Hoàn Hoa Hồng Xứ Khác

casanohu

Cựu quản lý
Tham gia
8/1/2010
Bài viết
473
Chương 1: Hoa Hồng Xứ Khác
Nếu một ngày nào đó, bạn bước vào tuổi mười sáu, lại phải đi trọ học xa nhà, thoát khỏi sự canh gác nghiêm ngặt của ba mẹ bạn, hẳn là bạn cũng được nghe những lời dặn dò kỹ lưỡng và vô vọng của các bậc sinh thành, hệt như trường hợp tôi ngày xưa.
Nhìn chiếc va-li đã được khóa chặt của tôi, mẹ tôi khuyên nhủ bằng một giọng lo lắng chân thành:
- Con ra thành phố ráng lo học, đừng đi chơi lông bông, đừng đua đòi chúng bạn!
Ba tôi cũng nói những lời y hệt mẹ tôi, có vẻ như tối hôm trước hai người cùng soạn chung với nhau những điều răn dành cho tôi. Tuy nhiên, giọng ba tôi nghiêm nghị hơn, có pha một chút đe dọa.
Tôi ngoan ngoãn đứng nghe, đầu gật lia lịa. Vẻ tử tế quá đáng của tôi khiến ba mẹ tôi hài lòng trông thấy. Có lẽ đến giờ phút này, ba mẹ tôi mới nhận ra tôi là một đứa trẻ nết na, dễ bảo mà trước đây vì một lý do nào đó hai người đã không nhìn thấy.
Trong tâm trạng hân hoan tột đỉnh đó, ba tôi ngẫu hứng nói thêm:
- Con cũng nhớ đừng yêu đương nhăng cuội! Còn đang đi học, phải để hết tâm trí vào bài vở, đừng để chuyện tình cảm vớ vẩn làm xao lãng đầu óc nghe chưa!
- Nghe!
Tôi hét lớn, giọng quả quyết. Ba tôi thật buồn cười. Tôi mà thèm vào yêu với đương. Tôi là tôi chúa ghét bọn con gái. Cái bọn về nhà chỉ biết học gạo, đến lớp thì õng a õng ẹo, lúc nào cũng ra vẻ "tiểu thư" thấy mà bắt ngứa con mắt! Suốt những năm học lớp tám, lớp chín, tôi không bao giờ chơi với bọn con gái. Mà bọn chúng hình như cũng chẳng thèm chơi với tôi. Hai bên cứ như chó với mèo, mỗi lần gặp nhau là nhe răng "gừ gừ".
Tôi cũng không hiểu rõ tại sao tôi lại ghét bọn con gái đến thế. Có thể là do một sự kiện đáng buồn năm lớp bảy. Hồi đó, tôi ngồi ở đầu bàn, gần cửa ra vào. Ngồi kế bên tôi là nhỏ Mỹ Hạnh. Mỹ Hạnh là một con nhỏ láu lỉnh nổi tiếng. Nó là vua phá phách và chọc ghẹo. Suốt năm, nó cà khịa tôi hoài. Nhưng tôi nín nhịn. Dù sao tôi cũng là con trai. Chẳng lẽ tôi đánh nhau với nó. Đánh nó, có thắng cũng chẳng vinh quang gì, còn bị phạt, lại bị tụi bạn chọc cho ê mặt. Nghĩ vậy, tôi gồng mình chịu trận, mặc cho nó làm mưa làm gió.
Nhưng Mỹ Hạnh là một con quỷ. Nó nghĩ ra đủ trò để hại tôi. Còn tôi thì ngu như bò, cứ mắc mưu nó hoài.
Một hôm, sau khi trống đánh vào học, cả lớp đang còn ồn ào trò chuyện thì Mỹ Hạnh bỗng khều tôi:
- Nè, Khoa!
Tôi quay lại:
- Gì vậy?
Mỹ Hạnh chỉ tay ra trước cửa lớp:
- Khoa có thấy sợi dây thun đằng kia không?
Tôi nhướng mắt dòm và gật đầu:
- Thấy! Mà sao?
- Đố Khoa chạy ra nhặt sợi thun đem vào đây!
Tôi lại nhìn ra cửa lớp và rụt cổ:
- Eo ôi, tao không dám đâu!
Lúc đó thầy Luận dạy lớp tôi đang đứng trò chuyện với thầy hiệu trưởng ngay trước cửa. Sợi thun nằm kế bên chân thầy, có cho vàng tôi cũng chẳng dám bỏ chỗ chạy ra nhặt.
Thấy tôi từ chối, Mỹ Hạnh nheo mắt:
- Sao Khoa nhát quá vậy?
Biết nó khích, tôi mặc kệ:
- Ừ, tao vậy đó!
Mỹ Hạnh bĩu môi:
- Con trai gì mà nhát như thỏ đế!
Cái giọng khi dể của nó khiến tôi phát khùng. Tôi nghinh mặt:
- Mày ngon sao mày không chạy ra đi?
Mỹ Hạnh chun mũi:
- Hạnh khác! Hạnh là con gái!
Tôi "xì" một tiếng:
- Mày mà là con gái! Mày là... con quỷ thì có!
Mỹ Hạnh là một đứa có bản lĩnh. Nó phớt lờ sự "xỉ vả" của tôi. Mà dịu dàng nói, giọng ngọt như đường:
- Nếu Khoa chạy ra nhặt được sợi thun, Hạnh cho Khoa cái này!
- Cái gì vậy? - Tôi tò mò.
Mỹ Hạnh thò tay vào cặp. Sau một hồi lục lọi, nó lấy ra một tấm hình lớn bằng hai bao diêm. Tôi ngắm nghía tấm hình vẽ con thỏ trong lòng bàn tay nó, nhún vai nói:
- Tưởng gì! Tấm hình này có gì hay đâu!
- Khoa xem đây nè!
Vừa nói, Mỹ Hạnh vừa từ từ nghiêng bàn tay. Tấm hình chao đi, và con thỏ biến mất. Thay vào đó là một con gấu to tướng, lông xám xịt.
Tôi đang ngẩn ngơ nhìn thì Mỹ Hạnh lật tay lại. Và con thỏ khi nãy lại hiện ra, đột ngột và huyền bí như một phép lạ. Tôi bị tấm hình kỳ ảo kia chinh phục ngay lập tức.
Dòm mặt tôi, biết tôi đang mê tít, Mỹ Hạnh gạ liền:
- Tấm hình đẹp không?
- Đẹp.
- Khoa thích không?
- Thích.
- Vậy Khoa có dám chạy ra nhặt dây thun không?
Câu hỏi của Mỹ Hạnh khiến tôi giật thót. Tôi ngần ngừ nhìn ra cửa. Thầy Luận và thầy hiệu trưởng vẫn còn đứng đó, chạy ra là "chết" liền. Nhưng tấm hình của Mỹ Hạnh quả là tuyệt, nếu bây giờ tôi không chấp nhận lời thách thức của nó thì dễ gì tôi tôi kiếm được một thứ của quý như thế.
- Sao? - Mỹ Hạnh lại giục.
Tôi nhìn tấm hình trên tay nó, liếm môi:
- Mày đưa tao xem tấm hình lại một lần nữa coi!
Mỹ Hạnh tỏ ra rộng rãi. Nó đưa tấm hình cho tôi.
Tôi cầm tấm hình trên tay, lật qua lật lại và thích thú quan sát cảnh con thỏ và con gấu lần lượt đổi chỗ cho nhau.
Trong khi tôi quan sát con thỏ và con gấu thì Mỹ Hạnh im lặng quan sát tôi. Thấy tôi săm soi lâu lắc, nó sốt ruột hắng giọng:
- Trả đây chứ! Làm gì coi hoài vậy!
Tôi đưa trả tấm hình cho Mỹ Hạnh, vẻ tiếc rẻ.
Mỹ Hạnh dòm tôi lom lom:
- Sao? Khoa sẽ chạy ra nhặt sợi dây thun đem vào đây chứ?
Tôi gật đầu:
- Ừ, tao sẽ nhặt.
- Vậy Khoa chạy ra đi!
Tôi nuốt nước bọt:
- Chờ chút xíu! Để tao nghĩ ra cách đã!
Mỹ Hạnh nheo mắt:
- Chờ cho thầy hiệu trưởng đi khỏi hả?
- Không.
Mỹ Hạnh vẫn chưa yên tâm. Nó nói thêm:
- Nếu đợi thầy hiệu trưởng đi khỏi, Khoa mới chạy ra nhặt, Hạnh không đưa tấm hình cho Khoa đâu.
Mặc cho Mỹ Hạnh nhấm nhẳng bên tai, tôi loay hoay nghĩ cách chạy ra nhặt sợi thun sao cho khỏi bị phạt. Nghĩ ngợi một hồi, tôi bỗng sáng mắt lên:
- Tao nghĩ ra rồi!
Rồi không đợi cho Mỹ Hạnh kịp hỏi, tôi hùng hồn khoe:
- Bây giờ tao sẽ ném một cuốn tập ra cửa rồi xin phép chạy ra nhặt. Khi nhặt cuốn tập tao nhặt cả sợi thun.
Mỹ Hạnh tròn mắt nghe tôi trình bày kế hoạch, rồi gật gù:
- Hay đấy!
- Nhưng nếu thầy Luận hỏi tại sao cuốn tập lại văng ra cửa - tôi thận trọng dặn Mỹ Hạnh - tao sẽ nói là tao với mày giành nhau cuốn tập và cuốn tập bị văng ra ngoài. Nếu thầy hỏi mày, mày cũng nói vậy nghe không!
Mỹ Hạnh gật đầu lia:
- Ừ, nếu thầy hỏi Hạnh, Hạnh cũng nói hệt như vậy.
Dàn xếp đâu đó xong xuôi, tôi cầm lấy cuốn tập trên bàn và ném mạnh ra cửa. Cuốn tập bay vù một cái và rớt "xoạch" ngay chân thầy Luận.
Thầy Luận, và cả thầy hiệu trưởng, giật mình cúi nhìn cuốn tập dưới đất và sau đó quay nhìn vào trong lớp như muốn tìm xem chuyện gì đang xảy ra.
Mặc dù đã tính toán sẵn nhưng khi thấy cả hai đồng loạt quay vào và quan sát lớp học bằng ánh mắt nghiêm khắc, đầy đe dọa, tôi bỗng rùng mình sợ hãi. Nhưng lỡ phóng lao đành phải theo lao, tôi liền chậm chạp đứng dậy và rụt rè cất giọng:
- Thưa thầy...
Thầy Luận không đợi tôi nói hết câu. Thầy cắt ngang:
- Cuốn tập này của em hả?
Tôi ấp úng:
- Dạ, của em...
Thầy lại hỏi, giọng nóng nảy:
- Cuốn tập của em sao lại văng ra đây?
Tôi nói, cố trấn tĩnh:
- Thưa thầy, bạn Hạnh muốn mượn cuốn tập của em đ xem lại bài sinh vật hôm qua, em không cho. Hai bên giằng co và thế là cuốn tập... cuốn tập...
Những tiếng cuối cùng tôi nói lúng búng trong miệng và khẽ liếc thầy. Tôi mừng rỡ khi thấy những nếp nhăn trên trán thầy từ từ dãn ra mặc dù mặt thầy vẫn lạnh như tiền. Không hiểu thầy có tin lời giải thích của tôi hay không mà thầy lừ mắt nhìn Mỹ Hạnh:
- Mỹ Hạnh, bạn Khoa nói có đúng không?
Câu hỏi của thầy Luận khiến tôi nở từng khúc ruột. Thầy hỏi đứa khác tôi còn ớn chứ thầy "điều tra" Mỹ Hạnh, coi như tôi thoát nạn. Tôi đã dặn trước Mỹ Hạnh rồi, hẳn nó sẽ trả lời theo kịch bản của tôi.
Tôi không ngờ Mỹ Hạnh lại "phản" tôi. Câu trả lời của nó khiến tôi sửng sốt:
- Thưa thầy, bạn Khoa nói không đúng ạ!
Tôi giật bắn người khi nghe thầy Luận hỏi tiếp:
- Vậy chứ tại sao cuốn tập của bạn Khoa lại văng ra cửa?
Mỹ Hạnh đáp tỉnh bơ:
- Bạn ấy tự ném ra ạ.
- Ném ra? - Thầy Luận ngạc nhiên - Sao lại tự ném ra?
Mỹ Hạnh đúng là một mụ phù thủy. Trong khi tôi bủn rủn cả tay chân thì nó kể tuốt tuồn tuột mọi ý đồ đen tối của tôi. Nó tố cáo tôi bằng một giọng hào hứng và quỉ quyệt khó tin. Mặt thầy Luận mỗi lúc một sa sầm.
Và dĩ nhiên tôi không tránh khỏi đòn trừng phạt của thầy. Ngày thường thầy phạt một thì hôm đó thầy phạt mười. Thầy muốn chứng minh cho thầy hiệu trưởng sự nghiêm khắc của thầy đối với những đứa học trò nghịch như tôi.
Tôi lãnh ba roi vào mông, đau quắn đít. Sau đó, tôi lại phải quì gối trước bảng đen cho mấy chục cặp mắt soi mói châm chọc, nhục ơi là nhục.
Tôi quì cả tiếng đồng hồ, mãi đến giờ ra chơi. Nhưng tôi không thấy mỏi chân, đầu gối cũng chẳng thấy đau. Trong lòng tôi lúc đó chỉ dậy lên một nỗi căm giận khủng khiếp. Tôi thù Mỹ Hạnh đến tận xương tủy. Tôi ao ước mình tài giỏi như Tôn Ngộ Không. Tôi thèm có bảy mươi hai phép biến hóa. Tôi sẽ không ngại ngần biến Mỹ Hạnh thành con rắn, con dơi, con quạ, con chuột, con gián hoặc bất cứ một loài bò sát ti tiện nào đó.
Kể từ hôm đó, tôi "cạch" Mỹ Hạnh, không bao giờ nói chuyện với nó nữa. Tôi cũng "cạch" cả bọn con gái. Bọn chúng là vậy, lúc nào cũng nghĩ đến chuyện *** hại những đứa con trai cả tin như tôi. Mà nếu không vậy, Thượng đế chả sinh chúng ra làm gì.
Lớn lên một chút, tôi tình cờ đọc được một số câu danh ngôn khủng khiếp về bọn đàn bà, con gái. Tôi càng xa lánh họ. Ngạn ngữ Tây Ban Nha bảo tôi: "Tin người đàn bà bằng lời chẳng khác nào nắm đuôi lươn". Tôi từng nắm đuôi lươn nên tôi biết. Nó cứ trơn tuột. Ngạn ngữ Ấn Độ "hù" tôi chết khiếp: "Nước làm hỏng rượu, xe bò làm hỏng đường lộ và đàn bà làm hỏng đàn ông". Tôi chả quan tâm đến rượu và đường lộ, chúng hỏng cứ việc hỏng. Tôi không sợ nước và xe bò. Tôi chỉ sợ tôi hư hỏng. Vì vậy, tôi ghét bọn "tiểu thư".
Không chỉ có ngạn ngữ, phương ngôn chê bai phụ nữ. Ngạn ngữ thuộc về những người bình dân. Ngay cả những người học rộng cũng chế giễu đàn bà. De Molina xác nhận với tôi: "Làm đàn bà và làm thinh là hai việc trái ngược". Câu nói y như thánh. Bọn họ là chúa lẻo mép. Mỗi lần cãi nhau với bọn con gái, tôi không bao giờ nói lại. Tôi nói một tiếng, bọn chúng nói mười tiếng. Bọn chúng chuyên át giọng lũ con trai chúng tôi.
Bọn chúng nói nhiều nhưng lại thay đổi ý kiến như chong chóng, thật chẳng ra làm sao! Racine thấy rõ điều đó. Ông nói: "Họ lơ mơ, họ lưỡng lự, nói tắt một tiếng họ là đàn bà". Ông Racine giỏi ghê! Hèn gì ông nổi tiếng khắp thế giới. Ông Voltaire cũng lừng danh không thua gì ông Racine. Ông phát biểu xanh dờn: "Thượng đế chỉ tạo ra đàn bà để nhử đàn ông". Ông Voltaire nói nghe hãi quá. Nhưng tôi phục ông sát đất. Tôi đoán chắc hồi nhỏ ông cũng có một con nhỏ bạn giống hệt như con nhỏ Mỹ Hạnh ngồi kế bên tôi. Và chắc con nhỏ đó nó hành ông tơi tả nên ông mới ghét đàn bà đến thế. Hồi đó, tôi cứ đinh ninh đã "khi dể" phụ nữ như vậy, hẳn ông sẽ không lấy vợ. Sau này tôi mới biết sự thật không giống như tôi nghĩ. Mắc dù thừa biết Thượng đế tạo ra đàn bà để nhử đàn ông, ông cứ để cho vợ ông nhử ông một cách thoải mái. Không ai nhử ông, chắc ông buồn lắm! Tôi cay đắng nhủ thầm và có cảm giác mình bị phản bội, nhưng không vì vậy mà tôi vội xóa những ý tưởng tuyệt vời của ông trong cuốn sổ tay của tôi. Tôi vẫn tin vào sự đúng đắn và sáng suốt của những lời ông nói mặc dù sau đó ông lại tỏ ra ngốc nghếch như một con lừa.
Hẳn nhiên, tôi khác ông Voltaire. Ông nói, còn tôi thì làm. Gặp con gái, mặt tôi lạnh toát, mắt phủ đầy sương mù Luân Đôn. Suốt mấy năm ròng như vậy. Cho đến khi tôi sắp sửa ra thành phố học tiếp lớp mười.
Vì vậy, hôm nay nghe ba tôi dặn tôi chớ yêu đương nhăng cuội, tôi tức cười ghê. Tôi mà thèm yêu bọn con gái. Tôi chưa nuốt sống bọn chúng là còn may.
Dĩ nhiên, đó là về phía tôi. Còn bọn chúng nghĩ sao, ai mà biết được! Rất có thể bọn chúng xúm vào yêu tôi. Rất có thể bọn chúng sẽ gửi thư nặc danh tống tình tôi, hệt như bọn Mafia thường làm. Nhưng dù gì thì gì, tôi mặc xác. Tôi sẽ không thèm đáp lại tình yêu của bất kỳ một cô gái xinh đẹp nào, mặc cho cô ta khóc sướt mướt cả năm ròng. Tôi sẽ không để cho ai làm hỏng tôi, hỡi nước, xe bò và các mụ phù thủy! Tôi là một người đàn ông đã có quá nhiều kinh nghiệm về đàn bà. Năm lớp bảy, chẳng phải con quỷ Mỹ Hạnh đã "nhử" tôi một trận nhớ đời đó sao?

Chương 2: Hoa Hồng Xứ Khác
Năm lớp mười là một năm lành mạnh và sáng sủa. Lòng tôi vô tư và thanh thản. Lớp tôi có khoảng một tá con gái, tôi chẳng thèm để mắt tới đứa nào. Tôi chỉ chơi với toàn bạn trai.
Tôi ở trọ nhà thằng Nghị. Nghị học chung lớp với tôi. Nhưng nó học Anh văn, tôi học Pháp văn. Lớp mười trường tôi không đủ học sinh để chia làm hai lớp. Tất cả bọn tôi đều phải học chung, chỉ có giờ sinh ngữ là học riêng.
Ba mẹ Nghị sống bằng nghề cho thuê phòng trọ và nấu cơm tháng. Nhà nó rộng rãi, lại ít người. Ngoài căn nhà mặt tiền, nơi ba mẹ và hai anh em Nghị ở, gia đình Nghị còn có một ngôi nhà rộng phía sau để cho thuê. Ngôi nhà phía sau nằm lọt giữa một khu vườn nhỏ nhưng đầy bóng mát. Vườn không nhiều cây cối, chỉ vài cây mận, vài cây xoài nhưng những tán xoài quanh năm tỏa bóng, che mát những bụi dạ lý hương rải rác trong vườn. Những năm tôi ở trọ nhà Nghị, đêm đêm ra vườn, hương dạ lý thấm đầy trên tóc, tối lên gi.ường nằm ngủ vẫn còn nghe ngào ngạt.
Cuối vườn là ao cá nhỏ, mặt nước phủ đầy lá sen xanh. Vào mùa hè, bông sen nở đỏ mặt ao, lác đác có vài bông súng tím chen vào giữa, khung cảnh bỗng đẹp lạ lùng. Những lúc ấy, chúng tôi thường mượn máy ảnh, ra ngồi bên bờ ao, thay phiên nhau chụp lia lịa.
"Chúng tôi" ở đây không phải chỉ có tôi và Nghị. Ở trọ chung với tôi những năm cấp ba còn có Ngữ, Hòa lé và "giáo sư" Bá.
Năm đứa chúng tôi cùng học chung một lớp. Bá thuộc phe Pháp văn, giống như tôi. Ngữ và Hòa lé phe Anh văn.
Trong bọn, Ngữ tài hoa nhất. Nó làm thơ hay, viết lưu bút cảm động nổi tiếng. Tôi nghe tụi bạn kể lại hồi cuối năm lớp chín, Ngữ viết lưu bút cho đứa nào là đứa nấy khóc ròng. Đọc những dòng lâm ly của nó, ai cũng nước mắt nước mũi sì sụt. Tiếc là năm ngoái, tôi không học chung với nó, để xem nó viết lưu bút ra sao mà nổi tiếng đến thế. Bây giờ, Ngữ là trưởng ban báo chí của lớp tôi, chủ bút tờ báo tường mỗi tháng ra một lần.
Ngữ là một tay chủ bút khốn kiếp. Bao nhiêu bài vở tôi đưa, nó đều đem vứt sọt rác hết. Nó chẳng thèm đếm xỉa gì đến việc tôi với nó cùng ăn một mâm, cùng ở một nhà.
Tôi vẫn không nản, cứ cặm cụi làm hết bài thơ này đến bài văn khác, nộp cho Ngữ. Thậm chí tôi còn dẫn nó đi uống cà phê để lấy lòng. Ngữ rất khoái uống cà phê. Vì vậy, tôi hy vọng vì khoái cà phê, Ngữ sẽ khoái luôn thơ tôi.
Nhưng Ngữ là một thằng bạn lòng gang dạ sắt. Nó tiếp tục uống cà phê của tôi và tiếp tục liệng bài của tôi đi đâu mất. Biết mình "tài hẹn sức mọn", tôi không dám kêu ca, chỉ kiên trì sáng tác. Nhưng suốt một thời gian dài, tiền cà phê thì tốn đều đều mà bài vở chẳng được xuất hiện lấy một lần trên báo, tôi đâm nản.
Một hôm, đang ngồi trong quán cà phê, tôi hỏi Ngữ:
- Cà phê có ngon không?
Ngữ gật đầu:
- Ngon.
Tôi liếm môi:
- Ngon sao không thấy mày đăng bài của tao?
Ngữ thản nhiên:
- Cà phê ngon nhưng bài của mày thì... dở.
Ngữ làm tôi sượng trân. Tôi cố vớt vát:
- Những chẳng lẽ mấy chục bài đều dở hết? Cũng có bài... tạm được chứ? Mày đọc kỹ lại đi!
Ngữ nhún vai:
- Tao đã đọc kỹ rồi. Chẳng có bài nào thuộc diện "tạm được". Dở bằng nhau.
Nhận xét "độc ác" của Ngữ chẳng khác nào gáo nước lạnh tạt vào mặt tôi. Ý chí tôi ướt đẫm. Nhiệt tình sáng tác của tôi tuột xuống dưới 0 độ. Tôi tính đứng dậy đi ra khỏi quán, để mặc cho Ngữ... trả tiền cà phê. Nhưng tay chân đang bủn rủn, tôi đứng dậy không nổi. Rốt cuộc tôi đành phải ngồi lại và cố nén tự ái, "thỉnh giáo" Ngữ:
- Muốn cho hết dở, phải làm sao?
Ngữ gật gù phán:
- Phải học tập người khác. Chẳng hạn, muốn làm văn hay, phải đọc Nguyễn Tuân, muốn làm thơ hay, phải thuộc ca dao, thuộc Nguyễn Bính!
Phán xong, Ngữ liếc tôi:
- Mày đọc Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính bao giờ chưa?
Tôi ngượng ngùng thú thật:
- Chưa. Nhưng tao có nghe tên.
Ngữ "hừ" giọng:
- Nghe tên thì chưa ăn thua gì! Phải đọc!
Tôi nuốt nước bọt:
- Nhưng tao có thuộc vài câu ca dao...
Ngữ hất đầu:
- Mày đọc nghe coi!
Tôi hí hửng đọc:
- Mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ.
Đọc xong, tôi liếc Ngữ, chờ nó khen. Nhưng Ngữ tỉnh bơ:
- Hai câu đó cũng tàm tạm. Mày còn thuộc câu nào nữa không?
Tôi nhíu mày, cố nhớ lại những câu ca dao hồi nhỏ mẹ tôi ru tôi và sau này tôi đã dùng chúng để ru em. Nghĩ một hồi, tôi sáng mắt lên, hắng giọng đọc:
- Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên.
Tôi ngân nga dứt, thấy Ngữ không nói gì, chắc mẩm nó khoái, tôi cao hứng "xổ" tiếp:
- Lỗi lầm vì cá trích ve
Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng.
Lần này thì Ngữ không làm thinh nữa. Tôi vừa ngắt giọng, Ngữ khen liền:
- Rõ ràng là mày có năng khiếu...
Tôi sướng rơn:
- Năng khiếu văn nghệ hả? - Rồi không cầm lòng được, tôi khoe:
- Hôm trước thằng Bá cũng nhận xét tao vậy!
Nhưng Ngữ làm tôi cụt hứng, nó lắc đầu:
- Không phải năng khiếu văn nghệ. Tao muốn nói là mày có năng khiếu... ăn uống! Mày đi mở nhà hàng hợp hơn là làm thơ, viết báo!
Tôi tái mặt. Nhưng tôi không dám sửng cồ với Ngữ. Gây sự với nó, nó giận nó không thèm dìu dắt tôi trên con đường văn nghệ nữa thì khốn. Tôi chỉ biết giở giọng ai oán:
- Tao muốn học hỏi thật mà mày lại cứ chọc quê tao!
Ngữ cười hì hì:
- Ai bảo mày mở miệng ra chỉ toàn là mít non, cá chuồn, cá trích, rau muống... chi! Phải thuộc những câu ca dao trữ tình như vầy nè!
Nói xong, Ngữ kéo cổ áo, sửa bộ, rồi lim dim mắt, đọc:
- Thò tay mà hái cọng ngò
Thương em muốn chết giả đò làm lơ!
Đọc xong, Ngữ mở mắt ra, ngó tôi hỏi:
- Hay không?
- Hay!
Tôi xuýt xoa khen. Ngữ khoái chí, lại... nhắm tịt mắt, ngâm nga:
- Anh về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng
Gió lạnh lùng lấy mùn mà đắp
Để áo anh về đi học kẻo trưa.
Lần này, Ngữ chưa kịp mở mắt, tôi đã buột miệng trầm trồ:
- Hay ghê!
Ngữ phổng mũi:
- Đấy! Muốn làm văn nghệ phải thuộc những câu ca dao "ướt át" như vậy. Mày cứ bị ám ảnh bởi cá chuồn, cá trích hoài làm sao làm văn, làm thơ hay được!
Ngữ nói đúng. Những câu ca dao nó đọc nghe mới thắm thiết làm sao! Cả đời tôi chỉ mong ước làm được những câu thơ hay bằng một nửa vậy thôi. Nhưng khổ nỗi, những câu ca dao đặc sắc kia đều liên quan mật thiết đến đề tài tình yêu trong khi tôi lại chẳng màng đến ba chuyện yêu đương vớ vẩn đó. Đối với tôi chả bao giờ có chuyện "thương em muốn chết giả đò làm lơ". Tôi "ghét em muốn chết" thì có! Gặp bọn con gái là tôi "lơ" thật, "lơ" từ đầu năm đến cuối năm, cần quái gì phải giả đò. Chẳng giả đò, mặt tôi cũng đã lạnh như... đá cục.
Thấy tôi lộ vẻ thẫn thờ, Ngữ hất hàm:
- Sao? Có gì khúc mắc cần hỏi thêm không? Làm gì trầm ngâm hoài vậy?
Tôi tặc lưỡi, ngần ngừ:
- Sao tao thấy làm thơ "ướt át" khó quá!
Ngữ động viên tôi:
- Bước đầu bao giờ chả khó! Ông bà đã nói rồi, "vạn sự khởi đầu nan". Nhưng mày đừng lo. Chuyện gì cũng vậy, làm hoài sẽ quen. Thơ văn mày hiện nay hơi "khô" nhưng nếu mày chú tâm rèn luyện, nó sẽ "ẩm" dần dần. "Ẩm" một thời gian, nó sẽ chuyển qua... "ướt át". Đó là quy luật.
Tôi nghe Ngữ giảng giải một hồi, đầu óc càng rối tinh rối mù. "Lý luận văn học" của nó sao nghe na ná như chương trình dự báo thời tiết trên ti vi, khi thì ẩm lúc thì khô, chẳng biết đường nào mà lần.
Dường như đọc được nỗi hoang mang trong mắt tôi, Ngữ gật gù nói thêm:
- Mày cứ tin tao đi. Hồi trước tao cũng vậy. Lúc tao mới tập viết văn, câu nào câu nấy khô queo, tao luyện riết, bây giờ chúng ướt đẫm, hễ đọc là cứ muốn nấc lên.
Tôi biết Ngữ không "hù" tôi. Nó nói thật. Đã bao nhiêu đứa sụt sùi trước những dòng lưu bút lâm ly của nó. Thơ nó cũng vậy. Bài nào bài nấy tình cảm dầm dề như mưa tháng bảy. Tôi không biết nó đã yêu ai bao giờ chưa nhưng thơ nó lúc nào cũng than thở về một mối tình đã... chết, đọc lên thấy thương ghê, thấy cứ muốn dẫn nó đi uống cà phê cho nó đỡ buồn.
Nhưng mặt mạnh của Ngữ chính là điểm yếu của tôi. Tôi đã thề không đội trời chung với bọn con gái. Chẳng lẽ bây giờ tôi bắt chước thằng Ngữ cất giọng khóc than, năn nỉ "kẻ thù" của tôi? Thật là khó xử!
Tôi nhăn nhó nói với Ngữ:
- Vấn đề không phải là "khô" hay "ướt". Tao nói khó là khó chuyện khác.
Ngữ ngạc nhiên:
- Khó chuyện gì?
Tôi bối rối thú nhận:
- Tao không thích làm thơ tình.
- Thơ tình mà không thích? - Ngữ kêu lên sửng sốt.
- Ừ. Tao không thích.
Ngữ dòm tôi bằng ánh mắt lạ lùng:
- Sao vậy?
Tôi ấp úng đáp:
- Tại tao ghét... bọn con gái.
Ngữ giật bắn người như chạm phải lửa. Nếu không có cái lưng ghế phía sau, có lẽ nó đã lăn quay xuống đất rồi. Sau một hồi trố mắt nhìn tôi như thể nhìn một quái vật, Ngữ vội sờ tay lên trán tôi.
- Mày làm trò gì vậy? - Tôi hỏi, giọng ngơ ngác.
Ngữ khịt mũi:
- Tao xem thử mày có "ấm đầu" không! Toàn thể đàn ông trên thế giới đều thương con gái. Ghét con gái, họa chăng chỉ có người điên.
Tôi cau mặt, hất tay Ngữ ra:
- Tao không điên. Nhưng tao ghét con gái.
Thái độ bướng bỉnh của tôi khiến Ngữ nổi cáu. Nó nghiêm giọng quở trách:
- Mày không được ghét bọn con gái, hiểu chưa! Phải thương tụi nó nhiều vào! Thấy đâu thương đó, thấy ít thương ít, thấy nhiều thương nhiều. Nếu ghét tụi nó, mày nên chọn nghề khác. Nghề uốn tóc chẳng hạn. Tụi nó muốn tóc cúp vô thì mày uốn quăn ra, tụi nó muốn tóc xù thì mày chơi tóc tém, tụi nó khoái tóc dài, mày chơi mốt... ni cô. Còn đã đi theo cái nghiệp văn thơ thì phải thương con gái. Đó là... bổn phận.
Nghe Ngữ "thuyết" một hồi, tôi rụng rời tay chân. Nhưng tôi không dám lên tiếng phản đối, sợ Ngữ điên tiết sổ toẹt mơ ước của tôi. Tôi đành thở dài, "tiếp thu" bằng một giọng yếu ớt:
- Ừ, tao sẽ tập dần dần. Muốn thương tụi nó đâu phải dễ.
Thấy tôi chịu phục thiện, Ngữ có vẻ tươi tỉnh hơn. Nó dịu giọng khuyến khích:
- Không dễ nhưng không phải là không làm được. Ngạn ngữ Pháp có câu: "Vouloir, c'est pouvoir". Muốn là được. Mày phải bắt chước tao. Con gái lớp mình, đứa nào tao cũng thương hết.
Tôi há hốc mồm:
- Mày thương hết mười hai đứa?
Ngữ gật đầu:
- Ừ, tao thương "trọn bộ".
Mối tình "khổng lồ" của Ngữ khiến tôi phát rét. Nhưng tôi không khỏi băn khoăn:
- Mày thương nguyên một tá sao tao không biết? Tao có thấy mày làm gì đâu!
Ngữ nhún vai:
- Thì tao đâu có định làm gì! Tao chỉ làm... thơ thôi.
Tôi chớp mắt:
- Thế tụi nó có biết mày thương không?
Ngữ nuốt nước bọt:
- Chắc là không! Tao không nói làm sao tụi nó biết!
Tôi lại thắc mắc:
- Mày thương mà không nói, vậy thương làm gì?
Ngữ nheo mắt nhìn tôi:
- Mày ngốc quá! Tao thương tụi nó là thương chơi thôi, thương để làm thơ. Tao đâu có thương thiệt mà phải nói ra!
Lần đầu tiên trong đời tôi nghe nói đến hai chữ "thương chơi". Tôi ngẩn ngơ ngó Ngữ:
- Thương để... làm thơ?
Ngữ gục gặc đầu:
- Chứ sao! Đã là văn nghệ sĩ thì không thể yêu theo kiểu phàm phu tục tử được. Tình yêu của tụi mình là tình yêu lặng thầm và cao thượng. Yêu không "tuyên bố" cũng cóc cần đền đáp. Cứ câm nín, ấp ủ, dày vò, tụi mình sẽ có cả khối cảm xúc để viết nên những vần thơ bất hủ. Các nhà thơ lớn xưa nay vậy.
Con đường văn nghệ Ngữ vừa phác họa nghe thật hấp dẫn và xem ra cũng không đến nỗi khó đi lắm. Tưởng yêu "thiệt" theo kiểu "phàm phu tục tử" tôi mới ngán chứ yêu "chơi" theo kiểu "văn nghệ sĩ" thì tôi nhắm sức mình có thể yêu được. Tôi bèn hào hứng nói với Ngữ:
- Nếu vậy tao làm được. Tưởng gì chứ thương "chơi", thương "để làm thơ" thì đâu có khó!
Thấy tôi không còn đòi ghét con gái nữa, Ngữ khoái chí, tiếp tục vung vít:
- Tình yêu của tụi mình còn có cái khỏe là không sợ bị từ chối, cũng chẳng ai biết mà chọc quê. Hơn nữa, mình có thể yêu tự do, muốn yêu ai thì yêu. Tụi phàm phu tục tử mỗi lần chỉ có thể yêu được một người, yêu hai người là có chuyện, trong khi tụi mình có thể yêu gộp một lúc toàn bộ phụ nữ trên thế giới này cũng được. Vậy là nhất rồi, còn muốn gì nữa!
Nói xong, Ngữ cười tít mắt. Dòm nó, tôi có cảm tưởng như toàn bộ phụ nữ trên thế giới này đang đổ xô thương nó, chứ không phải là ngược lại.
Tôi chẳng tham lam như Ngữ. Tôi chỉ muốn thương in ít thôi, thương những người mà mình biết mặt biết tên hẳn hoi. Suy tính hồi lâu, tôi rụt rè nói:
- Vậy kể từ ngày mai, tao bắt đầu thương hén?
- Ừ. Nhưng mày định thương ai?
Tôi bối rối:
- Thì thương mấy đứa con gái lớp mình! - Rồi tôi bẽn lẽn nói thêm - Tao sẽ thương khoảng... sáu đứa!
Ngữ giật thót:
- Không được! Như vậy thì nhiều quá!
Sự phản đối bất ngờ của Ngữ khiến tôi ngẩn người ra. Rõ ràng mới vừa rồi nó bảo tôi muốn thương ai thì thương, thương bao nhiêu cũng được, vậy mà tôi mới mở miệng đòi thương, nó đã chặn ngang họng rồi. Tôi nhìn Ngữ, thấp thỏm hỏi:
- Có sáu đứa mà... nhiều?
Ngữ tặc lưỡi:
- Đối với mày, như vậy là nhiều! Phải giảm bớt lại!
Tôi khịt mũi:
- Chứ mày thương nguyên cả lớp đó sao! Tao chỉ bằng phân nửa mày chứ mấy!
Thấy tôi có vẻ giận dỗi, Ngữ cười hì hì. Nó vỗ vai tôi, giọng kẻ cả:
- Tao khác, mày khác, sánh sao được mà sánh! Đối với tao, một tá cũng còn ít. Còn đối với kẻ mới "nhập môn" như mày, sáu đứa lại quá nhiều, mày không thể tập trung tư tưởng được. Lúc "đề-pa", chỉ nên thương một em thôi.
Tôi đực mặt ra:
- Tao chỉ "được" một em thôi sao?
Ngữ gật gù hắng giọng:
- Một và chỉ một mà thôi!
Một khi Ngữ đã khống chế số lượng "người yêu" của tôi bằng một định đề toán học thì tôi biết có năn nỉ cũng bằng thừa. Tôi đành thở dài xuôi xị:
- Thôi một em cũng được!
Sau khi đã chấp nhận số phận hẩm hiu của mình, tôi ngồi nặn óc xem nên "thương" đứa nào trong số mười hai đứa con gái của lớp tôi. Trước nay, tôi chẳng thèm để mắt đến tụi nó, bây giờ phải ngồi nhớ lại từng khuôn mặt, chọn ra một khuôn mặt ít hắc ám nhất để đem lòng "thương", đối với tôi thật là gian nan trầy trật. Tôi điểm danh trong đầu một vòng, hai vòng rồi ba vòng mà chẳng chọn được "đối tượng" vừa ý. Mười hai đứa, đứa nào tôi cũng... không ưa. Chẳng hiểu sao Ngữ có thể thương không sót một mống, tài thật!
Thấy tôi ngồi đăm chiêu cả buổi, Ngữ hỏi:
- Mày nghĩ ngợi gì vậy?
Tôi lúng túng thú thật:
- Tao đang nghĩ xem nên... thương đứa nào.
- Mày nghĩ ra chưa?
Tôi gãi đầu, ngượng ngập:
- Chưa. Không hiểu sao tao thấy khó quá.
Ngữ nhiệt tình:
- Nếu mày thấy khó thì để tao chọn giùm cho. Người ngoài cuộc bao giờ cũng sáng suốt hơn.
Nghĩ mãi không ra, tự nhiên thấy Ngữ đòi làm "cố vấn", tôi bằng lòng ngay:
- Ừ, mày chọn giùm tao đi!
Ngữ giỏi giang hơn tôi nhiều. Chỉ một thoáng, nó đã kêu lên:
- Tao nghĩ ra rồi!
Tôi tròn mắt, hồi hộp:
- Đứa nào vậy?
- Em Hồng.
- Trời ơi, con Hồng "chà-và" hả?
Tôi la lên thất thanh và bỗng nghe tai mình ù đi. Suýt một chút nữa tôi đã xỉu ngay trong quán. Tôi tưởng thằng Ngữ nó chọn cho tôi đứa nào chứ nó chọn nhỏ Hồng thì rõ ràng nó "giết" tôi chứ đâu phải "giúp" tôi. Trong mười hai đứa con gái lớp tôi, nhỏ Hồng xếp hạng bét về nhan sắc cũng như về tính tình. Nó tên Hồng nhưng nước da nó chẳng hồng chút nào. Da nó đen thui. Nghe nói ngay từ lúc học lớp sáu, nó đã mang biệt danh Hồng "chà-và" rồi. Đã vậy, nó còn uốn đầu tóc xoăn tít, mỗi lần dòm, tôi cứ rởn cả tóc gáy, tưởng đâu nó là người Việt gốc... Phi châu.
Đó là bề ngoài. Bề trong nó còn đáng chán hơn. Ngồi trong lớp, nó chuyên môn nói chuyện. Cái đầu xoăn tít của nó hết quay trái lại quay phải, không biết nằm yên là gì. Tôi ngồi sau lưng nó, mỗi lần chép bài, tôi phải không ngừng lắc lư cái đầu theo nó mới mong thấy được chữ viết trên bảng. Lần nào cũng vậy, chép xong được bài học, cổ tôi mỏi nhừ.
Nhỏ Hồng còn nổi tiếng chanh chua, đanh đá. Không chỉ tụi con gái, mà ngay cả đám con trai cũng ớn nó ra mặt. Đứa nào vô phúc chọc phải nó, coi như đứa đó... tàn đi. Nó mắng sa sả, nghe không kịp vuốt mặt, nạn nhân chỉ còn có nước ôm đầu lủi vô một xó nào đó, ngồi trốn và chờ cho "tai qua nạn khỏi". Vì vậy, đứa nào cũng "cạch" nó. Tôi lại càng "cạch". Nó mà biết tôi "thương" nó, "làm thơ" cho nó, chắc nó vác guốc rượt tôi chạy quanh sân trường.
Vậy mà bây giờ thằng Ngữ lại chơi ác bắt tôi phải thương bà chằn tinh đó. Nó bắt tôi phải ấp ủ, phải dày vò... khổ ơi là khổ!
Tôi nhìn Ngữ, mặt méo xẹo:
- Thôi, tao không "thương" nhỏ Hồng đâu! Mày làm ơn đổi giùm tao em khác đi!
Ngữ phớt lờ sự khiếu nại của tôi. Nó lên giọng:
- Không được! Tình yêu chứ đâu phải hàng hóa mà mày đòi đổi tới đổi lui!
- Nhưng nhỏ Hồng nó... đen thui! - Tôi cố khẩn khoản.
Ngữ vẫn lạnh lùng:
- Đen trắng thì ăn thua gì! Khi đã thương, mày nhìn màu đen thành màu trắng mấy hồi!
Thấy Ngữ không thèm đếm xỉa gì đến nguyện vọng chính đáng của tôi, nó cứ khăng khăng bắt tôi "thương" con Hồng "chà-và", lòng tôi như thắt lại. Tôi ấm ức nói:
- Mày chỉ "xí gạt" tao! Màu đen làm sao nhìn cho ra... màu trắng được! Tao có cố lắm cũng chỉ nhìn "đen" thành "xám" là cùng!
Ngữ cười ha hả:
- Trời, tao "xí gạt" mày làm gì! Tại mày chưa biết đó thôi, chứ tình yêu nó màu nhiệm ghê lắm. Nó biến cái này thành cái khác như chơi. Mày nghe mấy câu ca dao này bao giờ chưa?
Nói xong, không đợi tôi trả lời, Ngữ đã hùng hồn đọc:
- Lỗ mũi em mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Đêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm...
Ngữ đọc một lèo, thao thao bất tuyệt. Tôi ngồi dỏng tai nghe, hoang mang và chăm chú.
Đọc dứt câu cuối cùng, Ngữ nhướng mắt dòm tôi:
- Mày hiểu bài ca dao vừa rồi muốn nói gì không?
Không những tôi hiểu bài ca dao muốn nói gì mà tôi còn hiểu thằng Ngữ muốn dẫn tôi đi đâu, vì vậy tôi gật đầu một cách rầu rĩ.
Đúng như tôi nghĩ, Ngữ cười đắc thắng:
- Như vậy là mày chịu thương em Hồng rồi hén?
Biết mình đã sập bẫy, tôi thở dài xuôi xị và kháng cự bằng một giọng yếu ớt:
- Nhưng nhỏ Hồng dữ như chằn. Nó mà biết tao "thương" nó, nó chửi tao tắt bếp.
Vẻ mặt đưa đám của tôi chẳng khiến Ngữ động lòng. Nó quắc mắt:
- Mày chỉ giỏi phịa! Mày không nói, làm sao nó biết được? - Rồi Ngữ bỗng nghiêm giọng - Bây giờ tao hỏi thật, mày có muốn viết được những áng thơ văn bay bướm không?
- Muốn! - Tôi gật đầu như máy.
- Mày có muốn những sáng tác của mày được đăng lên báo tường không? - Ngữ lại hỏi.
Tôi liếm môi:
- Muốn.
Ngữ ranh mãnh:
- Thế mày có muốn thương em Hồng không?
Lần này thì tôi hết đường tránh né. Tôi đành phải nuốt nước bọt, bần thần đáp:
- Muốn.
Ngữ cười toe:
- Khá lắm! Bây giờ tao mới nhận ra là mày có năng khiếu... văn nghệ!
Ngữ khen tôi mà sao tôi chẳng thấy vui. Thấy nó cười, tôi cũng nhe răng cười theo nhưng miệng tôi cười như mếu. Từ khi tôi mở miệng "kết nạp" nhỏ Hồng làm "người yêu", lòng tôi bỗng nặng như đeo đá. Tôi tưởng như tôi vừa mới "rước vạ" vào mình. Trước đây lòng tôi thanh thản biết bao nhiêu, tự dưng đi nghe lời thằng cha chủ bút hắc ám kia, để bây giờ tôi phải mang nặng bên lòng "nỗi nhớ thương" dù là thương theo kiểu tôi, chỉ có ma mới biết.
Trong khi Ngữ ngồi rung đùi thưởng thức thành quả "dụ dỗ" của nó thì tôi cứ lầm bầm cay đắng và không tiếc lời nguyền rủa "mối tình" vừa chớm nở của mình.

Chương 3: Hoa Hồng Xứ Khác
Phàm ở đời, không phải bao giờ con người ta cũng làm được mọi chuyện theo ý mình. Có những ước mơ cháy bỏng mà cả đời mình không bao giờ đạt tới. Lại có những chuyện mình ngán tới tận cổ mà vẫn phải bấm bụng lăn xả vào. Như "chuyện tình" của tôi chẳng hạn.
Tôi ghét cay ghét đắng nhỏ Hồng - từ hồi buộc phải "yêu" nó, tôi càng thù nó tợn - vậy mà tôi vẫn phải bắt lòng mình thương nhớ nó. Suốt một thời gian dài, tôi nghĩ về nó còn nhiều hơn là nghĩ về mẹ tôi. Theo lời dặn dò của Ngữ, mỗi lần nghĩ đến nhỏ Hồng, tôi phải ráng thổn thức, ráng day dứt để... làm thơ.
Nhưng thơ tôi tắc tị. Kể từ khi đem lòng "yêu" nhỏ Hồng, tôi chẳng còn hứng thú sáng tác nữa. Tôi cố bắt chước người chồng "quáng gà" trong câu ca dao Ngữ đọc. Tôi bắt mình phải tưởng tượng nhỏ Hồng có nước da trắng như... tuyết. Nhưng càng tưởng tượng, tôi càng thấy nước da nó đen thui. Cả mái tóc nó cũng vậy. Tôi nhớ trong văn chương, các nhà thơ thưng hay nói đến tóc mây, tóc huyền, tóc thề... Nhưng khổ nỗi, mái tóc của nhỏ Hồng lại không giống với bất cứ một mái tóc nào như thế. Tôi đã làm mọi cách để hạ tiêu chuẩn thẩm mỹ của mình xuống sát... đất, tôi cố căng mắt tìm xem cái vẻ đẹp ẩn nấp ở chỗ nào trong những lọn tóc xoăn tít kia nhưng tôi không tài nào tìm thấy. Càng nhìn, tôi chỉ càng thấy nó giống... trái chôm chôm.
Sau vài lần thất bại, tôi không thèm tưởng tưởng nữa. Tôi quay sang chửi thầm thằng Ngữ tơi bời. Tưởng nó chỉ dẫn hay ho thế nào, ai ngờ càng "yêu", tôi lại càng thấy nản. Tôi còn giận Ngữ vì chuyện khác. Ai đi cả lớp chỉ có mười hai đứa con gái thì mười một đứa "kha khá" nó giành nó thương hết. Còn cái đứa trời sinh ra không phải để cho các nhà thơ ca ngợi thì nó "phân phối" cho tôi, nó bắt tôi "ấp ủ" để làm thơ.
Ngữ không biết tôi đang giận nó. Thấy cả tuần tôi không mở miệng, nó tưởng tôi đang tập trung tư tưởng vào chuyện sáng tác. Vì vậy, nó chẳng thắc mắc gì. Mỗi lần đi ngang qua tôi, nó chỉ mỉm cười vỗ vai tỏ ý khuyến khích. Những lúc ấy, Ngữ cười cứ việc cười, mặt tôi vẫn hầm hầm. Nhưng Ngữ chẳng hề bận lòng về thái độ cáu kỉnh của tôi. Chắc nó tưởng tôi đang tập tành "đau khổ" nên mặt tôi mới "sưng" lên như thế.
Chỉ đến khi tờ báo tường tháng đó sắp ra mà chẳng thấy tôi gởi bài như mọi lần, Ngữ mới ngạc nhiên. Nó lân la lại gần tôi, hỏi:
- Mày đã sáng tác được bài nào chưa?
Tôi mím môi:
- Chưa.
Ngữ trố mắt:
- Ủa, sao lâu vậy? Mấy hôm nay tao thấy mày "đau khổ" lắm mà. Đau khổ bao giờ cũng là chất liệu của văn chương. Nó tạo nên...
Tôi cay cú ngắt ngang li thuyết giảng của Ngữ:
- Nhưng mà tao đau khổ vì chuyện khác.
- Chuyện gì?
Tôi nói, giọng ganh tị:
- Chuyện mày giành mày thương hết mấy đứa sáng láng, mày chừa lại cái "cột nhà cháy" mày bắt tao thương...
Ngữ cười hì hì:
- Trời ơi, thương chơi chớ có phải thương thiệt đâu mà mày so bì!
Tôi quạu quọ:
- Thương chơi tao cũng không thương nổi. Tao nghe lời mày, tối nằm ráng tưởng tượng nước da nhỏ Hồng trắng tinh như tờ giấy...
Ngữ cắt ngang lời tôi, giọng nén cười:
- Mày thấy nó có giống tờ giấy không?
Tôi giận dỗi:
- Có. Giống hệt tờ giấy... các-bon.
Trong khi tôi mặt nhăn mày nhó thì Ngữ ôm bụng cười bò. Lát sau, nó quệt nước mắt, chậm rãi nói:
- Vấn đề không phải ở chỗ con Hồng "chà-và". Đẹp xấu không đóng vai trò gì ở đây. Trái lại, tình yêu càng "ngang trái", càng "khập khiễng" càng sinh ra lắm tứ thơ. Tất cả chỉ do mày thôi. Tự cổ chí kim, không một nhà văn, nhà thơ lớn nào lại leo lên gi.ường nằm trùm mền tìm cảm hứng. Cảm hứng sáng tác nằm chỗ khác. Nó nằm ở ngoài thiên nhiên. Mày phải đi ra sau vườn, đi ra ngồi ngoài bờ ao, mắt ngắm cỏ cây, tai nghe chim hót, ban ngày đợi chiều xuống, buổi tối đợi trăng lên. Lúc ấy, nghĩ về em Hồng mày sẽ thấy nước da em không còn giống giấy các-bon nữa mà giống giấy pơ-luya chính hiệu, mày sẽ nhớ em da diết, rồi tứ thơ tự dưng cuồn cuộn đổ về như thác lũ, muốn ngăn cản cũng không được. Rồi mày sẽ viết ra, rồi tao sẽ đăng lên báo tường của lớp. Rồi cứ theo cái đà đó, chẳng mấy chốc mày sẽ trở thành một nhà thơ nổi tiếng không kém gì Nguyễn Du.
Ngữ nói tràng giang đại hải. Nói xong, nó cười toe. Trong khi đó, tôi đực mặt ra nghe những lời ngọt như mía lùi của nó. Tôi không biết tôi có bắt chước Nguyễn Du được tí ti ông cụ nào không, chứ khi khuyên tôi rõ ràng thằng Ngữ bắt chước y hệt cái giọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm vịnh cảnh nhàn "thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao". Nó còn xúi tôi noi gương lối sống của các cụ ngày xưa, kiểu như "khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên". Tôi nghe nó nói, trong bụng nửa tin nửa ngờ, cứ nghi nó chơi xỏ tôi. Chỉ khi nghe đến những câu cuối cùng, tôi mới thôi ngờ vực. Ngữ hứa hẹn sẽ đăng bài của tôi khiến tôi mừng rơn. Lòng tôi bỗng chốc quên hết giận hờn.
Tôi nhìn Ngữ, bâng khuâng hỏi:
- Ngày mai tao sẽ đi.
- Đi đâu?
Tôi tặc lưỡi:
- Thì như mày nói đó. Tao đi ra... sau vườn.
Ngữ gật gù:
- Ừ, mày đi đi. Đó là vương quốc của các nhà thơ. Nguyễn Du trước đây cũng từng ra sau vườn ngồi viết truyện Kiều. Nguyễn Bính cũng vậy. Không ngồi hàng buổi sau vườn, sức mấy ông viết được câu thơ "Hoa chanh nở giữa vườn chanh, thầy u mình với chúng mình chân quê...". Nếu nằm trùm mền trên gi.ường như mày làm sao ông biết được hoa chanh nở giữa vườn chanh. Ông sẽ tưởng hoa chanh nở giữa vườn ổi ấy chứ!
Ngữ bắt đầu bông phèng. Nhưng tôi không cười. Tôi đang nghĩ một cách nghiêm túc đến con đường sáng tác của tôi. Tôi sẽ làm theo lời mách nước của Ngữ.
Buổi chiều, tôi lò dò ra vườn. Vườn nhà Nghị chẳng có cây chanh nào để tôi có thể tưởng tượng mình là Nguyễn Bính. Vườn nó chỉ trồng toàn xoài và mận. Tôi nghển cổ nhìn lên tán lá rậm rạp, xem thử có tứ thơ nào nằm trên đó không. Nhưng tôi chẳng thấy gì, ngoài những trái xoài xanh treo lủng lẳng. Tôi ngắm nghía mấy trái xoài một hồi, chẳng có một ý thơ hay ho nào nảy ra trong đầu, chỉ có nước miếng ứa ra đầy miệng. Đã mấy lần tôi muốn dẹp quách chuyện văn chương thơ thẩn để bám cây trèo lên hái xoài xuống chấm nước mắm đường ăn chơi. Nhưng cuối cùng tôi dằn lòng được. Chiều nay tôi bấm bụng đi tới đi lui muốn rụng cẳng trong vườn đâu phải để cho cái "năng khiếu ăn uống" nó đè bẹp cái "năng khiếu văn nghệ" vừa mới nhú mầm trong tôi. Hơn nữa, thằng Ngữ mà biết được, nó sẽ chẳng thèm hướng dẫn tôi làm thơ viết văn nữa. Nó sẽ không thèm đăng bài của tôi. Nó sẽ bảo tôi đi mở... quán cơm bình dân. Lúc đó, tôi chỉ có nước độn thổ.
Để khỏi bị những trái xoài kia quyến rũ, phần khác do ngước lâu mỏi cổ, tôi cúi nhìn xuống đất. Tôi hy vọng nếu không tìm thấy những tứ thơ ở trên cao thì tôi có thể tìm thấy chúng nấp đâu đó trong những bụi cỏ. Tôi đi loanh quanh trong vườn. Tôi sục sạo tận các hàng rào.
Tôi đá chân vào các bụi cỏ. Nhưng chẳng có tứ thơ nào nấp trong đó. Chỉ có châu chấu cào cào ở trỏng, chúng bay ra từng đàn.
Thằng Bá ra sau vườn đi tiu, thấy tôi cắm đầu chạy loăng quăng từ đầu này đến đầu kia hàng rào, liền ngẩn người ra:
- Mày làm rớt tiền hả?
Tôi giật mình ngoảnh lại. Thấy Bá đang đứng nhìn thao láo, tôi đỏ mặt lúng túng:
- Không... không...
Bá ngạc nhiên:
- Chứ mày tìm cái gì dưới đất vậy?
Chẳng lẽ nói là tôi đang tìm... ý thơ, tôi đành ấp úng phịa:
- À... tao đang bắt... cào cào.
- Bắt cào cào chi vậy?
- Làm mồi câu chớ chi!
Bá nhìn tôi bằng ánh mắt nghi hoặc:
- Sao khi nãy tao thấy cào cào bay ra cả bầy, mày đâu có bắt.
Thằng Bá này tinh mắt còn hơn cú mèo. Câu hỏi cắc cớ của nó khiến tôi chết sững. Phải ba mươi giây sau, tôi mới tìm ra câu trả lời lấp liếm:
- Tao bắt cào cào lớn kìa! Khi nãy toàn là cào cào con, tao đâu thèm bắt!
Lý do tôi đưa ra thật tuyệt. Bá hết thắc mắc ngay. Nó lò mò lại gần tôi, hăng hái nói:
- Nếu vậy, để tao bắt phụ với mày. Xong, hai đứa mình đi câu.
Bá làm tôi cụt hứng. Nhưng chẳng lẽ tôi đuổi nó đi. Tôi đành phải cặp kè đi tới đi lui với nó. Bá không biết tôi đang thở vắn than dài trong bụng. Nó bắt cào cào một cách nhiệt tình. Nó bắt, chẳng lẽ tôi đứng coi. Thế là tôi cũng phải nhào lăn ra trên cỏ, chụp lấy chụp để. Rốt cuộc, buổi tập làm thơ của tôi biến thành một buổi tập... bắt cào cào. Và tôi buồn bã nhận ra bắt cào cào dễ hơn làm thơ nhiều, mặc dù sau khi bắt đầy một túi cào cào, hai đầu gối và hai cùi tay tôi lấm lem đất cát.
Buổi chiều u ám đó vẫn chưa chấm dứt đối với tôi. Bắt cào cào xong, tôi lại phải theo thằng Bá ra ngồi câu cá ngoài bờ ao. Tôi giống như người lỡ leo lên lưng cọp, đành nhắm tịt mắt cho nó muốn đưa đi đâu thì đưa, chứ đâu có gan nhảy xuống nửa chừng.
Trong khi tôi rầu thúi ruột thì Bá mặt mày tươi hơn hớn. Nó hí hửng giựt lia lịa, hết con cá này đến con cá khác. Thấy tôi trầm tư như Lã Vọng, ngồi cả buổi chẳng câu được con cá nào, nó chép miệng động viên:
- Ráng lên đi chứ! Bắt chước tao đây nè!
Vừa nói, Bá vừa giựt cần câu đánh "vút" một cái. Tôi ngó lên, thấy một con cá rô đang vùng vẫy ở đầu sợi cước.
Thật ra, tài nghệ câu cá của tôi đâu có kém gì Bá. Mọi bữa tôi cũng giựt lia giựt lịa. Cá dưới ao thằng Nghị là cá nuôi, chúng bơi dày mặt nước, thả mồi xuống là chúng tranh nhau đớp, câu tụi chúng còn dễ hơn là ra mua ngoài chợ.
Nhưng từ nãy đến giờ, mặc cho tụi cá rỉa mồi, tôi không buồn giựt. Tôi lơ đãng ngắm cái phao điên điển của tôi đang bị tụi cá kéo chạy qua chạy lại vùn vụt trên mặt nước như chiếc ca-nô máy, lòng bâng khuâng nghĩ đến nhỏ Hồng.
Ngữ đã dặn tôi, cứ chiều chiều ra ngồi ngoài bờ ao nghĩ đến nhỏ Hồng, sẽ thấy da nó trắng như giấy pơ-luya, sẽ bồn chồn thương nhớ nó và sẽ viết được những câu thơ tràn đầy cảm xúc. Ngữ còn bảo tôi, người xưa cũng hay ra đứng bên bờ ao để sáng tác. Họ còn ra ban đêm nữa kia. Thấy tôi tỏ vẻ không tin, Ngữ liền đọc ca dao minh họa: "Đêm đêm ra đứng bờ ao. Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ...". Nghe xong, tôi hết ngờ vực ngay. Và tôi phục "người xưa" sát đất. Họ đứng suốt đêm bên bờ ao để làm thơ mà không sợ mỏi chân. Cũng không sợ muỗi cắn. Hèn gì họ làm thơ hay ghê!
Tôi chẳng được như họ. Ban đêm tôi không dám lần mò ra bờ ao. Tôi sợ rắn cắn. Tôi chỉ dám ra buổi chiều. Tôi cũng không thèm đứng. Tôi ngồi bệt xuống trên cỏ, khỏi sợ mỏi chân. Và tôi chẳng thấy tứ thơ nào lảng vảng trong đầu như lời Ngữ nói cả. Cứ nghĩ đến nhỏ Hồng là tôi hết muốn làm thơ. Tôi chỉ muốn suỵt chó cắn nó.
Bá chẳng hiểu tâm sự của tôi. Thấy tôi ngồi hóa đá, nó chép miệng nói:
- Nay câu không được thì mai câu! Làm gì buồn xo vậy!
Tự nhiên tôi thấy ghét Bá quá thể. Thất bại của tôi một phần là do nó. Tôi đang bắt chước Nguyễn Bính đi tha thẩn trong vườn và sắp sửa làm được thơ tới nơi thì đột ngột nó nhảy ra phá đám. Bây giờ ngồi bên bờ ao, nó vừa câu cá vừa ba hoa luôn miệng khiến tôi không tài nào tập trung sáng tác được.
Tôi tức Bá anh ách nhưng chẳng tìm được lý do để gây sự với nó. Tính Bá xưa nay vậy. Chính cái tật huênh hoang của nó cộng với cặp kiếng cận dày cộm lúc nào cũng ngồi chồm chỗm trên sống mũi khiến nó được bạn bè phong tước "giáo sư". Tụi bạn gọi Bá là "giáo sư" là gọi chọc quê, nhưng Bá chẳng "quê" chút xíu nào. Thậm chí nó còn tỏ ra tâm đắc cái biệt danh oai vệ đó. Từ ngày được phong "giáo sư", nó càng ba hoa khủng khiếp.
Dù sao thì trong năm đứa, tôi với Bá vẫn chơi thân với nhau hơn. Hai đứa chúng tôi cùng phe Pháp văn. Mỗi lần có đụng độ, y như rằng Ngữ, Nghị và Hòa lé cùng đứng về một phía, tôi với Bá một phía. Phe Pháp văn ít người hơn, hai chống ba, nên càng đoàn kết tợn. Những lúc đó, cái thói ăn nói vung vít của Bá trở thành vũ khí lợi hại khôn lường. Nó cứ mồm năm miệng mười, tụi Anh văn bị át giọng, chỉ có nước đỏ mặt tía tai ngồi thở dốc.
Nhưng chiều nay, cái tinh thần đoàn kết đó chẳng giúp ích được gì cho "sự nghiệp văn chương" của tôi. Trong khi tôi đang cần yên tĩnh thì Bá cứ lẽo đẽo bên cạnh khiến tôi chẳng "mơ mộng" gì được.
Chiều hôm sau, tôi lẻn ra bờ ao ngồi một mình. Bá nằm cạnh tôi, đọc sách xong, nó ngủ khò. Nếu thức, hẳn nó sẽ đòi đi theo tôi cho bằng được.
Tôi ngồi co ro trên bãi cỏ, đợi chiều xuống. Nhưng chiều còn mải chơi tít trên cao, tôi đợi cả buổi, nó mới nhích xuống có một chút. Chẳng biết làm gì cho đỡ sốt ruột, tôi nhìn xuống ao, xem cá có lặn như trong ca dao không.
Mấy con cá trong ao nhà thằng Nghị là cá quỷ. Thấy tôi ngồi buồn thỉu buồn thiu, chúng kéo cả bầy thò đầu lên mặt nước lỏ mắt dòm tôi. Chúng có vẻ thắc mắc sao tôi ngồi đó làm gì mà không chịu câu chúng cho vui.
Bộ tịch của bọn cá trông bắt ngứa con mắt. Tôi định nhặt mấy hòn sỏi trên bờ ném cho chúng bể đầu chơi nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi bèn thôi. Tôi phải giữ lòng tĩnh lặng để lát nữa đón nàng... thơ. Nàng sẽ nương theo nắng chiều mà đến cùng tôi. Nếu nàng bắt gặp tôi đang hì hục đánh nhau với bọn cá, hẳn nàng sẽ chạy dài, không hẹn ngày trở lại.
Dặn lòng như vậy, tôi không thèm dòm xuống ao nữa. Mặc kệ bọn cá. Chúng muốn giễu tôi cứ việc giễu. Tôi bân khuâng nhìn lên những cụm mây lờ lững, xem nàng thơ của tôi sắp đến chưa.
Nhưng nàng thơ chưa kịp đến thì thằng Bá yêu tinh kia đã đến trước. Nó đứng lấp ló sau gốc mận cuối vườn và thò đầu ra kêu tôi:
- Ê!
Tôi giật bắn người và lập tức quay phắt người lại. Thấy cặp kiếng cận thò ra sau gốc cây, tôi lặng người đi, không nói được một lời.
Bá cười hì hì:
- Mày ngồi làm gì vậy?
- Tao đợi! - Tôi chán nản buột miệng - Còn mày ra đây chi vậy?
- Tao ra chơi với mày! - Bá khịt mũi, thắc mắc - Mày đợi ai ngoài này vậy?
- Tao đâu có đợi... ai...
Bá ngạc nhiên:
- Chứ sao mày bảo là mày đợi?
Túng thế, tôi đành ngần ngừ thú thật:
- Tao đợi... chiều xuống.
- Đợi chiều xuống? - Bá trố mắt - Đợi chiều xuống để làm gì? Mày làm như thể mày là nhà thơ không bằng!
Bá nói chơi mà trúng phóc. Tôi nhận luôn:
- Thì tao đang đợi chiều xuống để... làm thơ chứ chi! - Rồi tôi vội vã nói thêm - Thằng Ngữ bày tao vậy!
Tôi tưởng đem Ngữ ra "hù", Bá sẽ nể mặt Ngữ mà không chế giễu tôi. Nào ngờ nghe tôi nói xong, Bá cười hô hố:
- Trời ơi, nghe ai không nghe mày lại đi nghe lời thằng Ngữ! Muốn làm thơ thì ngồi vô bàn lấy giấy viết ra làm chứ ra đây ngồi chi cho muỗi cắn!
- Thằng Ngữ nó bảo muốn làm thơ phải ra ngồi ngoài bờ ao! - Tôi giải thích, giọng không được tự tin lắm - Nó bảo ngồi ngoài ao mới tưởng tượng đến... người yêu được!
- Người yêu? - Bá há hốc miệng - Mày mà cũng có người yêu?
Tôi gật đầu, vẻ sượng sùng.
- Đứa nào vậy? - Bá hỏi tiếp.
Tôi đáp lấp lửng:
- Một đứa trong lớp mình.
Bá có vẻ bàng hoàng truớc sự tiết lộ của tôi. Nó nhìn tôi lom lom:
- Lớp mình, nhưng mà đứa nào?
Điệu bộ nóng nảy của Bá chứng tỏ nó muốn truy đến nơi. Biết không thể giấu nó được, tôi ngó lơ chỗ khác, ngượng ngùng đáp:
- Nhỏ Hồng.
Bá có vẻ không tin vào tai mình. Nó kêu lên sửng sốt:
- Trời ơi, con Hồng "chà-và"? Bộ hết người rồi sao mày lại đi yêu bà chằn đó?
Bá làm tôi xấu hổ chín người. Trong khi tôi đang ấp úng, nó lại "phang" tiếp:
- Thằng Hòa lé đi yêu con nhỏ Hồng thì còn hiểu được. Còn mày thì khác. Mắt mày đâu có lé!
Tôi đỏ mặt và phản ứng một cách yếu ớt:
- Nhưng đây đâu phải là yêu thiệt. Tao chỉ yêu chơi thôi. Yêu để có cảm hứng mà làm thơ.
Tôi nói đúng bài bản Ngữ dạy. Bá biết ngay. Nó bĩu môi:
- Mày lại ăn phải bã của thằng Ngữ. Nó gạt mày đó. Ai chứ con Hồng "chà-và", mỗi lần nghĩ đến nó chỉ muốn cãi lộn chứ sức mấy mà muốn làm thơ.
Bá làm tôi chết trân. Nó ăn nói bạt mạng cô hồn nhưng không phải nó nói bậy. Nó nói trúng phóc tâm sự éo le của tôi. Vì vậy, tôi xụi lơ, hết ham cãi nhau với nó. Thấy tôi làm thinh chịu trận, Bá càng ra sức khua môi múa mép. Tôi nghe muốn nhức cả đầu.
Nhưng Bá không dừng lại ở đó. Đến tối, ngồi vào bàn ăn, Bá hấp háy mắt, cười cười thông báo:
- Tụi mày biết không, thằng Khoa hổm rày đang tương tư mê mệt một em trong lớp mình!
Trong khi tôi chết điếng người thì tụi kia nhao nhao.
- Chà, tin sốt dẻo! Cục đá đã bắt đầu động đậy! Chắc chiều nay trời mưa! - Nghị gật gù phát biểu.
Còn thằng Hòa thì trợn đôi mắt lé, nhăn nhở hát:
- Ngày nào cho tôi biết, biết yêu em rồi, tôi biết tương tư... ư... ư...
Trong bọn, chỉ có Ngữ là ngồi im. Chắc nó đang lo thằng Bá tấn công.
Hát dứt câu, Hòa quay sang dòm tôi:
- Bật mí cho anh em biết đi Khoa? Em nào mà có diễm phúc như vậy?
Nghị hùa theo:
- Đúng rồi đó! Trút bầu tâm sự ra đi, có gì anh em mỗi người giúp một tay! Nếu mày giấu giấu giếm giếm, tụi tao lỡ yêu nhằm người yêu của mày thì mày ráng chịu à nghen!
Tôi dở cười dở khóc. Tự dưng lâm vào tình huống trớ trêu này, tôi giống như người mắc xương ngang cổ, nhả không được mà nuốt cũng không xong. Chẳng thà yêu thiệt, yêu theo kiểu... phàm phu tục tử, tôi sẵn sàng cúi đầu nhận tội. Bạn bè có châm chọc, cũng chỉ châm chọc một lần. Rồi mọi chuyện sẽ qua. Đằng này thằng Ngữ xúi tôi "yêu chơi", có tiếng mà không có miếng, bây giờ tự dưng đưa đầu chịu báng, thật là oan ức. Hơn nữa, yêu ai không yêu, tôi lại khờ khạo nghe lời xúi bậy của thằng Ngữ, nhắm mắt đi "yêu" nhỏ Hồng, tụi thằng Nghị, thằng Hòa biết được, chắc chúng chọc tôi méo mặt.
Vẻ hoang mang lo lắng của tôi chẳng khiến Bá động lòng tí ti nào. Nó bô bô:
- Thằng Khoa thẹn thùng, không mở miệng nổi. Nó nhờ tao nói giùm với anh em là hiện nay nó đang yêu say đắm... - Nói tới đây, Bá cố ý ngừng lại một chút để tăng thêm phần hồi hộp cho người nghe rồi mới trịnh trọng giới thiệu nhân vật - ... em Hồng "chà-và"!
Tên tuổi của "người yêu" tôi quả là có sức chấn động khủng khiếp. Bá ném cái tên đó ra giữa bàn ăn y như thể ném một quả bom.
Thằng Nghị giật nảy người, đôi đũa đang cầm trên tay rơi xuống đất. Còn thằng Hòa vừa mới và cơm chưa kịp nhai, bỗng phì cười, cơm bắn ra đầy bàn khiến thằng Ngữ cau mặt cự nự:
- Mày làm cái trò gớm ghiếc gì vậy?
Hòa chẳng buồn để ý đến vẻ gắt gỏng của Ngữ. Nó đưa tay lên bụm miệng và nhìn tôi, nói qua kẽ tay:
- Khoa ơi, kể từ nay tao xin bái mày làm sư phụ. Mưu kế của mày còn hơn Khổng Minh một bậc. Mày lựa em Hồng "chà-và" mày yêu để tối tối dắt đi chơi không sợ ai phát hiện. Ban đêm mày đứng bên cạnh em, người ta cũng tưởng mày đứng một mình. Thật tao chưa thấy ai khôn như mày!
Không phải chỉ có Hòa xỏ xiên tôi. Sau khi cuối xuống nhặt đôi đũa dưới chân, Nghị ngồi thẳng người lên và nheo mắt ngó tôi, miệng xuýt xoa:
- Mày đúng là gan cùng mình! Trên cõi đời này, có lẽ chỉ có mình mày là dám nhào vô bà chằn lửa đó. Mày về với nó, mỗi ngày nó túm tóc mày ba lần nó quay như quay dế, mày chịu làm sao thấu, Khoa ơi!
Tôi chết ngồi trên ghế, mặt mày tái ngắt. Mãi một lúc sau, tôi mới lắp bắp được vài tiếng:
- Có phải tao yêu... thiệt đâu! Tao chỉ yêu chơi thôi!
- Ha ha! Yêu chơi! Lần đầu tao mới được nghe cái từ rùng rợn này! Mày tưởng tụi tao là con nít hả Khoa?
Hòa vừa nói vừa ngả người vào lưng ghế, cười sằng sặc.
Tôi nói thật nhưng coi bộ Hòa và Nghị không tin. Cực chẳng đã, tôi phải lôi Ngữ ra làm chứng:
- Không tin, tụi mày hỏi thằng Ngữ coi! Chính nó bày tao như vậy! Nó bảo tao yêu nhỏ Hồng để có hứng làm thơ cho nó đăng báo.
Hòa lập tức ngưng cười. Nó trố mắt dòm tôi:
- Ủa, vậy hóa ra mày yêu theo chỉ đạo hả? Thôi thế thì chết mày rồi! Mày đúng là Tam Tạng bị ma vương quỷ sứ dụ dỗ rồi, Khoa ơi! Trời phú cho mày trái tim băng giá, mày tu hành sắp thành chánh quả rồi, bây giờ còn nghe lời thằng Ngữ đắm say nữ sắc làm chi! Mà phải em Hồng đẹp đẽ gì cho cam, mặt mũi em ngang Chung Vô Diệm, thân hình em tựa Mẫu Dạ Xoa, thằng Ngữ đi ngang không thèm nhìn, nó ghét mày nó bắt mày yêu cho bỏ ghét. Mày ham được đăng thơ lên báo, nhắm mắt yêu càn, đáng đời mày, Khoa ơi là Khoa!
Hòa vốn mê đọc truyện Tàu. Sáng ngày hôm sau thi học kỳ, tối hôm trước nó vẫn còn nằm ôm mấy bộ Tam Quốc, Thủy Hử "luyện" riết. Cũng nhờ như vậy mà những tối trời mưa, chẳng đi chơi đâu, mấy anh em nằm quấn chăn trên gi.ường nghe nó kể chuyện Tào Tháo, Trương Lương cũng đỡ buồn. Nhưng bữa nay tôi chẳng còn phục tài kể chuyện của nó nữa. Nó lôi mấy nhân vật trong sách ra trêu tôi khiến tôi ngượng chín người.
Trong khi tôi ngồi sượng trân thì Bá chĩa mũi dùi sang Ngữ. Nó hấp háy mắt:
- Trăm sự cũng tại thằng Ngữ mà ra! Nó ỷ nó làm chủ bút, nó muốn bắt người ta yêu ai thì yêu. Nó giành hết những em xinh xắn trắng trẻo, những em chẳng ra gì thì nó ép nó "gả" cho "cộng tác viên". Tao phải méc cô Tần chủ nhiệm mới được!
Ngữ khịt mũi, nhấm nhẳng:
- Cho mày méc! Đây là chuyện "nghề nghiệp" giữa tao và thằng Khoa, không can gì đến tụi mày! Tụi mày cóc biết văn chương nghệ thuật là gì mà cứ đòi xía vào!
Bá trợn mắt:
- A, cái thằng này khi người dữ ta! Chuyện làm thơ viết văn có thể tao thua mày, chứ chuyện yêu iếc chưa chắc ai hơn ai à! Ít ra, tao cũng hơn mày là tao không xúi thằng Khoa yêu bậy!
Ngữ nhún vai:
- Tao không xúi. Tao chỉ gợi ý vậy thôi, nó muốn yêu thì nó yêu.
Nghe Ngữ nói, tôi biết nó có ý muốn "chạy làng". Thấy bạn bè châm chích quá, lại nghe Bá đòi méc cô Tần, Ngữ bắt đầu hoảng. Tôi đành phải lên tiếng "chạy tội" cho Ngữ:
- Đúng là thằng Ngữ không xúi. Nó chỉ... đề nghị thôi! Nhưng mà tao nào đã yêu nhỏ Hồng đâu. Tao chỉ mới... nghĩ về nó thôi.
Nghị nheo mắt ngó tôi:
- Bộ mày tưởng cái tội "nghĩ về" nhẹ hơn tội "yêu" hả? Được rồi, tao sẽ thông báo cho em Hồng biết là mày lúc nào cũng "nghĩ về" em, xem thử ý kiến em ra sao.
Mặc dù biết Nghị nói chơi nhưng nghe nó dọa, tôi bỗng thấy lạnh gáy. Nhỏ Hồng mà biết tôi dám cả gan "nghĩ về" nó, chẳng biết nó sẽ "nghĩ về" tôi như thế nào. Biết đâu nó chẳng nhai xương tôi!
Hòa kết thúc buổi thảo luận chuyên đề về mối tình ngang trái của tôi bằng cách gân cổ rống:
- Thôi là hết chia ly từ đây, tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi...
Hòa hát hay nhất lớp. Giọng nó ấm và mượt mà, rất truyền cảm. Nhưng bài hát mà nó đang hát để giễu tôi lúc này đúng là truyền cảm... cúm!

Chương 4: Hoa Hồng Xứ Khác
Sau sự kiện quái quỉ đó, Bá hỏi tôi:
- Bộ mày muốn đăng bài lên báo tường lắm hả?
- Ừ! - Tôi liếm môi, khẽ đáp.
Bá gật gù:
- Tao sẽ chỉ cho mày một cách. Cách này khỏi cần phải yêu, khỏi cần phải nghĩ tới con Hồng "chà-và" chi cho mệt.
- Dễ không? - Tôi thấp thỏm.
- Dễ ợt.
Tôi sáng mắt lên:
- Vậy mày chỉ tao đi!
Bá hắng giọng:
- Mày đừng thèm làm thơ nữa!
Tôi gục gặc đầu ra vẻ hiểu biết:
- Tao hiểu rồi! Ý mày muốn nói tao có khiếu viết văn hơn làm thơ chứ gì?
Bá nhún vai:
- Không phải. Cả viết văn lẫn làm thơ, mày đều chẳng có năng khiếu gì sất.
Tuyên bố thẳng thừng của Bá khiến tôi bàng hoàng. Tôi cay đắng hỏi lại:
- Sao tao nhớ hôm trước có lần mày bảo tao có... năng khiếu văn nghệ kia mà?
Bá cười:
- Hôm trước tao nói là nói chuyện khác. Ý tao muốn bảo là mày vẽ đẹp. Chuyện đó chẳng ăn nhập gì đến văn thơ.
Hóa ra là vậy. Hôm trước Bá không nói rõ làm tôi cứ tưởng bở. Tôi thất vọng thở dài:
- Làm thơ tao không có sức, viết văn tao chẳng có tài, vậy sao mày bảo mày chỉ tao cách đăng bài lên báo?
Bá nói, giọng thản nhiên:
- Thì đâu cứ phải là thơ với văn! Mày viết thể loại khác!
Tôi chớp mắt:
- Thể loại gì?
- Mày viết chuyện... vui cười!
Tưởng Bá bày vẽ sao, nó khuyên tôi viết chuyện vui cười làm tôi cười hết muốn nổi. Tôi nhăn nhó:
- Tao muốn trở thành nhà văn, nhà thơ kia! Viết chuyện cười thì đâu có thành "nhà" gì?
Bá cười khẩy:
- Mày ngốc quá! Sao lại không thành "nhà" gì? Viết được chuyện vui cười xưa nay chỉ có những... nhà tâm lý. Không rành tâm lý sao chọc cho thiên hạ cười được! - Rồi Bá lên giọng trịnh trọng - Tao nói cho mày biết, làm nhà tâm lý oai hơn nhà văn nhà thơ nhiều. Văn thơ chỉ nằm trong lãnh vực văn học, còn tâm lý lại thuộc về phạm trù... triết học. Mày sẽ trở thành triết gia. Nhà thơ Nguyễn Văn Ngữ chỉ đáng học trò mày!
Bá bơm "chuyện vui cười" lên tận mây xanh. Viễn ảnh nó vẽ ra khiến tôi ngẩn ngơ. Nhưng tôi vẫn e dè:
- Tao sợ thằng Ngữ sẽ không đăng.
Bá hừ mũi:
- Sao lại không đăng? Mày viết cho tếu vào, nó sẽ đăng!
- Nhưng tao lại không có m.áu tếu! - Tôi ấp úng, giọng khổ sở - Phải chi tao có được một phần mười cái tài tiếu lâm của mày!
Thấy tôi chưa đánh đã hàng, nãy giờ chỉ thở ra rặt một giọng ỉu xìu, Bá nhẹ nhàng động viên:
- Mày đừng lo! Tao sẽ viết thử một vài mẩu chuyện cho mày xem! Thằng Ngữ vớ được hẳn là mê tít. Nó sẽ đòi đăng lên báo ngay. Lúc đó, mày nên đọc kỹ những mẩu chuyện của tao để... học tập. Nếu chịu học tập nghiêm túc, trước sau gì mày cũng sẽ viết được những mẩu chuyện thú vị không kém gì chuyện Ba Giai Tú Xuất.
Giọng Bá ngọt như đường phèn. Nó quảng cáo một hồi, tôi bùi tai ngay. Tôi không thèm trở thành Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính nữa. Làm nhà văn nhà thơ chi cho cực thân. Trở thành nhà tâm lý coi bộ dễ ăn hơn và theo như lời Bá nói thì còn lừng lẫy hơn nhiều. Lại khỏi phải yêu iếc lôi thôi, chẳng được tích sự gì, còn thêm cớ cho bạn bè chọc ghẹo.
Nhưng tôi chưa trở thành nhà tâm lý ngay được. Tôi phải đợi Bá "sản xuất" vài mẩu chuyện vui cười cho tôi nghiên cứu học tập.
Bá đúng là một con người nhanh nhẩu. Nó chẳng bắt tôi phải đợi lâu. Mới nói chuyện với nhau hôm trước, hôm sau Bá đã chìa cho tôi xem ba mẩu chuyện nóng hổi vừa thổi vừa... đọc.
Tôi nhìn Bá, thán phục:
- Mày viết hồi nào lẹ vậy?
Bá vung tay:
- Viết hồi sáng, ở ngay trong lớp. Tính tao vậy, tao ghét sự chậm chạp, làm gì là làm ngay!
Rồi Bá nhìn mấy t giấy tôi đang cầm trên tay, nôn nóng giục:
- Mày đọc đi!
Tôi mở to mắt, chăm chú đọc.
Tôi đọc kỹ từng chữ và trong khi đọc tôi nhíu mày cố tìm xem cái tính duyên dáng nó nằm ở đâu. Nhưng hình như thằng Bá nó giấu cái duyên của nó kỹ quá nên tôi tìm hoài không thấy. Tôi đọc tới đọc lui hai ba lần như muốn bới tung từng con chữ lên khỏi mặt giấy, trán nhăn lại như ôn già bảy mươi, nhưng tôi vẫn chẳng thấy những chuyện vui cười của thằng Bá nó "vui cười" ở chỗ nào.
Thấy tôi nghiên cứu sáng tác của nó cả buổi mà mép chẳng nhúc nhích tí ti, Bá sốt ruột hỏi dò:
- Mày thấy sao? Hay đấy chứ?
Bá không hỏi, tôi đã thấy lúng túng khi phải đưa ra lời nhận xét. Nó "gài" câu hỏi kiểu đó, tôi càng thấy khó trả lời. Ngập ngừng một lát, tôi lưỡng lự đáp:
- Ừ, thì hay... nhưng sao tao thấy nó không được tức cười cho lắm!
Nửa câu sau, tôi nói bằng giọng rụt rè và tôi hy vọng cái âm lượng vi vu nhỏ xíu của tôi sẽ không làm tổn thương đến lòng tự ái của Bá.
Nhưng tôi nhầm. Tôi vừa nói dứt lời, Bá vội vàng giật phắt những tờ giấy tôi đang cầm trên tay, khinh khỉnh nói:
- Chuyện hay vậy mà mày chê! Mày không thấy tức cười, chính tại mày không có m.áu tếu đấy thôi! Chuyện khôi hài viết ra là để cho những người có óc khôi hài đọc. Mày khù khờ, đọc hoài cũng vậy thôi.
Tôi đâu có muốn phê bình sáng tác của Bá làm chi. Tại nó hỏi ý kiến tôi, tôi thật thà nghĩ sao nói vậy, không ngờ nó nổi dóa lên nó chê tôi khù khờ. Nhưng tôi không giận Bá. Nó là thằng bạn thân của tôi. Hơn nữa tôi còn phải theo nó "học đạo" để mai mốt trở thành... triết gia. Nghĩ vậy, tôi bèn cười cầu hòa:
- Mày hỏi thì tao nói nhưng... chắc gì tao đã nói đúng. Tao đã nói với mày ngay từ đầu là tao không có m.áu tếu kia mà!
Thấy tôi xuống nước, Bá hơi nguôi nguôi. Nhưng nó vẫn chưa "nguội" hẳn. Nó nheo mắt nhìn tôi, gầm gừ:
- Rồi mày coi! Tao đưa mấy bài này cho thằng Ngữ, nó sẽ khen rối rít và lập tức đăng ngay lên báo. Tao nói đố có sai!
Dòm mặt Bá vẫn còn sắc giận, tôi bèn tìm cách lấy lòng nó. Tôi ngọt ngào nói:
- Trước khi gửi bài cho thằng Ngữ, mày đưa tao vẽ "minh họa" cho!
Trước đề nghị béo bở của tôi, Bá chịu liền. Nó hí hửng gật đầu:
- Chà, hay đấy! Mày có "hoa tay" mà tao quên khuấy đi mất.
Vừa nói, Bá vừa vui vẻ đưa mấy tờ giấy lại cho tôi. Nhìn vẻ mặt hào hứng của nó, tôi nghi rằng nó đã quên mới vừa rồi đây cũng chính nó giật phăng những tờ giấy đó ra khỏi tay tôi.
Tôi thức nguyên một buổi trưa để minh họa những mẩu chuyện của Bá. Theo sự thưởng thức "khù khờ" của tôi thì chuyện của Bá nhạt như nước ốc, đọc lên muốn khóc hơn là muốn cười, do đó khi minh họa, tôi cố sửa chữa lại điều đó bằng cách vẽ những động tác của nhân vật sao cho thật là dí dỏm, hễ nhìn vào là bật cười ngay.
Khi tôi đưa những bức tranh cho Bá, nó vừa liếc qua đã gật gù khen lấy khen để:
- Chà chà, mày vẽ "chiến" thật! Tao thấy mày nên theo nghề hội họa hơn là nghề... tâm lý.
Cái thằng! Nó thay đổi ý kiến cứ như chong chóng! Mới hôm qua nó khuyên tôi nên phấn đấu làm triết gia, bây giờ nó lại bảo tôi nên trở thành họa sĩ. Hai ngày hai lời khuyên, tôi chẳng biết nên nghe theo lời khuyên nào. Nhưng tôi chẳng thèm cà khịa với Bá. Hễ nó khen tôi vẽ đẹp là tôi khoái rồi. Tôi hớn hở hỏi lại:
- Mày thấy tao vẽ đẹp thật hả?
- Thật chứ! Tao xạo mày làm chi! - Rồi chừng như thấy khen tôi như vậy có phần hơi quá đáng, Bá khịt mũi nói thêm - Nhưng dĩ nhiên nếu không có những mẩu chuyện của tao thì mày không tài nào vẽ đẹp được. Chuyện hay mới gợi được ý hay. Gặp chuyện dở, mày vẽ xấu hoắc liền!
Bá bắt đầu bốc phét. Nó thừa dịp khen tôi để tranh thủ tự khen nó. Tôi không nói gì, chỉ cười cười. Cũng như Ngữ, Bá là "sư phụ" tôi. Sư phụ ba hoa, đệ tử chỉ biết vểnh tai nghe, đâu dám hó hé.
Ngay trong chiều hôm đó, Bá gửi những mẩu chuyện vui cười của nó cho Ngữ, có kèm theo những bức tranh minh họa của tôi.
Bá có vẻ tin tưởng vào khả năng chọc cười của mình. Nó vỗ vai tôi, cười hềnh hệch:
- Chuyện của tao đăng lên, cả lớp sẽ cười lăn bò càng! Em Hồng "chà-và" của mày sẽ khoe đủ ba mươi hai cái răng trắng ởn!
Tôi cau mặt cự nự:
- Em Hồng, em Hồng hoài! Dẹp mày đi!
Nhưng tôi chưa kịp "dẹp" Bá thì Ngữ đã "dẹp" nó trước. Tờ báo tường tháng đó không đăng lấy một mẩu chuyện của Bá. Khi tờ báo vừa treo lên, Bá hào hứng kéo tôi lại xem. Nhưng sau khi xem tới xem lui, đọc xuôi đọc ngược một hồi, không thấy bài của mình đâu, Bá đứng chết trân.
Ở góc vui cười quen thuộc, chỉ có những bức tranh của tôi nằm chễm chệ. Tranh của tôi là tranh "ăn theo". Tôi vẽ tranh là để minh họa cho những sáng tác của Bá. Vậy mà chúng lại được chọn đăng. Trong khi những sáng tác thứ thiệt kia bị loại thẳng cánh. Điều đó càng khiến Bá cáu tiết. Nó nghiến răng:
- Rõ ràng thằng Ngữ chơi tao! Hôm trước trong bữa ăn, tao vạch trần âm mưu của nó, nó để bụng, nay nó trả thù.
Tôi đứng bên cạnh Bá, bụng sướng rơn khi thấy tranh của mình được đăng. Nhưng tôi không dám để lộ niềm hân hoan ra ngoài mặt. Sư phụ đang buồn, đệ tử đâu dám vui. Tôi vui, Bá phát khùng lên, dám nó đánh tôi lắm. Tôi đành phải làm mặt rầu rầu:
- Để hỏi lại thằng Ngữ coi! Có thể nó để lạc bài của mày ở đâu đó, đến phút chót kiếm không ra.
Tôi tìm cách trấn an Bá. Nhưng nó chẳng tỏ vẻ gì tin tưởng vào lập luận của tôi. Nó cầm tay tôi kéo đi phăng phăng:
- Mày đi với tao! Tao phải tìm thằng Ngữ hỏi cho ra lẽ.
Ngữ đang ngồi trong quá cà phê trước cổng trường. Thấy Bá hầm hầm xộc vào, Ngữ đoán ngay ra chuyện gì, nhưng nó vẫn làm mặt tỉnh:
- Đi uống cà phê hả mày?
Bá sẵng giọng:
- Không cà phê cà pháo gì hết! Tao đi tìm mày hỏi tội đây!
Ngữ giả bộ ngơ ngác:
- Tội gì?
- Còn tội gì nữa? - Bá hừ mũi - Những mẩu chuyện tao đưa mày, sao mày không đăng?
Ngữ làm như sực nhớ ra:
- À... à... những mẩu chuyện vui cười đó hả?
Bá nhăn nhó:
- Thôi đi, đừng làm bộ! Thì chuyện đó chứ chuyện gì!
Ngữ nheo mắt, gật gù:
- Chuyện của mày đọc cũng được. Nhưng có cái kẹt là muốn thưởng thức cho hết cái hay phải đọc cùng lúc hai người.
Tôi nịnh Bá:
- Thằng Ngữ nói đúng đó. Đọc cuốn sách hay, bao giờ cũng đọc hai người mới lý thú.
Bá không ngờ nghệch như tôi. Nó nhìn Ngữ, giọng cảnh giác:
- Mày nói vậy nghĩa là sao?
Ngữ rờ cằm, chậm rãi đáp:
- Nghĩa là... đọc chuyện vui cười của mày, muốn cho cười phải có thêm một người ngồi bên cạnh thọc léc. Chứ đọc một mình, đố ai cười nổi.
Đòn thằng Ngữ tung ra khiến Bá choáng váng. Nó tím mặt lại:
- Đồ đểu! Mày chuyên môn ếm nhân tài. Tao sẽ nói cô Tần cách chức chủ bút của mày.
Ngữ cười hì hì:
- Mày mà là nhân tài cái khỉ mốc! Mày chỉ có mỗi tài... khoác lác!
Bá vốn mồm mép, nhưng lần này ở thế hạ phong, nó biết càng đôi co càng bất lợi. Vì vậy, Bá đành hậm hực quay ra sau khi trợn mắt đe dọa:
- Đợi đấy! Rồi mày sẽ chẳng còn có dịp phách lối nữa đâu!
Ngữ nhún vai, nói vói theo:
- Mày đừng có đi méc cô Tần mất công. Chính cô Tần đã liệng bài của mày vô sọt rác. Cô bảo đọc chuyện vui cười của mày, cô cảm thấy "buồn cười" quá xá quà xa!
Tôi không biết Ngữ nói thật hay nó phịa. Nhưng nghe vậy, Bá đâm ngán. Nó bỏ ngay ý định đi gặp cô Tần. Nó chỉ ấm ức thầm. Và từ đó về sau, tôi không thấy Bá gửi bài đăng báo nữa. Nó cũng chẳng nhắc gì đến chuyện tôi có nên trở thành triết gia hay không. Nó lờ tịt.
Còn tôi, sau sự kiện đáng nhớ đó, tôi nghiễm nhiên trở thành họa sĩ chính của tờ báo. Trước đây, phần việc đó do thằng Vinh phụ trách. Nó là cây vẽ bản đồ của lớp. Nhưng từ ngày tôi xuất hiện, Vinh trở thành "thợ phụ". Ngữ bảo tôi vẽ có "thần" hơn. Nó trọng dụng tôi.
Phải chăng đó là sự an bài của định mệnh? Tôi đã hì hục sáng tác, tôi đã bấm bụng yêu đương, chỉ để mong trở thành nhà văn nhà thơ trung bình, chỉ để ao ước viết được những câu thơ hay bằng nửa ca dao, nhưng tôi đã thất bại. Tôi cũng cóc có trở thành triết gia nổi. Những mẩu chuyện của "giáo sư" Bá còn bị chê lên chê xuống, cỡ tôi ăn thua gì. Rốt cuộc tôi đành bằng lòng với nghề họa sĩ báo tường. Mày sẽ còn tiến xa, Ngữ bảo tôi vậy. Lời tiên tri của Ngữ khiến tôi sướng mê tơi mặc dù thực ra tôi cũng chẳng biết mình sẽ tiến xa được... mấy mét!

Chương 5: Hoa Hồng Xứ Khác
Chuyện tôi "thương" nhỏ Hồng chẳng biết đứa nào trong bọn "xì" ra mà rốt cuộc "đương sự" biết được.
Một hôm, tôi đang tha thẩn trên đường về thì bị nhỏ Hồng đón đường. Quả là một ngày xui tận mạng. Mọi khi, tôi vẫn đi chung với cả bọn. Hoặc ít ra, tôi cũng đi với thằng Bá. Nhưng vào cái lúc mà nhỏ Hồng chặn đường "hành hung" tôi thì tụi thằng Nghị, Ngữ và Hòa lé còn ở lại lớp để bàn chuyện đi píc-níc của nhóm Anh văn. Thằng Bá ra cổng một lượt với tôi nhưng nó đã phóng xe lại nhà bà cô để xin tiền. Thế là tôi lâm vào cảnh "thân gái dặm trường", một mình lẽo đẽo.
Đón đường tôi không phải chỉ có nhỏ Hồng. Nó còn dẫn theo nhỏ Đan Tâm để làm "đồng minh". Hai đứa này đều thuộc phe Anh văn, lẽ ra giờ này chúng còn ở trong lớp. Chẳng hiểu sao chúng lại tót ra đây. Tôi nghi nhỏ Hồng ngồi "canh me" tôi hồi sáng đến giờ, đến khi thấy tôi ra về, nó bỏ lớp ra theo để đón đường gây sự. Ý nghĩ u ám đó càng khiến tôi hồi hộp. Nhưng không muốn tỏ ra mình là một người yếu bóng vía, tôi ráng nhe răng ra cười và gượng gạo hỏi:
- Ủa, Hồng và Đan Tâm không ở lại lớp bàn chuyện đi chơi sao?
Trước câu hỏi "xã giao" của tôi, Đan Tâm cười cười, không nói gì. Chỉ có nhỏ Hồng là vọt miệng "đốp chát" liền:
- Nếu ngồi lại trong lớp, làm sao tụi này nói chuyện với ông được!
Cái từ "nói chuyện" vốn dĩ bình thường, chẳng hiểu sao khi nằm ở cửa miệng nhỏ Hồng, cái từ đó nghe dễ sợ quá chừng. Nghe nó đòi "nói chuyện" với tôi, tôi nghe lạnh sống lưng. Và tôi bồn chồn hỏi:
- Hồng định nói chuyện gì với tôi vậy?
Nhỏ Hồng quả là danh bất hư truyền. Nó vào đề ngay, chẳng thèm úp mở:
- Nghe nói ông đòi "thương" tôi phải không?
Câu hỏi khủng khiếp của nhỏ Hồng khiến tôi bất giác bước lui một bước. Tai tôi bỗng dưng ù đi, hệt như nghe sét đánh ngang đầu. Quả thật từ khi cha sanh mẹ đẻ đến nay, chưa bao giờ tôi hình dung được sẽ có ngày tôi gặp phải một "người yêu" bặm trợn như thế này. Nó nói chuyện tình cảm mà y như chuyện bán cá, cứ thẳng đuồn đuột. Nghe cái giọng sửng cồ của nó, tôi cứ tưởng như không phải tôi đòi "thương" nó mà tôi đòi "uýnh" nó vậy.
Phải mất đến một phút tôi mới kịp thời trấn tĩnh và ấp úng hỏi lại:
- Ai nói với Hồng vậy?
Nhỏ Hồng nhướng mắt:
- Ai nói, ông hỏi chi! Nhưng ông trả lời câu hỏi của tôi đã! Chưa trả lời, đâu có được quyền hỏi lại!
Giọng của nó rõ ràng là cái giọng sẵn sàng gây gổ. Tôi biết, hễ gây gổ, tôi nắm chắc phần thua. Mồm mép như "giáo sư" Bá, gặp nhỏ Hồng còn chạy dài, thứ khù khờ như tôi không đáng cho nó... ăn tráng miệng. Nghĩ tới nghĩ lui một hồi, tôi thấy trong ba mươi sáu cách, không có cách nào hay hơn là cách... chối. Tôi bèn đưa tay lên gãi đầu, giả bộ ngờ nghệch:
- Làm gì có chuyện đó! Hồi nào đến giờ tôi đâu có thương ai!
- Nhưng riêng tôi thì ông thương! - Nhỏ Hồng "độp" lại ngay.
Cái giọng chắc nịch của nó khiến tôi xanh mặt. Tôi liền lắc đầu quầy quậy:
- Không có đâu! Chắc đứa nào nó phao tin bậy bạ, chứ tôi làm sao dám thương Hồng...
Tôi chưa nói dứt câu, nhỏ Hồng đã cười khẩy:
- Tại vì nước da tôi đen thui như giấy các-bon chứ gì?
Nhỏ Hồng làm tôi chết điếng. Hóa ra nó đã biết tỏng hết mọi chuyện. Tự dưng tôi đâm giận cái đứa lẻo mép nào đó quá chừng. Những chi tiết tai hại như thế nào, nó đem kể với nhỏ Hồng làm gì không biết. Trước ánh mắt soi mói của nhỏ Hồng và nhỏ Đan Tâm, tôi chỉ biết lắp bắp:
- Không có đâu... không có đâu...
Tôi chối đây đẩy. Nhưng nhỏ Hồng chẳng thèm nghe. Nó lại nói:
- Ông còn kêu tôi là Chung Vô Diệm nữa phải không?
Đôi mắt nhỏ Hồng vẫn nhìn tôi đăm đăm. Tia nhìn của nó sắc nhọn như thể mũi dùi, đôi lúc tôi tưởng như nó sắp sửa xuyên thủng ngực tôi. Nhưng tôi nào có ví nhỏ Hồng với Chung Vô Diệm. Tôi đâu có biết Chung Vô Diệm là ai. Trong bọn chỉ có Hòa là biết Chung Vô Diệm. Và chính nó nêu lên nhận xét "đại họa" đó. Chẳng hiểu nhỏ Hồng nghe ngóng làm sao mà bây giờ lại kết tội tôi.
- Hồng nghe nhầm rồi! Tôi đâu có nói như vậy! - Tôi thỏ thẻ đáp.
- Ông đừng hòng chối! Chính ông nói rõ ràng! - Nhỏ Hồng quắc mắt.
- Tôi không nói thiệt mà! - Tôi chép miệng, giọng khổ sở.
- Vậy chứ ai nói?
Nhỏ Hồng tiếp tục hoạnh họe bằng cái giọng bốc lửa. Trước tình cảnh thập tử nhất sinh đó, tôi biết mình không thể đánh bài lờ. Tôi mà làm thinh, lập tức trăm dâu sẽ đổ xuống đầu tằm. Tôi không muốn làm con tằm tội nghiệp. Tôi mà làm con tằm, nhỏ Hồng sẽ "chén" tôi ngay tại chỗ liền. Sau một thoáng phân vân, tôi đành phải bấm bụng tố cáo:
- Thằng Hòa nói.
- À, té ra là tên Hòa! - Nhỏ Hồng bật kêu lên kinh ngạc, rồi nó gật gù hăm dọa - Được rồi, sẽ có ngày tên nhiều chuyện này biết tay tôi!
Nhỏ Hồng hăm thằng Hòa mà tóc gáy tôi cứ dựng đứng cả lên. Không biết nó định làm gì mà nó đe "biết tay tôi" nghe phát ớn! Cũng may tôi kịp đưa thằng Hòa ra làm bia đỡ đạn, chứ nếu không bữa nay tôi hết mong tìm thấy đường về.
Tôi thở phào, chắc mẩm tai qua nạn khỏi. Nhưng tôi chưa kịp thở dứt hơi, nhỏ Hồng hỏi làm tôi nín luôn:
- Nhưng chuyện ông "thương" tôi là có thật đấy chứ?
Nó thình lình nhắc lại chuyện đó khiến tôi giật thót. Nãy giờ nói chuyện lòng vòng, tôi đinh ninh rằng nó đã quên béng cái tội "yêu" của tôi rồi, nào ngờ nó nhớ dai như đỉa. Khi nãy nó hỏi, tôi còn chối tới chối lui, bây giờ tôi biết nó đã nắm đầy đủ "tài liệu" trong tay, có chối cũng vô ích. Tôi chỉ còn cách đỏ mặt, đứng im thin thít.
Nhỏ Đan Tâm từ đầu đến giờ đứng lặng lẽ bên cạnh, thích thú theo dõi cảnh mèo vờn chuột. Bây giờ thấy chuột nhắt á khẩu, đứng run như cầy sấy, nó bèn lên tiếng động viên:
- Khoa có thương Hồng thì Khoa thú thật đi, đừng sợ! Có gì, Đan Tâm nói giúp cho một tiếng!
Tôi tưởng Đan Tâm tử tế, nào ngờ nó làm tôi kẹt cứng. Nó động viên kiểu đó khác nào nó chửi cha tôi. Tôi nói và nghe cổ họng mình khô đắng:
- Đâu có...
Tôi mới nói được hai tiếng, nhỏ Hồng đã thô bạo cắt ngang:
- Có! Ngày nào ông cũng ra ngoài bờ ao ngồi đợi chiều xuống để "nghĩ về" tôi mà bây giờ lại chối là không thương tôi hả?
Trời ơi, cái chuyện riêng tư và thầm kín như vậy mà nhỏ Hồng nó nỡ đem đi nói oang oang giữa đường giữa sá. Nó làm tôi sượng chín người. Tôi len lén nhìn Đan Tâm, thấy nó đang che miệng cười khúc khích. Tôi càng chết cứng. Quỷ tha ma bắt cái thằng "gián điệp" nào trà trộn trong bọn tôi đi! Hình như tất cả mọi trò kệch cỡm của tôi nó đều đi "báo cáo" hết với nhỏ Hồng. Để bây giờ nhỏ Hồng đem ra vặn vẹo chọc quê tôi.
Trước sự hạch hỏi chi tiết đến tận chân tơ kẽ tóc của đối phương, tôi đành ngượng nghịu "nhận tội":
- Ừ, thì tôi có "thương"... nhưng mà tôi chỉ "thương chơi" thôi...
Có lẽ thái độ thành khẩn của tôi khiến nhỏ Hồng động lòng từ bi. Nó gật gù, vẻ hiểu biết:
- À, hóa ra là ông thương chơi! - Rồi nó nhìn tôi, dịu giọng hỏi - Tức là ông giả bộ thương tôi để ông làm thơ chứ gì?
Tôi gật đầu, mau mắn:
- Đúng rồi! Tôi chỉ thương để làm thơ thôi!
Tôi đáp mà mặt mày hí ha hí hửng. Như vậy là nhỏ Hồng hiểu lầm tôi. Lúc đầu, chắc nó tưởng tôi thương thiệt nên định chặn đường tôi để "xin tí huyết". Bây giờ phát hiện ra tôi chỉ dám thương chơi, hẳn nó sẽ tha tôi.
Torng khi tôi đinh ninh mình được "phóng thích" đến nơi, nhỏ Hồng lại chẳng tỏ vẻ gì muốn mở đường cho tôi đi. Nó nhìn tôi, cái giọng dịu dàng vừa rồi biến mất và thay vào đó là một giọng nói chua như dấm:
- Tội của ông nặng lắm. Tội đó lẽ ra phải phạt... tử hình.
Con nhỏ này nó ăn nói sao nghe rùng rợn quá chừng! Tôi bàng hoàng nhủ bụng và bất giác sờ tay lên cổ. Không buồn để ý đến vẻ chết nhát của tôi, nhỏ Hồng thong dong "luận tội" tiếp: - Chẳng thà ông "thương thiệt", tôi chẳng nói gì, có khi tôi còn... thương lại ông không chừng. Ít ra đó cũng là tình cảm chân thành. Đằng này ông lại "thương chơi". Nghĩa là ông coi phụ nữ tụi tôi như một thứ đồ chơi, như một lũ búp bê hoặc tệ hơn, như một đống... đất sét...
Nhỏ Hồng nói tới đâu, mồ hôi tôi vã ra đến đó. Trời ơi, có cho vàng tôi cũng chẳng dám coi tụi nó là đất sét, sao con nhỏ ác ôn này nó kết án tôi nặng quá chừng! Cứ theo như lời nó gán ghép thì tội của tôi phải đem ra bắn bỏ mới xứng!
Giọng nhỏ Hồng càng lúc càng gay gắt:
- Ông xem phụ nữ như một thứ "phương tiện" giúp ông đạt "mục đích" sáng tác. Ông coi rẻ phụ nữ. Ông "sử dụng" tụi tôi như sử dụng cái kềm, cái búa. Ông đã bước qua... xác tụi tôi...
Nhỏ Hồng nói mỗi lúc một hăng. Và nó càng phân tích thì tội tôi càng lớn. Tính tôi nhát gan từ bé, giẫm một con gián cũng không dám giẫm, từ hồi cắp sách đi học đến giờ tôi cũng chưa đạp phải một ngón chân của bất cứ đứa con gái nào, vậy mà bây giờ nó bảo tôi đạp qua xác tụi nó, thật là oan còn hơn oan Thị Kính! Nhưng tôi không dám hó hé, chỉ biết đực mặt dỏng tai nghe.
Hạch tội tôi đã đời, nhỏ Hồng nghiến răng kết luận:
- Tóm lại, ông là đồ sở khanh! Lần sau tôi còn nghe ông đòi thương tôi nữa, tôi sẽ cho ông biết tay!
Khi nãy nhỏ Hồng dọa thằng Hòa, bây giờ nó lại đe tôi. Nhưng tôi không sợ. Nó đe một mình tôi, tôi mới ngán. Nó đe một lúc hai đứa, có gì thằng Hòa sẽ "chia lửa" giùm tôi. Tôi chỉ tức cái chuyện nó chửi tôi. Nó kêu tôi là đồ sở khanh có khác nào nó bôi tro trát trấu vào mặt tôi. Tôi học truyện Kiều, thấy Nguyễn Du tả Sở Khanh phát ớn: "Đem người đẩy xuống giếng khơi. Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay". Tôi đâu phải hạng người vô lương bất nghĩa như vậy mà nó nỡ ví tôi với thằng cha đó.
Lòng tôi hoang mang và rầu rĩ đến mức nhỏ Hồng và nhỏ Đan Tâm bỏ đi lúc nào tôi chẳng hay. Đến khi tỉnh trí, định thần nhìn lại, tôi thấy tôi đứng bơ vơ một mình giữa phố. Bụng đói meo, tôi thất thểu lê bước về nhà.
Bữa đó, trước khi về đến cổng, tôi đã kịp chửi thầm thằng Ngữ một trăm lẻ tám lần thậm tệ. Đầu đuôi mọi sự cũng tại nó. Ngay từ đầu, tôi đã khăng khăng không chịu dính dấp gì đến bọn con gái. Nó cứ nằng nặc bắt tôi thương. Tôi ngu như bò, nghe "thương chơi" tưởng bở, liền "phá giới" nhào vô để bây giờ đứng khép nép trước mặt nhỏ Hồng nghe nó chửi tối mày tối mặt.
Trách thằng Ngữ đã đời, tôi quay sang trách mình. Thật chưa có ai dại dột như tôi. Hồi nhỏ bị con quỷ Mỹ Hạnh gạt tới gạt lui ăn đòn quắn đít, tôi đã thề không thèm chơi với bọn con gái, hễ thấy tụi nó, chỉ đứng nhìn xa xa, nhất định không chịu mon men lại gần.
Trước nay, tôi thực hiện cái phương châm "lạnh lùng" đó một cách triệt để, đến nỗi thằng Hòa kêu tôi là Tam Tạng, còn thằng Nghị thì phong tôi là "thánh sống". Vậy mà chỉ một phút yếu lòng, nghe lời quỷ dữ, tôi đi thương con Hồng "chà-và", rốt cuộc chẳng được gì ngoài mỗi cái biệt hiệu... Sở Khanh. Cũng may là tôi chỉ "thương chơi", tôi "thương thiệt" chắc đời trai tan nát. Nghĩ đến đó, tôi vừa lo vừa mừng, mặt mày tươi tỉnh được chút chút.
Nhưng từ rày về sau, tôi tự dặn lòng nhất quyết sẽ không thèm thương một đứa con gái nào nữa, dù là thương... chơi, thương để làm thơ hay thương để làm... vua cũng vậy. Tôi đã chép dày đặc trong sổ tay những lời nhận xét khủng khiếp về phụ nữ, vậy mà bấy lâu nay tôi thờ ơ không chịu lấy ra xem để "tu tâm luyện tính", ngu ơi là ngu! Hèn gì dạo này tôi hay lơ là, không còn cảnh giác cao độ với tụi con gái như xưa!
Tối đó, tôi len lén chui vào xó nhà, ngồi một mình lật "cẩm nang" xem tới xem lui. Càng xem, tôi càng tiếc hùi hụi. Những bậc thông thái đã xúm vào răn đe tôi mà tôi đểnh đoảng quên mất. Họ nói bao nhiêu là lời hay lẽ phải. Samuel Butler ai oán phát biểu: "Kẻ cướp đòi tiền hoặc đòi mạng ta. Phụ nữ đòi cả hai". Cyril Tourner than thở đến tội: "Nếu không có tiền bạc và đàn bà, ắt là chẳng có ai bị đày xuống âm phủ". Ôi, những lời rền rĩ của họ nghe mới thảm làm sao! Nhỏ Hồng đòi cho tôi "biết tay" có khác nào nó "đòi mạng sống" tôi. Rõ ràng nó lăm le đưa tôi xuống... âm phủ. Liên hệ đến tình cảnh đáng thương của mình, bất giác tôi nghe cay cay nơi mắt và mũi bắt đầu khụt khịt. Nhưng tôi cố nén. Tôi sợ tụi thằng Bá nghe được, chúng sẽ tức tốc chạy vào. Thấy tôi khóc, hẳn chúng sẽ tưởng tại chúng can gián không cho tôi thương nhỏ Hồng nên bây giờ tôi phải chui vào xó nhà sụt sùi nhớ người tình cũ. Tụi nó đâu có biết "người tình cũ" vừa mắng tôi như thể mắng... con.
Tôi lại liếc vào cuốn sổ. Lời tuyên bố của Sophocles khiến tôi đỏ bừng mặt: "Nếu phải gục ngã, thà gục ngã vì đòn của đàn ông còn hơn là mang tiếng thua phụ nữ". Câu nói này đã được nói mấy ngàn năm rồi và ông Sophocles đã chết ngoẻo từ đời kiếp nào nhưng tôi cứ tưởng như ông đang ngồi trước mặt tôi và chính ông vừa thốt ra lời bình luận thấm thía kia, vừa nói ông vừa nheo nheo mắt nhìn tôi nửa như chế giễu nửa như thương hại.
Tôi lắc mạnh đầu để xua đuổi ý nghĩ kỳ quái đó và liếc sang dòng khác. Tôi bắt gặp lời của kinh Talmud như bắt được vàng. Kinh dạy: "Cái lưỡi trong miệng đàn bà là một trong những sai lầm khó chịu nhất của tạo hóa". Ôi, lời nhận xét đó mới vàng ngọc làm sao! Hèn gì người ta gọi đó là kinh. Kinh đã nói thì đố có sai. Cứ xem cái lưỡi của nhỏ Hồng sáng nay thì biết. Nó chua ngoa, đanh đá phát khiếp! Phải chỉ thượng đế sinh ra đàn bà mà đừng sinh thêm cái lưỡi - tôi thầm ao ước - hẳn từ giờ cho đến cuối đời, ít ra tôi cũng thương được một người.
Cứ thế, suốt buổi tối, tôi đắm mình trong những lời răn khả kính. Bình thường, những lời châu ngọc đó chỉ lướt qua đầu tôi nhưng hôm nay, do tôi vừa mới "thoát chết" dưới tay nhỏ Hồng, chúng ngấm sâu vào người tôi đến tận... lục phủ ngũ tạng. Tôi bị ám ảnh đến mức tối nằm ngủ, tôi mơ thấy tôi đang bị nhỏ Hồng rượt chạy tóe khói. Đầu tóc xoăn tít của nhỏ Hồng bỗng biến thành bờm... sư tử và miệng nó thì mọc nanh tua tủa. Bộ tịch của nó trông dữ tợn quá chừng. Nó mà tóm được tôi, hẳn nó sẽ nhai xương tôi rào rạo. Lòng đầy hãi hùng, tôi nhắm mắt nhắm mũi, co giò chạy. Chạy một lát, nghe tiếng thình thịch sau lưng tôi ngoảnh đầu lại, thấy nhỏ Hồng rượt gần bén gót, miệng nó há to bằng cái chậu và sửa soạn ngoạm đứt đầu tôi. Tôi điếng người, hét lên thất thanh.
Thằng Bá nằm kế bên, nửa đêm nghe tôi la làng, nó hốt hoảng chồm dậy ôm lấy vai tôi lay lấy lay để. Ngữ, Nghị và Hòa lé cũng choàng dậy, đâm bổ lại chỗ tôi nằm. Cả nhà náo loạn như có giặc.
Thằng Bá lắc tôi như lắc chai rượu. Tôi ú ớ một hồi rồi từ từ mở mắt, mồ hôi ưới đẫm sống lưng.
- Có chuyện gì vậy? - Cả bốn cái miệng cùng chĩa vào tôi, hỏi một lúc.
Tôi vẫn chưa tỉnh hẳn, hình ảnh ghê rợn vừa rồi đang còn phảng phất trong đầu tôi. Nghe có tiếng người hỏi, tôi ấp úng thều thào:
- Nhỏ... Hồng...
Cả bọn trố mắt:
- Nhỏ Hồng sao?
Tôi vẫn thở dốc:
- Nó rượt tao... nó đòi ăn thịt...
Biết tôi nằm mơ thấy "người yêu" đòi mạng, cả bọn ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Còn tôi, sau khi tỉnh hẳn, phát hiện ra mình vừa nói hớ, tôi liền vội vàng nhắm tịt mắt, giả vờ ngủ tiếp. Nhưng tôi chỉ có thể nhắm mắt. Tai đâu có... nhắm được. Thế là tôi đành phải nằm trân mình nghe những lời chọc ghẹo nhức xương của tụi bạn. Nghe suốt đêm. Nghe cả tuần lễ sau đó. May mà tôi không hé răng nửa lời về cuộc đụng độ giữa tôi và nhỏ Hồng. Còn nhỏ Hồng sau khi chửi tôi đã đời trước sự chứng kiến của Đan Tâm, chắc nó đã thỏa mãn, phần khác chắc thương tôi đần độn, nên nó cũng ỉm luôn, không "xì" ra. Nhờ vậy, chẳng đứa nào biết được "nỗi nhục" của tôi. Nếu biết, hẳn tụi nó chẳng tha tôi. Khi đó, chắc chắn tôi sẽ bỏ học, về quê chăn trâu, cày ruộng. Tôi sẽ không màng trở thành Nguyễn Tuân hay Nguyễn Bính, triết gia hay họa sĩ báo tường nữa. Tôi sẽ làm Đinh Bộ Lĩnh, suốt ngày cỡi trâu và nghêu ngao hát "Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ...". Da tôi lúc ấy sẽ đen nhẻm như da nhỏ Hồng. Tôi dang nắng quanh năm ngoài đồng, tóc tôi cũng sẽ quăn tít như nó.
Ôi, cứ nghĩ đến hình ảnh khủng khiếp đó, tôi đã thấy rợn da gà!
Nhưng thật may, chẳng ai biết gì. Tôi khỏi phải về quê chăn trâu. Ngày ngày tôi vẫn ôm cặp đến lớp. Mỗi lần giáp mặt nhỏ Hồng hoặc nhỏ Đan Tâm là tôi hấp tấp ngó lơ chỗ khác, mặt đỏ cứ như tôm luộc.
Đỡ một cái là tụi nó chẳng mở miệng trêu tôi. Thấy tôi, tụi nó chỉ cười chúm chím. Tụi nó chỉ cười suông, tôi đã muốn chui xuống đất rồi. Nếu tụi nó chơi ác nhắc chuyện cũ, tôi chẳng biết chui đi đâu. Nếu tôi đang ở tuổi chín mươi, tôi sẵn sàng chui vào... quan tài lánh nạn. Nhưng tôi mới mười sáu tuổi, có chui vào đó, Diêm vương cũng sẽ đuổi tôi về dương gian để cho bọn con gái "thử thách" tiếp. Nhiều lúc ngồi một mình, tự nhiên tôi thấy tội nghiệp tôi ghê!

Chương 6: Hoa Hồng Xứ Khác
Mối tình không cân sức giữa tôi với nhỏ Hồng có lẽ là sai lầm duy nhất của tôi năm lớp mười. Sau vụ đó, tôi thề không thèm nhìn mặt bất cứ đứa con gái nào trong lớp. Tôi vốn không ưa tụi con gái, nhỏ Hồng càng khiến tôi thù tụi nó tận xương tủy.
Dạo trước, hồi tôi còn tập tễnh làm thơ, Ngữ có đọc cho tôi nghe câu ca dao "Chưa chồng đi dọc đi ngang. Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi". Đó là lời người mẹ dạy con gái. Tôi là con trai, tôi cũng... chưa có chồng, nhưng tôi tuân thủ lời dạy đó răm rắp. Mỗi ngày, từ nhà đến trường và từ trường về nhà, tôi cứ "thẳng một đàng mà đi", không thèm trông ngang liếc dọc. Thấy con gái, mặt tôi trơ ra, chỉ thiếu mỗi chuyện lần tràng hạt và niệm "Nam mô, bần tăng là kẻ tu hành" nữa thôi.
Nhờ sống khổ hạnh như vậy, tôi dần dần quên đi mối hận tình năm nào. Năm lớp mười trôi qua êm ả, thái bình. Tôi đã làm đúng lời dặn dò của ba tôi "đừng yêu đương nhăng cuội". Chuyện nhỏ Hồng là chuyện "thương chơi" chẳng đáng kể làm gì. Tôi coi nó như là... đất sét!
Năm lớp mười một bắt đầu bằng một sự gia tăng sĩ số. Nhỏ Gia Khanh ở đâu ngoài Hội An chạy vô, nhập vào lớp tôi. Đám con gái tăng lên mười ba mống. Nhưng mười ba hay một tỉ ba trong trường hợp này đối với tôi chẳng có ý nghĩa gì. Tất cả chỉ là con số không to tướng.
Chỉ có tụi thằng Ngữ là xôn xao. Ngay hôm đầu tiên Gia Khanh xuất hiện, Ngữ đã trầm trồ:
- Trời, con bé dễ thương ác!
Hòa lé buông thõng một câu:
- Tiên giáng trần!
Nghị điềm đạm hơn. Sau một hồi trầm tư, nó phát biểu với vẻ lo âu:
- Nguy rồi! Sao chổi Halley xuất hiện! Năm hạn đã tới! Huynh đệ tương tàn! Tránh sao khỏi cảnh nồi da xáo thịt!
Hòa liếc Nghị:
- Đọc thần chú gì đó mày?
Còn Ngữ thì nhăn mặt:
- Nói gì thì nói đại ra cho rồi, cứ bày trò mật mã hoài!
Bá từ đầu đến giờ ngồi im không tham gia vào câu chuyện, bỗng bật cười ha hả:
- Thằng Nghị nó nói vậy mà tụi mày không hiểu, chứng tỏ tụi mày bị em Gia Khanh "hớp hồn" nên đầu óc mụ mẫm hết rồi!
Bị xỏ xiên, Ngữ nổi cáu vặc lại:
- Chứ mày thì sao? Mày có hiểu gì không?
Bá thản nhiên:
- Sao lại không hiểu! Thằng Nghị nó ví em Gia Khanh như sao chổi Halley, mỗi lần xuất hiện là đem lại tai họa...
Hòa lé vọt miệng:
- Tai họa gì?
Bá cười hì hì:
- Thì tai họa thằng Nghị nói đó! Huynh đệ tương tàn! Nghĩa là vì giành nhau người đẹp, mày và thằng Ngữ sẽ đánh nhau u đầu sứt trán, đứa vào nhà thương, đứa vào nhà... xác!
Hòa bĩu môi:
- Xì! Làm gì có chuyện đó!
Bá gục gặc đầu:
- Ừ, để rồi coi!
Rồi Bá quay sang tôi, xuýt xoa:
- Như thằng Khoa vậy mà khỏe. Suốt đời giữ lòng thanh tịnh, không để nữ sắc quấy rầy, ăn ngủ điều độ, học hành tiến bộ, cha mẹ vui mừng, bạn bè mến mộ...
- Thôi, thôi, đủ rồi mày! - Tôi vội vã cắt ngang - Tao khỏi cần mày làm thơ tán dương "công đức" tao nữa!
Bá trợn mắt:
- À, tao khen mày mà mày không cho hén! Được rồi, để hôm nào tao xúi em Gia Khanh quyến rũ mày, xem mày có tu thành chánh quả được không!
Nghe vậy, Hòa nhảy dựng lên:
- Đừng! Mày đừng có chơi ác như vậy! Thằng Khoa tu luyện mấy nghìn năm nay rồi, nó sắp thành Phật, mày đừng có "hại" nó! Có muốn "hại" thì mày "hại" tao đây nè! Mày cứ xúi em Gia Khanh quyến rũ tao đi, tao chịu tất!
Bá nhìn Hòa, lắc đầu hắng giọng:
- Cỡ như mày, có muốn "hại" cũng không ai thèm "hại"! Mắt mày so le, nhìn đâu trật đó, đi về nhà còn sai địa chỉ, ai mà dám trao thân gởi phận cho mày! Mày có nhìn đắm đuối em Gia Khanh suốt buổi, em cũng sẽ tưởng mày đang "thôi miên" con Hồng "chà-và" ngồi cạnh, làm sao em bắt được "tín hiệu" của mày!
Hòa tức muốn nổ đom đóm mắt. Nó nghiến răng ken két và thu nắm tay lại dứ dứ trước mặt:
- Nè, nè, mày đừng có bôi bác thằng bạn quý của mày nghe chưa! Mắt tao là mắt lé, nhưng thuộc diện... lé kim, dễ thương hết biết! Tụi con gái thường kháo nhau "nhất mắt lé kim, nhì má đồng tiền". Mày là "giáo sư" mà mày cóc biết gì hết!
Nghe Hòa ca tụng nhan sắc mình, Ngữ húng hắng ho:
- Thằng Hòa nói đúng! Thằng Bá là thằng có đôi mắt bình thường, giống như thiên hạ, chẳng có gì đặc biệt nên nó tức nó ghen tị với thằng mắt lé.
Biết Ngữ chơi xỏ mình nhưng Hòa phớt lờ. Nó tỉnh bơ triết lý:
- Đời là vậy! Tao cũng chẳng thèm chấp làm gì!
Mặc dù Hòa nói chẳng thèm chấp nhưng tôi biết nó tức Bá lắm. Nhưng trong chuyện tình tập thể này, Bá có vẻ như muốn đứng ngoài nên Hòa chẳng tìm ra cớ để cà khịa đối thủ. Nó đành phải dằn mặt Bá bằng cách ra sức chứng minh sự duyên dáng và tính hiệu quả của đôi mắt lé kim được thương đế ưu ái ban cho kia.
Thế là kể từ hôm đó, gặp Gia Khanh đâu là Hòa lập tức đưa mắt tống tình. Trên đường đi, trước cổng trường và trong lớp học, hễ có dịp là Hòa phát tín hiệu về phía đối phương. Đôi mắt nó hoạt động không mệt mỏi, hệt như đài truyền hình phát sóng.
Bá cười thầm vào tai tôi:
- Tao đã nói rồi mà nó không chịu nghe. Bộ phận thông tin liên lạc của nó đã bị hỏng, không xài được. Để mày coi, nó có phát sóng cả đời cũng cóc có ăng-ten nào bắt được.
Quả như lời Bá nói, tôi thấy thằng Hòa "pha" suốt một tuần nhưng nhỏ Gia Khanh làm như chẳng "ăn đèn". Nó cứ tỉnh khô. Thậm chí nó còn không biết có người đang để ý nó.
Tụi tôi để yên cho thằng Hòa hoạt động đúng bảy ngày. Qua ngày thứ tám, Bá bắt đầu trêu:
- Sao mày? Mấy bữa nay tao thấy mày bắn tia la-de veo véo, trái tim em đã mẻ miếng nào chưa?
Hòa chưa kịp đáp, Ngữ đã khịt mũi:
- Thằng Bá này hỏi lạ! Bánh ít có đi thì bánh qui có lại chứ! Nó nhìn em muốn rách võng mạc, lẽ nào em chẳng động lòng!
Thoạt đầu, Hòa tím mặt định phản đòn, nhưng sau thấy mình bị kẹt giữa hai gọng kềm, nó biết hễ nhúc nhích là bị đập phủ đầu ngay. Nó đành nuốt giận, chống chế:
- Muốn "đánh đổ" một em như em Gia Khanh phải... trường kỳ kháng chiến. Tao mới ra tay có một tuần, chưa hết thời kỳ chạy rô-đa, bảo em đầu hàng liền sao được!
Nghị ngồi cười mím chi:
- Thế mày định "trường kỳ" đến bao giờ?
Hòa ngần ngừ:
- Ít ra cũng phải đến... cuối năm học.
Bá nheo mắt:
- Làm gì lâu dữ vậy?
- Thì đã bảo "trường kỳ" mà lại!
Hòa vừa đáp vừa cười hề hề.
Tôi không biết từ nay cho đến cuối năm, thằng Hòa sẽ đi theo con đường đặc biệt nào để len lỏi vào trái tim của Gia Khanh. Chứ hoạt động "phát sóng" thì kể từ hôm bị bạn bè trêu chọc, nó đã tạm ngưng... vô thời hạn. Cũng có thể nhìn lâu mỏi mắt, mà chẳng được tích sự gì, nó không buồn khai thác ưu thế "lé kim" của nó nữa.
Trong khi Hòa lui về thế thủ, tạm thời án binh bất động để nghĩ kế, thì nhà thơ Nguyễn Văn Ngữ bắt đầu mở chiến dịch.
Trước nay, lớp tôi có bao nhiêu con gái thì Ngữ thương hết bấy nhiêu. Bây giờ thêm đứa thứ mười ba, Ngữ đòi thương luôn cho đủ bộ, cũng chẳng có gì là lạ. Tôi chỉ ngạc nhiên ở chỗ từ trước đến giờ Ngữ thường rêu rao đối với tụi con gái trong lớp nó chỉ thương chơi nhưng lần này thì tôi e rằng nó... thương thật.
Xưa nay, dưới các bài thơ, bao giờ Ngữ cũng đề tên thật. Nhưng lần này, Ngữ phá lệ. Nó chọn một bút hiệu mới: Thanh Khương. Khi bài thơ "Từ độ em về" của Thanh Khương xuất hiện trên mặt báo, cả lớp lập tức xôn xao. Đọc bài thơ tỏ tình trắng trợn đó, đứa nào cũng biết tác giả của nó muốn rao bán trái tim của mình cho Gia Khanh. Ngữ viết:
Từ độ em về, sầu đã lại
Lòng tôi mơ mãi bóng hình em
Tình tôi năm trước còn hoang vắng
Em đến, mùa xuân đậu xuống thềm...
Bài thơ nói bóng gió, nhưng ý nghĩa lại quá lộ liễu, khờ khạo như tôi đọc thoáng qua đã biết, huống gì những bộ óc vĩ đại như Nghị hoặc "giáo sư" Bá. Đã vậy, thằng Ngữ còn sợ Gia Khanh không hiểu "thông điệp" của nó, nó "đóng dấu" thêm cái bút hiệu Thanh Khương lên bài thơ một cách sỗ sàng.
Dĩ nhiên mọi người đều biết nhà thơ Thanh Khương đang "thương Khanh" nhưng không ai đoán ra Thanh Khương là đứa liều mạng nào. Ngữ chơi kế "kim thiền thoát xác", bên cạnh bài thơ bốc lửa của Thanh Khương, nó đăng một bài khác của nhà thơ Nguyễn Văn Ngữ tả cảnh mùa xuân chim chóc.
Cả khối đứa bị lừa. Giờ ra chơi, tụi nó cứ túm tụm lại với nhau truy tìm lý lịch của tên bợm Thanh Khương. Đám con gái thì xúm xít chỗ hai dãy bàn đầu, thì thầm to nhỏ và chốc chốc lại cười rúc rích. Tôi liếc Gia Khanh, thấy nó ngồi gục đầu trên bàn. Chắc tụi con gái trêu nó dữ lắm! Tôi áy náy nhủ thầm và lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy lòng mình nao nao.
Ngày hôm sau, vừa vào lớp, tôi đã đọc thấy trên bảng lời rao "tìm trẻ lạc" không biết đứa nào nghịch ngợm "tương" lên. Cả lớp đang xúm đen xúm đỏ trước tấm bảng, cười nói ầm ĩ.
Tôi bước lại gần, tò mò đọc: "Bé trai Thanh Khương, mười bảy tuổi, bị bệnh si tình, nhát gan, hành động lén lút, ưa sử dụng tên giả, đi lạc sáng thứ bảy tuần rồi. Khi ra đi, ở trần mặc quần... xà lỏn, đặc điểm nhận dạng: ốm o, gầy mòn, người đầy ghẻ, ai thấy ở đâu, xin dẫn về địa chỉ sau đây: nhóm nữ sinh 11C trường trung học Sao Chổi, sẽ có hậu tạ".
Tôi vừa đọc vừa cười bò. Tôi nghi thằng Bá là tác giả của lời rao tinh quái trên. Giọng điệu khôi hài độc địa này đích thị là giọng của nó. Cái thằng, nó viết chuyện vui cười thì dở mà viết những điều nhảm nhí chọc phá thiên hạ, nó lại viết trơn tru quá xá!
Tôi hỏi Bá, Bá nhận ngay:
- Ừ, tao viết. Tao chọc cho nó ra mặt.
Tôi cười:
- Mày chọc kiểu đó, nó trốn luôn chứ sức mấy nó dám ra mặt.
Bá ngẩn người ra:
- Ừ hén, tao quên khuấy điều đó!
Rồi nó tặc lưỡi hỏi tôi:
- Thanh Khương là đứa nào mày biết không?
Tôi lắc đầu:
- Không.
Bá nhìn tôi vẻ nghi ng:
- Xạo đi mày! Mày là họa sĩ trình bày, sao mày không biết?
Tôi gãi đầu:
- Thì tao chỉ trình bày thôi! Làm sao tao biết nó là đứa nào!
Bá hừ mũi:
- Đọc bản thảo, mày phải nhận ra nét chữ của ai chứ! - Rồi nó thình lình hỏi - Thằng Ngữ phải không?
Bá chơi đòn trấn áp tinh thần. Nó đột ngột "độp" một phát khiến tôi sững sờ mất mấy giây. Nhưng tôi kịp trấn tĩnh. Khi đưa bài thơ "Từ độ em về" cho tôi nắn nót chép lên báo, Ngữ đã dặn dò cẩn thận. Nó còn bắt tôi thề sẽ không hé môi với bất cứ ai về thân thế và tiểu sử tác giả. Vì vậy, dù Bá đoán ngay chóc, tôi vẫn phải giả bộ đần độn:
- Tao đã nói tao không biết mà! Bản thảo đánh máy chứ đâu phải chép tay mà tao nhận ra nét chữ!
Bá tưởng tôi đần độn thật. Nó gật gù:
- Được rồi! Tao sẽ hỏi thằng Ngữ!
Nhưng Ngữ cũng chối biến. Trước sự dò hỏi của Bá, Ngữ ngơ ngác:
- Tao đâu có biết. Tụi nó gửi bài cả xấp, làm sao tao biết đứa nào vô đứa nào!
Rồi Ngữ nhún vai, nói thêm:
- Nhưng dù có biết Thanh Khương là ai, tao cũng không thể tiết lộ với mày được. Đó là nguyên tắc nghề nghiệp.
Thấy Ngữ ra vẻ trịnh trọng, lại đem "nguyên tắc" ra hù mình, Bá tức lắm. Nó bĩu môi:
- Thôi đi mày ơi! Mày đừng có làm bộ bí mật! Tụi tao biết tỏng Thanh Khương là đứa nào rồi!
Ngữ giật nảy người. Nhưng nó cố giữ vẻ thản nhiên:
- Đứa nào?
- Mày chứ ai?
Vừa nói, Bá nhìn đối thủ lom lom. Nhưng Ngữ đóng kịch thật tài. Nó khinh khỉnh:
- Tao mà thèm làm thơ cho nhỏ Gia Khanh!
- Mày đừng có làm bộ! - Bá cười khẩy - Ai mà chẳng biết mày chuyên môn làm thơ cho tụi con gái!
Ngữ hắng giọng:
- Tao làm thơ cho tất cả mọi đứa, nhưng với nhỏ Gia Khanh thì không!
Bá hỏi, giọng nghi hoặc:
- Sao vậy? Mày lúc nào cũng khen em rối rít kia mà!
Ngữ gật gù:
- Khen là một chuyện, còn làm thơ là một chuyện khác!
- Tao không tin! - Giọng Bá khăng khăng.
Ngữ lạnh lùng:
- Tin hay không, tùy mày! Tính tao không thích giành giật. Thằng Hòa đã nhảy vô, tao không muốn đụng độ với nó.
- À, hóa ra vậy! - Bá gục gặc đầu - Thì ra mày sợ lời tiên tri của thằng Nghị sẽ ứng nghiệm!
Ngữ quên bẵng câu chuyện bữa trước. Nó nhìn Bá, ngạc nhiên:
- Lời tiên tri nào?
Bá cười hề hề:
- Mày mau quên quá! Hôm trước thằng Nghị chẳng đã nói nếu cuộc "chiến tranh tình cảm" xảy ra giữa hai đứa mày thì thằng Hòa sẽ đi nhà thương, còn mày sẽ đi nhà xác là gì!
Bị Bá hoạnh họe một hồi, Ngữ đã bực mình. Bây giờ lại bị "xỏ" thêm một câu, Ngữ sầm mặt "hứ" một tiếng và quay lưng bỏ đi thẳng.
Bá nói với tôi:
- Thằng Ngữ nói mười tao không tin được một. Cái giọng õng ẹo trong bài "Từ độ em về" rõ ràng là cái giọng của nó, tao còn lạ gì, vậy mà nó cứ chối leo lẻo!

Chương 7: Hoa Hồng Xứ Khác
Sự dò hỏi của Bá khiến Ngữ chột dạ. Nó không dám ký bút hiệu Thanh Khương nữa.
Trên tờ báo tưng tháng kế tiếp, cái tên Thanh Khương biến mất, không kèn không trống. Những ngày tờ báo sắp ra, cả lớp nôn nao chờ xem lần này tên Thanh Khương lì lợm kia sẽ giở những trò lăng nhăng gì nữa. Nhưng khi tờ báo được treo lên, dò tìm mỏi mắt không thấy nhà thơ Thanh Khương tái xuất giang hồ, đứa nào đứa nấy thất vọng ra mặt.
Ngữ giả vờ xuýt xoa:
- Em Thanh Khương teo rồi!
Lập tức, một đứa khác phụ họa:
- Sau khi đọc lời thông báo "tìm trẻ lạc" trên bảng, hắn trốn luôn rồi! Chắc hắn sợ bị bắt "giải giao" về cho em Hồng "chà-và" trị tội!
Đứa vừa thốt lên lời "phạm thượng" kia là thằng Châu. Châu là tay trống của lớp, cùng ban văn nghệ với Hòa lé. Nó người ốm nhom ốm nhách mà cái miệng thì rộng quá mang tai, lúc nào cũng bô lô ba la không thua gì thằng Bá. May mà hôm tờ báo "phát hành", nhỏ Hồng nghỉ học, chứ nếu không nó đã xé xác thằng Châu rồi.
Hôm đó, mặc cho tụi bạn nhao nhao bàn tán, tôi chỉ ngồi cười ruồi. Có lẽ ngoài Ngữ ra, tôi là người duy nhất biết được tông tích của nhà thơ Thanh Khương quái quỉ kia. Hắn chẳng trốn đi đâu sất. Hắn vẫn xuất hiện sờ sờ trên mặt báo, trước mắt mọi người. Có điều, hắn đội một cái tên khác.
Lần này, Ngữ ký bút hiệu mới: Ngu Kha. Khi Ngữ đưa bài thơ của Ngu Kha cho tôi minh họa, tôi nhận ra ngay tuồng chữ của nó. Lúc đó, không hiểu sao tôi lại dại dột buột miệng:
- Tao thấy cái tên này nó đần đần làm sao!
Ngữ "độp" tôi liền:
- Có mày đần thì có! Cái bút hiệu thâm thúy như vậy mà mày dám chê!
Tôi giương mắt ếch:
- Thâm thúy chỗ nào đâu?
Ngữ hỏi lại, giọng ranh mãnh:
- Mày có biết chữ Ngu Kha mang ý nghĩa gì không?
Tôi nhíu mày nghĩ ngợi một hồi vẫn chẳng lần ra cái ý nghĩa thâm thúy Ngữ giấu trong đó. Tôi chỉ thấy nó có vẻ... ngu ngu. Nhưng tôi không dám nói.
- Tao chịu! - Cuối cùng, tôi lắc đầu.
Ngữ xích sát lại bên tôi và nó kê miệng nó vào tai tôi, thì thầm nói:
- Ngu Kha tức là Ngữ Khanh, hiểu chưa thằng ngốc!
Hơi thở của Ngữ phả vào tai tôi nhột quá chừng. Nhưng lời giải thích của nó còn khiến tôi "nhột" hơn. Tôi trố mắt, bàng hoàng hỏi:
- Mày dám ghép tên nhỏ Khanh vào tên mày?
Ngữ cười hì hì:
- Sợ gì mà không dám?
Chuyện tày trời vậy mà nó bảo không sợ. Tự dưng tôi thấy lo giùm cho Ngữ.
- Tụi nó biết sao?
Ngữ nheo mắt, giọng tinh quái:
- Làm sao tụi nó biết được! Tao cắt đuôi, bỏ dấu cẩn thận chứ có để tên thật đâu mà sợ! Vả lại, kỳ này tao đâu có giở giọng "anh anh em em". Tao làm thơ về tình thầy trò, có tài thánh mới hòng đoán ra!
Dòm vẻ mặt dương dương tự đắc của Ngữ, tôi đâm nể nó quá xá. Hóa ra nó đã tính trước cả chục nước đi, hệt như các cao thủ cờ tướng. Nó "bịt đầu mối" kiểu đó, đố đứa nào lần ra nổi.
Nhưng khi sự khâm phục lắng xuống, lòng tôi lại dậy lên nỗi băn khoăn. Tôi nhìn Ngữ, phân vân hỏi:
- Nhưng như vậy là mày thương thật chứ đâu phải thương chơi! Thương chơi, ai ghép tên làm chi?
Lần đầu tiên tôi thấy Ngữ lúng túng trước mặt tôi. Có lẽ nó không ngờ một đứa khờ khạo như tôi cũng có khi hỏi được một câu cắc cớ như vậy. Ngữ ấp úng một hồi rồi gượng gạo đáp:
- Chơi hay thật gì... cũng vậy thôi! Miễn là tao có cảm hứng để làm thơ.
Cái thằng, mới hôm nào đây, khi "tập huấn" cho tôi về phương pháp sáng tác, nó ca tụng cái mô hình "thương chơi" hết lời, vậy mà bây giờ, bắt đầu điên đảo vì nhỏ Gia Khanh, nó lại nói khác!
Nghe cái giọng tiền hậu bất nhất của Ngữ, tôi đâm ra ngờ ngợ nó không phải là cái thằng Ngữ trước đây. Nó đã thay đổi lắm rồi. Nó không còn là Ngữ. Bây giờ nó là nhà thơ Ngu Kha.
Quả như Ngữ dự kiến, cái tên Ngu Kha không tạo nên một ấn tượng nào. Chẳng ai màng để ý đến tên tiểu tốt vô danh đó. Trước đây, tụi trong lớp làm ầm ĩ về "hiện tượng" Thanh Khương bao nhiêu thì lần này chúng tỏ ra thờ ơ với tác giả Ngu Kha bấy nhiêu. Ngay cả thằng Bá quỉ quái cũng không hề mảy may ngờ vực.
Tôi vỗ vai Ngữ, nịnh nọt:
- Chúc mừng mày!
- Chúc mừng gì? - Ngữ ngạc nhiên hỏi lại.
Tôi cười cười:
- Thì chuyện bài thơ của Ngu Kha đó. Đúng như mày phán đoán, chẳng đứa nào biết Ngu Kha là mày.
Tôi tưởng tôi khen nó, nó sẽ khoái phổng mũi. Nào ngờ Ngữ nổi dóa:
- Chúc mừng cái con khỉ! Tao đang rầu thúi ruột về chuyện đó đây nè!
Tôi chưng hửng:
- Sao kỳ vậy? Tụi nó có nghi mày đâu!
Mặt Ngữ vẫn quạu quọ:
- Thì không nghi. Cả lớp không đứa nào nghi. Em Gia Khanh cũng không nghi nốt.
Tôi càng ngơ ngác:
- Vậy là tốt chứ sao! Mày chẳng muốn vậy là gì!
- Chỉ có thằng ngốc thì mới muốn vậy! - Ngữ sẵng giọng - Còn tao, tao muốn khác!
Tôi liếm môi:
- Mày muốn sao?
Ngữ nuốt nước bọt:
- Tao muốn cả lớp không biết nhưng riêng Gia Khanh thì... biết.
Đến đây thì tôi sực hiểu. Thằng Ngữ đang đứng nhăn nhó trước mặt tôi là thằng Ngữ "thương thiệt", đôi lúc tôi quên khuấy đi mất, tôi cứ tưởng nó là thằng Ngữ "thương chơi" ngày xưa.
- À, à, thì ra vậy! - Tôi gật đầu và nói bằng giọng hiểu biết - Nếu Gia Khanh không biết Ngu Kha là mày thì nó đâu có biết được tình ý của mày.
Thấy tôi đột nhiên sáng dạ, Ngữ mừng lắm. Nó đập đập tay lên vai tôi:
- Mày hiểu ra vấn đề rồi đấy! Cái bút hiệu Ngu Kha cũng giống như con tàu vận tải, nó chuyên chở tình cảm của tao đến với em Gia Khanh. Nhưng nếu em không biết được cái ý nghĩa thâm trầm của hai chữ đó, coi như tàu tao không cặp bến, nó cứ lênh đênh suốt đi ngoài biển. Tình cảm của tao không ai tiếp nhận, không ai bốc dỡ, nó sẽ thối rữa đi. Thế là tao sẽ... lăn đùng ra chết!
Ngữ hù tôi chết khiếp. Nó làm tôi lo âu quá chừng. Tôi hoang mang hỏi lại:
- Trước đây, trong những bài thơ thất tình của mày, lúc nào tao cũng thấy mày tuyên bố là mày sắp chết đến nơi. Nhưng rồi mày có chết quái gì đâu!
Ngữ thở dài:
- Hồi đó khác, bây gi khác. Hồi đó tao chỉ thương chơi, nên có chết cũng là chết... giỡn. Còn bây giờ...
Ngữ không nói hết câu. Nhưng cái giọng não nuột của nó khiến tôi xốn xang quá thể. Tôi chớp mắt:
- Vậy làm sao bây giờ?
Thấy tôi có vẻ động lòng, Ngữ hớn hở ra mặt. Hình như từ nãy đến giờ, nó chỉ đợi có thế. Vì vậy, tôi hỏi vừa dứt câu, nó đáp liền:
- Chỉ có một cách!
Vừa nói, Ngữ vừa nhìn tôi bằng ánh mắt ma mãnh, thật khác xa với vẻ ai oán khi nãy. Tôi tò mò hỏi, không biết Ngữ đang giăng bẫy:
- Cách gì?
Ngữ hấp háy mắt:
- Mày phải giúp tao làm cho em Gia Khanh hiểu ra điều đó.
Lời đề nghị của Ngữ khiến tôi kêu lên sửng sốt:
- Tao? Tao giúp mày?
Ngữ thản nhiên:
- Thì vậy chứ sao?
- Mày giỡn chơi hả Ngữ? - Tôi tiếp tục kêu lên, giọng vẫn chưa hết thảng thốt - Làm sao tao có thể giúp mày được? Mày thừa biết là tao không thèm nhìn mặt tụi con gái kia mà...
Ngữ nóng nảy cắt ngang lời từ chối của tôi:
- Mày đừng có giả vờ! Mấy hôm nay tao thấy mày "nhìn mặt" em Gia Khanh rõ ràng. Không những "nhìn mặt" mà còn trò chuyện nữa. Tao thấy hết. Mày đừng có hòng lấy vải thưa che mắt thánh!
Tôi đỏ mặt:
- Tao nói chuyện với Gia Khanh hồi nào?
Ngữ "xì" một tiếng:
- Thôi đừng làm bộ mày ơi! Mày không nói chuyện với nó sao nó quay xuống chỗ mày hoài?
- À, - Tôi nhớ ra - đó là nó hỏi mượn tao cây thước kẻ.
Trong lớp, nhỏ Gia Khanh ngồi ngay trước mặt tôi. Nó ngồi giữa nhỏ Hồng và nhỏ Đan Tâm. Hồi nào đến giờ, đối với tụi con gái trong lớp, tôi "lạnh lùng" nổi tiếng. Ngoài biệt danh "Tam Tạng", "thánh sống" tụi thằng Bá đặt cho tôi, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe tụi con gái kêu tôi là... người mặt sắt. Xưa nay, người mặt sắt cóc thèm trò chuyện với bọn tiểu thư, ngược lại tụi nó cũng tẩy chay người mặt sắt.
Nhỏ Gia Khanh mới chuyển về nên không biết "thông lệ" đó. Nó bắt chuyện với tôi tỉnh bơ. Thật ra nội dung giao tiếp chẳng có gì ghê gớm. Gia Khanh chỉ "tâm sự" với tôi toàn chuyện... mượn đồ. Thỉnh thoảng nó quay xuống chỗ tôi, hỏi:
- Khoa cho Gia Khanh mượn cây thước kẻ chút nghen.
- Khoa có cục gôm không?
Tôi không hiểu sao Gia Khanh không hỏi mượn những đứa ngồi kế bên tôi mà nó cứ nhè ngay tôi mà hỏi. Chắc là nó thấy tôi mặt mày hiền lành, ngờ nghệch, không có vẻ gì là... nhà thơ Thanh Khương, mắt cũng không chiếu "yêu khí" như Hòa lé, nên nó "tín nhiệm" tôi chăng!
Nó hỏi mượn, chẳng lẽ tôi từ chối. Tôi đành phải đưa thước, đưa gôm cho nó. Nó hỏi thứ gì, tôi đưa thứ đó, mép không nhích một tí ti. Gia Khanh không buồn quan tâm đến thái độ lạnh nhạt của tôi. Nó cứ quay xuống mượn đồ của tôi hoài. Và mỗi khi đưa trả, bao giờ nó cũng mỉm cười thân thiện:
- Cảm ơn Khoa nghen!
Nó cười, chẳng lẽ tôi khóc. Thế là tôi đành phải nhe răng "hì" một cái cho đúng phép lịch sự.
q.uan hệ giữa tôi và Gia Khanh truớc sau chỉ có thế, mong manh và hời hợt. Vậy mà thằng Ngữ ngồi tít ở bàn chót dãy bên kia lại biết rõ mồn một. Chắc vào lớp nó không lo học mà suốt buổi ngồi chong mắt theo dõi nhất cử nhất động của nhỏ Gia Khanh.
Thấy tôi xác nhận Gia Khanh có q.uan hệ "hỏi-mượn" với tôi, mắt Ngữ sáng rỡ:
- Vậy là mày thừa nhận rồi hén?
- Thừa nhận gì?
- Thừa nhận mày có nói chuyện với em Gia Khanh.
Tôi nhún vai:
- Chỉ có nó nói thôi. Còn tao, tao chỉ cười ruồi.
Ngữ tiếp tục gạ:
- Mày chưa nói thì bây giờ mày nói.
- Nói chuyện gì? - Tôi tròn mắt.
Ngữ cười tủm tỉm:
- Mày hỏi xem nó có biết ý nghĩa của bút danh Ngu Kha không?
Tôi giật thót:
- Thôi đi mày! Tự nhiên ai lại đi hỏi chuyện đó!
- Sao lại tự nhiên? - Ngữ nhướng mắt - Mày phải nghĩ ra một cái cớ gì chứ!
- Cớ gì?
- Thì mày nghĩ đi!
Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi lắc đầu:
- Tao chịu.
- Mày dở quá! - Ngữ hắng giọng phê bình - Có cái cớ cỏn con mà mày nghĩ cũng không ra!
Rồi nó chậm rãi hiến kế:
- Trước tiên mày phải hỏi nó đã đọc tờ báo tường của lớp chưa. Nó bảo đọc rồi, mày phải hỏi tiếp nó có đọc bài thơ của thi sĩ Ngu Kha không. Nó bảo có. Mày lại hỏi "Thế Gia Khanh có biết Ngu Kha nghĩa là gì không?"...
Ngữ mưu kế như thần. Nó nói tới đâu, tôi dỏng tai tiếp thu đến đó. Theo như kế hoạch nó vừa vạch ra thì việc tôi giúp nó cũng không đến nỗi khó lắm. Chỉ kẹt một nỗi, trước nay tôi không có thói quen trò chuyện với tụi con gái, bây giờ mở miệng hỏi này hỏi nọ, tôi cảm thấy lúng túng và ngượng ngập làm sao! Tôi nói điều đó với Ngữ. Nó không buồn để ý đến nỗi khổ tâm của tôi, mà nghiêm giọng hỏi:
- Họa sĩ chính của tờ báo tưng lớp mình là ai hén?
Tôi không hiểu tại sao Ngữ lại hỏi một câu ngớ ngẩn như vậy. Nhưng tôi vẫn trả lời, giọng không giấu vẻ hoang mang:
- Tao... chứ ai!
Vừa đáp, tôi vừa nhìn Ngữ lom lom. Nhưng nó ngó lơ chỗ khác, thản nhiên hỏi tiếp:
- Nhờ ai mà mày được cất nhắc lên cái chức vụ quan trọng đó hén?
Tới đây thì tôi biết là Ngữ muốn đòi "hối lộ". Nó muốn chơi trò "ân đền oán trả". Nó muốn "hại" tôi.
- Thì nhờ... mày. - Tôi đáp và nghe thấy tim mình như thót lại.
Trong khi đó, mặt Ngữ tươi hơn hớn. Nó cười duyên:
- Vậy đến lượt tao nhờ mày, mày có giúp không?
Tôi bị Ngữ "chiếu bí". Con tướng bị xe pháo kẹp chết đứng, dòm dáo dác chung quanh thấy hết đường chạy, đành rầu rĩ gật đầu:
- Giúp.
Miệng tôi nói "giúp" nhưng bụng tôi chửi thằng Ngữ tơi bời hoa lá. Thật tôi chưa thấy ai "nhờ bạn" sỗ sàng như nó. Mà đang ở dạng "thương chơi", tự nhiên nó "chuyển hệ" qua "thương thiệt" làm gì cho khổ tôi không biết! Cứ Nguyễn Văn Ngữ như xưa nay là được rồi, tự dưng lại bày đặt Ngu Kha! Dỏm ơi là dỏm!

Chương 8: Hoa Hồng Xứ Khác
Số thằng Ngữ là số xui. Kể từ hôm tôi hứa giúp nó, nhỏ Gia Khanh không quay xuống mượn đồ của tôi nữa. Gia Khanh mua một cây thước và một cục gôm. Nó kẻ rẹt rẹt. Nó gôm rào rào. Toàn bằng đồ của nó.
Tôi ngồi nhấp nhỏm trên ghế suốt ba ngày, chờ Gia Khanh quay xuống để chơi trò "đố vui để học" theo kịch bản của Ngữ. Nhưng tôi chỉ hoài công.
Ngữ thất vọng ra mặt. Sốt ruột theo dõi mấy ngày liền, thấy tôi chưa "phỏng vấn" Gia Khanh được câu nào, nó nhăn mặt trách móc:
- Thật tao chưa thấy ai vô tích sự như mày! Chiến trường gì mà im ru bà rù, không bên nào nổ được một phát súng!
Tôi thở dài:
- Nó không quay xuống làm sao tao "nổ"? Chẳng lẽ tao bắn lén sau lưng?
Nghe tôi phân trần, Ngữ tặc lưỡi, không nói gì. Chắc nó nhận ra nó vừa trách oan tôi.
Hai đứa lặng lẽ nhìn nhau, đầu loay hoay nghĩ kế. Một lát, Ngữ chép miệng nói, giọng trầm ngâm:
- Thôi, tụi mình ráng chờ thêm vài hôm nữa! Nhiệm vụ của mày vẫn như cũ. Cứ "canh" em thật sát, hễ em quay đầu xuống là mày "nổ" liền!
Chuyện tình cảm mà thằng Ngữ nó nói nghe phát ớn, nghe cứ như m.áu chảy đầu rơi tới nơi! Tôi bâng khuâng hỏi lại:
- Nhỡ nó không quay xuống thì sao?
Ngữ khịt mũi:
- Em sẽ quay! Nhất định em sẽ quay! Em sẽ hỏi mượn mày một cái gì đó!
Tôi trố mắt:
- Một cái gì là một cái gì? Thước, gôm bây gi nó đã có đủ, nó có cần mượn tao nữa đâu!
Ngữ vẫn khăng khăng:
- Nhưng em sẽ hỏi mượn một cái khác! Một cái gì đó!
Rồi thấy mặt mày tôi vẫn ngơ ngơ ngác ngác, Ngữ hùng hồn giải thích:
- Mày cóc hiểu tâm lý con người ta gì hết! Cái đứa nó đã không thích mượn đồ thì có cho vàng nó cũng không hé môi hỏi mượn. Còn cái đứa có thói quen mượn đồ người khác như em Gia Khanh thì trước sau gì em cũng sẽ lại hỏi mượn. Không mượn cái này thì mượn cái khác. Không mượn em chịu không được.
Sau khi lên lớp cho tôi một bài về "khoa tâm lý... mượn đồ", Ngữ bỏ đi mất. Tôi không biết Ngữ có tin lời mình nói hay không, nhưng nhìn theo dáng đi thất thểu của nó, tôi đoán rằng nó chẳng phấn khởi bao nhiêu.
Tôi buồn không thua gì Ngữ. Những ngày vừa qua đối với tôi là những ngày trống vắng. Khi Gia Khanh quay xuống hỏi mượn cái này cái nọ, mặt tôi lầm lì nhưng bụng lại thấy vui vui. Đến khi nó làm lơ, tự dưng tôi cảm thấy thiếu thiếu một cái gì. Lần đầu tiên trong đời tôi trải qua một cảm giác lạ lùng như vậy. Tâm trạng thẫn thờ đó khiến tôi cảm thấy bất an quá chừng.
Gia Khanh không giống như tụi con gái mà tôi vẫn dè chừng trước nay. Nó xinh đẹp và dịu dàng. Lại hiền hậu nữa. Nhìn vẻ mặt âm u của tôi, nó không quay mặt đi, nhổ nước bọt và lẩm bẩm "đồ... mặt sắt" như những đứa khác. Nó vẫn tươi tỉnh như không. Mỗi khi trả đồ nó còn thân ái cảm ơn tôi bằng cái giọng ngọt ngào và du dương như hát. Sau này tôi mới vỡ lẽ ra là Gia Khanh hát rất hay và nó nhanh chóng trở thành giọng nữ chính của ban văn nghệ lớp tôi.
Trong những ngày bềnh bồng đó, tự nhiên tôi đâm ra nghi ngờ những câu "châm chích... ngôn" trong sổ tay của tôi. Suốt mấy năm qua, tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối vào những lời vàng ngọc dành cho đàn ông đó. Vậy mà chỉ cần ba ngày Gia Khanh không hỏi mượn đồ, niềm tin đó lập tức lung lay như cây non gặp bão. Bây giờ, ngay cả "kinh" cũng không răn được tôi nữa. Kinh Talmud từng nói cái lưỡi đàn bà là một trong những sai lầm khó chịu nhất của tạo hóa. Trước đây, kinh dạy sao, tôi nghe vậy. Nhưng từ khi sao chổi Gia Khanh xuất hiện, tôi lại nghĩ khác: chỉ kinh sai lầm thì có, chứ tạo hóa chẳng sai lầm tí ti ông cụ nào! Cái lưỡi của Gia Khanh là cái lưỡi tuyệt vời, lời ăn tiếng nói của nó mới êm ái làm sao!
Trong khi chờ đợi Gia Khanh quay xuống hỏi mượn "một cái gì đó", như lời dự đoán của Ngữ, tôi tẩn mẩn lục tìm trong sách báo và vô cùng ngỡ ngàng khi phát hiện ra vô số câu thành ngữ và vô số nhà thông thái không tiếc lời tán dương phụ nữ. Họ ca ngợi "kẻ thù" của tôi lên tận mây xanh. Nào là "Trên đời này chỉ có hai cái đẹp: phụ nữ và hoa hồng", nào là "Phụ nữ là nhà giáo dục đầu tiên", nào là "Phụ nữ được tạo dựng nên để làm dịu sự hung hãn trong tính cách của người đàn ông", ôi thôi đủ thứ! Ngay cả đại văn hào như ông Balzac cũng "bơm" phụ nữ hết biết: "Rung cảm, yêu, chịu đau khổ, hy sinh: những chữ này mãi mãi dệt nên trang đời của phụ nữ". Nếu phụ nữ "tuyệt diệu" như ông nói thì đặt quách họ lên bàn thờ mà lạy cho rồi! Hẳn lòng ông nghĩ thế nhưng ông ngại nói thẳng ra đấy thôi! Chả bù với ông Legouver! Ông này thì nói huỵch toẹt, không úp mở: "Bạn hãy quì dưới chân những người cùng phái với mẹ bạn!". Ôi, nghe ông xúi mà tôi phát khiếp!
Tôi chưa hề quì dưới chân bất cứ một đứa con gái nào, nhưng tôi đã từng bị con quỷ Mỹ Hạnh gạt cho tôi quì dưới chân... bảng đen suốt một buổi ê ẩm trước hàng chục cặp mắt xoi mói của bạn bè. Mối thù đó, tôi nhớ đời. Và từ đó, tôi không bao giờ tưởng tượng được có một người đàn ông nào trên cõi đời này lại điên khùng mở miệng đi khen ngợi phụ nữ. Hóa ra, sự thể không giống như tôi nghĩ. Những câu danh ngôn"xu nịnh" phụ nữ kia càng giúp tôi hiểu sâu sắc hơn câu ca dao "Ở đâu cũng có anh hùng, ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên". Và tôi cũng hiểu thêm rằng những nhà thông thái không phải lúc nào cũng tỏ ra thông thái. Hoặc giả, có hai loại người thông thái khác nhau. Thoạt đầu, có lẽ họ cũng đoàn kết với nhau trong một khối thuần nhất và rắn chắc. Kể từ khi bọn đàn bà con gái xuất hiện, bọn này mới chia họ ra thành hai phe. Phe yêu, phe ghét.
Sự khám phá muộn màng và bất ngờ này khiến tôi bối rối vô kể. Trước nay, tôi thuộc phe ghét. Năm ngoái, tôi lỡ yêu một lần, cũng chỉ "yêu chơi". Nhưng từ hôm Gia Khanh nhập học đến nay, tôi bỗng nghiệm ra tụi con gái rắc rối hơn tôi tưởng nhiều. Không phải đứa nào trong bọn chúng cũng đáng ghét như nhỏ Mỹ Hạnh hay nhỏ Hồng. Cũng có những đứa dịu dàng mà tụi con trai chúng tôi hoàn toàn có thể thương... thiệt.
Nghĩ ngợi vẩn vơ một hồi, tôi chợt giật mình. Tôi cảm tưởng tôi đang lây bệnh của thằng Ngữ. Mấy hôm nay, nó chuyển qua "thương thiệt", nó nhờ tôi giúp. Tôi giúp nó chưa xong, lại đi bắt chước nó, chắc mọi sự rối tung. Nghĩ vậy, tôi hãi quá. Tôi ra sức giữ gìn. Tôi cố dằn lòng tụng niệm. Tôi là thầy Tam Tạng. Thiên Trúc đi gần tới nơi, đừng bắt tôi nửa đường "chuyển hệ" thành... Trư Bát Giới, hễ thấy con gái là mê tít thò lò.
Ngữ chẳng nghi ngờ gì tôi. Ngày ngày nó vẫn ngồi thấp thỏm quan sát trận địa từ xa. Nó chong mắt chờ Gia Khanh quay xuống hỏi mượn tôi "một cái gì đó".
Trong khi tôi đinh ninh lời tiên đoán của Ngữ sẽ không bao giờ xảy ra thì bỗng một hôm, Gia Khanh hỏi mượn đồ của tôi thật. Dĩ nhiên, nó không mượn thước, mượn gôm. Lần này, nó hỏ mượn viết:
- Khoa có viết đỏ không, cho Gia Khanh mượn đi!
Tôi đang xài cây viết hai màu, màu xanh và màu đỏ. Tôi liền nhanh nhẹn đưa cho nó, miệng kèm theo một nụ cười thật tươi. Trước đây, trong những trường hợp như thế này, tôi không bao gi cười. Gia Khanh hỏi món gì, tôi làm thinh đưa món đó, mặt lạnh như tiền. Nhưng lâu nay nó không q.uan hệ "hỏi-mượn" với tôi, tôi thấy nhớ nhớ. Vì vậy, sáng nay vừa bắt gặp đôi mắt long lanh quen thuộc quay xuống, tôi nghe tim mình đập thình thịch và lập tức nhoẻn miệng cười.
Khi Gia Khanh quay lên, tôi liếc xuống chỗ Ngữ ngồi. Nó đang nhìn tôi, nháy nháy mắt, mặt mày rạng rỡ như hoa mùa xuân. Chắc hẳn nó vui lắm! Tội nghiệp, nó đâu có biết tôi vui hơn nó gấp tỉ lần.
Lát sau, Gia Khanh lại quay xuống. Nó trả viết cho tôi và như thường lệ, nó cảm ơn tôi bằng cái giọng êm ái như ru.
Còn tôi, khác với thường lệ, lần này Gia Khanh chưa kịp quay lên, tôi đã đánh bạo "nổ" trước:
- Gia Khanh... nè!
Tôi thấy Gia Khanh giật nẩy người. Có lẽ hiện tượng "cóc mở miệng" khiến nó vô cùng sửng sốt. Sau một thoáng bàng hoàng, Gia Khanh chớp mắt nhìn tôi và hỏi bằng giọng ngạc nhiên:
- Khoa nói gì?
Tự nhiên tôi cảm thấy lúng túng. Sau một thời gian dài cắt đứt q.uan hệ với tụi con gái, bây giờ chủ động gợi chuyện, tôi không biết phải bắt đầu như thế nào.
Đang bối rối, sực nhớ đến những lời Ngữ dặn, tôi ấp úng hỏi:
- Gia Khanh đã đọc tờ báo tường của lớp mình chưa?
Trong khi tôi đang cố nhớ câu hỏi tiếp theo là câu gì thì Gia Khanh lắc đầu, tỉnh khô:
- Chưa.
Gia Khanh làm tôi chưng hửng. Tờ báo treo lên đã mười ngày nay rồi, nó bận chuyện gì mà chưa đọc không biết! Mà nó chưa đọc thì làm sao tôi giúp Ngữ được! Chẳng biết nói gì, tôi bần thần hỏi lại:
- Gia Khanh chưa đọc thật à?
- Thật! - Gia Khanh gật đầu, rồi nó chép miệng nói tiếp - Gia Khanh chỉ mới đọc lướt qua mấy bài thơ!
Ồ, vậy là được rồi! - Tôi mừng quýnh, nhủ bụng - Thằng Ngữ cũng chỉ cần có thế thôi! Và tôi sốt sắng hỏi tiếp:
- Gia Khanh có đọc bài thơ của Ngu Kha không?
Gia Khanh không biết tôi định dẫn nó đi đến đâu nhưng nó vẫn thật thà đáp:
- Có. Bài thơ viết về tình thầy trò chứ gì?
- Ừ.
Gia Khanh buột miệng xuýt xoa:
- Bài thơ cảm động ghê!
Gia Khanh khen bài thơ của Ngu Kha làm tôi tức anh ách. Tôi đang giúp Ngữ, nhưng thấy nó sắp sửa thành công, tôi lại đâm ra ghen tị, bứt rứt. Nhưng đã lỡ hứa với nó, tôi phải gắng làm tròn trách nhiệm. Tôi liếm môi, hỏi câu quyết định:
- Thế Gia Khanh có biết Ngu Kha là ai không?
- Làm sao Gia Khanh biết được!
Gia Khanh đáp với vẻ ngỡ ngàng. Và chẳng hiểu nó đã rõ âm mưu đen tối của bọn tôi chưa mà nó bỗng hỏi lại, giọng cảnh giác:
- Nhưng Ngu Kha là ai, việc đó đâu có dính dáng gì đến Gia Khanh?
Tôi cười chúm chím:
- Có đấy! Tại Gia Khanh không biết đó thôi!
Rồi thấy Gia Khanh vẫn chưa hiểu, tôi bèn giải thích:
- Chữ Kha tức là tên Khanh đấy!
- Kha sao lại là Khanh?
- Ừ, đó là tên Khanh bỏ chữ "nh".
Mặt Gia Khanh thoạt ửng đỏ. Tôi tưởng nó sẽ quay phắt đi. Nhưng không, Gia Khanh mỉm cười, láu lỉnh:
- Thế còn chữ Ngu? Ngu là gì?
Tôi hắng giọng:
- Ngu là tên người... khác.
- Người khác là ai?
Gia Khanh hỏi thẳng làm tôi đâm hoảng. Mục đích của cuộc "đối thoại" hôm nay là làm cho Gia Khanh hiểu được tình ý của Ngữ. Từ nãy đến giờ, tôi phải cất công dệt từng mắt lưới để giăng bẫy Gia Khanh, nhưng đến khi nó rơi vào tròng rồi, tôi lại đâm ra lóng ngóng, không biết xử lý ra sao. Thái độ điềm tĩnh của Gia Khanh khiến tôi không đủ can đảm khai tên thủ phạm. Tôi đành nói vòng vo:
- Thì Gia Khanh thử đoán coi! Lớp mình đâu có mấy người "ngu"!
Chửi xỏ thằng Ngữ được một câu, tôi khoái lắm. Còn Gia Khanh thì không nói gì. Nó khẽ nhíu mày và lặng lẽ quay lên. Chắc nó đang nát óc tìm xem cái đứa "ngu" trong lớp là đứa nào!
Trưa đó, trên đường về, Ngữ chạy lại bá vai tôi, rối rít hỏi:
- Sao? Mày nói gì với em chưa?
- Rồi.
- Mày nói sao?
- Thì những gì mày đã dặn.
Ngữ có vẻ sốt ruột trước những câu trả lời lừng khừng của tôi. Nó nhăn nhó:
- Nhưng cụ thể là sao chứ? Mày tường thuật tỉ mỉ nghe coi!
Tôi liền "tường thuật tỉ mỉ". Vừa nói, tôi vừa liếc Ngữ. Mặt nó căng ra như mặt trống, cặp mắt thì thao láo, tai dỏng lên như tai mèo, điệu bộ nom hài hước dị dạng quá chừng.
Kể đến chỗ chữ Ngu, tôi bỗng ngập ngừng. Ngữ chột dạ:
- Mày làm gì ấp a ấp úng vậy? Em có biết Ngu là tao không?
Tôi gật đầu:
- Biết.
- Mày nói hả?
Tôi lắc đầu:
- Tao không nói. Tao chỉ bảo nó tự đoán lấy. Mà lớp mình thì chỉ có một mình mày "ngu" chứ đâu còn ai "ngu" nữa!
Lâu nay, tôi luôn luôn bị "lép vế" trước mặt Ngữ, bây giờ lợi dụng thời cơ nghìn năm có một, tôi chửi nó chơi. Tưởng Ngữ sẽ nổi khùng cự lại, nào ngờ bữa nay nó hiền khô. Không những nó không giận tôi mà còn ngoác miệng ra cười:
- Cho mày chửi! Mày cứ giúp tao tận tình vào, rồi muốn chửi bao nhiêu cũng được! Tha hồ!
Ngữ làm tôi kinh ngạc thực sự. Thời nó còn "thương chơi", tôi mới đụng nó một câu, nó nói lại mười câu. Bây giờ "thương thiệt", nó tự dưng từ bi bác ái quá chừng. Chẳng lẽ đó là triệu chứng của bệnh... yêu sao?
Tôi tự hỏi và không trả lời được. Ngữ chắc thừa sức giải đáp, nhưng tôi không tiện hỏi. Lúc này, Ngu Kha bận bù đầu. Ngày nào nó cũng sáng tác cả chục bài thơ. Nó hút thuốc vàng tay. Tối, nó thức khuya lơ khuya lắc, tẩy tẩy xóa xóa. Sáng ra mắt nó đỏ kè.
Dòm nó, tôi không hiểu rốt cuộc thì "thương thiệt" là ngu hay khôn!

Chương 9: Hoa Hồng Xứ Khác
Hòa lé lại vùng lên.
Sau một thời gian "bại liệt", nó bắt đầu gượng dậy và tập tễnh đi tiếp con đường tình dang dở. Nó có vẻ quyết tâm thực hiện lời hứa "trường kỳ" của mình.
Nhưng lần này, Hòa rút kinh nghiệm. Nó không dám sử dụng tia phóng xạ của đôi mắt nó vào mục đích tình cảm nữa. Nó xài vũ khí cao cấp hơn: âm nhạc!
Ngay từ năm lớp mười, với chất giọng trầm ấm, mượt mà, Hòa đã là giọng ca vàng và là niềm tự hào của lớp tôi trong những cuộc thi văn nghệ toàn trường. Năm nay, lại thêm Gia Khanh hát cặp với nó. Thật hạnh phúc hết biết!
Thoạt đầu, khi xây dựng hoạt cảnh "Trầu Cau" chuẩn bị tham gia liên hoan văn nghệ tất niên của các khối lớp, ban văn nghệ lớp tôi định "kéo" Gia Khanh vào để làm... king. Không đứa nào biết Gia Khanh hát hò ra sao nhưng thằng Châu, trưởng ban văn nghệ kiêm đánh trống, cứ nằng nặc đòi phải "chiêu mộ" cho bằng được Gia Khanh. Theo nó, Gia Khanh không cần hát. Chỉ cần Gia Khanh đứng trên sân khấu và mấp máy môi theo những đứa khác là đạt yêu cầu "biểu diễn" rồi.
Châu là chúa ba hoa. Nghe nó lý luận một hồi, mấy đứa kia bùi tai nghe theo liền. Hòa lé thì đồng ý ngay từ đầu. Nó còn tán thêm:
- Hễ Gia Khanh xuất hiện , sân khấu nó "sáng" liền! Tiết mục của mình đoạt giải là cái chắc!
Khi mời Gia Khanh tham gia, dự định của ban văn nghệ là như vậy. Không ngờ lúc tập dượt, Gia Khanh mới hát thử vài câu, cả đám đứng chết sững.
Hóa ra Gia Khanh hát hay tuyệt vời.
Giọng nó trong trẻo, mềm mại và truyền cảm đến mức sau này nhà thơ Ngu Kha phải làm tổng cộng đến mười bài lục bát và sáu bài tứ tuyệt để ca ngợi mà vẫn cảm thấy "không lột tả hết" như tác giả bất lực thú nhận.
Thằng Châu thì chẳng cần thơ thẩn gì. Vừa nghe Gia Khanh thử giọng một, hai câu, nó rùng mình nức nở khen:
- Thật bất ngờ! Đây là tiếng hát vượt... bức tường âm thanh!
Tiếp đó, ban văn nghệ xúm vào, mỗi người khen một câu.
Riêng Hòa lé chẳng bình luận gì. Nó ngồi im trên bục gỗ lặng lẽ cười ruồi. Chỉ có đôi mắt nó là long lanh tinh quái. Chắc nó hiểu: dịp may đã đến!
Kể từ lúc đó Hòa lĩnh xướng bên nam, Gia Khanh lĩnh xướng bên nữ. Và cả hai bao giờ cũng đứng cặp với nhau trong những tiết mục song ca.
Khách quan mà nói, đó là đôi song ca sáng giá nhất trường. Từ khi đứng chung với nhau, Hòa và Gia Khanh đem về cho lớp hết giải thưởng này đến giải thưởng khác.
Thành công vang dội đó khiến cho hầu hết thành viên của lớp nở mày nở mặt. Dĩ nhiên, bên cạnh đa số hân hoan vẫn lấp ló những khuôn mặt ỉu xìu như bánh đa nhúng nước. Như nhà thơ Ngu Kha chẳng hạn.
Xem Hòa và Gia Khanh biểu diễn trên sân khấu, Ngữ hừ mũi bình luận:
- Thằng Hòa nó cà giựt cứ y như khỉ mắc phong!
Thấy Hòa đứng sát rạt Gia Khanh, tôi bực bội không thua gì Ngữ, liền cay cú đế thêm:
- Nó còn đụng cả vào tay Gia Khanh nữa kìa!
Như lửa được đổ thêm dầu, Ngữ sầm mặt rít qua kẽ răng:
- Đồ ma giáo!
Một lát, tôi lại kêu lên:
- Trời, coi cặp mắt nó kìa! Hát không lo hát, nó cứ liếc Gia Khanh hoài!
Ngữ lại cau mặt:
- Đồ... đồ... lé kim!
Hòa không biết tôi và Ngữ đang thi nhau chửi nó. Nó lại nhoẻn miệng cười duyên và nghiêng đầu về phía Gia Khanh một cách t.ình tứ. Tôi vội bấm Ngữ:
- Trời ơi, coi nó ngả ngớn chưa kìa!
Ngữ nghiến răng và thu nắm tay lại. Nhưng lần này không tìm ra từ ngữ cay độc nào để gán cho Hòa, Ngữ cứ cà lăm:
- Đồ... đồ... đồ...
Ngữ cứ "đồ" hoài khiến tôi sốt cả ruột. Mãi một lúc lâu, Ngữ mới xổ được nỗi ấm ức:
- Đồ... xướng ca vô loài!
Tôi giật mình liếc Ngữ:
- Quan niệm đó cổ lỗ rồi mày!
Ngữ nhún vai:
- Cổ lỗ nhưng áp dụng vào trường hợp thằng Hòa thì đúng chóc! Nó lợi dụng chuyện hát hỏng để tán tỉnh em Gia Khanh. Nó làm vẩn đục sự thánh thiện của âm nhạc. Tao phải... móc mắt nó!
Tôi tái mặt:
- Giỡn chơi mày!
Thấy tôi hốt hoảng, Ngữ nhe răng cười:
- Thì giỡn chơi chứ sao! Tao không móc mắt, nhưng tao sẽ "ngáng chân" nó. Rồi mày coi, nó sẽ ngã nhào!
Tôi thở phào. Ngữ không đòi móc mắt Hòa, tôi cảm thấy yên tâm. Ngữ dọa "ngáng chân" Hòa, tôi lại càng phấn khởi.
Từ ngày được thượng đế sắp xếp đứng cạnh Gia Khanh, Hòa bắt đầu sửa tướng. Ra sân khấu, nó làm điệu hết biết. Mỗi lần nhìn nó õng a õng ẹo, tôi thấy xốn con mắt quá chừng. Đã vậy, mặt nó lúc nào cũng nhơn nhơn tự đắc, làm như trái tim của Gia Khanh đã ở sẵn trong túi nó vậy. Đang bực mình, chưa nghĩ ra cách nào để "hại" thằng Hòa bỗng nghe Ngữ xung phong đòi "phá đám", tôi ủng hộ liền. Mặc dù suy cho cùng, Ngữ cũng chẳng tốt lành gì hơn Hòa. Nó trách Hòa dùng lời ca tiếng hát để phục vụ cho những ý đồ "hắc ám" trong khi nó lén lút sử dụng thi ca vào những mục đích cũng "hắc ám" không kém. Nhưng tôi không buồn thắc mắc, vặn vẹo. Trước nguy cơ đang đến từ âm nhạc, tôi cần phải chung lưng đấu cật với Ngữ. Tôi nói:
- Ừ, mày ngáng chân nó đi!
Ngữ gật gù:
- Tao sẽ ngáng.
Tôi không nén được tò mò:
- Mày ngáng bằng cách nào?
Ngữ liếm môi:
- Cách nào à? Hừm, dĩ nhiên là bằng... thơ.
Tôi há hốc miệng:
- Thơ?
- Thì thơ chứ sao! Đó là vũ khí sở trường của tao mà!
Tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên:
- Nhưng thơ làm sao "ngáng" được?
Ngữ khoát tay:
- Được tuốt!
- Được tuốt?
- Ừ. Tao sẽ làm thơ, ký tên Ngu Kha.
Tôi thất vọng ra mặt:
- Hừ! Tưởng sao! Thì trước nay mày vẫn đăng thơ của Ngu Kha vậy!
Ngữ tặc lưỡi:
- Mày ngốc quá! Thơ đó thì ăn thua gì! Muốn "ngáng chân" thằng Hòa, tao phải đăng những bài thơ tình thống thiết của Ngu Kha. Trước nay Ngu Kha sợ bạn bè bắt thóp nên chỉ dám "công bố" những bài thơ về tình bạn, tình thầy trò hoặc những bài tả cảnh vớ vẩn. Lần này Ngu Kha sẽ xuất hiện với gương mặt tình yêu.
- Mày không sợ tụi kia biết?
Ngữ khịt mũi:
- Mặc tụi nó! Tình thế đã đến nước này, tao đành phải liều. Hơn nữa, em Gia Khanh đã biết Ngu Kha là tao, tao không thể câm miệng hến mãi.
Tôi nhìn Ngữ, băn khoăn:
- Nhưng liệu những bài thơ của mày có ngáng cẳng được thằng Hòa không?
Ngữ trợn mắt:
- Đừng đụng chạm đến tự ái anh em, mày! Chẳng lẽ một nhà thơ như tao lại không có sức thu hút hơn thằng Hòa lé! Chắc chắn khi đọc được những vần thơ tỏ tình ướt át của tao, em Gia Khanh sẽ bỏ mặt thằng Hòa đứng lẻ loi một mình trên sân khấu. Em sẽ chạy bổ về phía tao và thổn thức kêu lên "hỡi hoàng tử của lòng em, anh chính là người mà em tìm kiếm bấy lâu nay...". Sau đó em sẽ âu yếm ngã vào...
Giọng Ngữ nửa đùa nửa thật. Ngôn ngữ của nó hồ quảng pha cải lương. Nhưng dù nó đùa hay thật, lòng tôi vẫn thấy nhói đau. Trước đây, thấy Hòa cặp kè với Gia Khanh, tôi rầu đứt ruột. Vì vậy, khi Ngữ tuyên bố "ngáng cẳng" Hòa, tôi liền hăng hái a dua theo. Lúc đó tôi không kịp nghĩ đến những diễn biến quỷ quái tiếp theo. Chứ nếu biết Ngữ định đẩy Hòa ra khỏi trái tim Gia Khanh để nhảy vô giành vị trí béo bở đó, còn tôi thì nó "bố trí" cho đứng bên ngoài... vỗ tay lược trận, thì tôi đâu về hùa với nó làm gì. Càng nghĩ càng tức, không đợi cho Ngữ ba hoa hết câu, tôi cà khịa liền:
- Mày bảo mày ngáng cẳng thằng Hòa, sao Gia Khanh lại ngã? Hay là mày ngáng lộn?
Ngữ không ngờ tôi kê tủ đứng vào miệng nó. Nó cụt hứng, quắc mắt sẵng giọng:
- Chơi trò gì dễ xa nhau vậy mày? Hay mày là gián điệp của thằng Hòa?
Tôi bĩu môi:
- Bậy! Tao mà thèm về phe với nó!
Mặt Ngữ dãn ra. Nó lấy lại vẻ tươi tỉnh, hỏi:
- Vậy là mày luôn luôn đứng về phía tao chứ gì?
Tôi gật đầu:
- Ừ.
Tôi "ừ" xạo mà Ngữ đâu có biết. Nó lại hỏi:
- Mày phe tao sao còn "chơi" tao?
- "Chơi" gì đâu?
- Khi nãy đó. Tao đang thao thao bất tuyệt, mày nhảy vô miệng tao mày ngồi... chồm hổm. Mày làm tan vỡ giấc mơ đẹp của tao.
Thấy Ngữ chưa hết giận dỗi, tôi cười cười hạ giọng:
- Tao xin lỗi mày. Khi nãy tao giỡn.
Ngữ nghiêm giọng:
- Lần sau không được giỡn như vậy nữa nghen! Cùng phe mà giỡn kiểu gì nghe muốn... tăng huyết áp!
Tội nghiệp thằng Ngữ, nó cứ tưởng tôi là đồng minh của nó. Nó đâu có biết tôi chẳng đứng về phe Hòa, cũng chẳng đứng về phe nó. Tôi chỉ đứng về phe... tôi.
Từ lâu tôi đã lén lút c.ởi áo cà sa. Tôi đã thôi lần tràng hạt. Tôi chẳng buồn qua Tây phương thỉnh kinh nữa. Nói tóm lại, tôi chán làm phật. Làm phật, suốt ngày ngồi xếp bằng một mình trên tòa sen, buồn chết được. Dạo này, tôi thích nghĩ ngợi vẩn vơ hơn.
Những ngày gần đây, Gia Khanh thường len lỏi vào giấc mơ tôi. Tôi không biết nó lẻn vào bằng cách nào, nhưng hễ chợp mắt là tôi thấy nó. Đây là lần thứ hai tôi mơ thấy "kẻ thù" của tôi. Lần trước là nhỏ Hồng. Nhưng nhỏ Hồng chỉ xuất hiện trong giấc mơ tôi có mỗi một lần. Còn Gia Khanh thì lui tới thường xuyên như... đi chợ.
Tất cả những giấc mơ về Gia Khanh đều là những giấc mơ đẹp. Khác với vẻ hung hăng của nhỏ Hồng, Gia Khanh đến với tôi đằm thắm và dịu dàng. Nó không mang theo bờm sư tử và những chiếc nanh nhọn. Nó cũng không tỏ vẻ gì muốn ngoạm đứt đầu tôi. Nó chỉ mỉm cười thân thiện:
- Khoa cho Gia Khanh mượn cây thước kẻ chút nghen.
Gia Khanh làm tôi ngạc nhiên quá chừng. Tôi tròn mắt:
- Gia Khanh có thước rồi mà?
Gia Khanh gật đầu:
- Ừ. Nhưng Gia Khanh thích kẻ bằng thước của Khoa hơn.
Tôi đoán mò:
- Thước của Gia Khanh bị cong hả?
- Sao Khoa biết? - Gia Khanh chớp mắt nhìn tôi.
Tôi liếm môi:
- Khoa chỉ đoán vậy thôi!
- Khoa giỏi ghê!
Vừa nói, Gia Khanh vừa cười chúm chím. Còn tôi thì mặt mày đỏ ửng. Nhưng tôi mặc kệ. Khi sung sướng ai mà chẳng đỏ mặt.
Nhưng cây thước dễ ghét của Gia Khanh chỉ cong trong giấc mơ. Sáng ra, nó thẳng trở lại. Vì vậy đến lớp, Gia Khanh đâu có buồn quay xuống mượn thước tôi.
Bởi những lẽ đó mà tôi thích gặp Gia Khanh trong giấc mơ hơn. Trong những giấc mơ ma mãnh của tôi, thước của nó bao giờ cũng cong, gôm của nó bao giờ cũng mất. Và tôi được dịp phơi bày lòng hào hiệp. Tiếc rằng trên thực tế, người ta ít đầu tư vào việc sản xuất những cây thước phế phẩm và bọn học trò chúng tôi lại tỏ ra đứng đắn quá đáng khi không chịu đánh cắp những cục gôm của nhau.
Tất nhiên tôi không hài lòng hoàn toàn về những chi tiết trong giấc mơ. Chẳng hạn, Gia Khanh không bao giờ xuất hiện một mình. Lúc thì nó đi với Hòa lé, lúc thì nó đi với thằng Ngữ. Dĩ nhiên, Gia Khanh không đi chung với hai tên si tình kia. Gia Khanh đi trước cả mấy chục thước, Hòa lẽo đẽo theo sau. Mắt nó chiếu hào quang như đèn pha xe hơi, sáng trưng cả... dương gian, địa phủ. Nhà thơ Ngu Kha cũng chẳng hơn gì. Khi Gia Khanh trò chuyện với tôi, nó đứng lấp ló tít đằng xa, mồm lẩm nhẩm đọc thơ.
Tôi không nghe rõ những lời thì thầm tha thiết của Ngữ nhưng tôi đoán nó đang đọc bài thơ "Chùa Hương" của Nguyễn Nhược Pháp. Hẳn là Ngữ đang rên rỉ: "Em đi, chàng theo sau. Em không dám đi mau. Sợ chàng chê hấp tấp. Số gian nan không giàu". Đó là đoạn thơ ưa thích của Ngữ và được nó đem ra sử dụng thường xuyên. Bao giờ cũng vậy, hễ tò tò đi sau lưng tụi con gái (tất nhiên trong trường hợp vắng mặt nhỏ Hồng) là Ngữ gân cổ rống lên bốn câu ác liệt đó.
Mọi khi, thấy Ngữ đọc thơ, đọc vè chọc tụi con gái, tôi thường mỉm cười a dua với nó. Nhưng lần này, mặt tôi cau lại. Không những tôi cười không nổi mà tôi còn muốn nhặt đá ném cho nó một phát bể đầu chơi. Nhưng tôi không tài nào tìm được lấy một viên đá nhỏ, thậm chí ngay cả một hạt bụi cũng không. Trong giấc mơ tôi, chỉ lung linh một đóa hồng tươi thắm: đóa hồng đến từ một xứ sở xa xôi.

Chương 10: Hoa Hồng Xứ Khác
Những bài thơ tống tình của Ngu Kha chẳng ép phê tí ti ông cụ nào. Ngữ chẳng hất cẳng nổi Hòa như lời nó quả quyết với tôi, mặc dù lần này nó không buồn ỡm bóng gió. Ngữ lả lơi trắng trợn:
Đầu năm em vào học
Lòng anh bỗng bâng khuâng
Có bao điều muốn nói
Mà sao vẫn ngại ngần
Bài thơ như chiếc lá
Mọc lên từ chồi xanh
Em là chim xứ lạ
Có hiểu tình anh không?
Khi bài thơ của Ngữ xuất hiện trên báo tường, lớp học đang yên ả bỗng dậy lên bão táp phong ba. Tụi bạn lại xúm xít bàn tán và thấp thoáng đây đó những ánh mắt nghi ngờ, xoi mói.
Thằng Châu oang oang giữa lớp:
- Lại thêm một con thiêu thân đòi "thanh khương" nữa! Lớp mình loạn rồi!
Thằng Bá bình luận cay độc:
- Nhà thơ Ngu Kha ngày nay với nhà thơ Thanh Khương trước kia hẳn là một người! Tưởng nó biết điều, nào ngờ "đánh chết cái nết không chừa"!
Họa sĩ Vinh buồn bã:
- Ngu Kha ơi hỡi Ngu Kha.
Thương mà giấu mặt cũng như là... không thương!
Trước những lời chọc ghẹo của bạn bè, Ngữ phớt tỉnh. Không ai biết Ngu Kha là nó, nó chẳng sợ. Nó bình tĩnh ngồi yên nơi cuối lớp, âm thầm quan sát thái độ của Gia Khanh. Ngữ bảo tôi:
- Thế nào em cũng phát tín hiệu trả lời!
Nhưng Gia Khanh chẳng động tĩnh gì. Tôi thấy nó cười nói tỉnh khô. Lần trước khi nhà thơ Thanh Khương tấn công nó, nó còn xấu hổ gục mặt xuống bàn. Lần này, không hiểu sao nó trơ trơ. Chắc nó đã quen mùi... trận mạc. Nó không thèm để ý đến những lời tán tỉnh nhăng nhít của Ngữ, tôi sung sướng nhủ bụng.
Trong khi tôi hí hửng trước thất bại của Ngữ thì nó buồn thiu. Tuy nhiên, Ngữ vẫn không chịu thừa nhận thực tế cay đắng đó. Nó phân tích:
- Tụi con gái đứa nào cũng vậy! Khi yêu, chúng không bao giờ để lộ ra ngoài mặt. Tình cảm của chúng kín đáo hơn tụi mình.
Khi thất bại trong tình yêu, người ta dễ trở thành... triết gia. Có ai đó đã nói như vậy. Câu nói thiên tài đó hoàn toàn đúng với tình trạng hiện nay của Ngữ. Nó lý luận thì có vẻ sâu sắc nhưng giọng nói lại thiếu dõng dạc khiến tôi ngờ rằng nó không thực sự tin vào những điều nó nói. Nó không tin, làm sao tôi tin được.
Hơn nữa, bài thơ "ngáng cẳng" Ngữ vừa tung ra chỉ làm chấn động những đứa vô can. Còn đối với thằng Hòa, vũ khí của Ngữ chẳng làm rụng của nó lấy một... sợi lông chân, nói gì đến chuyện ngáng cho nó té. Bằng cớ là mối q.uan hệ giữa Hòa và Gia Khanh càng ngày càng tỏ ra mật thiết, bất chấp lời nhắn hỏi não nùng của Ngữ "Em là chim xứ lạ, có hiểu tình anh không?". Hẳn là Gia Khanh không hiểu. Cũng có thể nó hiểu nhưng nó chơi cái tình "vờ". Đằng nào thằng Ngữ cũng chết, tôi khoan khoái nghĩ thầm. Bạn bè thì bạn bè, trong cái vụ "sao chổi Halley" này, "chết" được đứa nào hay đứa đó!
Ngữ "chết". Nhưng còn Hòa. Thằng Hòa sống nhăn răng, mà lại sống khỏe, sống... hạnh phúc mới khổ cho thiên hạ chứ. Dạo này, nó đeo dính Gia Khanh như hình với bóng. Trên sấn khấu, nó đứng cạnh Gia Khanh đã đành. Đến khi rời sân khấu, bước xuống... cuộc đời, can cớ gì mà nó cứ lẽo đẽo đi theo Gia Khanh hoài. Hòa tham lam hệt như những người xếp hàng giành chỗ mua vé cải lương. Nó không chịu lùi bước nhưng cho ai lấy một phút, dù người đó là nhà thơ như Ngữ hay là "kẻ tu hành" như tôi.
Thấy Hòa độc chiếm người đẹp, Ngữ gai mắt giở giọng cà khịa:
- Làm gì mà mày cứ bám em Gia Khanh hoài vậy?
Hòa khinh khỉnh:
- Tụi tao đi tập văn nghệ, việc gì đến mày?
Lối ăn nói trịch thượng của Hòa khiến Ngữ tái mặt. Nhưng biết mình yếu thế, Ngữ đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Sửng cổ cãi lại, Ngữ sợ bị ghép vào tội trạng "ghen tị". Ghen tị thì chẳng hay ho gì. Vì vậy, Ngữ lầm lũi bỏ đi. Nó đi xa lắc xa lơ mà tôi còn nghe tiếng nó nghiến răng ken két.
Tôi lặng lẽ chứng kiến cuộc đối thoại ngắn ngủi nhưng đầy kịch tính giữa hai đối thủ. Và tôi bỗng phát hiện ra so với âm nhạc, thơ ca chẳng là cái quái gì. Thơ ca chỉ là tép riu. Nhà thơ Ngu Kha đụng đâu hỏng đó trong khi ca sĩ Hòa lé chẳng cần sử dụng đến đôi mắt lé của mình vẫn chinh phục được người đẹp Halley.
Tôi vừa ghen ghét Hòa vừa ngưỡng mộ nó. Thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, triết gia rốt lại chẳng bằng cái anh ca sĩ. Ca sĩ được lên sân khấu, được biểu diễn trước hàng ngàn cặp mắt, lại còn được hát... song ca. Từ giờ phút đó, tôi mơ ước trở thành ca sĩ. Tôi thèm địa vị của Hòa. Tôi sẽ tham gia vào ban văn nghệ của lớp.
Quyết định xong, tôi vội vã đi tìm Bá, thằng bạn thân nhất của tôi. Tôi phải hỏi ý kiến nó, xem tôi có nên trở thành một ngôi sao ca nhạc hay không.
Bá ngồi xếp bằng trên gi.ường nghe tôi nói. Nghe xong, nó khẽ đẩy cái gọng kính trên sống mũi rồi nhìn tôi chăm chăm:
- Mày nói thật hay nói chơi đó?
Tôi rụt rè đáp:
- Nói thật.
Bá vẫn dán mắt vào mặt tôi:
- Mày muốn trở thành ca sĩ?
- Ừ.
- Lý do?
Bá hỏi tôi bằng cái giọng của công an điều tra tội phạm khiến tôi đâm ra lúng túng. Tôi ngập ngừng trả lời:
- Tại tao thấy tao có... m.áu văn nghệ.
Bá cười hô hố:
- Mày có m.áu văn nghệ?
- Ừ, tao đoán vậy! - Tôi ấp úng đáp.
Bá nhún vai:
- Đoán cái khỉ mốc! Mày đâu có hát được!
- Được! - Tôi quả quyết - Tao hát hoài!
Bá tỏ vẻ nghi ng:
- Xạo đi mày! Mày hát hoài sao tao không nghe?
Tôi hừ giọng:
- Làm sao mày nghe được! Tao thường hát... một mình!
Bá nhướng mắt:
- Vậy bây giờ mày hát thử tao nghe coi!
Trước đề nghị của Bá, tự dưng tôi đâm lúng túng. Tôi lắc đầu nguầy nguậy:
- Thôi, kỳ lắm!
- Hừm, thằng này lạ! Hát trước mặt tao, mày còn mắc cỡ, làm sao mày hát được trước bao nhiêu người được? Vậy mà cũng đòi làm ca sĩ!
Sợ Bá nổi sùng gạt ngang, vả lại nhận thấy nó nói cũng có lý, tôi đành chép miệng:
- Được rồi, tao sẽ hát.
Vừa nói, tôi vừa loay hoay nghĩ xem nên hát bài gì. Thực ra tôi chỉ biết vỏn vẹn dăm ba bài nhạc. Mỗi bài tôi lại thuộc lõm bõm vài đoạn, chẳng bài nào thuộc trọn. Trước nay, những khi ngồi câu cá hoặc đi dạo một mình, tôi thường thuận miệng lẩm nhẩm vài câu cho đỡ buồn.
Vốn liếng âm nhạc của tôi chỉ có thế, nay Bá bắt tôi phải "trình diễn" trước mặt nó để nó "kiểm tra", làm sao tôi không chột dạ được. Đắn đo một lát, tôi lấy hết can đảm hắng giọng và rụt rè cất tiếng hát. Tôi hát bài "Hạ trắng" của Trịnh Công Sơn.
Tôi nghe tiếng mình vút lên, đầm ấm lạ thường: "Gọi nắng trên vai em gầy, đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say...". Bản nhạc bảo là hoa bướm say nhưng tôi lại thấy chính tôi say. Tôi ngất ngây theo điệu nhạc. Tôi ngất ngây nghĩ đến Gia Khanh, nghĩ đến ngày tôi thế chỗ thằng Hòa để hát cặp với nó. Càng mơ tưởng đến giây phút huy hoàng đó, giọng tôi càng uốn éo. Lời ca tôi lên thác xuống ghềnh. Tôi có cảm giác tôi hát hay nhất... thế giới. Lúc đang "biểu diễn", thấy Bá trố mắt dòm, tôi tưởng nó ngạc nhiên và thán phục trước giọng ca vàng của tôi. Tôi tưởng nó sắp xin ảnh tôi để làm kỷ niệm. Thế là tôi lại ngoác mồm, tăng "ga" rống hết cỡ.
Trước nhiệt tình quá đáng của tôi, Bá có vẻ hết chịu đựng nổi. Nó vội vã bịt hai tai lại, năn nỉ:
- Thôi, thôi, đủ rồi! Hát vậy đủ rồi!
Tôi liền tốp và đưa tay lau mồ hôi trán, ngơ ngác hỏi:
- Đủ rồi là sao?
Bá thở hắt ra:
- Đủ rồi có nghĩa là tao đã biết mày hát hay như thế nào rồi!
Bá khen làm tôi sướng phổng mũi. Tôi thấy lòng tôi triệu đóa hoa hồng. Tôi thấy tôi bay tuốt lên chín tầng mây.
Ngồi trên mây, tôi cúi đầu xuống, thấp thỏm hỏi:
- Hay hơn thằng Hòa không?
Bá đúng là một thằng bạn tốt. Nó gật đầu ngay:
- Hay hơn nhiều!
- Thật không?
- Thật! Tao xạo mày làm gì! Giọng thằng Hòa chỉ phục vụ cho người lớn, còn giọng mày phục vụ được cho cả thiếu nhi.
Tôi