Máy chủ là gì? Phân loại server (máy chủ)

nang2911

Thành viên mới
Tham gia
12/10/2017
Bài viết
3
khái niệm về server (máy chủ)

Máy chủ (server): 1 máy tính hay 1 trang bị trên mạng, nó quản lý tài nguyên của mạng. Thí dụ như, 1 máy nhà sản xuất tập tin là 1 máy tính hoặc là 1 trang bị chuyên dụng để lưu trữ các tập tin. Bất kỳ người sử dụng nào trên mạng cũng mang thể lưu trữ các tập tin trên máy chủ.

Phân loại server (máy chủ) hiện giờ

nếu căn cứ theo bí quyết tạo ra máy chủ người ta phân thành ba loại:
– Máy chủ riêng (Dedicated Server): là máy chủ chạy trên phần cứng và những thiết bị hỗ trợ biệt lập gồm: HDD, CPU, RAM, Card mạng. Việc nâp cấp hoặc thay đổi cấu hình của máy chủ riêng đòi hỏi phải thay đổi phần cứng của máy chủ.

– Máy chủ ảo (Virtual Private Server – VPS): là dạng máy chủ được tạo thành bằng bí quyết tiêu dùng khoa học ảo hóa để chia tách trong khoảng 1 máy chủ riêng thành phổ biến máy chủ ảo khác nhau. Những máy chủ ảo mang tính năng như vậy như 1 máy chủ riêng, nhưng chạy san sớt tài nguyên từ máy chủ vật lý gốc. Việc nâng cấp hoặc đổi thay cấu hình của máy chủ ảo rất đơn giản, sở hữu thể thay đổi trực tiếp trên phần mềm điều hành hệ thống. Tuy nhiên việc đổi thay tài nguyên của máy chủ ảo phụ thuộc và bị dừng bởi tài nguyên của máy chủ vật lý.

– Máy chủ đám mây (Cloud Server): là máy chủ được kết hợp rộng rãi từ máy chủ vật lý khác nhau cộng mang hệ thống lưu trữ SAN với tốc độ tróc nã xuất nổi bật giúp máy chủ hoạt động nhanh, ổn định, tránh mức rẻ tình trạng downtime. Máy chủ Cloud được xây dựng trên nền khoa học điện toán đám mây nên tiện dụng nâng cấp từng phần trang bị trong giai đoạn dùng mà không khiến gián đoạn thời kỳ sử dụng máy chủ.

>>> Xem thêm: máy trạm dell 3430

nếu như căn cứ theo công dụng, chức năng của máy chủ người ta phân ra các chiếc máy chủ: Web server, Database server, FTP server, SMTP server (email sever), DNS sever, DHCP server.

– Máy chủ web (Web Server) là máy chủ mà trên đó cài đặt phần mềm chuyên dụng cho web, đôi khi người ta cũng gọi chính phần mềm đó là web server. Hầu hết các web server đều hiểu và chạy được các file *.htm và *.html. Bên cạnh đó mỗi web server lại chuyên dụng cho 1 số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như llS của Microsoft dành cho *.asp, *.aspx…; Apache dành cho *.php…; Sun Java system web server của SUN dành cho *.jsp…

– Máy chủ Database (Database Server): máy chủ mà trên đó mang cài đặt phần mềm Hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Chúng ta sở hữu hệ quản trị CSDL chả hạn như: SQL server, MySQL, Oracle…

– Máy chủ FTP (FTP server): FTP (viết tắt của File Transfer Protocol dịch ra là “Giao thức truyền tập tin”) thường được tiêu dùng để luận bàn tập tin qua màng lưới truyền thông tiêu dùng giao thức TCP/IP (chẳng hạn như Internet – mạng ngoại bộ – hoặc intranet – mạng nội bộ). Hoạt động của FTP cần có hai máy tính, 1 máy chủ và một máy khách). Máy chủ FTP dùng chạy phần mềm cung ứng nhà cung cấp FTP, gọi là trình chủ, lắng tai yêu cầu về nhà sản xuất của các máy tính khác trên màng lưới. Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người dùng nhà cung cấp, gọi là trình khách, thì khởi đầu một kết liên mang máy chủ.

– Máy chủ SMTP (SMTP server): SMTP (Simple Mail Transfer Protocol – giao thức truyền vận chuyển thư tín đơn giản) là 1 chuẩn truyền vận tải thư điện tử qua mạng Internet. SMTP server là máy chủ giúp bạn gửi mail tới các liên hệ email khác trên internet.

– Máy chủ DNS (DNS Server) là máy chủ phân giải tên miền. Mỗi máy tính, thiết bị mạng tham gia vào mạng Internet đều kết nối có nhau bằng địa chỉ IP (Internet Protocol). Để tiện lợi cho việc dùng và dễ nhớ ta sử dụng tên (domain name) để xác định vật dụng đó. Hệ thống tên miền DNS (Domain Name System) được tiêu dùng để ánh xạ tên miền thành liên hệ IP.

– Máy chủ DHCP (DHCP server): DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol – giao thức cấu hình động máy chủ) là một giao thức cấu hình tự động liên hệ IP. Máy tính được cấu hình 1 cách tự động do vậy sẽ giảm việc can thiệp vào hệ thống mạng. DHCP server là máy chủ với cài đặt nhà cung cấp DHCP, nó với chức năng quản lý sự cấp phát liên hệ IP động và các dữ liệu cấu hình TCP/IP. Tuy nhiên còn mang nhiệm vụ giải đáp khi DHCP Client với yêu cầu về hợp đồng thuê bao.

>>> Xem thêm: bán máy trạm HP Z6 G4

ví như phân chiếc theo DNS server sở hữu ba loại DNS server sau:

– Primary server: chuẩn xác thông báo chính thức cho các domain mà nó được phép quản lý

thông báo về tên miền do nó được phân cấp điều hành thì được lưu trữ tại đây và sau đó có thể được chuyển sang cho những secondary server.

những tên miền do primary server quản lý thì được tạo và sửa đổi tai primary server và được cập nhật tới những secondary server.

Primary server nên đặt gần với những client để mang thể phục vụ truy hỏi tên miền một phương pháp tiện dụng và mau lẹ hơn.

– Secondary server: DNS được khuyến nghị nên dùng ít ra là hai DNS server để lưu cho mỗi một zone. Primary DNS server quản lý các zone và secondary server sử dụng để lưu trữ dự phòng cho primary server. Secondary DNS server được khuyến nghị dùng nhưng ko khăng khăng phải có. Secondary server được phép quản lý domain như : dữ liệu về tên miền (domain), nhưng secondary server ko tạo ra các bản ghi về tên miền (domain) mà nó lấy về từ primary server phê duyệt quá trình Replication.

lúc lượng truy vấn zone nâng cao cao tại primary server thì nó sẽ chuyển bớt vận chuyển sang cho secondary server. Hoặc lúc primary server gặp sự cố không hoạt động được thì secondary server sẽ hoạt động thay thế cho đến lúc primary server hoạt động trở lại.

Secondary server nên được đặt ở sắp mang primary server và client để với thể dùng cho cho việc truy tên miền dễ dàng hơn. Nhưng không nên cài đặt secondary server trên cùng một mạng con (subnet) hoặc cộng một kết nối sở hữu primary server. Để lúc primary server mang kết nối bị hỏng thì cũng ko có ảnh hưởng đến secondary server.

Primary server thường xuyên thay đổi hoặc thêm vào các zone mới. Nên DNS server dùng cơ chế cho phép secondary lấy thông báo từ primary server và lưu trữ nó. Có 2 biện pháp lấy thông báo về những zone mới là lấy hầu hết (full) hoặc chỉ lấy phần đổi thay (incremental).

– Caching-only server: phần đông những DNS server đều với khả năng lưu trữ dữ liệu trên bộ nhớ cache của máy để tư vấn tróc nã 1 bí quyết nhanh chóng. Nhưng hệ thống DNS còn có một loại Caching-only server. Dòng này chỉ dùng cho việc tầm nã, lưu giữ câu trả lời dựa trên thông báo sở hữu trên cache của máy và cho kết quả truy tìm. Chúng chẳng hề quản lý 1 domain nào và thông báo được giới hạn bởi các gì được lưu trên cache của server.

khi ban đầu lúc server bắt đầu chạy thì nó sẽ không lưu thông báo nào trong cache. Thông báo sẽ được cập nhật theo thời gian khi những client server tróc nã nhà sản xuất DNS. Nếu bạn tiêu dùng kết nối mạng WAN tốc độ rẻ thì việc tiêu dùng caching-only DNS server là biện pháp hữu hiệu cho phép giảm lưu lượng thông báo truy trên phố truyền.

Caching-only mang khả năng tư vấn các câu truy hỏi đến client. Nhưng không đựng zone nào và cũng không mang quyền điều hành bất kì domain nào. Nó tiêu dùng bộ cache của mình để lưu các truy hỏi của DNS của client. Thông báo sẽ được lưu trong cache để trả lời những tầm nã tới client.

>>> Xem thêm: bán máy trạm HP Z640
 
Top