*Sống - chết*

Trong chuyên mục 'Lời hay ý đẹp' đăng bởi mai_lady, 20/2/2013. — 7.834 Lượt xem

  1. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    *Sống - chết*

    SỐNG​


    Sống không giận không hờn không oán trách
    Sống mỉm cười với thử thách chông gai
    Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai
    Sống chan hoà với những người chung sống
    Sống là động nhưng lòng luôn bất động
    Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
    Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
    Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.​

    THÀNH NGỮ THỜI MỞ CỬA

    1, Dạy con trẻ vạn lời hay, không bằng nửa ngày làm gương, làm mẫu.
    2, Cha mẹ biết cho, chẳng biết đòi, con cái thích vòi mà không biết trả.
    3, Cha mẹ dạy điều hay, con lại kêu lắm lời, con bước chân vào đời ngớ nga ngớ ngẩn.
    4, Cha mẹ ngồi đấy không hỏi, không han, bước vào cơ quan: Cúi chào thủ tướng.
    5, Khôn thì đừng cãi người già, chớ có dại mà chửi nhau với người trẻ.

    6, Mỗi cây mỗi hoa, đừng trách cha mẹ nghèo tiền, nghèo của.
    7, Cái gì cũng cho con tất cả, coi chừng ra mả mà ... cười.
    8, Ngồi bia bọt hàng giờ, dễ hơn đợi chờ nửa giây đèn đỏ.
    9, Củi mục khó đun, chồng cùn sống bậy, con cái mất dạy ... phí cả một đời.
    10, "Vĩnh biệt" nhau, nửa giờ sau thoải mái, nhưng còn con cái biết quẳng vào đâu?

    11, Hay thì ở, dở ra tòa, chia cửa, chia nhà ... con vào ... xóm bụi.
    12, Đi có bạn đường, chân không biết mỏi, con có mẹ cha sao không hỏi khi cần?
    13, Giỗ cha coi nhẹ, nuôi mẹ thì không, cả vợ lẫn chồng đi làm từ thiện ?!
    14, Cha mẹ còn thơm thảo bát canh rau, đừng để mai sau, khoe mồ kheo mả.
    15, Ở đời bất thiện là tại nhàn cư, con cháu mới hư, đừng cho là ... hỏng.
     


    haidanghdtv, sakura9991, mai_lady5 bạn khác thích điều này.


  2. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    TỐT ĐỜI ĐẸP ĐẠO

    * Không có một đấng sáng tạo, hay vị thần linh nào có quyền năng ban phúc hay giáng họa lên cuộc sống con người tất cả do chính con người làm chủ.

    * Đức Phật nói: "Tin ta mà không hiểu ta, là phỉ báng ta." Xưa cũng như nay, ta chỉ noi rõ sự khổ và cách diệt khổ.

    * Chúng ta chỉ nên tin theo một khi sự thực tập phương pháp ấy mang lại hiệu quả thiết thực trong đời sống của ta, cho ta nhiều an lạc và hạnh phúc.

    * Nguồn gốc đưa chúng sinh đọa vào các cõi thấp chính là tâm sân hận và tâm oán ghét, tuyệt đối không được xoay lưng lại với tình yêu thương.

    * Tại sao có sự sai khác chẳng đồng? Vì chúng sinh tạo nghiệp không đống nên cảm quả khác biệt. Ví như chết cũng là trả nghiệp mà có 4 kiểu:
    - Chết do thiên tai vô tình hay bệnh già chết: lũ lụt, sét đánh, tai nạn, ...
    - Chết do oan gia trái chủ: kiếp trước giết nó giờ nó tới đòi mạng, thời phải trả.
    - Chết do đến lúc phải trả mạng gặp phải kẻ tạo nghiệp: Ví dụ, kẻ bắn chết hàng loạt, trong đó có những người không có oán thù gì với kẻ sát nhân, nhưng đến lúc mạng tận, thời phải chết chung.
    - Chết do oan gia nhưng người đòi mạng không cố ý: Chính là trường hợp ngộ sát (vô tình gây chết người).

    * Cầu nguyện có được giải thoát không?
    - Không có năng lực nào vượt qua nghiệp lực. Ví như tảng đá ngàn cẳo dưới vực, tất cả dân làng xúm lại cầu cho tảng đá nổi lên, ông nghĩ độ bao lâu thì có kết quả?

    - Thưa không thể được

    - Cũng vậy, sát đạo dâm vọng là những nghiệp nặng chỉ có "sám hối" mới giải thoát, không thể nhờ cầu nguyện mà lên.

    - Lại có người đổ một thùng dầu lênh láng trên mặt sông. Cả làng tới cầu nguyện, độ bao năm tháng thì dầu chìm?

    - Thưa không thể được.

    Cũng vậy, người tu thập thiện tái sanh lên trời. Không thể dùng cầu nguyện để kéo họ tuột xuống ác đạo. Này Tu Đạt, nhẹ bay lên, nặng rớt xuống là định luật

    * Sám hối là gì? Có 2 nghĩa:
    1, Xin lỗi
    2, Sau không phạm lỗi đó nữa.
    Thường những nghiệp liên quan tới vật chất rất khó sám hối mà hết tội, trừ phi trả hết. Ví dụ, một kẻ cắp mà mang trả lại đủ tài vật thời xin lỗi sẽ được tha, nhưng nếu chỉ xin lỗi suông thì ...

    * Đỉnh cao của sự sám hối là khi ta gặp bất kì nạn gì như câm, ngọng, bất hạnh, đó, ... thời đều nguyện tất cả chúng sinh không bị gặp phải nạn giống ta.
     
    mai_ladyOjzojoj caigjco thích điều này.
  3. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    * Hạnh phúc là gì?
    Sống ít muốn biết đủ, thân tâm bình an, không lo toan muộn phiền, ăn ngon ngủ yên. Loại bỏ hết khổ đau, tu tập các pháp lành.

    * Thế nào là người có phước đức?
    Người đủ ăn đủ mặc
    Là người có phước đức
    Hằng ngày ít bực bội
    Nhờ vậy mà dễ tu.

    * Gieo bòn phước đức?
    Hãy xa dời nghiệp ác
    Hãy phát triển hạnh lành
    Trở thành con người tốt
    Trí tuệ đức đều vẹn toàn.

    * Tu là gì?
    Tu là sửa đổi thân - miệng -ý trở lên thuần thiện. Thời muốn tu được đạo hiếu phải cho lên hàng đầu. Là con thì phải chăm sóc bố mẹ lúc ốm đau, về già. Đó là nghĩa, nghĩa thì phải nên làm.

    * Ma chướng là gì?
    Tất cả nhưng điều gì gây cho thân tâm ta phiền não, không vui đều là ma.

    * Ở đâu có chánh pháp? Đức Phật không nói đạo của ta là chánh, mà ngài nói: Ở đâu dạy mọi người tránh tất cả ác, làm tất cả thiện là đường chánh.

    ÁP DỤNG VÀO CUỘC SỐNG

    10 nghiệp thiện

    1, Không sát sanh: Từ bi, không sát hại, sẽ được khỏe mạnh, trường thọ.
    2, Không trộm cắp: Ngay thẳng không lấy của người sẽ được giàu sang, an ổn.
    3, Không tà dâm: Không quan hệ bất chính, sẽ được xinh đẹp, hạnh phúc.

    4, Không nói dối: Chân thật, không dối gạt, sẽ được uy thế tiếng tăm.
    5, Không thêu dệt: Trung thực, không xảo ngôn, sẽ được mọi người kính mến.
    6, Không đâm thọc: Hòa hợp, không nói lời ly gián, sẽ được nhiều người ủng hộ.
    7, Không nói thô ác: Hòa nhã, không cay nghiệt, không thô tục, sẽ được cao sang.

    8, Không xan tham: Rộng rãi thí xả, sẽ được vô lượng phước báo.
    9, Không sân hận: Từ hòa nhẫn nại, sẽ được vô lượng duyên lành.
    10, Không si mê: Sáng suốt, tỉnh giác sẽ được vô lượng trí tuệ.
     
    mai_lady thích điều này.
  4. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    10 điều tâm niệm

    1, Nghĩ đến thân thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sinh.
    2, Ở đời đừng cầu không hoạn nạn vì không hoạn nạn thì kiêu ngạo nổi dậy.
    3, Cứu xét tâm linh thì đừng cầu không khúc mắc vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

    4, Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không ma chướng thì trí nguyện không kiên cường.
    5, Việc làm đừng mong dễ thành vì việc dễ thành lòng khinh thường kiêu mạn.
    6, Giao thiệp đừng cầu lợi vì cầu lợi mình thì mất đạo nghĩa.
    7, Vời người thì đừng cầu tất cả thuận theo ý mình, vì nếu vậy sẽ sinh lòng kiêu căng

    8, Thí ân đừng cầu đền đáp vì cầu đền đáp là thí ân có mưu dò.
    9, Thấy lợi thì đừng nhúng vào vì nhúng vào thì si mê phải độc (bị lừa).
    10, Oan ức không cần biện bạch vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

    12 giáo pháp

    1, Cung kính đồng phạm hạnh, biết tuổi hạ cao thấp để đối xử cho phải lẽ. Biết vị này là trưởng lão để tôn trọng và đảnh lễ.
    2, Đừng chiếm chỗ ngồi của các vị lớn. Đừng đuổi người nhỏ để đòi chỗ ngồi.
    3, Khất thực đừng đi quá sớm về quá trưa. Đừng la cà ghé các nhà thiện tín, đừng qua lại nhiều với giới tại gia.
    4, Đừng đến nhà thiện tín trước và sau bữa ăn. Trước bữa ăn là đến chầu chực. Sau bữa ăn khiến người mất giấc ngủ trưa.

    5, Nói năng điềm đạm, đừng phù phiếm tạp nhạp, oai nghi tề chỉnh, tự chế chân tay.
    6, Mềm mỏng dịu dàng, đừng cứng đầu, không bao giờ biểu hiện một ác nhỏ. Làm sao chứng tỏ mình là một bạn lành.
    7, Phòng hộ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), tiết độ ăn uống ngủ nghỉ, thiểu dục tri túc (ít muốn thì thường lạc)
    8, Không dễ duôi buông xuôi biếng nhác.

    9, Chú tâm cảnh giác, không thất niệm, có thiền định.
    10, Luôn luôn chánh niệm, tỉnh giác quán chiếu năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
    11, Pháp và Luật phải học cho thông thuộc.
    12, Thành tựu thắng tri. Pháp tịch tịnh, giải thoát vượt khỏi sắc và vô sắc pháp.

    Đủ 12 pháp này, chư Hiền đi đến đâu cũng là bóng mát cho chư thiên và loài người nương tựa.

    Nguyện ngày an lành, đêm an lành
    Đêm ngày sáu thời thường an lành
    Tất cả các thời đều an lành.​
     
    mai_lady thích điều này.
  5. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Phát triển tứ vô lượng tâm: Từ - Bi - Hỷ - Xả.
    Tam học: Giới - Định - Tuệ.
    Lục độ: Bố thí - Trì giới - Nhẫn nhục - Tinh tấn - Thiền Định - Trí tuệ.

    1, Niềm tin

    Một lần đang đi khất thực ngang qua cánh đồng ở làng Ekanala, Phật và các vị khất sĩ bị một nông dân chặn đường. Nông dân này tên là Bharadvaja. Ông là một nhà triệu phú. Ông có hàng ngàn mẫu ruộng. Đây là mùa cày ruộng, ông đang đốc thúc dân cày đi cày. Có hàng trăm người đang cày ruộng cho ông trong ngày hôm đó. Chận đường Phật và các vị khất sĩ, ông nói:

    - Chúng tôi là nông dân, chúng tôi phải cày sâu cuốc bẫm, gieo trồng, bỏ phân, chăm bón và gặt hái mới có được gạo ăn. Còn các vị không làm gì cả, không sản xuất gì hết mà các vị cũng ăn. Các vị không có lợi ích gì cho đời cả. Các vị không cày, không cuốc, không gieo trồng, không bỏ phân, không chăm bón, không gặt hái…

    Phật bảo Bharadvaja:
    - Có chứ, chúng tôi cũng có cày, cuốc, gieo trồng, bỏ phân, chăm bón và gặt hái.
    - Cày của quý vị đâu, cuốc của quý vị đâu, bò của các vị đâu, hạt giống của các vị đâu? Các vị chăm bón cái gì, săn sóc cái gì, gặt hái cái gì?

    Phật nói:
    - Hạt giống chúng tôi là niềm tin. Đất của chúng tôi là chân tâm. Cày của chúng tôi là chánh niệm. Bò của chúng tôi là sự tinh tiến. Mùa màng của chúng tôi là sự hiểu biết và thương yêu. Điền chủ! Nếu không có niềm tin, sự hiểu biết và lòng thương yêu thì cuộc đời sẽ khô cằn và đau khổ lắm. Chúng tôi cũng gieo trồng và cũng gặt hái như điền chủ.

    Vị chủ ruộng rất thích thú được nghe lời Phật nói. Ông truyền gia nhân đem thức ăn trưa dành cho ông ta tới để cúng dường Phật. Thức ăn là cơm gạo thơm nấu với sữa. Phật từ chối.

    Người nói:
    - Tôi thuyết pháp không phải với mục đích là được cúng dường. Các vị khất sĩ không đánh đổi giáo pháp với phẩm vật cúng dường. Nếu điền chủ muốn cúng dường, xin để đến hôm khác.

    2, Chửi mắng và lời dạy của đức Phật

    Một lần, Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn, Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo… sau chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh , họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:

    - Cù-đàm có điếc không?

    - Ta không điếc.

    - Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

    - Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

    - Quà ấy về tôi chứ ai.

    - Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

    => Đọc xong truyện 2 chúng ta rút ra được những gì???

    * Người kêu tên Phật chửi mà Ngài không nhận. Còn chúng ta , những lời nói bóng, nói gió ở đâu đâu cũng lắng tai nghe, để buồn để giận. Chúng ta tu là tập theo gương Phật, mọi tật xấu của mình phải bỏ, những hành động lời nói không tốt của người, đừng quan tâm. như thế mới được an vui.

    Trong kinh, Phật ví dụ người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận lời mắng chửi đó thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rơi xuống ngay mặt người phun.

    * Có một chi tiết mà có lẽ ít người để ý, đó là “Ta không điếc!“. Không điếc, tức là vẫn nghe được, nhưng Ngài không thọ nhận. Phải có trí tuệ và lòng từ bi, hãy biết trả lời đúng lúc đúng chỗ, trả lời khi cần thiết giúp cho người khác có thể nhận ra được đúng sai. Giúp họ sống tốt hơn, đó là cách trọn vẹ "tu". Và chắc chắn một điều răng, nếu bạn làm điều đó. Bạn sẽ cảm thấy thanh thản thật sự, vì bạn không chỉ tạo được sự an vui cho chính mình mà còn tạo được sự an vui cho người khác.

    3, Nhẫn trong dòng đời

    Video Clip này được chèn từ YouTube. Bạn có thể xem trên các trình duyệt có hỗ trợ HTML5.


    4, Bình đẳng

    Ca Chiên Diên theo đức Phật, (ngài là 1 trong 10 vị đại dệ tử của Phật) tuyên bố chủ trương “Bình đẳng giữa 4 chủng tộc”. Điều ấy khiến những người thuộc dòng dõi Bà la môn vốn tự coi mình là cao quý nhất không chịu được.

    Vì vậy, hễ gặp cơ hội họ liền tìm Ca Chiên Diên chất vấn, họ nghĩ rằng, không triệt hạ Ca Chiên Diên thì các Bà la môn từ nay không cất đầu lên nổi.

    Tuy nhiên, nổi tiếng là người thông minh, tài trí và giỏi biện luận, Ca Chiên Diên khiến những người tìm tới chất vấn mình nhanh chóng phải khâm phục dù đó có là người quyền uy thế nào trong giới Bà la môn.

    Chuyện kể rằng, 1 hôm, khi Ca Chiên Diên đang ở nước Ba la nại cùng với các tỳ kheo học thọ thực trong trai đường thì có 1 Bà la môn, thuộc hàng trưởng thượng tìm tới khiêu chiến.

    Lão Bà la môn chống gậy bước vào, không nói không rằng đứng bên cạnh chỗ Ca Chiên Diên ngồi, ý ông ta tưởng rằng: Ông ta là bậc trưởng thượng, Ca Chiên Diên thấy ông ta đến thì phải sẽ đứng dậy nhường chỗ ngồi.

    Tuy nhiên, ngoài ý dự đoán của lão, Ca Chiên Diên chẳng thèm nhìn đến ông, lão Bà la môn đợi hồi lâu bèn nổi giận, lớn tiếng trách: “Các ngươi là giống gì?

    Đối với người già cả như ta tại sao không đứng dậy nhường ghế ngồi?” Các tỳ kheo có mặt tại trai đường sợ quá, nhiều người còn định đứng lên nhường chỗ cho lão Bà la môn ngồi.

    Tuy nhiên, Ca Chiên Diên thì vẫn không nao núng chút nào. Ông quay mặt nói với lão Bà la môn nọ: “Ông là người nào mà đến đây lớn tiếng ầm ĩ? Chúng tô có phép cung kính của chúng tô, nhưng mà ở đây không có ai là trưởng thượng và tiền bối”.

    Lão đạo sĩ Bà la môn nổi giận, quơ gậy chỉ vào cái đầu bạc của mình, nộ khí xung thiên la lên: “Già cả như lão đây không phải là trưởng thượng hả? Không đáng cho người cung kính hả?”

    “Ông ấy à? Ông không đáng gọi là già lão, cũng không đáng nhận sự cung kính của chúng tôi!”, Ca Chiên Diên nói một cách mỉa mai.

    “Tại sao ngươi khinh thường người khác quá vậy?”, lão Bà la môn nổi giận lôi đình, lấy gậy chỉ trỏ Ca Chiên Diên. Đối lại, Ca Chiên Diên rất điềm tĩnh, từ tốn nói:

    “Tôi thấy cử chỉ và lời nói của ông thô lỗ như thế, tôi mới nói ông không đáng gọi là người lớn, không đáng cho người ta kính trọng.

    Đừng kể là Bà la môn, dẫu cho 80, 90 tuổi, tóc bạc răng rụng mà không chân chính tu đạo, đắm chìm trong trần sắc, không bỏ được phiền não, tham sân tật đố, người đó chỉ đáng gọi là thiếu niên.

    Như các người tuổi trẻ 20 quanh đây, da dẻ còn tươi nhuận, đầu tóc đen nhánh, nhưng họ đã thoát khỏi sự trói buộc của ái dục, không còn tham cầu nơi thế gian, không có chút xíu ý niệm bất bình sân hận.

    Được như vậy, chúng ta mới gọi người đó là bậc trưởng thượng, là bậc lão túc, đáng được tất cả chúng ta cung kính”. Lão Bà la môn nghe nói xong, chẳng biết trả lời lại thế nào, làm thinh đi ra.

    Khuất phục 1 Bà la môn râu bạc, danh tiếng Ca Chiên Diên càng lớn, nhưng cũng từ đó, Ca Chiên Diên càng không có ngày nào được yên, bởi các giáo đồ Bà la môn càng không thể tha thứ cho ông.

    1 hôm, lại có 1 Bà la môn khác, rất giỏi biện luận, nghe nói Ca Chiên Diên đối với Bà la môn lão niên của họ chẳng những không cung kính mà còn bắt bẻ lại, ông Bà la môn này rất tức giận, từ xứ Câu thi ni la ở phía Bắc xa xôi hỏi thăm tìm đến chỗ của Ca Chiên Diên tại thành Ba la nại để khiêu chiến.

    Vừa tới nơi ông ta đã kêu đích danh Ca Chiên Diên mà hỏi: “Ca Chiên Diên! Tôi nghe người ta nói, Ca Chiên Diên là gốc Bà la môn, nay cải giáo làm sa môn (hòa thượng), có phải vậy chăng?”

    “Đúng vậy, ông xem tôi đang đắp ca sa đây”, Ca Chiên Diên bình tĩnh đáp lời.

    “Người phản bội tín ngưỡng của mình, lỗi nhiều ít?”, ông lão Bà la môn nọ chất vấn.

    “Từ bỏ tín ngưỡng tà chấp kia đi theo đạo lý quang minh chính tín này, không có lỗi gì cả!”, Ca Chiên Diên trả lời rất đanh thép.

    “Trong giới Bà la môn ông chẳng phải là hạng người vô danh tiểu tốt, ông đã từng nghiên cứu tinh thâm pháp điển của Bà la môn chúng ta, nay ông cải giáo theo Phật, chuyện đó chưa thể bỏ qua, mà ta còn nghe đồn ông hay giảng thuyết Phật pháp cho các Bà la môn để rủ rê họ theo mình, hành động ấy thật là vô lễ”, ông lão Bà la môn vẫn không thôi cật vấn.

    “Người đã đi qua, chỉ lại cho bạn đồng hành những chỗ lầm lạc của đoạn đường cũ, đó là lời dạy từ bi của đức Phật”, Ca Chiên Diên điềm tĩnh đáp.

    Được coi là 1 người giỏi ăn nói, thế nhưng gặp phải Ca Chiên Diên, ông Bà la môn này cũng chẳng làm gì được. Tuy nhiên, ông ta chưa chịu thua, nhớ đến mục đích của mình đến đây, bèn hỏi lại: “Ca Chiên Diên! Tôi lại hỏi ông điều này.

    Nghe nói Ca Chiên Diên làm tỳ kheo đã không cung kính bậc trưởng thượng của Bà la môn, không đứng dậy tiếp đón cũng không mời ngồi. Nếu quả như vậy, nếu ông tự cho là các tỳ kheo, không phải người theo Bà la môn cũng không được vô lễ như vậy”.

    Ca Chiên Diên thẳng thắn, chậm rãi đáp: “Ca Chiên Diên tôi từ khi quy y với Đức Phật, quả thật không cung kính phụng sự các lão túc Bà la môn, điều đó cũng hợp lý thôi, vì tôi đã chứng thánh quả. Ông đừng đem tuổi tác già trẻ mà đến đây chất vấn, lễ và pháp không thể lộn xộn được”.

    Lão Bà la môn nọ nghe lời biện luận khéo léo của Ca Chiên Diên, rốt cuộc thấy đuối lý không nói thêm được lời nào nữa.

    5, Lời nói hợp thời hợp pháp

    Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương Xá. Ngoại đạo Ni-kiền-tử sai vương tử Vô Úy đến luận chiến với đức Phật, trao sẵn cho câu hỏi và câu trả lời cho vô úy nghe

    "Đức Thế Tôn có bao giờ nói lời khiến người nghe không ưa thích chăng ?"

    - Nếu Như Lai trả lời "có" thì ngài đâu có khác gì phàm phu. Nếu đáp "không" thì vì sao Đề Bà Đạt Đa phẫn nộ phiền trách ngài? Như vậy sẽ làm sa-môn Cù - Đàm ( ngoại đạo gọi theo họ của thế tôn ) không trả lời được và vương tử sẽ được danh tiếng lớn.

    Thế rồi vương tử thỉnh Thế Tôn ngày mai thọ trai. Sau khi dùng cơm xong, vô úy đặt câu hỏi. Đức phật hỏi lại:

    - Này vương tử, phải chăng ở đây, câu hỏi có dụng ý một chiều?

    Vương tử đành nói thật dụng ý của câu hỏi có dụng ý 2 móc và nhấn mạnh vào việc đức Phật đã làm mất lòng Đề Bà Đạt Đa. Đức phật chỉ vào đứa bé đang ngồi trên dầu gối vương tử (con vô-úy):

    - Nếu đứa bé nhỏ này lỡ bị hóc xương cá thì vương tử phải làm gì?

    - Thì tôi phải móc chiếc xương ra cho bằng được. Nếu khó khăn thì tay trái tôi nắm đầu nó bắt ngửa mặt, tay phải lấy ngón tay móc xương ra, chảy máu bao nhiêu cũng chịu.

    - Vương tử biết rằng như thế nó đau lắm. Vương tử không thương nó sao?

    - Nó là cục ruột của tôi, sao lại không thương? Chính vì thương nó mới phải cứu sống nó bằng bất cứ giá nào.

    - Cũng vậy, này vương tử, những lời nói không chân thật - không hợp thời - không đúng với mục đích - khiến người nghe không được lợi ích, không vui mừng thì Như Lai không bao giờ nói. Cũng có khi lời nói chân thật - hợp thời - tương ưng với mục đích - nhưng người nghe không ưa thích, thì Như Lai nếu thấy cần thiết, vì lợi ích cho người ấy, vẫn phải nói. Bởi vì Như Lai thương yêu tất cả hữu tình.

    - Bạch Thế Tôn, những câu trả lời này ngài đã suy nghĩ trước hay là ứng đáp tại chỗ?

    - Nghe nói vương tử hằng để ý tới xe cộ và những xe của vương tử vẫn được vương tử chăm sóc từng bộ phận?

    - Thưa vâng, con rất thạo trong nghề xe cộ vì đã rất quen.

    - Vậy vương tử có phải xếp đặt sẵn câu trả lời để phòng lỡ có ai tới hỏi: "Bộ phận này của xe tên gì?"

    - Bạch Thế Tôn, có gì mà phải sắp xếp đặt trước.

    - Cũng vậy, này vương tử, bởi vì pháp giới ... Như Lai đã rõ biết nên mỗi khi có trí nhân tới hỏi, Như Lai cũng cứ chỗ đã biết mà trả lời.

    - Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, thật vi diệu thay! Con xin trọn đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

    6, Ngũ tân thu hút ngạ quỷ

    Trong kinh Lăng Nghiêm, đoạn đức Phật nói ba món tiệm thứ. Trước tiện, không ăn ngũ tân ( hành, hẹ, tỏi, nén, hung, cừ ). Vì tính chất chất của ngũ tân làm tăng tham dục và sân hận, ảnh hưởng của nó là quyến rũ ngạ quỷ, khiến chư thiên cùng thiện thần lánh xa. Nó hay làm cho mọi người phát sinh phiền não.

    Cách đây ít hôm, có người đến chỗ tôi, xưng là quỷ vương nói với thấy khác: "Tôi lên đây để đấu với Hòa Thượng, nếu Hòa thượng thua thì tất cả binh tướng của tôi sẽ chiếm chỗ này."

    Sáng hôm sau, tôi đang ngồi uống trà thuốc tam tài, thấy có một người đàn ông và một người đàn bà đến. Người đàn ông thì đứng chắp tay, còn người đàn bà thì uốn mình như rắn (có lẽ thuộc loài Ma-hầu-la-già tức rắn thần) rồi quỳ xuống lạy, lạy xong thì đi xuống. Tôi không để ý, sau thấy mấy thầy nói: họ đến chánh điện niệm Phật một ngày một đêm. Các thầy kể lại, đã hỏi họ: "Sao không thấy đấu với Hòa thượng mà quỳ lạy rồi đi xuống?"

    Người kia nói: "Tôi nhìn thấy Hòa thượng thì sợ quá nên quỳ xuống lạy chứ không dám làm gì hết." Tôi nói lại việc này để các huyanh đệ biết, mình sống ở đây, các loài ngạ quỷ hạng cao đầy rẫy. Cho nên Phật nói, nếu ăn ngũ tân sẽ ảnh hưởng tới các loài đó.

    7, Lâm chung

    Thời sắp chết nên thuyết một bài pháp ngắn và khuyên người niệm phật cầu vãng sanh, thoát khỏi sanh tử luân hồi:
    Ta không còn dính mắc với mắt, tai, mũi, lưỡi và làn da này. Cảm thọ trống rỗng vô chủ như bọt nước, hoa đốm, ảnh trong gương, trăng đáy nước. Cả đời ta đã ham cảm thọ như chó gặm xương khô. Nay ta không còn bị lừa bịp nữa. Ngươi không phải ta, không phải của ta.

    Những cái gọi là vừa lòng, êm ái, khoái lạc, ngon ngọt, thỏa thích, khả ái mà ta đã mê dính như cá mắc câu, như chim sa lưới.
    Nay đã biến thành đau nhức như kim châm, dao cứa, xương rụng, thịt tan. Ta biết rồi, tất cả chỉ là ảo ảnh, mê lầm thành đau khổ phiền não. Thân này hay thân khác đều chẳng phải ta. Thế giới này hay thế giới khác đều chẳng phải của ta. Ta quyết định chiến thắng, an định tinh thần, không sợ hãi, nhớ niệm đức A Di Đà Phật từ nay ta giải thoát.

    Thử hỏi từ lúc sinh ra tới giờ ta được những gì? Quanh năm suốt tháng theo đuổi gì đây? Vốn chỉ có một việc đó là thọ khổ, ngoài việc này ra chả làm gì cả. Thật đáng thương thay!

    Học Phật là sự hưởng thụ tối cao của đời người. Sống một kiếp người mà không biết tu thì xem như vứt đi, xem như vô dụng.

    CHẾT​


    Chết không sợ không buồn không luyến tiếc
    Chết mỉm cười trước cảnh nghịch chông gai
    Chết nhẹ nhàng như rụng cách hoa mai
    Chết tự tại với người đang sắp chết
    Chết là đi nhưng lại chẳng viễn ly
    Bước chân đi về với cõi Phật Di Đà
    Không sợ chết cũng không hề có chết.​
     
    ___key___mai_lady thích điều này.
  6. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Có Phật không?

    Đức vua hỏi:
    - Đại đức đã thấy Phật chưa?
    - Thưa chưa.
    - Thầy hoà thượng, thầy tiếp dẫn của đại đức đã thấy chưa?
    - Thưa, cũng chưa thấy.

    - Nếu thế thì rõ ràng không có Phật trên đời này, vì chính mắt đại đức không thấy mà các bậc thầy của đại đức cũng chẳng thấy.
    Ngài Na-tiên bèn hỏi:
    - Trên núi Hy-mã có một con sông tên Dhanadi, đại vương đã thấy chưa?
    - Thưa chưa.
    - Thế thì thân phụ và các bậc tiền bối của đại vương có thấy không?
    - Cũng chưa.

    - Vậy thì rõ ràng con sông Dhanadi là không có, vì ...
    - Thưa, quả là có con sông Dhanadi, vì mặc dù trẫm không thấy hay họ chưa thấy nhưng sách có ghi chép lại và những người đã thấy họ nói lại.
    - Cũng vậy, tâu đại vương! Bần tăng dù chưa thấy hay thầy của bần tăng cũng chưa thấy nhưng Đức Phật vẫn có, vì kinh sách, bia ký còn ghi chép sử tích và giáo pháp của ngài, lại còn nhiều vị Thánh tăng A-la-hán kể lại nữa.
    - Hay lắm.

    Tái sanh và vô sanh

    Đức vua hỏi:
    - Có ai chết rồi mà không sanh trở lại chăng?
    - Thưa, có kẻ sanh trở lại và có người không sanh trở lại.
    - Điều kiện nào để một người bị tái sanh? Và điều kiện nào để một người được vô sanh?

    - Tâu, người nào còn tham sân si, phiền não, người ấy còn tái sanh; người nào tiêu diệt được tham sân si, phiền não, người ấy sẽ vô sanh.
    Nghe trả lời vậy, đức vua lại đâm ra tò mò:
    - Vậy đại đức đã vô sanh chưa?
    - Tâu, nếu bần tăng còn phiền não, còn ham muốn sự sống thì bần tăng còn tái sanh; ngược lại, bần tăng sẽ vô sanh!
    Đức vua lại tán thán:
    - Tuyệt vời thay là cách trả lời của bậc trí tuệ!

    Sống đời xuất gia có gì là lợi ích?

    - Người xuất gia thường quán sanh, già, bệnh, chết nên sẽ thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối - là những lợi ích thù thắng đấy, tâu đại vương!
    - Đúng thế! Quả thật là lợi ích to lớn giữa cõi nhân sinh này. Còn có cái gì là cao thượng, thật sự cao thượng của người xuất gia, thưa đại đức?

    - Thưa, khi người xuất gia không còn bị sinh lão bệnh tử của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) chi phối nữa, vị ấy thân chứng một trạng thái quân bình tuyệt hảo, hạnh phúc tuyệt hảo; vượt cao, vượt trên tất cả hạnh phúc của trần thế! Đấy là sự cao thượng trên tất cả mọi sự cao thượng, tâu đại vương!

    Đức vua rất hoan hỷ hỏi tiếp:
    - Tất cả sa môn (người xuất gia) đều có nguyện vọng như thế sao?
    - Tâu đại vương! Cứu cánh sa môn hạnh thì như thế,nhưng trong hàng tăng lữ hiện có bảy hạng người xuất gia vì lý do khác nhau:

    1, Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
    2, Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý cao sang.
    3, Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
    4, Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh áo.

    5, Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
    6, Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
    7, Có người xuất gia vì sợ sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt khổ đau, phiền não.

    Thấy đại đức Na-tiên trả lời đâu ra đó rất rõ ràng, minh bạch, lại tự nhiên như hít thở khí trời; ngài phục lắm, thử ướm hỏi:
    - Vậy chắc chắn đại đức vì mục đích cao thượng của hạng người thứ bảy mà xuất gia làm sa môn?
    Đại đức Na-tiên mỉm cười gật đầu:
    - Thưa, không phải thế! Bần tăng rời khỏi gia đình lúc bảy tuổi, còn rất nhỏ thì nào biết gì! Sau dần lớn lên, nhờ Thầy tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hoá, trí óc mới khơi mở được chút ít. Hiện gờ có thể nói rằng bần tăng tu là cốt ý để diệt khổ, đấy không còn là lời nói dối nữa!
    - Ôi lành thay! Cao quý thay!
     
    mai_lady thích điều này.
  7. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Tiêu tiền thế nào cho đúng?

    Nếu tiêu không đúng khi hết phước, chẳng còn tiền mà tiêu. Điện nước cũng vậy. Đặc biệt bây giờ mọi người dùng nước rất thoải mái, nước mà sài vượt sự cần-đủ thời sau không có nước mà dùng.

    1, Trả tiền cho sinh hoạt: ăn uống, điện, nước, tiền học ...
    2, Mua những vật dụng thật sự cần thiết, đồ gì còn dùng được thì không nên mua mới.
    3, Tích trữ một phần phòng ốm đau, việc gấp.
    4, Giúp những người thật sự cần giúp: trẻ mồ côi, bệnh tật, các hoàn cảnh khó khăn, ...
    5, Đầu tư tiếp vào làm ăn, công việc.

    Trí tuệ?

    - Trí và tuệ khác nhau như thế nào, thưa đại đức?

    - Trí thuộc về nhận thức, kiến thức, hiểu biết; còn Tuệ là thấy rõ vô thường, khổ não, vô ngã. Trí là thông minh mà tuệ là sáng suốt, vậy nó khác nhau, tâu đại vương!

    - Thông minh và sáng suốt khác nhau sao?

    - Thông minh là học nhanh, hiểu nhanh, học một biết hai, có thể có kiến thức sâu rộng, nhưng nếu không biết tu tập có thể đi đến tà trí. Còn người sáng suốt thì tự biết tâm mình, có tu tập thấy rõ pháp; nó cũng được gọi là chánh trí hay chánh tuệ, tâu đại vương!

    - Người có được Tuẹ có thể biết mọi sự, mọi vật không, thưa đại đức?
    - Có điều biết, có điều không biết.
    - Tại sao?
    - Những gì có học thì biết, những gì không học thì không biết. Đơn giản có vậy. Trí thuộc phạm trù hiểu và biết, Tuệ thuộc về cái thấy không còn lầm lẫn như: vô thường cho là thường, vô ngã cho là ngã, khổ cho là lạc!

    - Vậy người có Trí còn si mê, lầm lẫn; người có Tuệ thì hết si mê, lầm lẫn?
    - Đúng vậy!

    Nỗi khổ của đời?

    Phật dạy: " oán ghét hội khổ, ái biệt li khổ "? Thời không chỉ nói con người với con người.
    * oán ghét hội khổ: phải ở với người mình ghét là khổ, ghét điều gì mà phải sống chung thời khổ. Ví dụ, ta mặt xấu đi, muốn đẹp nhưng lại không được đều khổ, ...
    * Ái biết li khổ: không chỉ yêu thương ko được đáp lại, như ta yêu thích điều gì không được đều khổ, ...
    Do vậy mà cần xả yêu thích, ít muốn biết đủ, tự nhiên an lạc.
     
    mai_lady thích điều này.
  8. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Tại sao có chiêm bao?

    1, do chất gió (phong đại)
    2, do mật tác động
    3, do đàm tác động
    4, do bệnh, nóng (sốt) hay lạnh (hàn) tác động
    5, do chư thiên, quỷ hay ma tác động
    6, những chủng tử có sẵn trong tâm do mình đã tạo từ quá khứ.

    Trong sáu nguyên nhân kể trên, chỉ có nguyên nhân thứ 6 là thật. Chiêm bao do nhân thứ sáu này tác động là chiêm bao có thật. Còn ngoài ra, các giấc chiêm bao khác do những nguyên nhân khác đều không thật.

    - Ý đại đức muốn nói, chiêm bao có thật này do cảnh, vật, người hay vụ việc mình đã tạo trữ từ trước hiện tồn trong dòng tâm hữu phần hay sao?
    - Tâu, đúng thế! Đúng là nó được tàng trữ trong hữu phần tâm. Tuy nhiên, nói tâm tạo ra nó thì không đúng, mà nói nó tự hiện ra cũng không phải.
    - Thưa đại đức! Đã bắt đầu khó hiểu rồi đây!

    - Không khó đâu, ví dụ là đại vương hiểu ngay. Ví như cái hình và bóng ở trong gương, nói cái gương tạo ra bóng là không được mà nói cái bóng tự nhiên hiện ra cũng không được. Tuy nhiên, muốn có bóng thì phải có hình, hình soi vào gương mới có bóng. Trước đây, chúng ta làm một việc gì đó (hình), việc đó lưu bóng ở trong tâm (gương). Chiêm bao chính là thấy lại cái bóng ấy ở trong gương. Đơn giản chỉ có vậy.

    - Thế thì lúc chiêm bao, người ấy ngủ hay thức?
    - Ngủ hay thức đều không chiêm bao. Nói rõ hơn, ngủ say quá hoặc tỉnh táo quá đều không thể chiêm bao được; chỉ khi nào nửa tỉnh, nửa mê, nghĩa là ngủ mà không say đắm, tỉnh nhưng mà mơ màng; chính là giữa trạng thái ấy, chiêm bao mới xuất hiện.
    - Vâng!

    Tương quan giữa phước và tội?

    Đức vua hỏi:
    - Trong hàng ngũ sa môn của Đại đức, có người thuyết rằng, có kẻ trọn đời làm ác nhưng đến khi lâm tử, họ tưởng nghĩ đến Phật, ân đức hoặc tướng hảo quang minh sáng chói của ngài thì có thể sanh lên cõi trời. Điều ấy thật khó tin! Lại nữa, các vị ấy còn thuyết rằng, người nào đã lỡ tạo nghiệp sát sanh, không cần nhiều lần chỉ một lần, phải bị đoạ địa ngục chẳng sai. Điều ấy lại càng không thể tin được!

    - Tâu đại vương! Đại vương nghĩ thế nào, nếu có người ném một viên đá nhỏ độ bằng hột bắp hay hột tiêu xuống mặt nước, viên đá ấy sẽ nổi hay chìm?

    - Chắc chắn phải chìm.
    - Nếu có một người chất vài trăm viên đá lớn vào một chiếc ghe rất to, có sức chở rất lớn - thì chìm không, Đại vương?
    - Thưa không.

    - Cũng vậy, là tội hay phước cùng sự tương quan giữa phước và tội, tâu Đại vương! Tương tự vậy có người làm việc ác, dù chỉ một lần, như giết sanh mạng loài hữu tình; thì ác nghiệp ấy có sức nặng đưa chúng sanh đầu thai vào cảnh giới đau khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la. Một người làm việc ác trọn đời nhưng nhờ tưởn nghĩ đến ân đức Phật, tâm người ấy trú vững chắc và hoan hỷ ở trong ân đức lớn ấy; nhờ vậy người ấy được sanh thiên cũng là điều hiển nhiên thôi.

    - Trẫm đã hiểu.
    - Lại nữa, Đức Thế Tôn còn dạy rằng: "Ghe dù lớn nhưng qua biển lớn, mà chở quá mức độ cho phép, ghe thuyền ấy sẽ bị chìm. Cũng vậy, thiện nghiệp nâng đỡ ác nghiệp, nhưng nếu ác nghiệp quá nặng, thiện nghiệp cũng sẽ bị chìm theo! Lại nữa, ghe thuyền ấy phải được vững chắc, kiên cố không rò rỉ; nếu rò rỉ, thấm nước thì phải tát cạn, phải bịt chặt lại. Cũng vậy, đừng để ác nghiệp xen vào nếu ác nghiệp xen vào tâm thì phải bịt chặt lại, tát cạn lần hồi ác nghiệp ấy đi. Nhờ vậy ghe, thuyền thiện pháp kia mới đến bến bờ an vui nhất định."

    - Trẫm không còn nghi ngờ gì về điều ấy nữa.

    * QUY Y TAM BẢO - THỌ TRÌ NGŨ GIỚI *

    Video Clip này được chèn từ YouTube. Bạn có thể xem trên các trình duyệt có hỗ trợ HTML5.

    Video Clip này được chèn từ YouTube. Bạn có thể xem trên các trình duyệt có hỗ trợ HTML5.

    Video Clip này được chèn từ YouTube. Bạn có thể xem trên các trình duyệt có hỗ trợ HTML5.
     
    mai_ladyhoatrangnguyen1908 thích điều này.
  9. mai_lady

    mai_lady past - present - future Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    2/3/2012
    Bài viết:
    4.934
    Lượt thích:
    2.564
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Thời gian tái sanh?

    - Thưa đại đức, ví dụ có hai người ở đây cùng chết, một người được sanh lên cõi trời phạm thiên, một người đầu thai vào xứ Kasmir kế cận đây, thế thì ai sẽ đến trước?

    - Cùng đến một lúc, tâu đại vương.
    - Xa gần không đồng nhau mà sao lại cùng đến một lượt, thưa đại đức?

    - Thế thì đại vương thử nhiếp tâm nghĩ đến xứ sở Alasanda của đại vương đi?
    - Trẫm nghĩ rồi.
    - Bây giờ đại vương lại nhiếp tâm nghĩ đến xứ sở Kasmir đi!
    - Trẫm nghĩ rồi!

    - Thời gian mà đại vương nghĩ đến hai xứ sở ấy, xứ sở nào mau hơn?
    - Thời gian bằng nhau.

    - Tại sao thế? Xứ Alasanda của đại vương cách đây ham trăm do tuần, xứ Kasmir cách đây chỉ có mười hai do tuần mà thời gian đi về lại bằng nhau?

    - Quả đúng như thế thật. Nhưng đại đức có thể cho nghe thêm một ví dụ nữa chăng?
    - Ví dụ có hai con chim cùng bay, một con đậu nhánh thấp, một con đậu nhánh cao, thử hỏi bóng của con nào rọi xuống mặt đất trước?
    - Cùng một lần, không trước không sau.

    - Chúng sanh chấm dứt thọ mạng ở đây, dẫu hoá sanh lên cõi Phạm thiên hay đầu thai cảnh người thì thời gian vẫn đồng nhau, không có sau trước, tâu đại vương.
    - Vậy là trẫm đã hiểu. Sự tái sanh của chúng sanh, dàu ở cảnh giới nào đều xảy ra trong một niệm, chẳng có xa gần, trước sau.
    - Đúng thế, tốc lực tâm đều bằng nhau.

    Thiên long bát bộ?

    Đó là tám loại phi nhân có sức mạnh hơn người nhưng không phải là người: Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Gia. Tám loài này do Thiên và Long đứng đầu nên gọi là Thiên Long bát bộ.

    Thiên: là thiên thần (Deva), đứng đầu bởi Đế Thích. Thiên thần trong Phật giáo vẫn còn trong cõi sinh tử, có sống có chết, có tất cả mười hai thiên thần quan trọng nhất tượng trưng cho tám hướng và bốn tinh thể của vũ trụ: mặt trời, mặt trăng, bầu trời và mặt đất

    Long: là rồng (Naga) nhưng không có chân, trông giống như một con mãng xà lớn, là chúa tể các loài trong nước. Kinh Phật kể rằng một con rắn tên là Mucilinda da cuộn thành một cái tàn che cho đức Phật nhập định trong một cơn giông bão.

    Dạ Xoa: (Yaksha) quỷ thần (thần ăn được quỉ), có thể tốt hoặc xấu. Dạ Xoa Bát Đại Tướng có nhiệm vụ bảo hộ chúng sinh

    Càn Thát Bà: (Gandharva) nhạc thần thân thể tỏa mùi thơm, phục thị Đế Thích, không ăn thịt, không uống rượu

    A Tu La: (Asura) đại diện tính xấu xa của con người, chuyên tranh đấu, hận thù.

    Ca Lâu La: (Garuda) chim đại bàng cánh vàng đầu có một cái bướu to gọi là Như Ý Châu, tiếng kêu bi thảm, được người Trung Hoa bản địa hóa thành Đại Bàng Kim Sí Điểu. Ca Lâu La thích ăn rồng, khi chết chất độc xông lên cháy tiêu thành tro, chỉ còn một trái tim xanh biếc

    Khẩn Na La: (Kinnara) nhạc thần của Đế Thích, đầu có sừng, giỏi múa hát

    Ma Hầu La Gia: (Mahoràga) là thần rắn, mình người đầu rắn.

    12 loại cô hồn

    HỎI: Xin cho biết đại lược về 12 loại cô hồn trong khoa nghi Chẩn tế cô hồn của Phật giáo.
    (NGUYỄN NĂNG, Gia Nghĩa, Đăk Nông; DIỆU THIỆN, Long Khánh, Đồng Nai)


    ĐÁP: Bạn Nguyễn Năng và Diệu Thiện thân mến!
    Chẩn tế cô hồn là một biện sự khoa nghi, trong đó chư Tăng thừa oai lực Tam bảo khai thị cho các vong hồn giác ngộ Chánh pháp mà được siêu độ đồng thời ban phát cho họ đầy đủ thực phẩm, vật dụng để không còn thiếu thốn, đói lạnh. Mười hai loại cô hồn được triệu thỉnh bao hàm tất cả mọi người thuộc đủ các tầng lớp, thành phần trong xã hội.

    1/ Loại cô hồn đầu tiên là “Tiền vương hậu bá chi lưu”, những vị vua chúa các triều đại chết do chính biến, soán chủ thay ngôi. Đang trong cảnh thái bình “Mấy đời chín lớp ở cao, non sông muôn dặm thâu vào một tay” (theo bản Việt dịch của Hòa thượng Bích Liên) nhưng bỗng chốc chiến hạm kéo đến, binh mã dấy lên và thế là cơ nghiệp nát tan, oán hận ngút ngàn. Để rồi “Ôi thôi, đỗ quyên kêu trót tàn canh, máu hờn nhuộm mãi trên cành đào hoa” (sđd).

    2/ Thứ hai là loại cô hồn “Anh hùng tướng soái chi lưu”. Những tướng lĩnh anh hùng cái thế, lừng lẫy một thời, xông pha trận mạc, vào sinh ra tử nhưng rồi tử trận, máu nhuộm sa trường, thây phơi đồng nội. Và ngậm ngùi “Ôi thôi, ngựa nhà chiến tướng vắng không, hoa hèn cỏ nội một vùng buồn thiu” (sđd).

    3/ Loại cô hồn thứ ba là “Văn thần tể phụ chi lưu”. Các quan chức hành chánh huyện phủ, học hành đỗ đạt nhưng phụng mệnh phải nhậm chức xa nhà, chết nơi quê người đất khách. “Nhà châu quận xa làng phụ mẫu, chốn nước trời theo dấu thần tiên”. Để rồi “Ôi thôi, chiến chinh biển loạn sông nghiêng, mờ mờ hồn bướm ly miền dương quan” (sđd).

    4/ Thứ tư là loại cô hồn “Văn nhơn cử tử chi lưu”, tức hàng sĩ tử sinh viên học sinh. Dẫu học hành nhiều, đêm ngày đèn sách nhưng khi công chưa thành, danh chưa toại nữa chừng đã yểu mạng. Thương thay, “Ôi thôi, lụa hồng bảy thước đề tên, đất vàng một cụm lấp nền văn chương” (sđd).

    5/ Loại cô hồn thứ năm là “Ty y Thích tử chi lưu”. Một số vị Tăng sĩ, tuy ban đầu có chí xuất trần nhưng không đạt được mục đích của đời sống xuất gia. Chỉ đàm luận suông triết lý nhà Phật mà ít dụng công thực hành, không buông xả lại còn bám víu nên chẳng được siêu thoát. Họ dật dờ, quanh quẩn “Cửa kinh trăng thảm lạnh lùng, nhà thiền leo lét đèn chong canh dài” (sđd).

    6/ Thứ sáu là loại cô hồn “Huyền môn đạo sĩ chi lưu”. Những người luyện linh đơn, tiên đoán cát hung, thiên văn địa lý, đoán mệnh cho người mà mệnh mình mờ mịt nên khi chết vẫn bị đọa lạc. “Ôi thôi! Lò hương lâm quán lãnh sương, tiếu đàn gió lạnh thổi tàn hạnh hoa”. (sđd)

    7/ Loại cô hồn thứ bảy là “Tha hương khách lữ chi lưu”. Các thương gia xuôi ngược buôn bán rồi bỏ mạng trên đường kinh thương. Không ít người trải qua bao bất trắc trên đường thủy, đường bộ, để rồi “Ôi thôi, vía theo mây bắc sề sề, hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông” (sđd).

    8/ Thứ tám là loại cô hồn “Trận vong binh tốt chi lưu” tức những binh sĩ tử nạn trong chiến tranh. Trong vòng binh lửa, bom đạn tơi bời, mạng người như cỏ rác, máu chảy đầu rơi, xương tan thịt nát. Chỉ còn “Ôi thôi, cát vàng văng vẳng tiếng ma, mờ mờ xương trắng ai mà nhặt cho” (sđd).

    9/ Loại cô hồn thứ chín là “Huyết hồ sản nạn chi lưu”. Những sản phụ và con chết trong khi vượt cạn. Sanh nở là thời khắc đau đớn và nguy hiểm, một số trường hợp gặp nạn dẫn đến tử vong. “Ôi thôi, nhành hoa nở trận mưa tuôn, đương khi trăng tỏ gặp luồng mây xâm” (sđd).

    10/ Thứ mười là loại cô hồn “Sân ngoan bội nghịch chi lưu” tức những người bị báo chướng sanh nơi biên địa, đui điếc câm ngọng, chết vì tai nạn lao động, ghen tuông hay bị đầu độc. Bởi kiếp trước họ không tu hành, khinh khi Tam bảo, ngỗ nghịch đối với cha mẹ, tạo nhiều tội nghịch nên nay phải trả quả báo. “Ôi thôi, đêm trường thăm thẳm bóng ma, cửa mù thui thủi như tòa thu đông” (sđd).

    11/ Loại cô hồn thứ mười một là “Quần thoa phụ nữ chi lưu”. Những cung phi mỹ nữ, hàng khuê các giai nhân, các mệnh phụ phu nhân gặp lúc thất thế lâm vào khốn cùng, chết thảm. Chạnh lòng, “Ôi thôi, phong lưu ngày trước đâu rồi, xương khô lạnh lẽo trên chồi cỏ cây” (sđd).

    12/ Cuối cùng là loại cô hồn “Thương vong hoạnh tử chi lưu”, tức những hành khất, các tử tội, những kẻ chết do tai nạn nước, lửa, bị thú dữ ăn thịt và những người chết bất đắc kỳ tử do vô số tai nạn khác như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông v.v…
    Tóm lại, mười hai loại cô hồn đã kể ở trên thực chất chỉ là sự phân chia mang tính khái quát, đại diện cho các thành phần xã hội. Về chi tiết, trong mỗi loại cô hồn có vô vàn cá biệt, tùy theo nghiệp dĩ của mỗi người. Nói chung, những loại cô hồn này chịu nhiều khổ đau, vất vưởng và luôn bị đói khát hành hạ. Vì vậy, với từ tâm và tuệ giác, Đạo Phật thiết định khoa nghi Chẩn tế nhằm cứu độ cô hồn, nguyện cầu âm siêu dương thái.

    Video Clip này được chèn từ YouTube. Bạn có thể xem trên các trình duyệt có hỗ trợ HTML5.

    Bài chú Đại Bi là Hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Từng câu đều là danh hiệu của các Đại tướng Thiên Long Bát Bộ. Chư vị Kim cang Thần Thủ, Hộ Pháp Thần Vương. Khi trì chú Đại Bi, các vị Thiên, Long, Hộ Pháp sẽ luôn ở bên cạnh ta. Nên trì tụng lớn tiếng, trong kinh "nghiệp báo sai biệt" cho biết việc niệm Phật, tụng kinh, trì chú lớn tiếng có mười công đức sau đây:

    1, Dẹp được sự buồn ngủ ám ảnh
    2, Thiên ma hoảng sợ
    3, Tiếng vang khắp mười phương
    4, Ba đường hết khổ
    5, Tiếng đời chẳng lọt vào tai

    6, Lòng không tán loạn
    7, dongx mãnh tinh tường
    8, Chư Phật vui mừng
    9, Tam muội hiện ra trước mắt
    10, Vãng sanh Tịnh Độ.

    Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biết phải tụng thầm chỉ riêng mình nghe, hoặc chỉ nhép môi không ra tiếng như khi chúng ta đang làm việc, đi chung xe tàu với người khác, hoặc đi nằm trước khi ngủ.

    Nguyện đem công đức này
    Hướng về khắp tất cả
    Đệ tử và chúng sanh
    Đều trọn thành Phật đạo.

    Nam Mô A Di Đà Phật
     
    mai_ladyhoatrangnguyen1908 thích điều này.
  10. hoatrangnguyen1908

    hoatrangnguyen1908 Such a nice day today Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/2/2012
    Bài viết:
    7.474
    Lượt thích:
    3.800
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    zô ké chân để ss k tự sướng:KSV@09:
     
    mai_lady thích điều này.
Đang tải...

Chia sẻ cùng bạn bè

Đang tải...
TOP