuếch và vô hồn như ở phần đông các cô người mẫu khác, nàng có cái gì đó hơn thế, một phong thái thanh lịch, cao sang.
- Cô ta là người mẫu có hạng, - một đại lí quảng cáo nhận xét.
Nàng là cô gái cô đơn. Thỉnh thoảng nàng cũng có những buổi hẹn hò, song tất cả đều nhạt nhẽo và vô nghĩa. Nàng làm việc không ngừng nghỉ, song vẫn cảm thấy mình không gần hơn bao nhiều tới cái đích đã đặt ra khi nàng tới New York. Mình phải tìm cách tiếp cận với các nhà tạo mốt hàng đầu.
- Tôi đã bố trí kế hoạch cho bốn tuần sắp tới của cô Ai cũng thích cô rồi đó, - Roxanne nói.
- Roxanne…
- Sao, Kendall?
- Tôi không muốn làm người mẫu nữa.
Roxanne nhìn Kendall như không tin vào tai mình.
- Cô nói gì?
- Tôi muốn mở sàn diễn thời trang kiểu đường chạy.
Thời trang đường chạy là kiểu trình diễn mà phần đông các người mẫu đều mê. Đấy là lối trình diễn thời trang sôi động nhất và cũng khó khăn nhất về kỹ thuật.
Roxanne tỏ vẻ hoài nghi.
- Đó là lĩnh vực gần như không thể xâm nhập nổi…
- Tôi sẽ xâm nhập được.
Roxanne nhìn kỹ nàng:
Cô nghiêm túc đấy chứ?
- Vâng!
Bà gật đầu:
- Tốt lắm. Nếu đã quyết, việc đầu tiên cô phải làm là tập đi xà.
- Cái gì ạ?
Roxanne giải thích.
Chiều hôm đó Kendall mua một cây xà gỗ dài hai mét, đánh giấy ráp cẩn thận rồi đặt nó lên sàn nhà.
Mấy lần đầu nàng bước trên đó song đều té ra. Bài tập nầy thật không dễ. Song cứ kiên trì tập sẽ khắc thành. Mỗi sáng nàng dậy sớm và tập đi kiễng chân trên xà. Mỗi ngày thăng bằng của nàng một tốt lên. Nàng đi tiến và lùi trước một tấm gương dài, có nhạc đệm.
Rồi nàng tập với cuốn sách gác trên đầu. Nàng chuyển nhanh từ giầy thể thao và quần soóc sang guốc cao gót và áo choàng mặc buổi tối.
Khi thấy đã thành thạo, Kendall tìm đến Roxanne:
- Tôi đã đưa cái đầu tôi ra để tiến dẫn cô đấy. - Roxanne nói với nàng. - Ungaro đang tìm một người mẫu đưởng chạy. Tôi đề xuất cô. Ông ta sẽ cho cô một cơ hội.
Kendall sướng rơn. Ungaro là một trong những nhà tạo mốt sáng giá nhất trên các sàn diễn thời trang đường chạy.
Tuần sau, Kendall đến sàn diễn. Nàng cố tỏ ra bình thản như các người mẫu khác.
Ungaro trao cho nàng bộ đồ đầu tiên và mỉm cười:
- May mắn nhé.
- Cám ơn ông.
Lúc bước ra đường chạy, người xem có cảm giác nàng đã làm việc đó cả đời rồi. Thậm chí các người mẫu cùng trình diễn với nàng cũng không khỏi trầm trồ thán phục. Buổi trình diễn thành công lớn, và từ đó Kendall trở thành một thành viên trong giới quí tộc.
Nàng bắt đầu làm việc với các chàng khổng lồ trong công nghiệp thời trang - Yves Saint Laurent, Halston, Christian Dior, Donna Karan, Calvin Klein, Ralph Lauren, St John. Kendall được mời diễn liên tục và phải đi khắp mọi nơi trên thế giới. Ở Paris, mùa diễn rộ lên vào tháng Giêng và tháng Bảy. Ở Milan, cao điểm là các tháng Ba, Tư, Năm và Sáu, trong khi ở Tokyo thì vào tháng Tư và tháng Mười. Nàng tận hưởng một cuộc sống cuồng nhiệt và bận rộn, và nàng trân trọng từng phút từng giây của cuộc sống đó.
Kendall vừa làm việc vừa học tập miệt mài. Nàng mặc đồ thời trang của các nhà tạo mốt nổi tiếng và tìm cách đưa vào đấy những sáng tạo của mình.
Nàng học cách chọn vải như thế nào cho phù hơp, cách đưa mảnh vải đó lên th.ân thể con người như thế nào cho đẹp mắt. Nàng học cách cắt, làm nếp gấp và may, và nàng cố khám phá phần nào của cơ th.ể người phụ nữ muốn giấu đi, phần nào họ muốn phô ra. Nàng vẽ nháp ở nhà, và ý tưởng cứ thế tuôn ra như suối.
Một ngày, nàng đưa các bản thiết kế của mình tới tạp chí I Magnin s. Họ hết sức thích thú:
- Ai đã thiết kế những mẫu nầy?
- Tôi đó.
- Đẹp lắm. Rất đẹp.
Hai tuần sau, Kendan đến làm việc cho hãng Donn Karan với tư cách một trợ lí và bắt đầu học nghề kinh doanh hàng may mặc. Ở nhà, nàng văn thiết kế miệt mài. Một năm sau, nàng có buổi trình diễn thời trang đầu tiên. Nó thất bại thảm hại.
Thiết kế của nàng chưa có gì đặc sắc và chẳng có ai quan tâm. Nàng thử lại lần hai, vẫn không một ai buồn ngó.
Mình vào nhầm nghề mất rồi. Kendall thầm nghĩ. Một ngày nào đó con sẽ trở thành một nhà tạo mốt rất nổi tiếng.
Mình sai lầm ở chỗ nào đây?
Rồi một đêm mọi chuyện bỗng dưng bừng sáng.
Kendall tỉnh giấc và bỗng phát hiện ra. Mình đang thiết kế cho những người mẫu chuyên nghiệp mặc.
Đáng nhẽ mình phải biết thiết kế cho những phụ nữ của cuộc đời thực, với những công việc thực và gia đình thực. Đẹp, song phái tiện lợi. Sang trọng, song phải thực dụng.
Phải mất một năm nữa Kendall mới có cuộc trình diễn thứ ba, và lần nầy thành công đến tức thì.
***
Kendall ít khi về thăm Rose Hill, và chuyến về thăm nhà nào của nàng cũng hết sức thất vọng. Cha nàng vẫn chẳng hề đổi thay. Nếu có đổi thay thì cũng theo hướng tệ đi.
- Mày vẫn chưa chài nổi thằng nào à? Ngữ mày có cố cũng chỉ vô ích thôi.
Chính trong một buổi vũ hội từ thiện Kendall đã gặp Marc Renauld. Anh làm việc cho một công ty môi giới quốc tế, chuyên về ngoại tệ. Trẻ hơn Kendall năm tuổi, anh là một chàng trai Pháp hấp dẫn, cao lớn, rắn chắc. Anh chan hoà và quan tâm tới mọi người. Mới gặp anh lần đầu Kendall đã mê ngay.
Tối hôm sau anh mời nàng đi ăn, và đêm đó Kendall ngủ với anh. Tư đấy về sau đêm nào họ cũng có nhau.
Một buổi tối, Marc nói:
- Kendall, anh yêu em đến điên dại, em có biết không?
Nàng nói nhẹ nhàng:
- Em đã tìm kiếm anh suốt cả cuộc đời, Marc à.
- Có một vấn đề nan giải. Em là một ngôi sao. Số tiền anh kiếm được so với em chẳng bõ bèn gì. Có lẽ một ngày nào đó…
Kendall đặt ngón tay trỏ lên môi anh và nói:
- Anh hãy im đi. Anh đã trao cho em nhiều hơn những gì em có thể trông chờ.
Giáng sinh năm đó, Kendall đưa Marc về Rose Hill để ra mắt cha.
- Con tính cưới hắn? - Harry Stanford bùng nổ. - Hắn là một đứa tiểu tốt vô danh! Hắn cưới con vì những đồng tiền mà hắn nghĩ con sẽ có.
Nếu Kendall cần thêm một lí do nữa để cưới Marc thì cha nàng đã cho nàng lí do đó rồi. Ngày hôm sau họ làm lễ cưới ở Connecticut. Cuộc hôn phối với Marc đã mang đến cho nàng một niềm hạnh phúc nàng chưa từng biết đến trong đời.
- Em không nên để cho cha áp bức như vậy, - anh nói với Kendalll - Suốt cuộc đời ông ta đã sử dụng đồng tiền như một vũ khí. Chúng ta không cần tiền của ông ta.
Và Kendall yêu Marc vì lẽ đó.
***
Marc là người chồng tuyệt vời - tốt bụng, ân cần và tận tuỵ. Mình đã có tất cả, Kendall sung sướng nghĩ. Quá khứ giờ đây đã chết. Nàng đã thành đạt mà không cần tới cha. Chỉ vài giờ nữa thôi, thế giới thời trang sẽ tập trung chú ý vào tài năng của nàng.
Trời đã ngừng mưa báo hiệu một điềm lành.
Buổi trình diễn thành công vang dội. Trước khi hạ màn, trong tiếng nhạc và giữa muốn vàn ánh đèn rực vỡ, Kendall bước ra đường chạy, cúi mình chào khán giả, và đón nhận tiếng hoan hô vang trời. Kendall chỉ mong có Marc ở Paris để cùng nàng chia sẻ những phút giây huy hoàng đó, song công ty môi giới của anh đã không cho phép anh rời New York lấy một ngày.
Khi đám đông đã tan hết, Kendall trở về văn phòng trong một tâm trạng lâng lâng. Người phụ tá của nàng nói:
- Bà có một cái thư tay.
Kendall nhìn chiếc phong bi mầu nâu và bỗng rùng mình. Chưa mở ra nàng đã biết nó nói gì trong đó.
"Thưa bà Renauld,
- Tôi lấy làm tiếc thông báo với bà rằng hiệp hội Bảo tồn động vật doang dã lại thiếu kinh phí hoạt động, chúng tôi cần ngay 100.000 đô la để trang trải chi phí của mình. Số tiền trên phải được chuyển vào tài khoản số 804072-A tại nhà băng ở Crédit Suisse ở Thuỵ Sỹ".
Bức thư không có chữ kí.
Kendall ngồi chết lặng. Việc tống tiền nầy sẽ không bao giở chấm dứt.
Một phụ tá khác hớt hải chạy vào văn phòng.
- Kendall! Tôi thật xin lỗi. Tôi vửa mới nghe một cái tin khủng khiếp.
Mình không thể chịu đựng thêm một cái tin khúng khiếp nào nữa.
- Tin… tin gì vậy?
- Radio Luxembourg vừa công bố thân phụ cô đã qua đời. Ông bị chết đuối.
Phải mất một lúc Kendall mới lĩnh hội được cái tin ấy. Ý nghĩ đầu tiên của nàng là, không biết một trong hai điều sau, cái nào khiến ông ta tự hào hơn? Sự thành đạt của mình hay thực tế mình là kẻ giết người?
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 10 - SÁNG
Cô gái bồi bàn hai mươi nhăm tuổi, chẳng lấy gì làm xinh xắn, thi phổ thông trung học cũng chẳng qua nổi, và là con của một người lao công với một bà nội trợ.
Người ta kinh ngạc hơn nữa bởi ai cũng nghĩ Woody phải lấy Mimi Carson, một cô gái xinh đẹp, có học thức, lại là người thừa kế một công ty cao su lớn và yêu Woody điên cuồng.
Thói thường, dân Hobe Sound thích đàm tiếu về những chuyện trăng hoa của người hầu hơn là của ông chủ, song trong trường hợp của Woody, vì cuộc hôn phối của anh ta kỳ dị quá nên người ta đành chấp nhận một ngoại lệ. Tin tức lan đi nhanh chóng rằng gã đã làm cho Peggy mang bầu nên phải cưới cô ta. Người ta biết rõ giữa cưới và không cưới tội nào nặng hơn.
- Vì Chúa, tôi hiểu thằng bé đã làm nó có bầu. Nhưng không ai đi cưới một gái chạy bàn cả.
Đúng là truyền thống cha truyền con nối. Hai mươi bốn năm trước, Hobe Sound cũng đã từng rung chuyển vì một vụ scandal của nhà Stanford. Emily Temple, con gái một gia đình lâu đời nhất ở đây, đã tự tử vì chồng bà ta làm cô gia sư có chửa.
Woody Stanford không giấu giếm chuyện gã căm thù cha đẻ mình, và cảm giác chung của mọi người là gã cưới cô bồi bàn, bấp chấp mọi chuyện, để chứng tỏ gã là người đàn ông trọng danh dự hơn cha.
Vị khách duy nhất được mời dự đám cưới của Woody là Hoop, anh trai Peggy, bay đến từ New York. Hoop làm cho một lò nướng bánh ở Bronx. Gã cao và gầy hốc hác, có bộ mặt rỗ và một giọng nói đặc sệt chất Brooklyn.
- Mày lấy được cô vợ hết ý đấy, - gã nói với Woody sau khi lễ cưới kết thúc.
- Tôi biết, - Woody đáp
- Mày phải chăm sóc em gái tao tử tế đấy, nghe chưa?
- Tôi sẽ cố hết sức.
- Khá lắm.
Đấy là mẩu đàm thoại không ai nhớ giữa một thợ nướng bánh và con trai của một trong những người giầu có nhất hành tinh.
Bốn tuần sau ngày cưới, Peggy sẩy thai.
Hobe Sound là một cộng đồng hết sức cục bộ, và đảo Jupiter là phần cục bộ nhất của Hobe Sound.
Phía tây đảo là eo biển Intercoastal, còn phía đông là Đại Tây Dương. Đây là nơi trú ẩn của những người giầu có và dè dặt. Hòn đảo có số cảnh sát tính trên đầu người cao nhất thế giới, và người dân ở đây tự hào vì bị đánh giá thấp theo cách đó. Họ lái những chiếc Taurus hoặc xe hòm, có những thuyền buồm nhỏ như loại Lightning mười sáu bộ hoặc Quickstep hai mươi bốn bộ.
Nếu một người không phải sinh ra ở đây, anh ta phải tìm mọi cách để có được quyền làm một thành viên của cộng đồng Hobe Sound nầy. Sau cuộc hôn phối giữa Woody Stanford và "cô bồi bàn đó", câu hỏi nổi cộm là người dân ở đây có chấp nhận cô dâu vào cộng đồng của mình hay không.
Bà Anthony Pelletier, "già làng" của Hobe Sound, là vị trọng tài cho mọi cuộc tranh chấp xã hội, và bà đặt ra cho mình sứ mạng bảo vệ cộng đồng của bà khỏi những người giầu có mới phất và ngông nghênh. Dân mới nhập cư không may làm mếch lòng bà thì đừng nói chuyện sống nổi ở đó. Bà có lệ gửi cho con người vô ý đó một chiếc túi du lịch da, do tài xế của bà mang đến chứ bà không bao giờ đích thân làm việc đó. Đấy là lối nói bóng gió của bà cho người ấy rằng anh ta không được hoan nghênh vào cộng đồng.
Bạn bè bà rất khoái chí mỗi khi kể lại chuyện vợ chồng một thợ cơ khí mua nhà ở Hobe Sounđ. Bà Pelletier gửi cho họ chiếc túi du lịch da, song khi hiểu ra sự trầm trọng của vấn đề thì người đó chỉ cười khẩy. Chị nói: "Nầy, con mụ phù thuỷ ấy nghĩ rằng có thể đuổi được ta ra khỏi đây thì hẳn là mụ ta điên rồi!".
Nhưng sau đấy thì mới sinh chuyện. Thợ sửa chữa điện, nước bỗng dưng không đến khi được gọi. Còn người bán tạp hoá thi luôn hết mặt hàng chị ta yêu cầu và dù cố đến đâu, vợ chồng họ cũng không thể làm thành viên của Câu lạc bộ đảo Jupiter được, thậm chí muốn đặt bàn tại một nhà hàng tốt trên đảo cũng không xong. Tệ hơn nữa, hễ gặp họ là người ta ngoảnh mặt đi, chẳng buồn tiếp chuyện bao giờ.
Ba tháng sau khi nhận được cái túi du lịch, đôi vợ chồng buộc phải bán nhà mà ra đi…
***
Vậy là khi tin Wood lấy vợ được tung ra ngoài, cả cộng đồng nín thở. Rút phép thông công Peggy Malkovich cũng có ý nghĩa là rút phép thông công người chồng nổi tiếng của cô gái. Trong cộng đồng người ta lặng lẽ đặt cược với nhau.
Trong mấy tuần đầu, đôi vợ chồng mới cưới không nhận được giấy mời đi ăn tối, dạ hội hay khiêu vũ nào cả. Song người dân ở đây khoái Woody và dầu sao đi nữa, ông ngoại Woody cũng là một trong những sáng lập viên của cộng đồng Hobe Sound. Dần dà, người ta bắt đầu mời gã và Peggy về nhà mình
Người ra sốt ruột muốn biết cô vợ của Woody ra sao.
- Đứa con gái lỡ thì đó phải có cái gì đặc biệt thì thằng Woody mới lấy nó chứ?
Song khi gặp được Peggy thì cả làng thất vọng.
Peggy trông trì độn và xơ cứng, hoàn toàn không có chút cá tính nào, còn cách ăn vận của cô gái mới tuỳ tiện và kém thẩm mỹ làm sao.
Bạn bè của Woody thì hỏi nhau:
- Nó tìm thấy cái quái gì ở con bé chứ? Nó thì lấy ai mà chả được.
Một trong những lời mời đầu tiên đến từ Mimi Carson. Cô nầy cảm thấy ngày tận thế đã tới khi nghe tin Woody lấy vợ, song lại quá kiêu hãnh để nói ra điều đó. Khi bạn bè thân cận an ủi, "Hãy quên chuyện nầy đi, Mimi. Cậu sẽ vượt qua anh ta thôi mà", thì Mimi nói, "Tớ sẽ sống với nỗi bất hạnh nầy, song tớ sẽ không thế nào vượt qua anh ta được cả".
Woody cố đạt lấy một thành công của cuộc hôn phối. Gã biết gã đã phạm phải một sai lầm song không muốn trừng phạt Peggy. Gã dốc hết tâm lực làm một người chồng tốt. Vấn đề là ở chỗ Peggy chẳng có gì chung với gã hay bạn bè gã.
Người duy nhất Peggy cảm thấy dễ chịu khi ở gần là anh trai cô ta. Hoop và Peggy ngày nào cũng gọi điện cho nhau.
- Em nhớ anh ấy, - Peggy than thở với Woody.
- Em có muốn mời anh ấy xuống chơi vài ngày không?
- Anh ấy không thể, - Peggy nhìn chồng và nói với giọng quan trọng. - Anh ấy có việc làm.
Mỗi khi đi dự tiệc Woody thường cố đưa Peggy tham gia vào câu chuyện, song chỉ được vài câu là Peggy chẳng còn gì để nói nữa. Cô ngồi căng thẳng, lưỡi líu lại, thỉnh thoảng lại liếm môi với vẻ bứt rứt lo lắng và rõ là không lấy gì làm dễ chịu cả.
Bạn bè Woody biết rằng tuy sống trong toà biệt thự Stanford nguy nga là thế, Woody chẳng nhận được xu nào từ cha mình cả, và gã phải sống bằng khoản tiền lãi hàng năm mà bà mẹ quá cố để lại.
Đam mê của gã là môn polo, song tiền mua một con ngựa gã cũng chẳng bói đâu ra. Gã phải cưỡi nhờ chúng bạn. Trong thế giới polo, thứ hạng cầu thủ được đo bằng số bàn thắng, nếu ghi được mười bàn là cầu thủ siêu sao. Woody là cầu thủ chín bàn và gã đã từng chơi với Marrianno Aguerre ở Buenos Aires. Wicky Effendi từ Texas, Adres Diniz từ Brazil và hàng chục các cầu thủ số một khác. Cả thế giới chỉ có chừng mười hai cầu thủ mười bàn, vì thế Woody có tham vọng làm cầu thủ thứ mười ba.
- Cậu hiểu tại sao chứ? Một người bạn của gã nhận xét – Bởi bố Woody là cầu thủ mười bàn
Vì biết Woody không mua nổi ngựa polo, Mimi Carson mới tặng gã một đàn để gã chơi. Khi bạn bè hỏi tại sao thì Mimi nói:
- Tớ chỉ muốn anh ấy cảm thấy hạnh phúc nên cố làm bất cứ việc gì có thể làm vì anh ấy!
Khi những người mới đến hòn đảo hỏi Wood kiếm sống bằng gì thì dân bản xứ chỉ biết nhún vai. Thực tế Woody đang sống một cuộc sống vô vị. Gã đánh golf ăn tiền, chơi cá cược polo, mượn ngựa của bạn bè, cưỡi thuyền buồm, và thỉnh thoảng, vợ người.
Cuộc hôn phối với Peggy nhanh chóng trờ thảnh nỗi thất vọng lớn đối với Woody, song gã không chịu nhận điều đó
- Peggy, - gã thường nói, - khi dự tiệc, em phải cố chuyện trò với người ta chứ!
- Tại sao lại phải thế? Hẳn bạn bẻ anh đều nghĩ họ đã tốt quá mức cần thiết với em.
- Không, họ không nghĩ vậy đâu! - Woody đoan quyết
Câu lạc bộ văn học Hobe Sound sinh hoạt mỗi tuần một lần để trình những cuốn sách mới nhất, sau đó là một bữa tiệc trưa…
Trong cái ngày đặc biệt đó, khi những người đàn bà đang dùng bữa, thì người chạy bàn đi tới bên bà Pelletier và nói:
- Cô Wood Stanford đang đứng ở bên ngoài. Cô ấy muốn được dùng bữa cùng bà đấy?
Một tiếng "xuỵt" khẽ thốt lên bên bàn.
- Cho cô ấy vào! – Bà Pelletier nói:
Vài giây sau, Peggy đi vào phòng ăn. Cô đã gội đầu thơm tho và mặc bộ đồ đẹp nhất của mình. Peggy đứng ái ngại nhìn đám phụ nữ.
- Bà Pelletier gật đầu với cô và nhẹ nhàng nói:
- Cô Stanford!
Peggy mỉm cười nhiệt thành:
- Có, thưa bà!
- Chúng tôi không cần cô phục vụ đâu. Chúng tôi đã có người hầu hàn rồi! – Bà Pelletier nói và lại cắm cúi ăn.
Khi Woody nghe chuyện, giận dữ nói:
- Sao mụ ta dám cả gan làm việc đó? - Gã cầm lấy tay Peggy. - Lần sau em nhớ hỏi anh trước khi định làm một việc như vậy. Phải được mời tới dự bữa trưa.
- Em đâu có ngờ, - Peggy rầu rĩ nói.
- Thôi, không sao đâu. Tối nay chúng ta sẽ tới dự tiệc ở nhà hàng Blakes, và anh muốn…
- Em chẳng đi đâu.
- Chúng ta đã nhận lời mời rồi mà.
- Anh hãy đi một mình thôi.
- Anh không muốn đi mà không có em.
- Em chẳng đi đâu.
Thì gã đi ăn tiệc một mình. Từ đấy, mỗi khi đi nhậu nhẹt ở đâu gã chẳng mang theo Peggy nữa.
Gã có thể về nhà vào bất cứ giờ nào, và Peggy tin là gã đã ngủ với những người đàn bà khác.
***
Cú tai nạn đã khiến mọi thứ đổi thay.
Woody đang chơi ở vị trí số một. Một cầu thủ đối phương cố đánh quả bóng ở một ô gần và vô tình phang vào chân ngựa Woody. Con ngựa đổ nhào xuống và lăn trọn một vòng lên người gã. Tiếp theo đó con ngựa thứ hai hoảng sợ đã đá liên tiếp vào Woody. Tại phòng cấp cứu, các bác sĩ chẩn đoán một chân gã bị gãy, ba cái xương sườn bị rạn và một lá phổi bị thủng.
Trong hai tuần tiếp theo, có ba cuộc phẫu thuật liên tiếp xảy ra, và Woody đau đớn cùng cực. Các bác sĩ phải cho gã uống morphin để làm dịu cơn đau. Peggy tới thăm gã hàng ngày. Hoop từ New York bay tới để động viên em gái.
Nỗi đau thể xác của Woody dường như không thể chịu nổi, và lối thoát duy nhất là xài thứ thuốc giảm đau mà các bác sĩ không ngớt kê cho gã. Trở về nhà, Woody bỗng trở chứng. Tâm trạng của gã thay đổi không biết đâu mà lưởng. Mới phút trước gã còn sôi nổi là thế, phút sau đã nổi giận đùng đùng hoặc ngược lại, trầm uất. Vào bữa tối, đang cười đùa bỗng dưng Woody sừng sộ mà mắng mỏ Peggy không tiếc lời. Nhiều khi đang nói dở câu thì gã quên mất ý định đó. Gã trở nên đãng trí. Gã hẹn người ta rồi quên; gã mời người ta tới nhà chơi rồi không có mặt khi khách tới. Ai cũng lấy làm lo ngại cho gã.
Rồi gã làm nhục Peggy ngay trước mặt mọi người.
Một buổi sáng, khi pha cà phê cho Woody, cô làm tràn ra vài giọt và Woody mỉa. "Một thời làm bồi bàn thì mãi vẫn là bồi bàn thôi".
Rồi gã đánh đập khiến mặt mày Peggy sưng tím.
Khi người ta hỏi có chuyện gì thì Peggy nói thác rằng cô va vào cửa hoặc bị ngã. Đến lượt người ta thấy thương hại cho Peggy. Song khi Woody có sinh sự với ai đó thì Peggy nhất mực đứng ra bênh cho chồng.
Woody đang mắc chứng bệnh căng thẳng thần kinh trầm trọng. Anh ấy không là anh ấy nữa!
Mãi sau bác sĩ Tichner mới đưa chuyện của Wool ra ánh sáng. Một ngày ông gọi Peggy tới vẫn của mình.
Peggy lo lắng hỏi:
- Có chuyện gì vậy, thưa bác sĩ?
Ông nhìn cô một lúc. Gò má cô thâm tím, còn mắt thì sưng húp
- Peggy, cô biết là Woody đã nghiện ma tuý không?
Peggy quắc măt lên, nói:
- Không. Tôi không tin! - Cô đứng bật dậy - Tôi sẽ không cho phép ông nói đâu!
Ngồi xuống đi, Peggy! Đã đến lúc cô phải nhìn thẳng vào sự thật. Giờ ai cũng đã biết chuyện rồi. Tôi tin cô nhận ra những sự thất thường gần đây của anh ta. Anh ta có thể đang rất lạc quan về thế giới, nhìn gì cũng thấy đáng yêu, và ngay sau đó thì chán nán như người sắp tự tử vậy.
Peggy nghe ông bác sĩ nói mà tái mặt:
- Anh ta nghiện rồi!
Peggy bậm môi:
- Không, Wood không thể nghiện ma tuý được!
- Đấy là sự thật. Cô phải thực tế mới được. Cô không muốn giúp anh ta sao?
- Dĩ nhiên là tôi muốn rồi. Tôi sẽ làm tất cả để giúp anh ấy. Bất cứ việc gì!
- Tốt lắm! Vậy chúng ta hãy bắt đầu Tôi muốn cô giúp tôi đưa Woody đến một trại cai nghiện Tôi đã yêu cầu chồng cô tới gặp tôi.
Peggy nhìn ông bác sĩ một lúc lâu, rồi gật đầu:
- Tôi sẽ nói chuyện với anh ấy! - cô khẽ nói.
Chiều hôm đó, Woody tới văn phòng của bác sĩ Tichner lúc gã đang phê.
- Ông muốn gặp tôi há, bác sĩ? Về chuyện Peggy có phải không?
- Không. Về anh đấy, Woody.
Woody ngạc nhiên nhìn ông:
- Về tôi ấy à? Vấn để của tôi là gi vậy?
- Tôi nghĩ anh hiểu mình có vấn đề gì rồi?
- Ông đang nói gì tôi không hiểu.
- Nếu anh cứ tiếp diễn như vậy thì anh sẽ huỷ hoại cả cuộc đời mình lẫn cuộc đời của Peggy. Anh đang xài gì đấy, Woody?
- Xài ấy à?
- Anh nghe tôi hỏi rồi đấy.
Có một khoảng trống im lặng dài.
- Tôi muốn giúp anh.
Woody ngồi ngây ra nhìn sàn nhà. Khi gã lên tiếng thì giọng đã khàn cả lại.
- Ông nói đúng. Tôi… tôi đã tự lừa dối mình, song không thể làm thế mãi được.
- Anh đã xài đến gì rồi?
- Bạch phiến.
- Chúa ơi!
- Hãy tin tôi, tôi đã cố bỏ, nhưng… không bỏ nổi.
- Anh cần được giúp đỡ, và có những nơi anh có thể nhận được sự giúp đỡ đó.
Woody yếu ớt nói:
- Có Chúa chứng giám là tôi thấy anh nói đúng.
- Tôi muốn anh đến trung tâm cai nghiện ở bên Jupiter.
Woody do dự một thoáng. "Vâng".
- Ai cung cấp bạch phiến cho anh đấy?
Woody lắc đầu:
- Riêng về điều nầy thì tôi không thể nói ra được.
- Không sao. Tôi sẽ thu xếp thủ tục cho anh vào nơi đó.
Bác sĩ Tichner gặp ngay cảnh sát trưởng vào sáng hôm sau.
- Có kẻ cung cấp bạch phiến cho Woody. Song anh ta từ chối không tiết lộ tên kẻ đó.
Cảnh sát trưởng Murphy nhìn bác sĩ Tichner, gật đầu Tôi bắt đầu hình dung ra kẻ đó là ai rồi.
Có vài đối tượng nghi vấn. Hobe Sound bé như lòng bàn tay nên mọi người đều biết nhau và nghề nghiệp của nhau.
***
Một cửa hàng rượu mới mở trên Bridge Road, cung cấp rượu cho Hobe Sound hai bốn giờ trong ngày.
Một bác sĩ ở một phòng khám đa khoa địa phương bị phạt vì kê quá nhiều đơn thuốc ma tuý.
Có tin đồn ông huấn luyện viên một phòng tập mở năm ngoái ở phía bên kia eo biển xài ma tuý và có hàng bán cho khách quen.
Song cảnh sát trưởng Murphy có một đối tượng nghi vấn khác ở trong đầu…
Tony Benedotti làm thợ vườn cho nhiều gia đình ở Hobe Sound đã nhiều năm nay. Ông ta nghiên cứu làm vườn và rất ham mê với việc tạo nên những khu vườn đẹp Những vườn cây và thảm cỏ của ông ta bao giờ cũng đẹp nhất Hobe Sound. Benedotti sống lặng lẽ và kín đáo nên những người chủ vuờn biết rất ít về ông ta. Có vẻ như ông ta được giáo dục quá tốt để làm nghề thợ vườn, và người ta nghi ngờ quá khứ của con người ấy.
Murphy cho mời ông ta đến.
- Nếu về chuyện bằng lái của tôi thì tôi đã làm lại nó rồi! - Benedotti nói:
- Ngồi xuống - Murphy ra lệnh
- Có chuyện gì trục trặc về tôi hay sao?
- Phải. Ông là người có học, đúng không?
- Đúng…
Viên cánh sát ngả người ra ghế:
- Vậy 1ý do gì ông lại phải làm nghề thợ vưòn?
- Đấy là do tình yên thiên nhiên của tôi thôi!
- Ngoài thiên nhiên ra ông còn yêu gì nữa?
- Tôi không hiểu ý ông?
- Ông làm vườn đã bao nhiêu năm rồi?
Benedotti nhìn cảnh sát trưởng, bối rối:
- Có khách hàng phàn nàn tôi chăng?
- Cứ trả lời câu hỏi đi
- Gần mười lăm năm.
- Ông có một căn nhà đẹp và môt cái thuyền buồm?
- Vâng!
- Nếu làm nghề thợ vườn thì ông lấy đâu ra tiền mua những thứ đó?
- Căn nhà đó nhỏ, còn cái thuyền thì cũng chẳng lớn lắm đâu!
- Biết đâu ông còn những nguồn thu nhập khác?
- Ông muốn nói…
- Ông đang làm vườn cho một số người ở Miami có đúng không?
- Đúng.
- Vùng đó nhiều dân Italia lắm. Đã bao giờ ông giúp họ làm một cái gì đó chưa?
- Cụ thể là gì?
- Tỉ dụ như tiêu thụ ma tuý chẳng hạn…
Benedotti kinh hoàng nhìn cảnh sát.
- Lạy Chúa… Không đâu!
Murphy nhồm người lên trước:
- Nghe đấy nhé, Benedotti. Tôi theo dõi ông đã từ lâu rồi, tôi cũng đã nói chuyện với một vài người từng thuê ông làm vườn: Họ không muốn muốn ông và những thằng bạn mafia của ông lảng vảng ở mảnh đất nầy nữa! Rõ chưa?
Benedotti nhắm nghiền mắt lại một lúc rồi mở ra:
- Rõ cả!
***
Woody Stanford điều trị ở trại cai nghiện được ba tuần thì trở về nhà. Người ta gặp lại một Woody của ngày trước, vui tươi, yêu đời và ham sống. Gã trở lại sân polo cưỡi những con ngựa của Mimi Carson.
Chủ nhật đó người ta kỷ niệm lần thứ mười chín ngày thành lập Câu lạc bộ Polo và Đồng quê Palm Beach.
Đại lộ Sound Shore tấp nập người xe của ba ngàn cổ động viên đổ về sân polo. Một số cầu thủ xuất sắc nhất thế giới cũng sẽ tới tham dự trận đấu.
Peggy ngồi cạnh Mimi Carson như một khách mời của Mimi.
- Woody bảo tớ đây là lần đầu tiên cậu xem một trận polo. Sao, từ trước tới giờ cậu không hề tới đây à? - Mimi hỏi.
Peggy bậm môi:
- Tớ… tớ đoán là tớ luôn căng thẳng mỗi khi xem Woody chơi. Tớ không muốn anh ấy lại bị thương lần nữa. Đây là một môn thể thao nguy hiểm, đúng không?
Mimi trầm ngâm nói:
- Đúng đấy. Khi có tám cầu thủ, mỗi người nặng tám chục kí, củng với tám con ngựa, mỗi con nặng bốn trăm kí phi như điên vào nhau trên cự li ba trăm mét với tốc độ tám chục cây số mỗi giờ thì đúng là tai nạn có thể xảy ra, Peggy run lẩy bẩy:
- Nếu có chuyện gì xảy ra với Woody thì tôi chết mất. Tôi đang điên lên vì lo cho anh ấy.
Mimi dịu dàng động viên:
- Đừng lo. Anh ấy là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất. Hector Barrantas là thầy dạy của anh ấy, cậu biết rồi.
Peggy ngây ra nhìn Mimi.
- Ai cơ?
- Ông ta là cầu thủ mười bàn. Một trong những huyền thoại của môn polo đấy.
- Ra thế.
Đám đông rộ lên khi đoàn kỵ sĩ phi ngựa chéo qua sân.
- Người ta đang làm gì thế? - Peggy hỏi.
- Họ đã khỏi động xong và sẵn sàng vào cuộc.
Trên sân, hai đội đang sắp hàng dưới cái nắng Florida chói chang, chờ đón trọng tài tung bóng vào cuộc.
Woody trông thật yêng hùng với nước da sạm nắng và tư thế sẵn sàng vào trận. Peggy vẫy tay với gã và gửi gã một cái hôn gió.
Hai đội đã xếp hàng cạnh nhau. Các cấu thủ hạ tay vờ chờ tranh bóng.
- Cuộc chơi thường có sáu hiệp! - Mimi Carson giải thích với Peggy - Mỗi hiệp dài bảy phút. Hiệp kết thúc khi có tiếng chuông rung. Sau đấy là một vài phút gỉải lao ngắn ngủi. Mỗi hiệp các cầu thủ thay ngựa một lần. Độỉ nào ghi nhiều bàn hơn thì thắng
- Ra thế!
Mimi thẩm hỏi không biết Peggy hiểu được bao nhiêu những điều cô vừa giải thích
Trên sân, cảc cầu thủ dán mắt vào trọng tài, chờ quả bóng được tung ra Người trọng tài nhìn qua đám đông một lượt rồi bỗng tung quả bóng bằng nhựa trắng vào giữa hai hàng cầu thủ. Cuộc chơi bắt đầu.
Wood cướp được bóng đầu tiên và tiu mạnh phía khung thành. Một cầu thủ đối phương phi ngựa nước đại đuổi theo quả bóng. Woody rượt theo và móc lấy vồ cầu thủ đối phương, ngăn không cho anh ta đánh bóng.
- Tại sao Woody lại làm như thế - Peggy hỏi.
Mimi giải thích:
- Khi đối phưỏng có bóng, mình được phép móc vồ của anh ta, ngăn không cho anh ta ban bóng hoặc ghi bàn. Woody sẽ đánh bóng về phía khung thành thay vì giữ bóng.
Tốc độ trận bóng nhanh chóng mặt.
Có tiếng kêu, "Trung lộ…"
- Biên.
- Bỏ bóng lại…
Các cầu thủ phi ngựa vèo vèo. Trong một trận polo, con ngựa tốt đóng góp bảy mươi phần trăm chiến thắng. Ngựa phải nhanh, có bản năng polo và hiểu được ý chủ.
Woody là ngôi sao sáng trên sân trong ba hiệp đầu.
Gã ghi được hai điểm mỗi hiệp và được khán giả hò reo tán thưởng. Ở đâu cũng thấy cây vồ của gã tung hoành. Lại là Woody Stanford của ngày trước, cưỡi ngựa truy phong, không biết sợ là gì. Sang cuối hiệp năm, đội của Woody đã dẫn rất xa. Các cầu thủ ra sân nghỉ giải lao ít phút.
Lúc đi qua trước hàng ghế của Peggy và Mimi, Woody nhoẻn cười với họ.
Peggy quay sang Mimi, sung sướng thốt lên.
- Trông anh ấy mới tuyệt làm sao?
Mimi nhìn Peggy.
Đúng. Anh ấy trông thật tuyệt trên mọi phương diện.
Đồng đội của Woody chúc mừng gã:
- Cậu lấy lại được phong độ rồi. Cừ lắm.
- Một trận giòn giã.
- Cám ơn.
- Chúng ta sẽ lại ra sân và giã thêm cho chúng một chập nữa. Chúng hoàn toàn mất hết cơ hội rồi.
Woody cười hết cỡ: "Không có vấn đề gì".
Gã nhìn đồng đội ra sân, và bỗng nhiên gã cảm thấy kiệt sức. Mình đã chơi hăng quá. Thực ra thì thể lực của mình chưa hồi phục hoàn toàn. Mình khó mà theo nổi đến hết trận. Nếu mình ra sân lúc nầy thì chỉ lám trò cười cho khán giả thôi. Gã hoảng sợ thật sự, ngực đập như trống chầu. Cái mình cần lúc nầy là chút xíu Pick-me-up (tên một loại thuốc k.ích th.ích) Không! Mình sẽ không làm như vậy. Mình không thể. Mình đã thề rồi. Nhưng cả đội đang chờ mình. Mình chỉ làm lần nầy nữa thôi, quyết không lặp lại nữa! Thề có Chúa, đây là lần cuối cùng.
Gã ra xe và mở cốp. Lúc bước ra sân, Woody lúng búng nói một mình, còn ánh mắt thì lại quắc lên như ngây dại. Gã vẫy tay với đám đông rồi hoà vào đội hình đang chờ. Ta thậm chí không cần cả một đội làm gì. Mình ta đủ sức cho cả đám ăn đủ thì thôi. Ta là tay chơi số một thế giới. Woody khúc khích cười thầm
Tai nạn xảy ra trong hiệp thứ sáu, mặc dầu sau nầy có người khăng khăng cho rằng không xảy ra một tai nạn nào hết.
Đàn ngựa đang quấn lại với nhau, cùng phi về phía khung thành, và Woody đang có bóng. Qua khoé mắt gã thấy một cầu thủ đối phương đang phi đến gần.
Gă khéo léo chuyển quả bóng ra phía sau ngựa. Cầu thủ khá nhất trong đội đối phương, Rick Hamilton, cướp được và phi về phía khung thành. Woody tức tốc đuổi theo. Gã cố gài vồ của Hamilton song trượt. Đàn ngựa đã tới rất gần khung thành. Woody cố gắng giành lại bóng, song không thể làm nổi.
Hamilton đã gần khung thành lắm rồi, và trong cơn tuyệt vọng, Woody bèn kè ngựa của mình vào ngựa anh ta để hất bằng được quả bóng ra. Hamilton cùng ngựa ngã sóng soài ra đất. Đám đông nhất loạt đứng lên la ó. Trọng tài tức giận nổi còi và giơ tay lên.
Luật polo không cho phép cắt ngang đường phi của ngựa đối thủ khi đối thủ đang có bóng và đang phi về phía khung thành. Cầu thế nào phạm lỗi nầy thường gây nguy hiểm cho đối phương.
Cuộc chơi dừng lại Trọng tài tiến lại chỗ Woody, giọng phẫn nộ.
- Đây là nỗi cố ý gây nguy hiểm, anh Stanford.
Woody cười chống chế:
- Không phải là lỗi do tôi đâu, mà do con ngựa còi của anh ta đấy chứ…
- Đội phạm lỗi sẽ phải chịu phạt đền.
Hiệp đấu trở thành một thảm hoạ. Trong vòng có ba phút Woody đã phạm thêm hai lỗi nguy hiểm nữa. Các cú phạt đền mang lại cho đội kia thêm hai bàn thắng. Còn ba mươi giây cuối cùng, đối phương đã ghi được bàn quyết định. Từ trên đỉnh cao của thượng phong, đội của Woody bị đánh tơi bời và chịu một thất bại quá ư cay đắng.
Trên hàng ghế khán giả, Mimi ngồi chết lặng đi trước sự thay đổi đột ngột của cục diện trận đấu.
Peggy rụt rè nói:
- Đội Woody chơi không ổn lắm, đúng không?
- Đúng đấy, Peggy. Tôi e là rất tồi đấy.
Một tiếp viên tiến tới chỗ hai người:
- Cô Carson, tôi muốn nói riêng với cô một chuyện không biết có được không?
Mimi xin lỗi Peggy và đi ra với người tiếp viên.
Peggy nhìn theo hai người.
Sau khi trận đấu kết thúc, một không khí tang tóc trùm lên đội của Woody.
Woody thấy nhục nhá quá, không dám nhìn đồng đội nữa. Vừa lúc đó Mimi hớt hải chạy tới:
- Woody, em xin lỗi phải báo cho anh một cái tin khủng khiếp. - Cô đặt tay lên vai gã. - Bố anh mất rồi.
Woody ngẩng nhìn Mimi và lắc đầu quầy quậy.
Gã bắt đầu nấc lên.
- Anh, anh phải chịu trách nhiệm. Tất cả… chỉ tại anh.
- Không. Anh không được đổ lỗi cho mình như vậy. Việc nầy không phải lỗi của anh đâu.
- Lỗi của anh, - Woody quát lên. - Nếu không vì mấy quả phạt đền do anh gây ra thì đội anh đã thắng trận nầy rồi.
 
Top