manh hoi uc
Thành viên
- Tham gia
- 14/4/2025
- Bài viết
- 28
Ngồi một mình trong căn phòng trọ, nghe tiếng mưa rơi lộp độp bên ngoài, tôi khóc ròng. Không phải vì ai làm tôi tổn thương, không phải vì thất tình hay thất nghiệp gì đâu. Tôi khóc vì một ông lão đánh cá tên Tư Mến (truyện ngắn mưa trôi ánh đèn khuya) – người tôi chưa bao giờ gặp, sống ở một làng chài xa xôi nào đó mà tôi chẳng biết có thật hay không.
Khóc kiểu trong lòng như có cái gì vỡ ra. Như hồi nhỏ, lần đầu xa nhà, nằm trên chiếc gi.ường lạ mà nhớ mẹ đến nghẹn cả họng. Như hôm đưa ba đi viện, nhìn lưng ba gù xuống trên xe cấp cứu mà biết có những thứ không bao giờ quay lại được nữa.
Tôi không biết giải thích sao. Chỉ biết ngồi khóc, để nước mắt chảy xuôi, rồi lau đi, rồi lại chảy. Ngoài kia mưa vẫn rơi. Trong này tôi vẫn khóc. Và trong đầu cứ hiện lên hình ảnh một ông lão gầy gò, đứng giữa cây cầu gỗ nhỏ, mắt nhìn những đứa trẻ đi học, rồi mỉm cười.
Ba tôi cũng có đôi mắt như thế
Ông Tư Mến năm mươi ba tuổi. Ba mươi tám năm lênh đênh với biển. Người ta kể – đôi mắt ông mang màu của nước biển. Xanh ngắt vào những ngày nắng đẹp. Xám xịt khi giông bão kéo về. Và đôi khi, hiếm lắm, lấp lánh như mặt biển dưới ánh trăng khi ông nhìn đứa cháu ngoại cười.Tôi nghĩ về ba tôi. Ba cũng năm mươi mấy tuổi. Cũng một đời làm ruộng, đánh cá ven bờ những ngày không có mùa. Ba cũng có đôi mắt như thế – sáng lên khi nhìn tôi về quê, rồi lại tối ngầu, rồi quay đi làm việc, không nói gì thêm.
Ba không bao giờ nói yêu thương. Nhưng hồi tôi lên thành phố học, đêm trước khi đi, tôi thấy ba ngồi một mình ngoài hiên, hút thuốc lào. Ngọn đèn dầu leo lắt. Khói thuốc bốc lên mỏng manh. Ba ngồi im, không nói gì. Sáng hôm sau, trong ba lô tôi có một túi nhỏ đựng đầy tiền lẻ – ba vợ chồng bán mấy tấn sắn mới đủ cái túi tiền ấy.
Tôi không hỏi. Ba không nói. Cứ thế, con đi, cha ở lại.
Giờ nghĩ lại, chắc ông Tư Mến cũng như ba tôi. Những người đàn ông ấy không biết nói. Họ chỉ biết làm. Cho đi một cách lặng lẽ, không đòi hỏi gì, thậm chí không mong được biết ơn.
Làng Vạn Ngư – một chỗ mà tôi chưa đến nhưng như đã về
Người ta kể về làng Vạn Ngư. Sáu mươi ba hộ dân. Nhà lợp ngói âm dương đã ngả màu rêu phong. Những chiếc thuyền gỗ cũ kỹ đậu sát bờ. Những tấm lưới vá đi vá lại không biết bao nhiêu lần. Dừa nghiêng mình chịu gió biển quanh năm.Tôi chưa từng đến làng Vạn Ngư. Nhưng tôi biết làng ấy. Vì quê tôi cũng thế. Cũng những căn nhà gỗ thấp lè tè. Cũng mùi tanh của biển, mùi ẩm của nhà cũ, mùi khói bếp khi trời sắp tối. Cũng những ông lão ngồi vá lưới dưới hiên nhà, ngón tay chai sần, mắt nheo nheo vì nắng và tuổi tác.
Nhà ông Tư Mến nằm ở cuối làng, gần con suối. Ba gian gỗ đơn sơ. Bên hiên có chiếc võng đan bằng dây thừng tàu đã bạc màu. Tôi tưởng tượng ông nằm đó những buổi chiều, nhìn ra suối, nghe nước chảy róc rách. Rồi đứng dậy – tiếng xương khớp kêu lục cục – để vá lưới dưới ánh đèn dầu.
Cái đời của những người đàn ông như ông Tư Mến – nó không có gì to tát cả. Chỉ là thức dậy mỗi sáng, ra biển, về bờ, vá lưới, rồi ngủ. Ngày này qua ngày khác. Năm này sang năm kia. Cho đến khi lưng còng xuống, tay run run, không còn sức kéo lưới nữa.
Nhưng trong cái đời đơn điệu ấy, vẫn có những khoảnh khắc làm thay đổi tất cả.
Hai đứa trẻ bên bờ suối
Trưa hôm ấy – một ngày nắng rực rỡ – ông Tư Mến ngồi vá lưới. Nghe tiếng khóc của một đứa trẻ vọng lại từ phía suối. Ông ngẩng đầu nhìn.Một cô bé chừng tám tuổi đứng bên bờ suối, khóc. Bên cạnh là cậu bé lớn hơn một chút, đang cố an ủi em mình. Hai đứa trẻ trong bộ đồng phục học sinh còn mới. Đôi chân trần bám đầy bùn đất đỏ.
Ông Tư Mến buông lưới xuống. Đứng dậy – tiếng xương khớp kêo lục cục. Đi về phía hai đứa trẻ.
"Để chú cõng các cháu qua nhé."
Chỉ thế thôi. Một câu nói bình thường. Nhưng từ câu nói ấy, toàn bộ cuộc đời ông Tư Mến bắt đầu xoay chiều.
Ông cõng cô bé qua suối. Rồi quay lại cõng cậu bé. Nước lên đến giữa bắp chân ông. Ông dò từng bước chân, tránh những viên đá trơn dưới đáy suối. Cẩn thận như cõng đứa con của mình.
Đưa hai anh em sang bờ bên kia an toàn, ông hỏi: "Hôm nào nước lớn, các cháu ghé qua nhà chú, chú sẽ cõng qua suối cho."
Hai đứa trẻ gật đầu, rồi chạy về phía làng. Ông đứng nhìn theo, lâu lắm.
Tôi không biết ông nghĩ gì lúc ấy. Chỉ biết đêm hôm đó, ông không ngủ được. Nằm thao thức, nghe tiếng sóng biển vỗ bờ, tiếng nước suối chảy. Trong đầu cứ nghĩ mãi về những đứa trẻ phải lội qua dòng nước mỗi ngày. Nhất là vào những ngày mưa lũ. Nhất là khi nước lên cao.
"Giá mà có một cây cầu nhỏ bắc qua đoạn suối này..."
Ông thầm nghĩ như thế. Rồi ngồi dậy, với tay lấy chiếc đèn dầu, bước đến chiếc rương gỗ dưới gầm gi.ường.
Chiếc hộp sắt và những tờ tiền nhàu nát
Tôi tưởng tượng cái cảnh ấy mãi không thôi.Một căn phòng tối. Ngọn đèn dầu leo lắt. Ông lão ngồi bên chiếc rương gỗ cũ. Mở ra. Lấy ra một chiếc hộp sắt nhỏ, đã hoen gỉ.
Trong hộp là số tiền ông dành dụm được suốt đời. Những tờ giấy bạc cũ đã nhàu nát vì đếm đi đếm lại nhiều lần. Không nhiều. Chỉ vừa đủ để sống qua một hai năm nếu ông không còn sức ra biển.
Ông đổ số tiền ra. Đếm từng tờ. Dưới ánh đèn vàng vọt, những ngón tay chai sần run run.
"Chắc vẫn chưa đủ."
Ông lẩm bẩm. Rồi nghĩ – nếu bán chiếc thuyền thì sao?
Chiếc thuyền là tất cả của ông. Là phương tiện kiếm ăn duy nhất. Bán nó đi thì ông sống bằng gì? Nhưng rồi hình ảnh những đứa trẻ phải lội qua dòng suối lại hiện về. Đặc biệt là vào những ngày mưa lũ.
Ông ngồi đó suốt đêm. Đèn dầu cháy hết. Trời sáng. Quyết định đã chín muồi trong lòng.
Tôi không biết phải mất bao nhiêu sự đau đớn mới đưa ra được một quyết định như thế. Nhưng tôi biết – có những quyết định làm thay đổi cả cuộc đời, và ông Tư Mến đã đưa ra một quyết định như thế.
Tin bán thuyền lan khắp làng
Ông Tư Mến bán thuyền.Tin này lan nhanh trong làng nhỏ. Mọi người ngỡ ngàng. Hai Đực – người bạn chài lưới lâu năm – chạy đến hỏi:
"Sao anh lại bán thuyền?"
Lúc đầu ông nói dối. "Tôi già rồi, không muốn ra khơi nữa."
Nhưng Hai Đực vẫn thắc mắc: "Vậy anh sẽ làm gì để sống?"
Cuối cùng ông phải nói thật. "Tôi muốn xây một cây cầu qua suối Vạn. Để tụi nhỏ trong làng không phải lội suối đi học nữa."
Hai Đực nhìn ông như thể ông vừa nói một điều điên rồ. "Anh điên à?"
"Không phải điên. Tôi già rồi, không còn sống được bao lâu nữa. Tiền bạc đem theo không được, chi bằng để lại cái gì đó có ích cho đời."
Tôi nhớ câu này mãi. Nhớ đến giờ này, ngồi gõ những dòng chữ này, tôi vẫn thấy nước mắt cứ trào ra.
Tiền bạc đem theo không được.
Chi bằng để lại cái gì đó có ích cho đời.
Một câu nói đơn giản như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta dám nói và dám làm?
Những ngày xây cầu
Mọi người trong làng cùng nhau góp sức. Năm Thịnh – người thợ mộc – tình nguyện không lấy công. Hai Đực và mấy ông ngư dân khác cũng đóng góp tiền. Chủ tịch xã hứa vận động nguồn kinh phí từ ngân sách.Công việc bắt đầu một ngày đẹp trời cuối tháng tám. Kéo gỗ từ rừng về. Đào móng. Đóng cọc. Lát ván.
Ông Tư Mến – dù đã lớn tuổi – vẫn tham gia vào mọi công đoạn. Ông kéo gỗ. Ông vác đá. Ông đóng đinh. Dưới cái nắng gay gắt, cơn đau lưng dữ dội, nhưng ông không bao giờ than vãn.
Đôi khi ông phải ngồi nghỉ giữa chừng. Thở dốc. Massage bắp chân tê cứng. Rồi lại đứng dậy. Làm tiếp.
Trong đôi mắt ông – đôi mắt đã ngấn đục vì tuổi già – ánh lên niềm vui mỗi khi nhìn thấy cây cầu dần hiện ra hình dáng.
Tôi không biết mô tả cái niềm vui ấy ra sao. Chỉ biết đó là loại niềm vui mà người ta chỉ có được khi làm điều gì đó lớn hơn bản thân mình. Lớn hơn cuộc đời mình. Lớn hơn cả cái chết.
Cơn ho ra máu
Mùa đông năm ấy đến sớm. Lạnh hơn mọi năm. Ông Tư Mến bắt đầu ho. Ho dữ dội. Rồi ho ra máu.Khi cơn ho dứt, ông nhìn xuống bàn tay. Thấy vài vết máu tươi. Ông giật mình. Rồi lau vết máu vào tà áo. Tự nhủ – chắc tại thời tiết lạnh quá thôi.
Nhưng những cơn ho ngày càng thường xuyên. Đôi khi giữa đêm khuya, ông phải ngồi dậy, ôm ngực, cố kìm tiếng ho để không làm phiền hàng xóm.
Ông biết mình bệnh. Nhưng ông không đi khám. Vì tiền khám bệnh tốn kém. Vì mỗi đồng còn lại đều quý giá cho công trình cầu.
Tôi đọc đoạn này mà muốn hét lên – ông ơi, đi khám đi! Nhưng rồi tôi im. Vì tôi biết ông sẽ không đi đâu. Ông chỉ muốn một điều – nhìn thấy cây cầu hoàn thành.
Ngày cây cầu hoàn thành
Vào một buổi chiều đầu tháng năm, Năm Thịnh đóng chiếc đinh cuối cùng. Tiếng búa vang lên trong nắng chiều. Tiếng reo hò vang khắp làng.Ông Tư Mến đứng bên bờ suối. Nhìn cây cầu gỗ bắc qua dòng nước. Nó không hoành tráng. Chỉ là một cây cầu nhỏ bằng gỗ, rộng chừng hai mét, dài khoảng mười lăm mét. Nhưng với ông, nó đẹp hơn bất cứ thứ gì trên đời.
"Mời bác đi qua cầu trước tiên."
Ông bước lên những tấm ván gỗ mới. Đôi chân già nua run rẩy. Mỗi bước đi như nặng trĩu cả trọng lượng của thời gian. Khi đến giữa cầu, ông dừng lại. Quay nhìn về phía làng.
Mọi người đang đứng đó. Mỉm cười với ông.
"Cảm ơn mọi người. Cảm ơn vì đã giúp tôi thực hiện ước mơ này."
Giọng ông nghẹn ngào. Nước mắt chảy dài trên má.
Tôi viết đến đây mà tôi cũng khóc theo. Tôi thấy hình ảnh một ông lão gầy gò, đứng giữa cây cầu mình vừa xây, khóc. Không phải khóc buồn. Mà khóc vì hạnh phúc. Hạnh phúc vì đã làm được điều mình muốn.
Ba tháng sau
Ba tháng sau khi cây cầu hoàn thành, ông Tư Mến nằm liệt gi.ường. Ung thư phổi giai đoạn cuối. Bác sĩ nói ông còn sống được sáu tháng.Con trai ông – Minh – từ thành phố về. Thấy cha nằm trên gi.ường, gầy rộc, Minh khóc như một đứa trẻ.
"Ba, sao ba không cho con biết?"
Ông Tư Mến mỉm cười. "Con đến rồi à... Ba vẫn khỏe mà."
Hai cha con nói chuyện. Về chiếc thuyền. Về cây cầu. Về cuộc đời.
"Chiếc thuyền đó đã theo ba nhiều năm, nhưng cuối cùng nó cũng đã tìm được bến đỗ của mình."
Tôi nhớ câu này. Nhớ mãi. Chiếc thuyền tìm được bến đỗ – không phải ở đâu xa, mà ngay tại làng Vạn Ngư, biến thành một cây cầu cho lũ trẻ đi học.
Buổi sáng cuối cùng
Một buổi sáng đẹp trời, ông Tư Mến tỉnh táo hơn hẳn. Ông bảo Minh đỡ mình ngồi dậy. Nhìn ra cửa sổ.Từ đó, ông thấy cây cầu. Thấy những đứa trẻ trong bộ đồng phục trắng tinh đang đi qua cầu. Tiếng cười của chúng vang lên, hòa với tiếng nước chảy.
"Con thấy đó. Đó là di sản của ba."
Rồi ông nằm xuống. Nói với Minh: "Khi ba đi rồi, con đừng buồn. Ba đã sống một đời tốt đẹp, và ba mãn nguyện với những gì mình đã làm."
Ông ra đi trong bình yên. Như một ngọn đèn nhỏ tắt lịm.
Tôi viết đến đây thì không viết nữa được. Ngồi khóc. Khóc ròng. Không biết khóc cho ai, khóc cho cái gì.
Có lẽ khóc cho ông Tư Mến. Có lẽ khóc cho ba tôi. Có lẽ khóc cho tất cả những người đàn ông như thế – sống lặng lẽ, cho đi hết mình, rồi ra đi không một lời than vãn.
![Tập thể dục cho mắt một tẹo rồi đọc tiếp hen^^ [separate]](https://kenhsinhvien.vn/images/misc/separate.gif)
Trời đã sáng hẳn. Ngoài kia xe cộ nhộn nhịp. Tôi vẫn ngồi đây. Trong lòng vẫn còn cái gì đó buồn buồn, trống trống.
Nhưng cũng ấm. Vì đã được biết một người như ông Tư Mến từng tồn tại. Vì biết rằng – dù nghèo khó, dù bệnh tật, con người vẫn có thể sống đẹp. Vẫn có thể để lại điều gì đó có ý nghĩa.
Và cây cầu ấy – tôi chưa nhìn thấy bao giờ – nhưng tôi biết nó vẫn đứng đó. Vững chãi. Nối hai bờ suối. Để những đứa trẻ mỗi sáng đi qua, cười đùa, không biết rằng dưới chân chúng là máu thịt của một ông lão đã bán cả mạch sống để xây nên nó...