Nếu còn có ngày mai ( If Tomorrow Comes)-Sidney Sheldon

Trong chuyên mục 'Truyện ngắn' đăng bởi Nhím.xù, 27/11/2011. — 8.289 Lượt xem

  1. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 28


    Khách sạn Ritz ở Madrid được coi là số một ở Tây Ban Nha, và suốt hơn một thế kỷ qua, các vị nguyên thủ quốc gia của nhiều nước châu Âu đều đã ăn, ngủ tại đấy. Tracy đã nghe về nó quá nhiều vậy mà trên thực tế thì thật đáng thất vọng. Gian tiền sảnh khách sạn trông thật tàn tạ, bẩn thỉu.
    Viên phó quản lý đã đưa nàng tới lô phòng số411-412, ở tòa nhà cánh Nam của khách sạn quay mặt ra phố Felipe đệ Ngũ.
    “Tôl tin là cô sẽ hài lòng, thưa cô Whitney”.
    Tracy bước tới bên cửa sổ và nhìn ra. Ngay phía dưới, bên kia đường, là bảo tàng Prado. “Cảm ơn ông”.
    Căn phòng đầy những tiếng ồn ào vọng lên từ dòng xe cộ dưới đường phố, nhưng nó có cái mà nàng muốn:
    Vị trí quan sát Bảo tàng Prado.
    Tracy đặt mang lên phòng một bữa chiều đơn giản, và sau khi ăn, nàng ngủ sớm. Khi lên giường, nàng có cảm nghĩ phải nằm ngủ trên chiếc giương này quả là một dạng của lối tra tấn thời Trung cổ.
    Lúc nửa đêm, một thám tử chết giữ dưới tiền sảnh khách sạn bàn giao lại cho một đồng nghiệp tới thay phiên; “Cô”ta chưa rời.khỏi phòng. Tôi nghĩ đêm nay cô ta sẽ ngủ yên thôi”.
    Tại Madrid, Tổng nha cảnh sát nằm ở đại lộ số một và chiếm cả một dãy phố. Đó là một binding xám xịt xây bằng gạch đỏ, trên nóc có một cái đồng hồ lớn. Phía trên cổng chính treo lá quốc kỳ Tây Ban Nha sọc đỏ và vàng.
    Trước cổng luôn có một cảnh sát mặc đồng phục và đội mũ bê rê màu nâu sẫm đứng gác, được trang bị một sung tiểu liên, một dùi cui, một súng ngắn, và một khóa tay.
    Việc liên lạc với Interpol được duy trì từ trụ sở này. Ngày hôm trước, một bức điện khẩn mang lý hiệu X - D đã được gửi tới Santiago Ramiro, cảnh sát trưởng Madrid, thông báo cho ông ta về chuyến đi của Tracy Whitney. Viên cảnh sát trưởng đã đọc dòng cuối cùng của bức điện hai lần rồi gọi điện thoại cho thanh tra Trigmant ở trụ sở Interpol tại Paris.
    “Tôi không hiểu ý ông”, Ramiro nói. “Ông yểu dịu dàng sự hợp tác đầy đủ của cơ quan li cho một người Mỹ nào đó, thậm chí không phải là một cảnh sát”.
    “Vì lý do gì vậy?”.
    “Ông cảnh sát trưởng, tôi nghĩ rằng ông sẽ thấy sự có mặt của ông Cooper là hữu ích. Ông ta hiểu rõ cô Whitney”.
    “Có gì mà phải hiểu? Cô ta là một tội phạm. Cứ cho là có tài đi, nhưng trong các nhà tù Tây Ban Nha thiếu gì những tội phạm tài ba. Người này cũng sẽ không lọt qua lưới của chúng tôi được”.
    “Tốt. Và ông sẽ phối hợp với ông Cooper chứ”.
    Viên cảnh sát trưởng miễn cưỡng đáp. “Nếu ông cho rằng ông ta có thể là hữu ích, tới không phản đối”.
    “Cám ơn ông”.
    “Có gì đâu thưa ông”.
    Cảnh sát trưởng Ramiro, cũng như người đồng nghiệp của mình ở Pans, không thích gì người Mỹ. Ông ta thấy họ thô bạo, thực dụng và ngây thơ. Người này - ông nghĩ bụng - có thể khác những người kia, và mình có thể sẽ ưa ông ta.
    Mới nhìn Daniel Cooper, ông ta đã thấy ghét rồi.
    Vừa bước vào phòng làm việe của viên cảnh sát trưởng Damel Cooper đã oang oang. “Cô ta đã qua mặt tới một nửa lực lượng cảnh sát châu Âu và có thể với cả các ông nữa”.
    Viên cảnh sát trưởng cố kim chế. “Thưa ông, chúng tôi không cần ai phải bảo ban trong công việc của mình. Ngay sáng nay, khi đặt chân xuống sân bay Barajas, cô Whitney đã bị đặt dưới sự giảm sát chặt chẽ. Tôi bảo đảm rằng nếu có ai đánh rơi một cái cặp trên đường phố và cô Whitney của ông nhặt nó lên, cô ta sẽ bị tống giam ngay.
    Trước đây, cô ta chưa hề đụng phải cảnh sát Tây Ban Nha”.
    “Nhưng cô ta không tới đây để nhặt một cái gì trên đường phố”.
    “Vậy ông cho rằng đến làm gì?”.
    “Tôi chỉ có thể nới với ông rằng có lẽ là vụ to đấy”.
    Cảnh sát trưởng Ramiro tự phụ đáp. “Càng to càng tốt”. Chúng tôi sẽ theo dõi mọi hành vi của cô ta”.
    Tracy thức dậy, người mỏi nhừ sau một đêm ngủ mà như bị tra tấn trên chiếc giường kiểu Tomás de Terquenmada, nàng gọi bữa ăn sáng nhẹ cùng với cà phê nóng và bước tới bên cửa sổ nhìn xuống bảo tàng Prado. Đó là một pháo đài cổ, xây bằng đá và gạch đỏ, bao quanh là cây cỏ um tùm. Phía trước là hai cây cột lớn kiểu Dorie và hai bên là hai cầu thang dẫn lên cửa chính.
    Thấp hơn một chút, ngang với mặt đường là hai cửa phụ. Học sinh và khách du lịch từ hàng chục nước đã xếp hàng trước cổng bảo tàng và đúng mười giờ, những người gác mở cửa và khách khứa đi VFO qua cửa quay ở giữa và hai cửa phụ hai bên.
    Chuông điện thoại réo vang làm Tracy giật nảy người. Trừ Gunther ra, không ai biết nàng đang ở Madrid. Nàng nhấc ống nghe lên. “Hello?”.
    ”Xin chào tiểu thư”. Một giọng quen quen. “Tôi gọi tới phòng thương mại Madrid và họ đã chỉ thị cho tôi phải làm tất cả những gì có thể được để bảo đảm rằng cô có một thời gian thú vị ở thành phố chúng tôi”.
    “Làm sao anh biết tôi ở Madrid, Jeff”.
    “Thưa cô, Phòng thương mại biết tất cả mọi chuyện”.
    “Đây là lần đầu tiên cô ở đây ư?”.
    “Đúng vậy”.
    “Tốt. Vậy tôi có thể hướng dẫn cô đi “tham quan một vài nơi. Cô định ở đây bao lâu, Tracy?”.
    Đó là câu hỏi chủ yếu. “Tôi không chắc”. Nàng”nhẹ đáp “Chắc là đủ để mua sắm và tham quan đôi chút thôi.
    Anh làm gì ở Madrid này thế”. Cũng vậy thôi”. Giọng anh ta giống hệt nàng.
    “Mua sắm và ngắm cảnh mà”.
    Tracy không tin vào chuyện trùng lặp. Cũng vì lý do như nàng mà Jeff Stevens đã ở đây:
    Đánh cắp bức Puerto.
    Jeff hỏi. “Cô có rảnh để cùng ăn chiều không?”.
    Đó là một lời thách đố. “Được thôi”.
    “Tốt quá. Tôi sẽ đặt bàn ở tiệm Jockey nhé”.
    Dĩ nhiên là Tracy không hề có ảo tưởng gì về Jeff, vậy mà khi bước ra khỏi thang máy và thấy anh đang đứng chờ, nàng có cảm giác dễ chịu không thể lý giải nổi.
    Jeff cầm tay nàng. “Rất vui mừng. Cô thật đáng yêu”.
    Nàng đã ăn mặc chu đáo - một bộ đồ Valentme màu xanh nước biển, một chiếc khăn lông chồn Nga, đôi giày Frizen và trên tay là chiếc xắc mang hiệu Hermes Howarth.
    Daniel Cooper, tại chiếc bàn nhỏ trong góc tiền sảnh, với ly Perrier trước mặt, đã theo dõi tất cả, và ông ta cảm thấy một sức mạnh to lớn:
    Công lý là ta.
    Chúa đã nói vậy, và mình là lưỡi gươm của Người. Cuộc đời ta là một sự hành xác và ngươi sẽ giúp ta trả nợ. Ta sẽ trừng phạt ngươi.
    Cooper tin rằng không một lực lượng cảnh sát nào trên thế giới đủ khôn ngoan để tóm được Tracy Whitney.
    Nhưng mình sẽ làm được - Cooper nghĩ thầm - cô ta thuộc về phần mình.
    Đối với ông ta, Tracy đã trở nên ngoài phần công việc.
    Đó là một sự khiêu khích. Ông ta mang theo hồ sơ và các bức ảnh nàng đi khắp nơi, và đêm đến - trước khi ngủ, lại giở ra xem. Ông ta đã đến Biarrit quá muộn, và Tracy đã chuồn trước mũi ông ta ở Majorca, nhưng giở Interpol lại đã lần ra dấu vết và Coơper quyết không để lỡ dịp này.
    Ông ta đã từng mơ thấy Tracy. Nàng ở trong cái lồng lớn, trần truồng van vỉ ông ta thả ra. Tôi yêu em - ông ta trả lời - nhưng không bao giờ tôi thả em ra cả”.
    Jorkey là một tiệm ăn nhỏ, lịch sự nằm trên phố Rios. Đồ ăn ở đây là thượng hạng”. Jeff nói.
    Trông anh thật hết sức đẹp trai. Tracy nghĩ. Cũng như Tracy, từ anh toát ra một vẻ kích động nào đấy, và nàng biết lý do:
    Họ đang cùng nhau trong một cuộc đấu trí mà phần thưởng rất lớn. Chắc chắn mình sẽ thắng, Tracy nghĩ “Có một tin đồn lạ”. Jeff nói.
    Nàng chú ý ngay. “Tin gì?”.
    Cô đã bao giờ nghe nói về Daniel Cooper chưa? Đó là một thám tử của bên bảo hiểm, rất giỏi”.
    “Không. Có chuyện gì về ông ta thế”.
    “Hãy cẩn thận. Ông ta nguy hiểm đấy. Tôi không muốn thấy có điều gì xấu đến với cô cả”.
    “Đừng lo”.
    “Vậy mà tôi đã lo lắng, Tracy”.
    Nàng nhoẻn cười. “Về tôi ư” Tại sao?”.
    Anh đặt tay lên trên tay nàng, khẽ nói. “Em là một cơ gái đặc biệt. Cuộc sống sẽ thú vị hơn nhiều nếu có em ở bên, Tracy yêu dấu”.
    Jeff có sức truyền cảm khủng khiếp, Tracy nghĩ. Nếu đã không biết quá rõ về anh ta, chắc mình tin ngay mất.
    “Hãy gọi đồ ăn đi”, Tracy nói. :”Tôi đói ngấu rồi”.
    Trong mấy ngày tiếp theo, Jeffvà Tracy đi thăm khắp Madrid. Không bao giờ họ đi một mình. Hai nhân viên của cảnh sát trưởng Ramiro theo sát họ khắp nơi, và cùng với họ là người Mỹ lạ lùng kia. Việc Ramừo cho phép Cooper tham gia cuộc theo dõi chỉ đơn giản thì nhằm để ông ta khỏi quanh quẩn vướng mắc. Thằng cha người Mỹ này thật láo xược dám cho rằng người phụ nữ có tên Tracy Whitney này sẽ có thể đánh cắp một tài sản quý giá nào đấy ngay dưới mũi cảnh sát Tây Ban Nha. Thật nực cười.
    Tracy và Jeff cùng đi ăn ở những cửa hàng tên tuổi của Madrid như Horcher, Hoàng tử Viana và Casa Botin ... nhưng Jeff cũng còn biết cả những nơi mà khách du lịch chưa từng biết:
    Cusa; Paco La Chuletta và El Lacon,.. có những món ăn địa phương tuyệt vời.
    Dù họ đi bất kỳ đâu, Daniel Cooper và hai thám tử khác cũng không bao giờ tụt lại sau quá xa.
    Tữ một khoảng cách đầy thận trọng, Daniel Cooper suy nghĩ về vai trò của Jeff trong màn kịch đang diễn ra.
    Anh ta là ai? Một nạn nhân sắp tới của Tracy? Hay là đồng bọn?”.
    Cooper hỏi cảnh sát trưởng Ramiro. “Ông có thông tin gì về Jeff không?”.
    “Không. Anh ta không có tiền án và đăng ký nhập cảnh để du lịch. Tôi cho anh ta chỉ là người bạn đường tình cờ thôi”.
    Linh cảm đã mách Cooper theo một hướng khác.
    Nhưng ông ta không định săn đuổi Jeff Stevens. Tracy - ông ta nghĩ - ta muốn tóm ngươi cơ.
    Khi Tracy và Jeff quay lại khách sạn Ritz thì đêm đã về khuya, Jeff đưa nàng đến tận cửa phòng. “Tôi có thể vào uống chút gì không nhỉ?”.
    Chỉ chút nữa thì Tracy đã gật. Nàng vươn người hôn nhẹ lên má anh. “Hãy coi tôi như em gái của anh, Jeff”.
    “Quan điểm của em về vấn đề loạn luân là thế nào nhỉ?”.
    Nàng đã khép cửa lại.
    Ít phút sau, tới phòng mình, anh gọi điện cho Tracy. “Em có muốn mai đi cùng tôi tới Segevia không” Đó là một thành phố cổ tuyệt diệu, cách Madrid vài giờ xe chạy”.
    “Nghe quyến rũ quá. Cảm ơn về một bưởi tối thú vị”.
    Tracy nói, “Chúc ngủ ngon, Jeff”.
    Nàng thao thức rất lâu, đầu óc đầy những ý nghĩ mới lạ đã từ lâu lắm rồi nàng mới lại vướng vào chuyện tình cảm với một người đàn ông. Charles đã làm nàng đau đớn khủng khiếp, và nàng.không muốn lại bị đau như thế nữa.
    Jeff Stevens là một bạn đồng hành hú vị,” nhưng nàng biết không bao giờ được để anh ta trở thành một gì hơn thế. Rất dễ phải lòng một người như anh ta. Và đó là điều ngốc nghếch.
    Tan nát.
    Hân hoan.
    Tracy thấy khó ngủ quá chừng.
    Chuyến đi Segevia thật tuyệt. Jeff đã thuê chiếc xe hơi nhỏ và họ rời khỏi thành phố, chạy vào giữa cánh đồng nho tuyệt đẹp của Tây Ban Nha. Một chiếc xe nhãn hiệu Seat bám theo họ suốt cả ngày và nó không phải là một chiếc xe thông thường.
    Seat là loại xe duy nhất được sản xuất trong nội tha Tấy Ban Nha, và là một phương tiện được chính thức trang bị cho lực lượng cảnh sát. Các xe kiểu thông thường thì động cơ chỉ 100 mã lực, nhưng các xe được làm cho cảnh sát và cảnh vệ Quốc gia động cơ lại tới 150 mã lực, do vậy mà không có khả năng cho Jeff và Tracy cớ thể thoát khỏi tầm kiểm soát của Damel Cooper và hai thám tử cùng đi.
    Tracy và Jeff đến Segevia vào tầm trưa và họ ăn trong một tiệm đầy vẻ quyến rũ tại quảng trường trung tâm, dưới bóng của một đường máng dẫn nước cao ngất mà người La Mã xây nên từ cách đây 2000 năm. Sau bữa ăn, họ lang thang khắp khu thành cổ, ghé thăm nhà thờ Đức bà Maria cổ kính và tòa”thị chính với kiến trúc Phục Hưng, rồi tiếp tục lên xe chạy tới Aleazar, một pháo đài La Mã cổ nằm trên một mỏm núi đá nhô ra phía trên thành phố. Cảnh quan thật kỳ thú.
    “Tôi cược rằng nếu chúng ta chịu đợi ở đây, ta sẽ thấy Đôngkisốt” và Xăngxo cưỡi ngựa băng trên những cánh đồng phía dưới kia cho mà xem”. Jeff nói.
    “Anh thích đánh trận mồm với cối xay gió chứ?”.
    “Còn tùy vào hình dáng của cái cối xay đó”, anh nhẹ nhàng đáp và sát vào nàng hơn.
    Tracy rời khỏi rìa mỏm đá. “Kể cho tôi nghe về Segevia đi”.
    Ý muốn của nàng quả nhiên được đáp ứng.
    Jeff là một người hướng dẫn tận tình, đầy kiến thức về lịch sử, khảo cổ, kiến trúc, và Tracy đã phải tự nhắc mình rằng anh ta cũng còn là một kẻ 1ừa đảo chuyên nghiệp nữa. Với Tracy thì hôm đó là một ngày thú vị.
    Một trong hai thám tử người Tây Ban Nha, José Pereira, càu nhàu với Cooper. “Thứ duy nhất mà họ đang ăn cắp là thời gian của chúng ta. Ông không tháy họ chỉ là một cặp uyên ương thôi sao? Ông có chắc rằng cô ta đang mưu tính gì không?”.
    “Tôi đoán chắc”. Cooper gắt lên, và phát ngượng với chính phản ứng của mình. Tất cả điều ông ta muốn là bắt được Tracy Whitney để trừng phạt cô ta, vì cô ta đáng phải chịu điều đó. Cô ta cũng như mọi tội phạm khác, đó là chuyện công việc. Thế nhưng, mỗi lần người bạn đồng hành của Tracy nắm lấy tay nàng thì Coopelt lại thấy giận sôi lên.
    Khi Tracy và Jeff về Wi Madrid, Jeff nói. “Nếu em chưa quá mệt mỏi, tôi xin giới thiệu một chỗ ăn chiều rất đặc biệt”.
    “Vậy thì tuyệt”. Tracy không muốn ngày vui chấm dứt sớm. Mình sẽ dành trọn cho hôm nay, một ngày hôm nay, giống như những người đàn bà khác, nàng tự nhủ.
    Người dân Madrid ăn chiều rất muộn, ít có nhà hàng lào mở cửa phục vụ trước 21 giờ. Jeff đã đặt bàn vào lúc 22 giờ tại tiệm Zalacain, một nhà hàng sang trọng mà đồ ăn ngon lành và sự phục vụ cho tốt. Tracy không gọi đồ tráng miệng, thế nhưng người bồi bàn vẫn mang tới một chiếc bánh nướng mà Tracy chưa bao giờ thấy ngon miệng đến vậy. Nàng ngả người trên ghế, tươi tắn và mãn nguyện. “Một bữa chiều tuyệt vời. Cám ơn anh”.
    “Tôi rất vui thấy em ăn ngon. Đây là nơi có thể gây ấn tượng với ai đó mà mình muốn”.
    Nàng nhìn anh giây lát. “Thế anh có đang toan gây ấn tượng với tôi không, Jeff Anh mỉm cười. “Em có thể đánh cược là tôi đang làm như thế đấy. Nhưng em hãy đợi đến nơi tiếp theo đã”.
    Nơi tiếp theo mà Jeff đưa nàng tới là một tiệm cà phê mờ ảo khói thuốc, đầy hấp dẫn. Bên trong đông kín những công nhân Tây Ban Nha mặc áo khoác da đang ngồi hoặc đứng uống ngay ở quầy. Ở phía cuối phòng là một sân khấu, nơi có hai người đàn ông đang chơi ghi ta. Tracy và Jeff được dẫn tới một bàn nhỏ kề bên sân khấu. “Em có biết gì về điệu nhảy Flamence không”ạ Jeff hỏi. Anh phải cao giọng để át những tiếng ồn ào.
    “Chỉ biết đó là một điệu nhảy Tây Ban Nha thôi”.
    Digan, ban đầu là vậy. Em có thể đến các hộp đêm cao cấp ở Madrid và xem người ta biểu diễn Flamence, nhưng đêm nay em sẽ thật sự được xem điệu nhảy này”.
    Tracy phải mỉm cười vì vẻ hăng hái trong giọng nói của Jeff.
    Em sắp thấy một màn vũ Flamence cổ điển. Gồm một nhóm ca sĩ, vũ công, vũ nữ và nhạc công. Đầu tiên là họ cùng biểu diễn một lượt sau là từng người một”.
    Dõi theo Tracy và Jeff từ một chiếc bàn ở lối vào bếp, Daniel Cooper băn khoăn không biết họ bàn luận gì mà say sưa đến thế.
    “Điệu nhảy này hết sức tinh tế, bởi vì mọl thứ đều phải hài hòa với nhau - các chuyển động, âm nhạc, trang phục, nhịp điệu tăng nhanh dần ...
    “Sao anh biết nhiều về điệu nhảy này thế” “Tracy hỏi.
    “Anh từng quen một vũ nữ Flamence”.
    Quả nhiên mà - Tracy nghĩ.
    Ánh sáng trong tiệm mờ đi và cái sân khấu nhỏ được chiếu sáng rồi màn ma thuật bắt đầu. Nó khởi đầu rất chậm rãi. Một nhóm nghệ sĩ ùa ra sân khấu. Các nữ nghệ sĩ mặc những váy ngắn, áo ngắn sặc sỡ, tóc bới cao với những bông hồng cài bằng những chiếc trâm xinh xắn.
    Các vũ công nam thì mặc quần bó truyền thống, áo vét và ủng da ngắn bóng loáng. Các nhạc công ghi ta tấu lên một giai điệu dìu dặt, trong khi một phụ nữ ngồi ở rìa sân khấu hát bài dân ca Tây Ban Nha.
    “Anh có hiểu lời bài ca mà cô ấy đang hát không?”.
    Tracy thì thầm.
    “Có? Tôi đã muốn rời bỏ người bạn tình của mình, nhưng trước khi làm được điều đó, anh ta đã rời bỏ tôi và làm trái tim tôi tan nát!”.
    Một vũ nữ tiến ra giữa sân khấu, bắt đầu với điệu Zapateade đơn giản, nhưng nhanh dẫn lên do tiếng ghi ta đầy kích động. Và điệu nhảy trở thành một màn kích động đầy dục tính, ở các mức độ khác nhau. Các điệu nhảy đều được sáng tạo ra trong những hang động của người Digan từ hàng trăm năm trước. Sự kích động của tiếng nhạc mỗi lúc một tăng, các bước nhảy càng điên cuồng và lại còn có cả những tiếng gào thét cổ vũ của các nghệ sĩ ở bên ngoài sân khấu nữa.
    Sau cùng, khi âm nhạc và màn nhảy chấm dứt đột ngột, cả tiệm lặng giây lát và rồi tiếng vỗ tay ào cả lên.
    “Cô ta thật tuyệt diệu?” Tracy nói.
    “Đợi đã Jeff bảo.
    Vũ nữ thứ hai tiến ra sân khấu. Cô ta có một vẻ đẹp cổ điển, nước da màu sẫm và dường như xuất thần, hoàn toàn không để ý gì đến khán giả. Các nhạc công ghi ta bắt đầu chơi một điệu Bolero gam trầm mang dáng dấp những nét nhạc phương Đông. Một vũ công ra nhảy cùng cô ta và các âm thanh của bộ gõ bắt đầu vang lên thúc giục.
    Tiếng vỗ tay dồn dập hòa vào với vũ điệu Flamence, cùng với tiếng nhạc kích động làm chó không khí trong tiệm trở nên sống động tới mức tất cả khán giả đều lắc lư nhịp theo điệu Zapateade và say sưa trong những cảm giác đầy hứng khởi.
    Thân thể của cô gái và chàng trai đang trình diễn Flamence trên sân khấu lúc tách xa nhau ra, khi thì sáp lại gần làm cho khán giả thấy họ như đang trong cơn thèm muốn điên cuồng, mỗi lúc một tăng, cho đến khi họ như đang làm tình với nhau một cách điên dại, thú vật và đầy bạo lực, đạt tới sự thỏa mãn cao độ đến mức khán giả cũng phải quằn quại. Đèn tắt rồi bừng sáng, đám đông như gào lên và Tracy cũng thấy mình cùng la hét với mọi người. Nàng bỗng ngượng ngùng vì cảm thấy thèm muốn làm tình. Nàng không dám nhìn Jeff nữa. Không khí giữa họ bỗng như căng thẳng Tracy nhìn xuống mặt bàn, xuống hai bàn tay khỏe mạnh và rám nắng của anh và có thể cảm giác thấy hai bàn tay đó đang vuốt ve trên thân thể nàng, chậm rãi, rồi nhanh hơn, rồi đòi hỏi và nàng vội giấu hai bàn tay vào lòng để che đi sự run rẩy không kìm lại được.
    Trên đường trở về, họ nói với nhau rất ít. Tại cửa phòng mình, Tracy quay lại nói. “Thật là cả một ...”.
    Môi của Jeff đã đặt lên môi nàng, hai bàn tay nàng quàng quanh anh, ôm chặt. “Tracy ...?”.
    Chữ “Vâng” đã ở trên môi và nàng phải dùng hết sức mạnh ý chí để nói.
    “Thật là một ngàyđài, Jeff. Tôi buồn ngủ lắm rồi”.
    “Ô”.
    “Tôi nghĩ rằng mai tôi sẽ phải ở trong phòng suốt ngày để nghỉ ngơi”.
    Giọng anh đã trở lại bình thường khi đáp. “Ý kiến hay đấy có thể là tôi cũng sẽ làm như thế”.
    Người nọ không hề tin lời người kia.
     
  2. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 29


    Sáng hôm sau, lúc 10 giờ, Tracy đã đang đứng trong hàng người trước cửa ra vào bảo tàng Prado. Nàng mua một vé vào cửa ra vào cùng với dòng người đi vào một phòng lớn thênh thang có mái vòm. Daniel Cooper và thám tử Pereira theo sát đằng sau và Cooper bắt đầu thấy sự hồi hộp tăng lên.” Ông ta tin chắc rằng, ở đây, Tracy không chỉ là một khách tham quan. Dù mưu toan của cô ta là gì đi nữa thì nó cũng đã đang bắt đầu.
    Tracy dạo từ phòng này sang phòng khác, chậm rãi đi ngang các gian trưng bày tranh của Rubons, Titians, Tintorettos, Bosches và Donenikos Theotokoponlos - người đã trở nên- nổi tiếng dưới cái tên El Greco. Các bức tranh của Goya được trưng bày trong một phòng đặc biệt ở phía dưới, tại tầng trệt.
    Tracy để ý thấy tại cửa ra vào mỗi phòng tranh đều có một người mặc đồng phục canh giữ, và ngay cạnh tay anh ta là cái nút báo động màu đỏ. Nàng biết rằng khi tiếng chuông báo động cất lên là tất cả các cửa ra vào bảo tàng sẽ bị đóng lại, và sẽ không có cơ hội để thoát ra được.
    Nàng ngồi trên chiếc ghế băng ở giữa một phòng tranh trưng bày các tác phẩm của các danh họa Flenmitsơ hồi thế kỷ Mười tám và quan sát căn phòng.
    Nàng có thể thấy rõ đôi mắt thần nhỏ xíu ở hai bên cửa ra vào. Đó là điểm xuất phát của những tia hồng ngoại sẽ được bật lên vào ban đêm. Ở những bảo tàng khác mà Tracy từng đến thăm, những người gác thường buồn ngủ, mệt mỏi và ít để ý tới dòng khách tham quan, nhưng ở đây thì họ rất tỉnh táo. Trong các bảo tàng trên thế giới, nhiều tác phẩm nghệ thuật đã bị những kẻ cuồng tín phá hoại, và bảo tàng Prado quyết không để nó cớ cơ hội ở đây.
    Ở nhiều phòng tranh, các họa sĩ dựng lên giá vẽ của họ và miệt mài vẽ lại tranh của các danh họa. Bảo tàng cho phép làm điều đó, nhưng Tracy thấy rằng những người gác cũng để mắt cẩn thận tới cả những người này.
    Khì Tracy đã xem hết các phòng ở tầng lầu chính, nàng đi theo cầu thang xuống tầng trệt - khu trưng bày tranh của Francisco de Goya.
    Thám tử Fereira nói với Cooper. “Thấy chưa, cô ta chỉ xem tranh thôi chứ có làm gì được đâu. Cô ta ...”.
    “Anh nhầm rồi”, Cooper vội vã chạy theo.
    Tracy thấy phòng tranh Goya còn được bảo vệ nghiêm ngặt hơn so với các phòng khác, và là xứng đáng. Phía trên, hết bức tường này đến bức tường khác người ta trưng bày những vẻ đẹp bất diệt và Tracy ngắm hết bức này đến bức khác, sững sờ trước tài năng của nhà danh họa. Bức Chân dung tự họa của Goya thật tuyệt vời, trong đó trông ông như một thần Păng đứng tuổi ... rồi bức chân dung đầy màu sắc Gia đình Charles đệ tứ ... bức Maja mặc quần áo và bức Maja khỏa thân lừng danh.
    Và đây, cạnh bức Ngày nghỉ của các mụ phù thủy là bức Puerto. Tracy dừng chân ngắm nghía, tim đập mạnh.
    Ỏ nền trước của bức tranh là chừng hơn một chục đàn ông đàn bà quần áo đẹp đẽ đứng quanh một bức tượng đá, còn ở nền sau, hiện ra một làn sương mỏng mờ sáng, là những con thuyền đánh cá đỗ trong bến và một cây đèn biển xa xa. ở góc trái bên dưới, là chữ ký của Goya.
    Đây là mục tiêu. Nửa triệu đô la.
    Tracy liếc quanh. Một người đứng gác ở cửa. Suốt dọc hành lang phía sau anh ta nàng còn thấy nhiều người gác nữa. Nàng đứng đó hồi lâu, lặng ngắm bức Puerto. Đến khi vừa rút thì một nhóm du khách đi xuống cầu thang. Lẫn trong họ là Jeff Stevens. Tracy vội ngoảnh mặt và đi vội ra ngoài qua lối cửa bên trước khi anh kịp trông thấy nàng.
    Sẽ là một cuộc đua đấy, ông Stevens và tôi sẽ thắng.
    “Cô ta đang mưu đồ ăn cắp một bức tranh ở bảo tàng Prado”.
    Cảnh sát trưởng Ramiro nhìn Daniel Cooper vẻ không tin. “Vô lý? Không kẻ nào có thể ăn cắp tranh ở bảo tàng Prado được”.
    Cooper bướng bỉnh “Cô ta đã ở đó suốt cả buổi sáng”.
    “Chưa bao giờ xảy ra một vụ trộm ở bảo tàng Prado, và sẽ không bao giờ có chuyện đó. Ông biết vì sao không?
    “Vì đó là điều không thể”.
    “Cô ta sẽ không mưu tính theo cách thông thường đâu. Ông phải cho bảo vệ hệ thống thông gió của bảo tàng để ngăn ngừa một vụ tiến công bằng hơi ngạt.
    Nếu những người gác được phép dùng cà phê trong phiên trực, thì cần phải biết rõ họ lấy cả phê từ đâu và liệu trong đó có độc tố gì không. Kiểm tra nước uống ...”.
    Sức chịu đựng của cảnh sát trưởng Ramiro có hạn. Suốt tuần qua, phải làm việc với gã người Mỹ thô bạo, xấu xí này đã là quá đủ và lại đã phải phung phí nhân lực quý giá để theo sát Tracy Whitney 24 trên 24 giờ trong khi lực lượng cảnh sát quốc gia của ông ta thì vốn đã phải làm việc dưới một ngân quỹ eo hẹp, bởi vậy lúc này, khi nghe thằng cha xấu xí kia” chỉ bảo cách điều khiển cơ quan cảnh sát của mình thì ông ta không còn chịu đựng được nữa.
    “Theo ý kiến tôi, người phụ nữ này ở Madrid chỉ để nghỉ ngơi, du lịch. Tôi sẽ cho ngừng việc theo dõi”.
    Cooper sửng sốt. “Không? Ông không được làm như vậy Tracy Whitney là ...”.
    Cảnh sát trưởng Ramiro đứng thẳng người lên. “Thưa ông Cooper, mong ông làm ơn đừng bảo tôi phải làm gì hoặc không được làm gì. Còn bây giờ,”tôi rất bận, nếu như ông không còn gì để nói”.
    Cooper đứng lặng, đầy thất vọng. “Vậy thì tôi sẽ đơn phương tiếp tục công việc”.
    Cảnh sát trưởng cười. “Để giữ an toàn cho bảo tàng Prado tránh khỏi sự đe dọa khủng khiếp từ người phụ nữ kia ư. Tất nhiên là tùy ông, thưa ông Cooper.
    Giờ thì tôi có thể ngủ vài đêm liền”.
     
  3. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 30


    Cơ hội thành công là rất hạn chế. Gunther Hartog đã nói với Tracy - nó đòi hỏi một tài năng lớn lao.
    Đó là một khẳng định sai lầm, nàng nghĩ.
    Tracy đang đứng bên cửa sổ càn phòng khách sạn nhìn xuống mái bảo tàng Prado, nhớ lại những gì nàng đã biết. Nó được mở cửa cho khách từ 10 giờ đến giờ, trong thời gian đó, hệ thống báo động ngừng hoạt động, nhưng mỗi cửa phòng tranh đều có người gác.
    Ngay cả khi gỡ được bức tranh xuống khỏi tường Tracy nghĩ - càng không có cách nào mang thoát ra. Tất cả đồ xách tay đều bị khám xét ở các cửa ra vào.
    Nàng quan sát mái nhà và cân nhắc về một vụ đột nhập ban đêm. Có vài trở ngại:
    thứ nhất là khả năng bị lộ rất cao. Tracy đã thấy các ngọn đèn chiếu bật sáng về ban đêm; các mái nhà rực sáng đến mức có thể nhìn thấy nó từ xa hàng mấy dặm. Cho dù có thể lọt vào nhà êm thấm, thì lại còn vấp phải hệ thống báo động hồng ngoại và những người gác đêm.
    Bảo tàng Prado dường như là bất khả xâm phạm.
    Jeff đang tính toán gì đây? Tracy tin rằng anh ta cũng muốn đoạt bức họa của Goya kia. Giá mà biết được cái đầu xảo quyệt của anh ta đang mưu tính chi thì mất gì mình cũng chịu, Tracy nghĩ. Nàng chỉ biết quyết tâm:
    không để anh ta đạt tới cái đích đó trước nàng. Nàng phải tìm ra một giải pháp.
    Sáng hôm sau, Tracy trở lại bảo tàng Prado.
    Không có gì thay đổi, trừ những khuôn mặt của du khách. Tracy cẩn thận để ý tìm Jeff nhưng không thấy.
    Tracy nghĩ, hẳn là anh ta đã nghĩ ra cách đánh cắp bức tranh.” Đồ khốn kiếp.
    Tất cả sự quyến rũ mà anh ta thể hiện chỉ cất làm cho mình bị phân tán, và ngăn không để mình lấy trước được bức tranh mà thôi.
    Tracy tiến lại bức Puerto một lần nữa, và đảo mắt nhìn các bức tranh khác gần đấy. Những người gác vẫn đầy vẻ cảnh giác các họa sĩ nghiệp dư ngồi trên các ghế đẩu trước giá vé của họ, đậm đông đi vào rồi đi ra liên tục, và đột nhiên tim nàng bắt đầu đập nhanh hơn lên.
    Mình biết cách phải làm rồi nàng thầm reo trong lòng.
    Nàng gọi Gunther gọi từ một buồng điện thoại công cộng trên phố Gran Via và Daniel Cooper - đang dời nhìn từ cửa ra vào của một tiệm cà phê gần đấy - xem chừng sẵn sàng trả cả một năm tiền lương để biết được Tracy đang gọi cho ai, và nói gì, nhưng tin chắc đó là một cú điện thoại gọi ra nước ngoài và cũng chẳng ai thêm ghi âm lại câu chuyện đó. Ông ta thấy nàng lần đầu tiên mặc chiếc váy màu xanh nhạt, lô ra cặp chân trần. Để bọn đàn ông có thể nhìn ngắm mà. Ống ta nghĩ. Đồ đĩ thõa.
    Và giận sôi lên.
    Trong khi đó Tracy đang kết thúc câu chuyện trên điện thoại. “Phải bảo đảm đó là một người nhanh nhẹn nhé, Gunther. Anh ta chỉ có tất cả là hai phút.
    Thành công hay không phụ thuộc vào hai phút ấy thôi”.
    Gửi:J.J Reynolds Hồ sơ số Y - 72 - 830 - 412. Người gửi:
    D. Cooper. Mật.
    trích yếu:
    Tracy Whitney. TÔI CHO RẰNG ĐỐI TƯỢNG ĐANG Ở MADRID ĐỂ MƯU TÍNH THỰC HIỆN MỘT VỤ TỘI PHẠM LỚN. MỤC TIÊU CÓ THỂ LÀ BẢO TÀNG PRADO. CẢNH SÁT TÂY BAN NHA CÓ THÁI ĐỘ BẤT HỢP TÁC NHƯNG TÔI SẼ ĐÍCH THÂN THEO DÕI ĐỐI TƯỢNG VÀ SẼ BẮT GIỮ CÔ TA VÀO THỜI ĐIỂM THÍCH HỢP.
    Hai ngày sau, vào lúc 9 giờ sáng, Tracy ngồi trên chiếc ghế băng trong vườn Retiro một công viên xinh đẹp nằm giữa thủ đô Madrid - và đang cho những con chim bồ câu ăn. Công viên này cuốn hút người dân Madrid với hồ nước đầy, trong veo, cây cỏ sum suê được chăm sóc chu đáo và những sân khấu nhỏ để biểu diễn cho trẻ em.
    Cesar Porretta, một ông già tóc đã điểm bạc, lưng hơi gù, bước dọc theo lối mòn trong vườn, và khi đến bên chiếc ghế, ông ta ngồi xuống cạnh Tracy, mở chiếc túi giấy và lấy ra những mẩu bánh mì vụn ném cho đàn chim. “Xin chào tiểu thư”.
    “Xin chào. Ông có thấy khó khăn gì không?”.
    Không cô ạ. Thời gian và thời điểm là tất cả những gì tôi cần”.
    “Hiện thì chưa có”, Tracy nói. “Nhưng sẽ có ngay thôi”.
    Ông ta cười một nụ cười móm mém. “Cảnh sát chắc sẽ phát điên. Chưa ai làm thế này bao giờ”.
    “Do vậy mà sẽ thành công đấy”. Tracy đáp. “Tôi sẽ thông báo với ông sau”.
    Nàng tung mẩu vụn cuối cùng cho đàn bồ câu và đứng dậy, bước đi, làn váy lụa đong đưa trên hai đầu gối sao mà khêu gợi.
    Trong lúc đó, Daniel Cooper đang lục soát căn phòng khách sạn của nàng.
    Ông ta đã thấy Tracy rời khách sạn đi về phía công viên và vì nàng không” yêu cầu mang đồ ăn lên phòng nên Cooper cho rằng nàng đi ăn sáng đâu đó. Ông ta tự cho phép mình có ba mươi phút. Việc đột nhập phòng Tracy chỉ đơn giản là tránh né các cô hầu và sử dụng một chiế móc đặc biệt để mở khóa. Ông ta biết mình đang phải tìm kiếm cái gì:
    Một bản sao của một bức họa. Không thể đoán biết Tracy định đánh tráo nó bằng cách nào, nhưng ông ta tin chắc mưu đồ của nàng phải là như vậy.
    Ông ta lục soát một cách thành thạo, nhanh chóng và hoàn toàn trong im lặng, không để lọt qua mắt một thứ gì Sau cùng lả phòng ngủ. Ông ta ngó vào tủ áo, xem xét từng chiếc váy, áo và rồi quay sang chiếc tủ com mốt, rút ra từng ngăn kéo một. Tất cả đầy những quần lót, xu chiêng và tốt chân. Ông ta nhặt một chiếc quần lót màu hồng lên và áp nó vào má, mơ màng từ mùi thơm quyến rũ của da thịt nàng. Và đột nhiên ở khắp nơi đều có mùi thơm ấy cả. Ông ta đặt chiếc quần lót lại chỗ cũ và nhanh chóng ngó qua các ngăn kéo khác. Không thấy bức tranh nào hết.
    Ít phút sau ông ta bỏ ra ngoài, cũng nhanh như khi đến, và cắm đầu cắm cổ đi tới một ngôi nhà thờ gần đấy.
    Sáng hôm sau Tracy rời khách sạn Ritz, Daniel Cooper bám theo. Giờ đây, Cooper thấy giữa họ có một sự gần gũi chưa từng tồn tại trước đó. Ông ta đã biết mùi da thịt nàng, đã thấy nàng tắm, đã được ngắm thân thể trần truồng của nàng ngập trong làn nước ấm. Nàng như đã hoàn toàn thuộc về ông ta, để ông ta mặc sức hủy hoại.
    Cooper đã quan sát nàng đi bộ dọc theo phố Gren Via, xem hàng hóa bày trong các cửa hiệu, và theo nàng vào một cửa hiệu bách hóa lớn, thận trọng dừng ở ngoài tầm mắt nàng. Ông ta thấy nàng nói gì đó với một nhân viên rồi đi về phía phòng vệ sinh nữ. Conper đứng gần đó, thất vọng. Đó là nơi mà ông ta không hề theo vào.
    Giá mà Cooper lọt được vào trong thì ông ta đã có thể thấy Tracy đang nói chuyện với một người đàn bà to béo trạc tuổi trung niên.
    “Bà luu ý nhé”, đững trước gướng, Tracy vừa nói vừa bôi thêm son lên môi, “Sáng mai, 11 giờ”.
    Người đàn bà lắc đầu. “Không nên, thưa cô. Ông ta sẽ không thích như vậy đâu. Không còn ngày nào tồi tệ hơn ngày đó cả. Ngày mai, Thái tử Lucxembourg sẽ đến đây trong một chuyến thăm cấp nhà nước, và báo chí đưa tin rằng ông ta sẽ được đưa tới thăm bảo tàng Prado. Vậy là sẽ có thêm cảnh vệ và cảnh sát canh gác trong khắp bảo tàng”.
    “Càng đông càng tốt. Ngày mai”.
    Tracy bước ra khỏi cửa, và người đàn bà nhìn theo, lẩm bẩm, “Thật kỳ quái ...”.
    Phái đoàn Hoảng gia Lucxembourg được dự kiến sẽ đến bảo tàng Prado vào đúng lúc 11 giờ, và các đường phố quanh đó đều bị cảnh vệ Quốc gia chặn lại. Do sự chậm trễ của buổi lễ tại dinh Tổng thống, mãi đến gần giữa trưa phái đoàn mới đến. Các xe mô tô cảnh sát xuất hiện cùng với tiếng còi hú rầm rĩ, hộ tống đoàn xe gồm năm, sáu chiếc chạy tới trước cửa thềm bảo tàng Prado.
    Tại cổng vào, giám đốc Christian Machada nóng lòng chờ đợi khách quý.
    Trong buổi sáng, Machada đã kiểm tra cấn thận để bảo đảm rằng mọi thứ đều chu đáo, còn những người gác đều đã được nhắc nhở phải đặc biệt cảnh giác. Viên giám đốc vốn rất tự hào về bảo tàng-tranh của mình, và ông ta muốn gây một ấn tượng tốt đẹp với Thái tử.
    Có bạn bè ở những vị trí cao thì bao giờ mà chẳng có lợi, Machada nghĩ, và có khi tối nay mình còn được mời tới cùng ăn với Thái tử tại dinh tổng thống cũng nên.
    Điều hối tiếc duy nhất của Machada là việc không có cách nào chặn cái đám khách du lịch đang lang thang khắp chỗ trong bảo tàng. Tuy vậy, các cảnh vệ tùy thân và nhân viên an ninh của bảo tàng sẽ đảm bảo việc giữ gìn an toàn cho Thái tử. Tất cả đều đã sẵn sàng.
    Phái đoàn Hoàng gia bắt đầu thăm tầng lầu chính.
    Viên giám đốc đón vị thượng khách rất nồng nhiệt và tháp tùng ông ta, theo sau là các cảnh vệ vũ trang, đi qua căn phòng có mái vòm lớn vào các căn phòng trưng bày tranh của các họa sĩ Tây Ban Nha hồi thế kỷ 16:
    Juan de Juanes, Pedro Machuaca, Fornande Yanos.
    Vị Thái tử bước chậm rãi, thưởng thức những gì đang trưng bày trước mặt.
    Ông là người bảo trợ cho, nghệ thuật và thực sự yêu quý các họa sĩ - những người có thể làm cho quá khứ sống động và trở nên vĩnh hằng. Thậm chí, vì bản thân không có năng khiếu hội họa, ông còn thấy ghen tỵ khi thấy các họa sĩ nghiệp dư đứng trước các giá vẽ đang cố chộp lấy những nét thiên tài của các danh họa.
    Khi phái đoàn đã thăm hết lầu trên, Machada tự hào nói. “Và bây giờ, nếu ngài cho phép, tôi xin đưa ngài xuống tầng dưới thăm Goya”.
    Tracy đã trải qua một buổi sáng hết sức căng thẳng. Khi vị Thái tử không đến được bảo tàng Prado vào lúc 11 giờ như dự định, nàng đã bắt đầu lo lắng.
    Tất cả các sắp đặt của nàng đã được tính được từng giây, và cẩn có sự có mặt của Thái tử để giú vào kế hoạch này.
    Tracy đi từ phòng này sang phòng khác, lẫn vào đám khách tham quan và cố tránh không gây bất kỳ sự chú ý nào. Ông ta không đến mất, Tracy nghĩ, mình sẽ phải hoãn lại thôi. Nhưng đúng lúc đó nàng nghe tiếng còi xe cảnh sát vọng lại từ ngoài đường.
    Đang theo dõi Tracy từ một vị trí thuận lợi ở phòng kề bên, Daniel Cooper cũng đã nghe thấy tiếng còi. Về lý thì ông ta tin rằng không ai có thể đánh cắp một bức tranh ở bảo tàng này, nhưng linh tính thì mách bảo với ông rằng Tracy đang âm mưự làm việc đó, và Cooper tin vào lính tính của mình. Ông ta tiến lại gần nàng hơn, cố lẩn sau đám đông, quyết không rời mắt một lây nào hết.
    Tracy đang ở cạnh phòng bày bức Puerto. Qua khuôn cửa để ngỏ, nàng có thể nghe thấy tiếng ông già gù lưng, Cesar Porretta, ngồi trước một giá vẽ đang sao lại bức tranh Maja mặc quần áo của Goya, treo cạnh bức Puerto. Một người gác đứng cách đó có ba bước chân. Trong căn phòng có Tracy, một nữ họa sĩ đứng trước giá vẽ đang mê mải sao lại bức tranh Người phụ nữ vắt sữa bò cố gắng bắt chước các nét vẽ kỳ diệu của Goya.
    Một nhóm du khách Nhật Bản đổ vào phòng, ồn ào như một bầy chim lạ.
    Nào? Tracy tự nhắc mình. Đầy chính là thời điểm mà nàng chờ đợi, và tim nàng dập mạnh tới mức nàng sợ người gác kia cũng có thể nghe thấy. Nàng nhường lối cho nhóm khách Nhật Bản đang tiến tới, lưng quay về phía người họa sĩ.
    Đúng lúc một người Nhật Bản bước qua chạm lướt vào phía trước, Tracy ngả người ra sau, dường như là bị đẩy vậy, đè vào người nữ họa sĩ kia, xô chị ta cùng giá vẽ, bức tranh và màu vẽ xuống sàn.
    “Ôi, tôi xin lỗi?” Traey kêu lên. “Xin để tôi giúp”.
    Và khi hối hả giúp người nữ họa sĩ đang thẩn thờ, gót giày của Tracy giẫm lên những chỗ màu vẽ vương dưới sàn và bôi lung tung khắp nơi. Daniel Cooper, người đã trông thấy tất cả vội lại gần, mọi giác quan đều căng lên vì tập trung chú ý. Ông ta tin chắc Tracy đã thực hiện hành động đầu tiên.
    Người gác phòng tranh lao đến, la lên, “Cái gì thế này, hả?”.
    Sự cố đã thu hút chú ý của đám du khách và họ đứng quây quanh người nữ họa sĩ bị xô ngã, giầy dép họ làm dây thêm màu vẽ ra khắp sàn gỗ căn phòng.
    Thật là một sự bừa bãi kinh khủng, và vị Thái tử lại sắp xuất hiện tới nơi rồi.
    Người gác hất hoảng kêu. “Giải tán ngay, nhanh lên”.
    Tracy đã thấy người gác từ phòng bên chạy sang để giúp giữ trật tự. Trong phòng chỉ còn lại có một mình Cesar Porretta với bức Puerto.
    Tracy vẫn đứng giữa đám đông lộn xộn, ồn ào. Hai người gác đang ra sức đẩy những du khách ra khỏi khu vực sàn nhà bị dây bẩn.
    “Kêu ông giám đốc”.
    Người gác kia vội chạy ra phía cầu thang.
    Hai phút sau, Christian Machada đã có mặt tại hiện trường. Ông ta sửng sốt nhìn “và hét lớn. “Đưa mấy cô phục vụ lại đây” Bàn chải, giẻ lau và cánh kiến.
    Mau lên”.
    Một người phụ tá vội vã lao đi thực hiện mệnh lệnh.
    Machada quay sang một người gác, quát. “Về vị trí của anh ngay”, “Thưa ông, vâng”.
    Tracy thấy người ấy lách qua đám đông trở về căn phòng mà Cesar Porretta đang làm việc.
    Cooper không một giây rời mắt khỏi Tracy. Ông ta chờ đợi hành động tiếp theo. Nhưng điều đó không xảy ra. Cô ta đã không lại gần bất kỳ một bức tranh nào, cũng không hề tiếp xúc với bất kỳ một ai. Tất cả những gì cô ta làm chỉ là gây đổ cái giá vẽ và đánh dây một ít màu vẽ trên sàn nhà mà thôi, song ông ta tin chắc rằng, đó là những hành động cố ý. Nhưng để làm gì? Tuy nhiên, Cooper cảm thấy điều mà cô ta tính toán đã xảy ra rồi. Ông ta nhìn quanh bức tường. Không thiếu một bức nào.
    Cooper chạy sang phòng bên. Không có ai cả trừ người gác và một ông già còng lưng ngồi trước giá vẽ, đang sao lại bức Maja mặc quần áo. Tất cả các bức tranh đều còn nguyên. Nhưng chắc là đã có chuyện rồi. Cooper tin vậy.
    Ông ta bước vội tới trước viên giám đốc - mà trước đó ông ta đã gặp để trao đổi công việc. “Tôi có lý do tin rằng”, Cooper thốt lên, “một bức tranh nào đó đã bị đánh cắp trong vòng vài phút vừa qua”.
    Christian Machada nhìn người Mỹ có cặp mắt dữ dằn kia. “Ông đang nói gì vậy? Nếu có chuyện đó thì những người gác đã báo động rồi”.
    “Tôi cho rằng, bằng cách nào đó, một bức tranh giả đã được tráo vào một bức thật”.
    Viên giám đốc nở một nụ cười độ lượng. “Giả thuyết của ông có chỗ sai, thưa ông. Tuy rằng công chúng thì không được biết, nhưng sau mỗi bức tranh đều có bộ cảm nhận điện tử. Nếu có ai đó toan gỡ một bức tranh ra khỏi tường, điều chắc chắn sẽ phải làm, nếu muốn thay vào đó một bức khác, chuông báo động sẽ vang lên ngay tức khắc”.
    Daniel Cooper vẫn chưa thấy hài lòng. “Hệ thống báo động của ông có thể bị ngắt điện không?”.
    “Không. Nếu ai đó cắt đường dây dẫn điện, việc đó cũng gây báo động ngay.
    Thưa ông, không, ai có thể đánh cắp một bức tranh ra khỏi bảo tàng này. Hệ thống bảo vệ của chúng tôi là cái mà ông có thể gọi là hệ thống ngăn chặn mọi xâm phạm”.
    Cooper run lên vì tuyệt vọng. Tất cả những gì mà viên giám đốc nói ra đều có sức thuyết phục. Chuyện đó dường như là không thể xảy ra. Vậy thì tại sao Tracy Whitney lại cố tình làm dây màu vẽ ra sàn?
    Cooper vẫn chưa chịu. “Xin ông chiều ý tôi. Đề nghị ông cho nhân viên kiểm tra lạ tất cả để đảm bảo rằng không có gì bị mất. Tôi sẽ chờ ở khách sạn”.
    Daniel Cooper không còn làm gì hơn được nữa.
    Tối hôm đó, Christian Machada gọi điện lại cho Cooper. “Thưa ông, tôi đã đích thân kiểm tra lại toàn bộ. Tất cả các bức tranh đều nguyên vẹn. Bảo tàng không mất gì cả”.
    Vậy đó, dường như đó là một sự ngẫu nhiên. Nhưng Danlel Cooper, với linh cảm của một người thợ săn, cảm thấy rằng con mồi đã chạy thoát.
    Jeff đã mời Tracy ăn tối tại phòng ăn chính của khách sạn Rizt.
    “Tối nay trông em đặc biệt rạng rỡ”. Jeff nhận xét.
    “Cảm ơn anh:
    Tôi cảm thấy thật dễ chịu”.
    “Đó là nhờ có bạn bè ở bên, tuần sau hãy cùng tôi đi Barcelone, em sẽ thích”.
    “Xin lỗi, Jeff. Tôi không thể. Tôi sắp rời Tây Ban Nha rồi”.
    “Thật ư?” Giọng Jeff đầy vẻ nuối tiếc. “Khi nào vậy?”.
    “Một vài ngày nữa”.
    “Ồ, tôi thất vọng đấy”.
    Anh sẽ còn thất vọng hơn nữa. Tracy nghĩ, khi anh biết rằng tôi đã đánh cắp bức tranh Puerto. Nàng băn khoăn không biết anh ta đã định đánh cắp nó như thế nào. Giờ đây điều đó không còn quan trọng nữa. Vậy là mình đã vượt mặt anh chàng Jeff Stevens thông minh. Nàng đắc thắng nghĩ vậy. Vậy mà, không hiểu vì sao, Tracy bỗng thấy có chút ân hận.
    Ngồi trong phòng làm việc, Christian Machada đang nhấm nháp ly cà phê buổi sáng và tự chúc mình về thành công tốt đẹp của chuyến viếng thăm bảo tàng của Thái tử Trừ sự cố đáng tiếc của việc màu vẽ dây ra sàn phòng tranh, tất cả đều tốt đẹp. Ông ta mừng là Thái tử và đoàn tùy tùng đã được dẫn quanh đi nơi khác cho đến lúc tất cả được lau chùi sạch sẽ. Viên giám đốc mỉm cười nhớ tới tay thám tử ngớ ngẩn người Mỹ đã cố thuyết phục ông rằng ai đó đã đánh cắp một bức tranh khỏi bảo tàng Prado.
    Ngày hôm nữa không, ngày hôm nay không và ngày mai cũng không thể có chuyện đó - ông ta hài lòng nghĩ.
    Cô thư ký của ông bước vào. “Xin lỗi? Có một quí ông muốn gặp. Ông ta yêu cầu tôi chuyển lại cho ông cái này”.
    Cô ta đưa cho viên giám đốc một bức thư. Ngoài phong bì đề tên Bảo tàng Kunsthau - Zurich.
    Đồng nghiệp kính mến của tôi, Bức thư này xin giới thiệu ông Henri Renđll, chuyên viên nghệ thuật cao cấp của chúng tôi. Ông Renđell đang trên đường đi thăm các bảo tàng trên thê”giới và rất sốt sắng muốn được thấy bộ sưu tập không gì so sánh nơi của ông. Tôi mong ông tạo mọi điều kiện giúp đỡ ông ấy.
    Bức thư đo ông giám đốc bào tàng kia ký.
    Sớm hay muộn, v iên giám đốc sung sướng nghĩ, mọi người đều sẽ đến với ta.
    “Đưa ông ta vào đây”.
    Henri Rendell là một người cao lớn, hói đầu, vẻ mặt dễ gây ấn tượng và giọng nói Thụy Sĩ. Khi bắt tay nhau. Machada nhận thấy bàn tay phải của người khách thiếu mất một ngón trỏ. Henri Rendell nói. “Tôi rất vui mừng. Đây là lần đầu tiên tôi có cơ hội đến thăm Machada, và tôi mong mỏi được thấy các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của ông”.
    Christian Machada nhã nhặn nói. “Tôi không nghĩ là ông sẽ phải thất vọng, thưa ông Rendell, Xin mời đi cùng tôi Tôi sẽ tự đưa ông thăm các phòng tranh”.
    Họ chậm rãi đi qua các phòng lớn có mái vòm trưng bày tranh của các danh họa Flemmitsơ, của Ruben và các họa sĩ cùng trường phái, và rồi thăm khu triển lãm chính với tranh của các danh họa Tây Ban Nha. Hean Rendell xem xét thận trọng từng bức một. Hai người đã trò chuyện với nhau như hai chuyên gia bậc thầy, đánh giá phong cách, nét phối cảnh và cảm nhận màu sắc của các họa sĩ.
    “Bây giờ”, viên giám đốc tuyên bố, “Xin vì niềm tự hào của đất nước Tây Ban Nha”. Ông ta dẫn khách xuống tầng dưới, đi vào khu triển lãm tranh Goya.
    ““Thật là sướng mắt?”. Rendell kêu lên, ngỡ ngàng.
    “Xin được cho tôi đứng mà ngắm thôi”.
    Christian Machada vui lòng chờ đợi, thích thú trước sự thán phục của khách.
    “Chưa bao giờ tôi được thấy thứ gì huy hoàng thế này”. Rendell thừa nhận.
    Ông ta chậm rãi ngắm nghía từng bức tranh. Ngày nghỉ của các mụ phù thủy.
    Rendell lẩm bẩm, “Một bức tranh tuyệt đẹp”.
    Họ bước tiếp.
    “Chân dung tự họa, thật kỳ lạ”.
    Christian Machada mỉm cười.
    Rendell dừng lại trước bức Puerto. “Một bức tranh giả thật khéo”. Ông ta toan bước đi.
    Viên giám đốc chộp lấy cánh tay ông ta. “Cái gì? Ông vừa nói gì vậy?”.
    “Tôi nói rằng đó là một bức tranh vẽ lại thật khéo”.
    “Ông thật đã rất nhầm”, viên giám đốc cảm thấy bị xúc phạm.
    “Tôi không cho là mình nhầm đâu”.
    Chắc chắn là ông nhầm”, Machada quả quyết. “Tôi bảo đảm với ông đó là tranh thật. Tôi biết nguồn gốc của nó mà”.
    Henri Rendell bước lại gần bức tranh và xem xét cẩn thận hơn. “Vậy thì nguồn gốc của nó cũng đã là giả mạo.
    Đó là bức vẽ của đồ đệ Goya, Eugenie Lucas Padilla. Tất nhiên ông phải biết là Lucas đã vẽ hàng trăm tranh giả của Goya”.
    “Chắc chắn là tôi biết vậy”, Machada gắt. “Nhưng đây không phải là một trong số các bức đó”.
    Rendell nhún vai. “Tôi đành thua sự phán xét của ông”. Ông ta dậm chân định bước đi.
    “Tôi đã đích thân mua bức tranh này. Nó đã được phân tích quang phổ và hóa nghiệm”. Ông giám đốc nói thêm.
    “Tôi không nghi ngờ gì chuyện đó. Lueas vẽ ngay cùng thời với Goya và cùng dùng một thứ nguyên liệu, Henri Rendell cúi xuống xem xét chữ ký ở góc dưới bức tranh.
    “Ông có thể tái bảo đảm một cách rất đơn giản, nếu ông muốn. Đưa bức tranh trở lại phòng phục chế và kiểm tra lại chữ ký này”. Ông ta bật cười. “Cái tôi của Lucas đã xui ông ta ký tên mình dưới bức tranh, nhưng túi tiền buộc ông ta phải ký mạo tên Goya” lên trên chữ ký của mình, cốt để tăng giá bức tranh mà”. Rendell nhìn đồng hồ. “Xin ông thứ lỗi. Tôi sợ rằng tôi sẽ trễ hẹn mất.
    Cảm ơn ông đã chia sẻ kho tàng của mình”.
    “Có gì dâu”, viên giám đốc lạnh nhạt. Thằng cha này rõ ràng là ngu xuẩn, ông ta nghĩ.
    “Tôi đang ở biệt thự Magna, nếu ông thấy cẩn xin cứ gọi. Cảm ơn ông một lần nữa”. Henri Rendell ra về.
    Christian Machada trông theo. Thế nào mà gã Thụy Sĩ ngớ ngẩn này lại dám cho rằng bức tranh quý giá đó là của dổm nhỉ?
    Ông ta quay lại nhìn bức tranh một lần nữa. Một kiệt tác. Ông ta cúi nhìn chữ ký của Goya. Hoàn toàn bình thường. Nhưng mà, liệu có thể là thế không nhỉ? Nỗi nghi ngờ cỏn con không chịu mất đi. Mọi người đều biết, họa sĩ đương thời với Goya, Eugenie Lucas Padilla, đã vẽ hàng trăm tranh Goya giả, và trở nên nổi tiếng cũng nhờ thế.
    Machada đã trả ba triệu rưỡi đô la để mua bức tranh Puerto này. Nếu như ông ta bị lừa thì đó là một vết nhơ ghê gớm, điều mà chỉ nghĩ tới cũng đã không thể chịu được.
    Henri Rendell đã nói một điều có ý nghĩa:
    thực sự có một cách đơn”giản để tái khẳng định tính xác thực của nó. Ông ta sẽ kiểm tra lại chữ ký rồi gọi điện cho Rendell và nhận xét một cách lịch thiệp nhất rằng có thể Rendell nên tìm một nghề chuyên môn khác thích hợp với khả năng của ông ta.
    Viên giám đốc gọi người phụ tá và hạ lệnh “được tranh Puerto xuống để xét nghiệm lại.
    Xét nghiệm một tác phẩm hội họa là công việc hết sức tinh tế, bởi lẽ chỉ thiếu thận trọng một chút là đã có thể phá hủy mất một tác phẩm vố giá, và không thể có lại được. Cánh phục chế của bảo tàng Prado đều là các chuyên viên, phần đông là đám họa bĩ, không thành đạt và xin vào làm việc ở đây để được gần gũi với môn nghệ thuật mà họ yêu thích. Họ bắt đầu với tư cách là thợ học nghề, dưới sự chỉ bảo của các chuyên viên, và phải làm việc nhiều năm trước khi trở thành thợ phụ, rồi mới được phép động tới các kiệt tác và luôn luôn dưới sự trông nom của các bậc thầy.
    Juan Delgado, người phụ trách việc phục chế của bảo tàng Prado đặt bức Puerto lên một cái giá gỗ đặc biệt trước sự giám sát của Machada.
    Tôi muốn ông kiểm tra chữ ký xem”, viên giám đốc nói.
    Delgado không dám bộc lộ sự ngạc nhiên của mình. “Vâng, thưa ông giám đốc”.
    Ông ta rót chút rượu izôprôpin vào miếng bông nhỏ rồi đặt nó lên chiếc bàn bên cạnh bức tranh. Miếng bong thự hai đựợc nhỏ lên đó vài giọt một thứ hóa chất có tác dụng trung hòa.
    “Thưa ông, tôi đã sẵn sàng”.
    “Vậy thì bắt đầu đi. Vẫn phải cẩn thận đấy”.
    Đột nhiên Machada như cảm thấy khó thở. Ông ta theo dõi Delgado nhẹ nhàng chấm miếng bông thứ nhất lên chữ G trong chữ ký của Goya. Ngay tức khắc Dalgado dùng miếng bông thứ hai thấm lên đó để trung hòa cho rượu khỏi thấm sâu hơn xuống dưới. Hai người” cùng xem xét chất vải, nơi thấm hóa chất.
    Delgado cau mày. “Xin lỗi nhưng tôi chưa thể nói gì được, ông ta nói. “Tôi sẽ phải dùng một hóa chất hòa tan mạnh hơn”.
    “Làm đi”. Viên giám đốc hạ lệnh.
    Delgado mở nắp một bình hóa chất khác:
    ông ta thận trọng nhỏ chất đimantinpêtôn lên một miếng bông sạch rồi dùng nó thấm lại lên chữ cái đầu của chũ ký trên bức tranh. Căn phòng lập tức sặc mùi cay nồng của các hóa chất. Christian Machada đứng chết lặng, không thể tin “vào cái mà ông ta đang nhìn thấy nữa. Chữ G trong”tên của Goya mờ dần đi và ở vị trí của nó là một chữ L rõ ràng.
    Delgado quay sang, mặt tái nhợt- “Tôi ... tôi có tiếp tục không”.
    “Tiếp tục đi Machada nói, giọng khản đặc.
    Từng chữ một, chữ ký của Goya mê đi dưới tác dụng của chất hòa tan và chữ ký của Lucas hiện” ra. Mỗi chữ như một cú đấm thẳng vào bụng Machada. Ông ta, người đứng đầu một trong những bảo tàng lớn nhất thế giới, đã bị lừa. Ban giám đốc sẽ biết, nhà vua Tây Ban Nha sẽ biết, cả thế giới sẽ biết điều đó. Thật nhục nhã.
    Ông ta lê gọi cho Henri Rendell.
    Hai người ngồi trong phòng làm việc của Machada.
    “Ông đã đúng”, giọng viên giám đốc nặng nhọc. “Đó là một bức tranh của Lucas. Khi chuyện này lan ra, người ta sẽ cười vào mũi tôi”.
    “Lucas đã đánh lừa nhiều chuyên gia”, Renđell an ủi.
    “Sự giả mạo của ông ta lại là sở thích của tôi đấy”.
    “Tôi đã trả ba triệu rưỡi đô la để mua bức tranh đó”.
    Rendell nhún vai. “Ông có thể đòi tiền lại được không?”.
    Viên giám đốc lắc đầu thất vọng. “Tôi mua nó của một góa phụ - người đã quả quyết rằng đó là tài sản của gia đình chồng bà ta trong nhiều đời. Nếu tôi phát đơn kiện, vụ kiện sẽ giằng co hết phiên tòa này đến phiên tòa khác và dư luận sẽ là rất xấu. Mọi thứ trong bảo tàng này sẽ bị nghi ngờ hết”.
    Henri Rendell trầm ngâm hồi lâu. “Đúng lả không nên để lộ ra công luận.
    Sao ông không giải thích mọi chuyện với cấp trên, và lặng lẽ ném bức Lucas đi nhỉ. Ông có thể gửi nó cho hãng Sotheby hay Christian để họ đưa ra bán đấu giá”.
    Machada lắc đầu, “Không được, vậy thì cả thế giới sẽ Gương mặt Rendel1 chợt sáng lên. “Ông còn gặp may cũng nên. Tôi có một khách hàng sẵn lòng mua bức này.
    Ông ta sưu tầm tranh Lucas mà. Và là một người hành động tùy hứng”.
    “Dứt bỏ được nó thì thật sung sướng. Tôi không muốn nhìn thấy nó nữa.
    Một thứ của rởm giữa kho báu của tôi. Tôi thà cho không nó đi”. Ông ta cay đắng nói thêm.
    “Chẳng cần phải thế. Người khách của tôi có thể sẵn sàng trả ông, chẳng hạn, 50 ngàn đô la để mua nó. Tôi sẽ báo cho ông ta chứ?”.
    “Ông thật tốt bụng, ông Rendell”.
    Tại một cuộc họp được triệu tập vội vã, ban giám đốc đang bối rối đã cho rằng việc để lộ ra một trong những bức tranh có giá trị cửa bảo tàng Prado là một thứ giả mạo cần phải tránh bằng bất cứ giá nào. Cuộc họp quyết định rằng, tốt nhất là dứt bỏ bức tranh, càng lặng lẽ, càng nhanh càng tết. Các thành viên dự họp, trong các bộ . Complê sẫm màu, im lìm bước ra khỏi phòng. Không ai nói một lời với Machada đang đứng lặng vì đau khổ.
    Chiều hôm đó, vụ mua bán đã được thực hiện. Henri Renđell đến Ngân hàng Tây Ban Nha và trở lại với một tấm séc bảo đảm trị giá 50 ngàn đô la và bức Lucas đã được trao lài cho ông ta buộc trong một tấm vải mộc rẻ tiền.
    “Ban giám đốc chúng tôi sẽ rất phiền lòng nếu sự cố này được công luận biết đến”, Machada tế nhị nói.
    “Nhưng tôi đã bảo đảm với các vị kia rằng khách hàng của ông là một người biết giữ miệng”.
    “Ông có thể tin vào điều đó”. Rendell hứa.
    Sau khi ra khỏi bảo tàng, Henri Rendeii đi một chuyến tắc xi tới khu dân cư ở rìa phía Bắc của Madriđ, mang bức tranh lên một căn phòng ở tầng ba và gõ cửa. Tracy là người mở. Phía sau cô là Cesar Porretta. Tracy đưa mắt nhìn Rendell và ông ta mỉm cười.
    Họ đã nóng lòng muốn ném nó đi dấy”. Henri Rendell đắc chí.
    Tracy ôm lấy ông ta. “Xin mời vào đi”.
    “Còn bây giờ”, người lưng gù nói. “Các vị sẽ thấy phép màu. Một Goya sống lại.
    Ông ta lấy ra một lọ hóa chất và mở nắp. Mùi cay nồng lập tức tỏa ra tràn ngập căn phòng. Trước mặt Tracy và Rendell, Porretta để thứ rượu đó lên một miếng bông và lướt rất nhẹ lên chữ ký của Lucas, từng chữ cái một. Dần dần, nó biến mất. Dưới đó là chữ ký của Goya.
    Renđell nhìn, đầy thán phục. “Tuyệt vời?”.
    “Đó là ý của cô Whitney”, người lưng gừ thừa nhận.
    “Cô ấy đã đặt vấn đề liệu có”thế phủ lên chữ ký ban đầu của họa sĩ một chữ ký rởm rồi lại phủ lên chữ ký rởm này một chữ ký nữa của họa sĩ?”.
    “Ông ấy đã tính toán sẽ phải làm như thế nào”. Tracy mỉm cười.
    Porretta khiêm nhường nói, “Thật quá sức đơn giản. Mất chưa đầy hai phút mà. Cái mẹo là ở chỗ các thứ thuốc vẽ mà tôi đã dùng. Đầu tiên tôi phủ lên chữ ký của Goya một lớp keo thượng hạng, trong suốt để bảo vệ nó.
    Rồi trên đó, tôi viết tên Lucas bằng một thứ màu vẽ khô nhanh điều chế từ axêrylle. Bên trên nữa, tôi lại viết tên Goya bằng một thứ dầu màu pha keo. Khi chữ ký trên cùng này bị phá hủy thì tên Lucas hiện ra. Nếu mà họ tiếp tục thì họ đã có thể phát hiện ra tên GĐ và ở dưới cùng. Nhưng dĩ nhiên là họ không làm thế”.
    Tracy trao cho họ mỗi người một phong bì dày cộp và nói. “Tôi muốn cảm ơn cả hai ông”.
    “Bất kỳ khi nào cô cần một chuyên gia hội họa, xin cứ gọi”. Henri Rendell nháy mắt.
    Porretta hỏi. “Cô định làm thế nào để chuyển bức tranh qua biên giới”.
    “Tôi có một người giao hàng sẽ nhận nó ngay ở đây. Hãy đợi ông ta nhé”.
    Nàng bắt tay cả hai người rồi bước ra.
    Trên đường trở về khách sạn, Tracy tràn ngập niềm phấn chấn. Tất cả đều là ở vấn đề tâm lý con người, nàng nghĩ. Ngay từ đầu, nàng đã thấy là không thể đánh cắp bức tranh được, bởi vậy nên phải lừa họ, đưa họ vào cái tâm trạng muốn dứt bỏ bức tranh Tracy hình dung, hộ mặt Jeff khi biết rằng mình đã bị qua mặt như thế nào, nàng cười vang.
    Tại phòng khách sạn, Tracy chờ đợi người giao hàng kia, và khi ông ta đến, nàng gọi điện cho Cesar Porretta.
    “Hiện “người giao hàng đã ở đây”, Tracy nói “Tôi sẽ phái ông ta đến nhận bức tranh. Hãy lưu ý để ông ta ...”.
    “Cái gì? Cô đang nói cái gì hả?” Porreta hét lên. “Người của cô đã nhận nó cách đây cả nửa giờ đồng hồ rồi mà”.
     
  4. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 31


    PARIS.
    Thứ tư, ngày 9 tháng Bảy - Buổi trưa.
    Trong một văn phòng riêng kề trên phố Matignon, Gunther Hartog đang nới với Tracy, “Tôi rất hiểu cảm giác của cô về chuyện đã xảy ra ở Madrid, nhưng đúng là Jeff Stevens đã đến đích trước”.
    “Không phải”, Tracy chua chát. “Tôi đã đến trước, còn anh ta là kẻ đến sau”.
    “Nhưng chính Jeff là người trao bức tranh. Bức Puerto đã đang trên đường tới tay khách hàng của tôi”.
    Bất chấp mọi kế hoạch, tính toán của nàng, Jeff Stevens đã hớt tay trên. Anh ta đã ngồi đợi, “mặc nàng làm tất cả mọi việc, đương đầu với những mạo hiểm, và vào thời điểm cuối cùng, anh ta thản nhiên bước vào và lĩnh phần thưởng.
    Anh ta đã cười nhạo nàng đến nhường nào! Em là một cô gái rất đặc biệt, Tracy – Anh ta đã nói vậy. Nàng không thể chịu nổi cảm giác nhục nhã tràn đầy khi nghe tới cái đêm đi xem nhảy Flamence. Lạy Chúa, suýt nữa mình đã tự biến mình thành một con ngốc - nàng cay đắng nghĩ thầm.
    “Tôi chưa bao giờ nghĩ là tôi có thể giết người”, Tracy nói với Gunther, “mà được giết Jeff Stevens lúc này thì tôi thật hả dạ”.
    Gunther ôn tồn. “Ồ, cô bạn thân mến. Tôi mong rằng không phải là ngay trong văn phòng này. Anh ta đang trên đường đến đây mà”.
    “Anh ta đến đây à?” Tracy nhảy dựng lên.
    “Tôi đã nói là tôi còn một đề nghị nữa với cô mà. Việc đó đòi hỏi phải có một người bạn chung lưng đấu cật. Và theo ý kiến tôi, anh ta là người duy nhất”.
    “Tôi ... thà chết đói còn hơn”, Tracy quát lên. “Jeff Stevens là kẻ đê tiện nhất ...”.
    A, tôi nghe thấy người ta nhắc đến tên tôi, có phải không nhỉ? “Anh đứng ngay ở ngưỡng cửa, tươi cười.
    “Tracy, em yêu, trông em quyến rũ lạ thường. Chào ông bạn thân mến Gunther, có khỏe không?”.
    Hai người đàn ông bắt tay nhau. Tracy đứng đó, giận tái người.
    Jeff nhìn nàng và thở dài. “Có thể em thấy phiền lòng với tôi”.
    “Phiền lòng ! Tôi ...” Tracy không còn biết nói thế nào.
    Tracy, cho phép tôi nới rằng kế hoạch của em thật tuyệt vời. Tôi nói thành thực đấy. Thật sự tuyệt vời. Em đã chỉ phạm một sai lầm nhỏ. Đừng bao giờ tin một người Thụy Sĩ mà bàn tay thiếu mất ngón trỏ cả”.
    Nàng hít thở thật mạnh, cố kiềm chế cơn giận, quay sang Gunther. “Tôi sẽ nói chuyện với ông sau, ông Gunther”.
    “Tracy ...”.
    “Không. Dù thế nào chăng nữa, tôi cũng không muốn tham gia. Nếu như công việc đó dính đến anh ta”.
    Gunther năn nỉ. “Thì ít nhất cũng mong cô nghe đã nào”.
    “Chẳng có gì phải nghe nữa cả. Tôi ...”.
    “Trong vòng ba ngày nữa hãng De Beers sẽ chuyển một kiện kim cương trị giá bốn triệu đô la từ Paris đến Amstecđam trên một chuyến bay chở hàng của Hàng không pháp. Tôi có một khách hàng muốn giành được số kim cương đó”.
    “Sao ông không tính cướp số kim cương đó trên đường ra sân bay” Người bạn của ông là một kẻ cướp lão luyện đấy”.
    Nàng không giấu nổi vẻ cay đắng trong giọng nói của mình.
    Nhờ Chúa, cô ấy càng kiều diễm hơn trong lúc giận dữ, Jeff nghĩ thầm.
    Gunther nới. “Chỗ kim cương được bảo vệ nghiêm ngặt. Chúng ta sẽ cướp nó trên máy bay”.
    Tracy nhìn ông ta ngạc nhiên. “Trên máy bay? Trong một chuyến bay chở hàng”.
    “Chúng ta cần một người nhỏ nhắn đủ để trốn trong một chiếc côngtenơ nào đó. Khi máy bay đang ở trên không, người đó chỉ còn phải chui ra, mở cái côngtenơ kia của hãng De Beers, lấy kiện kim cương, tráo vào đó một kiện giả giống hệt đã chuẩn bị sẵn, và rồi lại trốn vào nơi cũ”.
    “Và tới thì đủ nhỏ bé để chui vào cái thùng hàng đó?”.
    Gunther đáp. “Không phải chỉ có thế, Tracy. Chúng ta cần một người thông minh và dũng cảm mà”.
    Tracy đứng yên, ngẫm nghĩ. “Gunther, tôi ưng cái kế hoạch đó. Điều tôi không thích là làm việc với Jeff. Anh ta là một kẻ đểu cáng”.
    Jeff mỉm cười, “Chúng ta cùng thế cả mà, trái tim yêu quý của tôi. Gunther hứa trả chúng ta một triệu đô la nếu làm được vụ này đấy”.
    Tracy đưa mắt nhìn Gunther. “Một triệu à?”.
    Ông ta gật đầu. “Nửa triệu cho mỗi người”.
    “Cơ sở để tính toán kế hoạch này”, Jeff giải thích, “là tôi có mối quan hệ với chỗ xếp hàng ở sân bay. Anh ta sẽ giúp chúng ta làm vụ này. Có thể tin cậy anh ta được”.
    “Chứ không giống anh phải không?” Tracy chì chiết.
    “Tạm biệt ông Gunther”.
    Nàng đi nhanh ra khỏi phòng.
    Gunther nhìn theo. “Cô ấy thực sự giận dữ về vụ Madrid, Jeff. Tôi cho rằng cô ấy sẽ bỏ vụ này mất”.
    “Ông nhầm rồi”. Jeff Stevens vui vẻ nói. “Tôi biết Tracy lắm. Cô ấy không cưỡng lại được sức hấp dẫn của sự mạo hiểm đâu”.
    “Các thùng hàng đều được niêm phong trước khi đưa lên máy bay”.
    Ramon Vauban giải thích. Đó là một người Pháp còn trẻ nhưng có vẻ mặt già nua không ăn nhập gì với tuổi tác, và cặp mắt đen láy, lạnh tanh. Anh ta là một nhân viên hành lý làm việc trong bộ phận vận tải hàng hóa của Hàng không Pháp, và là chìa khóa cho sự thành công của âm mưu đoạt chỗ kim cương kia.
    Vauban, Tracy, Jeff và Gunther đang cùng ngồi quanh chiếc bàn trên du thuyền Con Muôi, chạy dọc sông Shel, con sông nổi tiếng của Paris “Nếu các thùng hàng mà bị niêm phong”, Tracy hỏi, “làm sao tôi chui vào được?”.
    “Với những chuyến hàng đến ở phút cuối cùng”, Vauban đáp, “Công ty chúng tôi sử dụng thứ mà chúng tôi gọi là thùng mềm, nghĩa là những thùng gỗ lớn một mặt bịt vải bạt, chỉ được chằng bằng những dây thừng thôi. Vì những lý do an ninh, các hàng hóa quý, như kim cương chẳng hạn, thường thường được chuyển đến vào phút sau cùng để thời gian nằm lại là ngắn nhất”.
    Tracy hỏi. “Vậy là chỗ kim cương kia sẽ ở trong thùng mềm à?”.
    “Thưa cô đúng thế. Và cả cô nữa. Tôi sẽ thu xếp để chiếc côngtenơ có cô ở trong được đặt cạnh thùng hàng chứa kiện kim cương kia. Khi máy bay đang ở trên không thì tất cả việc mà cô phải làm chỉ là cắt mấy sợi dây thừng mở thùng hàng đựng kim cương, đánh tráo cái hộp quý giá kia, chui trở vào cái côngtenơ của cô và đóng kín lại.
    Gưnther nói thêm. “Khi máy bay hạ cánh xuống Amstecđam, đám bảo vệ sẽ bốc cái hộp bị đánh tráo và giao cho bên gia công. Cho đến khi mà họ phát hiện ra việc đánh tráo thì chúng tôi đã thu xếp để cô đang ở trên một chuyến bay ra nước ngoài rồi. Hãy tin tôi, không thể trục trặc gì được”.
    “Tôi sẽ không chết cóng ở trên ấy chứ?”.
    Vauban mỉm cười. “Thưa cô, ngày nay thì trong các máy bay chở hàng cũng có hệ thống sưởi ấm vì chúng thường chở hàng tươi sống mà. Không sao cả đâu, cô sẽ hoàn toàn cảm thấy dễ chịu. Dĩ nhiên là hơi lạnh một chút, nhưng nói chung là chịu được thôi”.
    Sau cùng thì Tracy đã bằng lòng ngồi nghe họ trình bày. Một vài giờ hơi khó chịu để đổi lấy nửa triệu đô la?
    Nàng xem xét kỹ góc độ cái kế hoạch được vạch ra. Nó có nhiều khả năng thành công, Tracy nghĩ. Giá mà nó đừng dính đến Jeff Stevensl Các cảm giác về anh ta là một thứ tình cảm lẫn lộn làm nàng luôn bối rối và cáu kỉnh”với chính mình. Anh ta đã làm cái việc ở Madrid chỉ cất để giỡn mặt nàng, đã phản bội, lừa gạt nàng và giờ đây, anh ta chắc đang cười thầm.
    Ba người đàn ông nhìn nàng? chờ đợi câu trả lời. Con thuyền đang đi qua chiếc tàu Pent Nenf, cây cầu cổ nhất Paris mà đám người Pháp trái thói cứ khăng khăng gọi là. Cầu Mới. Ngang phía bên kia, trên bờ sông, một đôi tình nhân đang ôm ấp nhau, và Tracy có thể thấy rõ vẻ mãn nguyện trên gương mặt cô gái. Cô ta thật ngốc nghếch, Tracy nghĩ. Nàng đã có quyết định của mình, vừa nhìn thẳng vào mắt Jeff vừa nói “Được. Tôi nhận lời tham gia”, và cảm thấy không khí căng thẳng dịu hẳn đi.
    “Chúng ta không có nhiều thời gian đâu”. Vauban tiếp tục”, anh ta đưa cặp mắt đục ngầu nhìn Tracy. “Ông anh tôi làm việc cho một đại lý vận tải, sẽ để chúng ta chất hàng vào thùng hàng có cô trong đó ở khu nhà kho của ông ấy.
    Tôi hy vọng là cô sẽ không thấy có gì trở ngại”.
    Đừng lo về tôi ... Chuyến bay sẽ kéo dài bao lâu?”.
    “Cô sẽ phải chờ đợi vài phút ở khu bốc dỡ hàng và sau đó là một giờ bay tới Amstecđam”.
    “Côngtenơ rộng bằng ngần nào”.
    “Đủ để cô có thể ngồi đàng hoàng. Sẽ còn vài thứ hàng hóa khác nhằm che giấu cô - ngừa bất trắc ...”.
    Không thể có trực trặc gì được - họ đã cam đoan với nàng. Vậy mà ... ngừa bất trắc ...
    “Tôi lập một danh mục những thứ mà cô sẽ cần đến”, Jeff nói, “Tôi đã lo liệu chu đáo cả rồi”.
    Đồ khốn kiếp láu lỉnh. Anh ta đã tin chắc nàng nhập cuộc.
    “Anh Vauban đây sẽ lo liệu để hộ chiếu của cô được thị thực xuất nhập cảnh thích hợp, do vậy cô có thể rời khỏi Hà Lan một cách dễ dàng”.
    Con thuyền bắt đầu cập bến.
    “Sớm mai tôi sẽ cân nhắc lại toàn bộ kế hoạch này một lần nữa!”. Ramon Vauban nói. “Bây giờ tôi phải trở lại nơi làm việc ... Tạm biệt”. Anh ta bỏ đi.
    Jeff hỏi “Sao chúng ta không cùng ăn tôi để chúc mừng nhau nhỉ?”.
    “Rất tiếc”, Gunther xin lỗi, tôi mắc hẹn mất rồi”.
    Jeff quay sang Tracy. “Cô sẽ ...”.
    “Không, cám ơn. Tôi mệt”, nàng nói nhanh.
    Đó là lý do để tránh phải cùng ngồi với Jeff, nhưng quả thật là Tracy cũng cảm thấy kiệt sức. Có thể là vì suốt thời gian qua, nàng đã luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng, kích động. Hơi chóng mặt. Xong vụ này, nàng tự hứa với mình, phải trở lại London nghỉ một thời gian dài mới được. Nàng bắt đầu cảm thấy đầu nằng nặng.
    Đúng là mình phải nghỉ ngơi thật rồi - nàng nghĩ.
    “Tôi có mang cho cô một chút quà”, Jeff nói. Anh đưa cô một chiếc hộp được gói cẩn thận. Trong đó là một chiếc khăn lụa tinh tế, nó có đính hai chữ cái TW.
    “Cảm ơn anh”. Anh ta có thể mua nó quá đi chứ, Tracy bực bội nghĩ, bởi đã mua bằng số tiền nửa triệu đô la của mình mà.
    “Chắc là cô không đổi ý kiến về việc cùng đi ăn chiều chứ”.
    “Đúng vậy”.
    Tại Paris, Tracy đặt buồng tại khách sạn Plaza Athenee, một căn phòng đáng yêu nhìn xuống khu vườn khách sạn ở đây có một phòng ăn sang trọng nhưng tối nay Tracy quá mệt mỏi, chẳng muốn thay một bộ váy chỉnh tề hơn làm gì. Nàng đi vào Ralais, một quầy cà phê của khách sạn, và gọi bát xúp.
    Nàng ăn được nửa chừng rồi bỏ về phòng.
    Daniel Cooper, ngồi ở đầu kia của gian phòng, đã lưu ý cử chỉ này của nàng.
    Daniel Cooper có chút rắc rối. Khi quay lại Paris, ông ta yêu cầu gặp thanh tra Trignant. Người đứng đầu Interpol đã tỏ ra kém thiện cảm. Ông đã vừa mất cả tiếng đồng hồ nghe cảnh sát trưởng Ramore, qua điện thoại, phàn nàn về người Mỹ này.
    “Ông ta thật điên rồ?” Ông cảnh sát trưởng không nén được giận dữ. “Tôi đã phung phí người, tiền và thời gian để theo sát “cô Tracy Whitney này, người mà ông ta quả quyết là sẽ cướp bảo tàng Prado và sau cùng té ra chỉ là một khách du lịch vô hại - đúng như tôi đã nói”.
    Cuộc trò chuyện đã dẫn thanh tra Trignant tới chỗ tin rằng Daniel Cooper có thể đã nhầm lẫn về Tracy ngay từ đầu Không một mảy may bằng chứng gì chống lại người phụ nữ này. Việc cô ta có mặt tại thành phố vào thời gian xảy ra các vụ tội phạm không thể được coi là bằng chứng.
    Và do vậy, khi Daniel Cooper tới gặp viên thanh tra và đề nghị, “Tracy Whitney hiện đang ở Paris. Tôi mong muốn cô ta bị đặt dưới sự giám sát 24 trên giờ”, thì viên thanh tra đáp “Trừ khi có thể cho tôi thấy bằng chứng nào đó rằng người phụ nữ này đang mưu toan thực hiện một hành vi tội phạm, tôi không thể làm gì hơn được”.
    Cooper đã nhìn ông ta chằm chằm bằng cặp mắt nâu giận dữ và nói. “Ông là một thằng ngốc”, và hậu quả là bị tống ra khỏi phòng.
    Vậylà từ lúc đó Cooper bắt đầu một mình theo dõi đối tượng. Ông ta lần theo Tracy đi mọi nơi:
    các cửa hiệu, nhà hàng, dọc theo các đường phố của Paris, Ông ta gần như không ngủ và có lúc không cả ăn. Daniel Cooper không thể để Tracy Whitney vượt mặt mình Nhiệm vụ của ông ta chưa thể hoàn thành nếu chưa đưa được nàng vào tù.
    Đêm đó, nằm trên giường, Tracy cân nhắc lại kế hoạch. Nàng mong cái đầu mình nhẹ nhõm hơn một chút. Người nàng đẫm mồ hôi và căn phòng dường như nóng đến mức không thể chịu được. Ngày mai là xong – nàng nghĩ - Thụy Sĩ. Mình sẽ đi đến đó. Tới những vùng núi mát lạnh của Thụy Sĩ, trong một biệt thự nào đó.
    Nàng đặt chuông báo thức vào lúc 5 giờ. Chuông reo, nàng thấy mình đang trong một phòng giam quen thuộc nghe Mụ Váy sắt đang hò hét, “Mặc xống áo vào. Mau lên” và khắp dẫy hành lang vang vang tiếng chuông réo.
    Tracy choàng tỉnh, thấy tức ngực, và ánh sáng làm nàng chói mắt. Nàng gắng gượng đi vào phòng tắm. Trong gương, mặt nàng đỏ rực và mụ mị. Mình không thể ốm vào lúc này được, Tracy nghĩ, hôm nay thì không thể được. Còn quá nhiều việc phải làm.
    Chậm chạp mặc quần áo, Tracy cố quên đi cái cảm giác nặng trịch trong đầu.
    Nàng mặc bộ áo liền quần màu đen có túi sâu, đi giày đế cao su, và một cái bê rê Basque. Tim nàng đang đập loạn xạ, và không thể biết đó là vì hồi hộp hay do cơn sốt nữa. Nàng thấy run run, mệt mỏi. Cổ họng khô đắng. Nhìn thấy trên bàn chiếc khăn quàng mà Jeff Stevens tặng, nàng cầm lên và cuốn nó vào quanh cổ.
    Cửa chính vào khách sạn Plaza Athenee mở ra trên đại lộ Mentaighe, nhưng cửa phụ cho nhân viên thì mở trên phố Beeador. Từ một vị trí quan sát gần cổng chính, Daniel Cooper không nhìn thấy Tracy đi ra qua cổng phụ, nhưng không hiểu sao, ngay khi nàng vừa đi khỏi thì ông ta cảm giác thấy điều đó, vội vã chạy ra lề đường nhìn ngược nhìn xuôi, song không hề thấy bóng dáng Tracy đâu.
    Chiếc xe Reláult màu xám đón Tracy ở ngay cổng phụ của khách sạn và chạy về khu Etoile. Vào giờ này đường phố vắng vẻ, và lái xe, một người trẻ tuổi mặt đầy tàn nhang, cho xe chạy như bay vào một trong số mười hai đại lộ tạo thành khu Etoile. Mình ước gì anh ta chạy chậm lại, Tracy suy nghĩ, Tốc độ nhanh quá làm nàng có cảm giác say xe.
    Ba “mươi phút sau chiếc xe quành gấp trước một khu nhà kho. Tấm biển ở cửa đề BRUCERE ET CIE. Tracy nhớ rằng đây là nơi làm việc của người anh Vauban.
    Anh chàng lái xe mở cửa xe và giục. “Mau lên”.
    Một người đàn ông tuổi trung niên với tác phong nhanh nhẹn, kín đáo xuất hiện khi Tracy vừa bước ra khỏi xe. “Theo tôi”, ông ta nói. “Nhanh lên”.
    Tracy hấp tấp bước theo ra phía sau khu nhà kho, nơi có dăm bảy chiếc côngtenơ, phần lớn đã đầy hàng và “đã niêm phong, sẵn sàng để chuyển ra sân bay. Lẫn vào đó có một côngtenơ mềm, một mặt bịt vải bạt, trong đã có một ít hàng hóa.
    “Vào đi Nhanh lên”. Chúng ta không có nhiều thời gian đâu”.
    Tracy cảm thấy choáng váng. Nàng nhìn cái thùng hang và nghĩ - mình không thể cho vào đó được, sẽ chết mất.
    Người đàn ông thấy lạ, nhìn nàng hỏi, “Cô có chuyện gì thế Bây giờ là lúc còn có thể rút lui, còn có thể ngừng mọi chuyện. “Tôi không sao”, nàng lẩm bẩm. Sẽ qua ngay thôi mà. Chỉ sau vài giờ nữa là nàng đã lên đường đi Thụy Sĩ.
    Tốt! Cầm lấy cái này”. Ông ta đưa cho nàng một con dao hai lưỡi một cuộn dây thừng nặng trịch, một đèn pin, và một cái hộp nhỏ màu xanh da trời, ngoài buộc sợi dây lụa đỏ.
    “Đây là phiên bản của chiếc hộp kim cương mà cô sẽ đánh tráo”.
    Tracy hít một hơi thật sâu, bước vào, và ngồi xuống. Vài giây sau một tấm bạt lớn được trùm lên. Nàng có thể nghe tiếng những sợi thừng đang được chằng ngang trên mặt tấm bạt.
    Loáng thoáng nàng nghe tiếng ông ta. “Từ lúc này trở đi, không nói chuyện, không cử động, không hút thuốc”.
    “Tôi không hút thuốc” Tracy định đáp, nhưng không còn hơi sức nào nữa.
    “Chúc may mắn. Tôi đã đục mấy lỗ ở bên thành để cô dễ thở. Đừng có quên thở đấy nhé”. Ông ta cười và bỏ đi.
    Trong bóng tối, chỉ còn lại mình nàng.
    Côngtenơ vốn chật hẹp, và bộ bàn ghế dùng trong phòng ăn lại đã chiếm mất phần lớn không gian. Tracy thấy cứ như đang bị lửa dốt vậy. Người nàng nóng bừng, và rất khó thở. Chắc lả mình bị một thứ vi rút nào đó tấn công, nàng nghĩ, nhưng chúng phải chờ đã. Mình còn có việc phải làm. Hãy nghĩ tới chuyện gì khác thì hơn.
    Giọng nói của Gunther như vang lên:
    “Không có gì để cô lo ngại cả, Tracy ạ.
    Khi họ đưa hàng tới một gara tư nhân kề sân bay, Jeff sẽ đón cô ở đó. Giao chỗ kim cương cho anh ta và quay lại sân bay. Có một vé máy bay đi Giơnevơ đã được đặt sẵn cho cô ở phòng bán vé của Hàng không Thụy Sĩ. Rời khỏi Amstecđam càng nhanh càng tốt. Ngay khi cảnh sát biết vụ trộm, họ sẽ đóng cửa thành phố đấy. Sẽ không có trục trặc gì cả, nhưng để dự phòng, đây là địa chỉ và chìa khóa của một ngôi nhà an toàn ở Amstecđam. Hiện không có ai ở đó”.
    Chắc là nàng đã thiếp đi vì bỗng choàng tỉnh khi côngtenơ bị nhấc lên. Tracy thấy mình bị lắc lư và vội đưa tay bám chặt vào một bên thành. Chiếc côngtenơ được đặt mạnh xuống. Tiếng cửa xe đóng đánh rầm, tiếng động cơ nổ và giây lát sau, xe tải bắt đầu chuyển bánh.
    Họ đang trên đường ra sân bay.
    Toàn bộ kế hoạch đã được tính toán đến từng giây từng phút. Chiếc côngtenơ chứa Tracy sẽ phải được chở đến khu xếp hàng hóa gần như cùng lúc với thùng hàng của hãng De Beers. Người lái xe chở Tracy đã nhận được chỉ thị:
    Giữ vững tốc độ 51 dặm một giờ.
    Sáng hôm đó mật độ giao thông trên con đường dẫn tới sân bay có vẻ cao hơn thông thường nhưng người lái xe không hề lo ngại. Thùng hàng sẽ đến kịp thời và anh ta sẽ được 50 ngàn phrăng tiền thưởng, đủ để đưa vợ con đi nghỉ một chuyến. Chúng ta sẽ đi Mỹ - thế giới của Disney.
    Anh ta nhìn đồng hồ trên xe và mỉm cười một mình. Không có vấn đề gì.
    Sân bay chỉ còn cách ba dặm và anh ta thì còn những hai mươi phút nữa.
    Đúng lịch trình, anh ta tới chỗ rẽ vào khu vực của bộ phận vận tải hàng hóa, cho xe tiếp tục chạy ngang qua khu nhà ga thấp, qua cổng hành khách và hướng tới phlaá khu vực hàng hóa. Đúng lúc chiếc xe tới sát bức tường vây quanh khu hàng hóa rộng lớn ngổn ngang những thùng hàng thì anh ta nghe thấy một tiếng nở và chiếc xe tải từ từ dừng lại. Cứt thật! Anh ta nghĩ. Một cú nổ lớn tai hại.
    Chiếc 747 khổng lồ chở hàng của hàng không Pháp, đang được xếp hàng lên.
    Phần mũi chiếc máy bay được nâng lên, để lộ các đường ray chạy suốt vào trong thân máy bay. Việc xếp hàng đã gần hoàn thành. Ramon Vauban nhìn đồng hồ trên tay và cau có. Chiêc xe tải đã trễ hẹn. Hàng của hãng De Beers đã được xếp vào thùng và các tấm bạt đã được chằng cẩn thận bằng thừa. Vauban đã bôi sơn đỏ lên mặt ngoài chiếc thùng để giúp người phụ nữ kia dễ nhận ra nó.
    Lúc này, anh ta đứng trông theo chiếc thùng đang được đẩy vào trong khoang máy bay và sẽ được cố định bằng các chất hãm. Khoảng trống bên cạnh nó dành cho một thùng hàng nữa, trước khi máy bay cất cánh. Trong khi đó trong bãi hàng còn ba côngtenơ chở đến lượt. Lạy Chúa, người phụ nữ kia ở đâu cơ chứ?
    Người phụ trách việc xếp hàng đang ở trong máy ba kêu lớn, “Nào, Ramón.
    Cái gì làm ùn lại thế “Đợi một phút”, Vauban trả lời. Anh ta chạy ra phía cổng ngóng ra. Không thấy bóng dáng chiếc xe tải đâu hết.
    “Vauban? Có trục trặc gì thế” “Anh ta ngoái lại. Một giám sát viên cấp cao đang tiến đến. “Kết thúc việc chất hàng lên và cho bay thôi”.
    “Thưa ngài, vâng. Tôi đang đợi ...”.
    Đúng lúc đó chiếc xe tải của hãng Brucere et Cie lao vào khu kho và dừng gấp ngay trước mặt Vauban.
    “Đây là kiện hàng cuối cùng”, Vauban lớn tiếng nói.
    “Tốt, cho lên đi”, người giám sát nói nhanh.
    Vauban trông coi việc bốc hàng ra khỏi xe tải, đưa nó lên chiếc cầu trượt vào trong máy bay.
    Anh ta vẫy tay ra hiệu với người phụ trách việc xếp hàng “Đủ cả rồi đấy”.
    Giây phút sau, khi kiện hàng cuối được xếp xong và đầu mũi máy bay được hạ xuống, Vauban dứng nhìn các động cơ phản lực phụt lửa ra đằng sau, chiếc máy bay khổng lồ bắt đầu lăn bánh chạy ra phía đường băng, nghĩ bụng, giờ thì chỉ còn phụ thuộc vào người phụ nữ kia.
    Có một cơn bão dữ dội. Một đợt sóng lớn ập vào và con tàu bắt đầu chìm xuống. Mình sắp chết đuối rồi, Tracy nghĩ. Mình phải thoát ra khỏi đây mới được. Nàng vung hai tay ra và đập phải một thứ gì đó. Đó là thành chiếc phao cấp cứu, bập bềnh và chao đảo. Gắng gượng nhỏm dậy, nàng đập đầu phải chân chiếc bàn. Trong một giây tĩnh trí nàng đã nhớ ra mình đang ở đâu. Mồ hôi ướt đầm mái tóc và gương mặt, nàng thấy chóng mặt, quay cuồng, người nóng rực.
    Mình đang ở trong một cơn ác mộng. Mình đang ngủ trên chiếc giường ở London. Mình phải gọi bác sĩ mất. Không thể hít thở được, nàng cố với chiếc điện thoại, rồi lại tức khắc sụp xuống ...
    Chiếc máy bay qua một vùng khí loãng và Tracy bị xô bật vào góc, đầu mung lung, mơ hồ, cố gắng lấy lại sự tỉnh táo một cách tuyệt vọng. Mình có bao nhiêu thời gian nhỉ? Nàng lẫn lộn giữa một giấc mơ quỷ quái và một thực trạng khủng khiếp. Phải làm thế nào đoạt được chỗ kim cương kia. Nhưng trước hết ...
    trước hết, phải cắt dây để chui ra khỏi cái thùng này đã. Nàng sờ tay vào túi quần lấy con dao và thấy cầm nó lên cũng là một việc nặng nhọc. Thiếu không khí, Tracy nghĩ. Mình phải có không khí để thở. Nàng vòng tay lần qua mép tấm bạt tìm kiếm một trong số những sợi thừng chằng bên ngoài và cắt đứt nó.
    Dường như phải mất một thời gian rất lâu cho cái việc đơn giản đó. Tấm bạt đã hé ra rộng hơn. Nàng cắt một sợi dây khác nữa và vậy là đủ rộng để chui ra ngoài. Không khí bên ngoài lạnh ngắt. Nàng bắt đầu run rẩy và độ rung của máy bay làm tăng cảm giác buồn nôn. Mình phải vững vàng lên mới được, Tracy nghĩ, mình phải tỉnh táo trở lại Mình đang làm gì ở đây nhỉ? Có việc quan trọng.
    Đúng. Những viên kim cương.
    Mọi thứ trước mắt nàng như nhòa đi, chao đảo. Mình sẽ không làm được chuyện đó, nàng nghĩ.
    Chiếc máy bay đột ngột hẫng xuống và Tracy ngã ra. Nàng bám chặt tay vào mấy đường ray trong khi chiếc máy bay lắc lư và khi nó đã thăng bằng trở lại, nàng bắt mình phải đứng dậy. Tiếng gầm rú củạ các động cơ phản lực hòa lẫn với những tiếng ong ong trong đầu. Những viên kim cương. Mình phải tìm ra những viên kim cương, nàng thầm nhắc mình.
    Loạng choạng lần tìm nàng nheo nheo mắt dõi nhìn từng côngtenơ để tìm vệt sơn đỏ. Ơn Chúa! Nó kia rồi.
    Nàng đứng lặng, cố nhớ xem phải làm gì tiếp theo. Giá có thể nằm xuống và ngủ lấy vài phút, mình sẽ tỉnh táo ra nàng nghĩ. Mình chỉ cần được ngủ vài phút thôi mà.
    Nhưng không còn thời gian. Bất kỳ giây phút nào máy bay cũng có thể hạ cánh. Tracy lấy dao ra cứa những sợi thừng. Họ đã nói với nàng. Chỉ cần một nhát cắt thật khéo là đủ.
    Nàng không còn đủ sức để nắm chặt con dao nữa. Mình không thể bỏ cuộc lúc này, Tracy nghĩ. Lại bắt đầu run rẩy, run không kìm được, đến mức để rơi cả dao. Không được rồi. Họ sẽ bắt được mình, và đưa mình trê lại nhà tù.
    Nàng dường như không biết làm gì, hai tay cứ bám lấy sợi thừng, chỉ muốn bò trở lại cái thùng của mình để ngủ một giấc ở nơi ấn náu đó, cho đến khi mọi chuyện qua đi. Điều đó thật dễ dàng mà. Nhưng rồi, một cách chậm chạp và thận trọng để khỏi làm tăng thêm cơn đau đầu khủng khiếp, Tracy với con dao và cầm nó lên, bắt đầu cắt sợi dây thừng nặng nề kia.
    Sau cùng, sợi dây thừng cũng đã đứt, Tracy kéo tấm bạt ra và ngó vào phía trong. Không thể nhìn thấy gì vì tối om. Nàng lấy đèn pin ra và đúng lúc đó, cảm thấy sự thay đổi đột ngột áp suốt không khí, hai tai nàng hơi bị ù đi.
    Máy bay bắt đầu hạ thấp độ cao để chuẩn bị hạ cánh.
    Tracy nghĩ, phải nhanh lên mới được. Nhưng các cơ bắp như không thể điều khiển được nữa. Động tay động chân đi chứ, nàng tự giục mình, rồi rọi đèn vào bên trong côngtenơ. Ngổn ngang những kiện hàng, các vali nhỏ, và trên một cái thùng các tông là hại cái hộp nhỏ màu xanh da trời buộc bằng những dây lụađỏ.
    Hai hộp à! Người ta bảo là ... nàng dụi mắt, và hai hộp nhập lại thành một.
    Trong mắt Tracy, mọi vật đều như có vầng sáng bao quanh vậy.
    Nàng lấy cái hộp giống hệt như vậy ra khỏi túi mình.
    Vừa cầm hai chiếc hộp lên tay thì cơn buồn nôn quặn dậy.
    Rồi khi vừa định thay thế cái hộp kim cương giả vào chỗ cũ, thì nàng nhận ra mình không còn biết chắc cái nào là cái hộp thật nữa. Hai cái giống hệt nhau.
    Nó là cái trên tay trái, hay tay phải nhỉ?
    Máy bay hạ xuống thấp hơn. Nó sẽ hạ cánh ngay bây giở buộc phải có quyết định, nàng đành đặt một hộp trở lại chỗ cũ, thầm mong rằng đó là hộp giả, lần tìm trong túi lấy ra một sợi dây thừng lành lặn. Hình như phải buộc lại sợi dây thừng, nàng tự nhắc mình. Đầu ong ong nhức nhối làm nàng không còn nghĩ được gì nữa. “Sáu khi cắt sợi thừng, cô đút nó vào trong túi và thay vào đó sợi khác.
    “Đừng vương lại cái gì để gây nên sự nghi ngờ cả nhé”?
    Khi đó ngồi sưởi nắng trên chiếc du thuyền Con Muỗi nghe sao mà dễ dàng thế. Giờ đây thật như không thể làm nổi cái “việc đơn giản đó. Nàng như không còn chút hơi sức nào cả. Các nhân viên bảo vệ sẽ phát hiện ra sợi dây thừng bị cắt, khoang máy bay sẽ bị khám xét, và nàng sẽ bị bắt giữ. Từ sâu trong con người nàng vang lên tiếng hét. Không! Không không?
    Bằng một cố gắng phi thường, Tracy bắt đầu chằng sợi dây thừng lành lặn quanh chiếc côngtenơ, cảm thấy một cú xóc bật lên dưới chân mình khi chiếc máy bay tiếp đất và bị đẩy ngã ra phía sau vì máy bay hãm tốc độ lại.
    Đầu nàng đập xuống sàn, choáng váng.
    Chiếc 747 bắt đầu chạy dọc theo đường băng, Tracy nằm rứm ró, tóc lòa xòa trên gương mặt trắng bệch. Sự im tiếng của các động cơ làm nàng tỉnh lại. Máy bay đã dùng bánh. Nàng đứng dậy, run run, bám lấy đâu đó để khỏi ngã. Sợi thừng mới đã được buộc đúng chỗ. Nàng ôm chiếc hộp kim cương vào ngực và lảo đảo lần về thùng hàng của mình, chui vào qua kẽ bạt và sụm xuống, thở dốc, mồ hôi túa ra khắp người. Mình đã làm xong việc, nhưng hình như còn phải làm một việc gì đó nữa. Một việc gì đó quan trọng. Việc gì nhỉ? Dán nối sợi thừng trên chiếc côngtenơ của chính nàng.
    Nàng với tay vào trong túi lần cuộn băng keo. Không thấy đâu cả. Thở hổn hển, nặng nhọc, và nàng thấy tiếng động, những tiếng nôi, bèn nín thở để nghe ngóng. Đúng rồi. Họ đã đến. Tiếng cười của ai đó. Cửa khoang hàng sắp bật mở ngay thôi và họ sẽ bắt đầu dỡ hàng. Họ sẽ thấy sợi thừng bị cắt, sẽ ngó vào bên trong và sẽ phát hiện ra. Phải tìm cách nối nó lại. Nàng quỳ lên, và quỳ phải cuộn băng keo cưng cứng đã rơi khỏi túi từ lúc nào đó. Nàng thò tay ra tìm hai sợi thừng, giữ chúng kề sát vào nhau và vụng về quấn sợi băng keo xung quanh.
    Nàng không nhìn được gì. Mồ hôi ròng ròng trên mặt làm hai mắt cay xè.
    Nàng kéo chiếc khăn quàng khỏi cổ và dùng nó lau mặt. Đỡ hơn một chút. Hoàn thành việc dán chặt hai đầu sợi thừng, nàng kéo tấm bạt kín lại như cũ, giờ thì chỉ còn chờ đợi, không còn gì phải làm nữa.
    Nàng sờ tay lên trán lần nữa, nó nóng rực.
    Mình phải vào bóng râm thôi, Tracy mơ màng. Ánh nắng vùng nhiệt đới có thể là rất nguy hiểm.
    Nàng đang đi nghỉ đâu đó ở vùng Caribê. Jeff đã đến, mang tới mấy viên kim cương, nhưng anh đã nhảy xuống biển và biến mất. Nàng với theo để nhưng anh ta đã tuột khỏi tay nàng. Nước trùm qua đầu, ngạt thở và chìm xuống ...
    Nàng nghe thấy tiếng những người công nhân đang trèo vào khoang máy bay.
    “Cứu!” Nàng hét lên. “Xin hãy cứ tôi”.
    Nhưng tiếng hét của nàng chỉ là một tiếng thì thào yếu ớt và đã không ai nghe thấy cả.
    Những chiếc côngtenơ đã bắt đầu được đẩy ra khỏi máy bay.
    Tracy đã hoàn toàn bất tỉnh khi họ bốc chiếc côngtenơ có chứa nàng xuống một chiếc xe tải của hãng Brucere et Cle. Bị bỏ lại đằng sau, trên sàn máy bay, là chiếc khăn quàng mà Jeff đã tặng nàng.
    Ai đó nâng tấm bạt lên. Ánh sáng ùa vào làm Tracy tỉnh giấc. Nàng mở mắt ra một cách chậm chạp. Chiếc xe tải đã ở trong một nhà kho.
    Jeff đang đứng đó, mỉm cười với nàng. “Em đã hoàn thành công việc!” Anh nói. “Em thật tuyệt vời. Hãy đưa tôi cái hộp nào”.
    Nàng mơ màng nhìn trộm khi anh cúi xuống bên nhấc cái hộp lên. “Hẹn gặp em ở Lisbon nhé”. Anh ta quay đi rồi chợt dừng lại nhìn nàng. “Tracy trông em khủng khiếp quá. Em có khỏe không?”.
    Nàng không nói nổi nữa. “Jeff, tôi ...”.
    Thế nhưng anh đã đi mất.
    Tracy chỉ loáng thoáng biết những gì diễn ra sau đó.
    Người ta thay quần áo cho nàng ở phía sau gian kho, và một người đàn bà nói. “Cô có vẻ ốm lắm, thưa cô. Cô có muốn tôi gọi một bác sĩ tới không”.
    “Đừng, đừng gọi bác sĩ”, Tracy thều thào.
    Lời Gunther loáng thoáng vọng về - Có một chiếc vé đi Giơnevơ đã được đặt sẵn cho cô tại phòng bán vé của Hàng không Thụy Sĩ. Rời khỏi Amstecđam càng sớm càng tốt Ngay khi cảnh sát biết vụ trộm, họ sẽ đóng cửa thành phố”.
    đấy. Sẽ không có gì trục trặc đâu, nhưng dự phòng, đây là địa chỉ và chìa khóa của một ngôi nhà an toàn ở Amstecđam. Hiện không có ai ở đó cả”?
    Sân bay. Phải ra sân bay ngay thôi. “Tắc xi”. Nàng lẩm bẩm. “Tắc xi”.
    Người đàn bà lưỡng lự trong giây lát rồi nhún vai.
    “Được thôi:
    Tôi sẽ gọi xe. Đợi đấy”.
    Người nàng như dâng lên cao, cao mãi, như gần sát tới mặt trời vậy.
    “Tắc xi của cô đã đến”, giọng một người đàn ông nào đó.
    Nàng chỉ muốn mọi người đừng quấy rối mình. Giờ đây nàng chỉ muốn ngủ yên thôi.
    Người tài xế hỏi “Cô muốn đi đâu vậy, thưa cô?”.
    Chiếc vé mấy bay đã đặt sẵn ...
    Nàng yếu quá, không thể lên máy bay được. Họ sẽ ngăn lại, gọi bác sĩ. Nàng sẽ bị tra hỏi. Lúc này nàng chỉ cần được nghỉ ít phút, rồi thì sẽ khỏe.
    Giọng người tài xế bắt đầu sốt ruột. “Đi đâu, thưa cô?”.
    Không có nơi nào để đến cả, nàng nới địa chỉ ngôi nhà an toàn.
    Cảnh sát đang tra xét nàng về những viên kim cương và khi bị khước từ trả lời, họ đã trở nên giận dữ, ném nàng vào một căn phòng rồi mở hơi nóng vào cho tới khi tất cả nóng rực lên. Khi nàng không thể chịu nổi nữa, họ bèn hạ nhiệt độ trong xuống cho đến những hạt nước đá li ti ngưng tụ trên mặt các bức tường.
    Tracy thấy lạnh quá, nàng mở mắt. Hóa ra nàng đang nằm trên một chiếc giường, người run lên bần bật. Phía dưới người cô là một tấm chăn mền, nhưng nàng không còn đủ sức để kéo nó phủ lên người nữa. Váy nàng ướt sũng, mồ hôi đầm đìa trên mặt và cổ.”.
    Mình sắp chết mất. Đây là đâu nhỉ?
    Ngôi nhà an toàn. Mình đang ở trong ngôi nhà an toàn. Ý nghĩ đó làm nàng bật cười, và tiếng cười chuyển thành chuỗi tiếng ho dữ dội. Thế là hỏng hết cả rời. Bây giờ thì hẳn cảnh sát đang sục sạo khắp Amstecđam để tìm nàng. Cô Whitney đã đặt vé đi Thụy Sĩ mà không dùng tới nó ư? Vậy thì cô ta vẫn còn ở Amstecđam.
    Không biết là nàng đã nằm trên chiếc giường này bao lâu rồi, nàng nâng cổ tay lên để nhìn đồng hồ. Những con số cứ nhòe đi, mọi thứ nàng nhìn đều biến thành hai, thành bốn cả. Cơn run ngừng dần và toàn thân lại bắt đầu nóng rực lên. Nàng muốn mở một cánh cửa sổ quá, nhưng không nhúc nhích nổi chân tay, Căn phòng lại bắt đầu lạnh giá. “Em đã hoàn thành công việc. Em thật tuyệt vời Hãy đưa cho tôi cái hộp nào”. Jeff nói.
    Jeff đã mang những viên kim cương đi, và có thể anh ta đang trên đường đi Brazln cùng với cả phần tiền của nàng nữa. Anh ta sẽ vui thú với những phụ nữ của anh ta, và cười nhạo nàng. Một lần nữa anh ta lại cho nàng một vố. Nàng thấy căm ghét anh ta. Không? Còn khinh bỉ anh ta nữa.
    Hết cơn mê sảng này lại cơn mê sảng khác. Trái bóng Pơlôtta đang vun vút lao vé phía nàng. Jeff ôm choàng lấy và đẩy nàng xoài xuống đất, môi anh kề sát môi nàng và rồi họ đang ăn chiều tại tiệm Zalacain. Em có biết em là một cô gái đặc biệt không, Tracy? Jeff nói.
    “Tôi đề nghị hòa”, giọng Boris Melnikov.
    Toàn thân nàng lại run lên, không kìm được, và nàng thấy mình đang ở trong một chuyến tàu nhanh vùn vụt lao qua một đường hầm tối om. Tất cả các hành khách đều đã xuống tàu chỉ trừ có Alberto Pornati. Ông ta đang giận dữ la hét nàng và tóm lấy nàng lắc lấy lắc để.
    “Hãy vì Chúa”, ông ta hét. “Mở mắt ra nào! Nhìn tôi đây này!”.
    Bằng một cố gắng phi thường, Tracy mới mở mắt ra được, và Jeff đang cúi xuống nhìn nàng. Khuôn mặt anh trắng bệch và có vẻ cáu kỉnh gì đó trong giọng nói của anh ta. Hẳn cũng lạl là một phần eơn mê của nàng đây.
    “Em đã thế này bao lâu rồi?”.
    “Anh đang ở Braxin”, Tracy lẩm bẩm.
    Sau đớ, nàng lại thiếp đi, không hay biết gì nữa.
    Khi thanh tra Trigmant nhận được chiếc khăn quàng có hai chữ TW mà người ta nhặt được trên sàn máy bay chở hàng hóa của Hàng không Pháp, ông ta lặng nhìn nó hồi lâu.
    Rồi ông ra lệnh, “Kiếm Daniel Cooper cho tôi”.
     
    silverstorm thích điều này.
  5. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 32


    Làng Alkmaar đẹp như tranh, nằm trên bờ biển Tây Bắc Hà Lan trông ra biển Bắc, là một nơi du lịch hấp dẫn nổi tiếng, thế nhưng lại có một khu vực nhỏ ở phía Đông của nó rất ít khách lui tới, Jeff Stevens đã vài lần đến nghỉ ở đó cùng với một chiêu đãi viên của hãng Hàng không KLM, người đã dạy anh chút ít ngôn ngữ của xứ sở này. Ánh nhớ rất rõ cư dân ở đó chỉ bận tâm với công việc của bản thân họ và không quá tò mò để ý tới du khách.
    Đó là một nơi ẩn náu hoàn hảo nhất.
    Ý định lúc đầu của Jeff là đưa ngay Tracy tới bệnh viện, nhưng như thế thì quá nguy hiểm. Việc nàng chỉ ở lại Amstesđam thêm một phút nào nữa thôi cũng là cả một sự phiêu lưu. Anh đã cuốn nàng trong một tấm mền, ẵm ra ô tô, và suốt quãng đường tới Alkmaar nàng vẫn không hề một lần tỉnh lại. Mạch đập rối loạn và hơi thở nặng nhọc.
    Ở Alkmaar, Jeff thuê một quán trọ nhỏ. Ông chủ quán tò mò nhìn Jeffbế Tracy lên trên phòng.
    “Chúng tôi đang đi chơi tuần trăng mật”, Jeff phân trần. “Vợ tôi bị ốm, và cần được nghỉ ngơi”.
    “Anh muốn gọi bác sĩ không?”.
    Chính Jeff cũng không biết trả lời thế nào nữa nên đành nói. “Tôi sẽ báo với ông sau nhé”.
    Việc đầu tiên phải làm là cố gắng hạ cơn sốt cho Tracy. Jeff đỡ nàng nằm xuống chiếc giường đôi và bắt đầu cởi bộ đồ ướt đầm mồ hôi của nàng ra. Anh nâng nàng ngồi dậy và kéo váy qua đầu nàng. Tiếp theo là giày, rồi đến đời tất dài. Người nàng nóng rực. Jeff dung khăn tắm thám nước lạnh và nhẹ nhàng lau rửa toàn thân nàng, đắp lên người nàng một tấm mền và rồi ngồi bên mép giường lắng nghe nhịp thở ngắt quãng của nàng.
    Nếu sáng mai mà cô ấy không đỡ, Jeff quyết định, mình sẽ đành lòng kêu bác sĩ tới.
    Sáng ra, khăn trả giường lại đã đẫm mồ hôi. Tracy vẫn không tỉnh, nhưng Jeff thấy nhịp thở đã đều hơn.
    Anh ngại không muốn để hầu phòng trông thấy Tracy điều đó dần đến quá nhiều câu hỏi khác nhau, do vậy, anh gặp chủ quán hỏi lấy mấy tấm vải trải giường và ôm vào phòng, lại lau khắp thân thể Tracy bằng khăn ướt, thay vải trải giường theo cách mà các cô hộ lý vẫn làm trong các bệnh viện, không phiền gì đến bệnh nhân và rồi đắp lên nàng một tấm mền khác.
    Jeff treo tấm bảng KHÔNG LÀM PHIỀN lên cánh cửa rồi đi ra ngoài tìm tới một hiệu thuốc gần nhất, mua thuốc giảm sốt, mua cặp nhiệt độ, một miếng bọt biển và một ít cồn. Khi quay trở lại, Tracy vẫn chưa tỉnh. Jeff đo nhiệt độ và thấy nàng vẫn đang sốt cao. Anh dừng miếng bọt biển thấm cồn xoa khắp”người nàng và cơn sốt hạ xuống.
    Một giở sau thân nhiệt nàng lại tăng lên. Anh đã định gọi bác sĩ. Chắc rắc rồl là bác sĩ. Chỗ rắc rối là bác sĩ nhất định sẽ đòi đưa Tracy đến bệnh viện. Các câu hỏi sẽ được đặt ra. Jeff không biết liệu cảnh sát có đang truy lùng họ hay không, và nếu vậy thì chắc chắn cả bọn sẽ bị bắt giữ.
    Anh nghiền bốn viên thuốc giảm sốt, cho vào giữa hai môi Tracy rồi dùng thìa nhỏ nước vào miệng, và sau cùng đã cho nàng uống thuốc được. Anh xem mạch, nó có vẻ ổn định hơn. Anh áp tai vào ngực nàng, lắng nghe. Phải chăng hơi thở của nàng đã nhẹ nhàng hơn? Anh không dám chắc, chỉ tin có một điều duy nhất, và anh thầm nhắc đi nhắc lại cho đến khi nó trở thảnh lời khấn nguyện? “Em sắp khỏe lại cho mà xem”. Anh dịu dàng hôn lên trán nàng.
    Jeff đã không ngủ trong suốt hơn bốn mươi tám đồng hồ liền, và lúc này thì kiệt sức, hai mắt trũng sâu. Mình sẽ ngủ sau, anh tự hứa. Mình sẽ nhắm mắt lại một chút thôi – anh lẩm bẩm và rồi ngủ thiếp đi.
    Khi mở mắt ra, phải mất một lúc:
    Tracy mới nhìn rõ trần nhà và không biết là mình đang ở đâu nữa. Dần dần nâng tỉnh hẳn. Toàn thân mỏi nhừ và nhức nhối, cảm giấc như vừa qua một chuyến đi dài đầy mỏi mệt. Nàng chậm chạp đưa mắt nhìn quanh căn phòng xa lạ và chợt giật thót người. Jeff đang ngủ, người co trong chiếc ghế bành kề bên cửa sổ. Lần gần đây nàng thấy Jeff là khi anh ta đến lấy chỗ kim cương và mang đi. Anh ta làm gì ở đây nhỉ? Và với một cảm giác đột nhiên nhói lên, Tracy biết ngay câu trả lời:
    nàng đã đưa cho anh ta cái hộp kia - cái hộp đựng kim cương giả - và Jeff đã nghĩ rằng anh ta bị nàng lừa. Chắe anh ta đã lôi nàng ra hỏi căn nhà an toàn và mang đến nơi đây.
    Khi nàng ngồi dậy, Jeff cựa mình và mở mắt. Thấy Tracy đang nhìn, một nụ cười chậm rãi nhưng rạng rỡ trên khuôn mặt anh.
    “Xin chúc mừng”. Giọng anh như tiếng thở phào nhẹ nhõm, đến mức làm Tracy hiểu lầm.
    “Tôi xin lỗi”, Tracy nói. Giọng nàng là một lời thì thầm khản đặc. “Tôi đã lấy nhầm cái hộp”.
    “Cái gì?”.
    “Tôi đã bị lẫn hai cái hộp với nhau”.
    Jeff bước lại bên nàng và dịu dàng. “Không đâu, Tracy. Em đã trao cho tôi những viên kim cương thật sự.
    Chúng đã đến với Gunther rồi”.
    Nàng nhìn anh, bối rối. “Vậy thì ... tại sao ... tại sao anh lại ở đây?”.
    Anh ghé ngồi xuống mép giường. “Khi em đưa cho tôi chỗ im cương, trông em thất sắc quá..Tôi quyết định tốt hơn là phải chờ ở sân bay để có thể tin chắc rằng em đến kịp chuyến bay của mình. Em đã không ra sân bay và tôi biết ngay rằng em đang gặp khó khăn. Tôi đến căn nhà an toàn và thấy em ở đó” giọng anh nhẹ nhàng. “Đó sẽ là một dấu vết của cảnh sát”.
    Nàng lúng túng nhìn anh. “Vậy anh cho tôi biết lý do đích thực của việc anh quay lại tìm tôi đi”.
    “Đã đến giờ cặp sốt cho em rồi”. Anh nói nhanh.
    “Đỡ rồi”, anh nói sau ít phút. “Chỉ còn hơi nóng một chút thôi. Em là một người bệnh tuyệt vời đấy”.
    “Jeff ...”.
    “Cứ tin tôi đi. Em đói không?”.
    Đột nhiên Tracy cảm thấy đói ghê gớm. “Đói đến sắp chết mất”, nàng đáp.
    “Tốt. Tôi sẽ mang cho em chút đồ ăn nhé”.
    Anh từ cửa hàng tra về với một túi lớn đầy nước cam, sữa và trái cây tươi cùng với một con gà quay lớn và ít pho mát thịt cá.
    “Đây có lẽ là món xúp gà kiểu Hà Lan, ăn tốt đấy.
    “Nào, ăn chậm thôi nhé”.
    Anh giúp nàng ngồi dậy, cho nàng ăn, thận trọng và dịu dàng, và Tracy e ngại nghĩ anh ta hẳn có ý gì đây. Trong lúc cho Tracy ăn, Jeff nói. “Tôi vừa gọi điện cho Gunther. Ông ấy đã nhận được kim cương, và đã gửi phần tiền của cô vào tài khoản nhà băng của cô ở Thụy Sĩ.
    Nảng đã không thể kìm được câu hỏi, “Sao anh không gửi cả cho mình?”.
    Jeff trả lời, giọng đầy vẻ nghiêm nghị. “Bởi vì đã đến lúc mình nên thôi việc ganh đua với nhau, Tracy. Được không nào?”.
    Hẳn là một ngón chơi khác của anh ta thôi, dĩ nhiên là thế, nhưng nàng chẳng còn hơi sứe nào mà lo chuyện ấy nữa. “Được”.
    “Nếu cho tôi biết các số đo của em”, anh nói. “Tôi sẽ mua về cho em một ít đồ để mặc. Người Hà Lan cũng khoáng đạt thôi, nhưng tôi nghĩ nếu em cứ như thế này mà đi ra ngoài thì họ sẽ bị sốc đấy”.
    Tracy chợt nhận ra sự trần truồng của mình vội kéo mền choàng kín người.
    Nàng chỉ có ấn tượng rất mơ hồ về việc Jeff cởi váy áo và tắm táp cho. Anh đánh đổi sự an toàn của mình để chăm sóc nàng? Vì sao? Nàng đã nghĩ mình hiểu anh. Không một chút gì cả.
    Nàng lại ngủ thiếp đi.
    Buổi chiều, Jeff mang về hai vali đầy chặt váy ngắn, váy ngủ, đồ lót, váy liền áo, giày.dép và một hộp son phấn cùng với lược, bàn chải và kem đánh răng.
    Anh cũng mua cho mình một vài bộ đồ để thay đổi và cả một tờ Diễn đàn thông tin Quốc tế” mà ở trang đầu là tin về vụ cướp đoạt kim cương trên máy bay, cảnh sát đã phán đoán được cách thức tiến hành vụ trộm, nhưng theo bài báo, bọn trộm đã không để lại dấu vết gì.
    Jeff nói vui vẻ. “Chúng ta được tự do về nhà rồi” Giờ đây chỉ còn một việc là làm cho em mau khỏe lại”.
    Chính Daniel Cooper là người đã đề nghị không để báo chỉ biết về cái khăn quàng trên có hai chữ TW. Ông ta nói với thanh tra Trignant. “Chúng ta biết nó là của ai, nhưng nó không đủ là một bằng chứng kết tội. Các luật sư của cô ta sẽ nêu ra hàng vạn các phụ nữ châu Âu có tên viết tắt 1à TW, và sẽ biến các ông thành trò cười”.
    Theo Cooper thì cảnh sát đã tự biến mình thành những thằng ngốc. Chúa sẽ trao cô ta cho mình - ông ta nghĩ.
    Ông ta ngồi trong bóng tối của một ngôi nhà thờ nhỏ, trên một chiếc ghế băng bằng gỗ cứng, và cầu nguyện:
    Ôi, lạy đức Chúa Cha, hãy để cô ta là của con. Xin giao cho con trừng phạt cô ta để con có thể rửa sạch tội lỗi của mình.
    Con quỷ trong linh hồn cô ta bị xua đuổi, và thân thể trần truồng của cô ta sẽ bị nọc ra đánh đòn ... Rồi ông ta mường tượng tới tấm thân lõa lồ của Tracy và đột nhiên thèm muốn. Cooper vội vã rời khỏi nhà thờ vì sợ Chúa sẽ biết sự ham muốn đó và sẽ trừng phạt thêm ông ta.
    Khi Tracy tỉnh giấc thì trời đã tối. Nàng ngồi dậy và bật sáng ngọn đèn trên chiếc bàn nhỏ kê cạnh đầu giường. Có mình nàng trong phòng. Jeff đã đi.
    Cảm giác cô đơn bao trùm lấy Tracy. Nàng đã để mình dựa dẫm dần vào Jeff và đó là sự ngu ngốc. Đáng đời mình lắm, Tracy chua chát nghĩ. “Cứ tin tôi”, Jeff nói thế và nàng đã tin. Anh đã chăm sóc nàng chỉ để bảo vệ cho chính anh, không vì lý do nào khác. Nàng đã đi đến chỗ tin rằng anh ta có ít nhiều tình cảm với mình. Nàng đã muốn tin anh muốn cảm thấy rằng nàng có ít nhiều ý nghĩa với anh Tracy nằm ngả người xuống gối, nhắm liền hai mắt và tư lự mình sẽ nhớ anh. Xin Chúa giúp con, con sẽ nhớ anh thực lòng.
    Chúa đã thử lòng nàng băng một trò đùa dai dẳng.
    Mà tại sao lại là anh cơ chứ? Nàng băn khoăn tự hỏi, nhưng dù sao thì cũng vậy thôi mà. Nàng sẽ phải rời khỏi nơi này càng sớm càng tốt, và kiếm một nơi an toàn để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Ôi mi thật là ngốc quá, Tracy nghĩ. Mi ...
    Có tiếng mở cửa và giọng Jeff vang lên:
    “Tracy, em đã dậy chưa? Tôi mang về cho em vài cuốn sách và cả đống tạp chí đây. Tôi nghĩ là em có thể Anh ngưng bặt khi thấy vẻ mặt nàng. “Này? Có chuyện gì thế”. “Bây giờ thì không”, Tracy thì thào. “Bây giờ thì không” Sáng hôm sau cơn sốt của Tracy dứt hẳn.
    “Tôi muốn ra ngoài quá, Jeff, anh nghĩ rằng ta có thể đi dạo một chút không?”.
    Ngoài hành lang, họ là cả một sự tò mò. Vợ chồng ông chủ quán trọ rất vui trước sự phục hồi eủa Tracy. “Chồng cô thật tuyệt diệu. Anh ấy khăng khăng đòi làm tất cả mọi việc cho cô. Anh ấy rất lo lắng, Một phụ nữ thật may mắn, có được một người đàn ông yêu mình đến thế”.
    Tracy đưa mắt nhìn Jeff, và có thể thề rằng anh đỏ bừng cả mặt.
    Ra ngoài, Tracy nói. “Họ thật ngọt ngào quá”.
    “Những người đa cảm”, Jeff đáp nhanh Jeff đã thu xếp thêm một chiếc giường ngủ nhỏ, kê cạnh giường Tracy. Đêm đó, nằm trên giường, nàng nhớ lại việc Jeff chăm sóc, phục dịch, cho ăn và còn lau rửa, tắm táp thân thể trần trụi của nàng nữa. Tracy ý thức mạnh mẽ về sự hiển hiện kề bên của anh. Điều đó làm nàng thấy được che chở.
    Và cũng làm nàng thấy bồn chồn.
    Dần dần, khi Tracy mỗi ngày một khỏe hơn, nàng và Jeff càng dành thêm nhiều thời gian đi thăm thú” cái thị trấn cổ này. Họ đã đi bộ dọc trên các đường phố quanh co, lát đá cuội của Alkmaar được làm từ mãi tận thời Trung Cổ, và dành nhiều giờ đồng hồ trên những đồng hoa tuy lip ở ngoại ô thành phố. Họ đi thăm chợ búa, cửa hiệu và nhà bảo tàng của thị trấn. Tracy rất đỗi ngạc nhiên khi thấy Jeff nói với dân chúng địa phương bằng tiếng Hà Lan.
    “Anh học ở đâu thế Tracy hỏi.
    “Tôi từng quen biết một cô gái Hà Lan mà”.
    Và nàng hối tiếc vì đã hỏi.
    Vài ngày nũa trôi qua, thân thể trẻ trung và khỏe mạnh của Tracy dần dần hồi phục. Khi Jeff thấy Tracy đã đủ sức, anh thuê về hai cái xe đạp, và họ cùng đạp xe tới các cối xay gió nằm rải rác trên các cánh đồng vùng thôn quê. Mỗi ngày đều là một ngày nghỉ thật dễ chịu, và Tracy chỉ mong nó đừng bao giờ kết thúc.
    Jeff đã thật sự là một nỗi ngạc nhiên thường xuyên.
    Anh cư xử với Tracy bằng một sự quan tâm và âu yếm đến mức làm tan biến mọi cảnh giác của nàng, nhưng anh không đi xa hơn. Tracy thấy anh thật kỳ lạ.
    Nàng nghĩ về những phụ nữ xinh đẹp mà nàng thấy cặp kè với anh, và tin chắc rằng anh có thể có bất kỳ cô nào. Vậy tại sao anh lại chịu bên cạnh nàng ở cái xó hẻo lánh thế này của thế giới?
    Tracy thấy mình nói với Jeff những chuyện mà nàng từng nghĩ là sẽ không bao giờ trao đổi với bất kỳ ai về Joe Romano và Tony Orsatti, về Ernestine Littlechap, về Rretha Lớn và về bé Amy Brannigan. Và đến lượt Jeff giận dữ, đau khổ, cảm thông. Jeff kể cho nàng nghe về người mẹ kế, về chú Willie, về những ngày ở gánh tạp kỹ và về cuộc hôn nhân của anh với Louice. Tracy đã chưa bao giờ cảm thấy gần gũi như thế với bất kỳ ai.
    Bỗng nhiên cũng đến lúc phải ra đi.
    Một buổi sáng Jeff nói. “Cảnh sát không truy lùng chúng ta đâu, Tracy. Tôi nghĩ ta nên đi thôi”.
    Tracy chợt tuyệt vọng như bị một nhát dao “Được thôi. Khi nào?”.
    “Ngày mai”.
    “Tôi sẽ thu xếp hành lý vào sáng mai”.
    Đêm đó Tracy trằn trọc không ngủ được. Sự có mặt Jeff dường như tràn ngập khắp gian phòng. Những ngày này thật là một quãng đời không thể nào quên, và nó sắp chấm dứt. Nàng nhìn sang chiếc giường đơn, nơi Jeff đang nằm.
    “Anh ngủ rồi à?” Tracy thì thào.
    “Chưa ...”.
    “Anh đang nghĩ gì thế”. “Ngày mai rời khỏi nơi này. Tôi sẽ quyến luyến với nó”.
    “Em sẽ nhớ anh đấy, Jeff”. Câu nói buột ra trước lúc nàng có thể kìm lại.
    Jeff từ từ ngồi dậy và nhìn nàng. “Nhiều không em?”.
    Anh dịu dàng hỏi.
    “Nhiều lắm”.
    Một giây sau anh đã ngồi bên giường nàng, “Tracy ...”.
    “Nào. Đừng nói gì cả. Hãy ôm em”.
    Nàng ôm anh thật chặt, cảm thấy tim anh đang đập ngay trên khuôn ngực mình. Nàng áp chặt vào anh, nhưng vẫn thấy chưa đủ, bèn trườn xuống cuối giường và đặt lên thân thể anh những nụ hôn âu yếm, dịu dàng.
    Suốt đêm họ trò chuyện bâng quơ về mọi thứ, cứ như có một cánh cửa chắn nước từ lâu bị khóa trái nay mở ào ra vậy Rạng sáng, khi một ngày mới đã bắt đầu lấp lánh trên mặt nước của những con kênh, Jeff nói. “Hãy cưới anh nhé, Tracy”.
    Tracy đã nghĩ mình hiểu nhầm ý anh, nhưng những lời đó được lặp lại Tracy thì thầm đáp, “Vâng. Ôi, vâng!”.
    Nàng òa khóc, vẫn nằm trong vòng tay che chở của Jeff. Mình sẽ không bao giờ cô đơn nữa, Tracy nghĩ.
    Chúng ta thuộc về nhau. Jeff là một phần trong tất cả những ngày mai của mình.
    Ngày mai đã đến.
    Một hồi lâu sau, Tracy cất tiếng hỏi. “Anh biết từ khi nào hả, Jeff “Từ lúc anh thấy em trong ngôi nhà đó và anh đã nghĩ là em sắp chết. Đầu óc anh rối bời cả lên”.
    “Em thì lại nghĩ rằng anh đã bỏ đi cùng với chỗ kim cương”. Tracy thú nhận.
    Anh lại ôm lấy nàng, “Tracy, việc anh làm ở Madrid không phải là vì tiền.
    Nó chỉ vì cuộc chơi - vì sự thách thức. Chính vì điều đó mà cả hai chúng ta đang trong cái nghề này, phải vậy không nào? Em được trao một việc khó đến mức không thể có khả năng giải quyết được, và rồi em bắt đầu băn khoăn liệu có đúng là không có cách nào, phải không”.
    Tracy gật đầu, “Em biết. Lúc đầu là em cần tiền. Và rồi thì không phải thế nữa, em đã cho đi có ít tiền đâu. Em thích giỡn mặt với những kẻ thành đạt và nhẫn tâm. Em thích sống trong những hoàn cảnh nguy hiểm, gay go nhất”.
    Im lặng hồi lâu, Jeff nói, “Tracy ... em nghĩ sao về việc chúng ta thôi cái nghề này đi?”.
    “Thôi ư? Vì sao cơ?”.
    “Trước đây thì mỗi chúng ta đều tự lập. Nhưng giờ thì tất cả đã thay đổi.
    Anh không thể nào chịu được nếu có chuyện gì xảy ra. Việc gì phải mạo hiểm thêm nữa nhỉ.
    Chúng ta có dư tiền cho sau này rồi mà. Tại sao ta lại không tự cho phép mình nghỉ ngơi?”.
    “Chúng ta sẽ làm gì, Jeff Anh nhoẻn cười. “Chúng ta sẽ tính một việc gì đó”.
    “Em nói nghiêm chỉnh đấy, anh yêu ạ, chúng ta sẽ tiếp tục sống thế nào?”.
    “Làm những gì mà chúng ta thích, em yêu Chúng ta sẽ đi du lịch, chiều theo những sở thích của nhau. Anh đã luôn bị quyến rũ bởi môn khảo cổ học. Anh muốn tiến hành một vụ khai quật ở Tunisia. Anh đã có lời hứa với một người bạn cũ. Chúng ta sẽ cùng nhau đi khắp thế giới”.
    “Nghe hấp dẫn quá”.
    “Vậy ý em thế nào?”.
    Nàng nhìn anh một lúc lâu. “Nếu đó là điều anh muốn”, Tracy khẽ đáp.
    Ành ôm choàng lấy nàng và cười lớn. “Anh phân vân liệu ta có nên gửi một loan báo chính thức cho cảnh sát không nhỉ?”.
    Tracy cũng bật cười theo.
    Cooper chưa bao giờ thấy những ngôi nhà cổ kính hơn thế. Đôi khi ông ta không chắc là mình đang cầu nguyện trước quỷ dữ hay trước Chúa nữa. Ông ta vào nhiều nhà thờ khác nhau và lần nào lời cầu khẩn của ông ta cũng vậy:
    Hãy cho con bắt cô ta phải đau đớn giống con vậy.
    Ngay hôm sau Gunther gọi điện thoại đến trong lúc Jeff ra ngoài.
    “Cô thấy thế nào?” Gunther hỏi.
    “Tôi thấy tuyệt vời”, Tracy thành thực đáp.
    Từ sau ngày biết chuyện xảy ra với Tracy, hôm nào Gunther cũng gọi điện tới. Tracy quyết định chưa nói với ông ta tin mới về Jeff và nàng, chưa vội.
    Nàng muốn ôm ấp nó một thời gian cho riêng mình, sống thử với nó, kiểm tra và nuôi dưỡng nó.
    “Cô và Jeff có hòa hợp không?”.
    Cô mỉm cười “Chúng tôi rất hợp nhau”.
    “Cô có nghĩ việc lại cùng làm việc với nhau nữa không”.
    Giờ thì nàng phải nói cho ông ta biết rồi. “Ông Gunther, ... chúng tôị., thôi không làm nữa đâu”.
    Có một giây lát im lặng. “Tôi không hiểu”.
    “Jeff và tôi, như người ta vẫn nói trong các bộ phim của James Cagney, từ giờ trở đi sẽ sống ngay thẳng”.
    “Cái gì? Nhưng ... vì sao?”.
    “Đó là ý kiến của Jeff và tôi cũng tán đồng. Chấm dứt các trò mạo hiểm”.
    “Hãy giả thiết tôi nói với cô rằng cái việc mà tôi đang dự tính đáng giá hai triệu đô la cho cáe bạn và không có gì mạo hiểm hết thì sao nào?”.
    “Tôi thấy thật tức cười, ông Gunther”.
    “Tôi nói nghiêm chỉnh đấv, cô bạn thân mến. Các bạn sẽ đi Amstesđam, cách nơi các bạn đang ở có một giờ đồng hồ, và ...”.
    “Ông sẽ phải tìm người khác thôi”.
    Ông ta thở dài. “Tôi sợ rằng không ai khác có thể làm được vụ này cả. Ít nhất cũng mong cô hãy bàn khả năng này với Jeff chứ?”.
    “Được thôi, nhưng chẳng có ích gì đâu”.
    “Chiều tôi sẽ gọi lại”.
    Khi Jeff trở về, Tracy đã nói chuyện lại.
    “Thế em không nói với ông ấy là chúng ta đã trở thành những công dân tôn trọng pháp luật à?”.
    “Dĩ nhiên, anh yêu, em đã bảo ông ta kiếm người khác”.
    “Nhưng ông ta không muốn thế”, Jeff đoán.
    “Ông ta cứ khăng khăng cẩn đến chúng ta. Nới là không hề mạo hiểm và chúng ta sẽ kiếm được hai triệu đô la”.
    “Dù cái thứ mà ông ta đang mang trong đầu là cái gì đi chăng nữa thì nó cũng phải được bảo vệ nghiêm ngặt”.
    “Như ở bảo tàng Prado ấy”, Tracy nói thêm.
    Jeff cười. “Vụ đó thật tuyệt vời, trái tim ngọt ngào của anh ạ. Em biết không, anh nghĩ đó là lúc anh phải lòng em đấy”.
    “Em thì nghĩ rằng khi anh ăn cắp bức Goya của em là em bắt đầu ghét anh”.
    “.Hãy công bằng nào”, Jeff nhắc nhở. “Em đã bắt đầu ghét anh từ trước đó rồi”.
    “Đúng thôi. Vậy ta sẽ nói gì với Gunther?”.
    “Em đã nói rồi thôi. Chúng ta không còn trong đường dây đó nữa”.
    “Chẳng nhẽ mình không cần biết ông ấy dự tính gì à?
    “Ít ra là thế”.
    “Tracy, chúng ta đã thỏa thuận ...”.
    “Đằng nào mình cũng đi Amstesđam, đúng vậy không?”.
    “Đúng, nhưng ...”.
    “Vậy thì trọng khi ở đó, anh yêu quí, tại sao ta lại không nghe xem ông tả nói gì?”.
    Jeff nhìn nàng nghi hoặc. “Em muốn làm phải không”.
    “Tất nhiên là không”. Nhưng chỉ nghe thôi thì có sao đâu?”.
    Họ dùng ô tô đi Amstesđam vào ngày hôm sau và thuê phòng ở khách sạn Amstel. Gunther Hartog đã từ Lonđon bay tới.
    Họ ngồi với nhau như những du khách bình thường, trên một chiếc thuyền máy chạy dọc sông Amstel.
    “Tôi rất vui mừng trước đám cưới của các bạn. Gunther nói. “Xin có lời chúc mừng nồng nhiệt nhất”.
    “Cảm ơn ông:
    ông Gunther”. Tracy hiểu ông ta hoàn toàn chân thành.
    “Tôi tôn trọng mong muốn nghỉ ngơi của các bạn, nhưng tôi gặp “một vụ phức tạp đến mức thấy phải có được các bạn giúp đỡ. Phần đền đáp lại sẽ là một bài ca chim thiên nga đấy”.
    “Chúng tôi đang nghe đây”. Tracy nói.
    Gunther dướn người về phía trước và nói với giọng vừa đủ nghe.
    Kết thúc câu chuyện, ông ta nói. “Hai triệu đô la, nếu các bạn làm được”.
    “Không thể được”, Jeff thẳng thừng tuyên bố. “Tracy ...”.
    Thế nhưng Tracy không nghe tiếng. Nàng đang mải tính toán sẽ phải làm như thế nào.
    Bộ chỉ huy cảnh sát Amstesđam nằm ở góc cắt của hai phố Marnix và Eland Sgracht, là một tòa nhà cổ trang nhã cao năm tầng xây bằng gạch đỏ với một hành lang trắng toát đắp phù điêu ở tầng trệt và một cầu thang bằng đá hoa cương dẫn lên cáe tầng trên Trong một phòng họp ở trên gác đang có cuộc hội ý quan trọng với sự có mặt của sáu thám tử Hà Lan. Người nước ngoài duy nhất ở đây là Daniel Cooper.
    Thanh tra cảnh sát Joop van Duren là một người đàn ông cao lớn khác thường với một khuôn mặt rắn rỏi, bộ ria mép gọn ghẽ và giọng nói ồm ồm.
    Ông ta đang báo cáo với Toon Willems, Ủy viên thưởng cảnh sát, người đứng đầu lực lượng cảnh sát thành phố.
    “Tracy Whitney đã đến Amstesđam sáng nay, thưa ông ủy viên trưởng.
    Interpol tin chắc rằng chính cô ta phải chịu trách nhiệm về vụ cướp kim cương của hãng De Beers. Ông Cooper đây cảm thấy rằng cô ta quay lại đây để mưu đồ một vụ khác”.
    Ủy viên trưởng cảnh sát Willems quay sang Cooper.
    “Ông có bằng chứng gì không, ông Cooper?”.
    Daniel Cooper không cần bằng chứng gì hết, Ông ta biết rõ Tracy Whitney, cả thể xác lẫn tinh thần, Lẽ tất nhiên là cô ta đến đây để thực hiện một vụ gì đó vượt quá khả năng tưởng tượng nhỏ bé của họ. Ông ta buộc mình phải giữ bình tĩnh.
    “Không có chứng cứ. Bởi vậy phải bắt quả tang cô ta”.
    “Vậy ông cho rằng chúng ta phải làm gì để đạt được điều đó?”.
    “Chỉ có cách không rời mắt khỏi người phụ nữ này thì mới hy vọng tóm được cô ta”.
    Ủy viên trưởng cảnh sát thấy khó chịu. Ông đã nói chuyện với thanh tra Trignant ở Paris về Cooper. “Ông ta rất thô cục, nhưng là người biết việc lắm, Nếu chúng ta chịu nghe ông ta, chúng ta sẽ bắt quả tang người phụ nữ có tên Whitney này”. Trignant nói vậy.
    Joon Willems đã có quyết định của mình, phần nào dựa trên cơ sở của thất bại tai tiếng của cảnh sát Pháp trong vụ kim cương của hãng De Beers. Ở chỗ mà cảnh sát Pháp thất bại thì cảnh sát Hà Lan sẽ thành công.
    “Rất tốt”, ông Ủy viên trưởng cảnh sát nói. “Nếu cô tiểu thư này tới Hà Lan để thử thách tính hiệu quả của cảnh sát chúng tôi, xin được tiếp đón cô ta”. Ông ta quay sang thanh tra Duren, “Hãy sử dụng mọi biện pháp mà ông Cooper cho là cần thiết”.
    Thành phố Amstesđam được chia thành sáu khu vực cảnh sát, mỗi khu chịu trách nhiệm trên địa bàn của mình Theo lệnh của thanh tra Joop Duren, các ranh giới khu vực bị bỏ qua và thám tử của các khu vực khác nhau được bố trí vào cá đội theo dõi. “Tôi muốn rằng cô ta bị nằm trong tầm quan sát 24 giờ mỗi ngày.
    Đừng để cô ta rời khỏi một giây nào cả”.
    Thanh tra Duren nói với Cooper. “Thế nào, ông Cooper, ông hài “lòng chứ?”.
    “Không, cho tới lúc tóm được cô ta”.
    “Chúng ta sẽ tóm”, viên thanh tra cam đoan. “Ông thấy đấy, ông Cooper, chúng tôi tự hào có một lực lượng cảnh sát tất nhất thế giới”.
    Amstesđam là thiên đường của khách du lịch, một thành phố của những cối xay gió, những đập chắn nước và những dãy nhà xinh đẹp kề nhau trên những bờ kênh cây lá sum suê, với những nhà thuyền trang điểm bằng những chậu cây, hoa cảnh và với cả những đồ giặt đang phơi, đung đưa trong gió. Dân Hà Lan là những con người hiếu khách nhất mà Tracy từng gặp.
    “Họ đều có vẻ hạnh phúc”, Tracy nói.
    “Em nhớ rằng họ vốn là người của hoa mà. Hoa tuy lip”.
    Tracy cười vang và khoác tay Jeff ở bên anh nàng cảm thấy sung sướng. Anh thật là tuyệt diệu. Jeff thì nhìn nàng và tự nhủ mình là người đàn ông may mắn nhất thế giới.
    Tracy và Jeff cớ những cuộc dạo chơi, thăm thú bình thường như bao du khách khác, Họ dạo dọc theo phố Albert Cuyp, một chợ trời kéo dài qua mấy khu phố đầy những sạp hàng bán đồ cổ, rau, hoa quả và vải vóc; họ lang thang qua quảng trường Dam nơi đông đảo thanh thiếu niên tụ lại xem các ban nhạc trình diễn; họ tới thăm Volendam, các làng chài xinh đẹp ở khu Zuider Zee và thắm thị trấn Madurodam - một Hà Lan thu nhỏ. Khi họ đi xe ngang phi trường Schiphol tấp nập, Jeff nói, “Cách đây không lâu, vùng đất sân bay này còn là một phần của Biển Bắc đấy. Schiphol nghĩa là Bãi tha ma của các con tù, em ạ”.
    Tracy nép vào anh. “Thế hả anh Thật thích thú khi được yêu một người nhiều hiểu biết”.
    “Em chẳng nghe gì bao giờ à. Hai mươi lăm phần trăm lãnh thổ Hà Lan là đất lấn ra biển. Và, xứ sở này thấp hơn mực nước tới gần năm mét đấy”.
    “Nghe sợ quá nhỉ”.
    “Đưng lo. Đã có những con đê biển kia rồi mà”.
    Tracy và Jeff đi tới bất kỳ đâu cũng bị cảnh sát bám theo và tối tối, Danlel Cooper lại xem xét tỷ mỉ các bản báo cáo được đệ trình cho thanh tra Duren.
    Không có gì bất thường cả, nhưng những nghi ngờ của Cooper không hề giảm xuống. Cô ta đang theo đuổi một vụ gì đây, ông ta tự nhủ, một vụ lớn. Không biết cô ta có phát hiện ra sự theo dõi không? Không biết cô ta có biết rằng mình sẽ tiêu diệt cô ta không?
    Theo chỗ cáe thám tử thì Tracy Whltney và Jeff Stevens chỉ đơn thuần là những khách du lịch.
    Thanh tra Duren đã nói với Cooper. “Có lẽ là ông nhầm chăng? Có thể họ đến Hà Lan chỉ để chơi bời, nghỉ ngơi thôi”.
    “Không”. Cooper bướng bỉnh đáp. “Tôi không nhầm đâu Hãy bám sát lấy”.
    Ông ta có cảm giác rằng thời gian đang sắp hết, rằng nếu Tracy Whitney không sớm có một động thái gì thì sự theo dõi của cảnh sát sẽ lại bị hủy bỏ. Không thể để điều đó xảy ra được. Daniel Cooper đích thân tham gia việc theo dõi Tracy.
    Tracy và Jeff đặt hai phòng thông nhau ở khách sạn Amstel. “Vì chuyện tập quán xã hội thôi”, Jeff nói với Tracy, “Còn anh sẽ không để em rời xa anh đâu”.
    “Hứa đấy nhé”. “ Đêm đêm Jeff ở với nàng cho tới lúc mờ sáng và bao giờ họ cũng làm tình cho mãl đến khuya. Anh là một người tình tuyệt vời, khi thì dịu dàng âu yếm, khi thì cuồng nhiệt hoang dại.
    “Đây là lần đầu tiên”, Tracy thì thầm, “Em mới thật sự biết thân thể mình dùng để làm gì. Cảm ơn anh, tình yêu của em”.
    “Em đã cho anh mọi khoái lạc, em yêu”.
    “Một nửa thôi chứ”.
    Họ đã cùng lang thang khắp cả thành phố, vẻ như không có mục đích gì. Ăn trưa” ở khách sạn châu Âu, ăn chiều tại nhà hàng Bowedery và đã ăn tất cả hai mươi tư món được phục vụ ở nhà hàng Bal1-Indonesia. Họ thưởng thức món xúp đậu nổi tiếng của Hà Lan cùng với khoai tây, cà rất và hành; và một món ăn khác chế biến từ mười ba loại rau cùng với xúc xích hong khói. Rồi họ đi qua khu vực “đèn đỏ” của Amstesđam, nơi những cô gái làm tiền phong phanh trong những bộ áo kimônô ngồi trên các cửa sổ trông ra phố, khoe những tấm thân ngồn ngộn. Và mỗi tối, trong các báo cáo đệ trình lên cho thanh tra Duren, phần kết thúc đều có chung một nhận xét Không có gì nghi vấn.
    Kiên nhẫn, Daniel Cooper tự nhủ. Hãy kiên nhẫn, Thể theo sự hối thúc của Cooper, thanh tra Duren đã tới gặp Ủy viên trưởng cảnh sát Willems để xin phép đặt máy nghe trộm vào các buồng khách sạn của hai đối tượng tình nghi.
    Yêu cầu này bị bác bỏ.
    “Khi nào các ông có cơ sở thực tế cho sự nghi vấn của mình”, ông Ủy viên trưởng cảnh sát nói, “thì hãy quay lại đây còn bây giờ tôi không thể cho phép các ông nghe trộm những người mà cho đến nay chỉ phạm cái tội là vào Hà Lan du lịch”.
    Cuộc nói chuyện diễn ra vào ngày thứ sáu. Sáng thứ hai. Tracy và Jeff đi đến phố Paulus Potter ở khu Coster, trung tâm của ngành công nghiệp kim cương Hà Lan Daniel Cooper là một thành viên trong dội theo dõi bám sát hai người. Có rất đông khách du lịch tới thăm Một hướng dẫn viên nói tiếng Anh dẫn họ đi quanh nhà máy giải thích từng công đoạn của quá trình cắt gọt kim cương và sau cùng đưa tất cả vào thăm một phòng trưng bày lớn nơi mà dọc theo các bức tường là những tủ trưng bày, đầy ngập kim cương mà du khách có thể mua. Dĩ nhiên đây là lý do chủ yếu của việc khách được dẫn đi thăm nhà máy. Ở gian giữa phòng trên một trụ cao màu đen, có bày một tủ kính trong đặt viên kim cương tuyệt hảo nhất mà Tracy chưa từng được thấy.
    Người hướng dẫn viên hãnh diện tuyên bố. “Và đây, thưa quý bà, quý ông, là viên kim cương Lucullan nổi tiếng. Nó đã từng được một diễn viến sân khấu mua tặng vợ, một diễn viên điện ảnh và hiện nó được đặt giá mười triệu đô la.
    Nó là một trong những viên kim cương đẹp nhất thế giới”.
    Thật đáng là mục tiêu chó những tay trộm cắp”. Jeff nói hơi to.
    Daniel Cooper dịch sát lên để có thể nghe rõ hơn.
    Người hướng dẫn viên mỉm cười thỏa mãn. “Không đâu” thưa ông”. Anh ta khẽ hất hàm về phía người bảo vệ có vũ trang đứng gần đấy. “Viên kim cương này còn được bảo vệ cẩn mật hơn cả những viên kim cương ở tòa thị chính London. Khơng hề có nguy cơ nào cả. Bất kỳ ai động vào hòm kính đó, lập tức gây tín hiệu báo động và tất cả các cửa sổ và cửa ra vào của căn phòng này sẽ được đóng lại ngay tức khắc. Về đêm sẽ có cáe luồng tia hồng ngoại, và nếu có ai đó vào phòng thì tín hiệu báo động sẽ phát ra ở trụ sở cảnh sát”.
    Jeff nhìn Tracy và nói. “Anh đoán chắc là không ai dám đánh cắp viên kim cương kia cả”.
    Cooper đưa mắt cho một trong số các thám tử. Chiều hôm đó những lời nói trên đã có trong bản báo cáo trình cho thanh tra Duren.
    Ngày hôm sau, Tracy và Jeff đi thăm bảo tàng Rijks. Ở cổng vào, Jeff đã múa một bản sơ đồ hướng dẫn rồi cùng Tracy đi qua hành lang lớn vào phòng khánh tiết trưng bày tranh của Angelleo, Murillo, Rubensơ, Van Dyck và Tiepolo. Họ đi chậm rãi, dừng ngắm từng bức tranh và rồi bước vào phòng treo bức tranh nổi tiếng nhất của Rembrandt “Phiên gác đêm”. Họ lưu lại đó. Và nữ thám tử hạng nhất Fien Haner, người đang theo dõi họ thầm kêu lên. “Ôi, lạy Chúa tôi ...”.
    Tên chính thức của bức tranh là Đội quân của Đại úy Frans Banning Cooper”. Nó miêu tả, với vẻ trong sáng và hài hòa, một nhóm binh lính đang chuẩn bị đi gác đêm, đưới sự chỉ huy của viên đại úy trong bộ quân phục diêm dúa. Khu vực xung quanh bức tranh được chằng một sợi dây thừng bện nhung, và gần đó là một người bảo vệ.
    “Thật khó tin”. Jeff nói với Tracy, “nhưng đúng là Rembrandt đã gặp rắc rối to với bức tranh này đấy”.
    Nhưng vì sao? Bức tranh thật kỳ diệu mà”.
    “Vị Mạnh thường quân của ông ta - viên đại úy trong bức tranh - đã không thích sự chú ý mà Rembrandt dành cho mấy nhân vật kia”. Jeff quay sang nói với người bảo vệ “Tôi hy vọng là bức tranh được bảo vệ cẩn thận”.
    “Vâng, thưa ông. Bất kỳ kẻ nào toan ăn cắp bất kỳ thứ gì trong bảo tàng này sẽ vấp phải các luồng tia hồng ngoại, các camêra bảo vệ, và về đêm thì còn có hai người gác kèm theo chó tuần tiễu”.
    Jeff nhoẻn cười. “Tôi cho là bức tranh này sẽ ở đây mãi mãi”.
    Chiều tối hôm đó, những lời trao đổi trên đã được báo cáo với ngài Duren.
    “Phiên gác đêm!” Ông ta kêu lên. “Thật không thể được”. Daniel Cooper chỉ nhìn trừng trừng vào ông ta bằng cặp mắt cận của mình:
    Tại trung tâm hội nghị Amstesđam. có cuộc họp mặt giữa các nhà sưu tẩm tem, và Tracy cùng với Jeff nằm trong số những người đến đầu tiên. Khu hội trường được canh gác nghiêm ngặt bởi lẽ ở đây có nhiều con tem vô giá Cooper và một thám tử Hà Lan theo dõi hai người đang dạo quanh những bộ sưu tập tem quý hiếm. Họ dừng chân trước con tem Guiana thuộc Anh, một con tem hình sáu cạnh màu sắc kém hấp dẫn.
    “Thật xấu xí”, Tracy nhận xét.
    “Đừng có xem thường nó, em yêu. Nó là con tem duy nhất thuộc loại này tồn tại đến bây giờ đấy”.
    “Nó đáng giá bao nhiêu?”.
    “Một triệu đô la”.
    Một nhân viên của triển lãm gật đầu. “Đúng vậy đấy, thưa ông. Người ta phần lớn chỉ nhìn mà không biết gì về nó.
    Nhưng tôi thấy ông cũng yêu quý những con tem này giống như tôi. Lịch sử cả thế giới in hình trong chúng đấy”.
    Tracy và Jeff đi sang tủ trưng bày tiếp theo và ngắm một con tem khác in hình một chiếc máy bay đang bay lật sấp.
    “Trông thật thú vị”. Tracy nói.
    Người nhân viên bảo vệ tủ tem nói, “Nó trị giá ...”.
    “Bảy mươi lăm ngàn đô la”, Jeff phỏng đoán.
    “Vâng, thưa ông. Chính xác đấy”.
    Rồi họ tiếp tục đi xem những con tem nổi tiếng khác và Jeff luôn tỏ ra am hiểu chúng.
    “Trông chúng nhỏ bé và yếu đuối quá”, Tracy nói, “và người ta dễ lấy trộm chúng lắm”.
    Người bảo vệ đứng bên mỉm cười. “Thưa cô, một tên trộm khó lòng làm được điều đó. Các tủ kính đều được bảo vệ bằng các thiết bị điện tử và lính gác tuần tiễu khu trung tâm hội. nghị suốt ngày đêm”.
    “Thế thì thật là yên tâm, Jeff sốt sắng. “Thời buổi này thì chẳng có sự cẩn thận nào là thừa cả, có phải không ạ”.
    Chiều hôm đó Daniel Cooper và thanh tra Joop van Duren cùng đến gặp Ủy viên trưởng cảnh sát Willems. Ông Duren đặt các báo cáo theo dõi lên bàn làm việc của ông Ủy viên rồi đứng đợi.
    “Không hề có gì chắc chắn ở đây cả”, sau cùng ông Ủy viên nói, “nhưng tôi thừa nhận rằng đối tượng tình nghi của các ông quanh quẩn bên các mục tiêu quý giá. Được, ông thanh tra. Tiến hành đi. Ông chính thức được đặt thiết bị nghe trộm vào các phòng khách sạn của họ”.
    Daniel Cooper đầy phấn chấn. Tracy Whitney sẽ không còn có gì riêng tư nữa. Từ lúc này trở đi ông ta sẽ biết tất cả những gì cô ta đang nghĩ, đang nói và đang làm.. Ông ta nghĩ đến hình ảnh Tracy và Jeff đang nằm trên giường với nhau, và nhớ lại cảm giác của cái quần lót của “Tracy áp lên má mình. Thật mềm mại, thật thơm tho, quyến rũ”.
    Chiều hôm đó, ông ta đi nhà thờ.
    Buổi tối, sau khi Jeffvà Tracy rời khỏi khách sạn, một nhóm kỹ thuật viên cảnh sát đã bắt tay vào việc ấy những thiết bị thu phát vô tuyến điện nhỏ xíu vào các phòng của Tracy và Jeff, giấu các thiết bị này sau các bức tranh, trong các đèn bàn, và dưới mấy cái bàn đêm.
    Thanh tra Joop van Duren đã trưng dụng căn hộ ở ngay tầng trên và kỹ thuật viên đã lắp một bộ máy thu kèm theo ăngten và một máy ghi âm.
    Thiết bị hoạt động dưới tác dụng của sóng âm thanh” tay kỹ thuật viên giải thích. “Không cần có mặt ở đây để điều khiển máy. Khi một ai đó cất tiếng nói, máy sẽ tự động làm việc”.
    Nhưng Daniel Cooper muốn có mặt. Ông ta phải có mặt ở đây. Đó là ý Chúa.
     
  6. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 33


    Sáng sớm hôm sau, Daniel Cooper, thanh tra Joop van Duren và người trợ lý trẻ tuổi của ông ta, thám tử Witkamp, đã ở trong căn hộ phía trên lắng nghe câu chuyện ở phòng dưới.
    “Cà phê nữa không em?” Tiếng Jeff.
    Thôi, cảm ơn anh yêu”. Giọng Tracy. “Anh ăn thử miếng pho mát người ta đưa lên này. Nó thật sự hảo hạng đấy.
    Một lát im lặng. “Hừm, ngon tuyệt. Tracy, hôm nay em muốn làm gì nào?
    Chúng ta có thể dùng tắc xi đi Rotterđam đấy”.
    “Sao mình không ở nhà mà nghỉ ngơi nhỉ?”.
    “Nghe được đấy”.
    Daniel Cooper biết ý nghĩa của từ “nghỉ ngơi” lắm, và miệng ông ta mím lại.
    “Nữ hoàng đã tặng một ngôi nhà mới cho trẻ mồ côi đó em”.
    “Tất quá. Em nghĩ rằng người Hà Lan mến khách và hào phóng nhất thế giới này. Họ yêu tự do, họ ghét các luật lệ, các quy định này nọ”.
    Có tiếng cười. “Tất nhiên. Vì vậy cả hai chúng ta đều mến họ đến thế”.
    Một cuộc trò chuyện buổi sáng bình thường giữa hai người đang yêu. Họ thật sự thoải mái và dễ chịu với nhau, Daniel Cooper nghĩ. Nhưng cô ta sẽ phải trả giá.
    “Nhân nói tới chuyện hào phóng tiếng Jeff. “Em biết ai nữa đang ở khách sạn này không?” Ông bạn lánh mặt Maximllian Pierpont đấy. Anh đã lỡ dịp gặp ông ta trên tàu Nữ hoàng Elizabeth II.
    “Còn em thì lỡ dịp gặp ông ta trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông”.
    “Có thể là ông ta tới đây để cướp đoạt một công ty nào đó Giờ đây đã gặp lại ông ta, có lẽ chúng ta nên làm một vụ gì đó em nhỉ. Ý anh muốn nói là chừng nào ông ta còn đang làm hàng xóm của mình ấỵ .... Tiếng cười của Tracy. “Em còn muốn gì hơn thế nữa, anh yêu dấu”.
    “Anh biết chắc rằng ông bạn của chúng ta có thói quen mang theo bên mình những cổ vật vô giá, Anh có ý định rằng ...”.
    Một giọng nói khác, như giọng phụ nữ, vang lên.
    “Chào ông, chào bà. Ông bà có muốn phòng được dọn bây giờ không ạ”.
    Ông Duren quay sang thám tử Witkamp. “Tôi muốn có một độl bám sát Pierpont. Bất cứ lúc nào Whitney hoặc Stevens có bất kỳ một kiểu tiếp xúc gì với ông ta, tôi muốn được biết ngay”.
    Thanh tra Duren đang báo cáo vớl Ủy viên trưởng cảnh sát Tom Wil1ems.
    “Thưa ông, họ có thể bám theo bất kỳ một mục tiêu nào. Họ tỏ ra quan tâm nhiều tới một người Mỹ ở đây, người có tên là Maximllian Pierpont họ tham dự cuộc họp của những người chơi tem, họ tới xem viên kim cương Iuculian ở nhà máy gia công kim cương, và đã đành hai giờ đồng hồ với bức Phiên gác đêm.
    “Đánh cắp bứcPhiêng ác đêm” tôi Không. Không thể được”.
    Ông Ủy viên ngả người trên ghế, băn khoăn không biết có phải là đang phung phí. một cách ngớ ngẩn thời gian và nhân lực quý giá của mình không.
    Quá nhiều dự đoán và đều không đủ cơ sở thực tế. “Vậy là tới lúc này, ông vẫn không biết mục tiêu của họ là gì?”.
    “Đúng vậy, thưa ông Ủy viên trưởng. Tôi không đám chắc là bản thân họ đã quyết định gì chưa. Nhưng khi nào họ quyết định điều đó, họ sẽ báo cho chúng tôi ngay”.
    Willems cau mặt. “Báo cho các ông ư?”.
    “Dạ, những cái máy nghe trộm”, Duren giải thích “Họ không hề biết là đang bị nghe trộm mà”.
    Điểm đột phá đầu tiên của cảnh sát xảy tới vào lúc 9 giờ sáng hôm sau.
    Tracy và Jeff đang ăn sắp xong bữa sáng của họ. Tại vị trí nghe trộm ở tầng trên có mặt Daniel Cooper, thanh tra Joop van Duren và thám tử Witkamp. Họ nghe thấy cả tiếng cà phê đang được rót vào ly ở phòng dưới.
    “Tracy này, có một món hấp dẫn đây. Ông bạn của chúng ta đúng đấy. Em nghe nhé:
    Nhà băng Amro sắp chuyển 5 triệu đô la vàng khối cho công ty Đông Ản Hà Lan”.
    Ở căn phòng trên tầng trên, thám tử Witkamp thốt lên. “Không thể có cách nào ...”.
    “Suỵt”.
    Họ lắng nghe.
    “Em không biết 5 triệu đô la vàng khối thì nặng chừng bao nhiều nhỉ?”.
    Tiếng Tracy.
    “Anh có thể nói với em chính xác, em yêu ạ. Sáu trăm mười tám kilôgam, khoảng sáu mươi bảy thỏi vàng. Điều thú vị là ở chỗ vàng thì hoàn toàn vô hình.
    Em nấu chảy nó ra, vậy là nó có thể thuộc về ai cũng được. Tất nhiên là mang được những thỏi vàng đó ra khỏi đất Hà Lan cũng chẳng dễ dàng gì”.
    “Ngay cả nếu mình có thể làm được điều đó thì vấn đề là ở chỗ làm sao mà chiếm được chúng đã chứ? Khơi khơi đi vào nhà băng mà nhặt lấy à?”.
    “Đại khái là thế đấy”.
    Anh cứ đùa”.
    “Anh không bao giờ đùa giỡn với thứ tiền bạc loại đó cả. Sao chúng ta lại không tới nhà băng Amro mà nhìn ngó một chút nhỉ, Tracy?
    “Anh đã có ý đồ gì chưa”.
    “Trên đường đi anh sẽ nói”.
    Có tiếng đóng cửa.
    Thanh tra Duren vê vê những sợi ra mép. “Không. Họ không có cách nào động tới những thỏi vàng đó được. Chính tôi đã phê duyệt các biện pháp đảm bảo an ninh mà”.
    Cooper nói thẳng tuột. “Nếu có một khuyết tật nào đó trong hệ thống an ninh của nhà băng thì thể nào Tracy Whitney cũng sẽ phát hiện ra”.
    Thanh tra Duren cố kìm cơn giận. Thằng cha người Mỹ xấu xí này thật đáng ghét, ngay từ khi đặt chân tới đấy Thật khó lòng tha thứ cho thái độ trịch thượng của hắn. Thế nhưng thanh tra Duren là một cảnh sát mẫu mực, vả lại ông ta đã đượe lệnh là phải hợp tác với cái gã đàn ông nhỏ thó và kỳ quái này.
    Viên thanh tra quay sang Witkamp. “Tôi muốn anh tăng cường đội theo dõi.
    Ngay lập tức. Tôi muốn bất kỳ ai quan hệ với họ đều bị chụp hình và tra xét. Rõ chưa?”.
    “Vâng, thưa ông thanh tra”.
    “Và phải rất thận trọng đấy, tôi nhắc trước. Không được để họ biết là đang bị theo dõi”.
    “Vâng, thưa ông thanh tra”.
    Ông Duren nhìn Cooper. “Đó, ông cảm thấy yên tâm hơn chưa?”.
    Cooper không thêm trả lời.
    Trong năm ngày tiếp theo đó, Tracy và Jeff đã làm cho thanh tra Duren bận bịu suốt, còn Daniel Cooper thì thận trọng xem xét tất cả các báo cáo hàng ngày. Về đêm, khi các thám tử khác đã rời vị trí nghe trộm thì bao giờ Cooper cũng nán ở lại. Ông ta lắng im nghe cặp uyên ương làm tình với nhau ở căn phòng bên dưới. Khó mà nghe thấy gì, nhưng trong đầu ông ta như đang nghe tiếng Tracy rên rỉ đầy cảm khoái. Ôi, nữa anh yêu, nữa nữa. Ôi, Chúa ơi, em không thể chịu ... Nào, nào anh ...”.
    Tiếp theo là những tiếng thở gấp gáp và một sự im lặng êm dịu, mượt mà.
    Mi sẽ sớm thuộc về ta thôi, Cọoper nghĩ. Không kẻ nào còn có mi được nữa.
    Ban ngày, Tracy và Jeff đi riêng rẽ, và dù đi bất kỳ đâu họ đều bị cảnh sát bám theo. Jeffghé vào một hiệu in nhỏ và hai thám tử từ bên kia đường thấy anh ta có một câu chuyện đầy vẻ hào hứng với ông chủ hiệu. Khi Jeff tới, một trong hai thám tử bám theo, còn người kia vào hiệu in chìa thẻ cảnh sát có ba vạch chéo đỏ,. trắng và xanh da trời ra.
    “Người đàn ông vừa ra khỏi đây. Anh ta muốn gì?”.
    “Anh ta dùng sắp hết danh thiếp, muốn tôi in thêm cho anh ta”.
    “Đưa tôi xem mẫu nào”.
    Người chủ hiệu in đưa ra một mẩu giấy viết tay:
    CƠ QUAN AN NINH AMSTESĐAM CORNELIUS PHỤ TRÁCH ĐIỀU TRA.
    Hôm sau nữ thám tử Fien Hauer đã đứng đợi bên ngoài một cửa hiệu bán chim cá cảnh trên phố Leideeplein trong lúc Tracy đi vào trong. Mười lăm phút sau nàng trở ra và Fien Hauer vào hiệu chìa thẻ cảnh sát ra.
    “Người phụ nữ vừa rời khỏi đây, cô ta muốn gì?”.
    “Cô ta mua một bình cá vàng, hai con vẹt nhỏ, một con hoàng yến và một con chim câu”.
    Một việc thật lạ. “Ông muốn nói đó là một con chim câu bình thường, có phải không?”.
    “Vâng, nhưng không có cửa hiệu nào nuôi sẵn cả. Tôi bảo sẽ tìm cho cô ta sau”.
    “Ông sẽ gửi mấy con chim, con cá này tới đâu?”.
    “Tới khách sạn Amstel, nơi cô ta ở”.
    Ở phía bên kia thành phố, Jeff gặp viên phó chủ tịch của nhà băng Amro và đã nói chuyện riêng với ông ta chừng ba mươi phút. Khi Jeff rời khỏi nhà băng, một thám tử bèn đi vào văn phòng giám đốc.
    “Về người mới ra khỏi. Xin .cho biết vì sao anh ta tới”. Ông Wilson ấy à?
    Ông ấy là điều tra viên của công ty bảo vệ nhà băng, nơi chúng tôi đặt quan hệ.
    Họ đang chỉnh lại hệ thống an ninh của nhà băng mà”.
    “Ông ta có yêu cầu gì ông về các biện pháp an ninh hiện nay không?”.
    “Vâng, dĩ nhiên là có”.
    “Và ông đã nói hết với ông ta chứ?”.
    “Tất nhiên, nhưng trước tiện tôi đã cẩn thận gọi điện hởi trước về sự ủy thác cho ông ta rồi”.
    “Ông gọi cho ai?”.
    “Cho cơ quan an ninh, số máy được in trên chứng minh thư của anh ta”, Ba giờ chiều hôm đó, một chiếc xe tải bọc thép dừng bánh trước cửa nhà băng Amro. Từ bên kia đường, Jeff bấm máy chụp hình chiếc xe, trong khi từ một cái cổng gần đó, một thám tử khác đang chụp hình Jeff.
    Tại bộ chỉ huy cảnh sát ở Elandsgracht, thanh tra Duren đàng bày những bằng chứng tới tấp thu thập được lên trên mặt bàn làm việc của Ủy viên trưởng cảnh sát Toon Willems. A “Tất cả những thứ này có ý nghĩa gì vậy?” Ông Ủy viên hỏi với cái giọng khô và the thé.
    Cooper lên tiếng. “Tôi sẽ nói để các ông biết cô ta đang mưu tính gì”. Giọng ông ta đầy vẻ hằn học. “Cô ta đang mưu toan cướp xe vàng kia”.
    Họ nhìn ông ta chằm chằm.
    Ủy viên trưởng cảnh sát Willems nới. “Và tôi cho rằng ông cũng biết cô ta toan làm việc đó bằng cách nào chứ?”.
    “Đúng vậy”. Ông ta biết cái mà bọn họ không biết.
    Ông ta biết Tracy tới tận con tim và khối óc. Ông ta đã đặt mình vào trong Tracy để có thể suy nghĩ, tính toán rồl dự đoán mọi hành động của nàng. “Cô ta định dung một xe tải cải trang và ập đến nhà băng trước cál xe thật rồi cuỗm chỗ vàng mang đi”.
    “Nghe có vẻ thiếu tự nhiên lắm, ông Cooper ạ Thanh tra Duren xen vào.
    “Tôl không biết kế hoạch, của họ là gì, nhưng tôi quả quyết họ đang có một âm mưu gì đó, thưa ông Ủy viên trưởng. Chúng tôi có băng ghi âm các cuộc nói chuyện của họ mà”.
    Daniel Cooper chợt nhớ đến các âm thanh khác mà ông ta mường tượng thấy:
    những tiếng thì thầm ban đêm, những hiếng kêu khe khẽ và những tiếng rên rỉ đầy hoan lạc Cô ả giống như con chó cái đang động cỡn vậy. Hừ, ông ta sẽ tống cô ta vào một nơi mà không thằng đàn ông nào có thể sờ tới được nữa.
    Viên thanh tra tiếp tục nói. “Họ đã biết về các quy định của nhà băng. Họ biết thời điểm mà chiếc xe bọc thép kia tới nhận hàng và..”.
    Ủy viên trưởng cảnh sát xem kỹ lại bản báo cáo trước mặt. “Hai con vẹt, một con chim câu, cá vàng, một con hoàng yến - ông có nghĩ ba cái thứ này có mối quan hệ quái quỷ với vạ cướp kia không?”.
    “Không”, Duren đáp.
    “Có”, Cooper lên tiếng.
    Nữ thám tử hạng nhất Fien Hauer, trong bộ đồ xuềnh xoàng màu xanh nước biển bám theo Tracy Whitney dọc phố Prinsengracht và ngang qua cầu Magere. Khi Tracy sang tới bờ kênh bên kia thì Fien Hauer nhìn theo tuyệt vọng vì nàng bướe vào một buồng điện thoại công cộng và đứng nói chuyện tới năm phút đồng hồ.
    Gunther Hartog, từ đầu dây bên kia ở London đang nói. “Chúng ta éo thể tin cậy ở Margo, nhưng có lẽ nó cần có thời gian - ít nhất lả hai tuần lễ nữa”. Ông ta ngừng lời lắng nghe giây lát rồi tiếp. “Tôi hiểu. Khi tất cả đã sẵn sàng, tôi sẽ liên lạc với cô. Thận trọng nhé. Và cho tôi gửi lời thăm Jeff”.
    Tracy gác ống nghe và bước ra, gật đầu ra ý chào người phụ nữ trong bộ đồ màu xanh nước biển đang đứng chờ đến lượt ở ngoài.
    Trưa hôm sau, một thám tử báo với thanh tra Duren. Tôi đang có mặt ở hãng cho thuê xe vận tải Wolter. Jeff Stevens vừa thuê một xe tải ở đây”.
    “Loại xe gì?”.
    “Xe chuyên dụng, thưa ông thanh tra”.
    “Kiếm số liệu về kích thước xe ngay. Tôi sẽ chờ trên máy”.
    Ít phút sau, thám tử kia trở lại. “Tôi đã có chúng đây. Chiểc xe tải đó ...”.
    Thanh tra Duren cắt ngang. “Là một xe tải hạng vừa, dài sáu mét, rộng hai mét mốt, cao một mét tám, hai cầu”.
    “Vâng, thưa ông thanh tra. Làm sao ông biết ạ?”.
    “Không hỏi. Màu gì?”.
    “Xanh da trời”.
    “Ai đang theo Stevens hả?”.
    “Jacobs ạ”.
    “Tốt. Còn anh quày về đây ngay”.
    Joop van Duren gác máy, ngước nhìn Daniel Cooper.
    “Ông đúng đấy, trừ việc chiếc xe có màu xanh da trời”. “Hắn sẽ mang nó tới hiệu sơn xe mà”.
    Hiệu sơn xe thuộc một xưởng sửa chữa ô tô nằm trên đường Damrak. Hai người thợ đang xì một lớp sơn màu xám bạc lên chiếc xe tải, còn Jeff thì đứng gần đó. Từ một chổ khuất trên xưởng máy, một thám tử chụp những tấm hình nhờ ánh sáng tự nhiên.
    Một giờ sau các tấm hình đã nằm trên bàn thanh tra Duren.
    Ông ta đẩy chúng tôi tới trước mặt Daniel Cooper. “Nó đang được sơn màu giống hệt màu của chiếc xe thật. Ông biết đấy, giờ thì ta có thể tóm cổ chúng rồi”.
    “Vì tội gì mới được chứ? Vì đã đặt in mấy cái danh thiếp giả và sơn cái xe tải kia à? Cách duy nhất để có lời buộc tội chắc chắn là tóm cổ chúng vào đúng lúc chúng cuỗm chỗ vàng kia”.
    Thằng cha khốn kiếp cứ làm như hắn là người chỉ huy cơ quan cảnh sát này vậy. Duren tức tối. “Ông nghĩ bước tiếp theo của hắn là gì?”.
    Cooper thận trọng xem xét các bức ảnh. “Chiếc xe này không chịu nổi trọng lượng của ngần ấy vàng. Chúng sẽ phải làm lại thùng xe”.
    Đó là một cái xưởng sửa xe nhỏ cách xa mặt đường ở trên phố Muider.
    “Chúc ông một buổi sáng tốt lành. Tôi phục vụ gì cho ông được a?”, “Tôi sắp phải chở một ít sắt vụn bằng cái xe này”, Jeff giải thích. “Và tôi không dám chắc là sàn xe có thể chịu nổi. Tôi muốn gá thêm vào một ít thanh thép ngang. Ông làm được không?”.
    Ông thợ bước tới xem xét. “Được. Không khó khăn gì”.
    “Tôi có thể hoàn thành vào thứ sáu”.
    “Tôi đang hy vọng sẽ dùng nó vào ngày mai cơ đấy”.
    “Buổi sáng ư? Không thể. Tôi ...”.
    “Tôi sẽ trả gấp đôi”.
    “Thứ năm nhé”.
    “Ngày mai. Tôi sẽ trả gấp ba”.
    Ông thợ đưa tay xoa xoa cằm có vẻ nghĩ ngợi. “Mấy giờ ngày mai nào?”.
    “Buổi trưa”.
    “Được”.
    Ít giây sau khi Jeff rời khỏi xưởng, một thám tử tra hỏi ông thợ kia.
    Cũng trong sáng hôm đó, đội theo dõi Tracy đã bám theo nàng tới bến cảng trên kênh Schans, nơi nàng nói chuyện tới nửa giờ đồng hồ với chủ một con tàu hãng nhỏ.
    Khi Tracy bỏ đi, một trong số các thám tử bước lên tàu.
    Anh ta tự giới thiệu với ông chủ tàu, người đang nhấm nháp một ly rượu Gin lớn.
    “Người phụ nữ trẻ đó muốn gì?”.
    “Cô ấy và chồng định đi chơi trên các dòng kênh. Và đã thuê tàu của tôi một tuần lễ đấy”.
    “Bắt đầu từ bao giờ”.
    Thứ sáu. Đó là dịp nghỉ ngơi tuyệt vời. Nếu ông và vợ ông muốn ...”.
    Anh chàng thám tử đã quay đi.
    Con chim bồ câu mà Tracy đặt mua từ cửa hiệu chim và cá cảnh đã được chuyển tới khách sạn cho nàng trong một chiếc lồng xinh xắn. Daniel Cooper đến cửa hiệu đó và chất vấn người chủ hiệu.
    “Ông đã gửi cho cô ta con chim câu loại gì vậy?”.
    “Ồ, ông biết à, một con bồ câu bình thường thôi”.
    “Ông bảo đảm rằng nó không phải là một con chim đưa thư chứ?”.
    “Chắc chắn”. Ngứời đàn ông cười khùng khục trong cổ.
    “Lý do để tôi nói không phải là chim đưa thư là việc tôi tóm nó được đêm qua ở công viên Vondel mà”.
    Sáu trăm kilô vàng và một con chim cậu thường? Tại sao? Daniel Cooper băn khoăn.
    Năm ngày trước khi bắt đầu chuyển vàng từ nhà băng Amro, một đống hình đã được chất trên mặt bàn làm việc của thanh tra Duren.
    Mỗi tấm hình là một mắt xích đưa tới việc bắt giữ cô ta, Daniel Cooper nghĩ.
    Cảnh sát Amstesđam không có óc tưởng tượng, thế nhưng Conper phải cho họ thấy cái lợi của sự cẩn thận. Mọi hành động dẫn tới vụ phạm tội sắp xảy ra đểu được chụp hình và lên hồ sơ. Không có lối nào cho Tracy Whitney thoát khỏi sự trừng phạt của công lý.
    Sự trừng phạt đối với cô ta sẽ là sự cứu rỗi của mình. Cooper nghĩ.
    Hôm lấy chiếc xe tải mới sơn lại, Jeff lái nó đến một ga ra nhỏ mà anh đã thuê sẵn, kề khu Oude Zijds Kolk, một khu phố cổ kính nhất của Amstesđam.
    Người ta cũng chuyển tới ga ra này sáu thùng gỗ rỗng ngoài có in chữ THIẾT BỊ MÁY.
    Một tấm hình chụp các thùng gỗ này nằm trên mặt bàn thanh tra Duren trong lúc ông ta đang nghe lại cuốn băng ghi âm mới nhất. Tiếng Jeff.” Khi em lái từ nhà băng ra bến tàu, nhớ giữ trong tốc độ giới hạn. Anh muốn biết thời gian cần cho đoạn đường này là bao nhiêu.
    “Anh không đi cùng em à, anh yêu?”.
    “Không. Ánh sẽ bận lắm”.
    “Còn Monty thì sao?”.
    “Anh ta sẽ đến vào đêm thứ năm”.
    Thanh tra Duren hỏi. “Tay Monty này là ai vậy?”.
    “Anh ta có thể là người đóng vai người bảo vệ an ninh thứ hai”, Cooper đáp.
    “Chúng sẽ cần tới quân phục đấy”.
    Cửa hàng quần áo nằm ở phố Pieter Cornelisz Hooft, trong một khu trung tâm dịch vụ. Tôi cần hai bộ quân phục cho một buổi dạ hội hóa trang”, Jeff nói với người bán hàng. “Giống như bộ mà ông bày trong tủ kính cửa sổ kia kìa”.
    Một giờ sau thanh tra Duren đã đang xem tấm ảnh chụp bộ quân phục.
    Anh ta đặt mua hai bộ này. Anh ta nói với người bán hàng là sẽ đến lấy vào thứ năm”.
    Kích thước bộ quân phục thứ hai cho thấy rõ là dành cho một người to béo hơn Jeff Stevens rất nhiều. Viên thanh tra nới, “Ông bạn Monty của ta sẽ phải cao tới 1m90 và nặng chừng một tạ. Chúng ta sẽ yêu cầu Interpol đưa các số liệu này vào máy tính của họ”, ông ta nói với Daniel Cooper, “và chúng ta sẽ có nhận dạng của ông ta”?
    Trong cái ga ra riêng để thuê, Jeff đang vắt vẻo trên nắp xe, còn Tracy thì đang ngồi trên ghế lái.
    “Em sẵn sàng chưa?” Jeff gọi. “Nào”.
    Tracy nhấn một cái nút bấm trong bảng đồng hồ của buồng lái. Hai tấm bạt lớn được buông xuống hai bên thành xe, trên đó là dòng chữ BIA HEINEKEN HÀ LAN.
    “Được đấy, Jeff vui vẻ.
    BIA HEINEKEN HÀ LAN? Thanh tra Duren đưa mắt nhìn các thám tử tập hợp trong buồng làm việc của ông ta. Một loạt hồ sơ và hình ảnh được ghim lên khắp các bức tường.
    Daniel Cooper ngồi mãi tận cuối phòng, im lặng.
    Trong chừng mực quan tâm của Cooper thì cuộc họp này là một sự phung phí thời giờ. Ông ta đã dự đoán trước mọi hành động mà Tracy và nhân tình của cô ta sẽ thực hiện. Họ đã bước vào cái bẫy và cái bẫy đó đang khép kín lại Nhưng trong khi các thám tử đang có cảm giác hồi hộp mỗi lúc mỗi tăng thì Cooper lại thấy mơ hồ khó chịu.
    “Tất cả các chi tiết đều khớp đâu vào đấy”, thanh tra Duren tiếp tục nói.
    “Những kẻ tình nghi biết trước thời gian mà chiếc xe tải bọc thép kia phải tới nhà băng:
    Họ dự định đến sớm trước nửa giờ, đóng giả làm các nhân viên an ninh. Khi mà cái xe thật kia đến thì họ đã kịp chuồn?” Ông Duren chỉ vào bức hình chụp chiếc xe tải bọc thép. “Họ sẽ rời khỏi nhà băng trong một chiếc xe giống như thế này, nhưng sau một đoạn phố, trên một đường nhánh nào đó”, ông ta chỉ sang tấm hình chụp chiếc xe tải có dòng chữ BIA HEINEKEN.
    “Chiếc xe tải đột nhiên mang vẻ như thế này”.
    Một thám tử ngồi phía sau lên tiếng. “Họ sẽ mang vàng ra khỏi lãnh thổ chúng ta bằng cách nào, thưa ông thanh tra?”.
    Ông Duren chỉ vào tấm hình Tracy đang bước lên chiếc tàu hàng nhỏ. “Đầu tiên bằng con tàu này. Đất Hà Lan chằng chịt những kênh rạch đến mức họ có thể lạc lối ấy chứ”. Ông ta chỉ bức ảnh chụp từ trên không chiếc xe tải đang chạy dọc bờ kênh. “Họ đã chạy thử để xem từ nhà băng ra đến bến tàu mất bao nhiêu thời gian. Có thừa thời gian để đỡ vàng xuống tàu và rời bến trước khi ai đó nghi ngờ gì”. Ông Duren bước lại tấm hình cuối cùng chụp một chiếc tàu hàng. “Hai ngày trước đây, Jeff Stevens đã đặt thuê chỗ chở hàng trên chiếc Oresta, rơi bến Rotterdam vào tuần sau. Hàng của anh ta được lên danh mục là thiết bị máy, cảng đến là Hồng Kông”.
    Ông ta hướng mặt lại những người ngồi trong phòng. “Ồ thưa quý vị, chúng ta sẽ thay đổi một ít trong kế hoạch của họ. Chúng ta sẽ để ho chuyển vàng ra khỏi nhà băng trên chiếc xe tải của họ. Ông ta nhìn Daniel Cooper và mỉm cười.
    “Bắt quả tang. Chúng ta sẽ bắt giữ hai kẻ láu lỉnh này tại hiện trường”.
    Một thám tử đã bám theo Tracy đến chi nhánh điện tín Mỹ, nơi nàng nhận một gói hàng có kích thước trung bình rồi lập tức trở về khách sạn.
    “Không có cách nào để biết trong gói hàng đó có cái gì”, thanh tra Duren nói với Cooper. “Chúng tôi đã lục soát cả hai phòng của họ khi họ rời khỏi khách sạn, và không thấy gì mới trong đó cả”.
    Cái máy tính của Interpol đã không thể cung cấp thông tin gì về gã Monty nặng một tạ kia.
    Tại khách sạn Amstel, chiều tối thứ năm. Daniel Cooper, thanh tra Duren và thám tử Witkamp cùng có mặt lắng nghe các tiếng nới từ phòng bên dưới.
    Tiếng Jeff. “Nếu mà ta đến nhà băng đúng ba mươi phút trước chiếc xe kia thì điều đó sẽ cho chúng ta nhiều thời gian để xếp hàng lên rồi chuồn đi. Khi mà chiếc xe thật đến thì chúng ta đang chuyển vàng xuống tàu rồi”.
    Tiếng Tracy:
    “Em đã cho thợ máy kiểm tra lái chiếc xe tải và đổ đầy xăng.
    Sẵn sàng cả rồi”.
    Thám tử Witkamp lên tiếng, “Kể cũng đáng ngưỡng mộ. Họ không để mảy may cho cơ hội xấu nào xảy ra”.
    Sớm muộn gì họ cũng sẽ mắc sai lầm”, thanh tra Duren nói cộc lốc.
    Daniel Cooper im lặng, lắng nghe, Tracy, khi vụ này qua đi, em nghĩ thế nào về việc khai quật mà mình đã nói chuyện hả?”.
    “Vụ Tunisia ư” Nghe thú vị lắm, anh yêu ạ”.
    “Tốt. Anh sẽ thu xếp. Từ giờ trở đi ta không làm gì cả ngoài việc nghỉ ngơi và thưởng thức cuộc sống này”.
    Thanh tra Duren lầm bầm, “Tôi thì cho rằng trong hai mươi năm tới họ sẽ được chăm sóc chu đáo”. Ông ta đứng lên và vươn vai. “Ồ, tôi cho là chúng ta có thể ngủ được rồi. Mọi thứ sẽ được định đoạt vào sáng mai, và rồi tất cả chúng ta sẽ lại được ngủ ngon”.
    Daniel Cooper không thể nào ngủ được. Ông ta hình dung ra cảnh Tracy bị cảnh sát bắt giữ và như thể trông thấy nỗi khiếp sợ trên mặt nàng. Điều đó kích động ông ta. Cooper đi sang buồng tắm, mở nước nóng và thả người nằm vào bồn nước đang bốc hơi mù mịt. Chuyện đã sắp xong, và cơ ta sẽ phải trả giá, cũng như ông đã buộc các ả đàn bà khốn kiếp khác phải trả giá. Giờ này ngày mai, ông ta sẽ đang trên đường trở về nhà. Không, không phải là nhà Daniel tự chữa lại - trở lại căn hộ của mình. Còn nhà ư? Đó là cái nơi bình an, ấm cúng mà mẹ ông ta từng yêu dấu ông ta hơn bất kỳ ai khác trên thế gian này.
    “Con là người đàn ông nhỏ của mẹ”, bà nói:
    “Mẹ không biết sẽ ra sao nếu không có con”.
    Ông bố đã biến mất khi Daniel lên bốn và lúc đầu cậu ta luôn tự trách mắng mình, nhưng mẹ cậu đã giải thích rằng đó là vì một phụ nữ khác. Cậu đã thù ghét người phụ nữ khác kia vì cô ta đã làm mẹ cậu khóc. Cậu chưa bao giờ nhìn thấy cô ta nhưng cậu biết rằng cô ta là đồ đĩ thỏa bởi lẽ cậu nghe thấy mẹ gọi cô ta như vậy. Về sau này, cậu sung sướng vì người phụ nữ đó đã mang cha cậu đi, và cậu được có mẹ chỉ cho riêng mình. Những mùa đông ở Minesota đều lạnh giá và mẹ Danlelcho phép cậu được nằm cùng giường với những chăn nệm ấm sực.
    “Một ngày nào đó con sẽ cưới mẹ”. Daniel hứa hẹn và mẹ cậu cười vang, vuốt ve mái tóc cậu.
    Ở trường, Daniel luôn luôn đứng đầu lớp. Cậu muốn mẹ có thể tự hào về cậu.
    “Chị Conper, chị có cậu con trai thật sáng láng”.
    “Cảm ơn. Chẳng có ai thông minh như người đàn ông bé nhỏ này của tôi cả”.
    Khi Daniel lên bảy tuổi, mẹ cậu bắt đầu thường mời một người đàn ông hàng xóm, cao to, lông lá, sang nhà ăn cơm tối và Daniel bị ốm. Cậu nằm liệt giường với trận sốt dữ dội, và mẹ cậu đã hứa không bao giờ làm thế nữa. “Mẹ chẳng cần ai trên thế gian này ngoài con ra, Daniel ạ”, mẹ cậu nói.
    Không ai có thể sung sướng như Daniel. Mẹ cậu là người phụ nữ đẹp nhất thế giới này. Khi mẹ vắng nhà, Daniel thường lẻn vào phòng ngủ của mẹ và mở các ngăn tủ đựng quần áo. Cậu thường lấy mấy đồ lót của mẹ ra vả xoa xoa thứ tơ lụa óng ả đó lên má mình. Chúng có mùi thơm thật tuyệt diệu.
    Cooper đang nằm trong bồn nước ấm tại khách sạn Amstel, mắt nhắm nghiền, nhớ lại cái ngày khủng khiếp mà mẹ ông ta bị giết. Hôm đó là sinh nhật thứ mười hai của Daniel. Cậu được nhà trường cho về sớm vì bị đau tai.
    Cậu giả bộ như đau nhiều hơn, bởi lẽ muốn lúc về đến nhà, mẹ sẽ vuốt ve cậu và bế cậu lên giường, rồi cuống quít lên bên cậu. Daniel bước vào nhà, đi đến phòng ngủ của mẹ và thấy mẹ đang nằm trần truồng trên chiếc giường mà hai mẹ con vẫn thường nằm, nhưng không phải chỉ có một mình. Mẹ đang làm những điều mà cậu không thể nói ra được, với người đàn ông hàng xóm. Daniel đứng nhìn trong khi mẹ cậu mải hôn lên bộ ngực lông lá và cái bụng phệ kia, và rên rỉ, “Ôi, em yêu anh”.
    Và đó là điều khó nói ra nhất. Daniel chạy về phòng tắm của mình, nôn ọe lung tung ra khắp người. Cậu cẩn thận cởi quần áo và lau rửa sạch sẽ. Cái tai cậu giờ đây thật sự đau đớn. Cậu nghe thấy có tiếng nói ngoài hành lang và lắng nghe.
    Mẹ cậu đang nói. “Anh nên về đi, anh yêu. Em còn phải tắm táp và mặc quần áo. Daniel sắp từ trường về rồi. Em cần làm tiệc sinh nhật nó. Em sẽ gặp anh vào ngày mai, anh yêu ạ”.
    Có tiếng cửa trước đóng lại và tiếng nước chảy trong phòng tắm của mẹ cậu.
    Có điều người đó không còn là mẹ cậu nữa. Đó là một người đàn bà đĩ thỏa làm những điều dơ bẩn trên giường với bọn đàn ông.
    Cậu bước vào phòng tắm của mẹ và mẹ cậu đang ở trong bồn tắm, bộ mặt với vẻ đĩ thỏa tươi cười. “Daniel yêu quí! Kìa con”.
    Cậu cầm trong tay một cái kéo cắt vải to tướng.
    “Daniel ...” Miệng mẹ cậu há to, nhưng không hề có âm thanh nào cho đến lúc cậu đâm nhát lầu tiên vào ngực con người xa lạ đang trong bồn tắm kia.
    Cùng với tiếng kêu của mẹ là tiếng hét của cậu. “Đĩ thỏa! Đĩ thõa! Đĩ thỏa!”.
    Những tiếng hét hòa lẫn vào nhau cho đến sau cùng chỉ còn tiếng hét của cậu. “Đĩ thõa ... Đĩ thõa ...”.
    Máu tươi đầm khắp người. Cậu bước vào dưới vòi sen và tắm anh kỳ cọ cho đến khi thấy rát cả người.
    Người đàn ông kia đã giết mẹ câu, và người đó phải trả giá.
    Sau đó mọi việc diễn ra một cách thật chậm chạp và rõ ràng đến kỳ lạ.
    Daniel dùng một cái khăn lau sạch dấu tay trên chiếc kéo và ném nó vào trong bồn tắm. Cậu mặc quần áo và điện thoại cho cảnh sát. Hai xe đến ngay, với còi rú ầm ĩ, và rồi một xe nữa chở các nhân viên điều tra, họ hỏi Daniel, và cậu đã kể rằng cậu được nhà trường cho về sớm, rằng cậu nhìn thấy người hàng xóm Fred Zimmer, đi ra bằng cửa phụ. Khi họ tra hỏi người đàn ông kia, ông ta thú nhận là từ nhận của mẹ cậu, nhưng phủ nhận việc giết bà.
    Chính lời làm chứng trước tòa đã kết tội Zimmer “Khi từ trường trở về, cháu thấy người hàng xóm, Fred Zimmer, chạy ra cửa phụ à?”.
    “Thưa ông, vâng”.
    “Cháu nhìn có rõ không?”.
    “Thưa ông, rõ. Có máu đầy trên tay ông ta mà”.
    “Khi đó cháu làm gì, Daniel?”.
    “Cháu ... cháu sợ quá. Cháu biết rằng có chuyện gì đó khủng khiếp xảy ra với mẹ cháu rồi”.
    “Rồi cháu đi vào nhà chứ?”.
    “Thưa ông, vâng”.
    “Vậy rồi sao?”.
    “Cháu gọi to; mẹ ơi. Và không thấy tiếng trả lời, nên cháu đi vào phòng tắm của mẹ, và ...”.
    Tới lúc này, cậu bé nức nở và được dẫn ra ngoài.
    Fred Zimemer bị hành quyết vào mười ba tháng sau.
    Trong thời gian đó, cậu bé Daniel được gửi tới sống với một người bà con xa ở Texas, dì Mattie, mà tới lúc đó cậu mới được biết mặt. Dì là một người đàn bà khắc nghiệt, đầy tín ngưỡng mạnh mẽ và tin rằng ngọn lửa địa ngục luôn chờ thiêu đốt những kẻ có tội. Đó là một ngôi nhà không có tình yêu thương, niềm vui hay phiền muộn gì cả, và Daniel đã lớn lên trong bầu không khí ấy, khiếp sợ với tội lỗi bí mật của cậu và sự trừng phạt đang chờ đợi.
    Ngay sau cái chết của mẹ, mắt Daniel bắt đầu bị lệch.
    Các bác sĩ kết luận đó là một căn bệnh do thần kinh bị tác động quá mạnh.
    Các mắt kính cậu phải mang ngày càng dày hơn.
    Tới tuổi mười bảy, Daniel chạy trốn khỏi dì Mattie.
    Cậu đi nhờ xe tới New York, nơi cậu được nhận vào làm một chân chạy giấy của Hiệp hội bảo hiểm quốc tế. Chỉ trong vòng ba năm, cậu được đề bạt lên thành một điều tra viên, rồi trở thành thám tử giỏi nhất của hãng. Cậu không hề đòi tăng lương hoặc cải thiện điều kiện làm việc gì cả Cậu không nghĩ tới những thứ đó. Cậu là cánh tay phải của Chúa trời, là lưỡi gươm trừng phạt của người.
    Daniel Cooper ra khỏi bồn tắm và sửa soạn đi ngủ.
    Ngày mai, ông ta nghĩ. Mai sẽ là ngày con đĩ kia bị trừng phạt thích đáng.
    Ông ta lấy làm tiếc rằng mẹ mình không còn sống để thấy sự trừng phạt đó.
     
  7. heokool

    heokool Cà rốt, trứng hay hạt cà phê? Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/9/2011
    Bài viết:
    14.980
    Lượt thích:
    14.378
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học viên
    Trường:
    Nghịch ngợm
    Chương 34


    AMSRECDAM.
    Thứ sáu, 22 tháng Tám - 8 giờ.
    Daniel Cooper và hai thám tử túc trực tại vị trí nghe trộm đã nghe cuộc trò chuyện của Tracy và Jefftrongbữa sáng.
    “Uống cà phê không, Jeff?”.
    “Không, cảm ơn”.
    Daniel Cooper thầm nghĩ, đó sẽ là lần cuối cùng họ có thể ăn sáng với nhau.
    “Anh có hồi hộp về chuyện gì không”. Chuyến đi tàu trên kênh đấy”.
    “Hôm nay là một ngày trọng đại, thế mà em thì hồi hộp vì chuyến đi trên kênh ư”. Tại sao vậy?”.
    “Bởi vì chỉ có hai chúng ta. Anh có nghĩ là em bị điên không”.
    “Chắc chắn rồi. Còn chính em cũng là sự điên rồ của anh đấy”.
    “Hôn nhé”.
    Và tiếng họ hôn nhau.
    Cô ta sẽ phải sợ hãi chứ không phải là hồi hộp, Cooper nghĩ bụng. Mình sẽ buộc cô ta phải sợ hãi.
    “Dù sao thì em cũng thấy buồn khi phải dời khỏi đây Jeff ạ”.
    “Chúng ta đâu có còn là những kẻ non nớt gì trên cuộc đời này”.
    Tiếng cười của Tracy. “Anh nói ...”.
    Lúc 9 giờ sáng, câu chuyện của hai người vẫn tiếp tục và Cooper nghĩ họ sẽ cần phải sẵn sàng hành động. Họ sẽ phải xem xét lại kế hoạch một lần nữa ở phút chót. Còn thằng cha Monty kia thì sao nhỉ? Họ sẽ đón hắn ở đâu được?
    Tiếng Jeff. “Em yêu này, em sẽ cảm ơn người gác cửa một câu trước khi trả phòng chứ? Anh sẽ bận lắm đấy”.
    Tất nhiên rồi. Ông ta thật tuyệt vời. Tại sao không có những người gác cửa như thế ở Mỹ nhỉ?”.
    “Anh cho rằng đó chỉ là một tập quán ở Âu châu thời. Em có biết nó bắt đầu từ bao giờ không?”.
    “Không anh ạ”.
    “Ở nước Pháp, hồi năm 1927 vua Hugh cho xây một nhà ngục ở Paris và giao cho một nhà quý tộc trông nom. Nhà vua đặt tước hiệu cho ông ta là conte đes cierge hay concierge, có nghĩa là “bá tước của các ngọn nến”. Tiền lương của ông ta là hai đồng vàng và đám tro trong lò sưởi của nhà vua. Sau này, bất kỳ ai trong nom một nhà tù hay một pháo đài đều được gọi là concierge, và sau cùng, từ này chỉ cả những người trông nom trong các khách sạn”.
    Họ đang nói chuyện quái gì thế nhỉ? Cooper băn khoăn. Đã 9 giờ 30. Đã đến lúc họ phải đi rồi mà.
    Tiếng Tracy. “Đừng có kể cho em là anh biết chuyện đó từ đâu nhé - chắc anh từng cặp với một cô gác cửa xinh đẹp nào rồi”.
    Một gọng phụ nữ lạ. “Xin chào cô, chào ông”.
    Giọng Jeff. “Không cớ cơ gác cửa xinh đẹp đâu”.
    Giọng phụ nữ, hốt hoảng:
    “Tôi không hiểu chuyện gì cả”.
    Giọng Tracỵ:
    “Em cược rằng nếu có, chắc anh đã phát hiện ra họ ngay”.
    “Cái quỷ quái gì đang diễn ra ở dưới đó thể hả?”.
    Cooper hỏi.
    Một thám tử đáp, vẻ ngỡ ngàng. “Tôi không biết. Cô hầu phòng đang gọi điện báo cho người phụ trách phòng. Cô ta vào để quét dọn, nhưng nói là cô ta không hiểu chuyện gì cô ta nghe tiếng người nới, nhưng không thấy ai cả”.
    “Cái gì hả?” Cooper lao ra cửa và chạy như bay xuống cầu thang. Vài giây sau hai thám tử kia xông vào phòng của Tracy:
    Căn phòng trống rỗng trừ cô hầu phòng đáng bối rối. Trên bàn dùng để uống cà phê, một cái máy ghi âm đang chạy.
    Tiếng Jeff. “Anh nghĩ là anh sẽ uống lại cà phê. Có nóng không em?”.
    Tiếng Tracy:
    “A, ha ...”.
    Cooper và hai thám tử đứng nhìn chết trận, không tin vào mắt mình nữa.
    “Tôi ... tôi không hiểu”, một trong hai thám tử lắp bắp. Cooper quát lên, “Số máy gọi cảnh sát khẩn cấp là bao nhiêu?”.
    “22 - 22 - 22”.
    Cooper vội đến bên máy điện thoại và quay số.
    Tữ băng ghi âm tiếng Jeff vẫn vang lên, “Em thấy đấy, anh thực sự nghĩ rằng cà phê của bọn họ ngon hơn cà phê của ta. Không biết họ pha thế nào?”.
    Cooper thét vào máy. “Đấy là Daniel Cooper. Tìm ngay thanh tra Duren. Nói với ông ta rằng Whitney và Stevens đã biến mất. Yêu cầu ông ta cho kiểm tra ở ga ra kia xem cái xe tải của họ đã đi chưa. Tôi đang trên đường tới nhà băng”.
    Ông ta gác máy đánh rầm.
    Tiếng Tracy. “Anh đã bao giờ uống cà phê có đánh lẫn vỏ trứng ở trong đó chưa? Thật hoàn hảo”.
    Cooper đã ra khuất.
    Thanh tra Duren nói. “Ổn cả thôi. Chiếc xe tải đã rời ga ra của bọn chúng, đang trên đường tới đây”.
    Duren, Cooper và hai thám tử nữa đang ở vị trí chỉ huy của cảnh sát đặt trên nóc một tòa nhà cao tầng nhìn trực diện xuống nhà băng Ámro ...
    Viên thanh tra nói. “Có thể chúng đã đẩy sớm kế hoạch lên khi biết là chúng bị nghe trộm, nhưng cứ yên trí, ông bạn của tôi. Nhìn kìa? Ông ta đẩy Cooper tới bên chiếc ống kính nhìn xa đặt ở đó. Trận đường phố phía bên dưới, một người đàn ông trong bộ quần áo của người gác cổng đang chăm chú đánh bóng cái biển đồng mang tên nhà băng ... một người quét đường đang quét dọn ... một người bán báo đang đứng ở góc phố ... Tất cả đều được trang bị máy bộ đàm mini.
    Duren nói vào máy bộ đàm của ông ta. “Chốt A?”.
    Người gác cổng đáp, “Tôi nghe rõ, thưa ông thanh tra”.
    “Chốt B?”.
    “Tôi nghe ngài đây”.Câu trả lời phát ra từ người quét đường.
    “Chốt C?”.
    Người bán báo ngẩng đầu nhìn lên và gật đầu.
    “Chốt D?”.
    Ba công nhân kia ngừng tay, và một trong số họ nói vào máy. “Ở đây tất cả đều sẵn sàng, thưa ngài”.
    Viên thanh tra quay sang Cooper. “Đừng lo ngại gì hết. Vàng vẫn nằm yên trong nhà băng. Chỉ đến đây thì chúng mới có thể mó tới vàng. Ngay khi chúng vào nhà băng, cả hai đầu phố sẽ bị bịt lại, không có lối thoát nào cho chúng cả.
    Ông ta nhìn đồng hồ. “Chiếc xe tải sắp xuất hiện bây giờ lấy”.
    Bên trong nhà băng, không khí căng thẳng mỗi lúc một tăng. Các nhân viên đều đã được phổ biến, và những người bảo vệ được lệnh phải giúp đỡ vào việc chất hàng lên xe tải khi nó đến. Tất cả đều phải hợp tác thuận lợi.
    Các thám tử cải trang phía bên ngoài nhà băng vẫn tiếp tục làm việc, luôn quan sát đường phố để sớm phát hiện chiếc xe tải.
    Trên nóc nhà cao tầng. Thanh tra Duren đã hỏi đến lần thứ mười, “Thấy bóng dáng chiếc xe chết tiệt kia chưa?”.
    Thám tử Witkamp nhìn đồng hồ. “Chúng đã chậm tới mười ba phút rồi. Nếu chúng ...”.
    Chiếc máy bộ đàm lại hoạt động. “Ông thanh tra! Chiếc xe tải vừa xuất hiện?
    Nó đang chạy ngang đường Rozengracht, hướng về phía nhà băng. Trong vòng một phút nữa thì từ trên nóc nhà ông có thể trông thấy nó đấy”.
    Bầu không khí đột nhiên như bị tích điện.
    Thanh tra Duren nói nhanh vào bộ đàm. “Các đơn vị chú ý. Cá đang vào lưới. Hãy để chúng lọt vào hẳn đã”.
    Một chiếc xe tải bọc thép màu xám tiến tới cổng nhà băng và dừng lại. Trong lúc Coơper và Duren quan sát, hai người đàn ông mặc quân phục an ninh nhảy ra khỏi xe và đi vào nhà băng. “Cô ta đâu? Tracy Whitney đâu?”.
    Daniel Cooper kêu lên.
    “Không sao cả”, thanh tra Duren nói. “Cô ta sẽ không ở xa chỗ vàng đâu”.
    Và ngay cả như thế đi nữa, Daniel Coơper nghĩ, cũng không có gì quan trọng các băng ghi âm sẽ kết tội cô ta.
    Các nhân viên nhà băng, đầy hồi hộp, giúp hai người mặc quân phục kia chất các thanh vàng từ trong két sắt lên các xe đẩy và đẩy ra chỗ chiếc xe tải. Từ trên nóc nhà cao, Cooper và Duren chăm chú theo dõi mọi di động.
    Việc xếp hàng mất tám phút, Khi hai cửa sau của chiếc xe tải đã được khóa lại và hai người đàn ông kia chuẩn bị trèo vào buồng lái. Thanh tra hét vào máy bộ đàm. “Các đơn vị ập vào? Ập vào”.
    Sự hỗn loạn bùng lên. Người gác cổng, người bán báo, mấy người công nhân và một nhóm đông các thám tử khác lao tới chỗ chiếe xe tải bọc thép, vây lấy nó, sung lăm lăm trong tay. Tất cả các tuyến giao thông hướng tới đoạn phố này đều bị chặn lại.
    Thanh tra Duren quay sang Cooper và mỉm cười. “Với ông thế là đã quả tang chưa? Ta hãy kết thúc vụ này nhé”.
    Cuối cùng, vậy là xong! Cooper nghĩ.
    Họ vội vã xuống phố. Hai người đàn ông kia đang đứng úp mặt vào tường, tay giơ lên, bao quanh là các thám tử tay cầm súng. Daniel Cooper và Duren rẽ lối bước vào.
    Duren nói, “Giờ thì các anh có thể quay mặt lại được, Các anh đã bị bắt”.
    Hai người đàn ông quay lại, mặt tái xanh. Cooper và Duren giật mình nhìn họ. Hoàn toàn lạ mặt.
    “Các các anh là ai?” Thanh tra Duren hỏi.
    “Chúng tôi là nhân viên bảo vệ của cơ quan an ninh”, một trong hai người lắp bắp. “Đừng bắn. Xin đừng bắn”.
    Thanh tra Duren quay sang Cooper. “Kế hoạch của chúng có trục trặc”.
    Giọng ông ta giận dữ. “Chúng đã hủy bỏ rồi”.
    Có một cái gì đó tắc nghẹn trong cổ họng Daniel Cooper, và khi cất lời lên được, giọng ông ta tắc nghẹn.
    “Không. Không có gì trục trặc hết”.
    “Ông nói sao?”.
    “Chúng chưa bao giờ theo đuổi chỗ vàng này. Toàn bộ những bày đặt này chỉ là một cái bẫy để nhử chúng ta thôi”.
    “Không thể thế được! Tôi muốn nói đến chiếc xe tải, chiếc tàu chạy trên kênh, các bộ quân phục ... và chúng ta có những tấm hình ...”.
    “Ông không hiểu à? Chúng biết từ đầu là ta theo dõi chúng suốt thời gian qua mà”.
    Mặt thanh tra Duren trắng bệch ra. “Ôi, lạy Chúa tôi? Chúng ở đâu lúc này?”.
    Trên phố Potter ở khu Coster, Tracy và Jeff đang đi tôi nhà máy gia công kim cương Hà Lan. Jeff mang râu, ria mép giả và đã hóa trang khuôn mặt. Anh mặc bộ đồ thể thao, tay xách cái túi lớn. Tracy mang bộ tóc giả màu đen, dưới làn váy là cái bụng bầu tròn căng, mặt trát son phấn, mang kính đen, xách một cái valy cỡ lớn và một gói tròn tròn bọc trong giấy nâu. Hai người đi vào phòng tiếp khách và hòa vào đám đông các du khách đang lắng nghe người hướng dẫn viên nói. “Và bây giở, mời các quý bà, quý ông đi theo tôi. Các vị sẽ thấy các thợ cắt gọt kim cương của chúng tôi đang làm việc và sẽ có dịp mua được vài viên kim cương tuyệt đẹp”.
    Với người hướng dẫn đi trước, đám đông đi qua các cửa dẫn vào phía trong nhà máy. Tracy hòa vào họ, trong lúc Jeff tụt lại đằng sau. Khi đám khách khuất qua cửa, Jeff quay người đi nhanh xuống một đoạn cầu thang dẫn tới tầng hầm.
    Anh mở túi lấy ra bộ đồ bảo hộ lao động lem nhem, bước tới bên hộp cầu dao điện và đưa tay nhìn đồng hồ.
    Ở trên gác, Tracy cùng đám đông đi từ phòng này sang phòng khác trong lúc người hướng dẫn viên giới thiệu các công đoạn gia công khác nhau để có được các viên kim cương đẹp đẽ từ các viên kim cương thô nguyên thủy. Thỉnh thoảng Tracy lại liếc nhìn đồng hồ. Chương trình tham quan đã bị chậm năm phút so với kế hoạch và nàng chỉ ước ao người hướng dẫn viên hay đi nhanh hơn một chút.
    Sau cùng, vòng tham quan cũng kết thúc, họ đã tới phòng triển lãm. Người hướng dẫn viên bước tới bên cái bệ mà quanh nó chăng sợi dây thừng óng ả bằng nhung.
    “Trong hộp kính này”, anh ta tự hào cất tiếng, “là viên kim cương Lucullan, một trong số những viên kim cương quý nhất thế giới. Nó đã từng được một diễn viên sân khấu nổi tiếng mua tặng người vợ, một minh tinh màn bạc. Nó được định giá mười triệu đô la và được bảo vệ chu đáo bằng các thiết ...”.
    Ánh sáng vụt tắt. Ngay lập tức, chuông báo động réo vang và các tấm mành sắt đóng rầm rầm lại ở các cửa sổ và cửa ra vào, bịt chặt tất cả các lối ra. Một vài du khách sợ hãi hét lên.
    “Xin bình tĩnh?” Anh ta hét lên át tiếng ồn ào. “Không có gì đáng lo ngại hết. Đó chỉ là một sự cơ về điện. Trong giây lát máy phát điện dự phòng sẽ ...”.
    Ánh điện lại bật sáng.
    “Quý vị thấy chưa”. Anh ta trấn an họ. “Không có gì phải lo lắng cả”.
    Một khách du lịch người Đức chỉ những tấm mành sắt hỏi. “Kia là những cái gì?”.
    “Một đảm bảo an toàn”, người hướng dẫn viên giải thích, anh ta lấy trong túi ra một chiếc chìa khóa hình thù kỳ cục và cắm nó vào một cái khe nhỏ trên tường, xoay chìa. Các tấm mành sắt đang bịt kín cửa sổ và cửa ra vào được kéo lên. Máy điện thoại trên chiếc bàn kề đó đổ chuông và người hướng dẫn viên nhấc ống nghe.
    “Hendrik đây. Cảm ơn ông đội trưởng. Không, mọi thứ đều tốt đẹp. Một cú báo động nhầm thôi. Có thể là do chập điện. Tôi sẽ cho kiểm tra lại ngay. Vâng, thưa ông”.
    Anh ta gác máy và quay lại nhóm khách. “Xin lỗi quý bà, quý ông. Không có cẩn thận nào là thừa với một viên kim cương quý giá như thế này. Bây giờ là dành cho những ai trong quý vị muốn mua một vài viên kim cương tuyệt đẹp của chúng tôi ...”.
    Ánh sáng lại phụt tắt. Chương báo động réo vang và một lần nữa các tấm mành sắt lại sập xuống.
    Một phụ nữ trong đám đông la lên. “Harry, chúng ta rời khỏi đây thôi anh ạ”.
    “Em có im miệng đi không, Olane?” Chồng cô ta càu nhàu.
    Ở tầng hầm bên dưới, Jeff đứng trước hộp cầu dao điện lắng nghe tiếng náo loạn của đám du khách phía trên. Anh đợi giây lát rồi lại đóng cầu dao. ở tầng trên, ánh điện lại bật sáng.
    “Thưa quý bà, quý ông”, người hướng dẫn viên gào lên, cố át tiếng ồn ào.
    “Đó chỉ là một trục trặc kỹ thuật”.
    Anh ta lại lấy chiếc chìa khóa ra, cắm vào cái khe nhỏ trên tường. Các tấm mành sắt lại được kéo lên.
    Chuông điện thoại reo vang. Người hướng dẫn viên vội chạy lại cầm ống nghe. “Hendrik đây. Không, thưa ông đội trưởng. Vâng. Chúng tôi sẽ sửa lại trong thời gian nhanh nhất có thể. Cảm ơn ông”.
    Một cánh cửa bật mở, Jeff bước vào, mang theo họp đồ nghề, cái mũ công nhân của anh hất ngược ra sau gáy.
    Anh đưa mắt kiếm người hướng dẫn viên.
    “Có gì vậy? Ai đó báo có sự cố trong mạch điện”.
    “Đèn lúc sáng lúc tắt”, người hướng dẫn viên giải thích.
    “Xem anh có thể sửa lại nhanh được không nào?” Anh ta quay sang phía các du khách và cố nở nụ eười trên mời. “Tại sao chúng ta không lại gần đây để quý vị có thể chọn lấy vài viên kim cương xinh đẹp với giá phải chăng nhỉ?”.
    Nhóm du khách bắt đầu đi vào phía các tủ kính trưng bày kim cương, Jeff tranh thủ lúc không ai để ý, lấy trong túi quần ra một vật nhỏ và quẳng nó vào sau trụ đô cái hòm kính đựng viện kim cương Lucullan. Một đám khói dày đặc bốc lên kèm theo những tia lửa.
    Jeff gọi người hướng dẫn viên. “Này! Có chỗ trục trặc kia kìa. Chạm mạch ở mạng điện dưới sàn”.
    Một nữ du khách kêu toáng lên. “Cháy!”.
    “Mọi người hãy bình tĩnh” Người hướng dẫn viên nói lớn. “Không việc gì phải hoảng hốt. Hãy cứ yên tâm”. Anh ta quay sang Jeff, giục giã. “Sửa ngay đi!
    Mau lên?”.
    “Không khó khăn gì” Jeff nói bình tĩnh. Anh bước lại gần sợi thừng nhung chăng quanh cái bệ trên đặt hòm kính.
    “Không được?” Người bảo vệ nói lớn. “Anh không thể đến gần nó được”.
    Jeff nhún vai. “Với tôi thì được thôi. Ông đi sửa vậy”.
    Anh quay người bước đi.
    Khói tràn ra ngày một dày đặc và mọi người lại bắt đầu hoảng hốt.
    “Gượm đã?” Người hướng dẫn viên năn nỉ. “Đợi một chút nào” Anh ta chạy lại bên điện thoại và quay máy.
    “Ông đội trưởng đấy à? Hendrik đây. Tôi buộc phải đề nghị ông tạm ngưng toàn bộ hệ thống báo động. Chúng tôi đang gặp phải một rắc rối nhỏ. Vâng, thưa ông”. Anh ta đưa mắt nhìn Jeff. Anh cần ngưng bao lâu hả?
    “Năm phút”. Jeff đáp.
    “Năm phút”, người hướng dẫn viên lặp lại vào máy.
    Anh ta gác máy. “Hệ thống báo động sẽ được ngắt sau đây mười giây. Hãy vì Chúa, mau lên nhé. Chúng ta chưa bao giờ ngắt hệ thống báo động cả”.
    Tôi chỉ có hai bàn tay thôi, ông bạn ạ”. Jeff đợi mười giây rồi bước vào bên trong những sợi dây thừng và tới gần cái bệ. Hendrik ra hiệu cho người bảo vệ có vũ trang kia, người ấy gật đầu và dán mắt vào Jeff.
    Jeff tỉnh bơ lúi húi làm việc ngay sau cái bệ. Người hướng dẫn viên bất hạnh quay sang nhóm khách. “Bây giờ, thưa các quý bà, quý ông, như tôi vừa nói, ở đây chúng ta có cả một bộ sưu tập những viên kim cương bán theo giá thỏa thuận. Chúng tôi chấp nhận thẻ mua hàng, séc du lịch. Anh ta cười cười, “và cả tiền mặt”.
    Tracy đang đứng trước dãy tủ kính. Nàng cất tiếng hỏi lớn. “Các ông có mua kim cương không?”.
    Người hướng dẫn viên nhìn nàng. “Cái gì ạ?”.
    “Chồng tôi là người đi tìm vàng. Anh ấy mới từ Nam Phí trở về và muốn bán những viên kim cương này đây”.
    Vừa nói, nàng vừa lật nắp chiếc vali hộp vẫn xách trên tay, nhưng vì có lẽ đang cầm úp sấp nên một số những viên kim cương lấp lánh chảy ào xuống rơi tung tóe khắp sàn.
    “Kim cương của tôi”. Tracy gào lên. “Giúp tới với”.
    Tất cả chìm trong giây lát im lặng rồi một sự náo loạn bùng lên. Đám đông lịch sự kia bỗng chốc hóa thành một lũ điên. Họ bò toài người ra sàn để nhặt kim cương, xô đẩy lẫn nhau.
    “Tôi vớ được vài ...”.
    “Vơ lấy một nắm đi, John”.
    “Buông ra, nó là của tôi ...”.
    Người hướng dẫn viên và người bảo vệ đứng chết lặng, không nói nên lời.
    Họ bị cái đám người tham lam kia đẩy bật ra một bên khi họ cuống cuồng vơ nhét những viên kim cương vào đầy túi quần túi áo. Người bảo vệ quát lên “Lùi lại! Ngừng ngay? Và chưa dứt lời đã bị xô ngã xuống sàn. Một nhóm du lịch người Ý bước vào, và khi hiểu ra chuyện, họ lao ngay vào cươc. Người bảo vệ cố nhỏm dậy để có thể phát tín hiệu báo động nhưng không thể được vì hên tục bị chen lấn, xô đẩy. Họ dày xéo lên eả người anh ta. Tất cả đột nhiên cứ như đến ngày tận thế vậy. Sau cùng, khi người gác loạng choạng đứng dậy được, anh ta vội vã lách qua đám đông hỗn loạn đến bên cái hòm kính đặt trên bệ, đứng nhìn nó trân trối, không tin vào mắt mình nữa.
    Viên kim cương Lueullan đã biến mất.
    Người phụ nữ có bầu và anh chàng thợ điện kia cũng không thấy đâu.
    Tracy trút bỏ hóa trang của nàng trong một phòng vệ sinh công cộng ở công viên Oster, cách nhà máy vài dãy phố. Mang theo cái bọc gói trong tờ giấy màu nâu, nàng bước lại cái ghế băng đặt trong công viên. Mọi việc đã diễn ra hoàn hảo. Nàng nghĩ tới đám đông chen lấn nhau để giành giật những hạt ziricon vô giá trị kia và bật cười. Jeff đang đi về phía nàng, trong một bộ complê màu xám sẫm; bộ râu và ria mép đã biến mất. Tracy vụt đứng dậy, Jeff bước lại bên nàng và mỉm cười. “Anh yêu em nhiều”, anh nói và đưa tay lấy viên kim cương Lucullan ra khỏi túi áo gilê, đưa cho Tracy. “Chuyển nó cho bạn của em đi, em yêu. Hẹn gặp lại em sau nhé”.
    Tracy trông theo, trong lúc Jeff thong thả bước đi, mắt nàng ngời sáng. Họ đã là của nhau. Họ sẽ đi trên hai chuyến máy bay khác nhau và gặp nhau ở Braxin, và sau đó họ sẽ ở bên nhau suốt cả quãng đời còn lại.
    Tracy ngó quanh để yên tâm rằng không có ai nhìn mình, rồi mở cái túi đang cầm trên tay. Trong đó là một cái lồng nhỏ nhất một con chim câu màu xám biếc. Ba ngày trước đây, khi nhận con này về khách sạn từ hang điện tín Mỹ, Tracy đã thả con chim câu kia khỏi cửa sổ vả nhìn nó vụng về bay đi. Giờ đây, Tracy lấy ra cái túi da nhỏ xíu và cẩn thận cho viên kim cương vào đó. Nàng tóm con chim ra khỏi lồng và thận trọng buộc cái túi vào chân con chim.
    Mảrgo, cô bé thông minh. Hãy mang nó về nhà nhé”.
    Không biết từ đâu, một cảnh sát mặc đồng phục chỉnh tề xuất hiện. “Ngồi yên? Cô cho rằng mình đang làm gì vậy hả?”.
    Tim Tracy thót lại. “Có ... gì rắc rối vậy, thưa ngài?”.
    Mắt ông ta nhìn chằm chằm vào cái lồng và ông ta bực tức nói. “Cô biết rắc rối gì rồi đó. Cho những con chim này ăn là một chuyện, nhưng bẫy chúng để nhất vào lồng là một hành động vi phạm pháp luật. Bây giờ cô hãy thả ngay nó ra trước khi tôi phải tuyên bố bắt giữ cô”.
    Tracy thở phào. “Tôi xin nghe lời ông, thưa ông sĩ quan”.
    Nàng tung con chim lên không. Một nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt nàng trong lúc nhìn theo con chim câu đang bay vút lên cao, cao mãi. Nó lượn một vòng tròn rồi nhằm bay về London, 230 dặm về hướng Tây. Gunther đã bảo cô một con chim câu đưa thư trên đường về bay trung bình tới bốn mươi dặm một giờ; vậy là Marge, trong vòng sáu giờ nữa sẽ về đến chỗ ông ấy.
    “Đừng có bao giờ làm thế nữa”, viên cảnh sát cảnh cáo Tracy.
    “Tôi sẽ không bao giờ làm thế nữa, thưa ông”, Tracy thành thật hứa.
    Cuối chiều hôm đó, Tracy có mặt ở sân bay Schiphol đang vào cổng để lên chuyến bay đi Braxin. Daniel Cooper đứng ở một góc xa chăm chăm nhìn nàng, ánh mắt đầy vẻ tức tối. Tracy đã đánh cắp viên kim cương Lucullan. Cooper biết vậy ngay từ lúc nghe tin này. Đó là phong cách của cô ta, táo bạo và giàu trí tưởng tượng. Thế nhưng không làm gì được cả. Thanh tra Duren đã cho người gác phòng triển lãm xem các tấm hình chụp Tracy và Jeff. “Không phải. Tôi chưa bao giờ thấy hai người này. Tên tội phạm kia có râu và ria mép còn má và mũi có vẻ béo hơn cô. Người phụ nữ mang những viên kim cương thì có bầu và mái tóc màu sẫm”.
    Cảnh sát cũng đã không hề thấy tung tích gì của viên kim cương. Thân thể và hành lý của Jeff và Tracy đều đã được khám xét kỹ lưỡng. “Viên kim cương nhất định còn ở Amstecđam”. Thanh tra Duren quả quyết với Cooper.
    “Chúng ta sẽ tìm thấy nó”. Không đâu, ông không thể - Cooper bực dọc nghĩ, Cô ta hẳn đã thay đổi những con chim câu. Viên kim cương đã bị mang ra khỏi lãnh thổ Hà Lan bằng một con chim đưa thư rồi.
    Cooper nhìn theo bất lực trong lúc Tracy đi ngang qua phòng đợi lớn. Nàng là kẻ tội phạm đầu tiên đã đánh bại ông ta. Vì nàng mà ông ta phải sa xuống địa ngục mất.
    Khi bước tới cổng vào để lên máy bay, Tracy ngập ngừng một khoảnh khắc, rồi quay lại nhìn thẳng vào mắt Cooper. Nàng biết rằng ông ta rình rập từng bước chân nàng trên khắp châu Âu, như một thứ hung thần báo oán vậy. Ở ông ta có cái gì đó kỳ dị, vừa khủng khiếp đe dọa, vừa thật thương tâm. Đột nhiên, không hiểu thế nào, Tracy cảm thấy buồn cho ông ta. Nàng khẽ vẫy tay từ biệt trước khi quay người bước đi. Daniel Cooper bất giác sờ tay vào lá đơn xin thôi việc bỏ trong túi áo ngực mình.
    Đó là chiếc 747 sang trọng của hãng Pan American, và Tracy ngồi trong số ghế 4B bên lối đi ở khoang hạng nhất. Nàng thấy hồi hộp lạ thường. Chỉ ít giờ nữa nàng sẽ được bên Jeff. Họ sẽ làm đám cưới ở Braxin. Thôi những trò mạo hiểm - Tracy nghĩ thế nhưng mình sẽ nhớ những chuyện đó biết bao. Nhưng cũng chẳng sao mình biết chắc thế. Chỉ trở thành bà Jeff Stevens là cuộc sống của mình đã đủ sung sướng làm rồi.
    “Xin thứ lỗi”.
    Tracy ngước nhìn lên một người đàn ông béo mập, trạc tuổi trung niên, đầy vẻ phóng đãng đang đứng bên nàng.
    Ông ta chỉ cái ghế bên cửa sổ. “Đó là chỗ của tôi cô bé”.
    Tracy quay nghiêng người để ông ta có thể đi qua chỗ nàng. Và vì chiếc váy ngàn nàng đang mặc hơi bị co lên, ông ta đưa mắt nhìn cặp chân nàng vẻ thích thú.
    “Hôm nay đẹp trời quá nhỉ?” Giọng ông ta đầy vẻ khêu gợi.
    Tracy quay đi. Nàng không hề có hứng thú bắt chuyện với một khách đồng hành nào cả. Nàng còn bao nhiêu điều muốn nghĩ tới - cả một cuộc sống mới mà. Họ sẽ ổn định cuộc sống ở đâu đó và sẽ trở thành các công dân kiểu mẫu, thành ông bà Jeff Stevens đáng kính trọng.
    Ông khách ngồi bên dùng cùi tay huých nhẹ vào nàng. “Vì rằng chúng ta sẽ ngồi bên nhau suốt cả chuyến đi này, cô bé ơi, tại sao cô và tôi lại không làm quen nhau nhỉ? Xin tự giới thiệu, tôi là Maximilian Pierpont”.

    Hết
     
Đang tải...
Chủ đề liên quan - Nếu còn có Diễn đàn Date
Nếu Còn Có Ngày Mai [Shiho - Shinichi - Ran] Đang viết / đang dịch 14/9/2019
Phó CT Liên đoàn Yoga Châu Á: Nếu chỉ còn 1 ngày để sống Sống khỏe mỗi ngày 22/6/2019
[THẢO LUẬN] Nếu gặp Ayumi trước, Shinichi có còn thích Ran không? Detective Conan 28/10/2017
Nếu còn có ngày mai -Sidney Sheldon Tủ sách của bạn 7/3/2014
Nếu còn có kiếp sau, anh sẽ không yêu em nữa Truyện ngắn 8/3/2013
Nếu còn có kiếp sau, anh sẽ không bao giờ yêu em Suy ngẫm 15/8/2011

Chia sẻ cùng bạn bè

Đang tải...
TOP