Hoàn Ký Ức Nửa Đêm - Sidney Sheldon

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 10 - ANTHENS
Cha Konstantinou rất lo sợ. Từ lúc đọc báo tường thuật về cái chết của Frederick Stavros bị một lái xe ô tô đâm và bỏ chạy trên báo, người đã bị ám ảnh bởi câu chuyện đó. Vị linh mục này đã được nghe hàng ngàn lời thú tội kể từ khi người được phong sắc, nhưng lời thú tội thê thảm của Frederick lại theo sau đó là cái chết của ông, đã để lại một ấn tượng không thể phai mờ trong trí người.
- Hề, điều gì làm cha phiền muộn vậy?
Cha Konstantinou quay nhìn người con trai trẻ khỏe đang nằm trần truồng trên gi.ường gần người.
- Chẳng có gì, con yêu của ta!
- Thế con không làm cha hạnh phúc à?
- Cha biết con đã làm vậy, Georgios.
- Rồi, có vấn đề gì? Cha cứ làm như con không có mặt ở đây lạy chúa!
- Không nên ăn nói báng bổ như thế.
- Con không thích bị cha lờ đi như vậy!
- Cha xin lỗi, con yêu quý. Đó chỉ là việc… một trong những người được cha rửa tội đã bị giết trong một tai nạn - Tất cả chúng ta cũng phải chết một lúc nào đó?
- Ừ, tất nhiên, Nhưng đây lại là một con người rất phức tạp!
- Ý cha muốn nói, ông ta đau đầu chứ gì?
- Không. Ông có một điều bí mật khủng khiếp, và nó là gánh nặng quá lớn đối với ông ta.
- Bí mật gì hở cha?
Vị linh mục đập vào đùi vị thanh niên.
- Con nên hiểu, cha không thể trao đổi điều đó được. Người ta đã nói với cha trong khi thú tội.
- Con nghĩ chúng ta chẳng có gì bí mật đối với nhau cả.
- Chúng ta không có gì bí mật, Georgios, nhưng…
- Gamoto! Hoặc là có, hoặc là không có. Bằng cách nào đó thì…
- Cha nói lão ấy đã chết. Bây giờ có khác gì nữa đâu?
- Không có gì, Cha cho rằng như vậy, nhưng…
Georgios Lato quàng hai tay vòng người cùng nằm gi.ường với anh và thì thầm vào tai ông.
- Con tò mò đấy.
- Con đang cù vào tai ta đấy hả?
Lato bắt đầu xoa khắp thân hình Cha Konstantinou.
- Ồ đừng thôi nhé… - Được Cha cho rằng điều đó thực ra cũng chẳng hại gì bây giờ nữa… - Georgios Lato đã xuất hiện trong thế giới này. Nó sinh ra trong khu nghèo khổ của Anthens, và khi được mười hai tuổi nó đã trở thành một thằng điếm đực. Thoạt đầu, Lato lê chân qua các phố, nhặt được vài đô la do đã hầu những tên uống rượu trong cái ngõ hẻm và ở khách du lịch tại buồng ở khách sạn của họ. Nó được trời phú cho một vẻ đẹp tuy hơi tối nước một chút, nhưng có một thân hình chắc, khỏe.
Khi nó mười sáu tuổi, một tên ma cô nói với nó:
- Mày là một Poulaki, Georgios. Mày bỏ việc ấy đi. Tao có thể gây dựng cho mày để kiếm được nhiều tiền nhé! - và hắn giữ lời hứa. Từ đó trở đi Georgios Lato chỉ phục hầu những người đàn ông quan trọng, giàu có và nó được thưởng khá hậu hĩnh.
Khi Lato gặp được Nikos Ventos, trợ lý riêng của tướng công vĩ đại Spyros Lambrous, cuộc đời Lato đã thay đổi.
- Tao đâm ra yêu mày, - Nikos Veritos nói với thằng bé trẻ tuổi. Tao muốn mày thôi không làm đĩ đực nữa. Bây giờ mày là thuộc về tao.
- Chắc chắn rồi, Niki. Tôi cũng yêu ông.
Veritos đã thường xuyên mua chuộc thằng bé bằng những quà tặng. Ông đã mua cho nó quần áo mặc, trả tiền thuê một căn hộ nhỏ cho nó và còn dạy nó biết cách tiêu tiền. Nhưng ông cũng rất ghét khi nó xa ông, không biết nó làm gì.
Để giải quyết vấn đề đó, một hôm Veritos đã tuyên bố:
- Tao kiếm cho mày một việc ở công ty của Spyros Lambrous nơi tao làm.
- Như vậy để ông lúc nào cũng theo dõi em? Em không muốn đâu…
- Tất nhiên không phải thế đâu, cưng ạ. Tao chỉ muốn mày gần tao thôi.
Georgios lúc đầu cũng không chống lại nhưng cuối cùng lại thôi. Nó thấy rằng hiện nó lại thích làm việc ở công ty.
Nó làm ở văn phòng văn thư, và làm một thằng giao thư từ, và như vậy nó lại được tự do kiếm tiền thêm bên ngoài của các khách hàng có giá như Cha Konstantinou.
Georgios Lato, chiều hôm đó, rời khỏi gi.ường của Cha Konstantinou, đầu óc nó cứ như cuồng lên. Bí mật mà vị linh mục đã cho nó biết là một mẩu tin hấp dẫn, và Georgios Lato có ngay ý định làm sao nó có thể kiếm được tiền từ cái tin đó. Nó có thể trao tin đó cho Nikos Veritos, nhưng nó lại nghĩ ra kế to hơn. Ta đi thẳng trước hết với thủ trưởng cao nhất hãy, Lato tự mình bảo mình. Đó là nơi có thể thanh toán sòng phẳng.
Sáng hôm sau, Lato đến văn phòng giao dịch của Spyros Lambrous.
Người thư ký ngồi sau bàn ngước nhìn lên.
- Ồ, hôm nay có thư sớm thế, Georgios.
Georgios Lato lắc đầu.
- Không, thưa bà. Tôi phải gặp ông Lambrous.
Bà cười.
- Thực à? Cậu muốn gặp ông ta làm gì? Cậu có đề nghị buôn bán gì với ông ta?
Lato nói nghiêm chỉnh:
- Không, không phải như vậy. Tôi vừa được nhắn tin mẹ tôi sắp chết, và tôi… phải về nhà. Tôi muốn cám ơn ông Lambrous đã cho tôi việc làm ở đây. Chỉ mất một phút thôi, nhưng nếu ông ta quá bận…
Nó bắt đầu quay đi.
- Đợi tý! Tôi tin chắc ông ta chẳng quan tâm đâu?
Mươi phút sau, Georgios Lato đứng trong phòng làm việc của Spyros Lambrous. Nó chưa bao giờ được được vào trong phòng này trước đây nên vẻ xa hoa đây làm nó phát ngợp.
- Được, cậu thanh niên ạ. Tôi rất tiếc khi nghe mẹ cậu sắp chết. Có thể có một khoản tiền thưởng nhỏ sẽ…
- Rất cám ơn, thưa ngài. Nhưng cái đó thực không phải lý do mà tôi đến đây.
Lambrous cau mày nhìn nó.
- Tôi không hiểu.
- Ông Lambrous, có một số thông tin quan trọng mà tôi nghĩ có giá trị đối với ông.
Nó có thể thấy vẻ mặt nghi ngờ của Lambrous.
- Ồ thực à? Tôi e rằng tôi bận quá, nên nếu cậu…
- Đó là về Constantin Denmiris. - Những từ cứ thế mà phát ra. - Em có một người bạn làm linh mục. Ông ấy đã nghe được một người trong buổi thú tội, đã bị giết chết ngay sau đó vì một tai nạn xe cộ, và người đó đã nói với ông về Constantin Denmiris. Ông Denmiris làm một việc độc ác. Thực là độc ác, ông ấy phải đi tù mới phải. Nhưng nếu ông chú ý…
Spyros Lambrous đột nhiên cảm thấy rất muốn biết.
- Ngồi xuống đi… tên cậu là gì?
- Lato, ông ạ. Georgios Lato!
- Được Lato. Cứ coi như cậu nói bắt đầu từ đầu…
Sự kết hôn của Constantin và Melina đã bị tan vỡ từ nhiều năm, nhưng vẫn chưa xảy ra va chạm th.ân thể như gần đây.
Điều đó bắt đầu trong một cuộc tranh cãi nóng nảy về việc tằng tịu của Constantin Denmiris vơi một người bạn thân của Melina.
- Anh thì đối với đàn bà nào cũng làm đĩ đực được, - cô đay nghiến anh. - Cái gì anh mó vào cũng thành bẩn thỉu!
- Skasch! câm cái mồm độc ác của cô đi!
- Anh không thể cấm được tôi! - Melina chống lại. - Tôi sẽ đi nói với toàn thế giới anh là một thằng bỉ ổi. Anh tôi nói đúng. Anh là một con quái vật.
Denmiris tát Melina một cái rất mạnh. Cô chạy ra khỏi buồng.
Tuần sau lại cãi nhau lần nữa và Constantin lại đánh cô. Melina gói đồ cho vào túi xách và đáp máy bay đi Atticos, cái đảo riêng do anh cô làm chủ. Cô đã để mất chồng và cô bắt đầu thấy hối hận về những việc cô đã làm.
Đó là lỗi của ta, Melina nghĩ. Ta không thể giận Costa. Và anh ấy không muốn đánh ta. Anh ấy mất bình tĩnh và không còn biết làm gì nữa. Nếu Costa không quan tâm ta nhiều thì anh ấy lại chẳng đánh ta, phải thế không?
Nhưng rồi cuối cùng, Melina biết chỉ cần những lời xin lỗi là xong, bởi cô không thể nào huỷ bỏ hôn nhân với anh ấy được Chủ nhật sau đó, cô quay về nhà.
Denmiris đang ở phòng đọc sách.
- Ông ngước nhìn lên khi Melina vào. - Thế là em đã quyết định trở về.
- Đây là nhà em, Costa. Anh là chồng em, và em yêu anh. Những em muốn nói với anh một điều. Nếu anh còn xúc phạm em nữa, em sẽ giết anh.
Ông nhìn vào mắt vợ và biết nàng nói thật.
Về một khía cạnh khác, q.uan hệ của họ có vể được cải thiện sau những lần bị kích động ấy. Sau đó một thời gian dài, Constantin cũng rất thận trọng không để mất bình tĩnh với Melina. Ông tiếp tục đi tằng tịu, và Melina thì quá tự kiêu không cần van xin ông thôi. Rồi có một hôm, Anh ta quá mệt vì các con, Melina nghĩ và anh đã nhận ra rằng anh chỉ cần mình ta.
Một tối thứ bảy, Constantin Denmiris đang chuẩn bị đóng bộ đi ăn tối. Melina vào buồng:
- Anh sắp đi đâu đấy?
- Anh có việc.
- Anh quên rồi sao? Chúng ta phải đi ăn tối ở nhà Spyros tối nay.
- Anh không quên. Nhưng có việc quan trọng hơn phải làm.
Melina đứng đó nhìn anh, tức giận.
- Tôi biết đó là việc gì rồi! Việc đĩ đực của anh! Và anh sắp đến một trong những con đĩ của anh để thoả mãn nó chứ gì?
- Em nên ăn nói cẩn thận. Em sắp thành con mẹ hàng tôm hàng cá đó, Melina!
Denmiris ngắm mình trong gương.
- Tôi không muốn anh làm điều đó!
Những điều ông làm đối với vợ cũng quá xấu, nhưng mà với người anh của vợ còn tàn nhẫn hơn, những việc như đã xảy ra trước đây thật là quá đáng. Cô phải tìm cách làm anh đau khổ và chỉ có một cách có thể làm được.
- Tối nay cả hai phải ở nhà! - Melina nói.
- Ồ, thực thế à? - Anh hỏi một cách thản nhiên. - Và sao lại thế?
- Anh có biết hôm nay là ngày gì? - Cô đay nghiến anh.
- Không!
- Là ngày kỉ niệm tôi đã giết con anh, Costa. Tôi đã bị sẩy thai ấy!
Anh đứng ngây như tượng gỗ, và cô có thể thấy hai đồng tử trong đôi mắt anh tối sầm lại.
- Em nói với các bác sĩ thắt lại để không bao giờ có con khác với anh, - cô nói dối.
Anh hoàn toàn không còn tự chủ được nữa.
- Skasch! và anh đấm vào mặt cô, nổi giận.
Melina kêu la, quay lại và chạy xuống phòng lớn.
Constantin vẫn ở đàng sau cô.
Anh ta nắm được cô ở đầu cầu thang.
- Tao sẽ trị mày về cái tội ấy, - anh gầm lên.
Khi anh lại đánh cô lần nữa, Melina không còn đứng vững được nữa, cô ngã và nằm sóng soài dọc cầu thang.
Cô nằm đó, rên rỉ vì đau.
- Ôi, trời ơi, giúp tôi. Tôi bị gãy xương hay sao rồi.
Denmiris vẫn đứng đó, nhìn xuống, đôi mắt lạnh lùng.
- Ta phải kêu một người hầu cho gọi bác sĩ. Ta không muốn bị muộn với công việc đã hẹn.
Điện thoại réo ngay trước giờ ăn trưa.
- Ông Lambrous? Đây là bác sĩ Metaxi. Em gái ông yêu cầu tôi gọi ông. Bà ấy đang ở bệnh viện tư của tôi. Tôi e bà ta bị một tai nạn…
Khi Spyros Lambrous vào buồng Melina đang nằm, ông đi ngay đến gi.ường của cô, và nhìn xuống cô gọi.
Melina bị gãy tay và bị chấn thương sọ não, mặt cô thì bị sưng to lên.
Spyros Lambrous nói có một tiếng:
- Constantin.
Giọng ông run lên vì tức giận.
Đôi mắt của Melina đầm đìa nước mắt.
- Anh ấy không muốn thế! - nàng thì thầm.
- Tao sẽ phải tiêu diệt nó. Tao thề!
Spyros Lambrous chưa bao giờ cảm thấy hung dữ như vậy. Ông không chịu nổi những ý nghĩ về những điều Constantin Denmiris đã làm đối với Melina. Có điều phải làm là chặn hắn lại, nhưng phải làm sao? Ông như đang bị mất trí. Ông cần lời khuyên. Như trong quá khứ thường ông cũng bị vậy, Spyros Lambrous quyết định hỏi bà Piris. Có cách nào đó bà ấy có thể giúp ông.
Trên đường đến gặp bà, Lambrous suy nghĩ loạn trí, bạn bè của ta sẽ cười ta nếu họ nghĩ ta đã đi xem bói.
Nhưng có một việc trong quá khứ, Bà Piris đã nói với anh những điều phi thường mà sắp xảy ra. Bây giờ bà ấy phải giúp ta.
Họ đã ngồi vào bàn ở một góc tối của quán cà phê thắp đèn lờ mờ. Bà ta trông già hơn khi ông gặp lần trước. Bà ngồi đó đôi mắt gắn chặt vào ông.
- Tôi cần bà giúp, Bà Piris ạ! - ông Lambrous nói.
Bà gật đầu.
- Bắt đầu từ đâu?
- Có một vụ giết người cách đây một năm rưỡi rồi. Một phụ nữ tên là Catherine Douglas đã…
Những biểu hiện trên mặt bà Piris thay đổi.
- Không! - Bà kêu thé lên một tiếng, đứng dậy. - Không! Các thánh nói với tôi cô ấy sẽ chết?
Spyros Lambrous chẳng hiểu sao cả.
- Cô ấy đã chết - ông nói. - Cô ấy bị… giết…?
- Cô ấy còn sống.
Ông hoàn toàn bị rối trí.
- Cô ấy không thể còn sống.
- Cô ấy đang ở đây. Cô ấy đã gặp tôi trước đây ba tháng. Họ giữ cô ấy trong tu viện!
Ông nhìn chăm chăm vào bà, ngây người ra và đột nhiên mọi chi tiết sắp xếp được đâu vào đó. Họ giữ cô ở tu viện. Một trong những hành động từ thiện ưa thích của Denmiris là cho tu viện ở Isanina, thành phố mà Catherine Douglas được giả thiết là đã bị giết chết. Thông tin mà Spyros đã nhận được từ Georgios Lato hoàn toàn khớp. Denmiris đã đưa hai người vô tội đến cái chết vì bị buộc tội là đã giết Catherine trong khi Catherine còn đang sống, được các bà sơ giấu đi.
Và Lambrous biết làm cách nào để tiêu diệt Constantin.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 11 - CÁC VẤN ĐỀ VỀ TONY ROZZOLI NGÀY CÀNG CHỒNG CHẤT.
Việc gì có thể hỏng thì đã hỏng. Những điều đã xảy ra chắc chắn không phải lỗi lầm của hắn ta, nhưng hắn biết rằng gia đình sẽ buộc trách nhiệm hắn. Họ không khoan dung cho những lời xin lỗi.
Cái làm thất vọng đặc biệt nhất là phần đầu của chiến dịch ma tuý thì đã đi qua rồi. Anh ta đã tuồn được chuyến hàng đến Anthens không xảy ra vấn đề gì, và hàng hoá đã được tạm thời cất trong kho cả rồi. Anh đã mua chuộc một tay chiêu đãi viên hàng không để đưa hàng đó lên chuyến bay từ Anthens đến New York. Nhưng rồi thì, hai mươi tư giờ trước chuyến bay, tên ngốc đó bị giữ vì quá chén vẫn lái xe, và hãng hàng không đã đuổi anh ta.
Tony Rozzoli phải quay sang phương án hai. Hắn đã bố trí một con la - Ở trường hợp này là một bà cụ đi du lịch bẩy mươi tuổi tên là Sara Murchison đi thăm cô con gái ở Anthens về - để mang một cái va li về New York cho hắn.
Bà ta chẳng biết là mang cái gì cả.
- Đó là một số quà kỷ niệm cháu đã hứa gửi cho mẹ cháu. - Tony Rozzoli giải thích, và - bởi vì cụ rất tốt nên cháu mới dám nhờ cụ giúp cháu, cháu xin trả cụ tiền vé máy bay.
- Ồ, cái đó không cần, - Sara Murchison phản đối.
- Tôi rất muốn làm điều đó giúp ông. Tôi ở không xa căn hộ của mẹ ông. Tôi mong được gặp cụ.
- Và cháu tin chắc mẹ cháu cũng rất mong gặp cụ, Tony Rozzoli nói liến thoắng. - Vấn đề là cháu hơi yếu. Nhưng sẽ có người đến lấy cái va li này.
Bà cụ mà làm việc này thì tuyệt - một bà già Mỹ trăm phần trăm, ngọt ngào. Chỉ có một điều là hải quan nghi hàng lậu của bà cụ là va li chắc chắn toàn là kim chỉ.
Sara Murchison phải khởi hành đi New York sáng hôm sau.
- Cháu sẽ đón và đưa cụ ra sân bay!
- Thế sao, cám ơn. Cậu là một thanh niên chu đáo quá. Mẹ cậu chắc rất tự hào về cậu.
- Dạ vâng. Mẹ cháu và cháu quý nhau lắm ạ. - Mẹ hắn đã chết mười năm rồi.
Sáng hôm sau, khi Rozzoli đang định rời khách sạn để đến kho hàng lấy hàng, thì điện thoại réo lên.
- Ông Rozzoli? - Đó là một giọng lạ.
- Vâng.
- Tôi là bác sĩ Patsaka đang ở phòng cấp cứu Bệnh viện Anthens, Bà Sara Murchison đang ở đây. Tối qua, bà cụ bị vấp, ngã và gãy xương hông. Bà rất lo lắng và bảo tôi nói với ông, rất lấy làm tiếc…
Tony Rozzoh đặt mạnh ống nghe xuống.
- Merda? - Thế là hai lẩn rồi. Tìm ở đâu ra con la khác bây giờ?
Rozzoli đã biết là hắn phải rất cẩn thận. Có tin đồn là có một nhân viên chống ma tuý Mỹ bắn rất giỏi hiện đang ở Anthens làm việc cùng với nhà cầm quyền Hy Lạp. Họ đang theo dõi ở mọi lối ra Anthens, và tàu bay, tàu thuỷ đều bị soát thường xuyên.
Và nếu như vậy chưa đủ, còn có một tin khác. Một trong các tay chạy hàng cho hắn - một tên trộm nhưng lại nghiện đã thông báo rằng cảnh sát bắt đầu đi lục soát các kho hàng, tìm thuốc phiện được chứa ở đâu, và còn có các nhóm phá các nhóm buôn lậu. Sự căng thẳng rất lớn. Đã đến giờ giải thích tình hình cho gia đình.
Tony Rozzoli rời khách sạn, đi bộ xuống phố Patission thẳng đến Giao dịch điện thoại thành phố. Hắn cũng không biết chắc điện thoại khách sạn có nối được hay không nhưng vì hắn không muốn bị lỡ nữa.
Số nhà 85 phố Patission là một toà nhà đá nâu rất lớn đằng trước có dãy cột lớn, và có tấm biển đề: O.T.E.
Rozzoli đi vào trong nhà và nhìn quanh. Hai mươi tư buồng điện thoại dọc theo tường, mỗi buồng có một số. Các giá sách để các quyển danh bạ điện thoại khắp nơi trên thế giới. Ở giữa buồng có một cái bàn làm việc có bốn thư ký đang ghi thứ tự và gọi từng người vào nói điện thoại.
Mọi người xếp hàng đợi đến mình.
Tony Rozzoli tiến đến gần một trong các phụ nữ ngồi sau bàn.
- Xin chào, - hắn nói.
- Tôi có thể giúp gì ông?
- Tôi muốn đăng kí gọi ra nước ngoài.
- Tôi e rằng phải đợi mất ba mươi phút.
- Không sao.
- Xin ông cho biết tên nước và số điện thoại?
Tony Rozzoli do dự.
- Nhất định.
Hắn đưa một mẩu giấy cho người phụ nữ.
- Tôi muốn gọi khẩn.
- Brown. Tom Brown!
- Rất tốt. Ông Brown. Tôi sẽ gọi ông nếu thông được đường dây.
- Cám ơn!
Hắn đi ngang qua một trong những ghế băng đặt ngang qua buồng và ngồi xuống. Ta phải cố giấu cái bọc đó trong ô tô, rồi trả tiền cho lái xe và bảo lái qua biên giới.
Nhưng như vậy hắn vẫn có thể rủi ro, xe có thể bị lục soát. Có thể, nếu tôi có thể tìm ra cách nào khác…
- Ông Brown… ông Tom Brown… - tên hắn được nhắc ba lần trước khi Tony Rozzoli nhận được đó là gọi hắn.
Hắn đứng dậy và vội vàng ra chỗ bàn.
- Bên kia nhận nghe rồi. Buồng bảy, xin mời.
- Cám ơn. Tiện thể, cho tôi xin lại cái giấy địa chỉ tôi vừa đưa cô? Tôi còn cần cái số đó.
- Nhất định rồi. - Cô ta giao lại cho hắn cái mẩu giấy.
Tony Rozzoli đi đến buồng bảy và đóng cửa.
- Hello!
- Tony? Anh đấy hả?
- Ê, anh thế nào, Pete?
- Phải nói với anh sự thật, chúng ta có liên quan một chút, Tony. Các thằng cu mong các gói trên đường đến đây lắm.
- Tôi đã có một vài vấn đề.
- Thế gói đồ đã gửi đi chưa?
- Không còn ở đây!
Yên lặng.
- Chúng tôi không muốn bất cứ điều gì xảy ra cho nó, Tony!
- Sẽ chẳng có gì xảy ra đâu. Tôi vừa mới tìm ra cách khác để đưa nó đi khỏi đây. Có cái bọn chết tiệt đó khắp các nơi!
- Chúng ta nói chuyện mười triệu đô la, Tony.
- Tôi biết. Đừng sốt ruột, tôi sẽ nghĩ ra một vài điều.
- Anh làm đi, Tony. Anh nghĩ ra điều gì đi.
Đường dây bị ngắt.
- Signomi. Cô có trông thấy người đàn ông vừa đi ra không? - Người phụ nữ nhìn lên - Ochi?
- Tôi muốn biết ông ta gọi về số nào.
- Xin lỗi. Chúng tôi không được phép cung cấp thông tin đó.
Người đàn ông sờ vào túi sau và lấy ra một cái ví có một cái phù hiệu mạ vàng gài vào cái ví đó. - Cảnh sát. Tôi là thanh tra Tinou.
Thái độ người phụ nữ thay đổi.
- Ồ. Ông ấy đưa cho tôi một mẩu giấy có số trên đó, và rồi ông ấy lại lấy lại.
- Nhưng cô có ghi lại để theo dõi không?
- Ồ, vâng, chúng tôi vẫn làm như vậy.
- Cô làm ơn cho tôi lại cái số đó?
- Được ạ, Cô ta viết một con số lên một mẩu giấy và đưa cho thanh tra. Ông nghiên cứu tờ giấy một lát. Mã số nước gọi đến là 34, điện thoại trao đổi là 91. Haly. Palermo.
- Cám ơn. Cô có nhớ tên người ấy không?
- Vâng. Đó là Brown. Tom Brown!
Cuộc trao đổi điện thoại đã làm Tony Rozzoli thêm nghị lực. Hắn phải vào buồng tắm. Damn Pete Lucca! Phía trước, ở góc Quảng trường Kolonaki, Rizzoli nhìn thấy một biển đề: Apohoritirion: WC. Đàn ông và đàn bà cũng vậy đều đi qua cửa ra vào để dùng cùng một tiện nghi. Và người Hy Lạp tự cho là văn minh, Rozzoli nghĩ. Ghê tởm.
***
Có bốn người đàn ông ngồi quanh một bàn họp trong villa trên núi trên Palermo.
- Hàng đáng ra phải gửi rồi, Pete. - Một người trong bọn họ ca cẩm. - Không biết có vấn đề gì?
- Tôi không chắc vấn đề có thể là Tony Rozzoli.
- Trước đây, đối với Tony, chúng ta chưa có rắc rối gì.
- Tôi biết - nhưng đôi khi con người ta trở nên tham lam. Tốt nhất có lẽ chúng ta nên cử một người đi Anthens kiểm tra sự thể xem sao.
- Tệ quá. Tôi vẫn thích Tony.
Tại số 10 phố Stadiou. Trụ sở cảnh sát ở trung tâm Anthens. Trong phòng họ ở có Cảnh sát trưởng Livreri Dimitri, Thanh tra Tinou và một người Mỹ, thiếu uý Walt Kelly, nhân viên Hải quan của Bộ kho bạc Mỹ.
- Chúng tôi đã được báo, - Kelly đang nói, - rằng đang có một vụ buôn ma tuý lớn. Chuyến hàng đang chuẩn bị ra khỏi Anthens. Tony Rozzoli đã tham gia vào vụ này.
Thanh tra Tinou ngồi yên lặng. Nha Cảnh sát Hy Lạp không muốn chào đón sự tham gia của nước khác trong công việc của họ. Đặc biệt là người Mỹ. Họ luôn cảnh giác và chỉ tin họ thôi.
Cảnh sát trưởng nói.
- Chúng tôi sẵn sàng làm việc, thiếu uý ạ. Tony Rozzoli đã điện về Palermo mới cách đây một lát. Chúng tôi đã tìm được số điện thoại và đang lần ra gốc. Khi chúng tôi tìm được, chúng tôi sẽ biết nguồn gốc của vấn đề này.
Điện thoại trên bàn ông lại réo. Dimitri và thanh tra Tinou nhìn nhau.
Thanh tra Tinou cầm ống nghe lên.
- Cậu đã có nó chưa? - ông lắng nghe một lát, nét mặt không có biểu hiện gì cả, rồi đặt ống nghe xuống.
- Được chứ?
- Họ đã truy được số đó!
- Và sao?
- Cú điện thoại gọi đến quảng trường công cộng ở thành phố.
- Gamoto?
- Ông Rozzoli của chúng ta rất inch eksipnos.
Walt Kelly nói không bình tĩnh:
- Tôi không nói tiếng Hy Lạp.
- Xin lỗi, Thiếu uý. Điều đó nghĩa là khôn ngoan. - Kelly nói, - Tôi muốn các ông tăng cường theo dõi hắn.
- Con người này rất ngạo nghễ. - Cảnh sát trưởng quay lại thanh tra Tinou. - Thực ra, chúng ta chưa đủ chứng cứ để tiến hành nhanh hơn nữa, có phải không?
- Không, thưa ông. Chỉ mới có nghi ngờ.
Cảnh sát trưởng Dimitri quay sang Walt Kelly.
- Tôi e rằng tôi không thể có đủ người để theo dõi bất cứ ai mà chúng tôi nghi ngờ đã tham gia vào ma tuý.
- Nhưng đối với Rozzoli.
- Tôi xin đảm bảo với ông, chúng tôi có nguồn riêng của chúng tôi, ông Kelly. Nếu chúng tôi có được thêm thông tin, chúng tôi biết trao đổi với ông ở đâu?
Walt Kelly nhìn ông ta, thất vọng.
- Không nên đợi quá lâu. - Ông nói. - Chuyến hàng này sẽ thoát đấy.
***
Villa ở Rafina đã sẵn sàng. Người được giao cai quản bất động sản đã nói với Constantin Denmiris:
- Tôi biết ông đã mua đồ đạc trong đó nhưng tôi đề nghị ông mua thêm một số đồ đạc mới…
- Không. Tôi muốn mọi thứ đúng như hiện có.
- Đúng như là đã có khi Noelle bất tín của ông và người của cô, Larry, ở đó rồi phản bội ông ta. Ông đi qua phòng khách. Có phải họ đã làm tình ở đây ở giữa sàn nhà này không? Hay trong kho? Hay trong bếp? Denmiris đi vào trong buồng ngủ. Ở một góc có một cái gi.ường lớn. Cái gi.ường của bọn nó. Ở đó Douglas đã vuốt ve thân hình trần truồng Noelle, ở đó hắn đã lấy cắp đi những cái gì đó thuộc về Denmiris. Douglas đã phải trả giá cho việc phạm thượng của hắn và bây giờ ông sắp phải trả đáp lại.
Denmiris nhìn vào gi.ường. Ta sẽ làm tình với Catherine trước hết ở đây, Denmiris nghĩ. Rồi ở cái buồng khác. Ông gọi điện cho Catherine từ villa này.
- Hello!
- Tôi đang nghĩ về ông.
***
Tony Rozzoli có hai vị khách từ Sicile không mời mà đến. Họ đi vào buồng ở khách sạn của anh không báo trước, và Rozzoli ngay tức khắc đã đánh hơi thấy rắc rối.
Alfredo Mancuso rất to lớn. Gino Laveri còn to hơn.
Mancuso đi ngay vào vấn đề:
- Pete Lucca đã sai chúng tôi đến đây.
Rozzoh cố gắng để làm cho ổn thoả.
- Hay lắm. Xin chào mừng các bạn đến Anthens. Tôi có thể làm gì cho các bạn?
- Anh có thể cắt cái Rozzoli, - Mancuso nói.
- Pete muốn biết anh đang chơi trò gì?
- Trò gì à? Anh đang nói về cái gì đó? Tôi đã giải thích với ông ấy rằng tôi đang có một khó khăn nhỏ.
- Chính vì vậy chúng tôi mới đến đây. Để giúp anh giải quyết cái đó!
- Đợi một chút, các bạn, - Rozzoli chống chế. - Tôi để gọi hàng chỗ khác, và rất an toàn. Khi nào…
- Pete không muốn hàng đó anh để chỗ khác. Ông ta đã phải đầu tư vào đó khá nhiều tiền. - Laveri đã đặt nắm tay của hắn lên ngực Rozzoli, và đẩy anh vào ghế dựa. - Lemme giải thích việc đấy với anh, Rozzoli ạ. Nếu món hàng này đã đưa ra phố New York như đã dự định, Pete có thể lấy được tiền, sàng ra một ít, và đưa tiền đó lại làm việc trên phố xá. Anh hiểu tôi nói gì chứ?
Ta có thể chắc chắn cho đi hai con đười ươi này, Rozzoh nghĩ. Nhưng hắn biết hắn không nên đánh bọn này, hắn phải đánh Pete Lucca.
- Chắc chắn, tôi hiểu chính xác anh đang nói gì, - Rozzoli nói khẩn khoản. - Nhưng việc không dễ như vẫn thường làm. Cảnh sát Hy Lạp có mặt mọi nơi, và họ lại có cả một tên chống ma tuý từ Washington. Tôi đã có một kế hoạch…
- Thì Pete cũng có, - Laveri ngắt lời. - Anh có biết kế hoạch là gì không? Ông ấy bảo tôi nói với anh rằng nếu chuyến hàng không lên đường được tuần tới, anh sẽ phải mang tiền mặt của anh mà nộp.
- Hề! Rozzoli phản ứng. Tôi không có loại tiền đó. Tôi…
- Pete đã nghĩ có thể anh không đến. Nên ông bảo chúng tôi tìm cách khác và bắt anh trả tiền.
Tony Rozzoli hít hơi thật sâu.
- Ôkê. Phải nói với ông ấy, mọi việc đều phải có kiểm soát.
- Chắc chắn rồi. Trong khi chờ đợi chúng tôi sẽ…
Tony Rozzoh không bao giờ uống rượu vào buổi sáng, và coi đó thể diện, nhưng khi hai tên đó đi ra, hắn đã mở một chai Whyski Scotch và làm hai ngụm đầy. Hắn cảm thấy hơi ấm của thứ rượu Scotch này chảy trong người hắn, nhưng lại không giúp gì được hắn. Không có gì sắp xảy ra có thể giúp ta được, hắn nghĩ. Làm sao cái lão già ấy lại trở mặt với ta như vậy? Ta đã như là con trai lão thế mà hắn chỉ cho ta có một tuần lễ để tìm ra cách giải quyết. Sòng bạc, hắn quyết định. Ta sẽ kiếm một con la ở đó.
Vào mười giờ đêm hôm đó, Rozzoli lái xe đến Loutraki, một sòng bạc bình dân cách Anthens về phía Tây khoảng năm mươi dặm. Hắn loanh quanh trong cái buồng lớn ồn ào của sòng bạc và dò xét các hoạt động. Luôn luôn có hàng chục thằng thua lỗ sẵn sàng làm mọi việc để kiếm nhiều tiền. Người càng tuyệt vọng bao nhiêu thì càng dễ bắt mồi bấy nhiêu. Rozzoli chấm được đối tượng tại bàn quay số. Hắn ta là một người nhỏ con, tanh tách như chim, tóc xám, khoảng trên năm mươi, luôn quấn ở trán một khăn tay. Hắn càng bị mất nhiều thì hắn càng toát mồ hôi hột ra. Rozzoli chăm chú nhìn hắn. Hắn đã có những biểu hiện rõ rệt. Đó là một trường hợp cổ điển bị thua bạc nhiều, quá cả sức chịu đựng.
Khi đống tíc-kê trước mặt hắn bị mất hết, hắn nói với tên cầm đầu cái sòng:
- Tôi… tôi muốn ký để mua một đống tíc-kê khác.
Tên cầm cái quay và nhìn về phía tên chủ sòng.
- Cho hắn đi. Đây là lần cuối cùng nhé.
Tony Rozzolí đang nghĩ không biết con gà mờ này đã bị móc bao nhiêu tiền rồi. Hắn kéo ghế ngồi gần tay thua bạc kia, và mua phiếu nhảy vào chơi. Trò quay số là một trò chơi hút m.áu, nhưng Rozzoli biết chơi số lẻ như thế nào, và đống tíc-kê của hắn cứ đầy lên và đống tay kia thì giảm dần. Tên thua bạc như hết hy vọng, trải các tíc-kê còn lại trên mặt bàn, chơi trò đoán số, màu sắc, và cả cá cược về chẵn lẻ. Hắn không còn có suy nghĩ gì là hắn đang đi xuống địa ngục, Rozzoli nghĩ.
Tíc-kê cuối cùng bị lấy nốt. Người lạ mặt, ngồi đó, đờ đẫn. Hắn ta còn nhìn và còn hy vọng ở tên cầm cái.
- Có thể cho…?
Tên cầm cái lắc đầu.
- Xin ông. - Hắn ta thở dài và đứng dậy.
Rozzoli cũng đứng lên cùng lúc đó.
- Quá tệ - hắn nói rất tình cảm để lấy lòng. - Tôi đã có chút may mắn. Để tôi mua mời anh uống tí chút chứ?
Con người đó mắt nửa nhắm nửa mở. Giọng hắn run run.
- Ông tử tế quá, ông ạ!
Ta đã kiếm ra được con la của ta, Rozzoli nghĩ, dĩ nhiên là lão này cần tiền. Chắc chắn, hắn ta có thể nhảy rỡn lên với vận may để mang một cái vỏ bọc vô hại đến New York để được một trăm đô la hoặc thế, và cả một chuyến đi Mỹ không mất tiền.
- Tôi tên là Tony Rozzoli!
- Victor Korontzis.
Rozzoh và Korontzis đi đến quán ba.
- Anh muốn uống gì?
- Tôi… tôi sợ tôi không còn đủ tiền.
Tony Rozzoli khoát tay rộng ra.
- Không nên ngại điều đó!
- Ừ, cho tôi một cốc restina, cám ơn. - Rozzoli quay lại phía hầu bàn - Và một chai Chiras Regal không mất tiền nhé.
- Ông đến đây là khách du lịch à? - Korontzis hơi bất lịch sự.
- Vâng, - Rozzoli trả lời. - Tôi đi nghỉ hè. Một đất nước đẹp quá!
Korontzis nhún vai.
- Tôi cũng cho là thế.
- Ông có thích nơi đây không?
- Ồ tất nhiên, đẹp lắm. Chỉ có điều đắt đỏ quá. Tôi muốn nói cứ tăng giá. Trừ phi ông là triệu phú, kiếm ăn được khó khăn quá, nhất là khi ông một vợ lại bốn con nữa thì chết. - Giọng hắn tỏ ra cay đắng lắm.
Dần dần sẽ tốt hơn.
- Anh làm gì, Victor?
- Tôi làm bảo vệ ở Nhà Bảo tàng Quốc gia Anthens.
- Bảo vệ là làm gì nhỉ?
Một chút tự hào trong giọng nói của Korontzis. Tôi chịu trách nhiệm các đồ cổ đã được khai quật lên ở Hy Lạp. - Hắn nhắm một hớp rượu. - Được, không phải tất cả, tất nhiên. Chúng tôi còn có các bảo tàng khác. Bảo tàng Acroplis và Bảo tàng khảo cổ Quốc gia. Nhưng bảo tàng của chúng tôi có nhiều hiện vật có gía trị nhất.
Tony Rozzoli thấy hắn thành thật nên muốn biết:
- Giá trị thế nào?
Victor Korontzis nhún vai.
- Hầu hết hiện vật là vô giá. Có luật cấm không cho mang những đồ cổ ra nước ngoài, tất nhiên rồi. Nhưng chúng tôi lại có một cửa hàng nhỏ ở bào tàng chuyên bán bản sao.
Bộ óc của Rozzoli bắt đầu làm việc dữ lắm.
- Nếu như vậy? Các bản sao có tốt lắm không?
- Ồ, tuyệt vời! Chỉ có chuyên gia mới có thể phân biệt được giữa bản làm giả và vật thật nguyên bản gốc.
- Để tôi mua cho anh thứ rượu khác nhé. - Rozzoli nói.
- Cảm ơn. Ông tử tế quá. Tôi e rằng tôi không có gì để đối xử lại với ông.
- Không nên quan tâm điều đó. Là lẽ tự nhiên thôi, có vài việc anh có thể làm giúp tôi. Tôi muốn xem bảo tàng của anh. Nó chắc hấp dẫn lắm. - Rozzoli cười.
- Ồ đúng thế, - Korontzis đảm bảo với anh rất nhiệt tình về bảo tàng của mình. - Nó là một trong những bảo tàng hay nhất trên thế giới. Tôi rất lấy làm may mắn nếu được dẫn ông đi xem vào một ngày nào đó. Khi nào ông rỗi?
- Sáng mai thế nào?
Tony Rozzoli có cảm tưởng rằng tay này còn là một đối tượng có lợi hơn một con la nhiều. Bảo tàng Anthens nằm ngoài khu Platia Syntagma, Ở giữa Anthens. Ngôi nhà bảo tàng là một building xinh đẹp xây dựng theo kiểu đền chùa cổ, đằng trước có bốn cái cột Ionian, trên nóc phất phới lá cờ Hy Lạp, và trên mái cao, có bốn hình tượng lớn. Bên trong, những phòng lớn lát đá chứa các đồ cổ từ các triều đại khác nhau trong lịch sử Hy Lạp, và các buồng bầy rất nhiều tủ đựng các di vật và hiện vật. Có những chiếc cúp vàng, mũ miện vàng, khắc cả gươm và cả con tàu ở trên mũ. Một tủ còn có bốn mặt nạ để chôn cất bằng vàng, và nhiều vật, các mảng vỡ từ các bức tượng cổ các thế kỷ trước.
Victor Korontzis mời Tony Rozzoli đi xem do anh hướng dẫn. Korontzis dừng ở trước một tủ đựng một tượng nhỏ nữ chúa với một vươn miện bằng cành cây thuốc phiện.
- Đây là nữ chúa thuốc phiện, - anh giải thích với một giọng trầm và nhỏ. - Vương miện này biểu tượng cho chức năng và người mang lại những giấc ngủ, giấc mơ, sự biểu lộ và sự chết.
- Thế cái tượng đó giá bao nhiêu?
Korontzis cười.
- Nếu bán ấy à? Phải hàng triệu.
- Thế kia à?
Người bảo vệ bảo tàng nhỏ nhắc với những niềm tự hào hiển nhiên khi anh ta đi loanh quanh, chỉ dẫn về kho tàng vô giá này.
- Đây là cái đầu Kouros, năm trăm ba mươi năm trước công nguyên… Đây là cái đầu của Anthens với cái mũ Corinthran, thế kỷ một nghìn bốn trăm năm mươi năm trước công nguyên và đây là một vật thần thoại. Một mặt nạ vàng của Achacan từ ngôi mộ hoàng tộc ở Acropoli của Myceae, từ thế kỷ mười sáu trước công nguyên. Người ta cho đó là Agamemmon!
- Anh đừng nói nữa?
Anh dẫn Tony Rozzoli đến tủ khác. Trong tủ này là một vò hai quai cục kỳ quý của Hy Lạp.
- Đây là cái tôi thích nhất - Korontzis thú nhận, với nụ cười kín đáo. - Tôi biết cha mẹ thì không được quá yêu một người con nào, nhưng tôi thì không thể làm như thế được.
- Cái vò hai quai này… Đối với tôi nó trông giống như một cái lọ hoa thôi.
- À, vâng, cái lọ hoa này được tìm thấy trong buồng ngai vàng khi khai quật ở Knossos. Anh có thể nhìn thấy những chi tiết người ta bắt một con bò đực bằng lưới. Ở thời xưa, lúc đó người ta bắt những con bò đực bằng lưới để không cho bò bị chảy m.áu tháng trước, do vậy…
- Cái đó giá bao nhiêu? - Rozzoli ngắt lời.
- Tôi cho phải đến chục triệu đô la!
Tony Rozzoli trợn lông mày lên.
- Để làm gì?
- Thực vậy! Anh phải nhớ, nó là từ thời kỳ hậu Minoa, khoảng một nghìn năm trăm năm trước công nguyên.
Tony còn đang nhìn quanh hàng tá tủ kính để đầy các hiện vật.
- Tất cả các đồ này có giá trị không?
- Ồ, ông bạn của tôi, không. Chỉ có đồ cổ thật thôi. Đó là những vật không thay thế được, tất nhiên, và nó cho ta một vật thực để biết nền văn minh cổ đại như thế nào. Tôi xin giới thiệu với ông vài thứ ở chỗ kia nữa.
Tony đi theo Korontzis sang một buồng khác. Họ dừng trước một tủ ở góc buồng.
Victor Korontzis chỉ vào một cái lọ.
- Đây là một trong những kho báu vĩ đại nhất. Đó là một trong những ví dụ sớm nhất vì việc biểu tượng hoá các dấu hiệu phát âm. Vòng tròn có dấu chữ thập anh thấy đấy là chữ Ka. Vòng trong gạch chéo là một trong các hình cổ xưa nhất được con người thời đó dùng để biểu hiện vũ trụ. Chỉ có mỗi một…
Ai cho cái đồ rác rưởi này.
- Nó giá độ khoảng bao nhiêu? - Tony hỏi.
- Một khoản tiền ban thưởng vô cùng lớn của vua. - Korontzis thở dài.
Khi Tony rời khỏi Bảo tàng sáng hôm đó, hắn đang tính toán hắn sẽ giàu có với những mơ mộng điên dại. Do một cú tình cờ kỳ lạ, hắn đã dẫm chân lên một mỏ vàng.
Hắn phải tìm được một con la, và thật vậy, hắn đã tìm ra chiếc chìa khoá để đi vào nhà đựng các kho báu. Những khoản lợi nhuận do buôn bán heroin còn phải chia năm xẻ bảy. Không ai ngây thơ để gạch chéo xoá sổ Gia đình, nhưng các đồ cổ mà chuồn ra được thì khác lắm đấy. Nếu hắn tuồn được các hiện vật này ra khỏi Hy Lạp, thì sẽ là một công việc làm ăn thêm mà chỉ phụ thuộc vào mình hắn; bọn trùm găng-stơ không còn mong gì ở hắn cả.
Rozzoli có nhiều lý do để phấn chấn hơn. Bây giờ, việc ta phải làm, Rozzoli nghĩ là phải tìm cách móc câu vào con cá. Ta lo về chuyện con la sau.
Tối hôm đó, Rozzoli đưa anh bạn mới quen đó đến hộp đêm Mostrov Anthens, một hộp đêm mà các trò vui ở đây rất dâm đãng, và các tiếp viên gợi tình thì có ngay sau khi trình diễn.
- Chúng ta hãy chọn một cặp điếm để anh em mình vui một chút, - Rozzoli đề nghị.
- Tôi phải về nhà với vợ con, - Korontzis có ý phản đối. Hơn nữa, tôi e rằng anh không kham nổi những việc thế này.
- Hề, anh là khách của tôi. Tôi đã có khoản để chi tiêu. Chẳng đáng là gì với tôi.
Rozzoli bố trí một trong những cô gái đưa Victor Korontzis về khách sạn của cô.
- Anh có đến không đấy? Korontzis hỏi.
- Tôi có chút việc phải giải quyết, - Tony nói với anh. - Anh cứ đi trước đi. Mọi việc đó chu đáo cả.
Sáng hôm sau, Rozzoli lại nhẩy ngay vào bảo tàng lần nữa. Có rất nhiều đám du lịch đi xem các phòng, lạ lùng về các kho tàng cổ xưa.
Korontzis đưa Rozzoh vào phòng làm việc của anh. Anh hiện còn thẹn đỏ mặt.
- Tôi… tôi không biết làm sao để cám ơn ông về việc tối qua, Tony à. Cô ta… thật tuyệt vời.
Rozzoli cười.
- Những người bạn với nhau là thế nào Victor?
- Nhưng tôi chẳng có gì để đáp lại anh được!
- Tôi không mong anh làm vậy, - Rozzoli nói thật thà.
- Tôi thích anh. Tôi thích là bạn anh. Tiện đây, tối nay, ở một khách sạn, có chơi bài xì. Tôi sẽ đi chơi. Anh có thích đi không?
- Cám ơn. Tôi cũng thích, nhưng… - Anh nhún vai. - Tôi không nghĩ rằng như vậy có lợi cho tôi.
- Cứ đi đi. Nếu anh ngại về tiền bạc, không nên quan tâm về cái khoản đó. Tôi sẽ góp vốn cho anh luôn thể.
Korontzis lắc đầu.
- Anh đã quá tốt rồi. Nếu tôi thua tôi không thể trả nợ anh được.
- Ai mà nói sẽ bị lỗ, người đó sẽ được đấy! - Tony Rozzoli cười gằn.
- Được à? Tôi… tôi không hiểu.
- Một anh bạn tôi tên là Otto Dalton đang cầm cái trò đó. Có nhiều nhóm du lịch Mỹ lắm tiền đang ở thành phố, họ thích chơi bạc lắm, Otto và tôi sắp dẫn họ đến. - Rozzoìi nói một cách nhẹ nhàng.
Korontzis đang nhìn anh, mắt thao láo.
- Dẫn họ đến? Ý anh muốn nói, anh là… anh sắp đi lừa đảo à? - Korontzis liếm môi. - Tôi… tôi chưa bao giờ làm điều gì như vậy.
Rozzoli gật đầu rất thiện cảm.
- Tôi hiểu. Nếu điều đó làm phiền anh, anh không phải làm thế. Tôi chỉ nghĩ đó là cách dễ nhất cho anh để lấy lại hai ba ngàn đô la.
Những con mắt của Korontzis trợn hẳn lên.
- Hai ba ngàn đô la?
- Ồ, vâng, ít nhất.
Korontzis lại liếm môi lần nữa.
- Tôi… tôi… có nguy hiểm không?
Tony Rozzoli cười.
- Nếu là nguy hiểm, dễ tôi muốn làm à, tôi muốn à? Chỉ như một miếng bánh. Guồng máy của Otto… một tay buôn. Hắn có từ trên đỉnh, từ đáy hay từ giữa. Hắn đã làm việc đó từ nhiều năm nay rồi và chẳng hề bị bắt.
Korontzis ngồi đó, nhìn thẳng vào Rozzoli.
- Bao nhiêu… liệu tôi cần bao nhiêu tiền, để chơi trò đó?
- Khoảng năm trăm đô la. Nhưng rồi tôi sẽ nói với anh như thế nào. Việc này như tôi cho anh vay năm trăm, và nếu anh thua thì anh chẳng cần trả lại cho tôi.
- Thật là anh quá rộng rãi, Tony ạ. Vì sao… vì sao anh lại làm thế cho tôi?
- Tôi sẽ nói với anh vì sao. - Giọng nói của Tony đầy lòng nhân từ. - Khi tôi thấy một con người lao động vất vả lại đang khó khăn như anh, với một vị trí có trọng trách là người giám sát của một trong các bảo tàng lớn nhất trên thế giới, và Nhà nước không đánh giá anh đúng mà chỉ trả cho anh một đồng lương mạt hạng - và anh phải phấn đấu để nuôi vợ con. Được, tôi sẽ nói với anh sự thật. Victor, điều đó làm tôi không yên được. Từ ngày anh được tăng lương đến nay bao lâu rồi?
- Họ… họ không tăng lương cho tôi.
- Được rồi anh sẽ được. Hãy nghe đây. Anh có thể chọn, Victor ạ. Anh có thể cho tôi giúp anh một chút tối nay để anh có thể lấy được vài ngàn đô la và bắt đầu sống như anh muốn. Hoặc là anh sẽ tiếp tục sống chật vật cho đến cuối đời.
- Tôi… tôi không biết, Tony. Tôi sẽ không…
Tony Rozzoli đứng dậy.
- Tôi hiểu. Tôi chắc chắn sẽ trở lại Anthens một hai năm nữa, và chúng ta có thể gặp nhau nữa. Được quen biết anh là điều tôi rất mừng.
Rozzoli bắt đầu đi ra cửa…
Korontzis phải quyết định.
- Đợi tý. Tôi… tôi muốn đi với anh tối nay.
Tony Rozzoli nói:
- Điều đó thực làm cho tôi cảm thấy tốt đẹp để có thể giúp anh thoát được.
Korontzis do dự.
- Hãy bỏ qua cho tôi, nhưng tôi muốn đảm bảo là được hiểu đúng về anh. Anh nói rằng nếu tôi thua năm trăm đô la, tôi sẽ không phải trả lại anh!
- Đúng thế, - Rozzoli nói. - Bởi vì anh không thể thua. Trò chơi đã sắp đặt rồi.
- Sẽ chơi ở đâu?
- Buồng hai mươi ở khách sạn Metropole. Mười giờ. Anh hãy nói với vợ anh là anh đi làm về muộn.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 12 -
Có bốn người ở buồng bên cạnh cùng khách sạn với Tony Rozzoli.
- Tôi muốn gặp anh bạn tôi là Otto Dalton, - Rozzoli nói.
- Victor Korontzis. - Rozzoli giới thiệu Korontzis với Dalton.
Hai người bắt tay nhau.
Rozzoli nhìn người kia có vẻ như muốn dò hỏi.
- Tôi không tin là đã gặp những quý ông kia!
Otto Dalton giới thiệu:
- Perry Breslauer từ Detroit… Marvin Seymuor từ Houston… Sal Prizzi từ New York.
Victor Korontzis gật đầu chào, không để họ nghe được giọng nói của anh.
Otto Dalton khoảng trên sáu mươi tuổi, gầy, tóc hoa râm, yếu đuối. Perry Breslauer trẻ hơn, nhưng mặt tay này thuồn thuộn và hốc hác. Marvin Seymuor cũng gầy, người trông tàm tạm: Sal Prizzi là một người to lớn, chắc chắn như cây sồi với cánh tay khỏe mạnh. Tay này có đôi mắt nhỏ, ẩn ý, và mặt có một vệt sẹo lớn vì một nhát dao.
Rozzoli đã giới thiệu ngắn gọn với Korontzis trước khi chơi. Những thằng cha này có nhiều tiền. Seymuor có một công ty bảo hiểm. Breslauer có các đại lý xe hơi khắp nước Mỹ, và Sal Prizzi là người đứng đầu một hiệp hội lớn ở New York.
Otto Dalton đang nói.
- Tốt lắm thưa quý vị. Chúng ta bắt đầu chứ? Tickê trắng là năm trăm đô la, màu xanh là mười, đỏ là hai mươi nhăm và màu đen là năm mươi. Các vị hãy nhìn kỹ mầu tiền của các vị.
Korontzis đưa ra năm trăm đô la mà Tony Rozzoli đã cho anh vay. Không, anh nghĩ, không phải cho vay, cho hắn. Anh nhìn qua Rozzoli và cười. Thật là một người bạn tuyệt Rozzoli.
Những người khác lấy ra các xấp lớn tiền từ ngân hàng.
Korontzis chợt có cảm giác lo lo. Nếu có việc gì xảy ra, làm thế nào, và nếu anh bị thua cả năm trăm đô la? Anh nhún vai.
Bạn anh Tony sẽ quan tâm tới việc đó. Nhưng nếu anh thắng. Korontzis tự nhiên tràn đầy cảm xúc phấn chấn.
Cuộc chơi bắt đầu.
Họ chọn người rút đầu tiên. Món tiền đi đầu thường nhỏ, và người ta chấp nhận năm con bài, bẩy con bài, rút con tẩy và sần thượng hạ.
Ban đầu, kẻ thắng người thua đều nhau, nhưng dần nước thuỷ triều cứ nâng dần lên.
Dường như Victor Korontzis và Tony Rozzoli không bị hỏng. Nếu bọn họ bài đỏ, những người khác bài đen. Nếu bọn họ mát tay, Korontzis và Korontzis lại mát tay hơn.
Victor Korontzis không thể tin được vào vận may của anh. Cuối buổi tối hôm đó, anh đã được gẩn hai ngàn đô la.
Thật là một kỳ tích.
- Các cậu thật là may quá, - Marvin Seymuor lầu bầu.
- Khỏi phải nói, - Breslauer đồng ý. - Thế nào, ngày mai cho chúng tôi cơ hội gì nhé?
- Tôi sẽ báo anh. - Rozzoli nói.
Khi họ đã đi, Korontzis sửng sốt:
- Tôi không thể tin vào điều đó. Hai ngàn đô la!
Rozzoli cười.
- Đó chỉ đủ nuôi gà thôi. Tôi nói với anh mà. Otto là một trong cả một quầy máy nhẹ nhất về kinh doanh. Các chàng trai đó còn muốn đánh với ta dịp khác. Anh có chú ý không?
- Anh cá đấy à. Trên mặt Korontzis nở một nụ cười thoải mái. - Tôi nghĩ chỉ là nói vui thôi.
Đêm hôm sau, Victor Korontzis được ba ngàn đô la.
- Thật là kỳ lạ! - Anh nói với Rozzoli. - Sao họ không nghi ngờ gì cả nhỉ?
- Dĩ nhiên là không. Tôi cược với anh là họ yêu cầu chúng ta nâng giá trị tic-kê ngày mai. Họ nghĩ sẽ thắng để lấy lại tiền. Anh có tin thắng không?
- Chắc chứ, Tony. Tôi sẽ thắng.
Khi họ đã ngồi vào bàn, Sal Prizzi nói:
- Các anh biết, đến nay chúng tôi thua nhiều quá. Thế nào nâng tic-kê lên nhé?
Tony Rozzoli nhìn sang Korontzis và nháy mắt.
- Với tôi được, - Rozzoli nói. - Thế nào anh bạn?
Cả hai người gật đầu hiểu ý nhau.
Otto Dalton xếp một đống các tic-kê lên. Các con trắng là năm mươi đô la, các con xanh là một trăm, và các con đỏ làm năm trăm, các con đen là một nghìn.
Victor Korontzis nhìn sang Rozzoli. Họ không dự kiến giá trị các tic-kê sẽ cao như vậy.
Rozzoli gật đầu trấn an một lần nữa.
Ván bài bắt đầu.
- Không có gì thay đổi. Bàn tay của Victor Korontzis rất tài nghệ. Con bài nào anh cầm cũng thắng nhưng không nhiều.
- Các con bài chết tiệt? - Prizzi lầu bầu. - Thay bộ bài này đi!
Otto Dalton bắt buộc phải đưa ra bộ bài mới.
Korontzis nhìn sang Tony Rozzoli và cười. Anh biết sẽ không có gì thay đổi vận may của anh.
Vào nửa đêm, họ ăn bánh mì kẹp thịt người ta đưa đến. Các tay chơi nghỉ giải lao mười lăm phút.
Tony Rozzoli kéo Korontzis ra ngoài.
- Tôi bảo Otto phải dành cho bọn nó một ít, - anh thì thầm.
- Tôi không hiểu.
- Để họ thắng vài lần. Nếu họ cứ thua mãi, họ sẽ nản chí và chuồn.
- Ồ, tôi hiểu. Như vậy mới khôn đấy.
- Khi họ nghĩ là họ đang đỏ, ta lại nâng giá trị tic-kê lên và sẽ đóng đinh bọn nó.
Victor Korontzis đang do dự.
- Tôi đã thắng nhiều tiền như vậy Tony. Anh nghĩ chúng ta có nên rút khi chúng ta đã…?
Tony Rozzoli nhìn vào mắt anh và nói:
- Victor, làm sao anh lại muốn rời nơi đây đêm nay khi mới chỉ có năm mươi ngàn đô la trong túi?
Khi cuộc chơi sắp kết thúc, Breslauer, Prizzi và Seymuor bắt đầu thắng. Tay của Korontzis còn tốt, nhưng tay của các người khác còn may hơn.
Otto Dalton là một tay cừ khôi, Korontzis nghĩ. Anh đã ngắm Dalton rút bài, và không thể nào phát hiện một động tác giả nào.
Cuộc chơi còn tiếp tục, Victor Korontzis đã bị thua.
- Anh không quan tâm. Trong một vài phút khi anh ấy đã - gọi là nhĩ - chia sẻ cho người khác, anh, Rozzoli và Dalton sẽ chuyển sang thế giết.
Sal Prizzi nghĩ đã thoả mãn.
- Được! - hắn nói, bọn anh trông đã bình tĩnh lại.
Tony Rozzoli lắc đầu lấy làm tiếc.
- Vâng đúng thế, có phải không? - Anh liếc nhìn sang Korontzis tỏ ý thông hiểu.
- Điềm may mắn của anh không thể tiếp tục mãi - Marvin Seymuor nói.
Perry Breslauer nói toạc ra.
- Có phải các anh muốn nói là tăng tic-kê lên một lần nữa, và như vậy các an định cho chúng tôi thất bại thực sự phải không?
Tony Rozzoli có ý định như vậy, nhưng hắn lại nói có vẻ đăm chiêu:
- Tôi không biết. - Hắn quay sang Victor Korontzis, - Anh nghĩ thế nào Victor?
Sao anh có muốn tối nay chúng ta rời khỏi nơi đây với năm mươi ngàn đô la trong túi? Ta có thể sẽ mua nhà, mua một chiếc xe mới. Ta có thể đưa cả gia đình đi nghỉ hè… Korontzis gần như run lên vì bị kích động bởi niềm sung sướng, sắp tới rồi. Anh cười:
- Tại sao không?
- Được! - Sal Prizzi nói, - Chúng ta sẽ chơi tic-kê là bàn và giới hạn là trời.
Họ đang chơi rút năm con bài. Các con bài đầu đã rút xong.
- Tôi đi tiền nhé, - Breslauer nói. - Nào hãy đi năm ngàn đô la đây.
Mỗi người đặt tiền ra.
Victor Korontzisr rút được hai con "đầm". Anh đã rút ba con rồi, một trong ba con là một - con "đầm" khác.
Rozzoli nhìn vào tay mình và nói:
- Tôi tố một ngàn.
Marvin Seymuor xem bàn tay mình:
- Tôi sẽ gọi, và tố hai ngàn.
- Tôi không đủ sức. - Otto Dalton chịu thua.
- Tôi sẽ gọi. - Sal Prizzi nói.
Cái đĩa tiền chuyển sang Marvin Seymuor.
Trong ván bài sau, Victor Korontzis chỉ rút được một con bát, một con cửu, một con dập và một con "Hầu cơ". Chỉ thiếu một con thì được sần hạ.
- Tôi sẽ tố một ngàn đô la, - Dalton nói.
- Tôi sẽ gọi và tố lên một ngàn.
- Để tôi tố lên một ngàn nữa. - Sal Prizzi nói.
Đến lượt Korontzis, anh tin chắc rằng rút bài lần này có thể đánh bại các người khác. Anh chỉ bị một con lệch thôi.
- Tôi gọi - Anh rút một con, lật úp xuống, không dám xem là gì.
- Hai con tứ và hai con sập. - Breslauer đặt úp tay xuống.
- Ba con thất. - Prizzi đặt tay xuống.
Họ quay lại nhìn Victor Korontzis. Anh lấy hơi thở sâu, nhặt con bài thiếu lên.
- Bài đen - Hỏng rồi - anh nói.
Anh chịu thua.
Số tiền đặt bài ngày càng nhiều.
Chồng tic-kê của Victor Korontzis đã vơi đi gần hết. Anh nhìn sang Rozzoli lo lắng.
Rozzoli cười trấn an, nụ cười hàm ý rằng khỏi phải lo làm gì.
Rozzoli mở một ván mới.
Người ta rút lại các con bài.
- Tôi đi một ngàn đô la.
Perry Breslauer:
- Tôi tố một ngàn đô la nữa.
Marvin Seymuor:
- Và tôi tố lên hai.
Sal Prizzi:
- Anh biết có điều gì không? Tôi nghĩ các anh đang tháu cáy. Hãy tố lên năm nghìn nữa.
Khi nào cái kiểu tố đáng nguyền rủa này chấm dứt?
- Victor?
Korontzis nhấc tay lên từ từ và xòe ra từng hai con bài một. Một con xì một con xì nữa, lại một con xì thứ ba, cộng với một con tây và một vài sập. m.áu trong người anh bắt đầu sôi lên, làm anh sướng râm ran cả người.
- Anh chơi chứ!
Anh cười với chính mình. Các kiểu tố liền này đã chấm dứt. Anh biết rằng anh sắp rút được một con Tây nữa cho đủ cả hội. Anh ném con mười đi và cố giữ tiếng nói như thường lệ.
- Tôi gọi, xin một con nữa.
Otto Dalton nói:
- Tôi sẽ rút hai. - Ông nhìn bài của mình, - Tôi tố một ngàn đô la!
Tony Rozzoli lắc đầu.
- Quá nhiều với tôi. - Anh chịu thua.
Prizzi nói:
- Tôi tố năm ngàn!
- Tôi thua! - Marvin Seymuor chịu thua.
Còn lại Victor Korontzis và Sal Prizzi.
- Anh có gọi không? - Prizzi hỏi - Phải trả anh năm ngàn nữa.
Victor Korontzis nhìn vào đống tic-kê. Anh còn lại tất cả có năm ngàn. Nhưng khi nào ta sẽ thắng số tiền lớn này… anh nghĩ. Anh lại nhìn vào tay mình lần nữa. Bàn tay này không thể bị bại được. Anh đặt đống tic-kê ở giữa bàn và lại rút một con bài. Đó là con ngũ. Nhưng anh còn có ba con xì. Anh đặt tay xuống. Ba con xì.
- Bốn con nhạn!- Prizzi xòe tay ra.
Korontzis ngồi đó, ngây người ra, nhìn Prizzi cào về số tiền trên bàn. Anh có cảm giác như thể là anh đã mất cả người bạn Tony. Nếu tôi chỉ chịu đựng một chút nữa là tôi bắt đầu thắng.
Bây giờ đến lượt Prizzi rút trước.
- Chơi bẩy con nhé - anh tuyên bố. - Tôi đặt tiền một nghìn đô la!
Các tay chơi khác cũng ném tiền vào.
Victor Korontzis nhìn qua Tony Rozzoli không còn hy vọng giúp đỡ.
- Tôi không có…!
- Được, - Rozzoli nói. Hắn quay sang các người khác.
- Hãy nhìn kìa, các bạn, Victor không còn cơ may nào để kiếm được tiền mang về tối nay, nhưng tôi đảm bảo với các anh rằng anh ta sẽ thắng. Hãy cho anh ta vay. Và chúng ta sẽ thanh toán vào cuối buổi này!
Prizzi nói:
- Làm đi. Thế có nghĩa gì - hội tín dụng à…? Chúng tôi không biết Victor Korontzis có phải từ cái của ông Adam không. Làm sao chúng tôi biết được anh ta sẽ trả được tiền?
- Anh hãy tin vào lời tôi, - Tony Rozzoli bảo đảm ấy.
- OK. Ở đây sẽ bảo đảm cho tôi.
Otto Dalton nói to lên.
- Nếu Tony nói ông Korontzis là chơi được thì ông ấy sẽ chơi được.
- Được tôi cho rằng được đấy. - Sal Prizzi nhún vai.
- Đối với tôi là được, - Perry Breslauer nói.
Otto Dalton quay sang Victor Korontzis.
- Anh muốn bao nhiêu?
- Cho tôi mười nghìn! - Tony Rozzoli nói.
Korontzis kiểm tra lại mình và sửng sốt. Mười nghìn đô la, số tiền lớn hơn cả tiền anh kiếm được trong hai năm.
Nhưng Rozzoli phải biết anh đang làm gì.
Victor Korontzis nuốt nước bọt.
- Được… thế là được.
Một đống tic-kê đặt trước mặt Korontzis.
Các con bài đêm nay là kẻ thù của Victor Korontzis. Vì đi tiền đã mất hết, đống tic-kê mới cũng giảm dần. Tony Rozzoli cũng thua.
Khoảng hai giờ sáng, họ nghỉ giải lao. Korontzis kéo Tony Rozzoli ra góc nhà.
- Thế nào bây giờ? - Korontzis thì thầm lo lắng.
- Trời ơi, anh nên biết, bao nhiêu tiền thì tôi vẫn ủng hộ anh?
- Đừng lo gì cả, Victor. Tôi cũng vậy. Tôi đã ra hiệu cho Otto rồi. Khi đến lượt anh ấy cầm cái, ván bài sẽ lật ngược lại Chúng ta đang đánh trúng đòn chúng rồi.
Họ lại ngồi vào chỗ.
- Cho ông bạn tôi hai mươi ngàn đô la nữa, - Rozzoli nói.
Marvin Seymuor cau mày.
- Ông có chắc anh ta muốn chơi tiếp không?
Rozzoli quay sang Victor Korontzis.
- Tuỳ anh đấy.
Korontzis do dự. Tôi đã ra hiệu cho Otto rồi. Ván bài sẽ lật ngược.
- Tôi chơi.
- Ô kê!
Các tic-kê giá trị hai mươi ngàn đô la đặt trước mặt Korontzis. Anh nhìn đống tic-kê và tự nhiên cảm thấy rất may mắn.
Otto Dalton đang rút bài.
- Được, thưa quý vị. Chơi năm con nhé. Đi tiền đầu tiên một ngàn.
Các tay chơi để các tic-kê vào giữa bàn.
Dalton chia năm con bài cho mỗi người. Korontzis không nhìn vào tay hắn. Tôi sẽ đợi, anh nghĩ. Sẽ may lớn cho xem.
- Đặt tiền đi.
Marvin Seymuor, ngồi bên phải Dalton, xem tay hắn một lúc.
- Tôi thua. - Hắn ném các con bài xuống.
Sal Prizzi tiếp:
- Tôi sẽ gọi, và tố một ngàn đô la.
Hắn đặt các tic-kê của hắn ở giữa bàn.
Tony Rozzoli nhìn vào tay mình và nhún vai.
- Tôi thua. - Hắn ném bài xuống.
Perry Breslauer nhìn vào tay hắn và cười:
- Ta sẽ xem tố, và ta sẽ tố năm ngàn đô la nữa.
Chỉ còn có sáu ngàn đô la để cho Victor Korontzis còn có thể ngồi vào bàn chơi. Chậm rãi anh đưa tay lên và các con bài ra. Anh không thể tin vào những gì anh nhìn thấy.
- Anh cầm một cần hạ một con ngũ, một lục, một thất, một bát và cửu cơ. Một ván bài hoàn hảo! Thế Tony đúng. Nhờ chúa! Korontzis cố giấu sự phấn khích của anh. - Ta sẽ xem họ tố, và ta sẽ tố năm ngàn. - Đó là cái ván bài mà đang làm anh giàu lên.
Dalton chịu thua:
- Không phải cho tôi qua.
- Đến tôi chứ! - Sal Prizzi nói. - Tôi nghĩ anh lại tháu cáy rồi. Tôi sẽ gọi, và tố lên năm ngàn nữa.
Victor Korontzis cảm thấy hơi run run và kích động.
- Anh ta rút được các con bài của cả cuộc đời. Có lẽ đây là ván bài lớn nhất anh đã chơi.
Perry Breslauer đang nhìn vào những con bài trên tay.
- Được, tôi nghĩ sẽ gọi và tố năm ngàn nữa, các bạn ạ.
Lại đến lượt Victor Korontzis. Anh lại thở sâu một cái.
- Tôi sẽ xem các anh, và tố năm ngàn nữa!
Anh gần như run lên vì bị kích động. Đó là tất cả khả năng có thể làm để theo kịp khỏi phải bị gạt ra ván chơi.
Perry Breslauer xòe tay ra, vẻ thắng lợi rạng rỡ trên nét mặt.
- Ba con "Tây".
Tôi đã thắng! Victor Korontzis nghĩ:
- Không được tốt lắm, - anh cười nhạt. - Sần thật rồi. - Anh đặt các con bài xuống và hăm hở cầm lấy đống tiền.
- Cầm đi - Sal Prizzi từ từ đặt tay xuống. - Tôi đánh cuộc anh một sần có ông Tây. Sập tới xì đây.
Victor Korontzis mặt tái nhợt. Anh cứ tự nhiên thấy như bị xỉu và tim anh đập mạnh.
- Chúa ơi, - Tony Rozzoli nói. - Những con sần trời phạt đó? - hắn quay sang Korontzis. - Tôi xin lỗi, Victor. Tôi… tôi không biết nói thế nào?
Otto Dalton nói:
- Tôi nghĩ đó chỉ là tối nay thưa quý vị.
Hắn nhìn vào một tờ giấy và chuyển cho Victor Korontzis.
- Ông nợ sáu mươi nhăm ngàn đô la.
Victor Korontzis nhìn xem xét. Tony Rozzoli, ngây người ra. Rozzoli nhún vai tỏ vẻ không giúp gì được anh ta cả. Korontzis kéo ra một khăn mùi xoa và bắt đầu lau lông mày.
- Ông muốn trả món đồ như thế nào? - Dalton hỏi.
- Tiền mặt hay séc?
- Tôi không cần séc, - Prizzi nói, nhìn vào Victor Korontzis. - Tôi sẽ trả tiền mặt.
- Tôi… tôi… - lời không nói ra được. Anh cảm thấy như anh đang run. - Tôi… tôi không có khoản…
Mặt của Sal Prizzi tối sầm lại.
- Anh nói thế nào? - hắn gào lên.
Tony Rozzoli nói ngay:
- Đợi một phút, Victor muốn nói anh ta không có khoản tiền đó sẵn bây giờ. Tôi nói với các anh, anh ấy sẽ thanh toán tốt.
- Anh nói vậy không có nghĩa là để mẩu bánh mì lên bàn tôi phải không Rozzoli. Tôi muốn nhìn thấy tiền của nó.
- Anh sẽ có! - Rozzoli nói trấn an. - Anh sẽ có những khoản ấy trong những ngày tới.
Sal Prizzi nhẩy chồm lên.
- Đồ chết tiệt kiểu đó. Tôi không phải là hội từ thiện. Tôi muốn số tiền đó ngày mai phải có.
- Không nên nóng nảy. Anh ấy sẽ giao thôi.
Victor Korontzis đã chìm vào giữa cơn ác mộng và không có lối nào ra. Anh ngồi đó, không cựa quậy, chỉ còn biết những người khác đã đi rồi. Chỉ còn Tony và Korontzis với nhau.
Korontzis như ngây dại.
- Tôi… tôi không thể có được món tiền đó, - anh lầu bầu. - Không bao giờ cả?
Rozzoli đặt tay lên vài Korontzis.
- Tôi không biết nói với anh thế nào bây giờ, Victor ạ. Tôi không lường được lại xấu đến như vậy. Tôi cho rằng tôi có mất chăng cũng chỉ là số tiền anh đã được hồi tối nay.
Victor Korontzis lau nước mắt.
- Nhưng… anh có thể gánh cái đó, Tony. Tôi… tôi không thể. Tôi sẽ phải giải thích với họ là tôi không có thể trả họ.
Tony Rozzoli nói:
- Tôi không nghĩ đến rằng nếu tôi là anh, Victor ạ. Sal Prizzi đứng đầu một Hiệp hội các Thuỷ thủ bờ biển phía đông. Tôi nghe được rằng bọn này chơi rừng lắm.
- Tôi không thể giải quyết việc này được. Vì tôi không có tiền, tôi không có tiền. Hắn làm gì được tôi?
- Tôi xin giải thích cho anh hắn có thể làm gì anh. - Rozzoli nói thành thực. - Hắn có thể sai bọn tay chân hắn tháo đầu gối anh ra. Anh sẽ không bao giờ còn đi lại được nữa. Hắn còn có thể cho bọn thủ hạ tạt axít vào mắt anh. Anh sẽ chẳng còn nhìn thấy gì hết. Và rồi, khi anh đã phải chịu mọi đau đớn, hắn sẽ quyết định để anh sống như vậy hay giết anh.
Victor Korontzis đang nhìn chăm chăm vào Tony, mặt anh xám lại.
- Anh… anh nói đùa đấy chứ?
- Tôi mong cho đó chỉ là nói đùa. Thật đây là lỗi tại tôi, Victor ạ. Tôi sẽ không bao giờ để anh chơi với con người như Sal Prizzi nữa. Hắn là một sát thủ.
- Ôi, Chúa ơi. Tôi sẽ phải làm gì?
- Anh có cách gì để kiếm tiền không?
Korontzis bắt đầu cười phá lên như điên dại.
- Tony… tôi chỉ có thể giúp đỡ gia đình với cái gì tôi làm ra.
- Được rồi, chỉ có một điều tôi có thể đề nghị anh rời thành phố này, Victor. Có thể đi khỏi đất nước này. Đi đâu đó mà Prizzi không thể tìm ra anh.
- Tôi không thể làm như vậy. - Victor Korontzis mếu máo. Tôi có một vợ và bốn con. - Anh nhìn Tony Rozzoli vẻ thứ lỗi. - Anh nói sẽ có một sự xếp đặt, rằng chúng ta không thể bị thua. Anh đã nói với tôi thế… - Tôi biết. Và tôi thực là rất hối hận. Bao giờ cũng làm việc như vậy trước khi chơi. Chỉ có một điều tôi nghĩ là Prizzi đã lừa. - Mặt Korontzis lại có chút hy vọng. - Được rồi nếu nó lừa, tôi không trả hắn nữa.
- Có một vấn đề có liên quan, Victor ạ! - Rozzoli nói rất nhẫn nại. - Nếu anh đổ tội cho hắn là lừa đảo, hắn sẽ giết anh, và nếu anh không trả hắn, hắn cũng sẽ giết anh?
- Ôi, cầu chúa! - Korontzis lầm bầm. - Tôi là một người đã chết.
- Tôi thực sự cảm thấy khủng khiếp về điều đó. Anh có chắc rằng không có cách nào khác anh có thể lấy…
- Tôi sẽ phải sống trăm khiếp đời. Một ngàn kiếp đời. Mọi thứ tôi có đều phải đi cầm cố. Tôi có thể kiếm ở đâu được?
Và vào lúc đó Tony Rozzoli mới bất chợt nói lên.
- Đợi một chút, Victor? Anh có nói là các chế bản gì ở bảo tàng cũng giá trị lắm phải không?
- Ừ, nhưng với những cái đó thì làm được cái gì…?
- Hãy để tôi nói hết cái đã. Anh nói rằng các vật sao chép thì cũng tốt như nguyên bản phải không?
- Tất nhiên là không rồi. Các chuyên gia nào cũng có thể nói…?
- Thôi. Thế là được. Nếu một trong các chế bản đó thiếu, và một vật sao thế vào chỗ đó thì sao? Tôi muốn nói, khi tôi ở trong bảo tàng chỗ có nhiều khách du lịch đi qua đó. Liệu họ có biết được sự khác nhau không?
- Không, nhưng tôi… tôi biết anh muốn nói gì rồi. Không, tôi không bao giờ làm thế.
Rozzoli nói rất nhẹ nhàng.
- Tôi hiểu, Victor ạ. Tôi vừa nghĩ, có thể bảo tàng sẽ thiếu một số ít chế bản đó. Ở đó có nhiều lắm!
Victor Korontzis lắc đầu.
- Tôi đã làm giám sát bảo tàng này từ hai mươi năm nay. Tôi chưa hề bao giờ nghĩ đến điều đó.
- Tôi xin lỗi. Tôi không muốn đề nghị như vậy. Lý do mà tôi nghĩ thế là vì nó sẽ cứu mạng anh, - Rozzoli đứng dậy và vươn vai. - Được, đã muộn rồi. Tôi lo vợ anh không biết anh ở đâu.
Victor Korontzis lại nhìn chăm chăm vào hắn:
- Cứu mạng tôi à? Thế nào?
- Đơn giản thôi. Nếu anh lấy một trong những đồ cổ đó…
- Đồ cổ?
- Đồ cổ… và đưa cho tôi, tôi sẽ mang ra nước ngoài bán đi cho anh, và trả Prizzi tiền anh đã nợ hắn. Tôi nghĩ tôi có thể thuyết phục nó để nó cho anh nợ lâu hơn. Và anh sẽ thoát khỏi các móc câu này. Tôi không phải giấu giếm gì mà nói thật với anh là tôi cũng có rủi ro lớn vì anh, bởi vì nếu tôi bị bắt tôi sẽ rắc rối to. Nhưng tôi vẫn sẵn sàng làm việc đó vì tôi thấy tôi có nợ anh. Đó là lỗi của tôi đưa anh vào cái tình trạng rối bời này.
- Anh là một người bạn tốt, - Victor Korontzis nói.
- Nhưng tôi lại không thể trách anh được. Tôi không phải dấn vào cái trò chơi này. Anh cố động viên tôi.
- Tôi biết. Tôi lại muốn nó chuyển hoàn toàn khác cơ.
- Được chúng ta hãy đi ngủ đi một chút, tôi sẽ nói chuyện thêm với anh ngày mai. Ngủ ngon nhé, Victor.
- Ngủ ngon, Tony.
***
Có điện thoại gọi ngay đến bảo tàng sáng hôm sau.
- Korontzis?
- Tôi là Sal Prizzi.
- Tôi đang nói về việc nhỏ là sáu mươi nhăm ngàn đô la. Lúc nào tôi đến lấy được?
Victor Korontzis bắt đầu khó thở:
- Tôi… tôi không có tiền bây giờ, ông Prizzi.
Ở đầu dây bên kia, yên lặng hoàn toàn.
- Anh chơi cái kiểu gì với tôi đấy?
- Tin tôi, tôi chẳng chơi trò gì đâu. Tôi…
- Rồi tôi cần lấy lại số tiền chết tiệt ấy của tôi. Rõ chưa?
- Dạ, vâng.
- Bảo tàng chỗ anh mấy giờ đóng cửa?
- Sáu giờ?
- Tôi sẽ ở đó. Mang tiền cho tôi, hay tôi sẽ đập vào mặt anh. Và sau hết, sẵn sàng cho mày một trận.
Đường dây cắt.
Victor Korontzis ngồi đó trong nỗi sợ kinh hoàng. Anh muốn trốn đi. Nhưng trốn ở đâu? Anh đã rơi vào một cảm giác thất vọng hoàn toàn, đầu óc luẩn quẩn với những chữ "nếu". Nếu chỉ cái đêm đó ta không đi đến sòng bạc; nếu như ta chẳng bao giờ gặp Tony Rozzoli; hoặc nếu ta chỉ biết giữ lời hứa với vợ là không bao giờ chơi bạc nữa. Anh lắc lắc đầu như thể làm văng ra những chữ nếu đó. Ta phải làm gì chứ. Bây giờ…
Và lúc đó, Tony Rozzoli đi vào văn phòng anh.
- Xin chào, Victor.
Đã sáu giờ ba mươi. Cán bộ nhân viên đã về nhà và bảo tàng đã đóng cửa từ nửa tiếng rồi. Victor Korontzis và Tony Rozzoli còn đang canh cái cửa trước.
Korontzis đã thêm nghị lực.
- Nếu hắn nói không thì sao? Nếu hắn đòi tiền tối nay?
- Tôi sẽ làm việc với hắn, - Tony Rozzoli nói. - Để tôi nói chuyện với hắn.
- Nhưng nếu hắn không biểu lộ gì cả? Hoặc nếu hắn chỉ… anh biết… cho ai giết tôi? Anh nghĩ hắn sẽ làm thế không?
- Không đến khi nào mà hắn còn thấy có cơ hội lấy được tiền. - Rozzoli nói rất đáng tin.
Vào bảy giờ tối, cuối cùng Sal Prizzi xuất hiện.
Korontzis vội chạy ra mở cửa.
- Xin chào, - anh nói.
Prizzi nhìn Rozzoli.
- Các anh đang làm cái chết tiệt gì ở đây? - Hắn quay lại Victor Korontzis. - Đây chỉ là câu chuyện giữa chúng ta!
- Cứ như bình thường thôi! - Rozzoli nói. - Tôi ở đây để giúp các anh!
- Tôi không cần anh giúp. - Prizzi quay sang Korontzis.
- Tiền của tôi đâu?
- Tôi… tôi không có. Nhưng…
Prizzi nói gằn từng chữ từ cổ họng:
- Nghe đây, mày định chọc tao phải không? Mày phải đưa tiền đó cho tao tối nay, hay là tao sẽ quẳng mày cho cá rỉa. Mày hỉểu chứ?
Tony Rozzoli nói:
- Hê, anh bình tĩnh đi. Các anh sẽ lấy được tiền của các anh.
Prizzi quay sang hắn.
- Tao bảo mày đứng ra ngoài việc này. Đây không là việc của mày.
- Tôi coi việc đó là việc của tôi. Tôi là bạn của Victor. Victor không có tiền mặt ngay giờ, nhưng anh ấy sẽ có cách để có tiền trả anh.
- Hắn đã có tiền, hay chưa có hả?
- Anh ấy có và chưa có, - Rozzoli nói.
- Trả lời cái kiểu gì kỳ lạ?
Cánh tay của Tony Rozzoli làm động tác quét khắp buồng:
- Tiền ở đây?
Sal Prizzi quan sát cái buồng.
- Ở đâu?
- Trong cái rương này. Các rương này toàn đồ cổ…?
- Đồ cổ, - Korontzis nói cứ như là tự phát ra.
- Đó là của cải vô cùng quý giá. Tôi muốn nói khoảng hàng triệu.
- Ề? - Prizzi quay sang nhìn các rương. - Nếu như các cái rương này để ở nơi nào đó trong bảo tàng thì dễ cho ta dường nào? Ta cần tiền mặt cơ.
- Anh sẽ lấy tiền mặt chứ, - Rozzoli nói nhẹ nhàng.
- Gấp hai lần số tiền mà bọn tôi nợ anh. Anh chỉ cần kiên nhẫn cho một chút, thế thôi. Victor không phải là con người tráo trở. Anh cần ít thời gian nữa. Tôi sẽ nói với anh kế hoạch của anh ấy. Victor sẽ lấy một trong các đồ cổ này… đồ cổ… và sẽ bố trí bán nó đi. Chừng nào anh ấy lấy được tiền, anh ấy sẽ trả anh.
Sal Prizzi lắc đầu.
- Tôi không thích cái kiểu đó. Tôi không biết gì về cái món đồ cổ này cả.
- Anh không phải lo gì xa cả. Victor là một trong các chuyên gia giỏi nhất thế giới. - Tony Rozzoli đi đến một trong những cái rương và chỉ vào cái phiến đá. - Anh nói rằng cái này giá trị lắm hả. Victor?
Victor Korontzis nuốt nước bọt rồi nói.
- Đây là nữ chúa Hygea, thế kỷ 14, Trước Công nguyên. Nhà sưu tập nào cũng có thể vui lòng trả cái này khoảng hai hay ba triệu đô la.
Rozzoli quay sang Sal Prizzi.
- Cái của ông kia. Ông thấy tôi muốn nói gì không?
Prizzi cau mày:
- Tôi không biết. Tôi phải đợi bao lâu?
- Ông sẽ có gấp hai lần số tiền đó trong một tháng.
Prizzisuy nghĩ một lát rồi gật đầu:
- OK, nhưng nếu tôi phải đợi một tháng, phải chi thêm cho tôi - vài trăm tờ nữa chứ.
Tony Rozzoli nhìn sang Victor Korontzis.
Korontzis gật đầu thoải mái.
- OK, - Rozzoli nói. - Anh được chia một phần.
Sal Prizzi đi đến gần người quản lý bé nhỏ.
- Tôi cho anh ba mươi ngày. Nếu lúc đó tôi không nhận được tiền của tôi, anh sẽ…
Korontzis nuốt nước bọt.
- Vâng, thưa ngài.
- Hãy nhớ… ba mươi ngày!
Hắn nhìn chằm chằm một lúc lâu vào Tony Rozzoli.
- Tôi không thích anh!
Họ nhìn theo Sal Prizzi đi ra và cùng ra cửa.
Korontzis ngồi phịch xuống ghế, lau lông mày.
- Ôi lạy Chúa, - anh nói. - Tôi nghĩ nó định giết tôi. Anh có nghĩ ta có thể đưa nó tiền trong vòng ba mươi ngày không?
- Được chứ - Tony Rozzoli hứa. - Tất cả mọi việc anh phải làm là chỉ cầm lấy một trong những thứ này ra khỏi cái rương và đặt lại chỗ đó một vật sao chép lại.
- Làm sao anh sẽ mang cái đó ra ngoài nước được? Anh sẽ bị bỏ tù nếu họ bắt được anh.
- Tôi biết, - Tony Rozzoli nói rất chắc chắn. - Nhưng đó là một may mắn, tôi sẽ phải làm. Tôi đã ơn anh như thế quá nhiều rồi, Victor ạ!
***
Một giờ sau, Tony Rozzoli, Sal Prizzi, Otto Dalton uống rượu ở phòng hạng đặc biệt ở khách sạn Dalton.
- Nhẹ như lông hồng! - Rozzoli nói kiêu hãnh. - Thằng con hoang đái ra quần.
- Tao sợ nó quá, hú? - Sal Prizzi cười gằn.
- Mày sợ tao, - Rozzoli nói. - Mày chỉ là một nghệ sĩ chết tiệt.
- Việc bây giờ thế nào đây? - Marvin Seymuor hỏi.
- Việc bây giờ là, hắn sẽ đưa tao một trong các đồ cổ đó. Tao sẽ tìm cách tẩu ra nước ngoài và bán đi. Rồi, tao sẽ cho chúng mày mỗi đứa một cái đuôi cắt ra. - Rozzoli trả lời.
- Đẹp rồi! - Perry Breslauer nói. - Tao thích đấy!
Đó thực như một mỏ vàng, Rozzoli nghĩ. Một khi mà Korontzis đã lao vào cái đó, nó sẽ bị móc vào. Chẳng có đường nào cho nó tháo lui được. Ta sẽ làm cho hắn quét sạch toàn bộ cái bảo tàng Chúa phạt này đi.
Marvin Seymuor hỏi:
- Thế nào, anh đang chuẩn bị đưa hàng ra khỏi nước này bằng cách nào đấy?
- Tôi sẽ tìm cách, - Tony Rozzoli nói. - Tôi sẽ tìm ra cách.
Nó phải. Và nhanh. Alfredo Mancuso và Gino Laveri đang đợi.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 13 -
Tại trụ sở cảnh sát ở phố Stadiou, người ta triệu tập một cuộc họp khẩn cấp. Trong phòng họp có Cảnh sát trưởng Dmitri, Thanh tra Tinou, Thanh tra Nicolino. Walt Kelly, nhân viên Ngân khố và khoảng nửa tá thám tử.
- Không khí cuộc họp thì khác cuộc họp trước đây rất nhiều.
Thanh tra Nicolino đang nói, - Chúng ta bây giờ có lý do để tin các thông tin của ông là đúng, ông Kelly. Các chân rết của chúng ta cho chúng ta biết rằng Tony Rozzoli đang cố gắng tìm cách buôn lậu một chuyến hàng rất lớn heroin ra khỏi Anthens. Chúng ta cũng bắt đầu lục soát một số kho hàng khả nghi có thể chứa hàng đó.
- Các anh có cho đuôi theo dõi Rozzoli không?
- Chúng tôi đã tăng số người sáng nay. - Cảnh sát trưởng Dmitri nói.
- Tôi hy vọng với Chúa rằng không quá muộn. - Walt Kelly thở dài.
Thanh tra Nicolino đã chỉ định hai đội thám tử chuyên việc theo dõi Tony Rozzoli, nhưng ông đánh giá thấp đối tượng của ông. Buổi chiều thì Rozzoli đã biết hắn có đuôi theo dõi. Bất cứ khi nào hắn rời cái khách sạn nhỏ mà hắn ở, hắn cũng bị bám đuôi, và khi hắn quay về, có ai đó thường hay lẩn quẩn ở sân. Họ là những tay chuyên nghiệp thực sự. Rozzoli thích thế. Đó là một biểu hiện người ta tôn trọng hắn.
Bây giờ, hắn không những phải tìm cách đưa heroin ra khỏi Anthens, mà hắn còn sẽ phải buôn lậu cả những đồ cổ vô giá. Alfredo Mancuso và Gino Laveri đều cưỡi ngựa trên lưng ta và cảnh sát thì luôn luôn theo dõi ta như tấm giẻ rách. Ta phải tiếp xúc nhanh mới được. Chỉ có một cái tên nảy ra trong đầu là Ivo Bruggi, một chủ tàu nhỏ ở Rome chưa lâu lắm. Rozzoli trước đây đã làm ăn với Bruggi.
Đó là một cuộc làm ăn thử không thành công, nhưng dù sao còn hơn không có gì.
Rozzoli chắc chắn cho rằng điện thoại ở buồng khách sạn của anh bị ghi âm. Ta đã phải có một nơi riêng để ở đó ta có thể nhận được điện gọi đến khách sạn. Hắn ngồi đó nghĩ một lúc lâu. Cuối cùng, đứng dậy hắn đi qua buồng phía bên kia phòng lớn và gõ cửa. Một người đã nhiều tuổi, vẻ mặt hơi buồn mở cửa.
Rozzoli làm ra vẻ vui mừng.
- Xin lỗi - hắn nói. - Tôi xin lỗi đã làm phiền ông. Tôi ở buồng bên cạnh, bên kia phòng lớn. Tôi muốn hỏi liệu tôi có thể vào nói chuyện với ông một phút có được không ạ?
Người đàn ông ngắm nhìn hắn vẻ nghi ngờ.
- Để cho chu đáo, tôi muốn thấy ông mở cửa phòng ông.
Tony Rozzoli cười.
- Nhất định rồi. - Hắn bước qua phòng lớn, lấy chìa khoá ra, và mở cửa.
Người đó gật đầu.
- Được rồi. Mời vào.
Tony Rozzoli đóng cửa buồng hắn và đi vào buồng bên kia phòng lớn.
- Ông muốn gì vậy?
- Quả là một việc cá nhân, và tôi rất ngại làm phiền ông, nhưng… Vâng, sự thật là, tôi đang sắp phải ly dị, và vợ tôi đang theo dõi tôi. Hắn lắc đầu tỏ vẻ không muốn tí nào. - Cô ta còn kiểm soát cả điện thoại ở phòng tôi.
- Đàn bà! - ông láng giềng gầm gừ.
- Chúa phạt bọn họ tôi cũng vừa phải ly dị vợ tôi năm ngoái. Đáng ra tôi phải làm việc đó từ mười năm trước.
- Thế à? - Dù sao thì, điều mà tôi muốn nhờ ông là, nếu ông có lòng tốt, xin ông cho một số bạn tôi được biết số điện thoại của ông để gọi đến tôi ở đây. Tôi xin hứa với ông là không có nhiều người gọi đâu.
Người đàn ông lúc lắc đầu.
- Tôi không thể bị quấy rầy.
Rozzoli rút ra tờ một trăm đô la khỏi túi.
- Đây là để làm phiền ông.
Người đàn ông liếm môi.
- Ồ, được, nhất định, - Ông nói. - Tôi cho rằng chẳng có gì ngại cả. Tôi sung sướng được giúp một người bạn chịu đau khổ.
- Ông thật là tốt quá. Vậy khi nào có điện thoại gọi tới, xin ông gõ cửa phòng tôi. Tôi sẽ ở nhà suốt cả thời gian.
- Được!
Sáng sớm hôm sau, Rozzoli đi đến trạm điện thoại công cộng để gọi cho Ivo Bruggi. Hắn quay số tổng đài và xin gọi về Rome.
- Singor Bruggi, per piacere.
- Non c è in casa!
- Quando arriverà?
- Non lo so!
- Gli dica, di chinamare il Singor Rizzoli.
Rozzoli để lại số điện thoại tổng đài của khách sạn và số buồng ông hàng xóm. Hắn đi về buồng hắn. Hắn tức cái buồng này. Có người nào đã nói với hắn là tiếng Hy Lạp, khách sạn là xenodochion, có nghĩa là nơi chứa người lạ.
Đó còn hơn là nhà tù…, Rozzoli nghĩ vậy. Đồ đạc thì xấu xí: một cái sofa xanh đã cũ, hai cái bàn đã bị gặm xước ở hai đầu, một bàn để viết nhỏ có đèn và một cái gi.ường kiểu Torquemada.
Hai ngày sau đó, Tony Rozzoli nằm lì ở buồng mình, đợi gọi cửa, và nhờ một thằng bé sai vặt ở khách sạn đi mua đồ ăn. Chẳng ai gọi cả. Cái thằng Ivo Bruggi chết tiệt ở đâu mất tiêu rồi?
Đội theo dõi báo cáo Thanh tra Nicolino và Walt Kelly. - Rozzoli nằm lì ở khách sạn. Hắn không đi đâu mua bán gì trong hai mươi tám giờ rồi.
- Các anh có chắc chắn hắn ở trong đó không?
- Vâng, thưa ngài. Nhưng người hầu phòng nhìn thấy hắn buổi sáng và cả tối khi họ dọn buồng.
- Thế có điện thoại gì không?
- Không có gì cả ạ. Anh muốn chúng tôi làm gì?
- Ngồi yên. Rồi hắn chẳng chóng thì chày cũng phải hoạt động. Chắc chắn băng ghi âm điện thoại buồng hắn vẫn tốt.
Ngày hôm sau, điện thoại buồng Rizzili réo. Shit?
Bruggi không thể gọi hắn ở buồng này. vì hắn đã nhắn cho cái thằng cha ngốc nghếch đó gọi hắn ở buồng ông hàng xóm. Hắn thận trọng. Rozzoli nhấc điện thoại lên.
Một tiếng nói:
- Có phải Tony Rozzoli đó không?
Đó không phải tiếng nói của Ivo Bruggi.
- Ai đấy?
- Anh đến gặp tôi ở văn phòng tôi vào một ngày khác để bàn về công việc nhé, ông Rozzoli. Tôi gạt anh ra đấy! Có lẽ anh và tôi phải bàn bạc lại việc đó.
Tony Rozzoli cảm thấy run lên vì sự vui mừng đột ngột.
Spyros Lambrous? Thằng con hoang đã quay lại rồi. Hắn không thể tin vào vận may của hắn. Mọi vấn đề đã được giải quyết Ta có thể chuyển heroin và đồ cổ cùng một lúc.
- Ề. Rõ rồi. Rất may cho ta để thảo luận về việc đó. Khi nào anh muốn gặp?
- Anh có thể đến chiều nay được không?
Thế là hắn đang muốn làm ăn lắm. Bọn giàu có chết tiệt đều giống nhau cả. Chúng không bao giờ thoả mãn.
- Được ở đâu?
- Sao anh không đến văn phòng của tôi?
- Tôi sẽ đến đó. - Tony Rozzoli bỏ ống nghe xuống, tự tin.
Trong hành lang của khách sạn, một tên thám tử mất công toi mấy ngày hôm nay đang báo cáo về ban chỉ huy. - Rozzoli vừa có cú điện thoại của người này, nhưng không rõ tên và chúng tôi chưa tìm được tông tích của cú điện thoại.
- Được, theo dõi hắn khi hắn rời khách sạn. Cho tôi biết hắn đi đâu.
- Vâng thưa ngài.
Mười phút sau, Tony Rozzoli bò qua thành cửa sổ đi theo con đường nhỏ đằng sau khách sạn. Hắn thuê xe taxi hai lần để đảm bảo hắn không bị theo dõi, và nhẩy ngay vào văn phòng Spyros Lambrous.
Từ ngày Spyros Lambrous đến thăm Melina ở bệnh viện, ông đã thề là phải trả thù cho em gái ông. Nhưng ông không thể nghĩ ra được một kiểu trừng phạt vào xứng đáng cho Constantin Denmiris. Rồi sau chuyến Georgios Lato đến thăm và nhất là sau những tin đáng tin mà bà Piris đã nói cho ông, một vũ khí đã đặt vào tay ông để ông có thể cho tiêu cái thằng em rể.
Thư ký của ông báo:
- Có ông Anthony Rozzoli đến gặp ông, ông Lambrous. Ông ta không có hẹn và tôi đã nói ông không thể…
- Cho hắn vào.
- Vâng, thưa ngài.
Spyros Lambrous ngắm nhìn khi Rozzoli đi vào qua cửa, tươi cười và thân mật.
- Cám ơn ông đã đến, ông Rozzoli.
Tony Rozzoli cười.
- Rất vui mừng. Thế là ông đã quyết định ông và tôi sẽ làm việc cùng nhau?
- Không.
Nụ cười của Tony Rozzoli nhạt ngay.
- Ông nói gì thế?
- Tôi nói "Không". Tôi không có ý định làm ăn với anh.
Tony Rozzoli trố mắt nhìn, ấp úng.
- Vậy cái gì xui khiến ông gọi cho tôi? Ông nói ông có lời bàn với tôi và…
- Tôi có. Thế anh có thích sử dụng các đội tàu của Constantin Denmiris không?
Tony Rozzoli như muốn xỉu ra trên ghế.
- Constantin Denmiris? Ông đang nói gì vậy? Hắn chưa bao giờ…
- Vâng, hắn sẽ. Tôi có thể hứa với anh rằng ông Denmiris sẽ rất may mắn để chiều ông bất cứ cái gì ông muốn.
- Vì sao? Hắn sẽ được cái gì cơ?
- Chẳng được gì cả!
- Như vậy không có lý. Tại sao Denmiris lại làm một việc như vậy?
Lambrous ấn nút liên lạc nội bộ: "Mang cà phê lên nhé".
Ông nhìn Tony Rozzoli:
- Thế anh muốn làm gì cho anh?
- Ê, đen, không pha đường.
- Đen, không pha đường, cho ông Rozzoli.
Khi cà phê đã bưng ra, và người thư ký đã đi ra khỏi. Spyros Lambrous nói:
- Tôi sẽ nói với anh một chuyện nhỏ, anh Rozzoli ạ!
Tony Rozzoli vẫn đang nhìn ông, vẻ đề phòng.
Constantin Denmiris đã lấy em tôi. Mấy năm trước đây hắn đã có một cô bồ. Tên cô ta là Noelle Page!
- Nghệ sĩ, có phải không?
- Ừ. Cô ta đã lừa dối hắn và lại dan díu với một người tên là Larry Douglas. Noelle và Douglas bị ra toà vì đã giết vợ Douglas bởi vì cô vợ này không muốn cho phép anh ta ly dị. Constantin Denmiris thuê một luật sư tên là Napoleon Chotas để bảo vệ cho Noelle.
- Tôi nhớ được một số tin về vụ án.
- Có nhiều điều người ta không nêu trên báo. Anh thấy, ông em rể tôi không có ý định cưu mang cô bồ không trung thành của nó. Nó muốn trả thù. Nó thuê Napoleon Chotas để Noelle Page phải bị buộc tội. Gần cuối buổi xử án, Napoleon Chotas nói với các bị cáo rằng hắn đã thông đồng với các quan toà để giảm nhẹ tội nếu họ chỉ cần nhận là có tội. Đó là lời nói dối. Họ nhận tội là có tội và bị hành quyết.
- Có thể cái ông Chotas này thực nghĩ rằng… - Để tôi kể hết hãy. Xác cô Catherine Douglas không bao giờ tìm được. Lý do không bao giờ tìm thấy được là cô ấy còn sống, Rozzoli à. Constantin Denmiris đã giấu cô ta đi đâu đó!
Tony Rozzoli đang chăm chú nhìn ông.
- Đợi một phút. Denmiris biết nàng còn sống, và ông ta vẫn còn để cho bồ của mình và bạn trai của cô bị chết vì đã giết nàng?
- Đúng như vậy. Không hiểu chính xác luật lệ lắm, nhưng tôi không chắc rằng sự việc phải được giải quyết, cậu em rể của tôi phải vào tù một thời gian. Hay chí ít, nó chắc cũng phải điêu tàn.
Tony Rozzoli ngồi đó, nghĩ về những điều hắn vừa được nghe. Có một số chi tiết làm hắn không hiểu hết.
- Ông Lambrous, vì sao ông lại kể cho tôi nghe chuyện này?
Môi Spyros Lambrous chuyển từ từ thành một nụ cười kéo dài.
- Bởi vì tôi nợ nó một sự chiếu cố. Tôi muốn anh đến gặp nó rất may mắn để cho anh sử dụng tàu của nó.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 14 -
Trong người ông như có một cơn giông tố mà ông không kiềm chế nổi, và còn một nơi lạnh íẽo ẩn sâu vào trái tim ông mà không một kỷ niệm nồng ấm nào làm tan biến đi được một năm trước đây, ông đã bắt đầu những việc để trả thù Noelle. Ông tưởng rằng tất cả đã qua đi, và quá khứ đã bị vùi sâu, sẽ không có gì xảy ra cho ông, nếu không có một hậu quả không lường được, Catherine Alexander đã sống lại. Và điều đó cần phải cho đi cả Frederick Stavros và Napoleon Chotas. Họ đã chơi trong một cuộc chơi chết người với ông và họ đã thắng. Nhưng điều làm Constantin Denmiris sửng sốt nhất là ông thích thú những nguy cơ, những tột cùng của sự phấn khích.
Công việc làm ăn rất hấp dẫn ông nhưng nếu so với cuộc chơi sinh mạng và chết chóc này thì chỉ là mờ nhạt mà thôi. Ta là một tên giết người, Denmiris suy nghĩ. Không không phải là tên giết người. Một người thực thi. Và thay vì phải ăn năn về điều đó, ông lại còn thấy như đời thêm vui.
Hàng tuần Constantin Denmiris đều nhận được báo cáo về các hoạt động của Catherine Alexander. Đến nay, mọi việc diễn ra tốt đẹp. Các hoạt động xã hội của nàng đều gắn liền với những người cùng làm việc với nàng. Theo như Evenlyn cho biết thì Catherine thỉnh thoảng có đi ra ngoài với Kirk Reynolds. Nhưng từ khi Reynolds làm việc cho Denmiris, đến nay không có vấn đề gì. Cô gái nghèo phải tuyệt vọng, Denmiris nghĩ. Reynolds cũng rất bối rối. Anh cũng không thể nói chuyện gì ngoài luật pháp. Nhưng đó là việc tốt cả Điều làm Catherine tuyệt vọng nhất là tình bạn, điều này đối với ông thì dễ. Ta còn phải nợ Reynolds nhiều lời cám ơn.
Catherine gặp Kirk Reynolds đều đều, và nàng cảm thấy ngày càng bị anh cuốn hút. Anh không đẹp trai, những chắc chắn anh rất hấp dẫn. Ta đã đọc được bài học đẹp trai với Larry, Catherine nghĩ vẫn sờ sợ. Câu nói cố xưa vẫn đúng: Đẹp trai chỉ là vì nó đẹp trai. Kirk Reynolds là một con người có suy nghĩ và đáng tin cậy. Anh là người mà ta có thể nương nhờ, Catherine nghĩ. Ta không cảm thấy một tia lửa nào bừng sáng lên, nhưng chắc chắn ta không bao giờ muốn thế nữa. Larry đã quan tâm đến việc đó. Ta bây giờ đã già dặn để sống với một người mà ta tôn kính, ai tôn trọng ta, là một người bạn đồng hành thì với người đó, ta có thể chia sẻ một cuộc sống đẹp đẽ và yên lành, không phải lo lắng bị ném lên đỉnh núi hay bị chôn vùi trong hang động tối tăm.
Họ đến rạp hát để xem vở Người phụ nữ không phải để bốc cháy của Christopher Fry và vào một buổi khác Thuỷ triều tháng chín nơi Gertruder Lawrence đóng. Họ đến các câu lạc bộ đêm. Dàn nhạc hình như đang chơi bản "Người thứ ba và cuộc sống hoa hồng".
- Tuần tới tôi sẽ đi St. Moritz, - Kirk Reynolds nói với Catherine. - Cô có nghĩ về điều đó không?
Catherine đã nghĩ nhiều về việc đó. Nàng tin chắc rằng Kirk Reynolds đã yêu nàng. Và ta cũng yêu anh, Catherine cũng nghĩ vậy. Nhưng yêu và được yêu là haỉ cái khác nhau, có phải không? Hay ta chỉ là một con người lãng mạn ngốc nghếch? Ta đang mong đợi điều gì? Một Larry khác chăng? Hay một ai quỳ dưới chân ta, nhưng ta lại yêu say đắm một người đàn ông khác, và cố tìm cách giết ta? Kirk Reynolds có thể là người chồng tuyệt vời. Sao ta lại do dự?
Chiều tối hôm đó, Catherine và Kirk ăn ở nhà hàng Mirabelle, và khi họ đang ăn món tráng miệng, Kirk nói:
- Catherine, có thể là em không biết, anh đã yêu em. Anh muốn cưới em.
Nàng tự nhiên đâm ra hoảng sợ.
- Kirk…
Và nàng không rõ đã nói gì. Lời nói tiếp theo, Catherine nghĩ, là phải thay đổi cuộc đời mình. Nếu nói đồng ý thì giản đơn.
Điều gì đã làm ta từ chối? Có phải chăng đó là sự sợ hãi quá khứ? Ta cứ phải sống suốt đời trong sợ hãi hay sao. Ta không thể để điều đó lại xảy ra.
- Cathy…
- Kirk… Sao chúng ta lại không đi St. Moritz cùng nhau?
Khuôn mặt của Kirk sáng lên.
- Như thế nghĩa là…
- Chúng ta sẽ thấy. Khi mà anh thấy em trượt tuyết, chắc anh sẽ không muốn lấy em!
Kirk cười.
- Không có gì trên thế giới này ngăn được anh muốn cưới em. Em đã làm anh trở thành một người hạnh phúc. Chúng ta sẽ lên đến đó vào ngày mồng năm tháng mười một. Ngày kỷ niệm Guy Fawkes!
- Ngày kỷ niệm Guy Fawkes là gì?
- Đó là một câu chuyện hấp dẫn. Vua James thời đó có chính sách bài Gia-tô giáo rất ghê gớm, do vậy một nhóm người Lã Mã theo Gia-tô giáo đã âm mưu lật đổ chính phủ.
Một người lính tên là Guy Fawkes đã được điều từ Tây Ban Nha sang để chỉ đạo thực hiện âm mưu này. Anh ta đã bố trí một tấn thuốc súng, đựng trong ba mươi sáu thùng gỗ, giấu ở dưới nền Nhà các Nghị viện. Nhưng buối sáng mà họ định cho nổ Nhà các Nghị viện, một trong các đồng bọn tố cáo họ, và tất cả bọn bị bắt. Guy Fawkes bị tra tấn dã man, nhưng anh không nói. Tất cả bị hành hình.
Bây giờ, hàng năm ở Anh Quốc, vào ngày phát giác ra âm mưu đó, người ta kỷ niệm bằng pháo và các trò đốt lửa, các em bé làm các hình người tượng trưng gọi là "Guys".
Catherine lắc đầu.
- Đó là ngày hội bị cấm!
Anh cười nàng, và nói nhỏ:
- Anh hứa với em rằng ngày hội của chúng ta sẽ không bị cấm.
Đêm hôm trước họ định đi, Catherine đã gội đầu, đóng bộ rồi lại c.ởi ra mặc vào hai lần và cảm thấy thích thú muốn phát ốm, nàng chỉ biết có hai người đàn ông có q.uan hệ xác thịt trong đời nàng, William Fraser và chồng nàng. Họ còn dùng từ "q.uan hệ xác thịt" không nhỉ?
Catherine nghĩ vậy. Trời ơi, tôi hy vọng tôi nhớ mãi thế là thế nào. Họ nói rằng cứ như là đạp xe đạp, khi mà bạn đã làm như thế, bạn không bao giờ quên. Có thể anh ta chuẩn bị làm tôi thất vọng trên gi.ường. Có thể tôi sẽ bị thất vọng với tôi trên gi.ường. Có thể tôi sẽ không suy nghi gĩì về việc đó và đi ngủ.
***
- Ông Denmiris, Catherine Alexander sáng nay đã đi St. Moritz.
Yên lặng.
- St. Moritz?
- Vâng, thưa ông!
- Cô ấy đi một mình à?
- Không thưa ông. Cô ấy đã đi cùng Kirk Reynolds.
Lần này yên lặng lâu hơn.
- Cám ơn, Evenlyn.
Kirk Reynolds! Không thể thế được. Nàng mong gì ở hắn? Ta đã đợi quá lâu rồi. Ta phải hành động nhanh hơn. Ta phải làm một việc gì chứ. Ta không thể để nàng…
Vừa lúc đó, người thư ký nói nhỏ qua điện thoại:
- Ông Denmiris, có ông Anthoy Rozzoli đến gặp ông.
Ông ta không có hẹn và…
- Lúc này, sao anh cứ làm phiền tôi? - Denmiris hỏi, đập mạnh điện thoại xuống.
Lại có tiếng tiếp.
- Tôi xin lỗi làm phiền ông. Ông Rozzoli nói rằng ông ta muốn chuyển lời ông Lambrous nhắn ông. Ông ấy nói rất quan trọng.
Một lời nhắn? Lạ nhỉ. Làm sao ông anh vợ ông lại nhờ nhắn mình nhỉ?
- Cho hắn vào.
- Vâng, thưa ông.
Tony Rozzoli đã vào phòng Constantin Denmiris. Hắn nhìn xung quanh phòng như có vẻ xem xét. Căn phòng này còn rộng hơn cả phòng làm việc của Spyros Lambrous.
- Rất vui được gặp ông, ông Denmiris.
- Anh có hai phút.
- Spyros sai tôi. Anh ấy nghĩ ông và tôi sẽ phải nói chuyện với nhau.
- Thật thế à? Và chúng ta phải nói chuyện về cái gì?
- Xin phiền ông tôi ngồi xuống được chứ?
- Tôi không cho rằng anh không phải ở lại đây lâu.
Tony Rozzoli đặt mình ngồi trên chiếc ghế ngay trước mặt Denmiris.
- Tôi có một nhà máy chế tạo, ông Denmiris ạ. Tôi phải chuyên chở nhiều thứ từ khắp nơi trên thế giới.
- Tôi hiểu. Và anh muốn thuê một trong những con tàu của tôi?
- Đúng thế.
- Thế thì vì sao Spyros cừ anh gặp tôi? Sao anh không thuê tàu của ông ấy? Hiện nay, ông ta có hai tàu không có việc nằm chơi.
Tony Rozzoli nhún vai:
- Tôi cho rằng ông ta không thích những hàng tôi chở.
- Tôi không hiểu. Thế ông chở gì?
- Thuốc, - Tony Rozzoli nói một cách tế nhị.
- Hêroin à? - Constantin Denmiris chăm chăm vào hắn, vẻ không tin. - Và anh mong tôi? Đi ra khỏi đây, trước khi tôi gọi cảnh sát!
Rozzoli hơi cúi đầu nghiêng về phía điện thoại.
Đi ngay đi!
Hắn nhìn Denmiris với tới điện thoại.
- Tôi cũng muốn nói với họ mọi chuyện về cái vụ xử Noelle Page và Larry Douglas.
Constantin Denmiris tức run lên.
- Anh đang nói cái gì vậy?
- Tôi đang nói về hai người bị hành quyết vì giết một phụ nữ mà cô ta đang còn sống.
Mặt Constantin Denmiris đã chuyển sang trắng bệch.
- Ông có nghĩ rằng cảnh sát sẽ quan tâm đến vụ này không ông Denmiris? Nếu không thì có thể báo chí sẽ nói đến, hừ? Tôi có thể thấy những dòng tít ngay từ bây giờ, có phải không ông? Tôi có thể gọi ông là Costa? Spyros bảo tôi bạn bè ông gọi ông là Costa, và tôi nghĩ ông và tôi đang trở thành những người bạn tốt. Ông có biết vì sao không? Bởi vì bạn tốt không bao giờ bỏ bạn mình khi khó khăn. Chúng tôi phải giữ cái mấu chốt đó không sợ ông lộ cái bí mật ra, có phải không?
Constantin Denmiris ngồi như đóng đinh vào ghế. Khi ông nói, giọng cục cằn:
- Đó là điều anh muốn phải không?
- Tôi nói với ông. Tôi muốn thuê một cái tàu. Ông và tôi là những người bạn tốt, tôi không nghĩ rằng ông muốn tính tiền cho tôi thuê tàu, có phải không? Nghĩa là đây là một thiện chí đổi lấy một thiện chí.
Denmiris thở sâu.
- Tôi không thể để anh làm thế được Nếu việc đó lộ ra tức là tôi để cho thuốc phiện được buôn lậu trên tàu của tôi, tôi sẽ mất cả đội tàu.
- Nhưng việc đó không thể bị lộ ra được, có phải không? trong công việc của tôi, tôi không quảng cáo. Chúng ta đang làm việc này rất yên lặng.
Lời nói của Denmirism rất cứng nhắc.
- Anh đang mắc một sai lầm lớn. Anh không thể tống tiền tôi. Anh có biết tôi là ai không?
- À, ông là đối tác mới của tôi. Ông và tôi đang cùng nhau làm một việc từ lâu rồi, c.ậu bé Costa ạ, bởi vì nếu anh nói không, lập tức tôi đến gặp ngay cảnh sát và báo chí và họ sẽ bóc trần ngay câu chuyện đó. Và rồi cả tiếng tăm của anh cũng đi tong, như nước cống mà thôi.
Một không khí yên lặng đau đớn kéo dài giây lát.
- Thế nào - Thế ông em rể thấy sao? - Rozzoli cười gằn. - Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là tôi đã tóm được hai cái hòn của anh. Nếu tôi bóp mạnh, anh sẽ thành một thằng hoạn quan. Anh sẽ được hát giọng nữ cao suốt đời và sẽ được hát trong xà lim nhà tù.
Tony Rozzoli nhìn vào đồng hồ đeo tay của hắn.
- Chúa ơi mất hết hai phút rồi. - Hắn đứng thẳng lên. - Tôi cho anh sáu mươi giây để quyết định hoặc là tôi đi khỏi đây như một đối tác của anh - hoặc là tôi phải đi ra hẳn.
Constantin Denmiris đột nhiên trông già đến mười tuổi. Mặt ông không còn thần sắc nữa. Ông không còn mơ hồ gì nếu câu chuyện thật về vụ án đó lộ ra thì điều gì sẽ đến. Báo chí bọn chúng nó sẽ ăn sống nuốt tươi ông. Bọn chúng sẽ tô vẽ ông như một con quái vật, một tên giết người. Bọn nó sẽ còn mở điều tra cả về cái chết của Stavron và Chotas.
- Sáu mươi giây của ông đã hết.
Constantin Denmiris từ từ gật đầu:
- Được! - ông làu bàu - Được.
Tony Rozzoli cười đắc chí xói vào ông. - Anh khôn ngoan lắm!
Constantin Denmiris chậm rãi đứng lên. - Tôi sẽ để anh lần này mang cái đó đi, - ông nói. - Tôi không cần biết khi nào anh làm và làm ra sao. Tôi sẽ cho một người của anh đi trên tàu của tôi. Như thế là tôi đã hết sức rồi đấy.
- Đó là một cách giải quyết. - Tony Rozzoli nói. Hắn nghĩ. Có thể mày không khôn ngoan đâu. Mày buôn lậu một chuyến heroin và mày sẽ bị mắc, c.ậu bé Costa à. Không có cách nào tao lờ mày đi đâu. Hắn nói to lên được rồi, đó là một cách giải quyết.
Trên đường trở về khách sạn, Tony Rozzoli rất hoan hỉ vì đã thắng. Một con Tẩy. Thuốc phiện không bao giờ dám mơ được sờ tới đội tàu của Constantin Denmiris.
Chúa ơi, từ nay về sau ta có thể chất lên bất cứ con tàu nào của nó ra khơi từ đây. Tiền sẽ quay vòng. Ngựa(1) và đồ cổ - xin lỗi Victor nhé, hắn cười to lên - đồ cổ. Rozzoli đi đến điện thoại công cộng trên phố Stadiou, và gọi hai cú điện thoại. Cú thứ nhất gọi đến Pete Lucca ở Palermo.
- Anh có thể cho hai con khỉ đột của anh đi khỏi đây, Pete ạ, và đưa bọn nó về sở thú của chúng nó. Hàng đã sẵn sàng đi. Sẽ đi bằng tàu biển.
- Anh có chắc là các kiện hàng được an toàn không?
Rozzoli cười:
- Còn an toàn hơn ngân hàng Anh Quốc.
- Tôi sẽ nói với anh khi gặp. Và còn có nhiều tin vui. Từ nay, chúng ta sẽ có thể chở mỗi tuần một chuyến tàu.
- Tuyệt quá, Tony - Tôi vẫn biết có thể trông mong ở anh!
Mày, đồ quỷ dữ địa ngục, thằng con hoang.
Cú điện thoại thứ hai gọi đến Spyros Lambrous.
- Mọi việc tốt ông em rể anh và tôi đang cùng nhau làm ăn.
- Chúc mừng, tôi rất vui nghe tin đó, ông Rozzoli à.
Khi Spyros Lambrous đặt ống nghe xuống, ông ta cười.
- Cả bọn ma tuý này sẽ bị nữa.
***
Constantin Denmiris ở lại qua đêm ngay tại phòng làm việc. Ngồi cạnh bàn làm việc, xem xét những vấn đề mới. Ông đã tự trừng phạt mình về chuyện đối với Noelle Page và bây giờ nàng từ mồ trở về để săn tìm ông. Ông với tay vào ngăn kéo và lấy ra một khung ảnh Noelle. Hello, con chó cái. Trời, nàng đẹp quá! Sao em lại muốn hại anh.
- Được chúng ta sẽ xem. Chúng ta sẽ xem sao.
Chú thích:
(1) Ngựa: (tiếng lóng) thuốc phiện
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 15 -
St. Moritz là một nơi đầy quyến rũ. Có hàng dặm sườn đồi để trượt tuyết, có các con đường leo núi, có nơi đua trượt cho xe hai người và xe trượt kéo, có nơi đấu bóng nước và hàng tá trò chơi hoạt động khác. Uốn vòng quanh mặt hồ lấp lánh trong thung lũng Engadine cao hơn mặt nước biển 6000 bộ dọc phía nam sườn dãy Alpes, giữa Celerina và Piz Nair là ngôi làng nhỏ Catherine rất thích.
Catherine và Kirk Reynolds vào khách sạn Palace thần tiên. Đại sảnh đầy các khách du lịch từ hàng chục nước.
Kirk Reynolds nói với một nhân viên lễ tân:
- Dành một buồng cho ông và bà Reynolds!
Và Catherine nhìn lơ.
Ta phải đeo một nhẫn cưới mới được. Nàng chắc là ai ai trong đại sảnh này cũng nhìn nàng, không hiểu nàng làm nghề gì.
- Dạ, vâng, thưa ông Reynolds. Buồng đặc biệt số 215!
Nhân viên lễ tân đưa chìa khoá cho một người hầu, và người hầu nói:
- Thẳng đường này ạ.
Họ được dẫn đến một buồng đặc biệt xinh đẹp, trang bị đồ gỗ đơn giản, qua mỗi cửa sổ có thể nhìn ra phong cảnh núi non ngoạn mục.
Khi người hầu ra khỏi, Kirk Reynolds ôm Catherine:
- Anh không thể không nói em làm anh hạnh phúc biết nhường nào, em yêu.
- Em… đã lâu rồi, Kirk nhỉ? - Catherine trả lời.
- Đừng lo. Anh không vội vã với em đâu.
- Anh đáng yêu quá, Catherine nghĩ nhưng anh sẽ thấy thế nào nếu ta nói với anh về quá khứ của ta? Nàng chưa bao giờ nói với anh về Larry, hoặc vụ giết người, hay bất cứ điều gì thật kinh khủng đã xảy ra với nàng. Nàng muốn gần gũi anh, tin cậy anh, nhưng có điều gì lôi nàng lại.
- Để em c.ởi quần áo hãy, - Catherine nói.
Nàng c.ởi quần áo từ từ, rất chậm và đột nhiên nàng đã nhận ta rằng nàng phải lảng tránh, nàng sợ phải kết thúc cái mà nàng đang làm bởi vì nàng sợ những gì sẽ xảy ra sau đó.
Từ buồng kế bên, nàng nghe Kirk gọi:
- Catherine…
- Ôi lạy chúa, anh ấy sắp nói c.ởi quần áo ra và lên gi.ường. Catherine nuốt nước bọt và nói khẽ:
- Vâng.
- Sao chúng ta không đi ra ngoài và nhìn cảnh vật xung quanh?
Catherine như trút được nỗi sợ hãi.
- Thật là một sáng kiến tuyệt vời, - nàng nói rất t.ình tứ. Điều gì đã đến với ta. Ta đang ở một nơi nên thơ nhất trên trái đất, với một người đàn ông hấp dẫn yêu ta, và ta lại hoảng sợ.
Reynolds đang nhìn nàng một cách lạ lùng:
- Em có sao không đấy?
- Không sao - Catherine tươi cười nói - Rất khỏe.
- Em như lo buồn điều gì!
- Không. Em… em đang nghĩ về… về trượt tuyết. Giả dụ sẽ bị nguy hiểm.
Reynolds cười:
- Đừng bận tâm. Chúng ta sẽ bắt đầu ở sườn dốc thoai thoải, ngày mai. Nào đi.
Họ mặc quần áo ấm, quần bó và đi ra ngoài không khí trong lành và sảng khoái.
Catherine hít thở thật sâu.
- Ôi, tuyệt quá Kirk. Em thích nơi đây.
- Em chưa thấy nơi nào như thế này ư?, - anh cười - Vào mùa hè, còn đẹp gấp hai nữa kia.
Liệu anh còn muốn gặp ta vào mùa hè không? Catherine nghĩ vậy. Hay ta sẽ phải làm anh bực mình nữa? Tại sao ta phải lo lắng quá như vậy?
Làng St. Moritz là một làng đầy vẻ quyến rũ, kiến trúc kiểu thời trang trung cổ, có rất nhiều cửa hàng và khách sạn kiểu cổ nhưng vô cùng hấp dẫn và có những ngôi nhà gỗ dọc theo chân dãy núi Alpes hùng vĩ.
Họ đi lang thang quanh các cửa hàng, Catherine mua một số quà tặng cho Evenlyn và Wim. Họ dừng ở quán cà phê nhỏ và ăn mấy chiếc bánh.
Buổi trưa, Kirk Reynolds thuê một xe kéo với một đàn chó, và họ cho xe đi dọc theo con đường phủ tuyết lên đến tận đồi, tuyết lạo xạo dưới hai thanh trượt kim loại.
- Thích không em? - Reynolds hỏi.
- Ô vâng Catherine nhìn anh và nghĩ. Ta sắp làm anh hạnh phúc. Tối nay. Vâng, tối nay. Ta sắp làm cho anh hạnh phúc tối nay.
Chiều tối hôm đó, hai người tới tại khách sạn ở Stubi; một nhà hàng có không khí như là một quán ăn nông thôn cổ xưa.
- Cái buồng này đã có từ năm 1480, - Kirk nói.
- Chúng ta không nên gọi món bánh mì.
- Vì sao?
- À chuyện đùa một tí. Xin lỗi!
Larry đã từng hiểu chuyện đùa của ta, sao ta lại nghĩ về anh ấy? Vì ta không muốn nghĩ gì tối nay. Ta cảm thấy ta như Marie Antoinette sắp bị hành hình. Ta không muốn ăn bánh để tráng miệng. Bữa ăn tuyệt ngon, nhưng Catherine quá căng thẳng nên không thích thú lắm. Khi họ ăn xong, Reynolds nói:
- Ta lên buồng chứ? Anh sẽ chuẩn bị một bài giảng trước về trượt tuyết cho em vào buổi sáng ngày mai!
- Chắc chắn nhé. Tốt. Chắc chắn đấy.
Họ bắt đầu lên gác, Catherine thấy rằng trái tim nàng như tan nát. Anh ấy sắp nói "Chúng ta lên gi.ường luôn đi" Và sao anh ấy lại không làm như vậy? Đó là lý do vì sao ta lại đến đây, có phải thế không? Ta có thể nói lảng tránh rằng ta đến đây để trượt tuyết.
Họ đã lên tới buồng đặc biệt của họ, Reynolds đã mở cửa và bật đèn. Họ đi vào buồng ngủ và Catherine nhìn vào cái gi.ường rộng đó. Nó như chiếm hết cả gian buồng.
Kirk đang ngắm nhìn nàng.
- Catherine… em lo lắng điều gì vậy?
- Cái gì hở anh? - Một tiếng cười khì, vô nghĩa - À, không. E m… em vừa…
- Vừa gì?
Nàng tặng chàng một nụ cười vui vẻ.
- Chẳng có gì cả. Em khỏe.
- Tốt. Hãy c.ởi quần áo vào đi ngủ.
- Đúng như ta đã biết anh sẽ nói gì. Nhưng đúng là anh đã nói thế không? Chúng ta trước hết phải lên gi.ường và làm cái việc đó. Để nói bằng lời thì quá… quá… ngây ngô.
- Em nói gì thế?
Catherine không nhận ra rằng nàng đã nói thành tiếng to.
- Không có gì đâu. - Catherine vừa tới gi.ường. Đó là cái gi.ường rộng nhất mà nàng chưa hề thấy. Đó là cái gi.ường được đóng cho những đôi yêu nhau, chỉ có những người yêu nhau. Đó không phải là gi.ường để ngủ. Đó là gi.ường để…
- Em đã thay quần áo xong chưa, em yêu quý?
Ta là ai. Đã bao lâu rồi kể từ khi lần cuối cùng ta đã ngủ với một người đàn ông? Hơn một năm. À anh ấy là chúng ta.
- Cathy…?
- Vâng - Ta sắp thay quần áo, và ta sắp lên gi.ường, và ta sắp làm anh khó chịu. Ta không yêu anh, Kirk ạ. Ta không thể ngủ với anh.
- Kirk…
Anh quay lại với nàng, chưa c.ởi xong quần áo ư…
- Kirk, em… Hãy quên em đi. Anh sắp căm ghét em rồi đó, nhưng em… em không thể, em xin lỗi anh ngàn lần. Anh nên hiểu cho em, em là… Nàng đã nhìn thấy sự tức giận trên mặt anh. Anh gượng cười.
- Catherine, anh nói với em, anh rất kiên trì. Nếu em không sẵn sàng, anh… anh hiểu. Chúng ta còn nhiều thời gian tuyệt vời ở đây.
Nàng hôn lên má anh như để cám ơn anh.
- Ôi, Kirk.
- Cám ơn anh. Em thấy nó lố bịch lắm. em không hiểu sẽ xảy ra điều gì đối với em.
- Chẳng có điều gì xảy ra với em cả, - anh bảo đảm với nàng.
- Em hiểu.
Nàng đẩy anh ra.
- Cám ơn. Anh là một thiên thần.
- Trong khi, - anh thở dài - anh sẽ ngủ trên tấm khăn phủ ở phòng khách.
- Không, anh đừng làm thế - Catherine nói lớn. - Vì em là người có trách nhiệm về việc ngớ ngẩn này, điều ít nhất em có thể làm là thấy anh được dễ chịu. Em sẽ ngủ trên tấm khăn phủ. Anh ngủ trên gi.ường.
- Nhất quyết không.
Catherine nằm trên gi.ường, vẫn chưa ngủ, nghĩ về Kirk Reynolds.
Ta có thể làm tình với một người đàn ông khác? Hay là Larry đã đốt cháy hết h.am m.uốn đó của ta? Có thể, bằng cách nào, Larry định giết ta sau đó. Cuối cùng, Catherine đã thiếp đi.
Kirk Reynolds thức dậy vào nửa đêm có tiếng kêu.
- Anh ngồi thẳng dậy trên tấm khăn phủ, tiếng kêu vẫn còn, anh vội lao ngay vào buồng ngủ.
Catherine đang vật vã trên gi.ường mắt lờ đờ.
- Không, - nàng hét lên. – Không! không! Để tôi yên!
Reynolds quỳ xuống quàng tay ôm và ghì chặt nàng.
- Không sao cả. Không sao đâu. - Anh nói.
th.ân thể Catherine như đang bị hành hạ và thổn thức, anh ôm chặt nàng đến khi cả hai như lặng đi.
- Họ - cố tình dìm chết tôi!
- Đó chỉ là mơ thôi, - anh nói dỗ dành nàng - Giấc mơ sợ quá phải không? - Catherine mở to mắt và ngồi dậy. th.ân thể nàng run lên. - Không, không phải là mơ đâu. Thật đấy!Họ cố giết em.
Kirk nhìn chằm chằm vào nàng, không hiểu gì cả:
Ai cố tình giết em!
- Chồng… chồng em và người tình của anh ấy!
Anh lắc đầu không hiểu:
- Catherine, em bị một cơn ác mộng đấy, và…
- Em đang nói với anh sự thật. Họ cố tình giết chết em và họ đã bị xử tử về việc đó.
Nét mặt Kirk đầy vẻ không tin:
- Catherine…
- Trước đây em chưa nói gì với anh, bởi vì… với em, nói về nó, em đau khổ lắm.
Anh nhận ra ngay rằng nàng nói nghiêm túc.
- Điều gì đã xảy ra vậy?
- Tôi không muốn ly dị Larry, và anh… anh lại phải lòng một người phụ nữ khác, và họ đã quyết định giết tôi.
Bây giờ thì Kirk mới lắng nghe chăm chú.
- Đó là vào thời gian nào!
- Một năm trước đây?
- Điều gì đã xảy ra cho họ?
- Họ đã bị… họ đã bị nhà nước xử tử!
Anh giơ tay lên. Đợi một phút. Họ bị xử tử vì có mưu đồ giết em?
- Vâng!
Reynolds nghĩ:
- Anh không phải là chuyên gia về luật Hy Lạp, anh muốn cược với em rằng không có tội tử hình đối với một tên mới có ý định giết người. Có thể có sai sót gì ở đây. Anh có quen một luật sư ở Anthens. Sáng nay anh sẽ gọi điện cho ông ta và hỏi cho rõ. Tên ông là là Peter Demomdes.
Catherine còn đang ngủ khi Kirk Reynolds đã tỉnh dậy. Anh mặc quần áo nhẹ nhàng và đi khỏi buồng ngủ.
Anh đứng đó một lúc lâu, nhìn Catherine. Ta yêu nàng quá Ta phải tìm ra sự việc, và xua tan bóng mây trong đầu óc nàng.
Kirk Reynolds đi xuống đại sảnh khách sạn và đăng ký gọi về Anthens.
- Tôi muốn gọi từng người một, - anh nói với điện thoại viên. - tôi muốn nói chuyện với ông Peter Demonides.
Điện thoại sau nửa giờ mới nói được.
- Demonides? Kirk Reynolds đây. Tôi không biết ông còn nhớ tôi không, nhưng…
- Có chứ, tôi nhớ, ông làm cho Constantin Denmiris.
- Vâng.
- Tôi có thể giúp ông được gì nào, ông Reynolds?
- Thứ lỗi cho tôi đã làm phiền ông. Tôi đang bị bối rối về một thông tin. Có liên quan về một điểm trong luật pháp Hy Lạp.
- Tôi có biết một tý về luật Hy Lạp, - Demomdes nói rất vui vẻ - Tôi sẽ rất may mắn được giúp ông!
- Có điều nào trong luật của các ông bắt một người nào đó bị hành quyết vì có ý định giết người?
Đầu kia dây nói yên lặng một lúc lâu.
- Cho tôi hỏi vì sao ông lại hỏi như vậy?
- Có một phụ nữ tên là Catherine Alexander. Cô ta nghĩ rằng chồng cô và nhân tình của anh ta đã bị nhà nước xử tử vì có âm mưu giết người. Nghe ra điều đó không hợp lý lắm. Ông có hiểu ý tôi không?
- Vâng. - Giọng Demonides có vẻ tư lự. - Tôi hiểu điều ông muốn nói. Ông đang ở đâu Reynolds?
- Tôi đang ở khách sạn Palace ở St. Moritz!
- Để tôi xem lại việc đó hãy, và tôi sẽ trả lời ông sau.
- Tôi rất muốn biết việc này. Sự thật là, tôi nghĩ cô Alexander có thể tưởng tượng ra mọi việc và tôi muốn làm rõ việc đó và để cho đầu óc cô ấy khỏi buồn phiền.
- Tôi hiểu. Tôi sẽ báo cho anh. Tôi hứa.
Bầu không khí ở đây rất sảng khoái, và vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên đã làm nỗi sợ hãi đêm qua của Catherine tan biến đi.
Cả hai người ăn sáng trong làng, khi họ đã ăn xong, Reynolds nói:
- Chúng ta đi lên sườn dốc trượt tuyết và anh sẽ làm em biến thành chú sóc nhỏ nhé.
Anh dẫn Catherine lên chỗ đầu dốc cho người mới tập trượt và thuê một hướng dẫn viên cho nàng.
Catherine xỏ đôi ván trượt và đứng dậy. Nàng nhìn xuống chân.
- Thật buồn cười. Nếu trời có ý biến chúng ta thành thế này thì cha ông chúng ta phải thành những thân cây.
- Không có gì cả, Kirk ạ!
Người hướng dẫn mỉm cười.
- Không sao. Không cần mất thời gian nào đâu, sẽ trượt như một người chuyên nghiệp, cô Alexander ạ. Chúng ta sẽ khởi hành ở Coriglia Saso Ronsol. Đó là dốc cho những người mới tập.
- Em sẽ ngạc nhiên vì em hiểu được cách trượt nhanh thế - Reynolds cam đoan với Catherine như vậy.
Anh nhìn đường trượt phía trước xa xăn và quay lại nói với hướng dân viên:
- Tôi nghĩ tôi thử trượt ở Fourcla Grischa hôm nay!
- Thật thú vị quá. Em đã có đường trượt có lưới thép! - Catherine nói, không cười.
- Đây là đường trượt em thân yêu. - anh nói.
Ồ, Catherine cảm thấy khó nói cho anh hiểu đó là một câu nói đùa. Ta không được nói thếvới anh, Catherine nghĩ vậy.
Hướng dẫn viên nói:
- Grischa là đường trượt khá dốc. Ông phải bắt đầu ở Corviglia Standard Marguns mới hay, ông Reynolds ạ.
- Sáng kiến. Tôi sẽ làm thế. Catherine, anh sẽ gặp em ở khách sạn để ăn trưa đấy?
- Hay lắm! - Reynolds khoát tay và bước đi.
- Thoả thích nhé, - Catherine gọi theo - Đừng quên viết đấy.
- Nào - hướng dẫn viên nói. - Chúng ta vào việc.
Trước sự ngạc nhiên của Catherine, bài học trượt tuyết thật là vui. Nàng rất có nghị lực ngay từ bước đầu. Nàng cảm thấy lúng túng và bước lên dốc vụng về.
- Cúi xuống một tí. Giữ cho ván trượt thẳng vào.
- Bảo bọn nó. Hai ván này chúng như có trí khôn! - Catherine tuyên bố.
- Cô làm được đấy. Bây giờ chúng ta xuống dốc. Gập đầu gối xuống một tý. Giữ thăng bằng. Đấy lướt đi?
Nàng ngã.
- Nữa vào. Cô làm được đấy!
Nàng lại ngã. Lại ngã nữa. Và tự nhiên, nàng thấy có cảm giác thăng bằng. Và cứ như là nàng có cánh bay.
Nàng lao xuống dốc thật là thích thú. Gần như là bay.
Nàng thích tiếng tuyết lạo xạo dưới đôi ván trượt và có cảm giác gió cứ như tát vào mặt nàng.
- Tôi thích thế lắm! - Catherine nói. - Chẳng có người nào bị vấp tuyết cả. Bao giờ tôi có thể trượt ở dốc đứng kia?
Hướng dẫn viên cười:
- Hôm nay hãy dừng ở đây. Ngày mai, đi dự Olympic.
Tất cả thế là xong, thật là một buổi sáng rạng rỡ.
***
Nàng đang đợi Kirk Reynolds ở phòng bọc lưới khi anh quay về.
Đôi má anh ửng đỏ và trông lanh lợi hẳn lên. Anh đi đến bàn Catherine và ngồi xuống.
- Tốt quá - anh hỏi - Trượt thế nào?
- Hay lắm. Em chả đạt được cái gì quan trọng cả. Em chỉ ngã có sáu lần. Và anh có biết điều gì không? Nàng nói rất tự hào. - Gần cuối, em mới trượt kha khá. Em nghĩ, anh sắp đưa em tham gia thế vận hội Olympic!
Reynolds cười:
- Được - anh định bắt đầu nói về câu chuyện điện thoại anh đã nói với Peter Demonides, rồi anh đã quyết định phản đối việc đó. Anh không muốn làm Catherine mất vui.
Ăn trưa xong, họ đi bộ cùng nhau rất lâu trong tuyết, thỉnh thoảng dừng lại ở các của hàng để ngắm nhìn.
Catherine bắt đầu cảm thấy mệt.
- Em ~ghĩ ta nên về buồng thôi, - nàng nói - Em phải ngủ trưa một chút.
- ý hay. Không khí ở đây khá loãng, nếu em không quen, dễ bị mệt.
- Anh sắp làm gì nữa. Kirk?
- Anh nhìn lên một sườn dốc xa xa. - Anh nghĩ anh phải trượt xuống Grischa. Trước anh chưa bao giờ trượt được ở sườn dốc này. Đây là một cuộc thử thách.
- Anh muốn nói - Bởi vì sườn dốc vẫn còn đó!
- Sao?
- Không sao cả. Trông nguy hiểm đấy!
Reynolds gật đầu. - Vì thế nên đây là cuộc thử thách.
Catherine cầm tay anh:
- Kirk, về chuyện đêm qua. Em xin lỗi nhé. Em… Em sẽ cố gắng tốt hơn.
- Đừng ngại việc đó. Về khách sạn và em ngủ đi một tí!
- Em sẽ ngủ!
Catherine nhìn theo anh bước đi và nghĩ, anh là một người đàn ông tuyệt vời. Ta không biết anh thấy gì ở một con nhóc như ta?
Suốt chiều hôm đó, Catherine đã ngủ và không bị mơ gì cả. Khi nàng dậy, đã gần sáu giờ. Kirk cũng sắp về rồi.
Catherine đi tắm và mặc quần áo, nghĩ về buổi tối tới.
- Không, không phải buổi tối, nàng tự chữa với chính mình, ban đêm. Ta sẽ làm thân với anh.
Nàng đi về phía cửa sổ, và nhìn ra ngoài. Nàng nhìn lên sườn dốc hùng vĩ ở xa. Đó có phải là dốc Grischa không? Ta không hiểu nếu ta có thể trượt xuống cái dốc này.
Bẩy giờ tối rồi, Kirk Reynolds vẫn chưa về.
Ánh hoàng hôn đã chuyển sang mầu tối đậm. Anh không thế trượt tuyết trong đêm tối. Tôi đánh cuộc rằng anh đang uống ở quán bar dưới kia.
Nàng cứ nhìn ra cửa đến khi chuông reo Catherine mỉm cười. Thế chứ. Anh gọi ta và rủ ta đi xuống dưới dốc.
Nàng nhấc ống nghe và nói cụt lủn:
- Em đây, anh đã vượt qua đoạn Sherpas chưa?
Một giọng lạ nói:
- Bà Reynolds?
Nàng định nói không, nhưng rồi lại nhớ là Kirk đã đăng ký với khách sạn như vậy.
- Vâng tôi là Reynolds.
- Tôi e ngại có tin xấu cho bà. Chồng bà đã bị tai nạn khi trượt tuyết!
- Ôi không! Liệu… có nặng lắm không ông?
- Tôi e rằng nặng!
- Tôi sẽ đến ngay. Ở đâu…?
- Tôi xin lỗi, xin thưa bà, ông nhà đã mất, ông Reynolds. Ông đang trượt dốc Lagalp và bị gãy cổ!
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 16 -
Tony Rozzoli ngắm nàng đi từ trong buồng đi ra. Nàng lao lên gi.ường cạnh hắn, vòng tay ôm hắn và thì thầm:
- Em rất vui mừng vì anh đã chọn em, Poulaki. Ngay khi vừa nhìn thấy anh, em đã muốn anh rồi.
- Thế à? - hắn nói - Anh cũng cảm thấy y như thế, bé ạ!
Hắn đã lôi em nhỏ từ The New Yorker, một hộp đêm tồi tàn trên phố Kallari, khi con nhỏ làm ca sĩ, con nhỏ là cái loại mà người Hy Lạp gọi khinh miệt là gavyêzêklo, nghĩa là con chó đang sủa. Chẳng có đứa con gái nào làm việc ở câu lạc bộ có tài năng gì cả - chẳng phải do họng, chẳng phải gì cả - mà chỉ vì tiền, bọn chúng đáng tóm cổ về nhà cả. Con này, Helena là một đứa khá hấp dẫn, mắt đen sẫm, khuôn mặt gợi cảm, và một thân hình đầy đặn và đang chín tới. Nàng đã hai mươi tư rồi, với "khẩu vị" của Rozzoli thì hơi già một chút, nhưng hắn không có quen một mệnh phụ nào ở Anthens cả, và hắn cũng không phải là quá kén chọn.
- Anh có thích em không? - Helena hỏi với vẻ thẹn thùng.
- À, anh Pazzo về xem.
Hắn bắt đầu sờ vú, và khi thấy hai đầu vú của cô gái đã cứng, hắn bắt đầu bóp.
- Ối!
- Cúi đầu xuống, bé.
Cô gái lắc đầu:
- Em không làm thế đâu.
Rozzoli nhìn vào cô gái:
- Thực thế à?
Một lát sau, hắm tóm tóc cô gái và kéo.
Helena kêu lên:
- Parakalo?
Rozzoli tát mạnh và mặt cô một cái:
- Còn nói to nữa tao sẽ bẻ gẫy cổ mày.
- Buông tôi ra - cô gái kêu khẽ. - Ông làm đau tôi.
Rozzoli nắm chặt tóc cô gái, và cô nhìn hắn, mắt đầy căm tức.
- Cho mày đi…
Cái nhìn của hắn làm cô gái phải dừng lại. Có một cái gì đó rất ghê rợn ở con người này. Sao lúc đầu cô không nhận ra?
- Không có lý do gì cho mình đánh hắn, cô gái nói thầm - Mày và tao… - Những ngón tay hắn thọc vào cổ cô gái - Tao không thuê mày để nói chuyện. - Cánh tay của hắn cọ vào má cô.
- Ngậm miệng lại và làm đi.
- Tất nhiên, anh yêu! - Helena thì thầm - tất nhiên!
Rozzoli vẫn chưa thoả mãn và đến lúc hắn thoả mãn, thì Helena cũng đã mệt nhoài. Cô gái nằm nghiêng đến khi thiếp, rồi cô nhẹ nhàng tuột xuống gi.ường và mặc quần áo. Cô bị đau. Rozzoli không trả tiền cho cô và bình thường thì Helena phải móc tiền từ ví hắn thêm một khoản thưởng nhỏ cho riêng cô. Nhưng không hiểu linh tính nào làm cô quyết định phải rời đây không lấy tiền.
Một giờ sau Tony Rozzoli thức dậy bởi tiếng đấm cửa.
Hắn ngồi dậy và nhìn vào cái đồng hồ đeo tay của hắn. Đã bốn giờ sáng rồi. Hắn nhìn xung quanh. Cô gái đã đi.
- Ai đấy! - hắn gọi.
- Hàng xóm ông đây! - tiếng nói có vẻ tức giận - Có điện thoại gọi ông.
Rozzoli bóp trán:
- Tôi sang đây!
Hắn mặc áo choàng và bước qua buồng tới chỗ cái quần hắn vắt ở thành ghế. Hắn kiểm tra ví. Tiền vẫn còn đó. Thế đấy, con chó cái này không ngây ngô đâu. Hắn lấy ra một trăm đô la, đi ra và mở cửa.
Ông hàng xóm đang đứng ở hành lang trong cái áo choàng và đi đôi dép khách sạn.
- Ông có biết mấy giờ rồi không? -
Hắn ta hỏi thản nhiên. - Ông nói với tôi…
Rozzoli đưa cho ông ta tờ một trăm đô la.
- Tôi xin lỗi ông! - hắn nói có vẻ hối lỗi lắm. - Tôi không muốn nói dài.
Người đàn ông đó nuốt nước bọt, vẻ hờ hững biến mất.
- Được mà. Phải là việc quan trọng nên có người mới đánh thức ông vào bốn giờ sáng.
Rozzoli bước nhanh qua hành lang vào buồng bên và cầm lấy ống nghe:
- Rozzoli.
Một tiếng nói:
- Có vấn đề, Rozzoli ạ.
- Ai đấy?
- Spyros Lambrous bảo tôi gọi cho anh!
- Ồ - Anh ta cảm thấy đột nhiên như có điều gì báo động.
- Vấn đề gì nhỉ?
- Có liên quan đến Constantin Denmiris!
- Hắn ra sao rồi!
- Một trong những chiếc tàu của hắn, tàu Thele, đang ở Marseilles! Tàu này đang cột vào cọc bến Vịnh Grande Joliette.
- Thế à?
- Chúng tôi được biết ông Denmiris đã ra lệnh tàu đi về Anthens. Tàu này sẽ tới đó vào sáng chủ nhật theo dự định và lại rời cảng đêm chủ nhật. Constantin Denmiris dự định sẽ có mặt trên tàu lúc nhổ neo.
- Sao?
- Ông ta chuồn rồi.
- Nhưng anh và tôi đang…
- Ông Lambrous bảo anh rằng Denmiris dự kiến trốn ở Mỹ đến khi nào ông ta tìm cách để khử được anh.
- Thằng chó đẻ ăn cắp! Tôi hiểu. Cám ơn ông Lambrous cho tôi. Nói với ông, cảm ông nhiều.
- Ý ông ấy muốn vậy! Liệu mọi việc có xuôi không ông Rozzoli?
- Việc gì? À, mọi việc đều to tát cả.
Và thế là…
Rozzoli càng nghĩ về cú điện thoại, hắn càng vui. Hắn đã làm cho Constantin Denmiris phải sợ mà chạy đi. Điều đó sẽ làm dễ cho hắn hơn nhiều. Chủ nhật. Hắn có hai ngày để lập kế hoạch.
Rozzoli biết hắn phải thận trọng. Hắn bị theo dõi bất cứ nơi nào hắn đến. Mấy thằng cớm chết tiệt, Rozzoli khinh thường. Khi mọi việc xong. Ta sẽ cho bọn nó biết tay.
Sáng hôm sau, Rozzoli đến phòng điện thoại công cộng ở phố Kfissas và quay số Bảo tàng quốc gia Anthens.
Trong ánh phản chiếu của tấm kính, Rozzoli có thể nhận ra một người giả vờ nhìn vào cửa hiệu và bên kia đường, một người khác đang nói chuyện với người bán hoa.
Cả hai trong đội theo sõi hắn. Chúc chúng mày may mắn. Rozzoli nghĩ.
- Văn phòng giám sát bảo vệ. Tôi có thể giúp gì được ông?
- Victor à? Tony đây.
- Có điều gì xấu không? - Có vẻ sợ hãi trong giọng nói của Korontzis.
- Không, - Rozzoli nói nhẹ nhàng. - Mọi việc tốt đẹp chứ.
- Victor à, anh có biết cái lọ xinh xinh có cái hình đo đỏ không?
- Ấm ca ấy à?
- Ừ. Tôi sẽ lấy tối nay nhé.
Im lặng một lúc lâu.
- Tối nay? Tôi… tôi không biết.
Giọng nói của Korontzis như run run:
- Nếu mọi việc xấu đi…
- OK, bạn thân, quên đi. Tôi cố làm cho anh. Anh phải bảo cái thằng Sal Prizzi anh không có tiền và kệ cho hắn muốn làm gì thì làm…
- Không, Tony à. Tôi… tôi…
Lại im lặng.
- Được.
- Anh chắc là được không Victor? Bởi vì nếu anh không muốn làm việc đó, cứ cho như là vậy, tôi sẽ quay về phía nhà nước, và ở đó tôi sẽ chẳng có vấn đề gì cả. Tôi chẳng cần phải quan trọng hoá vấn đề gì cả, anh biết đấy. Tôi có thể…
- Không không. Tôi đánh giá cao mọi việc anh đang làm cho tôi, Tony. Tôi nói thực đó, tối nay sẽ được thôi.
- OK. Khi bảo tàng đóng cửa, việc anh phải làm là thay một phiên bản vào chỗ cái lọ thật thôi.
- Bảo vệ họ kiểm tra mọi gói bọc qua đây!
- Thế là thế nào? Bọn bảo vệ có đứa nào là chuyên gia về nghệ thuật không?
- Không. Tất nhiên không, nhưng…
- Được rồi, Victor, nghe tôi đây. Anh lấy hoá đơn bán một lọ phiên bản và gắn hoá đơn đó vào bản gốc trong cái túi giấy. Anh hiểu không?
- Vâng. Tôi… tôi hiểu, chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu?
- Chúng ta sẽ không cần gặp nhau. Hãy rời bảo tàng lúc 6 giờ. Sẽ có một chiếc taxi đứng trước cửa. Mang cái bọc theo anh, Bảo lái xe đưa anh đến khách sạn Grande Bretange. Nói nó đợi anh. Để bọc trong xe. Vào khách sạn, quán bar và uống một chút gì đó. Sau về nhà.
- Nhưng còn gói đồ… - Khỏi lo. Nó sẽ được chăm sóc cẩn thận.
Victor Korontzis toát cả mồ hôi.
- Tôi chưa bao giờ làm như vậy, Tony à. Tôi chưa bao giờ lấy cắp cái gì. Suốt đời tôi!
- Tôi biết! - Rozzoli nói nhẹ nhàng:
- Tôi cũng chưa bao giờ. Hãy nhớ nhé. Victor, tôi chịu mọi rủi ro, và tôi không để một điều gì sai khác đâu nhé!
Giọng Korontzis lạc cả đi.
- Anh là một người bạn tốt, Tony. Người bạn tốt nhất tôi chưa bao giờ gặp. - Anh đang vặn cổ tay - Anh có biết khi nào tôi nhận được tiền của tôi?
- Nhanh thôi, - Rozzoli bảo đảm với anh - Một khi mà chúng ta đẩy xong, thì anh chẳng còn gì lo lắng nữa. - Và cả tôi cũng không còn lo gì nữa. - Rozzoli nghĩ đến thắng lợi. Không bao giờ nữa.
***
Trưa hôm đó có hai hạm tàu đậu ở Cảng Piraeus và do vậy bảo tàng đầy khách du lịch. Thông thường Victor Korontzis thích nhìn họ, cố đoán xem họ sống ra sao. Có những người Mỹ, người Anh và khách từ hàng chục nước khác nhau. Bây giờ, Korontzis đang quá sợ hãi nên không dám nghĩ gì về họ.
- Anh nhìn sang hai tủ trưng bày, ở đó người ta bán các phiên bản của các loại đồ cổ. Có một đám đông xung quanh và hai cố bán hàng rất bận rộn, cố gắng thoả mãn những đòi hỏi của họ.
Có thể họ đã bán mất rồi, Korontzis nghĩ nhưng vẫn hy vọng và ta không thể làm tròn kế hoạch của Rozzoli.
Nhưng anh biết anh không thực tế chút nào. Có hàng trăm cái phiên bản để ở kho hầm của bảo tàng.
Cái lọ mà Tony đã bắt anh lấy cắp là một tài sản lớn của bảo tàng. Nó có từ thế kỷ mười lăm trước công nguyên, một cái lọ với những hình thần thoại vẽ trên nền đen. Lần cuối cùng Victor Korontzis sờ được vào cái lọ đã mười lăm năm nay khi anh trân trọng đặt nó vào tủ và khoá lại vĩnh viễn. Và bây giờ ta lại lấy cắp nó, Korontzis suy nghĩ đau khổ. Mong Chúa giúp ta.
Đầu óc như điên dại, suốt trưa hôm đó Korontzis cứ sợ cái giây phút khi anh trở thành một tên ăn trộm. Anh quay về phòng làm việc, đóng cửa, và ngồi vào bàn trong lòng đầy tuyệt vọng. Ta không thể làm thế được, anh nghĩ.
Liệu có cách nào khác chăng. Nhưng cách nào bây giờ?
Anh nghĩ không ra cách nào có thể có món tiền đó. Anh như còn nghe thấy tiếng nói của Prizzi. Tối nay, mày phải đưa tao số tiền đó, hay tao sẽ đưa mày làm mồi cho cá. Mày hiểu không? Thằng cha ấy là một tên giết người.
Không, anh chẳng còn có cách lựa chọn nào khác.
Trước sáu giờ chiều mấy phút, Korontzis ra khỏi nơi làm việc. Hai cô bán hàng những vật làm theo nguyên bản, gọi là đồ tạo tác, đang bắt đầu khoá quầy hàng Signmi.
Korontzis gọi.
- Bạn anh sắp đến sinh nhật, anh nghĩ phải tặng anh ta một cái gì ở bảo tàng này.
- Anh bước qua các tủ trưng bày và làm ra vẻ đang suy nghĩ về việc đó. Có những cái bình, và tượng bán thân những cốc ly, và sách, bản đồ. Anh ngắm các thứ đó như là cố quyết định chọn cái gì. Cuối cùng anh chỉ vào phiên bản cái lọ đỏ - Anh nghĩ bạn anh thích cái này.
- Tôi tin là bạn anh sẽ thích lắm, - cô bán hàng nói. Cô lấy cái lọ đó ra khỏi tủ và đưa cho Korontzis.
- Làm ơn cho anh một hoá đơn.
- Nhất định rồi, anh Korontzis ạ. Anh có cần tôi gói như tặng phẩm cho anh không?
- Không, không cần - Korontzis nói rất nhanh. - Cô cứ đút vào túi cho tôi.
- Anh nhìn cô bán hàng đút cái phiên bản vào túi giấy và cả cái hoá đơn vào. - Cám ơn.
- Tôi hy vọng bạn anh thích cái đó.
- Tôi cũng chắc anh ta thích.
Anh lấy cái túi, tay anh hơi run, anh bước vội về nơi làm việc. Anh mở cửa, rồi lấy cái lọ giả ra và đặt nó lên bàn. Vẫn chưa muộn lắm, Korontzis nghĩ. Ta chưa bao giờ phạm một tội lỗi nào. Anh đang trong cơn hấp hối của sự do dự. Bao nhiêu suy nghĩ hãi hùng hiện ra rồi lại biến đi trong đầu anh.
Ta có thể chạy sang một nước nào và bỏ vợ, bỏ con. Hoặc là ta phạm tội giết người. Ta có thể ra sở cảnh sát và bảo họ là ta đang bị đe doạ. Nhưng sự việc vỡ lở ta cũng sẽ ra tro. Không, không có con đường nào thoát. Nếu anh không trả tiền nợ, anh biết rằng Prizzi sẽ giết anh.
Trời, anh nghĩ, có anh bạn Tony. Không có anh, ta trở thành người chết rồi.
- Anh nhìn đồng hồ đeo tay. Thời gian cứ trôi đi.
Korontzis đứng thẳng dậy, đôi chân anh như không vững nữa. Anh đứng đó, thở mạnh, cố trấn tĩnh bản thân mình.
Bàn tay anh ướt đẫm mồ hôi. Anh lau tay vào vạt áo sơ mi. Anh đặt vật phiên bản vào túi giấy và đi ra cửa. Có một người bảo vệ đứng ngay cửa trước còn mở tới sáu giờ khi bảo tàng đã đóng cửa, và một người bảo vệ nữa đang đi vòng quanh, nhưng hắn nghĩ phải kiểm tra hàng chục buồng hiện hắn đang ở phía đầu kia của nhà bảo tàng.
Korontzis ra khỏi phòng làm việc, va ngay vào thằng cha bảo vệ. Tay này nhìn anh giật mình vì có lỗi.
- Xin lôi, ông Korontzis. Tôi không biết ông còn ở đây.
- Ừ, tôi tôi sắp về đây!
- Ông biết, - người bảo vệ nói tỏ vẻ khâm phục, - Tôi thèm muốn được như ông!
Nếu mà hắn biết.
- Thật thế à? Vì sao?
- Ông biết nhiều về những đồ đẹp đẽ này. Tôi đi quanh đây và nhìn các vật đó, đó là các mảng của lịch sử, có phải không ông? Tôi không biết nhiều về các thứ đó. Có thể hôm nào, ông giảng cho chúng tôi nghe. Tôi thực…
Cái thằng điên rồ cứ nói không chịu thôi.
- Ừ, tất nhiên. Hôm nào nhớ. Tôi sẽ rất vui lòng.
Ở đầu kia của căn phòng, Korontzis đã thấy tủ để cái lọ quý. Anh phải thoát được thằng cha này mới xong.
- Hình như… có vấn đề về hệ thống báo động ở tầng hầm. Anh có thể kiểm tra lại xem sao?
- Nhất định rồi. Tôi hiểu ở đây có một vài vật có niên đại vừa được chuyển tới… Anh nên chú ý kiểm tra ngay đi. Tôi không muốn rời đây trước khi tôi biết mọi thứ đều ổn cả.
- Nhất định thế, ông Korontzis. Tôi sẽ quay lại ngay.
Victor Korontzis đứng đó, nhìn người bảo vệ đi qua các phòng, rồi quay xuống tầng hầm. Lúc anh ta đã khuất không nhìn thấy, Korontzis vội đến tủ chứa cái lọ đỏ. Anh lấy chìa khoá ra, và nghĩ, ta thực sự sắp làm việc đó. Ta đang ăn trộm. Chiếc chìa khoá lướt qua những ngón tay anh, và rơi xuống sàn nhà. Mồ hôi vã ra như tắm. Anh cúi xuống nhặt chìa khoá và nhìn vào cái lọ. Nó hoàn toàn thanh tú. Cái lọ đã được tổ tiên của anh làm với sự cẩn thận đáng quý biết chừng nào từ hàng ngàn năm trước.
Người bảo vệ nói phải, đó là những mảng lịch sử, có nhiều cái không bao giờ thay thế được.
Korontzis nhắm mắt lại một lát và rùng mình. Anh nhìn xung quanh xem có ai đang theo dõi anh không, rồi mở khoá tủ và lấy cái lọ ra cẩn thận. Anh lấy vật phiên bản ra khỏi túi giấy và đặt vào tủ đúng chỗ cái vật chính cống kia.
Korontzis đứng đó, ngắm nghía nó một tý. Đó là sản phẩm tái tạo của một chuyên gia mà đối với anh, nó như muốn kêu lên cho mọi người biết. Đồ giả. Đó là việc rõ ràng. Nhưng chỉ có ta, Korontzis nghĩ, và một vài chuyên gia khác biết. Không có ai khác có thể thấy sự khác nhau.
Và sẽ không có lý do gì cho ai có thể ngắm nhìn sát tận mắt. Korontzis đóng tủ và khoá lại, đặt cái lọ chính cống vào túi giấy cùng tờ hoá đơn. Anh rút khăn mùi xoa lau mặt và tay. Thế là xong.
Anh nhìn vào đồng hồ đeo tay. Sáu giờ mười. Phải nhanh lên. Anh đi ra cửa và thấy người bảo vệ, đi về phía anh.
- Tôi không thấy trục trặc gì về hệ thống báo động cả, ông Korontzis và…
- Tốt - Korontzis nói - Về mặt đó ông nói đúng, về thôi chứ.
- Chào, ngủ ngon nhé.
- Ngủ ngon.
Người bảo vệ thứ hai đang ở cửa trước, sắp đi. Hắn nhận thấy có cái túi giấy và cười nhạt.
- Tôi sẽ phải kiểm tra cái đó. Quy định của các ông.
- Tất nhiên, - Korontzis nói rất nhanh. Anh đưa cái túi cho người bảo vệ.
Người bảo vệ nhìn vào trong, lấy cái lọ ra và thấy tờ giấy biên lai.
- Đây tôi mua làm tặng phẩm cho người bạn! - Korontzis giải thích. - Tay đó là một kỹ sư.
Làm sao ta phải nói thế? Hắn chú ý cái gì! Ta phải hành động tự nhiên chứ.
- Tốt - người bảo vệ vứt cái lọ vào trong túi, và cái giây lát khủng khiếp đó, Korontzis nghĩ khéo nó vỡ mất.
Korontzis ôm cái túi vào ngực "Klispchua".
Người bảo vệ mở cửa cho anh.
Korontzis đi ra ngoài trời lạnh ban đêm, thở mạnh và phải gượng cho khỏi bị nôn. Anh đã có một vật giá trị hàng triệu đô la trong tay, nhưng Korontzis không nghĩ đến mặt giá trị bằng tiền của vật đó. Điều anh nghĩ là anh phản bội đất nước anh, ăn cắp một mảng của lịch sử nước Hy Lạp kính yêu và bán cho một người nước ngoài không rõ.
Anh đi xuống dốc. Như Rozzoli đã hứa, có một xe taxi đang đợi ở trước bảo tàng. Korontzis lên xe.
- Khách sạn Grande Bretagne, - anh nói.
- Anh ngồi thụp xuống ghế. Anh cảm thấy như bị đòn và kiệt sức, như thể là anh vừa trải qua một cuộc chiến đấu khủng khiếp. Nhưng rồi anh sẽ thắng hay thua?
Khi chiếc xe taxi đậu ở trước khách sạn Grande Bretagne, Korontzis nói với lái xe:
- Đợi đấy nhé.
Anh nhìn lần cuối cái gói vật quý giá đang ở ghế sau xe, rồi đi nhanh chóng bước vào đại sảnh của khách sạn. Từ bên trong cửa, anh ngoái cổ nhìn ra. Có một người đang vào xe taxi. Một lát sau, xe phóng vút đi.
Thế là xong. Ta sẽ không bao giờ phải làm điều gì như thế nữa, Korontzis nghĩ. Chừng nào ta còn sống.
Cơn ác mộng đã qua.
Buổi chiều vào ba giờ, chủ nhật, Tony Rozzoli bước ra khỏi khách sạn và đi dạo phía Platia Omonia. Anh ta mặc một cái áo màu sáng nhạt vải kẻ, quần xanh lá cây và đầu đội mũ bêrê đỏ. Hai thám tử theo dõi anh. Một trong hai người nói "Hắn chắc phải đi mua những đồ này ở rạp xiếc".
Từ phố Metaxa, Tony Rozzoli gọi một chiếc taxi. Thám tử nói vào bộ đàm "đối tượng đang chui vào một taxi quay về hướng tây".
Tiếng trả lời "Chúng tôi đã thấy hắn, chúng tôi đang theo dõi. Quay về khách sạn".
- Bên phải.
Một chiếc xe màu xám không có số chạy sau xe taxi, giữ một khoảng cách thận trọng. Taxi quay về hướng nam, qua Monastiraki. Trong xe mui kín viên thám tử ngồi gần lái xe nhấc ống nói bộ đàm lên. "Trung tâm. Đây là đơn vị bốn. Đối tượng đang ở trong taxi. Xe đang lái về phố Phihellinon…" Đợi. "Nó lại quay phải tới phố Peta. Hình như hắn nhằm hướng về Plaka". "Chúng ta phải nhả hắn ra ở đó" "Các anh có một nhân viên lẻ nào để theo hắn đi bộ không?" "Đợi một phút, đơn vị bốn". Sau vài giây, máy vô tuyến loẹt xoẹt rồi lại làm việc. "Đơn vị bốn. Chúng tôi đã có hỗ trợ".
Nếu hắn chạy về phía Plaka, hắn sẽ bị theo dõi tiếp.
"Kala. Đối tượng mặc một cái áo kẻ đỏ, quần xanh lá cây và đội bêrê đỏ, hắn rất khó bị lẫn. Taxi dừng lại. Hắn chui ra ở Plaka".
"Chúng tôi sẽ báo tin. Hắn đã bị vây. Rõ chưa. Hết".
Ở Plaka, hai thám tử đang theo dõi khi người đàn ông đó ló đầu ra khỏi taxi.
- Cái thằng ở địa ngục này nó mua đâu ra cái bộ đồ này? - một thám tử ngạc nhiên nói to lên.
Họ nấp đằng sau và bắt đầu theo dõi hắn đi qua cái phố hỗn độn đông đúc ở khu cổ của thành phố. Sang giờ thứ hai, hắn đi bộ không có chủ đích qua các phố Anaphiotika và dừng để xem lướt qua chợ trời treo đầy gươm, giáo, súng trường cổ, nồi nấu ăn, cây nến, đèn dầu và kính hai tròng.
- Cái thằng địa ngục định đi đâu thế?
- Cứ trông như hắn đi dạo phố buổi chiều. Bám sát bất cứ đâu hắn đến.
Họ theo hắn quay sang phố Aghiou Cteronda và nhắm hướng khách sạn Tầu. Hai thám tử đứng ngoài, cách xa, xem hắn gọi món gì ăn.
Các thám tử bắt đầu thấy khó chịu.
- Tôi hy vọng nó đi sớm cho. Tôi muốn về nhà. Tôi phải chợp mắt một lát.
- Tỉnh đi thôi. Nếu chúng ta để mất nó thanh tra Nicolino sẽ lấy mất cái hĩm của chúng ta.
- Sao ta lại để mất được? Nó lỳ như một cây gỗ.
Một thám tử khác đang nhìn chằm chằm vào nó.
- Cái gì? Anh nói cái gì thế?
- Tôi nói… - Không sao - Trong tiếng nói của anh có cái gì có vẻ khẩn cấp.
- Anh đã nhìn vào mặt hắn chưa?
- Không.
- Tôi cũng chưa thấy. Tiflo, tiếp tục đi!
Hai thám tử vội vào khách sạn và nhảy ngay vào cái bàn của nó.
Họ cùng nhìn vào mặt, một người lạ hoàn toàn.
Thanh tra Nicolino rất tức giận.
- Tôi có ba đội chỉ để theo dõi Rozzoli. Sao các anh để xổng nó?
- Nó thay hình đổi dạng trước mặt chúng tôi, thanh tra ạ. Đội thứ nhất đã thấy nó vào taxi mà…
- Và họ để xổng taxi?
- Không, thưa ngài. Chúng tôi theo dõi hắn đi ra. Hoặc ít ra thì chúng tôi nghi là nó. Nó mặc bộ đồ như một thằng dở hơi. Thế là Rozzoli có một thằng khác ngồi trốn trong xe với hắn và hai đứa đổi quần áo cho nhau. Hoá ra chúng tôi theo dõi thằng khác.
- Và Rozzoli chuồn mất trong taxi?
- Vâng, thưa ngài.
- Anh có nhớ số đăng ký xe?
- Có không, thưa ngài. Hình như… số xe không quan trọng!
- Thế người mà các anh bắt được thế nào?
- Nó chỉ là thằng bé sai vặt trong khách sạn của Rozzoli. Rozzoli nói với nó rằng hắn ta đang chơi trò đùa với một ai đó. Hắn cho nó một trăm đô la. Đó là mọi chi tiết mà thằng bé biết được.
Thanh tra Nicolino thở mạnh.
- Và tôi không cho rằng có người biết ông Rozzoli ở đâu ngay lúc đó?
- Không, thưa ngài. Tôi e rằng không!
Hy Lạp có bảy cảng chính: Thessaloniki. Patras, Volos, Igoumenita, Kavala, Irakhon và Piraeus.
Piraeus nằm cách trung tâm Anthens bẩy dặm phía Tây Nam, và Piraeus không chỉ là cảng chính của Hy Lạp mà là một trong những cảng chính của châu Âu. Tổng thể kiến trúc của cảng gồm có bốn bến, ba trong bốn bến cho thuyền đi du lịch và một bến cho tàu đại dương. Bến thứ tư, Herakles, giành cho tàu vận tải có thiết kế khoang tàu có thể mở đưa hàng ra ngay cầu cảng.
Tàu Thele đang neo, đậu ở cảng Herakles. Đó là một tàu chở dầu rất lớn, và đang còn nằm ở cảng tối, nó giống như một con quái vật khổng lồ sẵn sàng đổ hàng.
Xe Tony Rozzoli, đằng sau có bốn người, đang đi ra bến tàu. Rozzoli nhìn lên con tàu khổng lồ và nghĩ thế đấy nó đây rồi. Nào xem ông bạn Denmiris của chúng ta có trên tàu không? Hắn quay lại với người đàn ông đi cùng hắn.
- Tôi muốn hai trong các anh đợi ở đây. Các người khác đi với tôi. Trông không cho ai xuống khỏi tàu.
- Dạ.
Rozzoli và hai người kia đi cầu thang leo lên tàu. Khi họ vừa tới đầu cầu thang, một tay đứng ở boong đã tới gần họ.
- Tôi có thể giúp gì các ngài ạ?
- Chúng tôi đến đây để gặp ông Denmiris.
- Ông Denmiris ở trong buồng chủ tàu. Ông ấy có đợi các ông không?
Thế là cú đấm được đấy. Rozzoli mỉm cười.
- Có. Ông ấy đang đợi chúng tôi. Khi nào tàu nhổ neo?
- Khoảng nửa đêm. Tôi xin chỉ đường cho các ông!
- Cám ơn.
Họ đi theo người thuỷ thủ đi dọc theo boong đến chỗ một cái thang dẫn xuống tầng dưới. Ba người cứ theo tay thuỷ thủ xuống thang và đi theo một hành lang hẹp nữa, qua hành lang từ ca-bin dọc đường đi.
Khi họ tới ca-bin cuối cùng, tay thuỷ thủ bắt đầu gõ cửa. Rozzoii đẩy hắn sang một bên.
- Chúng tôi sẽ báo theo cái kiểu của chúng tôi. - Hắn đẩy cửa mở và đi vào.
Ca-bin này rộng hơn là Rozzoli tưởng tượng. Có một cái gi.ường, một đi-văng, một bàn làm việc và hai ghế xếp.
Sau bàn, Constantin Denmiris đang ngồi.
Khi nhìn lên thấy Rozzoli, Denmiris run lên. Mặt ông ta nhợt hẳn.
- Anh… anh làm gì ở đây? - Giọng ông lạc hẳn như nói thầm.
- Các bạn của tôi nhất định thăm anh và chúc anh thượng lộ bình an. Costa à.
- Làm sao anh biết tôi… Tôi muốn… tôi không có đợi anh ở đây.
- Tôi cũng biết chắc anh không đợi - Rozzoli nói. Hắn quay ra người thuỷ thủ. - Cám ơn chàng trai.
Người thuỷ thủ đi ra.
Rozzoli quay lại nói với Denmiris.
- Có phải anh định không chào tạm biệt các bạn hàng phải không?
Denmiris nói vội:
- Không. Nhất định không phải thế. Tôi vừa… tôi vừa đến đây để kiểm tra vài việc trên tàu. Tàu sẽ nhổ neo sáng mai - Các ngón tay ông ta cứ run lên.
Rozzoli lại đến gần ông ta hơn. Khi hắn nói, giọng hắn lại rất nhẹ nhàng.
- Cậu Costa này, cậu có khuyết điểm lớn lắm. Không thể cố chạy đi được bởi vì cậu không có chỗ nào để trốn cả. Cậu và tôi có công việc làm ăn chung, nhớ không? Cậu có biết điều gì sẽ xảy ra khi người ta tháo lui bỏ việc? Họ sẽ chết rất khổ thật rất khổ.
Denmiris nuốt nước bọt.
- Tôi… tôi muốn nói chuyện riêng với anh!
Rozzoli quay lại nói với các bộ hạ của hắn.
- Đợi bên ngoài.
Khi họ đã ra, Rozzoli ngồi phịch xuống ghế.
- Tôi rất bực với anh Costa ạ.
- Tôi không thể theo đuổi anh mãi với việc đó. - Denmiris nói - Tôi sẽ đưa anh tiền - nhiều tiền hơn là anh mơ được.
- Để trả lại cái gì?
- Tôi cho con tàu này đi và để tôi yên một mình! - Trong giọng nói của Denmiris, có sự thất vọng. - Các anh không thể làm thế với tôi. Chính phủ sẽ lấy mất đội tàu của tôi. Tôi sẽ bị sụp. Xin anh. Tôi sẽ cho anh bất cứ cái gì anh muốn.
Tony Rozzoli cười.
- Tôi đã có mọi thứ tôi muốn. Anh có bao nhiêu tàu chở dầu? Hai mươi! Ba mươi! Chúng tôi sẽ làm cho các con tàu của anh bận rộn, anh và tôi. Mọi việc anh phải làm là thêm một cái hay hai cái cảng để gọi điện thôi.
- Anh… anh không thấy anh đang làm gì tôi?
- Tôi cho rằng anh sẽ hiểu điều đó trước khi anh kéo cái khung này lên - Tony Rozzoli đứng thẳng lên. - Anh sẽ nói với viên thuyền trưởng. Bảo hắn là chúng ta sẽ có thêm một nơi đỗ nữa ngoài khơi Flordia.
Denmiris do dự:
- Được. Sáng mai khi nào anh quay lại?
Rozzoli cười:
- Tôi sẽ không đi đâu cả. Cuộc chơi đã mãn rồi. Các anh định nửa đêm chuồn. Được. Tôi sẽ cùng chuồn với anh. Chúng ta sẽ mang một lô hàng heroin lên tàu, Costa ạ, và để làm cho phi vụ của chúng ta đậm đà thêm, chúng ta mang theo một trong những vật báu của Bảo tàng quốc gia. Và anh sẽ bán cái đó ở Hoa Kỳ cho tôi. Đó là sự trừng phạt anh, vì cố tình lừa dối tôi.
Con mắt của Denmiris như đờ đẫn.
- Tôi có gì đâu. - Ông ta như thanh minh - Cái tôi có thể tìm là…
Rozzoli vỗ nhẹ vào vai.
- Vui lên. Tôi hứa rằng anh sẽ vui thích làm đối tác với tôi.
Rozzoli mở cửa ra.
- Được rồi, đưa hàng lên boong đi! - hắn nói. - Anh muốn chúng ta chất hàng ở đâu?
Có hàng trăm chỗ giấu trong bất cứ tàu nào, nhưng Rozzoli không cảm thấy cần phải khôn ngoan về việc này.
Tàu của Denmiris không thuộc loại bị nghi ngờ.
- Để trong đống túi khoai tây đó, - hắn nói. - Đánh dấu túi và xếp đống ở phía sau bếp. Mang cái lọ tới chỗ ông Denmiris. Ông ấy sẽ giữ lấy của riêng của ông ấy.
Rozzoli quay lại Denmiris, con mắt của ông ta đầy khâm phục Rozzoli.
- Anh có ý kiến gì về những việc đó không?
Denmiris cố nói, nhưng không nói được lời nào.
- Được, chúng mày. - Rozzoli nói. - Cho chạy thôi. - Rozzoli ngồi lại vào ghế bành. - Cái ca-bin này đẹp thật. Tôi sẽ để anh ở đây, Costa ạ. Tôi và mấy thằng lính của tôi sẽ tìm chỗ riêng.
- Cám ơn! - Denmiris nói rất khổ sở - Cám ơn.
Vào lúc nửa đêm, chiếc tàu chở dầu khổng lồ nhổ neo từ bến cảng với hai tàu lai dắt ra khơi. Heroin đã được giấu trên boong, và chiếc lọ quý đã giao cho Constantin Denmiris để ở ca-bin của ông ta.
Tony Rozzoli gọi cho người của hắn ra ngoài:
- Tôi muốn anh vô phòng vô tuyến và cắt đứt các hệ thống liên lạc. Tôi không muốn cho Denmiris gửi đi các bức điện.
- Vâng lệnh, Tony.
Constantin Denmiris làm một người bị cụt, nhưng Rozzoli tận dụng cơ hội.
Rozzoli vẫn còn sợ mãi đến lúc tàu nhổ neo, vì có thể có điều gì hỏng ăn, hoặc có điều gì xảy ra ngoài những giấc mơ như điên như dại của hắn. Constantin Denmiris, một trong những người giàu nhất, có quyền lực nhất trên thế giới, đã là đối tác của hắn. Đối tác, cái đồ chết tiệt, Rozzoli nghĩ. Ta đã chiếm được thằng con hoang này. Toàn đội tàu trời phạt của hắn đã thuộc về ta. Ta có thể chuyên chở hàng bao nhiêu cũng được nếu bọn tay chân giao nổi cho ta. Mặc cho bọn khác làm. Và rồi các báu vật của bảo tàng.
Đấy là cả một mỏ vàng thực sự nữa. Chỉ có ta là chủ các báu vật đó. Bọn nó không biết điều gì đã làm chúng chết điếng được.
Tony Rozzoli ngủ thiếp đi với giấc mơ một đội tàu cung điện bằng vàng cùng các cô gái hầu đến tuổi cập kê.
Khi Rozzoli thức dậy vào buổi sáng, hắn và các tay chân đi đến phòng ăn sáng. Có hàng tá các thuỷ thủ đã ở đó rồi. Một tên hầu bàn tiến lại gần.
- Xin chào.
- Ông Denmiris ở đâu? - Rozzoli hỏi. - Ông ấy có ăn sáng không?
- Ông ấy còn ở ca-bin, ông Rozzoli ạ. Ông ấy chỉ thị cho chúng tôi là phải làm mọi yêu cầu mà ông và các bạn ông muốn.
- Ông ấy tốt quá, - Rozzoli cười. - Tôi muốn có nước cam, thịt mỡ và trứng. Các cậu thế nào, các bạn trẻ?
- Cái gì ngon ngon ấy!
Khi họ đã gọi xong. Rozzoli nói.
- Tôi muốn các cậu giữ kín đấy. Đừng để cho người ta thấy các buồng của các cậu. Phải lịch sự và tốt đấy. Hãy nhớ rằng chúng ta là khách của ông Denmiris.
Hôm đó, Denmiris không thấy có mặt khi ăn trưa. Rồi tối cũng không thấy ông ăn tối.
Rozzoli lên để nói chuyện với ông ta.
Denmiris vẫn ở trong ca-bin, nhìn chăm chăm qua cửa lỗ của tàu. Trông ông nhợt nhạt và mỏi mệt.
Rozzoli nói:
- Anh cần ăn để giữ sức khoẻ tốt, ông bạn đối tác ạ. Tôi không muốn ông bị ốm. Chúng ta có nhiều việc phải làm. Tôi bảo hầu bàn mang cơm tối vào đây nhé.
Denmiris thở mạnh:
- Tôi không thể - thôi được. Xin ông ra cho, làm ơn.
Rozzoli cười gằn.
- Được. Sau khi ăn tối, ngủ đi nhé.
- Anh trông ghê quá đấy.
Vào buổi sáng, Rozzoli đến gặp thuyền trưởng.
- Tôi là Tony Rozzoli, - hắn nói. - Tôi là khách của ông Denmiris.
- À, vâng ạ. Tôi xin ông biết cho. Khi nào chúng ta sẽ đến phía ngoài bờ biển Florida.
- Xấp xỉ ba tuần nữa, ông Rozzoli ạ!
- Tốt, hẹn gặp anh sau.
Rozzoli ra và dạo khắp tàu. Tàu của hắn. Toàn đội tàu Chúa phạt này là của hắn. Thế giới này là của hắn, Rozzoli tràn đầy hớn hở, cái cảm giác mà chưa bao giờ hắn có.
Cuộc vượt đại dương trôi chảy, và thỉnh thoảng Rozzoli vẫn vào buồng của Constantin Denmiris.
- Anh phải có vài con đàn bà trên tàu! - Rozzoli nói. - Nhưng tôi cho rằng người Hy Lạp các anh không cần gái, có phải không?
Denmiris từ chối trả lời câu nói trêu chọc đó.
Ngày ngày qua đi chậm chạp, nhưng mỗi giờ lại đưa Rozzoli lại gần với những giấc mơ của hắn. Hắn đang lên cơn sốt không kiên nhẫn. Một tuần đã qua, rồi lại tuần nữa trôi đi, và hệ thống đã tới gần lục địa Bắc Mỹ.
Vào tối chủ nhật, Rozzoli đang đứng gần đường ray trên tàu nhìn ra đại dương khi thấy có một ánh sáng loé lên.
Người thuỷ thủ đầu tiên đến gần hắn.
- Chúng ta có thể gặp thời tiết xấu, ông Rozzoli ạ. Tôi hy vọng ông là một thuỷ thủ giỏi!
Rozzoli nhún vai:
- Chẳng có gì làm tôi không chịu được!
Biển bắt đầu động. Con tàu bắt đầu chúi sâu xuống rồi lại ngóc đầu lên cứ như là nó cày vào sóng.
Rozzoli bắt đầu thấy buồn nôn. Thế hoá ra ta không phải là thuỷ thủ giỏi, hắn nghĩ. Có cái gì khác nhau nhỉ? Hắn làm chủ cả thế giới. Hắn quay về ca-bin sớm hơn và lên gi.ường nằm.
Hắn đã mơ. Lần này thì không phải lên con tàu bằng vàng hay những cô gái đẹp trần truồng. Đó là những giấc mơ tối tăm. Chiến tranh lại nổ ra, và hắn chỉ nghe thấy tiếng thét gầm của đại bác. Một tiếng nổ đánh thức hắn dậy.
Rozzoli ngồi trên gi.ường, tỉnh táo. Ca-bin tàu tròng trành. Con tàu đang ở giữa một trận giông bão chúa phạt.
Hắn còn có thể nghe được những bước chân chạy ở hành lang. Địa ngục này sẽ còn đi đến đâu?
Tony Rozzoli vội nhảy khỏi gi.ường đi ra ngoài hành lang. Tàu tự nhiên xô cả về một bên và rồi mọi vật không còn thăng bằng được nữa.
- Cái gì đấy? - Hắn gọi một trong những đứa chạy ngang qua hắn.
- Nổ. Tàu bị cháy. Chúng ta đang bị chìm. Các ông lên ngay boong đi.
- Chìm…?
Rozzoli không thể nào tin được điều đó. Mọi việc đều diễn ra êm ả. Nhưng không sao. Rozzoli nghĩ. Ta không thể để mất cái tàu này. Sẽ có nhiều cái hơn nữa. Ta phải cứu Denmiris. Hắn là chìa khoá của mọi điều. Chúng ta sẽ gọi cấp cứu. Và rồi hắn nhớ ra rằng hắn đã ra lệnh phá huỷ hệ thống liên lạc vô tuyến.
Chiến đấu giữ thăng bằng, Tony Rozzoli cứ theo đường đồng bọn và leo được lên boong. Hắn rất sửng sốt, hắn thấy cơn giông đã hết. Biển rất êm. Mặt trăng tròn đầy đã mọc lên.
Lại có tiếng nổ khác, và rồi lại nổ nữa và tàu đã bắt đầu nghiêng nhiều hơn. Các thuỷ thủ cố hạ các thuyền cấp cứu, nhưng đã quá muộn. Nước xung quanh tàu là một khối dầu đang bốc lửa. Constantin Denmiris ở đâu?
Và rồi Rozzoli nghe thấy. Đó là tiếng gió vù vù, ở tận trên cao chỗ gầm rú của vụ nổ. Hắn nhìn lên. Có một máy bay trực thăng đang treo lơ lửng khoảng mười bộ trên mặt tàu.
Chúng ta được cứu thoát, Rozzoli nghĩ, rất vui mừng.
Hắn vẫy chiếc trực thăng như điên rồ.
Một bộ mặt xuất hiện ở cửa sổ trực thăng. Phải mất một lát sau Rozzoli mới kịp nhận ra đó là Constantin Denmiris. Ông ta tươi cười, và trong cánh tay giơ lên, ông ta cắp cái lọ vô giá đó.
Rozzoli nhìn đăm đăm, đầu óc hắn đang ghép các sự kiện đã xảy ra vào với nhau. Làm thế nào mà Constantin Denmiris tìm được một chiếc trực thăng giữa đêm tối thế này… Rồi Rozzoli đã biết, lòng dạ của hắn tan ra thành nước, Constantin Denmiris không bao giờ có ý định làm ăn với hắn. Đồ chó đẻ này đã lập kế hoạch mọi việc ngay từ đầu. Cú điện thoại gọi cho hắn báo là Denmiris đã chạy đi - cú điện thoại đó không phải từ Spyros Lambrous - chính là của Denmiris, ông ta đã gài bẫy để cho hắn vào tàu, và Rozzoli đã nhảy vào bẫy.
- Con tàu chở dầu bắt đầu chìm nhanh hơn và sâu hơn, Rozzoli đã thấy đại dương lạnh cóng tới ngay chân hắn, rồi đầu gối hắn. Thằng con hoang đã để cho cả bọn chết tại đây, ở giữa một nơi chẳng biết ở đâu, nơi mà sẽ chẳng còn dấu vết.
Rozzoli nhìn lên chiếc trực thăng, và la hét điên rồ.
- Quay lại, tao sẽ cho mày mọi thứ? - Gió thổi mạnh lời hắn bay đi.
Điều cuối cùng Tony Rozzoli nhìn thấy trước khi con tàu lật xấp và đôi mắt hắn đã nhoà vì nước muối mặn xát là chiếc trực thăng bay vọt về phía mặt trăng.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 17 -
ST. MORITZ
Catherine đang bị một cơn - sốc - về tinh thần. Nàng ngồi trên đi văng trong buồng ở khách sạn, đang nghe viên Trung uý Hans Bergman, trưởng đội tuần tra trượt tuyết, nói với nàng về cái chết của Kirk. Âm thanh của tiếng nói Bergman cứ vật vờ như sóng vỗ trong đầu Catherine, và nàng không thể nghe kỹ được từng lời một. Nàng đã tê tái vì sợ hãi. Mọi người xung quanh ta đã chết cả, nàng suy nghĩ tuyệt vọng. Cái chết của Larry, bây giờ là Kirk, và những người trước: Noelle, Napoleon Chotas, Frederick Stavros. Thật là một cơn ác mộng không kết thúc.
Qua làn sương của tuyệt vọng, nàng nghe lờ mờ tiếng nói của Hans Bergman.
- Thưa bà Reynolds… Bà Reynolds… - Nàng ngẩng đầu lên. - Tôi không phải là bà Reynolds, - nàng nói rã rời vì mệt mỏi. - Tôi là Catherine Alexander. Kirk và tôi là… bạn!
- Tôi biết.
Catherine thở mạnh.
- Thế nào… sự việc xảy ra thế nào? Kirk là người trượt tuyết giỏi cơ mà.
- Tôi biết. Ông ấy đã trượt tuyết nhiều lần ở đây. - Anh ta lắc đầu. - Để nói với cô sự thật, cô Alexander, tôi cũng không biết sự việc xảy ra như thế nào. Chúng tôi thấy anh nằm ở Lagalp một dốc đã bị cấm vì tuyết lở tuần trước. Biển báo hiệu đã bị đổ vì gió thổi. Tôi rất có lỗi.
Lỗi. Một từ yếu làm sao, một từ ngây ngô làm sao.
- Cô muốn chúng tôi giải quyết tang lễ như thế nào, cô Alexander?
Vì chết không phải là hết. Không, cần phải giải quyết.
Quan tài và nơi chôn cất, và hoa thông báo cho những người bà con. Catherine như muốn kêu thét lên.
- Cô Alexander?
Catherine nhìn lên:
- Tôi sẽ thông báo cho gia đình Kirk!
- Cám ơn cô.
Khi Catherine trở về London, nàng quá yếu không thể đi làm được. Nàng ở trong phòng từ chối gặp hay nói chuyện với bất kỳ ai. Anna, người hầu phòng chuẩn bị cơm nước cho nàng và mang lên buồng Catherine, nhưng khay ăn đã bị trả lại, không đụng đũa đến.
- Cô phải ăn gì đi chứ, cô Alexander!
Nhưng cứ nghĩ đến các món ăn là Catherine lại ốm thêm.
Ngày hôm sau, Catherine cảm thấy yếu hơn. Nàng thấy như ngực nàng chứa đầy sắt, không thở được.
- Tôi không thể tiếp tục như thế này, - Catherine nghĩ. - Tôi phải làm cái gì đó.
Nàng thảo luận điều đó với Evenlyn Kaye.
- Tôi tự than trách mình về những gì đã xảy ra.
- Điều đó không đúng, Catherine ạ!
- Tôi biết, không phải thế, nhưng tôi không thể làm gì được hơn. Tôi thấy tôi có trách nhiệm. Tôi cần có ai đó để nói về việc đó. Có thể tôi gặp được một nhà tâm lý… - Tôi có biết một người giỏi một cách đáng khâm phục.
Evenlyn nói.
- Thực tế là ông ta vẫn thăm nom Wim luôn. Tên ông là Alan Hamilton. Tôi có một người bạn, cô ta định tự tử lúc đó bác sĩ Hamilton đã đến doạ cô, rồi cô lại bình thường trở lại. Cô có muốn đến gặp ông ấy không?
- Nhưng nếu ông ta bảo tôi điên? Tôi phải làm thế nào? Được, - Catherine nói miễn cưỡng.
- Tôi sẽ cố hẹn ông ấy cho cô. Ông ấy cũng rất bận.
- Cám ơn, Evenlyn. Tôi rất muốn.
Catherine đã đến văn phòng của Wim. Anh ta muốn biết về Kirk, nàng nghĩ.
- Wim - anh có nhớ Kirk Reynolds không? Anh ta đã bị chết từ mấy hôm trước trong một tai nạn trượt tuyết.
- À! Westminster - đặc biệt - bốn - bẩy - một.
Catherine ngây người ra không hiểu.
- Cái gì. - Và nàng đột nhiên đã nhận ra là Wim đọc số điện thoại của Kirk. Mọi con người chỉ có nghĩa với Wim như thế thôi ư?
Một dãy số? Có phải là anh ta không có cảm xúc gì về mọi người? Có phải là anh ta thực không thể yêu, căm thù hay đam mê?
Có lẽ như anh ta thì tốt hơn. Catherine suy nghĩ. Ít ra anh ta cũng có thể chia sẻ nỗi đau mà mỗi người chúng ta còn lại có thể cảm thấy chứ.
***
Evenlyn đã sắp xếp để Catherine gặp được bác sĩ Hamilton vào thứ sáu tới. Evenlyn nghĩ đến việc điện cho Constantin Denmiris báo ông những việc đã làm, nhưng cô thấy việc đó không quan trọng nên lại thôi.
Văn phòng Alan Hamilton ở phố Wimpole. Catherine đã đến đó trong buổi hẹn đầu tiên, vừa tin vừa tức tối. Tin bởi vì nàng sợ những điều ông có thể nói với nàng, và tức tối vì mình vì đã ỷ lại vào một người xa lạ để giúp nàng những vấn đề nàng thấy có thể tự giải quyết được.
Người tiếp nhận ngồi sau cửa kính nói:
- Bác sĩ Hamilton sẵn sàng gặp cô. Cô Alexander.
Nhưng liệu ta có sẵn sàng gặp ông không? Catherine không biết thế nào. Nàng hãi hùng đến cao độ. Tôi đang làm việc gì đây? Tôi không muốn đặt mình vào tay của một ông quan nào đó, mà chắc ông ta nghĩ rằng ông ta là thánh.
Catherine nói:
- Tôi đã thay đổi ý kiến. Thực ra tôi không cần bác sĩ. Tôi vẫn vui lòng trả tiền về việc hẹn này!
- Ồ! Xin đợi cho một phút!
Nhưng…
Người tiếp nhận đã đi vào văn phòng của bác sĩ.
Sau một lát, cửa văn phòng mở ra và Alan Hamilton đi ra. Ông ta trạc khoảng hơn bốn mươi, cao và tóc hung, mắt xanh sáng, phong cách có vẻ dễ dãi. Ông nhìn Catherine và cười:
- Cô đã làm tôi mất một ngày, - Ông nói.
Catherine nhíu đôi lông mày.
- Cái gì?
- Tôi không biết tôi là bác sĩ tốt hay không tốt thế nào. Cô vừa vào phòng đón tiếp của tôi, cô đã có cảm giác dễ chịu hơn. Đó phải là một thành công.
Catherine nói tự bảo vệ:
- Tôi xin lỗi. Tôi có khuyết điểm. Tôi không cần giúp đỡ gì cả.
- Tôi rất vui thích được nghe những lời như thế, - Alan Hamilton nói. - Tôi mong cho mọi bệnh nhân của tôi được thấy như thế. Chừng nào cô còn ở đây, cô Alexander à, sao cô không đến tôi được một lát? Chúng ta uống với nhau một ly cà phê.
- Cám ơn ông, không. Tôi không…
- Tôi tin là cô có thể uống cà phê để thức giấc.
Catherine do dự.
- Thôi được, chỉ một phút thôi.
Nàng theo ông vào văn phòng. Đó là một phòng rất đơn giản, được trang trí theo sở thích yên tĩnh, đồ đạc thì giống như buồng tiếp khách hơn là một văn phòng. Có những bức tranh nhẹ nhàng treo trên tường, trên bàn cà phê có một bức hình một phụ nữ xinh đẹp và một cậu con trai. Được, ông ta có một văn phòng xinh đẹp và một gia đình hấp dẫn. Điều đó nói lên điều gì?
- Xin mời ngồi! - Bác sĩ Hamilton nói. - Một phút nữa sẽ có cà phê.
- Tôi thực sự không muốn làm bác sĩ lãng phí thời giờ, thưa bác sĩ. Tôi là…
- Không nên nghĩ như vậy. - Ông ngồi trên ghế bành, tìm hiểu về nàng. - Cô nghĩ nhiều quá, ông nói rất tình cảm.
- Ông có biết điều đó không? - Catherine ngắt lời. Giọng của nàng tỏ ra giận dữ nhưng thâm tâm nàng không giận ai.
- Tôi đã nói chuyện với Evenlyn. Cô ấy đã nói với tôi sự việc ở St. Moritz. Tôi xin lỗi.
Lại cái từ Chúa phạt đó.
- Ông là…
Nếu ông là một bác sĩ tuyệt vời, có thể ông cứu được Kirk. Tất cả những nỗi buồn đau âm thầm bên trong nàng đã được dịp phát ra, tuôn ra như một dòng thác, Catherine cho rằng nàng chỉ bị quá kích động.
- Hãy để tôi một mình, - nàng kêu lên. - Hãy để tôi một mình.
Alan Hamilton ngồi đó, ngắm nhìn nàng không nói gì.
Khi cơn thổn thức của Catherine đã dịu đi, nàng nói với vẻ mệt nhọc:
- Tôi xin lỗi hãy quên tôi đi. Tôi thực sự phải đi bây giờ, - Nàng đứng dậy và bắt đầu đi ra cửa.
- Cô Alexander, tôi không hiểu liệu tôi có thể giúp gì được cô nhưng tôi xin cố gắng. Tôi hứa với cô rằng dù thế nào tôi cũng không làm cô đau buồn thêm.
Catherine đứng ở cửa, do dự. Nàng quay nhìn về phía ông, mắt đẫm lệ.
- Tôi không biết tình trạng của tôi là thế nào. - Nàng nói nhỏ nhẹ. - Tôi cảm thấy tôi mất mát nhiều quá.
Alan Hamilton đi đến phía nàng.
- Rồi tôi sẽ cố tìm nguyên nhân vì sao cho cô? Chúng ta sẽ cùng nhau làm việc đó nhé. Ngồi xuống đi. Tôi đi xem cà phê thế nào.
- Ông đi ra độ năm phút, Catherine không hiểu ông nói thế nào mà nàng lại ngòi nán lại. Ông ta tác động trấn an mọi việc. Có cái gì ở phong cách ông ta làm cho người ta yên lòng. Có thể ông ta giúp được mình, Catherine nghĩ.
Alan Hamilton trở lại, mang hai cốc cà phê.
- Có đường và bơ, tuỳ cô thích.
- Không, cám ơn.
- Ông ngồi xuống đối diện với cô. - Tôi hiểu bạn cô chết trong một tai nạn trượt tuyết. Thật là đau đớn khi nói về việc đó.
- Vâng. Anh ấy trượt ở một cái dốc mà người ta báo là đã đóng cửa. Gió thổi đổ mất biển báo.
- Đây có phải là lần đầu đối với cô về cái chết của một ai đó gần với cô?
Làm sao nàng có thể trả lời câu hỏi đó được? Ồ, không. Chồng tôi và cô tình nhân của anh ta đã bị xử tử vì cố tình giết tôi. Những người xung quanh tôi đều chết.
Điều đó làm ông bị xúc động. Ông đang ngồi đó, đợi câu trả lời, tên chó đẻ buôn lậu. Được, nàng sẽ không thể để hắn thoả mãn. Cuộc đời nàng không phải là đê nó buôn bán. Ta thù hắn!
Alan Hamilton đã nhìn thấy sự tức giận trong bộ mặt nàng. Ông từ tốn chuyển chủ đề nói chuyện.
- Wim thế nào? - ông hỏi.
Câu hỏi làm Catherine hoàn toàn không chút đề phòng. - Wim - anh ta khỏe. Evenlyn nói với tôi anh ta là bệnh nhân của ông.
- Vâng! - Xin ông có thể giải thích vì sao anh ta lại như vậy?
- Wim đến với tôi vì anh ra muốn khỏi mất việc làm, anh ta có điều rất lạ - một kẻ yếu thế kỳ lạ. Tôi không thể hiểu được vì sao, nhưng cơ bản, anh ấy ghét người khác, anh ấy không thể có liên hệ với người khác.
Catherine nhớ lại lời Evenlyn. Anh ta không có cảm xúc Anh ta không bao giờ gắn bó với một ai.
- Nhưng Wim lại rất kiệt xuất về toán học, - Alan Hamilton tiếp. - Anh ta hiện đang làm việc mà với việc ấy anh có thể áp dụng được kiến thức toán học!
Catherine gật đầu. - Tôi cũng chưa bao giờ được biết ai giống anh ấy.
Alan Hamilton nghiêng về phía trước ghế bành.
- Cô Alexander, - ông nói, - Sự việc cô vừa trải qua thật là đau buồn, nhưng tôi nghĩ tôi có thể làm cho cô thấy thanh thoát hơn - Tôi sẽ cố gắng.
- Tôi… tôi không biết, - Catherine nói. - Mọi việc dường như vô vọng với tôi!
- Chừng nào mà cô còn cảm thấy như vậy, - Alan Hamilton cười, - Thì không có nơi đâu cô cần bằng nơi đây - Nụ cười của ông có vẻ tự phụ. - Sao ta lại không hẹn gặp một lần nữa? Nếu, cuối lần hẹn tới, cô còn ghét tôi, chúng tôi gọi đó là thua.
- Tôi không ghét ông, - Catherine nói vẻ xin lỗi - Vâng, có thể có một chút.
Alan Hamilton đi qua phía bên bàn làm việc và xem quyển lịch. Lịch làm việc của ông gần như kín đặc cả.
- Thứ hai, thế nào có được không? - ông hỏi. - Một giờ chiều nhé?
Một giờ chiều là giờ ăn trưa của ông, nhưng ông muốn quên đi. Catherine Alexander là một phụ nữ phải chịu một gánh nặng không kham nổi, và ông quyết định làm mọi việc có thể giúp cô.
Catherine nhìn ông một lúc lâu.
- Được ạ.
- Tốt. Tôi sẽ gặp cô lúc đó nhé. - Ông trao cho cô một tấm thiếp. Trong thời gian từ nay đến đó, nếu cô cần tới, đây là số điện thoại văn phòng tôi và điện thoại nhà riêng tôi. Tôi ngủ rất tỉnh vì vậy không ngần ngại gì cả cứ đánh thức tôi dậy!
- Cám ơn - Catherine nói. - Thứ hai, tôi sẽ đến đây.
Bác sĩ Alan Hamilton nhìn cô đi ra cửa và ông nghĩ, cô ta dễ bị tổn thương, và rất đẹp. Ta phải cẩn thận. Ông nhìn vào bức ảnh trên bàn trà. Ta không biết Angela sẽ nghĩ gì?
***
Điện thoại réo vào nửa đêm.
Constantin Denmiris lắng nghe và khi nói giọng ông tỏ rất ngạc nhiên. - Tàu Thele đắm à? Tôi không tin điều đó được!
- Đó là sự thực, ông Denmiris. Đội biên phòng phát hiện một số mảnh con tàu đó bị phá hoại.
- Có ai sống sót không?
- Không, thưa ngài. Tôi e rằng không. Các thuỷ thủ đều mất tích cả.
- Thật là khủng khiếp. Có ai biết, sự việc ra sao không?
- Tôi e rằng chúng ta chẳng biết gì nữa, thưa ngài. Mọi chứng cứ đang ở đáy biển.
- Biển, - Denmiris lầu bầu, - biển quái ác.
- Chúng ta trước hết làm đơn khiếu nại hãng bảo hiểm chứ?
- Thật là khó mà lo mọi việc như vậy khi mọi người can đảm của chúng ta đã mất mạng rồi - nhưng được, trước hết phải làm đơn khiếu nại.
Ông ta muốn giữ cái lọ làm bộ sưu tầm của mình.
- Bây giờ đã đến lúc phải trừng phạt cái thằng anh vợ của mình!
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 18 -
Spyros Lambrous vô cùng sốt ruột, đang đợi tin tức Constantin Denmiris bị bắt. Ông mở radio phát liên tục trong phòng làm việc, và đọc lướt tất cả các tờ báo hàng ngày tìm mọi tin tức. Ta sắp nghe được một tin gì đó ngay đây thôi, Lambrous nghĩ. Cảnh sát đã bắt Denmiris lúc này đây.
Khi mà Tony Rozzoli báo Spyros rằng Denmiris lên tàu Thele và sắp nhổ neo, Lambrous đã thông báo ngay cho hải quan Mỹ - một cách nặc danh, về việc đó.
Bây giờ thì họ đã bắt được nó rồi. Sao báo chí không loan ngay chuyện này nhỉ?
Điện thoại riêng của ông nheo nhéo.
- Ông Denmiris đang đợi ông nói chuyện ở đường dây số hai.
- Có ai gọi ông Denmiris à?
- Không ạ, thưa ông Lambrous. Chính ông Denmiris đang ở đầu dây.
Câu nói đó như một dòng nước làm ông lạnh toát cả người.
- Không thể thế được.
Như bị điện giật, Lambrous nhấc ống nghe:
- Costa?
- Spyros - Tiếng Denmiris rất vui vẻ. - Mọi việc thế nào?
- Tốt, tốt cả. Anh ở đâu đấy?
- Ở Anthens. Hôm nay ăn trưa nhé? Rỗi chứ?
Lambrous có cuộc hẹn trưa quan trọng.
- Ừ, hay đấy.
- Tốt, chúng ta sẽ gặp nhau ở câu lạc bộ. Hai giờ nhé!
Lambrous đặt ống nghe xuống, tay anh đã run lên.
Nhân danh thượng đế, sự việc lại có thể đổi thay thế được ư? Thôi, ông sẽ thấy đầy đủ mọi việc đã xảy ra ngay thôi.
Constantin Denmiris làm cho Spyros phải đợi tới ba mươi phút, và cuối cùng khi đến, ông nói vội.
- Xin lỗi, tôi bị trễ!
- Không sao.
Spyros dò xét Denmiris cẩn thận, cố tìm xem có dấu hiệu gì về kinh nghiệm mà ông ta vừa phải trải qua không. Không có gì khác.
- Tôi đói quá. - Denmiris nói rất vui vẻ.
- Anh thế nào?
- Xem thực đơn hôm nay có cái gì nào. - Ông lướt nhìn một lượt tờ thực đơn. - À Stridia. Anh có muốn bắt đầu bằng món sò không, Spyros?
- Không tôi không thích món đó. - Ông ta chẳng còn thấy gì là ngon miệng.
Denmiris đang làm như rất vui, và Lambrous thì có linh tính rất nhạy.
Khi họ đã đặt món ăn, Denmiris nói:
- Tôi phải cám ơn anh, Spyros ạ!
- Về cái gì? - Spyros nhìn có vẻ như muốn gây chuyện.
- Về cái gì ấy hả? Vì anh đã gửi cho tôi một ông khách hàng tốt: ông Rozzoli.
Lambrous lau mép.
- Cậu… cậu đã gặp phải hắn?
- Ồ vâng. Hắn bảo đảm với tôi rằng chúng tôi sẽ cùng làm ăn nhiều vụ trong tương lai. - Denmiris thở dài.
- Tuy vậy, tôi e rằng ông Rozzoli không có nhiều vụ trong tương lai nữa!
Giọng Constantin Denmiris như rắn lại:
- Điều tôi muốn nói là Tony Rozzoli đã chết!
- Sao? Điều gì đã xảy ra?
- Hắn bị một tai nạn, Spyros à! - Ông nhìn vào mắt ông anh vợ. - Đó là con đường cho thằng nào cố tình lừa dối tôi, là bị một tai nạn.
- Tôi… tôi không hiểu. Cậu…
- Không hiểu? Anh đã cố tiêu diệt tôi. Anh thất bại rồi. Tôi hứa với anh, nếu anh thôi không làm thế nữa, sẽ tốt hơn cho anh!
- Tôi… tôi không hiểu cậu đang nói gì cả?
- Anh không hiểu à, Spyros? - Constantin Denmiris cười:
- Anh sẽ hiểu ngay thôi. Nhưng trước hết, tôi sẽ tiêu diệt em gái anh.
Món sò mang đến.
- À, - Denmiris nói, - Trông ngon quá. Anh thích chứ?
Sau đó, Constantin Denmiris rất thoả mãn về lần gặp đó, Spyros Lambrous là một con người hoàn toàn mất hết đạo lý. Denmiris biết Lambrous đã quý trọng em gái mình như thế nào và Denmiris có ý định trừng phạt cả hai.
Nhưng có vài điều mà ông ta phải chú ý đến trước tiên. Catherine Alexander. Nàng đã gọi điện cho ông sau cái chết của Kirk, gần như là bị chứng hitstery.
- Thật là khủng khiếp!
- Tôi thực có lỗi, Catherine à. Tôi biết cô đã mến Kirk như thế nào. Thật là một mất mát lớn cho cả chúng ta.
Ta phải thay đổi kế hoạch, Denmiris nghĩ. Không còn thời gian cho việc Rafina bây giờ. Sự việc tồi quá. Chỉ có Catherine là sợi dây nối còn lại giữa ta và những gì đã xảy ra cho Noelle Page và Larry Douglas. Để nàng sống lâu quá là một sai lầm. Chừng nào mà nàng còn sống thì có thể có người chứng minh được những việc Denmiris đã làm. Nhưng với cái chết của nàng, ông ta sẽ được hoàn toàn yên thân.
Nhấc điện thoại ở bàn làm việc và quay số. Khi có tiếng trả lời, Denmiris nói.
- Thứ hai này tôi sẽ ở Cửu Long. Đến đó nhé. - Và đặt ống nghe xuống không đợi lời đáp.
***
Hai người đã gặp lại nhau trong ngôi nhà hoang vắng, mà chủ nhân của nó là Denmiris ở thành phố nhiều bức tường này.
- Phải như một tai nạn. Anh có thể bố trí được như thế không? - Constantin Denmiris hỏi.
Đó là một điều sỉ nhục. Hắn cảm thấy tức giận sôi lên. Đó là một câu hỏi mà ông ta có thể hỏi những tên đâm thuê chém mướn bắt gặp ngoài phố. Hắn định trả lời đầy ác ý: Ồ, tôi nghĩ có thể làm được việc đó. Ông có muốn một tai nạn trong nhà? Tôi có thể bố trí cho cô ta rớt cầu thang máy gãy cổ chết. Như người vũ nữ ở Marseilles. Hay, cô ấy đã quá chán và chết đuối trong bồn tắm. Như người nữ thừa kế ở Gstuad. Cô ta có thể quá liều heroin. Hắn đưa ra ba cách đó. Hay cô ta có thể chết lịm trên gi.ường với một điếu thuốc cháy dở. Thám tử Thuỵ Điển ở khách sạn bên bờ sông ở Paris. Hoặc, có thể ông thích một kiểu gì đó ngoài trời? Tôi có thể bố trí một tai nạn xe cộ, một vụ máy bay rơi, hay một vụ mất tích ngoài biển.
Nhưng rồi hắn lại chẳng nói những điều đó, vì thật sự hắn sợ người ngồi trước mặt hắn. Hắn đã nghe nói quá nhiều chuyện lạnh cả người về con người này và hắn có nhiều lý do để tin vào những chuyện đó.
Rồi hắn chỉ nói: "Vâng, thưa ông, tôi có thể bố trí một tai nạn. Không một ai biết được cả". Ngay khi hắn nói những lời đó, một ý nghĩ thoáng qua trong đầu hắn: Thằng cha này hiểu rằng ta sẽ biết. Hắn đợi. Hắn còn nghe thấy những tiếng ồn ào ngoài phố qua cửa sổ, và cả những giọng the thé và khàn khàn bằng nhiều thứ tiếng của những dân cư của thành phố nhiều bức tường này.
Denmiris đang dò xét hắn với con mắt lạnh lùng và trơ như những mảnh chai vỡ.
Khi hắn đã nói xong, người đàn ông nói.
- Rất tốt. Tôi sẽ để tuỳ anh quyết định về phương pháp.
- Vâng, thưa ông. Thế đối tượng đang ở đây, ở Cửu Long này?
- London. - Tên cô ấy là Catherine. Catherine Alexander. Cô ta đang làm trong văn phòng của tôi ở London.
- Sẽ giúp cho tôi nhiều nếu tôi được giới thiệu về cô ấy. Bằng cách theo dõi nội bộ.
Denmiris nghĩ một lúc.
- Tôi đang cho một đoàn các cán bộ điều hành đến London tuần tới. Tôi sẽ bố trí cho anh có mặt trong một bữa tiệc. - Ông dướn người về phía trước và nói nhỏ, - Còn một điều nữa.
- Dạ vâng, thưa ông.
- Tôi không muốn một ai có thể nhận ra th.ân thể cô ta.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 19 -
Constantin Denmiris đang gọi điện thoại.
- Xin chào, Catherine. Cô thấy hôm nay thế nào?
- Tốt, cám ơn Costa?
- Cô thấy có khỏe hơn không?
- Vâng ạ.
- Tốt. Tôi rất vui mừng được biết cô khỏe hơn, tôi đã cử một đoàn các cán bộ điều hành của công ty chúng ta sang London để nghiên cứu về các hoạt động ở đấy. Tôi rất muốn cô giúp đỡ và quan tâm tới họ.
- Tôi rất sung sướng. Khi nào họ sẽ đến?
- Sáng mai.
- Tôi sẽ làm mọi việc hết khả năng của tôi.
- Tôi biết tôi có thể nhờ cậy nơi cô. Cám ơn. Catherine!
- Chúc mừng ông!
- Tạm biệt, Catherine.
Đường dây nói bị ngắt.
Thế là xong! Denmiris ngồi dựa lưng vào ghế suy nghĩ. Với việc Catherine Alexander đi nốt không còn đầu mối nào có thể gỡ ra được nữa. Bây giờ, ông có thể tập trung chú ý đến vợ ông và ông anh của cô.
- Tối nay, chúng ta sẽ có bữa tiệc. Một số cán bộ điều hành ở văn phòng. Tôi muốn em làm bà chủ của bữa tiệc.
Đã lâu lắm rồi kể từ ngày nàng làm bà chủ tiệc cho chồng. Melina cảm thấy phấn khởi và hăng hái. Có lẽ đây là một biến đổi.
Bữa cơm tối đó chẳng có việc gì đặc biệt cả. Ba người đàn ông đến, ăn tối và về. Bữa tiệc đó chỉ là để che đậy một cái gì mờ ám.
Melina chỉ được giới thiệu chiếu lệ với mấy người đàn ông và ngồi đó, trong khi chồng nàng nói chuyện và nàng còn nhớ Costa hôm đó có sức thu hút như thế nào. Anh ta kể những chuyện vui và khen ngợi họ quá đáng, họ thích thú với những lời khen đó. Họ như được hiện diện bởi một vĩ nhân, và họ tỏ ra rằng họ biết rõ điều đó. Melina chẳng có dịp nào để nói, mỗi khi nàng nói một điều gì thì Costa lại ngắt lời, sau cùng, nàng chỉ ngồi đó yên lặng.
- Sao anh ấy lại muốn ta có mặt ở đó? Melina thắc mắc.
Và cuối buổi, khi mọi người đã ra về, Denmiris nói:
- Em sẽ phải bay đi London sáng sớm ngày mai. Anh chắc chắn là em sẽ rất chu đáo với mọi việc cần phải làm ở đó.
Và họ đã đi.
Đoàn cán bộ đến London sáng hôm sau. Có ba người, tất cả đều khác nhau về quốc tịch.
Một người Mỹ, Jerry Haley, cao, thuộc loại người cơ bắp, có bộ mặt c.ởi mở, thân mật và đôi mắt xám màu đá. Anh ta có bàn tay rất to mà Catherine chưa bao giờ thấy ai thế. Đối với họ, nàng là người rất quyến rũ. Họ như có cuộc sống của riêng họ, trơ về cảm xúc, nhưng lại tỏ ra mềm mỏng và say sưa, do vậy họ rất hăm hở muốn làm một việc gì đó.
Một người Pháp, Yres Renard, tương phản hoàn toàn với Haley. Anh này lùn và mập. Nét đặc biệt của anh này là keo kiệt, và anh ta có con mắt lạnh lùng, dò xét như muốn nhìn thấu tim Catherine. Anh ta tỏ ra nhũn nhặn và kín đáo. Cảnh giác là từ theo Catherine nhận xét.
Nhưng cảnh giác gì? Catherine không hiểu.
Người thứ ba của đoàn là Dino Mattusi. Hắn là người Ý rất c.ởi mở, thân mật và dễ mến, sự quyến rũ của hắn rò rỉ ra qua từng chi tiết nhỏ nhặt.
- Ông Denmiris rất đề cao cô, - Mattusi nói.
- Đó chỉ là một điều tâng bốc!
- Ông ấy nói cô sắp quản lý chúng tôi ở London. Đây, tôi mang một quà tặng nhỏ cho cô!
Hắn đưa Catherine một hộp nhỏ có nhãn Hermès trên hộp. Bên trong là một khăn quàng bằng lụa rất đẹp.
- Cám ơn, - Catherine nói. - Cái này có lẽ anh phải bận tâm lắm! - Cô nhìn sang các người khác. Tôi xin đưa các anh thăm các phòng làm việc.
Sau lưng họ tự nhiên có vật gì rơi vỡ. Cả bọn quay lại.
Một thằng bé con đứng ngây ra đó, mất hết can đảm đang nhìn vào cái hộp mà nó vừa đánh rơi. Nó đang mang ba cái vali. Thằng bé trông khoảng độ mười lăm tuổi và bé nhỏ so với tuổi của nó. Nó có bộ tóc nâu xoắn tít và đôi mắt xanh sáng, trông cu cậu mảnh khảnh.
- Lạy chúa, - Renard nói luôn. - Cẩn thận với các đồ đạc này cháu nhé?
- Cháu xin lỗi, - thằng bé nói nghiêm nghị. - Tha lỗi cho cháu. Cháu để cái vali này ở đâu ạ?
Renard nói vẻ sốt ruột, - Để đâu cũng được. Chúng tao lấy sau!
Catherine nhìn thằng bé như muốn hỏi. Evenlyn giải thích:
- Nó mới thôi việc làm ở văn phòng Anthens. Và ở đây tôi cần nó để sai vặt.
- Tên em là gì? - Catherine hỏi.
- Atanas Stavich, thưa madam. - Nó nói gần như khóc.
- Được, Atanas. Có một buồng phía sau, cháu có thể để các vali ở đó. Cô muốn thấy các vali đó được trông nom cẩn thận!
Thằng bé nói rất biết ơn:
- Cám ơn, madam!
Catherine quay lại phía mấy người đàn ông.
- Ông Denmiris nói rằng các anh sẽ nghiên cứu hoạt động ở đây. Tôi sẽ giúp các anh bằng mọi cách tôi có thể làm được. Nếu có điều gì các anh cần, tôi sẽ cố gắng giải quyết. Bây giờ, xin quý vị đi theo tôi, tôi sẽ giới thiệu quý vị Wim và các cán bộ văn phòng.
Khi họ đi xuống hành lang Catherine dừng lại để giới thiệu. Họ tới văn phòng của Wim.
- Wim, đây là đoàn cán bộ ông Denmiris cử tới. Xin giới thiệu Yres Renard, Dino Mattusi và Jerry Haley. Các anh ấy vừa từ Hy Lạp sang.
Wim nhìn họ:
- Hy Lạp có dân số bảy triệu sáu trăm và ba mươi ngàn. - Mọi người nhìn nhau và không hiểu.
Catherine cười thầm. Họ cũng có cùng phản ứng với Wim đúng như cô khi lần đầu gặp anh ta.
- Tôi đã chuẩn bị văn phòng làm việc của các anh. - Catherine nói với bọn đàn ông. - Xin các anh theo tôi ạ!
Khi họ ra ngoài hành lang, Jerry Haley hỏi.
- Cái thằng cha này là thế nào? Có người nói hắn ở đây rất quan trọng.
- Anh ta là Wim - Catherine trấn an Haley - Wim theo dõi vấn đề tài chính của các ngành quan trọng khác nhau.
- Tôi muốn để hắn theo dõi con mèo của tôi, - Haley nói giọng mũi.
- Có lúc nào đó, các anh sẽ hiểu anh ta hơn…
- Tôi không muốn được hiểu hơn về anh ta! - người Pháp làu bàu.
- Tôi đã sắp xếp các khách sạn cho các anh, - Catherine nói với cả nhóm. - Tôi hiểu mỗi anh muốn ở khách sạn khác nhau.
- Đúng thế, - Mattusi trả lời.
Catherine lúc đầu không định như vậy, nhưng rồi sau lại quyết định thôi. Đó không phải là công việc. Sao họ lại muốn chọn ở tại các khách sạn khác nhau.
Mattusi nhìn Catherine và suy nghĩ. Cô ta đẹp hơn là tôi tưởng. Điều đó làm cho công việc thích thú hơn. Và cô đang bị đau buồn. Tôi có thể đọc được điều đó ở trong đôi mắt cô. Tôi sẽ dạy cô ta làm sao bỏ được những nỗi buồn đau. Chúng ta sẽ vui cùng nhau. Và khi tôi đã làm xong việc với cô ấy tôi sẽ đưa cô ấy đến nơi không còn có đau khổ nữa. Cô ta sẽ đến Maker hay Baker. Tôi sẽ vui với điều đó. Tôi sẽ rất vui với điều đó.
Catherine chỉ cho mọi người các văn phòng làm việc khác và khi họ đã vào các phòng đó, cô quay lại bàn làm việc của mình. Từ hành lang nàng nghe được người Pháp đang la mắng thằng bé con.
- Đây không phải là cái valy của tao, thằng ngốc ạ. Cái của tao mầu nâu cơ. Mầu nâu? Mày có hiểu tiếng Anh không?
- Dạ, thưa ngài. Tôi xin lỗi ngài. - Giọng của nó đầy sợ hãi.
Ta phải ra để giải quyết việc này, Catherine nghĩ.
Evenlyn Kaye nói:
- Nếu cô cần giúp gì về đoàn này, tôi sẵn sàng ở đây.
- Tôi cám ơn và chú trọng điều chị nói, Evenlyn. Tôi sẽ báo chị.
Mấy phút sau, Atanas Stavich đi qua phòng của Catherine. Cô gọi nó vào:
- Em vào đây một lúc, vào đi.
Thằng bé nhìn cô, sợ hãi biểu hiện ra mặt.
- Thưa vâng, madam - Nó bước vào nhìn ngang, nhìn ngửa như thể sắp bị đánh.
- Đóng cửa lại đi!
- Dạ vâng, Madam!
- Ngồi đi, Atanas, tên em là Atanas, phải không?
- Dạ vâng, madam!
Cô cố gắng làm cho nó thoải mái, nhưng không được.
- Không việc gì mà em phải sợ hãi thế cả.
- Không ạ, madam!
Catherine ngồi đó, xem xét thằng bé, không hiểu có điều gì khủng khiếp đã làm cho nó sợ sệt như vậy. Cô quyết định tìm hiểu thêm về quá khứ của nó.
- Atanas, nếu có ai ở đây làm em khó chịu, hoặc có ý nói gì em, tôi muốn em đến với tôi. Em có hiểu không?
- Vâng, Madam! - Nó nuốt nước bọt.
Nhưng cô không hiểu liệu nó có đủ nghị lực để đến với cô hay không. Có người nào, ở đâu đã làm hỏng tinh thần của nó.
- Chúng ta sẽ nói chuyện sau nhé! - Catherine nói.
Bản tóm tắt của đoàn cho thấy họ đã làm việc ở nhiều ngành trong vương quốc rải rác của Constantin Denmiris, do vậy họ có nhiều kinh nghiệm trong phạm vi tổ chức. Có một điều làm đau đầu Catherine nhất là tay người Ý rất đáng mến Dino Mattusi. Anh hay bỏ bom Catherine bằng các câu hỏi mà anh có thể biết câu trả lời là gì, và anh ta tỏ ra không cần quan tâm nhiều đến việc tìm hiểu các hoạt động ở London, thực tế là anh ta chú ý đến công ty và chỉ chú ý đến đời tư của Catherine.
- Cô có chồng chưa? - Mattusi hỏi.
- Không!
- Nhưng chắc cô cũng đã kết hôn?
- Vâng!
- Đã ly dị à?
Cô muốn kết thúc câu chuyện.
- Tôi là goá phụ!
Mattusi cười cô:
- Tôi cuộc với cô đã có một người bạn trai. Cô hiểu tôi muốn nói gì?
- Tôi hiểu anh muốn nói gì, - Catherine nói cứng rắn. - Và đấy không phải là việc của các anh. Các anh đã lấy vợ chưa?
- Si si! Tôi đã có vợ và bốn bambini xinh đẹp. Chúng ít gần vì tôi hay xa nhà.
- Ông có đi nhiều nơi không, ông Mattusi?
Anh ta thoáng có vẻ chạnh lòng.
- Dino, Dino. Ông Mattusi là tên bố tôi. Vâng, tôi đã đi nhiều. - Anh ta cười Catherine và hạ thấp giọng. - Nhưng đôi khi đi đây đó có thể mang lại những vui thích cực kỳ. Cô biết tôi muốn nói gì?
Catherine lặp lại nụ cười trước.
- Không.
***
Trưa hôm đó vào lúc 12h15, Catherine đến theo hẹn với Bác sĩ Hamilton. Nàng rất ngạc nhiên, là rất mong được gặp Hamilton. Nàng còn nhớ lần trước nàng bực bội như thế nào khi đến gặp ông. Lần này, nàng bước vào văn phòng trong lòng tràn đầy cảm giác vui thích. Người tiếp đón đi ăn trưa và cửa phòng bác sĩ mở. Alan Hamilton đang đợi nàng.
- Vào đi - ông chào đón nàng như vậy.
Catherine bước vào phòng và ông chỉ một cái ghế.
- Tốt. Tuần vừa qua cô tốt chứ?
Có phải là một tuần lễ tốt không? Không thực là vậy. Nàng vẫn không thể quên được cái chết của Kirk Reynolds.
- Tuần qua ổn cả. Tôi… tôi bận quá.
- Như vậy rất có lợi. Cô đã làm cho Constantin Denmiris bao lâu nay rồi?
- Bốn tháng!
- Cô có thích công việc không?
- Công việc làm đầu óc tôi lúc nào cũng bận rộn. Tôi ơn ông Denmiris nhiều. Tôi có thể nói với ông, ông ấy đã làm nhiều việc cho tôi. - Catherine cười vẻ luyến tiếc. - Nhưng tôi cho rằng, tôi sẽ đền đáp lại, liệu tôi có làm được không?
Alan Hamilton lắc đầu.
- Cô chỉ nên nói với tôi cái gì cô muốn nói.
Yên lặng. Cuối cùng nàng phá tan sự yên lặng đó.
- Chồng tôi đã từng làm việc cho ông Denmiris. Anh là phi công của ông ấy. Tôi… tôi đã bị một tai nạn đắm thuyền và tôi đã mất hết trí nhớ. Khi tôi lấy lại được trí nhớ, ông Denmiris đã cho tôi việc làm.
Tôi đã hết đau buồn và sợ hãi. Có phải là ta ngượng nếu nói với ông ấy là chúng ta cố tình giết hại ta? Điều đó có phải là ta sợ ông ấy nghĩ rằng ta tầm thường quá!
- Không dễ dàng gì cho chúng ta khi nói về quá khứ của mình.
Catherine nhìn ông, yên lặng.
- Cô nói cô mất trí nhớ?
- Vâng.
- Cô bị tai nạn đắm thuyền!
- Vâng.
Môi Catherine cứng lại, vì nàng quyết định nói với ông càng ít càng tốt. Nàng bị dày vò bởi những mâu thuẫn khủng khiếp. Nàng muốn nói với ông mọi điều và nhờ ông giúp. Nhưng nàng cũng chẳng muốn nói với ông điều gì, những cái đã là cõi riêng tư của mình.
Alan Hamilton xem xét nàng và hỏi:
- Cô đã ly dị chưa?
- Vâng. Bởi cuộc xử bắn - Anh ấy đã bị… chồng tôi bị chết.
- Cô Alexander… - Ông do dự. - Cô có phật ý nếu tôi gọi cô là Catherine?
- Không.
- Tôi là Alan. Catherine, cô sợ hãi điều gì?
Nàng ngây người ra.
- Ai bảo ông tôi sợ?
- Có phải thế không?
- Không - Lần này yên lặng kéo dài hơn.
Nàng sợ cả nói lên thành lời, sợ cả đưa sự thực ra ánh sáng.
- Những người xung quanh tôi… như là chết hết.
Nếu ông được rút lui ý kiến, ông sẽ không nói thế.
- Và cô tin rằng cô là nguyên nhân của những cái chết?
- Vâng. Không. Tôi không biết. Tôi bị… lẫn lộn cả.
- Chúng ta thường tự trách mình về những điều đã xảy ra với người khác. Nếu một người chồng và một người vợ ly dị nhau, các con cái nghĩ chúng có trách nhiệm. Nếu một ai hành hạ một người và người đó chết, người đó nghĩ mình là nguyên nhân cái chết đó. Cái niềm tin kiểu đó không phải là không bình thường. Có…
- Còn hơn thế.
- Thế ư? - ông ngắm nhìn cô, sẵn sàng lắng nghe.
Những lời lẽ tuôn ra:
- Chồng tôi đã bị giết, và cả người tình của anh ấy nữa. Hai luật sư bảo vệ họ cũng bị chết. Và bây giờ… - Giọng nàng đứt quãng. - Kirk.
- Và cô nghĩ cô chịu trách nhiệm đối với cái chết đó. Đó là một gánh quá nặng đè lên vai cô, có phải thế không?
- Tôi… tôi như có một cái gì đó không may trong tình cảm. Tôi sợ có q.uan hệ với người đàn ông khác nữa. Tôi không nghĩ rằng tôi có thể sống thế này mãi nếu không có một…
- Catherine, cô có biết cô có trách nhiệm với cuộc sống của ai không? Cuộc sống của cô. Không vì cuộc sống của ai khác. Cô không thể quản lý cuộc sống và cái chết của bất cứ ai. Cô ngây thơ quá. Cô chẳng cần phải làm gì với bất kỳ cái chết nào của những ngưđi đó. Cô phải hiểu điều đó.
Cô ngây thơ quá. Cô chẳng cần phải làm gì với bất kỳ cái chết vào của những người đó. Catherine đã ngồi đó suy nghĩ về những lời nói ấy. Nàng muốn tìm những điều ấy một cách tuyệt vọng. Những người đã chết vì hành động của họ không phải tại cô. Và đối với Kirk, đó là một tai nạn không may. Có phải thế không?
Alan Hamilton ngắm nhìn nàng yên lặng. Catherine nhìn lên và nghĩ, ông ta là một người khiêm tốn. Một tư tưởng khác lại chợt nảy ra trong ý nghĩ nàng. Giá được gặp ông sớm hơn. Thật có tội, Catherine liếc nhìn khung ảnh vợ Aìan và con trên bàn cà phê.
- Cám ơn, - Catherine nói. - Tôi… tôi sẽ cố tin những điều đó. Tôi đã quen với ý nghĩ cũ.
Alan Hamilton cười:
- Chúng ta cùng nhau quen với điều mới ấy. Cô có đến đây nữa không?
- Cái gì!
- Đây là một cách thủ, cô nhớ không? Cô sắp phải quyết định, liệu cô có nên tiếp tục đến đây?
Catherine không do dự:
- Có chứ, tôi sẽ quay lại, Alan.
Khi nàng đã đi. Alan Hamilton ngồi nghĩ về nàng. Ông đã điêù trị nhiều bệnh nhân rất quyến rũ trong nhiều năm ông hành nghề, và một số họ đã thể hiện sự quan tâm đến t.ình d.ục nơi ông. Nhưng ông là một nhà tâm lý học quá tốt để không cho phép mình bị cám dỗ.
q.uan hệ cá nhân với bệnh nhân là một điều cấm kỵ trong nghề nghiệp của ông. Đó là một sự phản bội.
Bác sĩ Alan Hamilton có một truyền thống gia đình làm thầy thuốc. Cha ông là một bác sĩ giải phẫu đã cưới một cô y tá, và ông của Alan là một nhà tim học nổi tiếng.
Khi ông còn là một cậu con trai bé bỏng. Alan đã biết sau anh sẽ thành bác sĩ. Một nhà giải phẫu như cha anh. Ông đã học trường y King College, và sau khi tốt nghiệp, ông đã chuyển sang nghiên cứu giải phẫu.
Ông có nh.ạy cảm tự nhiên về nghề nghiệp, một tay nghề không phải do ai dạy. Và rồi, ngày 1 tháng chín 1939, quân đội đế chế đệ tam hành quân qua biên giới Ba Lan, và hai ngày sau Anh và Pháp đã tuyên chiến.
Đại chiến thế giới thứ hai bắt đầu.
Alan Hamilton đầu đơn tham gia làm bác sĩ giải phẫu.
Vào ngày 22 tháng sáu năm 1940, sau khi các lực lượng trục phát xít đã chinh phục được Ba Lan, Nauy, và Hà Lan, Pháp đầu hàng, sức mạnh của quả đấm chiến tranh lại rơi xuống các quần đảo Anh.
Trước hết, một trăm máy bay trong một ngày đã bỏ bom xuống các thành phố Anh Quốc. Rồi lên đến hai trăm chiếc mỗi ngày, rồi một nghìn chiếc. Chết chóc trên sức tưởng tượng. Đâu đâu cũng có người bị thương. Các thành phố đều bị bốc lửa. Nhưng Hitler đã đánh giá nhầm nước Anh. Các cuộc tiến công đó chỉ làm tăng thêm sự quyết tâm của họ. Họ sẵn sàng chết cho nền tự do của mình.
Không có ngày hay đêm nào được nghỉ ngơi, và Alan Hamilton tự thấy phải tiếp tục không được ngủ để làm việc có khi liên tục suốt sáu mươi giờ đồng hồ. Khi bệnh viện cấp cứu ông làm việc bị bỏ bom, ông chuyển những bệnh nhân sang nhà kho. Ông đã cứu không biết bao nhiêu mạng sống, đã làm việc trong những điều kiện có nhiều rủi ro nhất.
Tháng Mười, khi ở đỉnh cao cuộc ném bom, những tiếng còi phòng không rú lên, và mọi người phải chui vào những hầm trú ẩn ngầm dưới đất. Alan đang còn mổ dở một ca phẫu thuật và anh từ chối bỏ bệnh nhân một mình.
Bom nổ gần hơn. Một bác sĩ làm cùng Alan nói:
- Hãy xa lánh ngay địa ngục.
- Đợi một phút. - Ông đã mở lồng ngực bệnh nhân và lấy ra một mảnh đạn đầy m.áu.
- Alan!
Nhưng ông không thể rời được. Ông tập trung vào việc đang làm, không để ý đến tiếng bom xung quanh. Ông không nghe thấy cả tiếng bom rơi vào chính ngôi nhà.
Ông bị mê man trong sáu ngày, và khi ông tỉnh, ông mới biết cùng những vết thương khác, xương của bàn tay đã bị dập nát. Các mảnh xương đã được sắp lại và trông nay bình thường nhưng ông không bao giờ còn mổ được nữa.
Phải mất đến một năm để vượt qua cơn sốc về tinh thần do tương lai ông không còn gì nữa. Ông được một nhà tâm lý học chăm sóc, một bác sĩ không thuộc loại vô tâm nói:
- Đã đến lúc anh không cảm thấy đau khổ về chính anh và anh có thể tiếp tục sống với cuộc sống của anh.
- Làm gì? - Alan cay đắng hỏi.
- Làm những gì mà anh đã làm - chỉ có theo một cách khác.
- Tôi không hiểu.
- Anh là một thầy thuốc, Alan. Anh đã cứu nhiều người. Tốt, nhưng nay anh không thể làm việc đó được nữa. Nhưng còn một việc rất quan trọng là cứu tâm tư con người. Anh phải làm một nhà tâm lý học tốt. Anh thông minh và hăng say. Hãy nghĩ về đó đi.
Ý kiến đó đã thành một quyết định đáng quý nhất của ông và ông đã làm được. Theo một nghĩa khác, ông còn cảm thấy công việc của ông nay thoả mãn hơn, bệnh nhân đang sống trong tuyệt vọng trở về cuộc sống bình thường, còn có ý nghĩa hơn là quan tâm tới các lợi ích vật chất của họ. Sự nổi tiếng của ông vang xa rất nhanh, và ba năm qua, ông đã phải từ chối bệnh nhân mới. Ông đã đồng ý chỉ xem cho Catherine. Nhưng ở nàng có một cái gì đã tác động vào ông. Ta phải giúp cô ấy.
Khi Catherine trở về phòng làm việc, sau buổi gặp Alan Hamilton, nàng đến thăm Wim.
- Hôm nay tôi gặp Bác sĩ Hamilton, - Catherine nói.
- Thế à? Trong việc điều chỉnh lại tâm lý xã hội, các mức thang chết vợ là 100, ly dị 73, ly thân với chồng là 65, bị bỏ tù 63, chết cùng những người thân trong gia đình 63, bị thương hay ốm 53, cưới xin 50, chết cháy khi làm việc là 4…
Catherine đứng đó lắng nghe. Phải làm như thế nào, nàng tự hỏi, chỉ nghĩ về những từ toán học? Không biết người khác là một con người, không có ai thực là bạn mình. Ta cảm thấy đã tìm được một người bạn mới, Catherine nghĩ vậy.
Ta không hiểu ông ta đã cưới vợ bao lâu rồi.
 
Top