Emily trên dải cầu vồng - Lucy Maud Montgomery

Trong chuyên mục 'Tiểu thuyết' đăng bởi Shino chan, 24/10/2018. — 27.712 Lượt xem

  1. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Emily trên dải cầu vồng - Lucy Maud Montgomery

    [​IMG]

    Emily trên dải cầu vồng
    Tác giả: Lucy Maud Montgomery

    Dịch giả: Huyền Vũ


    Giới thiệu
    “Mọi người không bao giờ đúng khi nói tôi là Anne.

    Nhưng trên một số phương diện, họ sẽ đúng nếu cho rằng tôi là Emily.”

    Một nữ nhà văn, chao ôi, Emily ao ước trở thành nhà văn hơn bất cứ điều gì khác trên đời. Tiếp tục học lên cao ở thị trấn Shrewsbury chính là con đường thuận lợi hơn cả để tiến gần hơn tới mục tiêu ấy. Nhưng đến Shrewsbury đồng nghĩa với việc phải rời xa trang trại Trăng Non yêu dấu, phải sống cùng bác Ruth không bao giờ biết cười, và đáng sợ hơn tất thảy, phải ngừng sáng tác truyện trong ba năm. Liệu Shrewsbury có phải là nơi thích hợp để Emily khởi nghiệp, nơi cô tìm thấy “ánh cầu vồng hạnh phúc”, nơi vẻ đẹp đặc biệt của cô chạm đến trái tim của một chàng trai trẻ?

    Emily trên dải cầu vồng mang đặc trưng của những tác phẩm đã trở thành kinh điển của L. M. Montgomery: Lời văn tuyệt đẹp, hình ảnh nên thơ, nhân vật khác thường, truyện bên lề đáng yêu cùng một chút sắc màu tình yêu trong sáng. Nhưng chính khát vọng được viết văn cháy bỏng của Emily cùng lối khắc họa hiện thực không chút lảng tránh đã khiến bộ ba tiểu thuyết về Emily Byrd Starr trở nên khác biệt, một vẻ đẹp sáng rỡ ngay cả trong những giờ khắc u buồn nhất.

    Là sê-ri thứ hai về nhân vật kinh điển Emily của nhà văn Lucy Maud Montgomery, Emily trên dải cầu vồng kể câu chuyện của cô gái này trong giai đoạn từ 13 đến 17 tuổi. Không còn là một cô nhóc như trong Emily ở trang trại Trăng Non, trong tác phẩm này, Emily đã trưởng thành và hiểu chuyện hơn, đồng thời, cô bắt đầu biết ước mơ. Một nữ nhà văn, chao ôi, đây chính là khao khát lớn nhất của Emily…

    Mục lục
    Chương 1: Dốc cạn tâm sự
    Chương 2: Thời thanh xuân non nớt
    Chương 3: Đêm thao thức
    Chương 4: “Theo cách người khác nhìn chúng ta”
    Chương 5: Thà ít còn hơn không
    Chương 6: Những ngày đầu ở Shrewsbury
    Chương 7: Chắp nhặt
    Chương 8: Không đủ chứng cứ
    Chương 9: Phút huy hoàng
    Chương 10: Một giờ điên rồ
    Chương 11: Cao và sâu
    Chương 12: Trước dấu hiệu của đống cỏ khô
    Chương 13: Bến cảng
    Chương 14: Người phụ nữ từng đét mông đức vua
    Chương 15: “Điều không thể”
    Chương 16: Củi rề
    Chương 17: “Nếu người hôn người”
    Chương 18: Bằng chứng gián tiếp
    Chương 19: “Những giọng nói từ trên cao”
    Chương 20: Trong nhà cũ của John
    Chương 21: Một giọt máu đào hơn ao nước lã
    Chương 22: Yêu ai yêu cả đường đi
    Chương 23: Cánh cửa mở
    Chương 24: Thung lũng ảo mộng
    Chương 25: Tình yêu tháng Tư - The end.
     


    Stormi thích điều này.


  2. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 1: Dốc cạn tâm sự
    Một đêm tháng Hai mưa gió bão bùng giữa những ngày xa xưa trước khi cả thế giới bỗng nhiên đảo lộn, Emily Byrd Starr chỉ có một mình trong phòng, tại ngôi nhà lâu đời trên trang trại Trăng Non ở làng Hồ Blair. Khi ấy, cô bé đang ngập tràn niềm hạnh phúc tột cùng. Sau khi cân nhắc đến hơi lạnh ban đêm, bà Elizabeth đã cho phép cô đốt lửa trong cái lò sưởi bé tí teo – một ân huệ hiếm hoi. Ánh lửa rạng rỡ bập bùng tỏa luồng ánh sáng màu đỏ vàng soi tỏ khắp căn phòng nhỏ sạch như li như lau với những đồ nội thất cổ lỗ cùng mấy ô cửa sổ khoét sâu, bậu cửa rộng, chiếu lên những bông tuyết đang níu chặt như các tràng hoa nhỏ trên mấy tấm kính màu trắng xanh bị sương giá phủ mờ. Ánh lửa mang chiều sâu và sắc màu bí ẩn đến cho tấm gương soi trên bức tường giờ đang phản chiếu hình ảnh Emily gập người trên chiếc ghế đệm trước lò sưởi, viết vào “cuốn sổ Jimmy” mới toanh bìa đen bóng láng vừa được ông Jimmy cho hôm ấy, dưới ánh sáng của hai cây nến cao màu trắng – phương tiện chiếu sáng duy nhất được phép sử dụng ở Trăng Non. Emily rất vui khi nhận được cuốn sổ này, vì cô bé đã viết kín cuốn sổ được ông tặng hồi mùa thu năm ngoái, và hơn một tuần nay, cô bé đã phải chịu đựng nỗi thống khổ vì bị kìm nén không thể viết vào một “cuốn nhật ký” không hề tồn tại.

    Nhật ký đã trở thành yếu tố quan trọng bậc nhất trong những tháng ngày niên thiếu căng tràn nhựa sống của Emily. Nó đã tiếp quản vai trò của những “bức thư” cô bé viết suốt thời thơ ấu cho người cha quá cố, nơi cô bé có thói quen “dốc cạn tâm sự” về các rắc rối và lo lắng của mình – vì ngay cả khi đang trong quãng thời gian diệu huyền mới chập chững bước vào độ tuổi mười bốn, người ta vẫn gặp nhiều rắc rối và lo lắng, đặc biệt khi ta phải sống dưới sự cai quản nghiêm khắc, dù đầy thiện chí nhưng không hề chan chứa dịu dàng của bà Elizabeth Murray. Đôi khi, Emily có cảm giác nếu không nhờ cuốn nhật ký, rất có thể cô bé sẽ nổ tung bởi cứ phải âm thầm kìm giữ mọi cảm xúc trong lòng.

    Đối với cô bé, “cuốn sổ Jimmy” bìa đen dày cộp ấy không khác gì một người bạn riêng tư, một bạn tâm giao đáng tin cậy để cô bé tâm sự về nhiều vấn đề dù đang chất chứa đến ngột ngạt trong lòng nhưng lại quá dễ kích động nên chẳng thể phó mặc rót vào tai bất cứ người nào. Ở trang trại Trăng Non bây giờ, muốn tìm bất cứ thể loại sổ trắng nào cũng khó chẳng kém gì bắc thang lên trời, và nếu không nhờ ông Jimmy thì chắc Emily chẳng thể đào đâu ra cuốn nào. Chắc chắn bà Elizabeth sẽ không cho cô cô bé rồi – bà Elizabeth vẫn cho rằng Emily đang lãng phí quá nhiều thời gian “cho cái thứ chữ nghĩa mèo cào vớ vẩn” như thế – còn bà Laura lại không dám trái lời bà Elizabeth trong chuyện này – thêm nữa chính bà Laura cũng thật tâm nghĩ rằng có lẽ Emily nên tập trung vào công việc thì hơn. Bà Laura là một phụ nữ đáng kính, nhưng vẫn có nhiều chuyện bà khó lòng hiểu nổi.

    Ông Jimmy thì lại chẳng hề e sợ bà Elizabeth, và chỉ cần trong đầu ông nảy ra suy nghĩ rằng rất có thể Emily đang muốn một “cuốn sổ trắng” khác thì y như rằng cuốn sổ trắng đó sẽ ngay lập tức xuất hiện, bất chấp những ánh mắt lườm nguýt của bà Elizabeth. Chỉ vì muốn kiếm được cuốn sổ ấy mà ngày hôm đó ông đã lặn lội xuống tận Shrewsbury ngay giữa lúc cơn bão ngược chiều bắt đầu quần thảo càng lúc càng hăng. Vậy nên, tắm mình trong ánh sáng lò sưởi vừa huyền ảo vừa thân thiện, Emily vẫn dạt dào niềm hạnh phúc dù gió đang thét gào hú huýt xuyên từ vườn cây lâu đời rộng mênh mông cho tới tận mạn Bắc Trăng Non, tung những tràng hoa tuyết khổng lồ chói lóa xoay tít văng từ đầu bên này sang đầu bên kia khu vườn trứ danh của bác Jimmy, xô cái đồng hồ mặt trời dạt hẳn sang chỗ khác, và rít lên những âm thanh kỳ quái xuyên khắp Ba Nàng Công Chúa – cách gọi quen thuộc của Emily đối với ba cây dương Lombardy trong góc vườn.

    “Nếu buổi tối không phải ra ngoài trời bão tố thì tôi rất yêu cơn bão giống như cơn bão này,” Emily viết. “Bác Jimmy và tôi đã có một buổi tối tuyệt vời lên kế hoạch cho khu vườn của hai bác cháu, chọn lựa cậy và hạt giống từ tập danh mục. Đúng tại địa điểm đang bị quần thảo ghê gớm nhất, phía sau nhà hóng mát, hai bác cháu dự định sẽ trồng một thảm cúc thúy hồng, và hai bác cháu sẽ lấy những cây hạnh đang trổ hoa làm nền cho các nàng Người Dát Vàng – tức đám thủy tiên hoa vàng giờ đây đang mơ màng dưới cả mét tuyết. Tôi thích lên kế hoạch mùa hè như thế này, ngay giữa lúc bão tố đang thét gào. Như vậy, tôi sẽ cảm thấy dường như mình đang giành chiến thắng trước một thứ lớn lao hơn tôi gấp vạn lần, chỉ nhờ tôi có đầu óc hơn, còn cơn bão chẳng là gì hết ngoài một thứ sức mạnh tàn nhẫn, mù quáng – khủng khiếp đấy, nhưng lại mù quáng. Tôi cũng có cảm giác y như thế khi ngồi đây bên cái lò sưởi ấm cúng thân thương của mình, lắng nghe cơn bão cuồng nộ vần vũ bốn bề, và cười thẳng vào mặt nó. Và, có được điều đó là nhờ hàng trăm năm trước, cụ cố Murray đã xây ngôi nhà này và xây một cách vô cùng cẩn thận. Tôi cứ băn khoăn mãi, không biết một trăm năm sau, liệu có ai giành được chiến thắng trước một thứ nào đấy nhờ vào cái gì đó mà tôi đã để lại hay đã thực hiện không. Đây quả là một ý tưởng đầy hứng khởi.

    “Tôi chẳng kịp suy nghĩ gì mà đã cứ thế viết dòng chữ in nghiêng kia rồi. Thầy Carpenter nói tôi sử dụng quá nhiều từ in nghiêng. Thầy nói đó là nỗi ám ảnh đầu thời Victoria, và tôi phải cố gắng từ bỏ nó đi. Sau khi tra từ điển thì tôi rút ra kết luận mình sẽ phải làm thế thôi, vì rõ ràng chẳng có gì hay ho khi bị ám ảnh bởi thứ gì đó, mặc dù có vẻ như thà thế vẫn còn đỡ hơn là bị mất tự chủ. Đấy, tôi lại thế rồi: nhưng tôi cảm thấy lần này sử dụng từ in nghiêng là chính xác.

    “Tôi đọc từ điển cả tiếng đồng hồ liền – cho tới tận khi bác Elizabeth nổi ý nghi ngờ và cho rằng tốt hơn hết tôi nên mạng lại mấy cái tất rách của mình đi. Bác ấy không thể lý giải xác đáng được có gì không ổn khi tôi cứ mải mê nghiên cứu từ điển, nhưng bác ấy cảm thấy chắc chắn chuyện đó chẳng đúng đắn gì cả, vì bác ấy có bao giờ muốn làm thế đâu. Tôi mê đọc từ điển. (Vâng, sử dụng in nghiêng ở đây là hoàn toàn cần thiết, thưa thầy Carpenter. Một từ ‘mê’ thông thường làm sao mà diễn tả được cảm xúc của con chứ!) Ngôn ngữ thú vị đến thế đấy. (Lần này tôi mắc ở âm tiết đầu tiên!) Âm thanh của một vài từ – chẳng hạn như ‘ma ám’, ‘huyền bí’ – đã mang ánh chớp đến cho tôi. (Ôi chao! Nhưng tôi phải viết nghiêng từ ánh chớp. Nó có bình thường đâu – nó là thứ đặc biệt nhất, tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi. Khi nó xuất hiện, tôi dường như cảm thấy một cánh cửa vừa bật mở trên bức tường trước mặt và giúp tôi thoáng nhìn thấy – đúng vậy đó, thấy thiên đường. Lại viết nghiêng nữa rồi! Ôi, tôi đã hiểu tại sao thầy Carpenter lại la rầy rồi! Tôi phải cố gắng bỏ cái thói quen này đi thôi.)

    “Những từ đao to búa lớn chẳng bao giờ đẹp cả… ‘buộc tội’… ‘ngỗ ngược’… ‘quốc tế’… ‘vi hiến’. Chúng làm tôi nghĩ đến những cây hoa cúc và hoa thược dược to khủng khiếp mà bác Jimmy đã dẫn tôi đi xem hồi mùa thu năm ngoài ở cuộc triển lãm tại Charlottetown. Hai bác cháu chẳng thấy chúng có chút xíu dễ thương nào hết, ấy vậy nhưng có mấy người lại cứ cho rằng chúng thật tuyệt vời. Những cây cúc vàng bé nhỏ của bác Jimmy, giống như những vì sao mờ huyền ảo nhấp nháy trên vạt linh sam ở góc vườn phía Tây Bắc, còn đẹp hơn gấp chục lần. Nhưng tôi lại lan man đi chệch khỏi chủ đề của mình rồi – lại một thói quen xấu khác của tôi, theo lời thầy Carpenter. Thầy nói tôi phải (lần này chính thầy mới là người dùng từ viết nghiêng nhé!) học cách tập trung – lại một từ to tát khác và cũng là từ xấu xí không để đâu cho hết.

    “Nhưng lúc đọc cuốn từ điển ấy, tôi rất vui, vui hơn nhiều so với lúc dành thời gian cho đám tất có gân kia. Giá như tôi có một đôi tất lụa, chỉ cần một đôi thôi cũng được. Ilse có ba đôi. Giờ hễ bạn ấy thích thứ gì là lại được cha cho ngay thứ nấy, vì bác ấy đã biết yêu thương bạn ấy rồi. Còn bác Elizabeth thì bảo tất lụa là thứ phi đạo đức. Tôi không hiểu nổi tại sao nữa… nó cũng có khác gì váy áo lụa đâu.

    “Lại nói đến chuyện váy lụa, dì Janey Milburn ở Ao Thành Kiến – thật ra bà ấy chẳng có quan hệ họ hàng gì cả, nhưng ai cũng gọi bà ấy như thế – đã thề rằng bà ấy sẽ không bao giờ mặc váy lụa, trừ phi hết thảy thế giới ngoại đạo đều cải theo Cơ Đốc hết. Chuyện đó rõ thật là hay. Tôi ước gì tôi cũng có thể hay ho được như thế, nhưng đành chịu thôi, tôi yêu đồ lụa quá mất rồi. Nó mới đẹp đẽ và rực rỡ làm sao chứ. Tôi muốn lúc nào cũng được mặc đồ lụa, ấy là trong trường hợp tôi đủ dư dả để làm thế, nhưng có lẽ mỗi lần nghĩ đến bà dì Janey yêu dấu và giới ngoại đạo vẫn chưa cải đạo, thể nào tôi cũng sẽ thấy cắn rứt lương tâm cho xem. Nói vậy thôi chứ nếu có thật như thế thì cũng còn phải mất nhiều năm nữa tôi mới có đủ tiền để mua dẫu chỉ là một chiếc váy lụa, mà từ giờ đến lúc đó, hằng tháng tôi vẫn phải san một ít tiền bán trứng của mình cho các hội truyền giáo. (Bây giờ tôi đang có năm con gà, cả năm đều là con của nàng gà mái lông xám Perry tặng tôi nhân dịp sinh nhật lần thứ mười hai.) Nếu sau này có thể mua được một chiếc váy lụa như đã nói thì tôi biết rõ chiếc váy ấy trông sẽ như thế nào. Không phải màu đen, nâu hay xanh nước biển, những thứ màu vừa bền vừa đứng đắn, đúng màu truyền thống trang phục của nhà Murray ở Trăng Non – ôi, chao ôi, không đâu! Nó sẽ là thứ lụa óng ánh, nhìn dưới ánh sáng này là màu xanh da trời, nhìn dưới ánh sáng kia lại lấp lánh màu bạc, giống y như bầu trời nhấp nháy, thấp thoáng qua khung kính cửa sổ đã mờ đi vì băng giá, và nó sẽ được điểm xuyết những sóng đăng ten, như những sợi lông vũ mảnh mai kết từ những bông tuyết cheo leo ngoài ô cửa sổ phòng tôi. Teddy bảo cậu ấy sẽ vẽ hình tôi mặc bộ váy ấy và gọi bức tranh đó là ‘Thiếu nữ băng tuyết’, còn bác Laura cười tủm tỉm rồi nói bằng giọng cực kỳ dịu dàng và nhún nhường, đúng cái kiểu nói tôi rất ghét, cho dù người nói có là bác Laura yêu dấu chăng nữa,

    “ ‘Một cái váy như thế thì ích lợi gì với cháu chứ, Emily?’

    “Có lẽ nó chẳng có ích lợi gì hết, nhưng khi khoác lên người bộ váy ấy, tôi sẽ cảm thấy như thể nó chính là một phần bản thân mình, cảm thấy nó gắn liền với tôi chứ không phải là món đồ chỉ được mua về rồi mặc vào người. Tôi luôn ao ước có một bộ váy như thế trong đời. Và cả lớp váy lót bằng lụa… rồi tất lụa nữa!

    “Giờ thì Ilse đã có một chiếc váy lụa rồi, một chiếc váy màu hồng nhạt. Bác Elizabeth nói bác sĩ Burnley cho Ilse ăn mặc quá già và quá sặc sỡ so với một đứa trẻ. Nhưng bác Burnley chỉ muốn bù đắp lại hết thảy những năm tháng bác ấy chẳng cho Ilse ăn mặc gì hết. (Tôi không có ý là bạn ấy trần truồng chẳng mặc gì đâu, nhưng nếu chỉ dựa vào bác sĩ Burnley thì có khi bạn ấy sẽ thành ra như thế cũng không chừng. Toàn người khác phải chăm lo đến khoản quần áo của bạn ấy.) Giờ bạn ấy muốn gì bác ấy cũng chiều hết, và bác ấy còn cho phép bạn ấy thích làm gì thì làm. Bác Elizabeth bảo như vậy chẳng có gì hay ho cho Ilse cả, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn thấy ghen tị với bạn ấy. Tôi biết thế là rất xấu tính, nhưng tôi chẳng kìm lòng được.

    “Mùa thu năm sau, bác sĩ Burnley sẽ gửi Ilse đến trường trung học Shrewsbury, và sau đó là tới Montreal để học diễn thuyết. Vậy nên tôi mới ghen tị với bạn ấy, chứ không phải vì chiếc váy lụa. Tôi chỉ mong sao bác Elizabeth cho phép tôi tới Shrewsbury, nhưng chỉ e là chẳng đời nào có chuyện đó đâu. Vì mẹ tôi đã trốn nhà theo bố tôi nên bác ấy luôn cho rằng hễ sểnh ra một cái không để mắt đến tôi được là đừng hòng tin tưởng vào tôi. Nhưng đáng lẽ ra bác ấy chẳng cần phải lo sợ tôi sẽ trốn nhà theo tiếng gọi tình yêu. Tôi đã hạ quyết tâm sẽ không bao giờ lấy chồng. Tôi sẽ gắn bó trọn đời với nghệ thuật.

    “Teddy muốn mùa thu tới sẽ đến Shrewsbury, nhưng mẹ cậu ấy sẽ không đồng ý đâu. Nói thế không có nghĩa là bà ấy sợ Teddy bỏ nhà đi theo tiếng gọi tình yêu, chỉ là bà ấy yêu thương cậu ấy quá đỗi nên không thể rời xa cậu ấy được. Teddy muốn trở thành họa sĩ, và thầy Carpenter bảo rằng cậu ấy có năng khiếu trời phú và nên được trao cho cơ hội, nhưng chẳng ai dám nói gì với bà Kent cả. Bà ấy là một phụ nữ nhỏ nhắn-thật ra chẳng cao hơn tôi là mấy, lặng lẽ và rụt rè – ấy vậy nhưng ai cũng sợ bà ấy. Tôi… sợ đến chết đi được. Tôi luôn biết rõ bà ấy không thích mình-ngay từ ngày xửa ngày xưa cái thời tôi và Ilse lần đầu tiên đến Vạt Cúc Ngải để chơi với Teddy. Nhưng giờ thì bà ấy ghét tôi hẳn hoi – tôi dám chắc thế – chỉ vì Teddy quý tôi. Bà ấy không thể chịu đựng được khi cậu ấy yêu quý bất kỳ ai hay bất kỳ thứ gì khác ngoài bà ấy. Thậm chí, bà ấy còn ghen cả với tranh cậu ấy vẽ nữa. Vậy nên cậu ấy chẳng có nhiều cơ hội để tới Shrewsbury đâu. Perry thì sẽ đi. Cậu ấy chẳng có xu nào, nhưng dù gì cậu ấy cũng sẽ làm theo ý mình. Chính vì vậy vậu ấy định sẽ tới Shrewsbury thay vì Học viện Queen. Cậu ấy vẫn đinh ninh rằng ở Shrewsbury dễ kiếm việc làm thêm hơn, thêm nữa tiền trọ ở đấy cũng rẻ hơn.

    “ ‘Bà bác Tom già lọm khọm của tớ cũng có ít tiền đấy,’ cậu ấy bảo tôi, ‘nhưng bà ấy sẽ chẳng cho tớ dù chỉ một xu… trừ phi… trừ phi…’

    “Rồi cậu ấy nhìn tôi đầy ẩn ý.

    “Tôi chẳng thể kiềm chế được mà đỏ hết cả mặt, rồi sau đó lại giận điên lên với chính mình vì tội đã đỏ mặt, và cả với Perry nữa… vì cậu ta đã nhắc đến một chuyện mà tôi không muốn nghe chút nào… hồi xưa ấy, có lần bác Tom của cậu ta đã gặp tôi ở rừng cây bụi nhà ông John Ngạo Mạn, và làm tôi sợ đến chết đi được vì bà ấy cứ nằng nặc bắt tôi hứa sẽ cưới Perry khi nào chúng tôi lớn, chỉ thế thì bà ấy mới chịu nuôi cậu ấy ăn học. Tôi chưa từng kể với ai về chuyện đó – xấu hổ chết đi được – ngoài Ilse, và bạn ấy bảo,

    “ ‘Nghĩ mà xem, bà Tom lại mong mỏi kiếm một người nhà Murray cho Perry cơ đấy!’

    “Nhưng sau đó, Ilse tỏ ra khắt khe khủng khiếp với Perry, suốt ngày cãi cọ với cậu ấy, cả về những chuyện mà tôi chỉ thấy buồn cười thôi. Perry chẳng bao giờ thích bị bất kỳ ai qua mặt về bất cứ chuyện gì. Tuần vừa rồi, lúc chúng tôi đang dự tiệc ở nhà Amy Moore, chú của Amy đã kể cho chúng tôi nghe về một con bê khá quái dị mà chú ấy từng nhìn thấy, nó chỉ có ba chân thôi, vậy là Perry bảo,

    “ ‘Ôi dào, thế thì có là gì so với con vịt cháu từng nhìn thấy ở Na Uy chứ.’

    “(Đúng là Perry từng ở Na Uy thật. Ngày xưa hồi còn nhỏ, cậu ấy từng cùng cha mình dong buồm lênh đênh khắp mọi nơi. Nhưng tôi chẳng tin bất cứ lời nào về con vịt đó. Cậu ấy không nói dối – cậu ấy chỉ bịa chuyện thôi. Thầy Carpenter kính mến, con không thể không viết nghiêng được.)

    “Theo lời Perry thì con vịt ấy có bốn chân, hai chân nằm ở vị trí bình thường giống như những con vịt khác, còn hai chân nữa thì mọc ra sau lưng. Vậy nên khi nào phát mệt vì đi bằng đôi chân bình thường rồi thì nó sẽ lật ngửa mình lại đi bằng hai chân kia!

    “Perry kể câu chuyện bịa này với vẻ mặt rất nghiêm túc, và ai cũng đều phá lên cười, chú của Amy thì nói, ‘Kể tiếp đi, Perry.’ Nhưng Ilse lại giận điên lên và suốt trên đường về nhà không thèm nói năng gì với cậu ấy. Bạn ấy bảo cậu ấy đã tự biến mình thành một thằng ngốc, cố gắng ‘ra vẻ ta đây’ bằng một câu chuyện ngu ngốc như thế, và chẳng quý ông nào lại cư xử theo kiểu đó hết.

    “Perry nói: ‘Giờ tôi vẫn chưa phải một quý ông mà chỉ là cậu bé làm thuê thôi, nhưng một ngày nào đó, tiểu thư Ilse ạ, tôi sẽ trở thành một quý ông hào hoa phong nhã hơn bất kỳ ai cô biết cho mà xem.’

    “ ‘Có phải quý ông hay không,’ Ilse nói đầy ác ý, ‘thì từ khi sinh ra đã thế rồi. Họ không thuộc kiểu người cố gắng thì sẽ thành, cậu biết đấy.’

    “Ilse hầu như đã bỏ hẳn thói quen gọi người khác là đồ này đồ nọ, giống như ngày xưa bạn ấy vẫn làm khi cãi lộn với Perry hoặc tôi, mà thay vào đó là nói những điều độc ác, cay độc. Chúng còn khiến người ta tổn thương hơn gấp nhiều lần so với bị gọi là đồ này đồ nọ, nhưng tôi thật tâm chẳng buồn để ý đến chúng – không nhiều lắm – hay không lâu lắm – vì Ilse không chủ tâm nói thế và thật ra bạn ấy cũng yêu quý tôi không kém gì tôi yêu quý bạn ấy. Nhưng Perry thì bảo những lời ấy cứ đeo đẳng tâm trí cậu ấy. Từ lúc đó cho tới tận khi đã về đến nhà, cậu ấy và Ilse chẳng nói năng gì với nhau nữa, nhưng hôm sau, Ilse lại công kích cậu ấy vì chuyện dùng sai ngữ pháp và không đứng dậy khi có một phu nhân bước vào phòng.

    “ ‘Tất nhiên người ta cũng chẳng thể trông chờ cậu biết điều đó được,’ bạn ấy nói bằng giọng cay độc hết mức, ‘nhưng tôi dám chắc thầy Carpenter đã nỗ lực hết sức để dạy ngữ pháp cho cậu.’

    “Perry không nói một lời với Ilse mà chỉ quay sang nói với tôi.

    “ ‘Cậu sẽ chỉ cho tớ các lỗi sai chứ?’ cậu ấy hỏi. ‘Tớ không thấy khó chịu nếu cậu làm thế đâu… khi chúng ta lớn lên thì không phải Ilse mà chính cậu mới là người phải chịu đựng tớ.’

    “Cậu ấy nói thế cốt làm Ilse giận, nhưng tôi còn giận hơn nhiều, vì nó bóng gió về một chủ đề cấm kỵ. Vậy nên cả hai đứa tôi chẳng ai thèm nói chuyện với cậu ấy trong suốt hai ngày, và cậu ấy bảo dù sao đi nữa thì cậu ấy cũng nhẹ cả người vì tạm thời thoát được những lời chỉ trích gay gắt của Ilse.

    “Perry không phải người duy nhất ở Trăng Non bị rơi vào tình huống đáng xấu hổ. Tối qua tôi đã nói một điều ngu ngốc, khiến cho mỗi khi nhớ lại tôi đều phải đỏ mặt. Hội Phụ nữ Cứu trợ đã họp mặt ở đây và bác Elizabeth mời họ ăn tối, vậy là chồng của các bà các cô trong hội cũng đến tham gia. Ilse và tôi đứng phục vụ ở bàn ăn bày biện trong bếp vì bàn phòng khách không đủ rộng. Ban đầu thì mọi chuyện cũng khá vui, nhưng đến khi mọi người đều đã được phụ vụ đồ ăn thức uống đầy đủ thì không khí có phần tẻ nhạt dần, và tôi đứng bên cửa sổ, vừa phóng ánh mắt ra ngoài vườn, vừa soạn trong đầu mấy vần thơ. Tôi say sưa với việc này đến nỗi chẳng mấy chốc đã quên bẵng tất cả mọi thứ khác, cho tới khi đột nhiên tôi nghe thấy bác Elizabeth gọi ‘Emily’ bằng giọng sắc lẻm, và rồi bác ấy hướng ánh mắt đầy ẩn ý về phía ngài Johnson, mục sư mới của chúng tôi. Tôi bối rối chộp lấy bình trà và kêu lên,

    “ ‘Ôi, ngài Tách, ngài có muốn châm thêm trà vào Johnson của ngài không ạ?’

    “Ai nấy đều phá lên cười, bác Elizabeth trông vô cùng cáu kỉnh và bác Laura xấu hổ tột độ, còn tôi thì chỉ ước gì mình chui xuống đất cho xong. Tôi trằn trọc gần hết một đêm vì cứ nghĩ mãi về chuyện này. Lạ một nỗi tôi tin chắc nếu thực sự làm sai chuyện gì đó thì tôi cũng chẳng cảm thấy bứt rứt và xấu hổ đến mức này. Tất nhiên đây là vấn đề về ‘lòng kiêu hãnh của người nhà Murray’, và tôi cho rằng chuyện này rất tệ hại. Đôi khi, tôi chỉ sợ rằng xét cho cùng, bà bác Ruth Dutton hóa ra đã đánh giá đúng về tôi.

    “Không, bà ấy không đúng!

    “Nhưng ở Trăng Non đã hình thành một truyền thống rằng những người phụ nữ trong dòng họ cần phải có đủ khả năng đối phó với bất kỳ tình huống nào và lúc nào cũng phải tỏ ra duyên dáng đường hoàng. Ôi chao, còn gì là duyên dáng đường hoàng khi hỏi ngài mục sư mới một câu như vậy chứ. Tôi dám chắc từ giờ trở đi, hễ gặp tôi là thể nào ông ấy cũng nghĩ đến chuyện đó cho xem, và tôi sẽ luôn khổ sở dằn vặt mỗi khi thấy ông ấy hướng ánh mắt về phía mình.

    “Nhưng bây giờ, khi đã viết lại câu chuyện này vào nhật ký rồi thì tôi không còn cảm thấy quá khổ sở nữa. Dường như một khi đã được viết ra rồi thì chẳng điều gì còn có vẻ to tát hay khủng khiếp – than ôi, cũng chẳng đẹp đẽ hay huy hoàng – như khi ta đang nghĩ hay cảm giác về nó. Dường như nó đã co lại ngay khi ta đem nó vào trong ngôn ngữ. Ngay cả câu thơ tôi vừa sáng tác ngay trước khi thốt lên câu hỏi ngớ ngẩn đó có vẻ như cũng chỉ còn giữ lại được một nửa sự hay ho khi được tôi viết thành câu chữ:

    “ ‘Nơi những bàn chân nhung của bóng tối êm ái bước qua.’

    “Nó không phải vậy. Dường như nó đã mất mát ít nhiều vẻ đẹp rạng rỡ rồi. Tuy nhiên, lúc tôi đang đứng đó, phía sau toàn bộ đám đông đang vừa ăn uống vừa chuyện trò, và nhìn thấy bóng tối rón rén, êm ái lướt qua khu vườn và dãy đồi, chẳng khác gì một phụ nữ xinh đẹp khoác tấm áo choàng đêm với đôi mắt chính là hai vì sao, ánh chớp đã đến, khiến tôi quên đi hết thảy mọi thứ trên đời, chỉ giữ lại niềm mong mỏi được mang chút gì đó của vẻ đẹp mà tôi cảm nhận được ấy vào trong lời thơ của mình. Khi câu thơ đó nảy ra trong tâm trí tôi, tôi cảm thấy dường như tôi hoàn toàn không phải người đã sáng tác ra nó – dường như có Điều Gì Khác đang cố gắng mượn tôi để lên tiếng – và chính Điều Gì Khác đó đã khiến câu thơ có vẻ thật tuyệt diệu… ấy vậy mà bây giờ khi khoảnh khắc qua rồi thì câu chữ dường như thật nhạt nhẽo, ngu ngốc, và bức tranh mà tôi đang cố gắng vẽ nên nhờ ngôn ngữ lại chẳng hề tuyệt diệu đến thế.

    “Ôi, giá như tôi có thể mang mọi thứ vào trong ngôn ngữ ngay khi tôi nhìn thấy chúng! Thầy Carpenter bảo, ‘Cứ cố lên… cố gắng hơn nữa… kiên trì vào… ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt của trò… hãy biến chúng thành nô lệ cho trò… cho đến khi chúng nói cho trò nghe những điều trò muốn nghe.’ Quả như thế thật… và tôi đã thử rồi… nhưng tôi vẫn cảm giác như có một thứ gì đó vượt ra ngoài ngôn ngữ… bất kỳ từ ngữ nào… hết thảy mọi từ ngữ… một thứ gì đó luôn trốn thoát khỏi ta mỗi khi ta cố gắng nắm bắt… ấy vậy nhưng nó sẽ vẫn để rớt lại trong tay ta một thứ nếu không chịu với tay ra ta sẽ chẳng bao giờ có được.

    “Tôi vẫn nhớ một ngày mùa thu năm ngoái, chú Dean và tôi đi bộ qua núi Ngoạn Mục để tới khu vườn phía bên kia – cây cối trong rừng chủ yếu là linh sam, nhưng có riêng một góc dành cho những cây thông lâu năm lộng lẫy. Hai chú cháu tôi ngồi dưới gốc cây thông, chú Dean đọc cho tôi nghe truyện Peveril xứ Peak và cả mấy bài thơ của Scott nữa; rồi chú ấy ngước nhìn lên những cành cây to xòe rộng như sợi lông chim, và nói,

    “ ‘Các vị thần đang chuyện trò trong những cây thông… các vị thần của phương Bắc xa xưa… của những câu chuyện dân gian về người Viking. Sao Trời này, cháu có biết thơ của Emerson không nhỉ?’

    “Và rồi chú ấy đọc đoạn thơ… tôi vẫn còn nhớ như in và từ đó đến nay vẫn luôn yêu thích những vần thơ đó.

    “ ‘Các vị thần chuyện trò trong hơi thở của thế gian,

    Họ chuyện trò trong cây thông đu đưa xào xạc,

    Lấp đầy bờ biển xưa rộng dài

    Bằng cuộc đối thoại thiêng liêng;

    Và nhà thơ nghe lỏm được

    Một từ ngẫu nhiên họ nói

    Chính là người định mệnh đã an bài

    Đến tuổi tác cũng đành tuân phục.’

    “Ôi, cái ‘từ ngẫu nhiên’ đó – nó chính là Điều Gì Đó đã trốn khỏi tôi. Tôi vẫn luôn lắng tai hòng nghe thấy nó… tôi biết mình chẳng bao giờ nghe thấy được… tai tôi không đồng điệu với nó… nhưng tôi dám chắc thỉnh thoảng tôi vẫn nghe thấy một tiếng vọng yếu ớt, xa xăm, nhạt nhòa của nó… và chính tiếng vọng ấy khơi dậy trong tôi một niềm vui thích đớn đau cùng nỗi tuyệt vọng bởi không thể truyền tải vẻ đẹp của nó bằng bất cứ từ ngữ nào tôi biết.

    “Ấy vậy nhưng, tiếc thay, tôi đã tự biến mình thành một cô ngốc ngay sau trải nghiệm tuyệt vời đó.

    “Giá tôi có thể lướt tới phía sau mục sư Johnson, bằng những bước chân êm ái như bóng đêm, rồi duyên dáng châm trà cho ông từ chiếc bình trà bằng bạc của cụ cố Murray, hệt như bóng tối đang rót đêm vào chiếc tách trắng của thung lũng Blair, chắc hẳn bác Elizabeth sẽ hài lòng về tôi hơn gấp vạn lần so với khi tôi có thể sáng tác nên bài thơ đặc sắc nhất trần gian.

    “Bác Jimmy thì khác một trời một vực. Tối nay, sau khi hai bác cháu xem bảng danh mục xong, tôi đã đọc bài thơ của mình cho bác ấy nghe, và bác ấy thấy nó rất tuyệt. (Bác ấy chẳng thể biết rằng nó còn kém xa so với những gì tôi nhìn thấy trong tâm trí.) Bác Jimmy cũng sáng tác thơ. Ở nhiều chỗ, bác ấy rất khôn ngoan sáng suốt. Còn ở nhiều chỗ khác, những chỗ não bộ bị tổn thương do bác ấy bị bác Elizabeth đẩy ngã xuống cái giếng ở Trăng Non, bác ấy chẳng có gì hết. Ở đó chỉ có sự trống rỗng thôi. Vậy nên ai cũng bảo bác ấy là người ngây dại, bác Ruth thậm chí còn dám nói bác Jimmy chẳng đủ khôn ngoan để đuổi một con mèo tránh xa chỗ kem. Ấy thế nhưng nếu ta ghép hết những chỗ khôn ngoan sáng suốt của bác ấy lại, thì ở cả cái làng Hồ Blair này, chẳng ai có nổi một nửa sự thông minh đích thực của bác ấy đâu – kể cả thầy Carpenter đi chăng nữa. Mỗi tội ta chẳng thể ghép hết những chỗ khôn ngoan sáng suốt của bác ấy lại được… giữa chúng luôn có các khoảng trống. Nhưng tôi rất yêu quý bác Jimmy, và ngay cả khi bác ấy bị những thứ kì quặc ám vào, tôi cũng không bao giờ sợ bác ấy, dù chỉ một nảy may. Người khác thì vẫn sợ – ngay cả bác Elizabeth, tuy nhiên bác ấy thì có lẽ không phải sợ mà đúng hơn là ăn năn day dứt – chỉ trừ Perry. Perry lúc nào cũng khoe khoang cậu ấy chẳng sợ gì sất… chẳng bao giờ biết sợ là gì. Tôi nghĩ nếu được thế thì tuyệt biết bao. Giá như tôi có thể gan dạ như vậy. Thầy Carpenter nói sợ hãi là một thứ xấu xa, là cơn cớ của hầu hết mọi sai lầm và những điều đáng ghét trên thế giới.

    “ ‘Xua đuổi nó đi, Ngọc Bích,’ thầy nói… ‘xua đuổi nó khỏi trái tim đi. Sợ hãi chính là thừa nhận sự yếu đuối. Thứ khiến trò sợ hãi mạnh mẽ hơn trò nhiều, hay ít ra theo trò nghĩ là vậy, nếu không trò đã chẳng sợ nó. Hãy nhớ Emerson của trò… ‘sợ điều gì thì hãy làm điều ấy’”.

    “Nhưng, như chú Dean đã nói đấy, đây đúng là kiểu lời khuyên hay thì hay thật nhưng không có cơ thực hiện, và tôi không tin là mình có thể làm được. Thành thật mà nói, tôi sợ rất nhiều thứ, nhưng trên thế giới này chỉ có hai người khiến tôi sợ thực sự. Một là bà Kent, và một là ông Morrison Khùng. Tôi sợ ông ấy khủng khiếp, và chắc hẳn tất cả những người khác cũng vậy. Nhà ông ấy ở Ao Thành Kiến, nhưng ông ấy chẳng mấy khi ở đó… ông ấy lang thang khắp mọi miền đất nước, tìm kiếm cô dâu mất tích của ông ấy. Ông ấy đã kết hôn cách đây lâu lắm rồi, nhưng mới được vài tuần thì người vợ trẻ qua đời, và kể từ ngày đó, ông ấy chẳng bao giờ còn tỉnh táo được nữa. Ông ấy cứ khăng khăng rằng bà vẫn chưa chết mà chỉ mất tích thôi, và sẽ có ngày ông tìm thấy bà. Theo năm tháng, ông ấy cứ thế già đi, lưng cứ thế còng xuống, và vẫn cứ mải miết đi tìm người vợ mất tích, nhưng với ông, bà vẫn luôn trẻ trung và xinh đẹp.

    “Hè năm ngoái, một hôm ông ấy đã đến đây, nhưng không vào nhà… chỉ đăm chiêu nhòm vào trong bếp rồi hỏi, ‘Annie có ở đây không?’ Hôm đó ông ấy khá hiền lành, nhưng thỉnh thoảng ông ấy hung dữ và điên rồ không tả nổi. Ông ấy bảo lúc nào cũng nghe thấy tiếng bà Annie đang gọi… rằng tiếng nói của bà ấy luôn lờ lững phía trước ông… luôn luôn ở phía trước ông, y như cái từ ngẫu nhiên của tôi. Mặt ông ấy quắt queo chằng chịt nếp nhăn, và trông ông chẳng khác gì một con khỉ già lụ khụ. Nhưng thứ tôi ghét nhất là bàn tay phải của ông ấy – nó đỏ thẫm như nhuộm máu – hằn vết bớt. Tôi không thể giải thích lý do tại sao, chỉ biết rằng bàn tay đó khiến tôi kinh hãi tột cùng. Chỉ cần chạm vào nó cũng khiến tôi không chịu nổi. Thêm vào đó, nhiều khi, ông ấy còn cười một mình rất đáng sợ. Sinh vật duy nhất có vẻ thu hút được sự quan tâm của ông ấy là con chó già màu đen dính chặt ông ấy như hình với bóng. Người ta bảo ông ấy chẳng bao giờ xin xỏ cho bản thân dù chỉ một mẩu thức ăn. Nếu không được mời thì ông sẵn sàng chịu đói, nhưng ông sẽ cầu xin thức ăn cho chó của mình.

    “Ôi chao, tôi sợ ông ấy đến chết đi được, và hôm đó, tôi mừng húm vì ông ấy không vào trong nhà. Lúc ông ấy quay lưng đi, mái tóc dài đã ngả màu muối tiêu phất phơ trong gió, bác Elizabeth dõi mắt nhìn theo mà nói,

    “ ‘Hồi còn trẻ, Fairfax Morrison rất bảnh bao, thông minh, với cả một tương lại rực rỡ đang chờ đón. Thế đấy, thật chẳng ai lường trước được sự xếp đặt của Chúa.’

    “ ‘Thì vậy mới thú vị chứ ạ,’ tôi nói.

    “Nhưng bác Elizabeth đã cau mày bảo tôi đừng có tỏ thái độ bất kính, đúng phản ứng quen thuộc của bác ấy mỗi khi tôi nói gì liên quan đến Chúa. Tôi chẳng hiểu nổi tại sao nữa. Bác ấy cũng không cho Perry và tôi nói chuyện về Người, dù Perry thật lòng vô cùng quan tâm đến Người và mong muốn tìm hiểu tất tật mọi chuyện về Người. Có một chiều Chủ nhật, bác Elizabeth tình cờ nghe thấy tôi bày tỏ với Perry suy nghĩ của tôi về Chúa, vậy là bác ấy bảo như thế thật đáng hổ thẹn.

    “Nhưng có phải vậy đâu! Vấn đề nằm ở chỗ Chúa của bác Elizabeth khác với Chúa của tôi, chỉ thế thôi. Tôi cho là mỗi người đều có một Chúa riêng. Ví dụ như Chúa của bác Ruth sẽ trừng phạt kẻ thù của bác ấy… mang ‘sự phán xét’ đến cho họ. Theo tôi thấy, có vẻ như thật tình đối với bác ấy thì Người chỉ có mỗi lợi ích đó thôi. Jim Cosgrain thường mang Người ra để thề thốt. Còn dì Janey Milburn thì ngày ngày bước trong ánh sáng từ Chúa của dì ấy, và tỏa sáng cùng nó.

    “Tối nay tôi đã dốc cạn cảm xúc của mình rồi, và giờ tôi đi ngủ thôi. Tôi biết rõ mình đã viết rất nhiều ‘từ lãng phí’ vào trong cuốn nhật ký này – lại thêm một sai lầm văn chương của tôi, theo cách nói của thầy Carpenter.

    “ ‘Trò lãng phí ngôn ngữ quá, Ngọc Bích ạ… trò vung vít chúng ra một cách quá vô tội vạ. Hãy biết tiết kiệm và kiềm chế… đó chính là điều trò đang cần đấy.’

    “Tất nhiên thầy ấy nói rất đúng, và tôi đã cố gắng áp dụng lời khuyên nhủ của thầy vào trong các bài luận và truyện của mình. Nhưng nhật ký của tôi thì ngoài tôi ra có ai đọc đâu, hoặc nếu có thì cũng phải đợi cho đến khi tôi chết đã, vậy nên tôi chỉ muốn mặc cho cảm xúc của mình dẫn dến đâu thì đi đến đó.”

    Nguồn ebooks: http://www.luv-ebook.com

    Emily nhìn cây nến – nó cũng sắp tàn rồi. Cô bé biết rõ tối nay đừng mơ có thêm cây nến nào nữa – các quy tắc của bác Elizabeth cũng ngang bằng các quy tắc của dân Mede và dân Ba Tư: cô bé cất cuốn nhật ký vào cái tủ nhỏ trên bệ lò sưởi bên phải, vùi ngọn lửa đang lụi dần, cởi quần áo và thổi tắt nến. Căn phòng chậm rãi chìm vào trong thứ ánh sáng nhợt nhạt, ma quái lòa nhòa ánh tuyết của buổi đêm vốn có trăng nhưng vầng trăng tròn lại bị khuất lấp phía sau những đám mây bão đang vần vũ. Nhưng ngay khi Emily đã sẵn sàng vùi mình trên chiếc giường cao đen sì thì cảm hứng bất chợt ập đến – một ý tưởng mới toanh chói sáng về một câu chuyện. Cô bé thoáng rùng mình miễn cưỡng: căn phòng đang lạnh dần. Nhưng làm sao từ chối cái ý tưởng kia được chứ. Emily chuồi tay vào giữa lớp khăn trải giường nhồi lông chim và tấm đệm nhồi rơm rồi lôi ra một cây nến còn phân nửa, vốn được giấu ở đáy phòng những lúc khẩn cấp như thế này.

    Tất nhiên, đây không phải hành động đúng đắn gì cho cam. Nhưng từ trước tới nay, và ngay cả sau này cũng vậy, tôi chẳng bao giờ làm ra vẻ Emily là một đứa trẻ luôn làm những chuyện đúng đắn. Sách truyện đâu có viết về những đứa trẻ chuyên làm những chuyện đúng đắn chứ. Như thế thì chúng sẽ nhạt hoen hoét đến độ chẳng ai buồn đọc nữa.

    Emily thắp nến, xỏ chân vào tất và khoác thêm chiếc áo choàng dày cộp, rồi lấy ra một cuốn sổ Jimmy khác đã kín chữ quá nửa và bắt đầu viết, dưới ánh nến đơn độc, chập chờn đang vẽ nên một ốc đảo ánh sáng nhợt nhạt giữa căn phòng vốn tối đen như mực. Emily viết giữa ốc đảo ánh sáng ấy, mái đầu đen cúi rạp trên quyển sổ, trong khi buổi tối chậm rãi trôi qua lặng lẽ, giữa lúc các cư dân khác của trang trại Trăng Non đều đã chìm sâu vào giấc ngủ; càng lúc người càng lạnh và tư thế cũng bắt đầu thiếu thoải mái, nhưng con bé gần như chẳng hề nhận ra. Đôi mắt nó bừng cháy… hai gò má ửng hồng rạng rỡ… ngôn ngữ tuôn trào như đoàn quân thần thánh răm rắp tuân theo tiếng gọi từ ngòi bút. Cuối cùng, đến lúc cây nến tàn xèo xèo hấp hối giữa vũng sáp nhỏ dưới chân nến, con bé mới rùng mình thở dài quay về hiện thực. Đồng hồ chỉ hai giờ sáng, Emily vừa lạnh cóng vừa mệt rũ; nhưng con bé đã hoàn thành câu chuyện của mình, và đó là câu chuyện đặc sắc nhất con bé từng sáng tác. Emily rúc vào trong cái ổ giờ đã lạnh ngắt, lòng tràn ngập cảm giác hân hoan mãn nguyện nhờ đã đáp ứng trọn vẹn thôi thúc sáng tạo của mình, và thiếp đi giữa tiếng ru hời của cơn bão đang đà suy yếu.
     
  3. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 2: Thời thanh xuân non nớt
    Cuốn sách này không hoàn toàn, thậm chí cũng không phải phần lớn, được cấu thành bởi các đoạn trích từ cuốn nhật ký của Emily; nhưng, bằng việc kết nối các vấn đề dù chưa đủ tầm quan trọng đến mức xứng đáng được dành hẳn một chương riêng nhưng lại không thể thiếu nếu muốn hiểu cặn kẽ về tính cách và môi trường của cô bé, tôi sẽ giới thiệu một phần cuốn nhật ký đó. Thêm nữa, khi người ta đã có sẵn chất liệu trong tay thì tội gì không dùng chứ? Cuốn “nhật ký” của Emily, với hết thảy những chỗ viết nghiêng và những chỗ non nớt thiếu trau chuốt ấy, quả thực đã khắc họa hình ảnh Emily trong mùa xuân thứ mười bốn của cuộc đời cùng tâm hồn nhạy cảm giàu trí tưởng tượng của cô bé một cách sắc nét hơn bất kỳ cuốn tiểu sử nào có thể làm được. Vậy nên, chúng ta hãy thử ngó thêm lần nữa vào những trang sách ố vàng của “cuốn sổ Jimmy” cũ kỹ vốn được viết từ ngày xửa ngày xưa trong “sự canh chừng” của Trăng Non.

    “15 tháng Hai, 19…

    “Tôi đã hạ quyết tâm hằng ngày sẽ viết vào cuốn nhật ký này hết thảy mọi hành động cả tốt cả xấu của tôi. Tôi bắt gặp ý tưởng này trong một cuốn sách, và vô cùng hứng thú với nó. Tôi muốn phản ánh một cách chân thực nhất. Tất nhiên, viết về những việc làm tốt thì dễ quá rồi, nhưng còn việc làm xấu thì chẳng dễ gì mà nói được ra.

    “Hôm nay, tôi chỉ làm duy nhất được một việc xấu – có nghĩa là việc duy nhất tôi cho là xấu. Tôi đã tỏ thái độ xấc láo với bác Elizabeth. Bác ấy nghĩ tôi rửa bát đĩa lâu quá. Tôi thì chẳng thấy có lý do gì cần phải vội vã cả, mà tôi lại còn đang bận sáng tác một câu chuyện tên là Bí mật của chiếc cối xay. Bác Elizabeth nhìn tôi rồi nhìn đồng hồ, và nói thái độ gắt gỏng nhất trần đời,

    “ ‘Cháu là chị em với loài ốc sên đấy à, Emily?’

    “ ‘Không! Ốc sên chẳng có dây mơ rễ má gì với cháu hết,’ tôi kiêu kỳ đáp lại.

    “Vấn đề không nằm ở câu nói của tôi, mà chính cách tôi nói mới thể hiện sự xấc láo. Và tôi đã chủ tâm làm thế. Tôi tức đến nổ đom đóm mắt – hễ cứ bị ai chỉ trích là y như rằng tôi lại phát cáu. Chuyện xong rồi thì tôi lại thấy hối hận vô cùng vì đã cáu giận – nhưng tôi hối hận vì làm thế thật ngu ngốc và không ra dáng đoan trang chứ không phải vì thấy tội lỗi. Vậy nên chắc hẳn cũng không thể coi đó là sự ăn năn hối lỗi đích thực được.

    “Về việc tốt thì hôm nay tôi làm được hai việc. Tôi đã cứu sống hai sinh mạng bé bỏng. Sal Ngổ Ngáo tóm được một chú chim sẻ mắt đen đáng thương, và tôi đã đoạt lấy chú ta từ tay cô nàng. Chú sẻ hối hả bay đi mất, và tôi dám chắc chú ta vô cùng hạnh phúc. Sau đó, tôi xuống chỗ chạn bát trong hầm và phát hiện ra một con chuột bị kẹp chân vào bẫy. Con vật tội nghiệp nằm đó, sức tàn lực kiệt do vùng vẫy quá nhiều, trong đôi mắt đen là ánh nhìn đó. Tôi không sao kiềm lòng được nên đành thả tự do cho nó, và dù chân cẳng như thế nhưng nó vẫn nhanh chóng chuồn đi mất dạng. Tôi không chắc chắn lắm về hành động này. Tất nhiên xét từ điểm nhìn của con chuột thì đây là một việc tốt, nhưng theo quan điểm của bác Elizabeth thì sao?

    “Tối nay, bác Laura và bác Elizabeth đã đọc nguyên một hộp đầy ắp thư từ cũ rồi sau đó đốt sạch. Hai bác ấy đọc thành tiếng và bình luận về mấy bức thư đó, trong khi tôi ngồi trong góc nhà để đan tất. Những bức thư rất thú vị và tôi đã biết được vô khối điều tôi chưa bao giờ biết về nhà Murray. Tôi cảm thấy tuyệt vời xiết bao vì được làm một thành viên trong một gia đình như thế này. Chẳng trách dân làng Hồ Blair gọi chúng tôi là “Người Được Chọn” – mặc dù họ nói thế không phải với ý khen ngợi. Tôi cảm thấy nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt những truyền thống của dòng họ mình.

    “Hôm nay, tôi nhận được một bức thư dài từ chú Dean Priest. Chú ấy đang trải qua mùa đông ở Algiers. Chú ấy bảo đến tháng Tư sẽ về nhà và hè tới sẽ đến ở cùng với chị gái, bà Fred Evans. Tôi rất vui. Sẽ tuyệt biết bao nếu chú ấy ở lại Hồ Blair suốt cả mùa hè. Chưa có bất kỳ ai trò chuyện với tôi giống như chú Dean. Chú ấy là người lớn tử tế nhất và thú vị nhất tôi từng biết. Bác Elizabeth bảo chú ấy là kẻ ích kỷ, giống hệt những người mang họ Priest. Nhưng hồi đó bác ấy đâu có yêu quý gì nhà Priest. Lúc nào bác ấy cũng gọi chú ấy là Lưng Bình, và chẳng hiểu sao cứ nghe thế tôi lại thấy khó chịu. Một bên vai của chú Dean cao hơn vai bên kia thật, nhưng đó có phải lỗi của chú ấy đâu. Tôi từng có lần nói với bác Elizabeth rằng tôi mong sao bác ấy đừng gọi bạn tôi như thế, nhưng bác ấy chỉ bảo,

    “ ‘Có phải ta đặt biệt danh cho bạn của cháu đâu, Emily. Từ xưa đến nay họ hàng nhà cậu ta lúc nào chẳng gọi cậu ta là Lưng Bình. Nhà Priest đâu có vang danh vì sự lịch thiệp đâu!’

    “ Teddy cũng nhận được thư từ chú Dean, và thêm cả một cuốn sách nữa – Cuộc đời những họa sĩ vĩ đại – Michael Angelo, Raphael, Velasquez, Rembrandt, Titian. Cậu ấy bảo không dám để cho mẹ cậu ấy nhìn thấy cậu ấy đang đọc cuốn sách này, thể nào bà ấy cũng đốt đi cho xem. Tôi tin chắc chỉ cần có cơ hội, Teddy rồi cũng sẽ trở thành một nghệ sĩ vĩ đại như bất kỳ ai trong số đó thôi.”

    “18 tháng Hai, 19…

    “Hôm nay, tôi đã có một buổi tối rất dễ chịu khi một mình đi dạo sau giờ học trên con đường ven suối chạy qua rừng cây bụi nhà ông John Ngạo Mạn. Vầng mặt trời màu kem là là trên màn tuyết trắng xóa, còn những cái bóng đổ xuống mảnh mai và u buồn đến thắt lòng. Tôi vẫn luôn cho rằng trên đời này, chẳng có gì đẹp bằng bóng cây. Và đến khi tôi bước vào vườn, cái bóng của tôi trông mới hay làm sao chứ, dài ngoằng ngoẵng đến độ vắt sang hẳn phía bên kia vườn. Ngay lúc đó, tôi đã sáng tác được một bài thơ với hai câu,

    “ ‘Nếu chúng ta cao ngang bóng của mình,

    Thì bóng chúng ta sẽ cao đến mức nào.’

    “Tôi nghĩ câu thơ này rất đậm chất triết học.

    “Tối nay tôi đã viết truyện và bác Elizabeth biết thừa tôi đang làm gì nên tức giận lắm. Bác ấy mắng tôi vì tội lãng phí thời gian. Nhưng như thế đâu có lãng phí thời gian. Nhờ viết truyện, tôi đã trưởng thành hơn, tôi biết chắc như thế. Và chưa kể có nhiều câu khiến tôi rất thích nữa. ‘Tôi e sợ cánh rừng xám’ – tôi rất hài lòng với câu này. Và… ‘bàng bạc oai nghiêm như ánh trăng, nàng dạo bước trong khu rừng tối’. Tôi thấy câu này khá hay. Tuy nhiên, thầy Carpenter lại bảo bất cứ khi nào cảm thấy cái gì đó đặc biệt hay thì tôi hãy cắt bỏ nó đi ngay. Nhưng chao ôi, tôi không thể cắt câu ấy đi được, ít nhất chưa phải là bây giờ. Lạ ở chỗ, cứ khoảng ba tháng sau khi thầy Carpenter kêu tôi cắt bỏ thứ này thứ kia, tôi lại thấy thầy nói đúng và cảm thấy xấu hổ vì nó. Hôm nay thầy Carpenter không tỏ ra chút nhân nhượng nào đối với bài luận của tôi. Thầy chẳng thấy hài lòng với bất cứ điểm nào ở nó hết.

    “ ‘Trong một đoạn mà có đến tận ba từ than ôi sao, Emily. Chỉ một lần thôi cũng đã là quá nhiều trong cái năm đầy ơn phước này rồi!’ ‘Hấp dẫn khôn cưỡng hơn – Emily, vì Chúa, viết tiếng Anh đi xem nào! Thế này thật không chấp nhận được.’

    “Chuyện này cũng thế. Tôi tự mình đánh giá và cảm thấy nỗi xấu hổ lan tỏa khắp châu thân như một con sóng đỏ bừng. Rồi, sau khi thầy Carpenter đã dùng bút chì xanh gạch gần như tất cả các câu văn, châm chọc hết thảy những đoạn văn hay ho của tôi và gần như động đến cấu trúc câu nào cũng đều lôi ra được lỗi, rồi còn bảo rằng tôi quá nghiện thể hiện ‘chủ nghĩa khôn ngoan’ trong bài viết, thầy quăng cuốn vở bài tập của tôi xuống, xọc tay vào tóc và nói,

    “ ‘Trò mà đòi viết lách ấy hả! Ngọc Bích này, cầm lấy thìa rồi học nấu nướng đi!’

    “Rồi thầy sải bước bỏ đi, lẩm bẩm những câu nguyền rủa ‘không đao to búa lớn nhưng vô cùng thâm thúy’. Tôi nhặt bài luận tội nghiệp của mình lên, trong lòng cũng không đến nỗi quá khổ sở. Tôi vốn đã biết nấu nướng rồi, thêm nữa thời gian qua, tôi đã ít nhiều hiểu thầy Carpenter. Bài luận của tôi càng đặc sắc, cơn giận dữ của thầy dành cho chúng sẽ càng dữ dội. Chắc hẳn bài luận này cũng tương đối ổn. Nhưng thầy vẫn giận dữ và mất kiên nhẫn vì thầy đã nhìn ra có những chỗ lẽ ra tôi còn có thể làm tốt hơn nữa, ấy vậy mà tôi lại không làm được – vì cẩu thả, vì lười nhác hoặc vì thờ ơ. Mà thầy thì không cách nào chịu nổi một người dù có khả năng nhưng lại không chịu làm cho tốt hơn. Và nếu không cho rằng tôi có thể sớm đạt được một điều gì đó thì chắc hẳn thầy cũng sẽ chẳng buồn bận tâm đến tôi.

    “Bác Elizabeth không tán thành ý kiến của ngài Johnson. Bác ấy cho rằng thuyết thần học của ngài mục sư không đúng đắn. Trong bài giảng đạo hôm Chủ nhật vừa rồi, ông ấy bảo đạo Phật cũng có nhiều điểm hay.

    “ ‘Rồi hôm sau thể nào ông ấy cũng bảo rằng giáo hội La Mã cũng có cái hay cho xem,’ bác Elizabeth phẫn nộ lên tiếng lúc đang ngồi ăn tối.

    “Có thể ở đạo Phật cũng có nhiều điểm hay chứ. Khi nào chú Dean trở về, tôi sẽ phải hỏi chú ấy vấn đề này mới được.”

    “2 tháng Ba, 19…

    “Hôm nay, tất cả mấy bác cháu đều phải dự một đám tang – của bà cụ Sarah Paul. Từ trước đến nay tôi vẫn thích đi dự đám tang. Khi nghe tôi nói thế, bác Elizabeth có vẻ choáng váng đến điếng người, còn bác Laura nói, ‘Ôi, Emily yêu dấu!’ Kể mà có thể khiến bác Elizabeth choáng váng đến điếng người thì tôi cũng thấy khá thích thú, nhưng tôi không bao giờ thấy thoải mái nếu lỡ làm phiền lòng bác Laura – bác ấy đáng mến đến thế cơ mà – vậy nên tôi bèn giải thích, hay đúng ra là cố gắng giải thích. Nhiều khi thật khó giải thích mọi chuyện với bác Elizabeth.

    “ ‘Đám tang thú vị mà bác,’ tôi nói. ‘Và buồn cười nữa.’

    “Có lẽ tôi nói thế chỉ càng khiến cho tình hình thêm tồi tệ. Tuy nhiên, bác Elizabeth cũng biết rõ chẳng kém gì tôi rằng sẽ thú vị xiết bao khi được chứng kiến mấy người họ hàng của bà Paul, những người suốt bao nhiêu năm nay vẫn căm ghét và thường xuyên cãi cọ với bà – lúc còn sống bà cụ cũng đã chẳng phải người thân thiện gì cho cam! – ngồi ở đó, vùi mặt vào khăn tay giả vờ nức nở. Tôi biết thừa từng người bọn họ cũng như tất cả những gì bọn họ đang nghĩ trong lòng. Jake Paul đang băn khoăn không biết liệu có khả năng bà già cay nghiệt đó viết di chúc để lại chút gì cho ông ta không… còn Alice Paul, vốn biết rõ mười mươi bà ta sẽ chẳng nhận được gì, thì đang hy vọng Jake Paul cũng phải chịu số phận tương tự. Nếu thế thì bà ta mới thấy mãn nguyện. Bà vợ của Charles Paul đang tự hỏi đến lúc nào bà ta sẽ được tùy ý xử lý ngôi nhà theo đúng cách bà ta khao khát từ lâu nhưng bà Paul đã chẳng bao giờ đồng ý. Còn dì Min đang sốt hết cả ruột, chỉ sợ không có đủ bánh nướng phục vụ cho đám họ hàng xa bốn đời vốn chẳng bao giờ được họ chờ mong hay muốn gặp, trong khi Lisette Paul đếm người và lấy làm bực mình vì số người tham dự không đông bằng đám tang của bà Henry Lister hồi tuần trước. Lúc tôi nói lại chuyện này với bác Laura, bác ấy nghiêm nghị nói,

    “ ‘Có thể mọi chuyện đúng như thế thật, Emily’-(bác ấy biết thừa đó là sự thật mà!) – ‘nhưng tóm lại, có vẻ không được đúng đắn lắm nếu một cô gái mới tí tuổi đầu như cháu có thể… có thể nhìn ra những thứ này.’

    “Tuy nhiên, tôi không thể không nhìn ra những điều này. Bác Laura yêu dấu lúc nào cũng cảm thấy tiếc thương vô hạn cho mọi người đến nỗi bác ấy chẳng thể nhận ra mặt khôi hài của họ. Nhưng tôi còn thấy cả những điều khác nữa. Tôi nhìn thấy Zack Fritz bé bỏng, cậu bé được bà Paul nhận nuôi và chăm sóc rất tận tình, đau khổ đến mức gần như suy sụp, và tôi còn nhìn thấy bà Martha Paul đang day dứt hổ thẹn khi nhớ đến cuộc cãi cọ gay gắt hồi xưa với bà Paul… tôi nhìn thấy khuôn mặt bà Paul, lúc sống vốn cau có khó đăm đăm là thế, vậy mà giờ lại thật thanh thản, oai nghiêm và thậm chí còn đẹp nữa… như thể cuối cùng Tử thần cũng đã làm bà thỏa mãn.

    “Phải, các đám tang quả là thú vị.”

    “5 tháng Ba, 19…

    “Tối nay, tuyết rơi nhẹ. Tôi thích nhìn màn tuyết lất phất đâm xiên những thân cây tối sẫm.

    “Có lẽ hôm nay tôi đã làm một việc tốt. Jason Merrowby đã đến đây giúp bác Jimmy xem gỗ, và tôi nhìn thấy ông ấy lẻn vào chuồng lợn, dốc chai rượu tợp một hớp. Nhưng tôi không hé răng kể lại chuyện này với bất kỳ ai… việc tốt của tôi là thế đấy.

    “Có lẽ tôi nên kể với bác Elizabeth, nhưng nếu vậy, bác ấy sẽ không bao giờ thuê ông ấy nữa, mà ông ấy lại đang khát việc, vì còn phải trong nom người vợ và đàn con tội nghiệp. Thật chẳng phải lúc nào cũng dễ dàng phân biệt được chắc chắn hành động của ta là tốt hay xấu.”

    “20 tháng Ba, 19…

    “Hôm qua bác Elizabeth cáu điên lên vì tôi không chịu viết ‘điếu thi’ cho ông Peter Degeer mới chết tuần trước. Bà DeGeer đến đây nhờ tôi viết hộ. Nhưng tôi không chịu… tôi cực kỳ phẫn nộ trước một đề nghị kiểu thế. Tôi thấy làm thế chẳng khác nào báng bổ nghệ thuật của tôi… nhưng tất nhiên tôi không nói như vậy với bà DeGeer rồi. Nếu nói ra thế thì thể nào bà ấy cũng đau lòng lắm cho xem, thêm nữa bà ấy cũng còn lâu mới hiểu dù chỉ xíu xiu ý tôi muốn nói. Đến cả bác Elizabeth cũng vậy, sau khi bà DeGeer đi rồi, tôi đã giải thích lý do từ chối với bác ấy, nhưng bác ấy có hiểu đâu.

    “ ‘Cháu toàn viết hàng đống thứ vớ vẩn chẳng ai thèm,’ bác ấy nói. ‘Có lẽ cháu nên viết một thứ thật sự được người khác mong muốn. Nó sẽ mang lại niềm vui cho bà cụ Marry DeGeer tội nghiệp. Lại còn “báng bổ nghệ thuật của cháu” nữa cơ đấy. Nếu nhất thiết phải giải thích thì sao cháu không chọn cách nói cho có lý một chút hả Emily?’

    “Tôi bèn tìm cách nói năng cho có lý.

    “ ‘Bác Elizabeth,’ tôi nói nghiêm túc, ‘làm sao cháu có thể viết thơ điếu cho bà ấy chứ? Cháu không thể viết một bài điếu văn sai sự thật chỉ cốt để mang lại niềm vui cho bất kỳ ai. Mà chính bác cũng biết rõ là muốn nói về ông Peter DeGeer thì làm sao có bài điếu văn nào vừa hay ho tốt đẹp vừa chân thực được chứ!’

    “Bác Elizabeth cũng biết vậy, thế nên bác ấy đâm ra bối rối, nhưng chính vì thế bác ấy lại càng bực mình với tôi hơn. Bác ấy cáu kỉnh quá đỗi đến mức tôi quyết định leo lên phòng viết ‘điếu thi’ về ông Peter, nhưng chỉ nhằm mua vui cho bản thân thôi. Hiển nhiên, viết điếu văn chân thực về một người ta chẳng yêu quý gì cho cam là một công việc thú vị không sao tả xiết. Nói thế không có nghĩa là tôi ghét ông Peter Degeer đâu nhé; tôi chỉ coi thường ông ta giống như thái độ của tất cả những người khác thôi. Nhưng bác Elizabeth đã khiến tôi bực mình, mà cứ khi nào bực mình là y như rằng tôi sẽ viết lách cay nghiệt ra trò. Và lại một lần nữa, tôi cảm thấy Điều Gì Đó đang viết thông qua tôi… nhưng là một Điều Gì Đó khác hẳn bình thường… một Điều Gì Đó đầy ác ý và châm biếm háo hức chế nhạo ông lão Peter DeGeer giả nhân giả nghĩa, lố bịch, dối trá, vụng về, lười biếng, nghèo khổ. Ý tưởng… ngôn ngữ… vần điệu… tất cả dường như cứ thế rơi vào đúng nơi đúng chỗ trong khi Điều Gì Đó khúc khích cười khoái trá.

    “Tôi cảm thấy bài thơ ấy thật đặc sắc, khiến tôi không thể cầm lòng được nên hôm nay đã mang nó đến trường cho thầy Carpenter đọc. Tôi cứ đinh ninh thầy thể nào cũng thích nó… mà có lẽ thầy cũng thích thật, xét trên phương diện nào đó, nhưng sau khi đọc xong, thầy bỏ bài thơ xuống và nhìn tôi.

    “ ‘Có lẽ nhạo báng một kẻ thất bại là chuyện ít nhiều thú vị thật,’ thầy nói. ‘Ông lão Peter khốn khổ là một kẻ thất bại… và ông ấy đã chết… Đấng Tạo Hóa có thể khoan dung với ông ấy, thế mà đồng loại của ông ấy thì lại không. Khi ta chết đi, Emily, lẽ nào trò cũng viết thế này về ta? Trò có năng lực… ồ, đúng vậy đấy, nó rành rành ở đây này… cái này quả thực rất đặc sắc. Trò có thể khắc họa sự yếu đuối, ngốc nghếch và xấu xa của một nhân vật theo một cách độc đáo đến mức đáng ngạc nhiên so với một cô gái ở độ tuổi của trò. Nhưng… làm thế có đáng không, Emily?’

    “ ‘Không ạ… không,’ tôi nói. Tôi quá xấu hổ và hối hận đến nỗi chỉ muốn trốn sang chỗ khác mà khóc. Thật kinh khủng xiết bao khi nghĩ đến chuyện thầy Carpenter tưởng tượng ra tôi sẽ có khi nào đó viết thư như thế về thầy, sau hết thảy những gì thầy đã làm cho tôi.

    “ ‘Nó không đáng,’ thầy Carpenter nói. ‘Luôn có chỗ cho sự nhạo báng… có những chứng hoại tử chỉ có thể bị đốt đến kiệt cùng… nhưng hãy để việc đốt cháy đó cho những bậc thiên tài. Hàn gắn tốt hơn gây tổn thương nhiều. Những kẻ thất bại chúng ta biết rõ điều đó.’

    “ ‘Ôi, thầy Carpenter!’ tôi kêu lên. Tôi muốn nói rằng thầy không phải kẻ thất bại… tôi muốn nói hàng trăm điều… nhưng thầy đã ngăn tôi lại.

    “ ‘Nào… nào, chúng ta không nói đến vấn đề đó, Emily. Khi ta chết, hãy nói rằng, “Ông ấy là một kẻ thất bại, và không ai ý thức được điều đó một cách sâu sắc hơn hay cảm nhận về nó một cách cay đắng hơn chính bản thân ông ấy.” Hãy khoan dung với những kẻ thất bại, Emily. Cứ việc châm biếm những điều xấu xa nếu trò không còn cách nào hơn… nhưng hãy thương cảm những người yếu đuối.’

    “Rồi thầy quay đi, gọi cả lớp vào học. Tôi dằn vặt không yên suốt từ lúc ấy và tối nay thể nào cũng trằn trọc không ngủ được cho mà xem. Nhưng ngay bây giờ, bằng thái độ nghiêm túc nhất, tôi sẽ ghi lại trong cuốn nhật ký lời thề này, Ngòi bút của tôi sẽ hàn gắn chứ không gây tổn thương. Và, bất chấp có phải đầu thời Victoria hay không, tôi vẫn viết nó bằng chữ nghiêng, bởi vì tôi cực kỳ cực kỳ nghiêm túc.

    “Tuy nhiên, tôi không xé bỏ bài thơ ấy… tôi không thể… nó thật sự quá hay khiến tôi không đành lòng phá hủy. Tôi cất nó vào tủ riêng để khi nào thích thì lôi ra đọc lại lần nữa, nhưng tôi sẽ không bao giờ đưa nó cho bất kỳ ai xem.

    “1 tháng Tư, 19…

    “Hôm nay, một vị khách đến thăm làng Hồ Blair đã nói một câu khiến tôi vô cùng bức bối. Tôi đang ở bưu điện thì tình cờ gặp vợ chồng ông Alec Sawyer, vốn đang sống ở Charlottetown. Bà Sawyer rất xinh đẹp, thời trang và thích ra vẻ kẻ cả. Tôi nghe thấy bà ta nói với chồng, ‘Thật chẳng hiểu sao dân tình ở cái xứ buồn tẻ này có thể tiếp tục sống ở đây hết năm này qua năm khác như thế nhỉ? Tôi thì sẽ phát điên lên cho mà xem. Chẳng có chuyện gì xảy ra ở đây cả.’

    “Tôi những muốn kể cho bà ta nghe vài điều về làng Hồ Blair. Lẽ ra tôi đã có thể trả thù bằng một màn châm biếm. Nhưng, tất nhiên, người ở trang trại Trăng Non không gây chuyện thị phi giữa chốn công cộng. Vậy nên tôi đành tự thỏa mãn bằng cách cúi chào cực kỳ lạnh lùng khi bà ta nói chuyện với tôi và rồi sau đó lướt qua bà ta. Tôi nghe tiếng ông Sawyer nói, ‘Cô gái đó là con cái nhà ai vậy?’ và bà Sawyer trả lời, ‘Chắc hẳn là con mèo nhà Starr đó rồi… cô ta có cái kiểu ngẩng cao đầu đúng phong cách Murray, thế đấy.’

    “Cứ thử nghĩ đến việc nói ‘chẳng có chuyện gì xảy ra ở đây cả’ xem! Sao chứ, ngay bây giờ đang xảy ra đầy chuyện đấy thôi… những chuyện ly kỳ hồi hộp. Tôi thấy cuộc sống nơi đây thật tuyệt vời không bút nào tả xiết. Chúng tôi lúc nào cũng có đầy thứ để cười, để khóc, để chuyện trò.

    “Cứ thử nhìn lại hết thảy những chuyện đã xảy ra tại làng Hồ Blair ba tuần gần đây xem… cả bi cả hài đều đủ cả. Ông James Baxter bất thình lình không thèm nói năng gì với vợ mình mà chẳng ai biết tại sao. Bà ấy cũng không biết, tội nghiệp thay, và bà ấy đang vô cùng đau khổ vì chuyện đó. Ông cụ Adam Gillian, luôn ghét cay ghét đắng bất cứ hành động giả vờ nào, mới mất cách đây hai tuần, và câu nói cuối cùng của ông ấy là, ‘Nhớ coi sóc sao cho đừng ai gào rú khóc lóc gì tại đám tang của ta.’ Vậy là chẳng ai gào rú hay khóc lóc gì. Có ai muốn làm thế đâu cơ chứ, và vì ông ấy đã cấm đoán thế rồi nên cũng chẳng ai buồn giả vờ làm gì cho mất công. Trước nay Hồ Blair chưa từng có một đám tang nào vui vẻ như thế. Tôi đã chứng kiến nhiều đám cưới còn sầu bi hơn thế nhiều, chẳng hạn như đám cưới của Ella Brice ấy. Chuyện phủ đám mây đen lên ngày cưới của cô ấy chính là lúc thay trang phục cô ấy quên béng mất phải đi giày trắng mà xỏ nguyên đôi dép trong nhà cũ rích bạc phếch hở cả ngón chân đi vào phòng khách. Thật tình, cho dù cô ấy chẳng xỏ bất cứ thứ gì mà đi xuống đấy thì người ta cũng chẳng thể bàn tán nhiều hơn được. Vì chuyện này mà cô Ella khốn khổ khóc lên khóc xuống suốt buổi tiệc cưới.

    “Ông già Robert Scobie đã cãi nhau một trận ra trò với cô em cùng cha khác mẹ, sau khi đã sống bên nhau suốt ba mươi năm mà chưa bao giờ to tiếng với nhau dẫu chỉ một lần, dù nghe nói bà ấy rất hay khiến người khác bực mình. Từ trước tới giờ, bất kể bà ấy làm gì hay nói gì thì ông Robert cũng không bao giờ giận dữ, nhưng có vẻ như hôm nọ, sau bữa tối chỉ còn thừa lại mỗi một cái bánh rán, mà đây lại là món khoái khẩu của ông Robert. Ông ấy cất cái bánh vào trong chạn, định để dành ăn đêm, ấy vậy nhưng đến lúc quay lại lấy bánh thì ông phát hiện ra bà Matilda đã chén sạch mất rồi. Ông ấy bèn nổi giận đùng đùng, kéo mũi bà ấy mà gọi bà ấy là mụ đàn bà xấu xa, rồi đuổi bà ấy ra khỏi nhà. Bà ấy bèn khăn gói đến sống cùng người em gái ở Ao Thành Kiến, và ông Robert sắp phải sống một mình rồi. Hai người bọn họ sẽ chẳng bao giờ chịu tha thứ cho nhau đâu, người nhà Scobie là thế mà, và cũng sẽ chẳng ai còn có thể sống vui vẻ mãn nguyện được nữa.

    “Một đêm trăng sáng từ cách đây hai tuần, George Lake đang trên đường từ Ao Thành Kiến về nhà thì bất thình lình nhìn thấy một cái bóng đen sì sì ngay bên cạnh cái bóng của anh ta, trên lớp tuyết lấp loáng ánh trăng.

    “Mà ở đó lại chẳng có bất cứ thứ gì để đổ cái bóng đó xuống.

    “Anh ta vội ba chân bốn cẳng chạy đến ngôi nhà gần nhất, sém chết vì sợ, và người ta bảo anh ta sẽ chẳng bao giờ trở lại như xưa được nữa.

    “Đây là chuyện ly kỳ nhất từng xảy ra. Đến tận lúc viết lại tôi vẫn còn thấy rùng mình. Tất nhiên George hẳn phải nhìn nhầm rồi. Nhưng anh ta vốn là người trung thực, và cũng không uống rượu. Tôi không biết phải nghĩ gì về chuyện này nữa.

    “Arminius Scobie là người thuộc dạng đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành, và luôn giành phần mua mũ cho vợ để ngừa trường hợp bà ấy tiêu quá nhiều cho món đó. Các cửa hàng ở Shrewsbury đều biết rõ chuyện này, và ai cũng cười nhạo ông ta. Tuần vừa rồi, hôm ông ta đến cửa hàng ‘Jones và McCallum’ để mua mũ cho vợ, ông Jones bảo sẽ tặng không cái mũ đấy cho ông ta nếu ông ta chịu đội cái mũ đó diễu từ cửa hàng đến nhà ga. Arminius làm theo ngay. Cửa hàng cách ga tầm một phần tư dặm, và đám con trai ở Shrewsbury kéo hết ra đường chạy theo sau hú huýt chế giễu ông ta. Nhưng Arminius chẳng buồn bận tâm gì. Ông ta đã tiết kiệm được ba đô la bốn mươi chín xu còn gì.

    “Và, một tối, ngay tại Trăng Non, tôi đã đánh rơi quả trứng luộc lòng đào lên chiếc váy cashmere đẹp thứ nhì của bác Elizabeth. Đó đúng là một sự kiện đấy. Cho dù một vương quốc ở châu Âu bị sụp đổ thì cũng chẳng thể so được với độ chấn động ở Trăng Non khi ấy.

    “Vậy nên, thưa phu nhân Sawyer, bà đã nhầm to rồi. Thêm nữa, bên cạnh hết thảy những sự kiện đó, dân làng nơi đây đều rất thú vị. Tôi không yêu quý tất cả mọi người, nhưng tôi thấy ai cũng thú vị… bà cô Matty Small đã bốn mươi tuổi nhưng ăn mặc lòe loẹt kinh hồn… suốt mùa hè vừa rồi, lần nào đến nhà thờ bà ấy cũng mặc cái váy màu hồng xỉn kèm mũ màu đỏ tươi… rồi ông cụ Reuben Bascom, lười đến độ có một hôm trời mưa tầm tã suốt đêm, nước nhỏ tong tong từ mái nhà dột, thế mà ông ấy thà giương ô che cả đêm còn hơn đứng dậy kéo giường ra chỗ khác… Elder McCloskey, lúc kể câu chuyện về một người truyền giáo trong buổi cầu nguyện tập thể, cứ đinh ninh rằng nhắc đến ‘quần’ thì không được phù hợp lắm, vậy nên lúc nào cũng nói một cách lịch sự là ‘trang phục cho các bộ phận phía dưới của ông ấy’… Amasa Derry, mùa thu vừa rồi đã giành được bốn giải thưởng tại cuộc Triển lãm nhờ đống rau ông ta lấy trộm từ cánh đồng của Ronnie Bascom trong khi Ronnie thì chẳng kiếm được giải nào… Jimmy Joe Belle, hôm qua đã đi từ Ao Thành Kiến đến đây lấy một ít gỗ xẻ để ‘sây cái truồng gà tro trú tró bé bỏng của tôi’… ông Luke Ellitott, nghiện tính hệ thống đến đỗi vào ngày đầu năm đã vạch ra một bản kế hoạch cho cả năm liền, rồi lập biểu đồ cho tất cả những ngày ông ta định sẽ say sưa bét nhè… và bám sát theo kế hoạch đó… tất cả bọn họ đều thú vị, khôi hài và hấp dẫn.

    “Đấy, tôi đã chứng minh cho bà Alex Sawyer thấy bà ta đã nhầm lẫn tuyệt đối rồi, vậy nên tôi cảm thấy khá thoải mái với bà ta, cho dù bà ta đã gọi tôi là con mèo.

    “Được gọi là mèo thì có gì khiến tôi không thích chứ, loài mèo vốn đáng yêu đến thế cơ mà. Và tôi thích được gọi là mèo con.

    “28 tháng Tư, 19…

    “Cách đây hai tuần, tôi đã gửi bài thơ hay nhất của mình, Khúc ca ngọn gió, cho một tờ tạp chí ở New York, và hôm nay nó đã quay trở lại kèm theo mỗi một mẩu giấy in nhỏ viết, ‘Rất tiếc, chúng tôi không thể sử dụng tác phẩm này.’

    “Tôi cảm thấy thật khủng khiếp. Có lẽ tôi chẳng thể nào thật sự viết được bất kỳ thứ gì đó cho ra hồn.

    “Tôi có thể chứ. Rồi sẽ có ngày tờ tạp chí đó lấy làm vui mừng khi được đăng tải các tác phẩm của tôi.

    “Tôi không kể với thầy Carpenter về chuyện gửi bài thơ này đi. Còn lâu tôi mới được thầy thông cảm. Thầy ấy bảo phải năm năm nữa mới đến lúc làm phiền các biên tập viên. Nhưng tôi biết rõ nhiều bài thơ tôi đọc được trên chính tờ tạp chí đó chẳng có chút xíu gì đặc sắc hơn so với Khúc ca ngọn gió.

    “Không có mùa nào trong năm khơi dậy cảm hứng làm thơ trong tôi một cách mãnh liệt hơn mùa xuân. Thầy Carpenter bảo tôi hãy cố mà kiềm chế cơn bốc đồng đi. Thầy bảo mùa xuân phải chịu trách nhiệm cho nhiều thứ rác rưởi hơn bất kỳ thứ gì khác trên trần gian.

    “Cách nói của thầy Carpenter có một ý vị nào đó.”

    “1 tháng Năm, 19…

    “Chú Dean đang ở nhà. Hôm qua chú ấy đến chỗ chị gái và tối nay đã sang đây, hai chú cháu dạo bộ trong vườn, vừa đi đi lại lại trên con đường đồng hồ mặt trời vừa trò chuyện. Thật tuyệt biết bao khi chú ấy quay trở lại, cùng đôi mắt xanh huyền bí và cái miệng đẹp đẽ.

    “Chúng tôi trò chuyện rất lâu. Chúng tôi nói chuyện về thành phố Algiers, về sự đầu thai của các linh hồn, về việc bị hỏa táng và về các khuôn mặt nhìn nghiêng… Chú Dean nói tôi có khuôn mặt nhìn nghiêng đẹp… ‘người Hy Lạp thuần khiết’. Tôi luôn thích lời khen ngợi của chú Dean.

    “ ‘Nhìn xem cháu lớn thế nào này, Sao Mai!’ chú ấy kêu lên. ‘Mùa thu năm ngoái ta bỏ lại một đứa trẻ… và giờ về ta đã thấy một phụ nữ!’

    “(Ba tuần nữa tôi sẽ mười bốn tuổi, và tôi khá cao so với bạn bè đồng lứa. Có vẻ chú Dean thấy chuyện này rất đáng mừng… khác hẳn với bác Laura, cứ mỗi khi đo váy cho tôi là bác ấy lại thở dài thườn thượt và thấy bọn trẻ con sao lớn quá nhanh.)

    “ ‘Thời gian trôi qua như thế đấy,’ tôi nói, trích dẫn câu nói trên cái đồng hồ mặt trời, và cảm thấy nó khá tinh tế.

    “ ‘Cháu cao gần bằng chú rồi này,’ chú ấy nói; rồi bổ sung bằng giọng có phần cay đắng, ‘tất nhiên Lưng Bình Priest thì đâu có cao lớn oai nghiêm gì.’

    “Cứ mỗi khi nghe nhắc đến lưng chú ấy, dù theo cách nào đi nữa, tôi đều thấy rùng mình, nhưng lần này, tôi nói,

    “ ‘Chú Dean, chú đừng cười nhạo bản thân như thế… ít nhất, cũng đừng làm thế với cháu. Cháu không bao giờ nghĩ chú là Lưng Bình.’

    “Chú Dean nắm tay tôi, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi như thể đang cố gắng soi thấu linh hồn tôi.

    “ ‘Cháu có chắc chắn về chuyện đó không, Emily? Lẽ nào cháu không thường xuyên mong ước chú không bị khập khiễng… và không bị gù?’

    “ ‘Cháu vẫn thường ước mong như thế vì chú,’ tôi trả lời, ‘nhưng đối với cháu, dù thế nào thì cũng không có gì thay đổi cả… và mãi mãi luôn như thế.’

    “ ‘Và mãi mãi luôn như thế!’ chú Dean nhắc lại những lời này bằng giọng mạnh mẽ. ‘Giá như chú có thể tin chắc vào chuyện đó, Emily… giá như chú có thể tin chắc vào chuyện đó.’

    “ ‘Chú có thể tin chắc vào điều đó được chứ,’ tôi nồng nhiệt tuyên bố. Tôi rất bực bội vì chú ấy có vẻ nghi ngờ chuyện đó… tuy nhiên vẻ mặt chú ấy có gì đó khiến tôi cảm thấy không mấy thoải mái. Đột nhiên, tôi nhớ đến hồi chú ấy cứu tôi thoát khỏi mỏm đá trên vịnh Malvern, chú ấy từng bảo cuộc đời tôi đã thuộc về chú ấy kể từ khi chú ấy cứu mạng tôi. Tôi không thích nghĩ rằng cuộc đời tôi lại thuộc về bất kỳ ai ngoài chính bản thân tôi… cho dù là bất kỳ ai cũng không, ngay cả Dean, cho dù tôi rất quý chú ấy. Và xét trên một số phương diện, tôi quý chú Dean hơn bất kỳ ai trên thế giới này.

    “Khi trời tối dần, các vì sao ló dạng và chúng tôi ngắm nhìn chúng thông qua cái ống nhòm mới tuyệt vời của chú ấy. Thật thú vị biết bao. Chú Dean biết hết mọi thứ về các vì sao… tôi cứ có cảm giác cái gì chú ấy cũng biết. Nhưng khi tôi nói thế, chú ấy lại bảo,

    “ ‘Có một bí mật mà chú không biết… chú sẵn sàng đánh đổi tất cả những thứ khác để biết về nó… một bí mật… có lẽ chú sẽ chẳng bao giờ biết. Cách để giành được… cách để giành được…’

    “ ‘Cái gì ạ?’ tôi tò mò hỏi.

    “ ‘Mong ước cháy bỏng của trái tim chú,’ chú Dean vừa mơ màng nói vừa ngước nhìn một vì sao lung linh dường như đang treo tít tận trên ngọn của một trong Ba Nàng Công Chúa. ‘Hiện tại nó có vẻ xa vời và đáng khao khát chẳng khác gì vì sao lung linh như viên ngọc kia, Emily ạ. Nhưng… ai mà biết được chứ?’

    “Không biết thứ gì mà lại khiến chú Dean khát khao đến vậy nhỉ.”

    Nguồn ebook: https://www.luv-ebook.com

    “4 tháng Năm, 19…

    “Chú Dean mang đến cho tôi một cái cặp giấy đựng hồ sơ rất đáng yêu mua từ Paris, và tôi đã chép vào mặt trong tấm bìa khổ thơ tôi thích nhất trích từ bài Hoa long đởm mắt rợp. Tôi sẽ đọc nó mỗi ngày và sẽ nhớ lại lời thề ‘leo lên Đường Alps’. Tôi đã bắt đầu nhận ra mình sẽ phải nỗ lực bò lên từng chút một, mặc dù có lẽ tôi từng mong ngóng mình sẽ phóng thẳng tới ‘mục tiêu xa vời vợi đó’ bằng đôi cánh chói lọi. Thầy Carpenter đã gạt phắt giấc mơ thơ ngây đó.

    “ ‘Bấu ngón chân và nghiến chặt răng vào… đó là cách duy nhất đấy,’ thầy nói.

    “Tối qua, lúc nằm trên giường, tôi đã nghĩ ra được mấy cái tên khá hay ho để đặt cho những cuốn sách tôi sẽ viết trong tương lai – Tiểu thư cao quý; Trung thành với đức tin và lời thề nguyện; Ôi, Margaret xanh xao quý giá (Tôi mượn ý này của Tennyson), Tầng lớp Vere de Vere (như trên) và Vương quốc trên bờ biển.

    “Chao, giá như tôi có thể nảy ra các ý tưởng phù hợp với những cái tên kia!

    “Tôi đang viết một câu chuyện lấy tên là Ngôi nhà giữa cụm thanh hương trà… cũng là một cái tên rất hay, tôi cho là thế. Nhưng màn nói chuyện yêu đương vẫn đang làm tôi thấy phiền quá. Cho dù có viết gì đi chăng nữa thì ngay khi vừa đặt bút xuống, tôi đã cảm thấy nó cứng nhắc và ngớ ngẩn đến độ tôi chỉ muốn phát điên. Tôi định nhờ chú Dean dạy tôi viết sao cho phải, vì hồi xưa chú ấy từng hứa sẽ dạy tôi rồi, nhưng chú ấy lại bảo tôi vẫn còn quá nhỏ… chú ấy nói thế với kiểu cách bí ẩn quen thuộc dường như luôn khiến người ta cảm thấy có quá nhiều ẩn ý đằng sau câu chữ đơn thuần. Tôi chỉ mong sao mình cũng có thể nói năng một cách giàu ý nghĩa như thế, vì nó khiến ta trở nên vô cùng thú vị.

    “Tối nay sau khi từ trường về, tôi và chú Dean ngồi trên chiếc ghế đá giữa vườn, bắt đầu đọc lại Alhambra. Cứ mỗi lần đọc, cuốn sách lại khiến tôi có cảm giác như thể mình vừa mở một cách cửa nhỏ và bước thẳng vào vùng đất thần tiên.

    “ ‘Ước gì cháu được đến thăm Alhambra!’ tôi nói.

    “ ‘Rồi sẽ có ngày chúng ta đến thăm nơi đó… cùng nhau,’ Dean nói.

    “ ‘Ôi, thế thì thích quá,’ tôi kêu lên. ‘Chú nghĩ liệu chúng ta có bao giờ làm được không, chú Dean?’

    “Nhưng chú Dean chưa kịp trả lời thì tôi đã nghe thấy tiếng huýt sáo của Teddy vang lên trong rừng cây bụi nhà ông John Ngạo Mạn, tiếng huýt sáo thân thương khe khẽ với hai nốt cao ngắn và một nốt trầm dài, đó chính là dấu hiệu của chúng tôi.

    “ ‘Cháu xin lỗi, cháu phải đi rồi. Teddy đang gọi cháu,’ tôi nói.

    “ ‘Hễ Teddy gọi là cháu đều phải đi à?’ chú Dean hỏi.

    “Tôi gật đầu giải thích,

    “ ‘Cậu ấy chỉ gọi thế những lúc đặc biệt muốn gặp cháu, và cháu đã hứa sẽ gặp cậu ấy bất cứ lúc nào, miễn là cháu có thể.’

    “ ‘Chú đặc biệt muốn gặp cháu đấy chứ!’ chú Dean nói. ‘Tối nay chú đến đây cốt để đọc Alhambra cùng cháu mà.’

    “Đột nhiên tôi cảm thấy vô cùng khổ sở. Tôi rất muốn lại ở cùng chú Dean, nhưng tôi lại cảm giác mình phải đi gặp Teddy. Chú Dean nhìn tôi bằng ánh mắt nhức nhối. Rồi chú ấy đóng sập cuốn Alhambra lại.

    “ ‘Đi đi,’ chú ấy nói.

    “Vậy là tôi đi… nhưng chẳng hiểu sao, mọi chuyện dường như hỏng bét cả.”

    “10 tháng Năm, 19…

    “Tuần này tôi đang đọc ba cuốn sách chú Dean cho mượn. Một cuốn chẳng khác gì khu vườn hoa hồng, rất thú vị, nhưng hơi quá ngọt ngào. Một cuốn giống như rừng thông trên núi… nồng đượm mùi nhựa thơm. Tôi yêu nó, nhưng nó lại đổ tràn trong tôi một thứ cảm giác tuyệt vọng. Cuốn sách rất hay… tôi tin chắc mình không bao giờ có thể viết được như thế. Còn cuốn kia thì y như cái chuồng lợn. Chú Dean đã đưa nhầm cuốn đó cho tôi. Lúc phát hiện ra, chú ấy giận điên lên với bản thân… giận dữ và khổ sở nữa.

    “ ‘Sao Trời… Sao Trời ạ… chú sẽ không bao giờ đưa cho cháu một cuốn sách như thế… sự bất cẩn chết tiệt của chú… hãy tha lỗi cho chú. Cuốn sách đó là bức tranh chân thực về một thế giới… nhưng ơn Chúa, không phải là thế giới của cháu… không phải là bất kỳ thế giới nào thuộc về chúa. Sao Trời à, hứa với chú là cháu sẽ quên cuốn sách đó đi nhé.’

    “ ‘Nếu quên được thì cháu sẽ quên,’ tôi nói.

    “Nhưng tôi không biết liệu mình có quên được không. Nó quá gớm ghiếc. Từ lúc đọc cuốn sách ấy, tôi không còn vui vẻ được nữa. Tôi cảm thấy như thể bàn tay mình chẳng hiểu sao đã bị vấy bẩn, và tôi chẳng cách nào rửa sạch được. Không những thế, tôi còn có một cảm giác quái lạ khác, như thể một cánh cửa nào đó đã sập lại sau lưng tôi, nhốt tôi lại trong một thế giới mà dù không hiểu hay không thích thì tôi vẫn bắt buộc phải khám phá.

    “Tối nay tôi đã cố gắng viết một bài miêu tả chú Dean trong cuốn sổ Jimmy tập hợp các phác thảo chân dung, nhưng không tài nào làm được. Những thứ tôi viết ra giống như một bức ảnh… không phải chân dung. Dường như ở chú Dean vẫn có điều gì đó vượt ra ngoài tầm hiểu biết của tôi.

    “Hôm nọ, chú Dean đã chụp cho tôi một bức ảnh bằng cái máy ảnh mới của chú ấy, nhưng chú ấy không hài lòng với nó.

    “ ‘Trông chẳng giống cháu gì cả,’ chú ấy nói. ‘Nhưng tất nhiên, ai mà có thể chụp ảnh được ánh sao kia chứ.’

    “Rồi chú ấy bổ sung, một cách khá gay gắt, theo ý tôi là thế,

    “ ‘Cháu nhớ bảo nhóc tiểu quỷ Teddy Kent ấy đừng có mà đưa khuôn mặt cháu vào tranh của cậu ta nhé. Chẳng căn cớ gì để tranh nào cậu ta vẽ cùng đều dính cháu vào hết.’

    “ ‘Cậu ấy có làm thế đâu!’ tôi kêu lên. ‘Này nhé, Teddy chỉ vẽ mỗi một bức về cháu thôi, đúng cái bức tranh đã bị bà Nancy đánh cắp ấy.’

    “Tôi nói khá hằn học và chẳng chút ngại ngần gì, vì cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không tài nào tha thứ cho bà Nancy vì tội đã giữ rịt lấy bức tranh đó.

    “ ‘Cậu ta đặt chút gì đó của cháu trong mọi bức tranh,’ chú Dean ngoan cố nói. ‘Mắt cháu… đường cong của cổ cháu… dáng đầu nghiêng nghiêng của cháu… tính cách của cháu. Đó mới là điều tệ nhất… chú không quá bận tâm đến đôi mắt và các đường nét hình thể của cháu, nhưng chú sẽ không để thằng nhóc đó gắn một phần linh hồn của cháu vào hết thảy những thứ cậu ta vẽ. Có lẽ cậu ta không ý thức được mình đang làm gì… mà chính thế mới càng thành vấn đề.’

    “ ‘Cháu chẳng hiểu chú nói gì cả,’ tôi nói, giọng khá ngạo mạn. ‘Nhưng Teddy là người tuyệt vời… chính thầy Carpenter đã nói thế.’

    “ ‘Và Emily ở trang trại Trăng Non nhắc lại thế! Ôi chao, thằng bé đó có tài… một ngày nào đó cậu ta sẽ làm nên chuyện nếu không bị bà mẹ biến thái hủy hoại cuộc đời. Nhưng cậu ta hãy biết điều mà giữ bút chì và cọ vẽ tránh xa vật sở hữu của chú ra.’

    “Chú Dean cười lớn khi nói câu đó. Nhưng tôi vẫn ngẩng cao đầu. Tôi không phải ‘vật sở hữu’ của bất cứ ai, cho dù chỉ là đùa thôi cũng vậy. Và tôi sẽ không bao giờ trở thành như thế.

    “12 tháng Năm, 19…

    “Chiều nay, cả bác Ruth, bác Wallace và bác Oliver đều đến đây. Tôi mến bác Oliver, nhưng cảm tình dành cho bác Ruth và bác Wallace thì chẳng nhiều hơn trước là bao. Họ tổ chức họp gia đình gì đó trong phòng khách với bác Elizabeth và bác Laura. Bác Jimmy cũng được tham gia, nhưng tôi bị loại ra ngoài, mặc dù tôi dám chắc cuộc họp này thế nào cũng có liên quan đến tôi. Tôi nghĩ bác Ruth cũng không được làm theo ý mình, vì suốt cả bữa tối, bác ấy không ngừng tỏ thái độ khinh rẻ tôi, lại còn nói tôi càng ngày càng gầy rớt nữa chứ! Nói chung, bác Ruth thì khinh thị còn bác Wallace thì ra vẻ kẻ cả với tôi. Tôi vẫn thích thái độ khinh rẻ của bác Ruth hơn, vì tôi chẳng phải làm bộ thích thú gì. Tôi cố gắng nhẫn nhịn chịu đựng, nhưng rồi cũng đến lúc giọt nước làm tràn ly. Bác Ruth bảo tôi,

    “ ‘Em’ly, đừng có mà cãi,’ cứ như thể bác ấy đang nói chuyện với một đứa trẻ ranh vậy. Tôi nhìn thẳng vào mắt bác ấy và lạnh lùng đáp lại,

    “ ‘Bác Ruth ạ, cháu nghĩ bây giờ cháu đã quá tuổi để bị nói năng theo kiểu đó rồi.’

    “ ‘Cháu chưa đến tuổi được phép tỏ thái độ xấc láo vô lễ đâu,’ bác Ruth nói, kèm theo cái khịt mũi. ‘Và nếu ta mà là Elizabeth thì ta sẽ cho cháu một cái bạt tai ngay đấy, tiểu thư ạ.’

    “Tôi ghét bị gọi là Em’ly, là tiểu thư và ghét bị khịt mũi như thế! Tôi có cảm tưởng bác Ruth hội đủ hết mọi khuyết điểm của người nhà Murray, và chẳng có lấy bất kỳ đức tính tốt đẹp nào của họ hết.

    “Andrew, con trai bác Oliver cũng đến cùng bác ấy và sẽ ở lại một tuần. Anh ta lớn hơn tôi bốn tuổi.”

    “19 tháng Năm, 19…

    “Hôm nay là sinh nhật tôi. Hôm nay, tôi tròn mười bốn tuổi. Tôi đã viết một bức thư ‘Từ tôi của tuổi mười bốn cho tôi năm hai mươi bốn tuổi’, dán kín lại và cất vào tủ riêng, đợi đến sinh nhật năm hai mươi bốn tuổi sẽ mở ra. Tôi đã viết vào đó một vài dự đoán. Chẳng biết đến khi tôi mở thư thì những chuyện đó đã xảy ra chưa.

    “Hôm nay bác Elizabeth đã trả lại cho tôi toàn bộ sách của cha. Tôi vui mừng không sao tả xiết. Đối với tôi, những cuốn sách đó dường như lưu giữ một phần con người cha. Cuốn sách nào cũng đều được cha ghi tên bằng chữ viết tay, lại còn có cả các ghi chú bên lề nữa. Chúng dường như những mẩu thư cha gửi. Tôi ngắm nhìn chúng suốt cả buổi tối, và dường như lại cảm thấy cha vô cùng gần gũi, khiến tôi buồn vui lẫn lộn.

    “Hôm nay đã xảy ra một chuyện phá hỏng cả ngày. Ở trường, đúng lúc tôi bước lên bảng để giải một bài toán, bỗng nhiên mọi người bắt đầu cười khúc khích. Tôi không hiểu nổi có chuyện gì. Rồi tôi phát hiện ra ai đó đã dính một tờ giấy lên lưng tôi, bên trên có dòng chữ to viết bằng mực đen: ‘Emily Byrd Starr, nữ tác giả của Con vịt bốn chân’. Bọn chúng càng cười tợn hơn khi tôi giật tờ giấy ném vào thùng đựng than. Tôi vô cùng tức giận vì mọi người đã chế nhạo những hoài bão của tôi theo cách đó. Đến tận khi về nhà, tôi vẫn còn giận dữ và đau đớn. Nhưng rồi, lúc tôi ngồi trên bậc thềm ngôi nhà hóng mát, ngắm nhìn suốt năm phút liền một trong những cây hoa păng xê khổng lồ màu tím của bác Jimmy, mọi giận dữ đều trôi mất sạch. Ai có thể ôm ấp cơn giận khi suốt một lúc lâu dõi mắt vào tận tâm một bông hoa păng xê chứ.

    “Thêm nữa, rồi sẽ đến lúc bọn chúng không cười nhạo tôi được nữa!

    “Hôm qua Andrew đã về nhà rồi. Bác Elizabeth hỏi tôi có quý anh ta không. Từ trước đến nay bác ấy chẳng bao giờ hỏi xem tôi có quý ai không, tình cảm yêu mến của tôi chẳng bao giờ quan trọng đủ mức cả. Chắc hẳn bác ấy đã bắt đầu nhận ra tôi không còn là một đứa trẻ nữa rồi.

    “Tôi bảo anh ta là người tốt, khá tử tế, ngu ngốc và chẳng có gì thú vị.

    “Bác Elizabeth cáu kỉnh đến độ không thèm nói gì với tôi suốt cả tối. Vì sao nào? Tôi phải nói thật chứ. Mà Andrew đúng là người như thế còn gì.”

    “21 tháng Năm, 19…

    “Hôm nay, lần đầu tiên trong mùa xuân này, Già Kelly đã đến đây, mang theo cả một đống hộp thiếc mới toanh sáng loáng. Ông ấy mang cho tôi một túi kẹo như thường lệ, và trêu chọc tôi về chuyện lấy chồng, cũng y như thường lệ. Nhưng có vẻ ông ấy bận tâm chuyện gì đó, và lúc tôi xuống khu chế biến bơ sữa để lấy cho ông ấy một cốc sữa như ông ấy yêu cầu, ông ấy bèn đi theo tôi.

    “ ‘Cô gái yêu dấu,’ ông ấy nói giọng bí ẩn. ‘Ta đã gặp Lưng Bình Praste trên đường làng. Cậu ta năng đến đây lắm phỏng?’

    “Tôi nghiêng đầu theo đúng tư thế Murray.

    “ ‘Nếu ông muốn nói đến chú Dean Priest’ tôi đáp, ‘thì chú ấy đến đây khá thường xuyên. Chú ấy là một người bạn đặc biệt của cháu.’

    “Già Kelly lắc đầu.

    “ ‘Cô gái yêu dấu… ta đã cảnh báo cháu rồi đấy… sau này đừng bao giờ bảo ta chưa cảnh báo cháu nhé. Hôm đưa cháu đến Ao Praste, ta đã bảo cháu đừng bao giờ lấy một người nhà Praste. Nào, có phải ta đã bảo thế không?’

    “ ‘Ông kỳ quá, Già Kelly ạ,’ tôi nói, vừa tức giận nhưng lại cảm thấy thật phi lý khi tức giận Già Jock Kelly. ‘Cháu sẽ chẳng cưới ai cả. Chú Priest đáng tuổi làm cha cháu ấy chứ, và cháu chỉ là một cô bé được chú ấy giúp đỡ việc học hành thôi.’

    “Già Kelly lại lắc đầu.

    “ ‘Ta biết rõ những người nhà Praste, cô gái iu dấu ạ. Và một khi họ đã quyết tâm theo đuổi cái gì thì cháu đừng mong có thể dễ dàng xoay chuyển được tình hình. Còn cái cậu Lưng Bình này… nghe nói cậu ta đã để mắt đến cháu từ hồi câu được cháu lên khỏi vách đá Malvern ấy… cậu ta chỉ đang đợi cho đến lúc cháu đủ lớn là sẽ theo đuổi ngay thôi. Nghe nói cậu ta chẳng theo đạo nào cả, và ai cũng biết đúng lúc được rửa tội, cậu ta đã với tay ra giằng mất cặp kính mắt ngài mục sư đang đeo. Vậy nên cháu trông chờ gì chứ? Ta sẽ không bảo cháu chuyện cậu ta khập khễnh và gù lưng… cái đó tự cháu nhìn cũng thấy. Hãy nghe theo lời khuyên của Già Kelly ngớ ngẩn mà buông ra đi khi vẫn còn kịp. Nào, đừng có nhìn ta theo cái kiểu Murray thế chứ, cô gái iu dấu. Đúng thế đấy, và ta nói chuyện này cũng chỉ vì muốn tốt cho cháu thôi.’

    “Tôi bỏ đi, để mặc ông ấy. Chẳng thể tranh luận với ông ấy về một vấn đề kiểu thế được. Ước gì mọi người đừng nhét những suy nghĩ đó vào đầu tôi. Chúng cứ bám chặt vào đấy dai như đỉa vậy. Giờ thì sẽ mất cả tuần tôi chẳng thể cư xử thoải mái với chú Dean được, cho dù tôi biết rõ mười mươi mọi điều Già Kelly nói đều chẳng có nghĩa lý gì hết.

    “Sau khi Già Kelly đi rồi, tôi lên phòng viết vào cuốn sổ Jimmy một bài miêu tả cặn kẽ về ông ấy.

    “Ilse mới tậu được một cái mũ mới đính những đám mây bằng vải tuyn xanh và những quả anh đào đỏ chót, mấy cái nơ to tướng bằng vải tuyn xanh ôm dưới cằm. Tôi không thích nó và nói thế với bạn ấy. Bạn ấy tức điên lên, bảo tôi đang ghen tị và không thèm nói năng gì với tôi suốt hai ngày nay. Tôi suy ngẫm rất nhiều về chuyện này. Tôi biết chắc mình không ghen tị, nhưng xét cho cùng, tôi đã phạm sai lầm rồi. Tôi sẽ không bao giờ nói với ai điều gì như thế nữa. Dù sự thực có đúng như thế đi chăng nữa thì nói vậy chẳng khéo léo chút nào.

    “Hy vọng ngày mai Ilse sẽ tha thứ cho tôi. Lần nào bạn ấy giận tôi, tôi cũng đều nhớ bạn ấy đến phát điên lên được. Những lúc không cáu kỉnh, bạn ấy rất đáng mến, rất vui vẻ và tuyệt vời.

    “Giờ Teddy cũng hơi giận tôi. Tôi nghĩ là do Geoff North đã đi bộ về nhà với tôi sau buổi cầu nguyện tập thể tối thứ Tư vừa rồi. Tôi hy vọng đó là lý do. Tôi thích cái cảm giác mình có ảnh hưởng lớn đến thế đối với Teddy.

    “Không biết liệu tôi có nên viết lại điều này không nhỉ. Nhưng sự thật là thế.

    “Giá như Teddy biết được, tôi đã rất khổ sở và xấu hổ về vụ việc đó. Thoạt đầu, lúc Geoff chọn tôi trong số tất cả những đứa con gái khác, tôi thấy khá hãnh diện. Đó là lần đầu tiên tôi được hộ tống về nhà, trong khi Geoff lại là một anh chàng thành thị, rất đẹp trai bóng bẩy, và mọi cô nàng lớn tuổi hơn ở làng Hồ Blair đều mụ mị vì anh ta. Vậy nên tôi hiên ngang bước ra khỏi nhà thờ cùng với anh ta, cảm thấy như thể mình đột nhiên trưởng thành hẳn. Nhưng mới được một đoạn thì tôi đã thấy ghét anh ta rồi. Anh ta quá ra vẻ ta đây. Có vẻ như anh ta cho rằng tôi chỉ là một con bé nhà quê khờ khạo chắc chắn sẽ bị choáng ngợp trước vinh dự được đồng hành cùng anh ta.

    “Mà ban đầu thì quả đúng thế thật! Chính điều đó khiến tôi day dứt mãi. Nghĩ mà xem, tôi lại là con nhóc ngu xuẩn đến thế cơ đấy!

    “Mỗi khi tôi bình luận gì, anh ta lại nhai đi nhai lại câu ‘Thật tình, em làm anh ngạc nhiên đấy,’ bằng giọng điệu kiểu cách, lè nhè. Và anh ta khiến tôi phát chán. Anh ta chẳng biết nói năng hợp lý về bất cứ vấn đề gì. Hoặc do anh ta không định làm thế với tôi. Lúc chúng tôi về đến Trăng Non, tôi đã cáu lắm rồi. Vậy mà đến lúc đó, cái đồ không thể chịu đựng nổi ấy còn bảo tôi hôn anh ta chứ!

    “Tôi đứng thẳng đơ người lại… ồ, giây phút đó tôi đúng là người nhà Murray một trăm phần trăm. Tôi cảm thấy trông mình y hệt bác Elizabeth.

    “ ‘Tôi không hôn con trai,’ tôi khinh khỉnh nói.

    “Geoff phá lên cười và chộp tay tôi.

    “ ‘Sao nào, cô ngốc, em nghĩ anh đưa em về nhà để làm gì chứ?’ anh ta hỏi.

    “Tôi giằng tay ra và bước vào nhà. Nhưng trước khi làm thế, tôi đã làm một việc khác.

    “Tôi tát vào mặt anh ta!

    “Rồi tôi lên phòng, hổ thẹn khóc nức nở vì bị sỉ nhục, và vì đã tỏ thái độ thiếu đứng đắn đến thế trong cơn phẫn uất. Giữ thái độ đứng đắn là một truyền thống ở Trăng Non, và tôi cảm thấy mình đã phản bội nó.

    “Nhưng có lẽ tôi đã khiến Geoff North ‘ngạc nhiên’ một cách thích đáng nhất!”

    “24 tháng Năm, 19…

    “Hôm nay Jennie Strang bảo tôi rằng Geoff North nói với anh của cậu ấy tôi là một kẻ ‘tầm thường nóng tính’ và anh ta chịu đủ rồi.

    “Bác Elizabeth đã phát hiện ra Geoff về nhà cùng tôi, vậy là hôm nay bác ấy bảo tôi sẽ không được ‘tin tưởng’ để đi một mình đến buổi cầu nguyện tập thể nữa.”

    “25 tháng Năm, 19…

    “Tôi đang ngồi trong phòng dưới ánh chiều tà. Cửa sổ mở toang và đàn ếch ca vang một câu chuyện đã xảy ra từ lâu lắm. Dọc con đường đi bộ giữa vườn, Anh Chàng Vui Vẻ đang giơ cao những chiếc cốc khía rãnh cỡ đại đựng hồng ngọc, vàng và ngọc trai. Lúc này trời không mưa, nhưng mưa đã rả rích suốt cả ngày hôm nay – một cơn mưa thấm đẫm mùi tử đinh hương. Tôi thích mọi loại thời tiết và thích trời mưa – những ngày mưa phùn lắc rắc khi Bà Gió chỉ nhẹ nhàng rung ngọn vân sam; và cả những ngày mưa cuồng dã trắng trời trắng đất. Tôi thích bị mưa giam giữ, tôi thích nghe tiếng mưa nện sầm sập trên mái nhà, đập ầm ầm lên khung kính cửa sổ và chảy ồ ồ qua mai dua, trong khi Bà Gió như mụ phù thủy già điên dại gào rú đinh tai nhức óc giữa khu rừng và xuyên khắp vườn.

    “Tuy nhiên, nếu trời mưa đúng lúc tôi muốn đi đâu, tôi sẽ càu nhàu chẳng kém bất kỳ ai!

    “Một buổi tối như thế này luôn gợi tôi nhớ đến đêm mùa xuân cha tôi mất ba năm trước, nhớ đến ngôi nhà nhỏ cũ kỹ thân thương ở Maywood. Kể từ dạo ấy, tôi chưa lần nào quay lại nơi đó. Tôi không biết liệu bây giờ có ai đang sống ở đó không. Không biết Adam và Eva, Thông Gà Trống và Cây Cầu Nguyện có còn như xưa không. Không biết ai đang ngủ tại căn phòng cũ của tôi, không biết có ai yêu quý những cây bu lô bé bỏng và chơi đùa cùng Bà Gió trong những vạt vân sam không. Ngay khi vừa đặt bút viết từ ‘vạt vân sam’, một ký ức ngày xưa bỗng ùa về. Một tối mùa xuân hồi tôi lên tám, tôi đang chạy quanh mấy vạt rừng, chơi trò trốn tìm cùng Bà Gió thì phát hiện ra một cái hõm nhỏ lọt thỏm giữa hai cây vân sam phủ những chiếc lá nhỏ xíu xanh mướt, trong khi hết thảy mọi thứ khác vẫn đang trong tông màu nâu phai. Cảnh tượng ấy đẹp đến độ ngay khi tôi vừa nhìn thấy thì ánh chớp đã lóe lên – đó là lần đầu tiên ánh chớp xuất hiện với tôi. Có lẽ chính bởi vậy nên tôi mới nhớ thảm lá xanh nhỏ bé đó một cách rõ rệt đến vậy. Chẳng ai khác nhớ đến chúng… không chừng còn chưa ai nhìn thấy chúng bao giờ. Tôi đã quên hết những chiếc lá khác, nhưng riêng thảm lá ấy thì cứ hễ xuân đến là ký ức về chúng lại trỗi dậy trong tôi, đánh thức những cảm xúc vẹn nguyên mà giây phút tuyệt vời ấy đã mang lại.”
     
  4. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 3: Đêm thao thức
    Trong chúng ta, nhiều người vẫn còn nhớ như in thời điểm đích xác chúng ta tiến tới một cột mốc quan trọng nào đó trên đường đời… thời điểm diệu kỳ khi chúng ta tạm biệt thuở ấu thơ để bước vào quãng đời thiếu nữ; thời điểm lung linh huyền hoặc – hay có lẽ là choáng váng kinh hoàng – từ khi thiếu nữ bất chợt biến thành người phụ nữ trưởng thành; thời điểm ớn lạnh khi ta phải đối diện với cái thực tế rằng thời thanh xuân đã dứt khoát lùi lại đằng sau ta; thời điểm sầu bi, thanh thản khi ý thức được dòng chảy thời gian. Emily Starr không bao giờ quên được buổi tối cô trải qua cột mốc đầu tiên, và vĩnh viễn bỏ lại thời thơ ấu phía sau.

    Mỗi trải nghiệm đều góp phần tô điểm cho cuộc sống thêm phong phú, và trải nghiệm càng sâu, sự phong phú mà nó mang lại càng lớn. Buổi tối kinh hoàng, bí ẩn và rạo rực một cách kỳ lạ đó đã trao cho cả trí óc lẫn trái tim cô một sự trưởng thành như đã được đúc kết qua hàng bao nhiêu năm.

    Đó là một đêm đầu tháng Bảy. Cả ngày trời nóng hầm hập. Bà Elizabeth bị thời tiết này làm cho bức bối đến độ quyết định sẽ không tham dự buổi cầu nguyện tập thể. Bà Laura, ông Jimmy và Emily vẫn đi. Trước khi rời nhà, Emily đã hỏi xin bà Elizabeth và được cho phép về nhà cùng Ilse Burnley sau buổi lễ, thậm chí còn được ở lại qua đêm. Đây đúng là một niềm vui sướng hiếm hoi. Bà Elizabeth không mấy khi đồng ý chuyện vắng nhà qua đêm.

    Nhưng bác sĩ Burnley đang phải đi xa, còn người quản gia tạm thời phải nghỉ việc vì rạn mắt cá chân. Ilse đã rủ Emily tối đó đến ở cùng, và Emily được phép làm vậy. Ilse không biết chuyện này – thật ra, cô chẳng mấy hy vọng lời đề nghị được chấp thuận – nhưng rồi sẽ được thông báo tại buổi cầu nguyện tập thể. Giá Ilse không đến muộn thì Emily đã nói cho cô biết chuyện trước khi buổi cầu nguyện “tiến hành” rồi, và như vậy rất có thể sẽ tránh được những sự cố không may trong tối đó; nhưng, như thường lệ, Ilse đã đến muộn, thành ra cái sảy nảy cái ung.

    Emily ngồi trên hàng ghế cầu nguyện của nhà thờ Murray, ngay sát đầu giáo đường, cạnh khung cửa sổ trổ ra vạt linh sam và cây thích bao quanh ngôi nhà thờ nhỏ màu trắng. Buổi cầu nguyện tập thể này không phải buổi tụ họp định kỳ hằng tuần vốn chỉ lác đác vài con chiên ngoan đạo như thường lệ. Nó là một “buổi họp mặt đặc biệt”, được tổ chức để chuẩn bị cho ngày Chủ nhật cộng đồng sắp tới, và diễn giả không phải là cha Johnson trẻ trung tràn đầy nhiệt huyết luôn khiến Emily háo hức lắng nghe bất chấp sai sót ngớ ngẩn của cô ở bữa tối của Hội Phụ nữ Cứu trợ hôm vừa rồi, mà là một nhà truyền giáo được Shrewsbury cho mượn một tối. Nhờ danh tiếng của ông ta mà nhà thờ đông nghịt người, ấy vậy nhưng sau đó hầu như ai cũng tuyên bố thà nghe cha Johnson của họ giảng còn hơn. Emily nhìn ông ta chăm chú, đầy xét đoán và rút ra kết luận ông ta ăn nói quá ngọt xớt và chẳng ra dáng con người cao quý gì hết. Cô nghe ông ta đọc từ đầu đến cuối một bài kinh, thầm nghĩ,

    “Đưa ra lời khuyên sáng suốt của Chúa và lăng mạ quỷ thì đâu phải cầu nguyện chứ.”

    Sau khi lắng nghe diễn thuyết vài phút, cô rút ra kết luận ông ta chỉ là một kẻ tư duy phi lý, thích bày trò giật gân và khoái gây chuyện lùm xùm, vậy là cô dửng dưng phớt lờ ông ta để thả mình vào cõi mơ –một chuyện nhìn chung cô có thể làm tùy ý mỗi khi trong lòng bất an muốn trốn thoát hiện thực trái ngang.

    Ngoài trời, ánh trăng vẫn đang được sàng qua những tán thích và linh sam, lắc rắc đổ xuống cơn mưa bạc, mặc dù một đụn mây đầy đe dọa đang đùn lên đặc dần phía chân trời Tây Bắc, và tiếng sấm ầm ì văng vẳng phá tan bầu không khí tĩnh lặng giữa đêm hè oi ả, một đêm hầu như tịnh không chút gió, dù thỉnh thoảng bất chợt một luồng khí quẹt ngang đám cây cối, nghe giống tiếng thở dài hơn là một cơn gió nhẹ, và xô bóng cây túm tụm thành những hình thù kỳ dị đang nhảy múa. Vẻ đẹp thanh bình quen thuộc hòa quyện cùng những dấu hiệu báo bão đang về nhuộm bầu không khí ban đêm bằng một sắc màu kỳ lạ khiến Emily mê mẩn, và cô tận dụng hẳn phân nửa thời gian diễn thuyết của nhà truyền giáo để soạn thảo trong tâm trí bản thân miêu tả về cảnh tượng này dành cho cuốn sổ của Jimmy. Thời gian còn lại, cô nghiên cứu từng người một trong số các thính giả lọt vào tầm nhìn. Trong các cuộc hội họp giữa chốn công cộng, Emily chẳng bao giờ chán trò này, và càng lớn cô càng thích hơn. Thú vị xiết bao khi nghiên cứu những khuôn mặt mỗi người một vẻ ấy, khi ngẫm ngợi dò đoán vô vàn câu chuyện cuộc đời được viết trên đó bằng nét chữ tượng hình bí ẩn thời Ai Cập cổ đại. Hết thảy những người đàn ông đàn bà đó, ai cũng có những nỗi niềm thầm kín, những cuộc đời bí mật không tỏ cùng bất kỳ ai ngoài chính bản thân và Chúa. Người ngoài chỉ có thể suy đoán về họ, và Emily rất say mê trò chơi suy đoán này. Quả thực, nhiều khi, cô còn cảm thấy dường như mọi thứ không chỉ dừng lại ở mức suy đoán, dường như trong một vài khoảnh khắc đặc biệt nào đó, cô có thể bước vào tâm hồn họ, có thể đọc được trong đó những động cơ, những đam mê vốn vị đào sâu chôn chặt mà có lẽ vẫn là một bí ẩn ngay cả với những người sở hữu chúng. Bao giờ cũng vậy, chỉ cần cái khả năng ấy trỗi dậy là Emily lại khó lòng cưỡng nổi khao khát được làm điều này, dẫu rằng ngay cả khi đã đành lòng nhượng bộ, cô vẫn không bao giờ thoát khỏi cảm giác áy náy, cho rằng mình đang xâm phạm vào đời tư của kẻ khác. Chuyện này khác hẳn với việc sải rộng đôi cánh tưởng tượng bay vào một thế giới sáng tạo trong tâm tưởng, khác hẳn với vẻ đẹp tinh tế, huyền ảo của “ánh chớp”; ở cả hai trường hợp đó, cô không có bất kỳ giây phút lưỡng lự hay ngần ngại nào. Nhưng khi rón rén bước xuyên qua một cánh cửa đang tạm thời mở khóa như thế, rồi thoáng nhìn thấy những thứ vốn không được bày tỏ, không thể bày tỏ đang được che đậy trong sâu thẳm trái tim và tâm hồn người khác, hành động đó, bên cạnh ý thức về sức mạnh của nó, luôn mang đến một nhận thức về sự cấm đoạn, thậm chí là ý thức về sự báng bổ thánh thần. Tuy nhiên, Emily không biết liệu có khi nào cô cưỡng lại nổi sức quyến rũ của nó không… lần nào cũng như lần nào, cô luôn liếc qua cánh cửa và nhìn hết thứ này đến thứ kia, rồi tới lúc đó mới nhận thức được mình đang làm gì. Hầu như chúng luôn là những điều khủng khiếp. Bí mật thường khủng khiếp. Những thứ đẹp đẽ chẳng mấy khi bị che giấu làm gì… chỉ những thứ xấu xa, méo mó mới hay bị thế.

    “Vào thời xa xưa, Elder Forsyth chắc hẳn là kẻ ưa hành hạ người khác,” cô nghĩ. “Nhìn mặt ông ta giống thế lắm. Ngay lúc này đây, ông ta đang thích nhà truyền giáo vì ông ấy đang giảng về địa ngục, và Elder Forsyth chắc mẩm mọi kẻ thù của ông ta đều xuống đó hết. Đúng vậy, thế nên ông ta mới lộ vẻ mãn nguyện như thế. Mình nghĩ hằng đêm, bà Bowes vẫn cưỡi chổi bay lượn trên trời. Bà ta có vẻ thế lắm. Bốn trăm năm trước, bà ta hẳn phải là phù thủy, và Elder Forsyth đã đóng cọc thiêu cháy bà ta. Bà ta căm ghét hết thảy mọi người… hẳn phải kinh khủng lắm khi căm ghét tất cả mọi người, khi để tâm hồn tràn ngập hận thù. Chắc chắn mình phải tìm cách miêu tả một người như thế trong cuốn sổ Jimmy. Không biết liệu hận thù căm ghét có xua đuổi toàn bộ tình yêu thương ra khỏi tâm hồn bà ta không, không biết trong đó còn rơi rớt lại chút yêu thương nào dành cho bất kỳ ai hay bất kỳ thứ gì không. Nếu có thì rất có thể nó sẽ cứu vớt bà ta. Đây đúng là một ý tưởng hay để viết truyện. Trước khi đi ngủ mình phải ghi lại mới được, mình sẽ mượn Ilse ít giấy vậy. Không cần… cuốn sách thánh ca của mình vẫn còn sót ít giấy trắng. Mình sẽ viết lại luôn.

    “Không biết tất cả những người này sẽ nói gì nếu đột nhiên được hỏi họ mong muốn gì nhất, và bắt buộc phải trả lời thành thật nhỉ. Không biết trong số những cặp vợ chồng kia, có bao nhiêu người mong muốn được thay đổi nhỉ? Vợ chồng Chris Farrar chắc là có… chuyện đó ai mà chẳng biết. Chẳng hiểu tại sao, mình cứ cảm thấy chắc chắn James Beatty và vợ ông ta cũng thế. Họ có vẻ khá hài lòng về nhau, nhưng có một lần, mình bắt gặp bà ấy nhìn ông ta đúng lúc bà ấy không ngờ có người đang quan sát; ôi chao, cứ như thể qua đôi mắt bà ấy, mình đã nhìn thấu tận tâm hồn bà ấy, và bà ấy căm ghét ông ta… sợ hãi ông ta. Giờ bà ấy đang ngồi kia, ngay cạnh ông ta, nhỏ bé, gầy còm, ăn mặc lạc mốt, tóc bạc da mồi cả rồi, nhưng bà ấy, chính bản thân bà ấy, là một ngọn lửa phản kháng cháy đỏ hừng hực. Điều bà ấy mong muốn là được thoát khỏi ông ta… hay chỉ cần phản kháng lại dù chỉ một lần. Thế là bà ấy thỏa mãn rồi.

    “Chú Dean ngồi kia… mình thật không hiểu điều gì đã mang chú ấy đến buổi cầu nguyện tập thể chứ? Vẻ mặt chú ấy rất nghiêm túc, nhưng ánh mắt chú ấy thì tràn ngập vẻ giễu cợt dành cho ông Sampson… mà ông Sampson đang nói gì vậy nhỉ?… Ôi chao, lại chuyện gì đó về các trinh nữ khôn ngoan[1] đây mà. Mình ghét các trinh nữ khôn ngoan, mình thấy họ ích kỷ khủng khiếp. Nhẽ ra họ có thể san sẻ cho những cô gái khờ dại tội nghiệp kia một ít dầu. Mình không tin là sự ngợi ca mà Chúa Jesus dành cho họ sẽ nhiều hơn sự ngợi ca mà Người muốn dành cho viên quản gia bất lương; theo mình thấy, Người chỉ đang cố gắng cảnh báo những người khờ dại để họ không được tỏ ra bất cẩn và khờ dại thôi, vì nếu họ mà như thế, những kẻ khôn ngoan ích kỷ sẽ chẳng đời nào giúp đỡ họ. Không hiểu liệu có đáng bị coi là xấu xa không nếu mình cảm thấy thà ở bên ngoài với những người khờ dại để mà cố gắng an ủi giúp đỡ họ, còn hơn là ở bên trong tiệc tùng cùng những kẻ khôn ngoan. Như thế còn thú vị hơn nhiều.

    [1] Dụ ngôn về Mười trinh nữ chép trong sách Phúc âm Matthew: Mười cô trinh nữ cầm đèn đón chàng rể. Năm cô được xem là khờ dại vì mang đèn mà không mang thêm dầu, còn năm cô kia được cho là khôn ngoan vì mang đèn còn chuẩn bị cả bình dầu đầy. Chờ mãi chưa thấy chàng rể đến nên cả mười cô đều ngủ thiếp đi. Nửa đêm, có tiếng hô: Chàng rể đến. Nhưng lúc này, đèn của năm cô khờ dại đều hết dầu nên tắt ngóm. Mượn dầu thì không được, các cô đành chạy ra quán mua. Nhưng mua xong dầu về đến nơi thì cửa đã đóng, tiệc cưới đã bắt đầu. Năm cô khờ dại đành phải ra về trong hối tiếc.

    “Kia là bà Kent và Teddy. Ôi chao, bà ấy khát khao cháy bỏng một thứ… mình không biết là thứ gì, nhưng nó là thứ bà ấy không bao giờ có thể giành được, và khát vọng giành được nó đã dằn vặt bà ấy suốt cả ngày lẫn đêm. Bởi vậy bà ấy mới suốt ngày kè kè bên Teddy như thế, mình biết mà. Nhưng mình không biết cái gì đã khiến bà ấy khác hẳn so với những phụ nữ khác. Mình không bao giờ có thể liếc vào trong tâm hồn bà ấy… bà ấy ngăn chặn mọi ánh nhìn… cánh cửa chẳng khi nào lỏng then mở khóa.

    “Còn mình mong muốn gì nhất nhỉ? Đó chính là leo lên tận đỉnh con đường Alps,

    “ ‘Và viết lên trên bảng danh sách chói ngời

    Cái tên hèn mọn của một người phụ nữ.’

    “Tất cả chúng ta đều đói. Tất cả chúng ta đều muốn một chút bánh mì sự sống… ấy vậy nhưng ông Sampson lại không thể trao nó cho chúng ta. Không biết ông ấy muốn gì nhất nhỉ? Tâm hồn ông ấy cứ sền sệt đến nỗi chẳng thể nhìn thấu được. Ông ấy có vô vàn mong muốn hèn hạ… ông ấy chẳng mong muốn bất kỳ thứ gì đủ độ để bị nó chi phối. Cha Johnson muốn giúp đỡ mọi người và thuyết phục mọi người làm điều đúng đắn… cha thật tâm muốn thế. Còn mong mỏi cháy bỏng nhất của dì Janey là được chứng kiến toàn bộ thế giới ngoại đạo đều cải sang Cơ Đốc giáo. Tâm hồn dì ấy không ẩn chứa bất kỳ ước mong đen tối nào. Mình biết thầy Carpenter muốn gì… cơ hội từng tuột mất một lần nữa quay trở lại. Katherine Morris muốn tìm lại tuổi thanh xuân… bà ấy căm ghét mọi đứa con gái trẻ tuổi hơn như bọn mình bởi vì bọn mình trẻ trung. Cụ Malcolm Strang chỉ ước ao được sống… chỉ cần thêm một năm nữa thôi… lần nào cũng chỉ cần thêm một năm nữa… chỉ cần được sống… chỉ cần không phải chết. Hẳn phải khủng khiếp biết bao nhiêu khi sống mà chẳng có mục đích gì ngoại trừ trốn chạy cái chết. Nhưng ông ấy vẫn tin vào thiên đường… ông ấy vẫn chắc mẩm rồi sẽ đến đó. Ông già tội nghiệp ấy, giá như có thể nhìn thấy ánh chớp của mình đây dù chỉ một lần thôi thì ắt hẳn ông ấy đã chẳng bày tỏ thái độ ghét cay ghét đắng như thế khi nghĩ về cái chết. Còn Mary Strang lại muốn chết… trước khi một thứ khủng khiếp nào đó mà bà ấy e sợ sẽ hành hạ bà ấy cho tới chết. Nghe nói đó là bệnh ung thư. Còn có ông Morrison Khùng đang ở khu vực dành cho ban đồng ca nữa… mọi người đều biết ông ấy muốn gì… tìm thấy Annie của ông ấy. Tom Sibley thì có lẽ muốn mặt trăng… và biết rõ anh ta không bao giờ có thể lấy được nó… bởi vậy người ta mới bảo anh ta hơi điên điên khùng khùng. Amy Crabbe muốn Max Terry quay lại với chị ấy… ngoài chuyện đó ra thì chẳng còn gì quan trọng cả.

    “Ngày mai mình sẽ phải viết hết những chuyện này vào cuốn sổ Jimmy. Chúng thật hấp dẫn xiết bao… nhưng, xét cho cùng, mình vẫn thích viết về những điều tốt đẹp hơn. Chỉ có điều, ở chúng lại có một ý vị mà những thứ tốt đẹp không có được. Những cánh rừng ngoài kia… trông chúng lạ kỳ xiết bao giữa bóng tối và ánh sáng bạc. Ánh trăng đang trùm lên những tấm bia một một tấm màn kỳ lạ, khiến cho ngay cả những tấm bia xấu xí cũng trở nên đẹp đẽ hẳn. Nhưng trời nóng hầm hập, trong này chẳng khác gì cái lò nung, còn tiếng sấm ầm ì càng lúc càng dội lại gần hơn. Hy vọng Ilse và mình kịp về nhà trước khi bão nổi. Ôi chao, ngài Sampson à, ngài Sampson, Chúa đâu có phải vị Chúa giận dữ… ngài mà nói thế thì chứng tỏ ngài chẳng hiểu gì về Người hết… tôi dám chắc Người vô cùng phiền muộn khi chúng ta tỏ ra khờ dại xấu xa, nhưng Người không phát điên phát khùng lên. Chúa của ngài và Chúa của bà Ellen Greene giống nhau như hai giọt nước vậy. Tôi chỉ muốn đứng bật dậy nói với ngài như thế, nhưng giữa nhà thờ mà trả lời một cách xấc xược thì chẳng phù hợp với truyền thống của nhà Murray chút nào. Ngài đã bôi xấu Chúa… trong khi Người tốt đẹp nhường ấy. Tôi căm ghét ngài vì đã bôi xấu Chúa, đồ béo ị lùn tịt.”

    ©STENT: http://www.luv-ebook.com

    Và rồi đúng lúc đó, ông Sampson, vốn đã vài lần để ý đến ánh mắt thăm dò chăm chú của Emily và cứ đinh ninh ta đây đang gây được ấn tượng cực kỳ lớn lao khiến cô gái ý thức được rõ ràng tình trạng không được cứu vớt của bản thân, kết thúc bài giảng bằng những lời khẩn nài chốt hạ vô cùng khẩn thiết, và ngồi xuống. Vốn đang phải chen chúc giữa bầu không khí ngột ngạt bức bí của ngôi nhà thờ đông đúc lờ mờ ánh đèn, các khán thính giả đều nhẹ nhõm thở phào ra thành tiếng, và gần như chẳng buồn đợi đến lúc hát thánh ca và đọc kinh Tạ ơn, họ cứ thế ùn ùn kéo ra ngoài tìm đến với bầu không khí trong lành hơn. Mắc kẹt giữa dòng người và bị tách ra khỏi bà Laura, Emily bị đẩy dạt ra bên, xuyên qua cánh cửa dẫn vào khu vực dàn đồng ca mà lọt vào ngay bên trái bục giảng kinh. Phải mất một lúc cô mới chật vật thoát ra khỏi đám đông và hối hả vòng ra phía trước, hy vọng sẽ gặp được Ilse ở đó. Ở đây lại là một đám đông nữa, nhưng chẳng mấy chốc đã vãn người, tuy nhiên cô vẫn không thấy bóng dáng Ilse đâu. Đột nhiên, Emily nhận ra cô không mang theo quyển thánh ca. Cô vội vã lao ngược trở lại chỗ cửa dẫn vào khu vực dàn đồng ca. Chắc hẳn cô đã bỏ quên cuốn sách thánh ca ở chỗ ghế ngồi… trong khi lẽ ra không bao giờ được phép để quên nó ở đó. Cốt để cho an toàn, cô đã kẹp vào giữa cuốn thánh ca mẩu giấy lưu lại vài ghi chép rời rạc được cô lén lút viết trong thời gian xướng bài thánh ca cuối cùng – một bản miêu tả khá chua cay về cô Potter gầy giơ xương thuộc dàn hợp xướng, mấy câu châm biếm nhằm vào chính cha Sampson, thêm cả một vài tưởng tượng ngẫu nhiên mà cô muốn giấu kín nhất vì nó chất chứa một phần giấc mơ và sự tưởng tượng hẳn sẽ khiến cho bất cứ sự nhòm ngó nào từ những đôi mắt xa lạ cũng trở thành hành động báng bổ thánh thần.

    Lúc cô vào trong, cụ Jacob Banks, ông lão vừa mù dở vừa nghễnh ngãng nhận nhiệm vụ trông nom nhà thờ, đang tắt dần đèn đóm. Ông đã tắt đến hai cây đèn trên tường phía sau bục giảng kinh. Emily vớ lấy cuốn thánh ca của cô đang để trên giá… chẳng thấy mẩu giấy của cô đâu. Dưới ánh sáng lờ mờ do ông Jacob Banks đã tắt nốt cây đèn cuối cùng, cô nhìn thấy nó nằm trên sàn nhà, dưới cái ghế cầu nguyện phía trước. Cô quỳ xuống, vươn tay ra với lấy mẩu giấy. Giữa lúc đó, cụ Jacob bước ra ngoài và khóa cánh cửa dẫn vào khu vực dàn thánh ca.

    Emily không nhận ra ông lão trông coi nhà thờ đã đi mất; ngôi nhà thờ vẫn đang lờ mờ sáng dưới sự chiếu rọi của vầng trăng cho đến lúc này vẫn chưa bị nhấn chìm sau những đám mây dông đang không ngừng đùn lên cuồn cuộn. Ấy vậy nhưng hóa ra đó vẫn không phải mẩu giấy cô cần tìm… không hiểu nổi nó đang ở đâu nữa?… ồ, rốt cuộc thì cũng thấy nó đây rồi. Emily nhặt mẩu giấy lên và chạy tới bên cánh cửa, nhưng cửa lại không mở.

    Đến lúc đó, Emily mới nhận ra ông cụ Jacob Banks đã đi mất, chỉ còn lại một mình cô trong nhà thờ. Cô hì hục tìm cách mở cửa nhưng chỉ hoài công vô ích, rồi cô gọi ông cụ Banks nhưng cũng chẳng có tác dụng gì. Cuối cùng, cô lao đi giữa hai hàng ghế, chạy ra hiên trước. Giữa chừng, cô nghe thấy tiếng cỗ xe độc mã cuối cùng ken két xoay đầu bên cổng vào rồi chạy đi mất: cùng lúc đó, mặt trăng đột ngột bị những đám mây đen sì nuốt chửng và ngôi nhà thờ mất hút giữa bóng tối – bóng tối dày đặc, oi ả, bức bối, gần như có thể sờ mó được. Emily thét lên trong nỗi hoảng loạn bất ngờ… nện thình thịch vào cửa ra vào… điên cuồng vặn tay nắm cửa… rồi lại kêu lên. Ôi, mọi người đâu thể đi hết rồi cơ chứ… chắc chắn ai đó sẽ nghe thấy tiếng cô! “Bác Laura ơi”… “Bác Jimmy ơi”… “Ilse”… rồi cuối cùng rền rĩ tuyệt vọng… “Ôi, Teddy ơi… Teddy!”

    Một dải chớp trắng xanh quét qua hiên, ngay sau đó tiếng sấm gầm lên. Một trong những cơn bão tồi tệ nhất biên niên sử làng Hồ Blair đã bắt đầu… và Emily Starr thì bị nhốt một mình trong ngôi nhà thờ tối tăm giữa rừng thích… cô, vốn luôn luôn ấp ủ trong lòng một nỗi sợ hãi vô cớ mang tính bản năng trước những cơn dông bão, một nỗi hoảng sợ cô không bao giờ có thể xóa than mà chỉ đủ sức kiềm chế được phần nào.

    Run rẩy, cô đổ sụp xuống bậc cầu thang dẫn đến khu vực dàn đồng ca, và cứ cuộn người thu lu ở đó. Chắc chắn sẽ có người quay lại khi phát hiện ra cô đang mất tích. Nhưng liệu có ai phát hiện ra không? Ai sẽ nhớ tới cô chứ? Bác Laura và Jimmy vẫn chắc mẩm cô đang ở cùng Ilse như đã dự tính. Trong khi Ilse, hiển nhiên đã đi mất rồi, thì vẫn đinh ninh Emily không đi cùng mình được và bởi vậy cô sẽ cho rằng cô đã trở về trang trại Trăng Non. Không ai biết cô đang ở đâu… sẽ chẳng ai quay lại tìm cô cả. Cô sẽ phải ở lại đây, giữa chốn tối tăm, hoang vu, đáng sợ âm âm tiếng vang này… ngay lúc này đây, ngôi nhà thờ cô vốn nắm rõ như lòng bàn tay và yêu thương hết mực bởi những mối liên kết bao năm với lớp giáo lý, với bài ca và những khuôn mặt chất phác của bao bạn bè thân mến đã trở thành một nơi chốn xa lạ, ma quái tràn ngập những nỗi khiếp hãi đầy ám ảnh. Chẳng có lối thoát nào hết. Những ô cửa sổ kín như bưng không tài nảo mở được. Nhà thờ được thông gió bằng những khung kính áp trần hệt những ô cửa sổ con con, được mở ra đóng vào bằng cách kéo một sợi dây thép. Cô không thể leo lên tới tận đó, mà ngay cả có tới được đó thì cô cũng chẳng thể chui qua được.

    Cô thụp xuống co rúm người trên bậc cầu thang, cả người run lên bần bật. Đến lúc này, sấm chớp nối tiếp nhau hết đợt này đến đợt khác, gần như không ngừng nghỉ: mưa quất vào cửa sổ, không phải từng hạt từng hạt mà giáng thành màn, thỉnh thoảng lại tuôn xối xả như quăng cả loạt mưa đá vào ô cửa. Gió đột nhiên nổi lên cuồn cuộn theo cơn bão, rú rít thét gào quanh nhà thờ. Đây không phải “Bà Gió” mỏng manh sương khói với đôi cánh dơi, người bạn thân thiết từ thuở ấu thơ của cô, mà là cả một đoàn phù thủy đang la hét. “Hoàng tử Quyền năng của Khí chế ngự gió,” cô từng có lần nghe ông Morrison Khùng nói thế. Sao lúc này cô lại nghĩ tới ông Morrison Khùng nhỉ? Chẳng hiểu sao cửa sổ cứ lạch cạch liên hồi thế chứ, y như thể đang bị những tên kỵ sĩ ma quái cưỡi bão đạp gió rung lắc vậy! Cô từng nghe người ta kể lại một câu chuyện rợn người, rằng cách đây vài năm, có người đã nghe thấy tiếng đàn organ vang lên giữa đêm trong ngôi nhà thờ vắng hoe vắng hoắt. Cứ thử tưởng tượng bây giờ tự nhiên tiếng nhạc bắt đầu vang lên xem! Có vẻ như chẳng sự tưởng tượng nào lại quá mức quái dị hay khủng khiếp đến độ chẳng thể trở thành hiện thực. Có phải cầu thang đang kêu kẽo kẹt không nhỉ? Bóng tối giữa những đợt chớp lóe ngột ngạt đến độ khiến người ta có cảm giác nó dày cồm cộp. Quá hoảng loạn sợ bị nó sờ vào người, Emily chỉ biết vùi mặt vào trong.

    Tuy nhiên, ngay sau đó, cô lấy lại can đảm và bắt đầu ngẫm ra phản ứng của cô lúc này không hề phù hợp với truyền thống của nhà Murray. Người nhà Murray không được phép suy sụp như thế này. Người nhà Murray sẽ không hoảng loạn một cách ngớ ngẩn giữa bão táp sấm chớp. Các bậc tổ tiên nhà Murray đang yên giấc trong khu nghĩa địa riêng phía bên kia hồ hẳn sẽ khinh thường một kẻ hậu duệ thoái hóa như cô. Bác Elizabeth hẳn sẽ bảo đó là biểu hiện của chất Starr trong cô. Cô phải dũng cảm hơn: xét cho cùng, cô đã trải qua những thời khắc còn tồi tệ hơn thế này nhiều… cái đêm cô ăn phải quả táo độc của ông John Ngạo Mạn… buổi chiều cô ngã khỏi vách đá trên vịnh Malvern. Chuyện này xảy đến quá đột ngột, thành ra trước khi kịp huy động lòng can đảm để chống chọi lại thì cô đã chìm trong cơn hoảng sợ mất rồi. Cô phải xốc lại tinh thần mới được. Sẽ chẳng có chuyện đáng sợ gì xảy ra với cô hết… chẳng có gì tồi tệ hơn chuyện phải ở lại suốt đêm trong nhà thờ. Đến sáng mai, cô có thể thu hút sự chú ý của người qua đường nào đó. Giờ cô đã ở đây hơn một tiếng đồng hồ rồi, và nào đã có gì xảy ra đâu cơ chứ, trừ chuyện tóc cô quả thật đã bạc trắng mất rồi, vì theo cô hiểu đôi khi tóc tai vẫn hay bị thế lắm. Thỉnh thoảng, ở chân tóc cứ râm ran một cảm giác là lạ. Emily nắm chặt bím tóc đuôi sam dài, sẵn sàng chờ ánh chớp tiếp theo. Khi chớp lóe lên, cô nhìn thấy rõ mái tóc mình vẫn nguyên màu đen nhánh. Cô thở phào nhẹ nhõm, bắt đầu thấy tinh thần phấn chấn hơn hẳn. Bão đang tan. Những hồi sấm càng lúc càng yếu dần và thưa thớt hơn, tuy nhiên mưa vẫn không ngừng rơi, gió vẫn quay cuồng gào rú quanh nhà thờ, đổ những âm thanh rền rĩ kỳ quái xuyên qua lỗ khóa to tướng.

    Emily xốc thẳng lại vai, thận trọng thả hai chân xuống một bậc thang thấp hơn. Có lẽ tốt hơn hết, cô nên thử quay trở vào trong nhà thờ xem sao. Nếu một đợt sấm sét nữa nổi lên, gác chuông có khi bị đánh trúng cũng không chừng; theo cô nhớ, các gác chuông chẳng lần nào thoát khỏi bị sét đánh cả: nó rất có khả năng đâm sầm xuống mái vòm ngay trên đầu cô. Cô sẽ vào trong nhà và ngồi xuống dãy ghế cầu nguyện dành riêng cho nhà Murray: cô sẽ bình tĩnh, biết xét đoán và thật tự chủ: cô rất lấy làm xấu hổ vì nỗi hoảng loạn vừa rồi, nhưng nó khiếp thật đấy chứ.

    Giờ đây, bao phủ quanh cô là màn đêm nặng nề mượt như nhung, tuy nhiên vẫn gợi lên một cảm giác kỳ quái giống hệt lúc nãy, cái cảm giác dường như chỉ cần vươn tay ra là ta sẽ chạm vào bóng tối, có lẽ tại sự nóng nực và ẩm ướt của đêm tháng Bảy. Hàng hiên này nhỏ hẹp quá, nếu vào trong nhà thờ, cô sẽ không còn thấy ngột ngạt bức bối như thế nữa.

    Emily đưa tay ra định túm lấy tay vịn cầu thang hòng làm điểm tựa kéo người đứng dậy trên đôi chân run rẩy. Bàn tay cô chạm vào… không phải tay vịn cầu thang… lạy Chúa lòng lành, cái gì vậy nhỉ?… thứ gì đó lông lá… tiếng thét kinh hoàng đông cứng trên môi Emily… những bước chân êm ái bước xuống dãy bậc thang bên cạnh cô, ánh chớp lóe sáng và ngay dưới chân cầu thang là một con chó đen khổng lồ, nó quay mình ngước nhìn cô trước khi bị nuốt vào trong bóng tối đang đen đặc trở lại. Dẫu vậy, cô vẫn kịp thoáng nhìn thấy đôi mắt đỏ rực của nó chiếu thẳng vào cô, y hệt đôi mắt quỷ.

    Chân tóc của Emily lại bắt đầu râm ran trở lại, một sợi xích khổng lồ lạnh ngăn ngắt bắt đầu chậm rãi trườn lên xương sống cô. Cô không thể cử động được ngay cả khi tính mạng đang phụ thuộc vào điều đó. Thậm chí cô không kêu lên nổi. Điều duy nhất cô có thể nghĩ tới trước hết là con chó săn đáng sợ của Manx Castle trong Peveril xứ Peak. Trong một vài phút, nỗi kinh hãi của cô cuồn cuộn dâng trào đến độ rốt cuộc chính cơ thể cô cũng trở nên rời rã khó chịu. Rồi, bằng một nỗ lực với sự quyết tâm không hề giống như của một đứa trẻ – tôi đồ rằng vào giây phút đó Emily đã hoàn toàn không còn là một đứa trẻ nữa rồi – cô xốc lại khả năng tự chủ. Cô sẽ không đầu hàng nỗi sợ hãi; cô nghiến răng, siết chặt đôi bàn tay đang run bần bật; cô sẽ dũng cảm… suy nghĩ hợp tình hợp lý. Đó chỉ là một con chó rất bình thường ở làng Hồ Blair đi theo chân chủ nhân, một cậu nhóc nghịch ngợm nào đó, vào trong khu vực dành cho dàn đồng ca, rồi bị rớt lại phía sau. Chuyện như thế này trước kia cũng từng xảy ra rồi. Ánh chớp lóe sáng soi tỏ cho cô thấy rõ hành lang giờ đang vắng hoe. Rõ ràng con chó đã vào bên trong nhà thờ. Emily quyết định sẽ cứ ở yên tại chỗ. Dù đã hết hoảng loạn nhưng cô không muốn giữa đêm hôm lại đột nhiên chạm phải một cái mũi lạnh ngắt hay một mạng sườn lông lá. Cô không tài nào quên được cái cảm giác khủng khiếp của giây phút cô chạm vào sinh vật đó.

    Giờ ắt hẳn đã mười hai giờ rồi; khi buổi cầu nguyện tan thì đã là mười giờ tối. Cơn bão hầu như đã tắt hẳn tiếng. Thỉnh thoảng vẫn vang lên tiếng chuyển động và tiếng gió rít gào, nhưng con lại là sự thinh lặng, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng mưa đang dần nhỏ hạt. Tiếng sấm vẫn ầm ì yếu ớt và chớp tỉnh thoảng vẫn lóe lên, nhưng ánh sáng đã dịu hơn, mờ nhạt hơn, không phải ánh chói lòa rạch ngang bầu trời dường như bao bọc tòa nhà này dưới thứ ánh sáng xanh quá rực rỡ đến độ không chịu nổi, khiến mắt cô nhức nhối. Dần dần, trái tim cô bắt đầu đập bình thường trở lại. Tư duy lý trí đã tìm lại được sức mạnh. Mặc dù không hề thích thú với tình cảnh hiện thời, nhưng cô bắt đầu phát hiện ra ở nó những khả năng đầy kịch tính. Chao ôi, thật là một chương hay ho xiết bao dành cho cuốn nhật ký của cô – hay cuốn sổ Jimmy; và, hơn thế nữa, dành cho cuốn tiểu thuyết mà một ngày nào đó sẽ được cô chấp bút! Đây là một tình huống dành riêng cho nhân vật nữ chính; tất nhiên cuối cùng rồi nữ chính này sẽ được nam chính giải cứu. Emily bắt đầu xây dựng cốt truyện… thêm thắt cho nó… trau chuốt nó… săn tìm từ ngữ để biểu đạt nó. Xét cho cùng, chuyện này cũng có phần… thú vị. Duy có điều, cô chỉ mong sao biết được con chó kia từ đâu đến. Ánh chớp nhợt nhạt lập lòe trên những tấm bia một mà cô có thể nhìn thấy xuyên qua khung cửa sổ hàng hiên phía đối diện kia mới kỳ quái làm sao! Dưới ánh sáng lúc tỏ lúc mờ, thung lũng thân thuộc phía xa xa kia trông mới khác lạ làm sao! Gió rền rĩ, thở than và phàn nàn mới dữ làm sao… nhưng nó đã trở lại là Bà Gió của riêng cô. Bà Gió là một trong những sản phẩm từ thuở ấu thơ đã được cô mang theo vào quãng đời thiếu nữ, và giờ đây, cô đang được nó an ủi bằng ý thức về một mối thân tình lâu năm. Những kỵ sĩ gió của cơn bão đã biến mất, người bạn tưởng tượng của cô đã quay về. Emily thở một hơi dài hầu như mãn nguyện. Điều tồi tệ nhất đã qua… và thật tình, chẳng phải cô đã cư xử rất đúng mực đó sao? Cô cảm thấy lòng tự trọng của mình bắt đầu quay trở lại.

    Đột nhiên Emily biết cô không chỉ ở một mình!

    Cô không thể nói được tại sao mình lại biết thế. Cô không nghe thấy gì… không nhìn thấy gì… không cảm thấy gì: ấy vậy nhưng, vượt trên hết thảy mọi nghi ngờ hay tranh cãi, cô biết rằng có một Sự Hiện Diện trong bóng tối giữa dãy cầu thang phía trên cô. Cô xoay người ngước nhìn lên. Nhìn như thế quả thật rất đáng sợ, nhưng dù sao nếu cảm thấy Thứ Gì Đó đang ở trước mặt ta thì vẫn đỡ kinh khủng hơn chán so với việc cảm thấy nó đang ở phía sau. Cô trợn mắt điên cuồng nhìn chằm chằm vào bóng tối, nhưng chẳng thể nhìn thấy gì. Rồi sau đó… cô nghe thấy một tiếng cười khe khẽ vang lên phía trên mình… một tiếng cười suýt chút nữa đã khiến tim cô ngừng đập… tiếng cười phi nhân, vô cùng đáng sợ của một kẻ tâm trí không bình thường. Chẳng cần phải nhờ đến ánh chớp chiếu sáng thì cô mới nhận ra ông Morrison Khùng đang ở đâu đó giữa dãy cầu thang bên trên cô. Nhưng ánh chớp đã lóe lên… cô nhìn thấy ông ta… cô cảm thấy dường như mình đang chìm dần vào trong một cái vực băng lạnh lẽo nào đó… thậm chí cô còn chẳng kêu lên được. Mãi mãi cô sẽ không bao giờ quên hình ảnh ông ta, được ánh chớp khảm vào trong trí não cô. Ông ta cúi lom khom phía trên cô năm bậc cầu thang, mái đầu hoa râm đâm bổ về phía trước. Cô nhìn thấy ánh sáng điên cuồng trong mắt ông ta; bộ răng vàng khè như nanh chó sói nhe ra dưới nụ cười mỉm đáng sợ; bàn tay gầy guộc khều khào đỏ như máu vươn về phía trước, suýt nữa chạm tới vai cô.

    Cơn hoảng loạn vượt qua ngoài tầm kiểm soát đập vỡ tan tành trạng thái mụ mị của Emily. Cô đứng bật dậy, kinh hãi bật lên một tiếng thét đinh tai nhức óc.

    “Teddy! Teddy! Cứu tớ với!” cô điên cuồng ré lên.

    Cô không biết tại sao mình lại gọi Teddy; thậm chí cô còn chẳng nhận ra mình đã gọi cậu; mãi tận sau này cô mới nhớ đến nó, giống như người ta có thể nhớ lại tiếng thét đã đánh thức mình dậy giữa cơn ác mộng; cô chỉ biết rằng mình phải cầu viện sự trợ giúp, rằng cô sẽ chết mất nếu bàn tay khủng khiếp kia chạm vào cô. Nó không được phép chạm vào cô.

    Chẳng khác gì một người điên, cô nhảy phắt xuống cầu thang, lao vào trong nhà thờ và chạy lên giữa hai hàng ghế. Cô phải ẩn mình trước khi tia chớp tiếp theo xuất hiện, nhưng không phải trong dãy ghế của nhà Murray. Hẳn ông ta sẽ đến đó tìm cô. Cô nhào vào một dãy ghế giữa phòng và núp xuống sát sàn nhà tận trong góc. Mồ hôi lạnh như băng toát ra ướt đẫm toàn thân cô. Nỗi kinh sợ không thể kiểm soát thít chặt từng sợi tế bào trong người cô. Điều duy nhất cô có thể nghĩ tới là không được phép để nó chạm vào người… cái bàn tay đỏ như máu của ông già khùng đó.

    Mỗi giây trôi qua tưởng chừng như hàng năm trời. Ngay sau đó, cô nghe thấy tiếng bước chân… tiếng bước chân lúc gần lúc xa nhưng dường như đang từ từ tiến tới gần cô hơn. Đột nhiên, cô nhận ra ông ta đang làm gì. Ông ta định mò đến từng dãy ghế để sờ soạng tìm cô thay vì đợi ánh chớp. Vậy ra ông ta vẫn đang tìm bà ấy, cô từng nghe nói thỉnh thoảng ông ta lại bám theo các cô gái vì cứ ngỡ họ là Annie. Nếu bắt được họ rồi, ông ta sẽ dùng một tay giữ họ lại, còn tay kia dịu dàng lùa vào tóc và vuốt ve khuôn mặt họ, trong khi không ngừng lập cập lẩm bẩm những lời âu yếm ngu ngốc. Ông ta chẳng làm hại ai bao giờ, nhưng cũng chẳng đời nào thả tự do cho bất cứ ai tới tận khi họ được người khác giải cứu. Người ta đồn rằng Mary Paxton ở Ao Thành Kiến không bao giờ còn bình thường trở lại được nữa; trí não cô bé vĩnh viễn không thể phục hồi sau cú sốc.

    Emily biết rõ chẳng sớm thì muộn rồi cũng đến lúc ông ta tới được dãy ghế nơi cô đang núp… sờ soạng xung quanh bằng đôi bàn tay ấy! Điều duy nhất giúp cô giữ được lý trí mặc dù cơ thể đã cứng đờ là ý nghĩ rằng nếu cô mất ý thức, hai bàn tay đó sẽ chạm vào cô… giữ lấy cô… vuốt ve cô. Nhờ ánh sáng từ luồng chớp tiếp theo, có thể thấy rõ ông ta đang bước vào dãy cầu nguyện ngay bên cạnh. Emily vùng dậy, lao ra ngoài chạy sang đầu bên kia nhà thờ. Cô lại ẩn mình lần nữa: ông ta sẽ tìm ra cô, nhưng cô vẫn có thể tiếp tục lẩn tránh: chuyện này có thể lặp đi lặp lại cho tới hết đêm: sức mạnh của một gã điên sẽ dẻo dai hơn so với của cô: cuối cùng có khi cô sẽ gục xuống vì kiệt sức, và ông ta sẽ chộp lấy cô ngay lập tức.

    Đối với Emily mà nói, trò chơi trốn tìm điên rồ này kéo dài có khi đến hàng mấy tiếng đồng hồ rồi. Nhưng thực ra, mới chỉ qua nửa tiếng đồng hồ. Cô hầu như chẳng thể suy nghĩ tỉnh táo được nữa, cũng chẳng hơn gì so với kẻ săn đuổi điên khùng đang bám theo kia. Cô chỉ thuần túy là một sinh vật trong cơn hoảng loạn đang gào thét, luồn núp, nhảy trốn. Hết lần này đến lần khác, ông ta săn đuổi cô bằng thái độ nhẫn nại xảo quyệt và bền bỉ. Lần cuối cùng, cô ở ngay sát một cánh cửa thông với hành lang, và trong cơn tuyệt vọng, cô đâm bổ qua cánh cửa rồi đóng sập nó lại ngay trước mũi ông ta. Bằng chút tàn lực còn lại, cô cố hết sức bám chặt tay nắm cửa, ngăn ông ta xoay vặn. Giữa lúc đang vật lộn, cô nghe thấy – có phải cô đang mơ không nhỉ? – giọng Teddy gọi tên cô vọng từ dãy cầu thang lộ thiên phía bên kia cánh cửa ngoài.

    “Emily… Emily… cậu có ở đó không?”

    Cô không biết cậu đến bằng cách nào… cô chẳng hề băn khoăn thắc mắc… cô chỉ biết rằng cậu đã ở đó!

    “Teddy, tớ bị nhốt trong nhà thờ!” cô thét lên… “và ông Morrison Khùng đang ở đây… ôi… nhanh lên… nhanh lên… cứu tớ với… cứu tớ với!”

    “Chìa khóa cửa đang treo chỗ cái đinh trên kia ngay phía bên phải ấy!” Teddy kêu to. “Cậu lấy chìa để mở cửa được không? Nếu không thì tớ sẽ đập vỡ cửa sổ hiên.”

    Đúng lúc đó, mây tản ra và ánh trăng đổ tràn khắp hàng hiên. Nhờ đó, cô nhìn thấy rõ mồn một chiếc chìa khóa to tướng đang treo cao trên bức tường bên cạnh cửa ra vào. Cô nhảy bổ về phía trước, chộp lấy chiếc chìa khóa đúng lúc lão Morrison Khùng giật tung cánh cửa và lao vào hiên, con chó bám theo sát gót. Emily mở khóa cửa ngoài và loạng choạng ngã vào vòng tay rộng mở của Teddy vừa kịp lúc để tránh thoát được bàn tay máu đang vươn ra đó. Cô nghe thấy lão Morrison Khùng ré lên một âm thanh hoang dã, quái dị chất chứa nỗi thất vọng khi cô chạy thoát khỏi lão.

    Run rẩy, nức nở, cô bám chặt lấy Teddy.

    “Ôi, Teddy, đưa tớ ra khỏi đây đi… đưa tớ đi nhanh lên… ôi, đừng để ông ta chạm vào tớ, Teddy… đừng để ông ta chạm vào tớ!”

    Đẩy cô ra sau lưng mình, Teddy đứng mặt đối mặt với lão Morrison Khùng trên bậc thềm đá.

    “Sao ông dám dọa cậu ấy sợ đến thế?” cậu giận dữ chất vấn.

    Dưới ánh trăng, lão Morrison Khùng mỉm cười đầy vẻ khẩn nài. Đột nhiên, toàn bộ vẻ dữ tợn lẫn hung bạo của ông ta tan biến như bong bóng xà phòng… chỉ còn lại một ông lão đau khổ mải tìm kiếm thứ thuộc về mình.

    “Ta muốn Annie,” ông ta lẩm bẩm. “Annie đâu rồi? Ta cứ ngỡ đã tìm thấy cô ấy ở kia. Ta chỉ muốn tìm thấy Annie xinh đẹp của ta thôi.”

    “Ở đây làm gì có Annie,” Teddy nói, siết chặt bàn tay nhỏ bé lạnh cóng của Emily.

    “Cậu có biết Annie ở đâu không?” lão Morrison Khùng khẩn khoản hỏi, khấp khởi hy vọng. “Cậu có biết Annie tóc đen của ta ở đâu không?”

    Teddy vẫn bừng bừng giận dữ với lão Morrison Khùng vì dám dọa Emily thất kinh, nhưng lời khẩn nài tội nghiệp của ông lão đã khiến cậu xúc động… và chất nghệ sĩ trong cậu đã đáp lại sự phối màu của bức tranh hiển hiện trên cái nền là ngôi nhà thờ màu trắng chan chứa ánh trăng. Cậu nung nấu ý định vẽ hình lão Morrion Khùng đang đứng đó, cao và hốc hác, khoác trên người tấm áo choàng che bụi màu xám, bộ râu cùng mái tóc dài bạc trắng, đôi mắt trũng sâu thăm thẳm đau đáu một cuộc tìm kiếm bất tận.

    “Không… không… cháu không biết bà ấy ở đâu,” cậu dịu dàng nói, “nhưng cháu tin chắc rồi sẽ có lúc ông tìm thấy bà ấy.”

    Lão Morrison Khùng thở dài.

    “Ôi chao, đúng vậy. Rồi sẽ đến lúc ta bắt kịp cô ấy. Đến đây nào, chó của ta, chúng ta sẽ tìm cô ấy.”

    Theo sau là con chó già màu đen, ông lão bước xuống thềm, băng qua bãi cỏ và bước dọc con đường dài ướt đẫm rợp bóng cây. Và như vậy, ông ta đã bước ra khỏi cuộc đời của Emily. Cô không bao giờ gặp lại lão Morrison Khùng nữa. Nhưng cô dõi mắt theo ông ta với sự thấu hiểu, và tha thứ cho ông. Dưới con mắt của cô, Morrison Khùng chỉ là một lão già ghê tởm, nhưng ông ta lại không nhìn nhận bản thân mình như thế; ông ta là một người tình hào hiệp đang kiếm tìm cô dâu thân thương đã mất tích của mình. Vẻ đẹp đáng thương ẩn chứa trong hành trình kiếm tìm của ông ta đã hấp dẫn cô, cho dù giữa lúc cô vẫn đang run bần bật bởi cả tiếng đồng hồ phải chịu nỗi thống khổ.

    “Tội nghiệp lão Morrison,” cô nức nở trong lúc Teddy phải nửa dắt nửa dìu cô tới một trong những tấm bia mộ bằng phẳng lâu năm bên hông nhà thờ.

    Cả hai ngồi lại đó cho tới khi Emily lấy lại bình tĩnh và rồi xoay xở kể được đầu đuôi câu chuyện, hay nói đúng ra là các tình tiết đại khái. Cô cảm thấy mình chẳng bao giờ có thể kể lại được-có lẽ thậm chí chẳng thể viết vào một cuốn sổ Jimmy – trọn vẹn nỗi hoảng loạn đang nhạt dần cửa những giờ phút ấy. Điều đó đã vượt ra ngoài khả năng truyền tải ngôn ngữ.

    “Ấy thế nhưng nghĩ mà xem,” cô nức nở, “cái chìa khóa vẫn nằm đó suốt. Từ trước đến giờ tớ chẳng biết gì về chuyện đó hết.”

    “Lúc nào ông cụ Jacob Banks cũng lấy cái chìa to khóa cửa ra vào từ bên trong, rồi treo lên cái đinh đó,” Teddy nói. “Ông ấy khóa cửa vào khu vực dành cho dàn đồng ca bằng cái chìa khóa nhỏ mang theo về nhà. Ông ấy vẫn luôn làm thế kể từ hồi mất cái chìa khóa to ba năm trước và phải hàng mấy tuần sau mới tìm lại nó được.”

    Đến lúc này Emily mới sực nhớ ra sự xuất hiện của Teddy mới kỳ lạ làm sao.

    “Sao cậu lại tình cờ đến đây vậy, Teddy?”

    “Thì tớ nghe thấy cậu gọi tớ mà,” cậu nói. “Có phải cậu đã gọi tớ không?”

    “Đúng vậy,” Emily ngập ngừng nói, “Tớ đã gọi cậu lúc vừa mới nhìn thấy lão Morrison Khùng. Nhưng cậu không thể nghe thấy tớ được, Teddy… cậu không thể. Vạt Cúc Ngải cách đây cả dặm cơ mà.”

    “Tớ đã nghe thấy cậu thật mà,” Teddy bướng bỉnh đáp. “Lúc đấy tớ đang ngủ và bị nó đánh thức. Cậu gọi, ‘Teddy, Teddy, cứu tớ với’; từ xưa đến giờ, chưa bao giờ tớ nghe giọng cậu rõ ràng hơn thế. Tớ bèn bật dậy, quáng quàng mặc quần áo và đến đây nhanh hết mức.”

    “Sao cậu biết tớ đang ở đây?”

    “Sao à… tớ không biết nữa,” Teddy nói, vẻ bối rối. “Tớ có dừng lại nghĩ ngợi gì đâu… chỉ là lúc nghe thấy cậu gọi, dường như tớ biết rõ cậu đang ở trong nhà thờ, và tớ phải hết sức nhanh chóng đến đây. Chuyện này… chuyện này đúng thật là… kỳ cục,” cậu kết luận một câu chẳng đâu vào đâu.

    “Với tớ thì chuyện này… chuyện này… hơi đáng sợ.” Emily run rẩy cả người. “Bác Elizabeth nói tớ có linh cảm tốt… cậu có nhớ chuyện về mẹ Ilse không? Thầy Carpenter nói tớ là một cô đồng… tớ không biết chính xác nghĩa của từ đó, nhưng tớ thà không phải người như thế còn hơn.”

    Cô lại run lên. Teddy những tưởng cô đang lạnh, và vì chẳng có bất kỳ thứ gì khác để khoác lên người cô, cậu bèn vòng tay ôm lấy cô… với chút ngập ngừng, chỉ e sẽ xúc phạm đến lòng kiêu hãnh nhà Murray cũng như lòng tự trọng nhà Murray. Emily không thấy lạnh về mặt thể xác, nhưng tâm hồn cô thì lại dấy lên cảm giác ớn lạnh. Trong cuộc triệu tập lạ lùng ấy, có một thứ siêu nhiên nào đó – một điều huyền bí nào đó mà cô không tài nào hiểu được – đã lướt qua cô ngay sát sạt. Trong vô thức, cô nép sát vào trong lòng Teddy hơn chút nữa, nhận thức được một cách sâu sắc sự dịu dàng âu yếm của cậu thiếu niên ẩn dưới lớp vỏ dè dặt xa cách. Cô chợt nhận ra cô yêu quý Teddy hơn bất kỳ người nào khác… thậm chí còn hơn cả bác Laura, hơn cả Ilse hay chú Dean.

    Teddy siết chặt vòng tay hơn một chút.

    “Dù sao đi nữa, tớ rất mừng vì đã đến đây kịp thời,” cậu nói. “Nếu không, lão già điên khùng đó có thể dọa cậu sợ đến chết mất rồi.”

    Hai người cứ yên lặng ngồi như thế vài phút. Dường như mọi thứ đều chìm đắm trong bầu không khí huy hoàng đẹp đẽ… và phần nào siêu thực. Emily ngỡ mình ắt hẳn phải đang trong cơn mơ, hoặc đang phiêu du vào một trong những câu chuyện diệu kỳ nào đó do chính cô sáng tác. Bão đã tan, vầng trăng lại một lần nữa tỏa sáng vằng vặc. Bầu không khí trong lành mát lạnh được dệt bằng những giọng nói đầy quyến rũ, nào là giọng nói lúc nhặt lúc khoan của những hạt mưa đang ngã khỏi những cành thích run rẩy sau lưng họ, nào là giọng nói kỳ dị của Bà Gió quanh ngôi nhà thờ màu trắng, tiếng biển xa xăm khêu gợi trí tò mò, và trong trẻo hơn, hiếm hoi hơn là những giọng nói khe khẽ xa xăm rời rạc của đêm. Emily nghe thấy hết thảy những giọng nói đó, dường như không phải bằng đôi tai của cơ thể mà thực chất là nhờ đôi tai của tâm hồn, bởi vì từ trước đến nay cô chưa bao giờ nghe thấy chúng. Ở phía xa kia là cánh đồng, con đường và những khu rừng nhỏ, khêu gợi và khó nắm bắt một cách đến là thú vị, như thế đang tắm mình dưới ánh trăng mà nghiền ngẫm về những bí mật của thế giới yêu tinh. Những cây cúc màu trắng bạc gật gù đong đưa trên những ngôi mộ rải khắp khu nghĩa địa, cả những ngôi mộ vẫn được người đời nhớ tới lẫn những ngôi mộ đã chìm vào quên lãng. Một con cú nấp trên cây thông già bật cười khanh khách một mình. Nghe thấy thứ âm thanh đầy ma mị ấy, ánh chớp huyền bí của Emily quét khắp người cô, làm cả người cô lắc lư như đang trong cơn gió mạnh. Trong cảm nhận của Emily, dường như cô và Teddy đang đơn độc trong một thế giới mới diệu kỳ, một thế giới được dệt nên từ tuổi trẻ, từ sự bí ẩn cùng niềm vui, và chỉ dành riêng cho cô và Teddy. Dường như chính bản thân họ đã hòa vào trong thứ hương đêm phảng phất ngan ngát mát rượi, trong tiếng cười của con cú, trong những cây cúc đang nở rộ giữa bầu không khí mờ mờ ảo ảo.

    Về phần Teddy, cậu đang cảm thấy Emily thật xinh xắn biết nhường nào dưới ánh trăng nhạt nhòa kia, với đôi mắt huyền bí ẩn dưới hàng mi rợp bóng, với những lọn tóc nhỏ sẫm màu ve vuốt cần cổ trắng như sữa. Cậu siết chặt vòng tay thêm chút nữa… ấy vậy nhưng lòng kiêu hãnh nhà Murray cùng phẩm giá nhà Murray vẫn không mảy may phản đối.

    “Emily,” Teddy thì thầm, “cậu là cô gái đáng yêu nhất trên đời.”

    Những câu chữ vốn đã được hàng triệu hàng triệu cậu bé dành tặng hàng triệu hàng triệu cô bé, quá quen thuộc đến độ đáng nhẽ ra chẳng còn giá trị gì. Ấy vậy nhưng khi ta nghe thấy câu ấy lần đầu tiên, giữa một thời khắc thanh xuân diệu kỳ nào đó, chúng vẫn mới mẻ, trong trẻo và lạ kỳ đến độ như thể mới vừa lững lờ trôi dạt qua những dãy hàng rào của vườn Địa Đàng. Cô gái ạ, bất kể cô là ai, bất kể cô bao nhiêu tuổi, thì hãy cứ thành thật mà thú nhận rằng cái giây phút đó cô lần đầu tiên nghe thấy những lời nói này bật ra khỏi đôi môi một chàng trai dấu yêu đang bẽn lẽn nào đó chính là thời khắc tuyệt vời nhất trong đời. Cả người Emily, từ đỉnh đầu cho tới tận những ngón chân đang xỏ trong đôi dép lê, đều run lên trước cảm giác về một sự ngọt ngào chưa từng thấy và cơ hồ thật đáng sợ, một cảm giác tác động đến nhận thức theo đúng cách “ánh chớp” đã tác động đến tâm hồn cô. Thật dễ lý giải và hoàn toàn chẳng có gì đáng trách nếu điều tiếp theo có thể là một nụ hôn. Emily đoán rằng Teddy sắp hôn cô; Teddy biết cậu định làm thế; và rất có khả năng cậu sẽ không phải nhận một cái tát vào mặt như Geoff North.

    Nhưng chuyện lại không diễn ra theo hướng đó. Một bóng đen lướt vào giữa cổng và băng qua bãi cỏ ẩm ướt, dừng lại ngay cạnh họ, rồi chạm vào vai Teddy, đúng lúc cậu vừa cúi mái đầu đen bóng xuống. Cậu ngước nhìn lên, gần như chết sững. Emily ngước nhìn lên. Bà Kent đang đứng đó, đầu trần, khuôn mặt hằn vết sẹo được chiếu sáng vằng vặc dưới ánh trăng, đôi mắt chan chứa nỗi bi thương nhìn thẳng vào họ.

    Cả Emily lẫn Teddy đều đứng bật dậy đột ngột đến độ có vẻ như đúng ra nên nói là cả hai đã bị nảy bật lên mới phải. Thế giới thần tiên của Emily tan biến như bong bóng xà phòng. Cô đang ở trong một thế giới hoàn toàn khác… một thế giới phi lý, nực cười. Đúng vậy, nực cười. Tất cả mọi thứ bất chợt trở nên nực cười hẳn. Còn gì có thể nực cười hơn chuyện bị mẹ Teddy bắt quả tang cô đang ngồi đây với Teddy, lúc hai giờ đêm… cái từ kinh khủng mà mãi dạo gần đây cô mới nghe nói đên lần đầu tiên là gì ấy nhỉ? Ồ, phải rồi, tán tỉnh… chính thế đấy… tán tỉnh nhau trên ngôi mộ tám mươi năm tuổi của George Horton? Rồi người ta sẽ nhìn chuyện này theo chiều hướng đấy cho mà xem. Sao lại có chuyện như thế được cơ chứ, vừa lúc trước còn đẹp đẽ dường ấy, thế mà chỉ chớp mắt đã thành ra nực cười đến thế? Nỗi xấu hổ như ngọn lửa bừng bừng thiêu đốt cô từ chân cho tới đầu. Còn Teddy… cô biết Teddy đang cảm thấy mình chẳng khác gì một tên ngốc.

    Với bà Kent thì chuyện này chẳng có gì nực cười hết… nó thật đáng sợ. Nhìn từ nỗi ghen tuông quái dị của bà, sự cố này thấm đẫm cái ý nghĩa hung gở nhất. Bà nhìn Emily bằng đôi mắt trũng sâu dường như chỉ muốn ăn tươi nuốt sống đối phương.

    “Vậy ra cô đang tính kế cướp mất con trai tôi đấy,” bà nói. “Nó là tất cả những gì tôi có, ấy vậy mà cô lại rắp tâm cướp nó khỏi tay tôi.”

    “Ôi, mẹ ơi, vì Chúa, mẹ hãy tỏ ra đúng đắn chút đi!” Teddy lầm bầm.

    “Nó…nó còn bảo tôi tỏ ra đúng đắn cơ đấy,” bà thảm thiết kêu lên với vầng trăng. “Đúng đắn cơ đấy!”

    “Vâng, đúng đắn,” Teddy giận dữ nói. “Có cái gì đâu mà ngậu nhặng hết cả lên như thế chứ. Emily tình cờ bị nhốt trong nhà thờ và cả ông Morrison Khùng cũng ở đó, dọa bạn ấy sợ gần chết. Con đến giúp bạn ấy thoát ra ngoài, và bọn con chỉ ngồi nán lại đây mấy phút đợi cho bạn ấy hết hoảng sợ để có thể đi bộ về nhà được. Chuyện chỉ thế thôi.”

    “Sao con biết cô ta ở đây?” bà Kent truy hỏi.

    Thực thế, tại sao kia chứ! Đấy là một câu hỏi không dễ gì trả lời. Sự thật có vẻ giống một câu chuyện bịa đặt ngớ ngẩn, xuẩn ngốc. Dẫu vậy, Teddy vẫn nhắc lại.

    “Bạn ấy gọi con,” cậu nói thẳng thừng.

    “Và con nghe thấy cô ta… từ cách xa hàng dặm. Con tưởng mẹ tin chuyện đó hả?” bà Kent vừa nói vừa cười sằng sặc.

    Đến lúc này, Emily đã bình tĩnh trở lại sau cơn hoảng loạn. Từ khi được chào đời với cái tên Emily Byrd Starr, cô chưa khi nào bị lúng túng quá lâu. Cô ngạo nghễ đứng thẳng dậy, và trong ánh sáng lờ mờ ấy, bất chấp những đường nét Starr của mình, trông cô không khác gì một Elizabeth Murray thời còn trẻ hơn bây giờ ba mươi tuổi.

    “Cho dù bà có tin hay không thì đó là sự thật, thưa bà Kent,” cô kiêu kỳ nói. “Cháu không cướp con trai bà… cháu không muốn cậu ấy… cậu ấy cứ việc đi đi.”

    “Trước tiên tớ sẽ đưa cậu về nhà đã, Emily,” Teddy nói. Cậu khoanh tay lại, ngửa đầu ra sau và cố tỏ ra oai nghiêm y như Emily. Cậu cảm thấy nỗ lực đó đã thất bại một cách thảm hại, ấy vậy nhưng thái độ đó vẫn tác động mạnh mẽ đến bà Kent. Bà òa lên nức nở.

    “Đi đi… đi đi,” bà nói. “Cứ đi với cô ta đi… mặc kệ mẹ muốn ra sao thì ra.”

    Đến lúc này thì Emily đã giận dữ đến tột độ. Nếu người đàn bà chẳng thèm biết trời cao đất dày này cứ một mực đòi gây chuyện thì cũng tốt thôi: sẽ có chuyện đáng cho bà ta xem.

    “Cháu sẽ không để cậu ấy đưa về nhà,” cô lạnh lùng nói. “Teddy, đi với mẹ cậu đi.”

    “Ái chà, cô ra lệnh cho nó đấy à? Vậy là nó phải răm rắp tuân theo lời cô phỏng?” bà Kent kêu lên, có vẻ như đã hoàn toàn mất kiểm soát. Thân hình nhỏ thó của bà rung lên bần bật theo nhịp những cơn thổn thức dữ dội. Bà bóp chặt hai bàn tay.

    “Nó sẽ tự mình lựa chọn,” bà kêu lên. “Nó sẽ đi cùng cô… hoặc đến với tôi. Chọn đi, Teddy, tự mình quyết định đi. Con đừng có nghe cô ta sai bảo. Chọn đi!”

    Một lần nữa không thể kiềm chế được thái độ quá khích của mình, bà giơ tay lên chĩa thẳng vào Teddy tội nghiệp.

    ©STENT

    Lúc này, Teddy vừa thấy khổ sở lại vừa nhen nhóm nỗi tức giận, một cảm giác quen thuộc đối với bất kỳ tên đàn ông con trai nào khi phải tận mắt chứng kiến hai người phụ nữ tranh cãi về anh ta. Cậu chỉ mong sao mình đang ở nơi nào đó cách xa cả nghìn dặm. Thật chẳng khác gì một mớ bòng bong… mà lại còn cư xử lố bịch đến thế này trước mặt Emily nữa chứ! Thế quái nào mà mẹ cậu lại không thể xử sự giống như bao nhiêu bà mẹ khác chứ? Việc gì mà bà cứ phải tỏ ra căng thẳng rồi sồn sồn lên như thế chứ? Cậu biết thừa dân làng Hồ Blair vẫn kháo nhau rằng bà “hơi ấm đầu”. Cậu không tin câu chuyện ngồi lê đôi mách đó. Nhưng… nhưng… chà, nói tóm lại đây đúng là một mớ bòng bong. Lần nào ta cũng phải quay lại với nó. Cậu biết làm gì đây? Cậu biết rõ nếu cậu đưa Emily về nhà, mẹ cậu rồi sẽ khóc lóc cầu nguyện hết ngày này sang ngày khác cho xem. Nhưng mặt khác, thật không thể tưởng tượng nổi cậu có thể bỏ mặc Emily sau khi cô vừa trải qua kinh nghiệm đáng sợ như thế trong nhà thờ, rồi để kệ cô băng qua con đường quạnh quẽ kia. Nhưng giờ Emily đã làm chủ tình hình. Cô đang tức giận tột độ với nỗi tức giận lạnh băng của ông cụ Hugh Murray vốn không đời nào tự tiêu tán bằng màn quát tháo chẳng đâu vào với đâu mà sẽ đánh thẳng vào vấn đề trọng điểm.

    “Bà là kẻ ích kỷ ngu ngốc,” côn nói, “và rồi bà sẽ khiến con trai bà phải căm ghét bà.”

    “Ích kỷ! Cô gọi ta là kẻ ích kỷ đấy à,” bà Kent nức nở. “Ta chỉ sống vì Teddy thôi… thằng bé là lý do duy nhất để ta sống trên đời này.”

    “Bà đúng là người ích kỷ.” Giờ Emily đang đứng thẳng: đôi mắt cô tối lại, giọng cô sắc như dao, khuôn mặt cô lồ lộ “nét mặt nhà Murray”, và dưới ánh trăng nhợt nhạt, nó phần nào khiến người ta sợ hãi. Dù đã cất tiếng, cô vẫn băn khoăn không hiểu làm sao mình lại chắc chắn về những chuyện ấy đến thế. Nhưng đúng là cô biết vậy thật. “Bà cứ tưởng bà yêu cậu ấy… nhưng bà chỉ yêu chính bản thân mình thôi. Bà nhất quyết muốn phá hỏng cuộc đời cậu ấy. Bà sẽ không cho cậu ấy đến Shrewsbury, bởi vì nếu rời xa cậu ấy, bà sẽ thấy đau khổ. Bà để nỗi ghen tuông đối với tất cả những gì cậu ấy quan tâm gặm nhấm trái tim bà, và để nó điều khiển bà. Bà không vì cậu ấy mà chấp nhận bất kỳ nỗi đau dù nhỏ bé đâu. Bà không xứng đáng làm mẹ. Teddy là một thiên tài… tất cả mọi người đều nói thế. Lẽ ra bà phải thấy tự hào vì cậu ấy… lẽ ra bà phải cho cậu ấy cơ hội. Nhưng bà đâu có làm thế… và rồi sẽ có ngày cậu ấy căm ghét bà vì chuyện đó… đúng đấy, rồi cậu ấy sẽ như thế cho xem.”

    “Ôi, không, không,” bà Kent rền rĩ. Bà giơ cả hai bàn tay lên như muốn đỡ đòn và co rúm người lại nép vào Teddy. “Ôi, cô thật độc ác… độc ác. Cô làm sao biết ta đã phải chịu đựng những gì… cô làm sao biết được nỗi đau vẫn luôn thường trực trong trái tim ta. Thằng bé là tất cả những gì ta có… tất cả. Ta chẳng có gì khác cả… ngay một ký ức cũng không. Cô thì hiểu cái gì. Ta không thể… không thể nhường nó cho ai được.”

    “Nếu bà cứ để mặc cho lòng ghen tuông của bà hủy hoại cuộc đời cậu ấy, thì rồi bà sẽ mất cậu ấy thôi,” Emily nói chắc như đinh đóng cột. Từ trước tới giờ cô vẫn luôn sợ bà Kent. Nhưng ngay lúc này, cô bỗng nhiên không còn thấy sợ bà ta nữa… cô biết mình sẽ không bao giờ còn sợ bà ta nữa. “Bà căm ghét hết thảy mọi thứ cậu ấy quan tâm… bà ghét bạn bè cậu ấy, ghét con chó của cậu ấy, và cả những bức tranh của cậu ấy. Bà biết thừa như vậy. Nhưng bà không thể dùng cách đó để níu giữ cậu ấy được đâu, bà Kent. Và bà sẽ chỉ nhận ra điều đó khi đã quá muộn rồi. Tạm biệt cậu, Teddy. Cảm ơn cậu lần nữa vì đã đến cứu tớ. Chào bà, bà Kent.”

    Lời tạm biệt của Emily rất dứt khoát. Cô quay người, ngẩng cao đầu sải bước băng qua bãi cỏ, không buồn liếc mắt lấy một lần. Cô hiên ngang bước trên con đường ẩm ướt… thoạt đầu trong tâm trạng giận dữ tột độ… rồi, khi cơn giận lắng xuống thì là cảm giác mệt mỏi thay thế… ôi, mệt mỏi rã rời. Cô nhận ra toàn thân mình đang run rẩy vì mệt. Những cảm xúc chất chồng trong buổi tối hôm nay đã rút cạn mọi sức lực của cô, còn bây giờ… biết làm gì đây? Cô không muốn quay trở về Trăng Non. Emily có cảm giác cô không bao giờ có thể đối mặt với cơn giận dữ của bà Elizabeth nếu một số hành vi tai tiếng trong buổi tối nay bị lôi ra ngoài ánh sáng. Cô rẽ vào cổng nhà bác sĩ Burnley. Nhà ông chẳng bao giờ khóa cửa. Emily rón rén chui vào tiền sảnh đúng lúc bình minh bắt đầu lờ nhờ thắp sáng bầu trời và cuộn mình trong chiếc ghế dài nằm đằng sau cầu thang. Có cố đánh thức Ilse cũng chẳng ích gì. Đến sáng cô sẽ kể lại toàn bộ câu chuyện cho Ilse nghe và buộc cô bạn hứa giữ bí mật… ít nhất cũng là toàn bộ câu chuyện ngoài trừ điều Teddy đã nói cộng với phần liên quan đến bà Kent. Một cái quá đẹp đẽ, còn một cái lại chẳng có gì hay ho để kể cho người khác. Tất nhiên, bà Kent không giống những người phụ nữ bình thường khác và có khó chịu bực mình cỡ nào vì chuyện đó thì cũng chẳng ích lợi gì. Dù vậy, bà đã đập nát, đã hủy hoại một thứ vừa đẹp đẽ vừa mong manh…bà đã vô duyên vô cớ là vấy bẩn một khoảnh khắc đáng lẽ ra nên được vĩnh viễn bao phủ trong bầu không khí ngọt ngào. Và, tất nhiên, bà đã khiến cho Teddy tội nghiệp tự cảm thấy mình chẳng khác gì một con lừa. Xét đến cùng, đó mới là điều Emily thực tình không thể tha thứ được.

    Trong lúc mơ màng trôi vào giấc ngủ, cô lơ mơ nhớ lại những sự kiện đã diễn ra trong buổi tối đầy bối rối đó… cô bị nhốt trong ngôi nhà thờ quạnh quẽ… cảm giác hoảng loạn khi chạm phải con chó… nỗi hoảng loạn tồi tệ khi bị lão Morrison Khùng truy đuổi… cảm giác nhẹ nhõm đến ngất ngây khi cô nghe thấy tiếng Teddy… khoảnh khắc thơ mộng ngắn ngủi dưới ánh trăng mờ giữa khu nghĩa địa… bao nhiêu chốn dành cho câu chuyện tình thơ mộng mà rốt cuộc lại là chốn đấy chứ!… sự xuất hiện vừa bi vừa hài của bà Kent tâm lý bất thường chỉ giỏi ghen tuông.

    “Hy vọng mình không tỏ ra quá đáng với bà ấy,” Emily thầm nghĩ trong lúc chìm dần vào giấc ngủ. “Nếu không thì mình rất lấy làm tiếc. Mình sẽ phải viết nó vào trong cuốn nhật ký, coi như một hành động xấu. Chẳng hiểu sao mình cứ có cảm giác như tối nay, bỗng nhiên trưởng thành hẳn… ngày hôm qua cứ như đã trôi xa hàng bao nhiêu năm rồi vậy. Nhưng những chuyện tối nay sẽ giúp mình viết được một chương đến là hay trong nhật ký cho xem. Mình sẽ viết lại hết mọi chuyện… hết tất tật mọi chuyện ngoài trừ việc Teddy đã nói mình là cô gái đáng yêu nhất trần đời. Điều đó quá… thân thương… để có thể viết thành câu chữ. Mình sẽ… chỉ… ghi nhớ trong lòng thôi.”
     
  5. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 4: “Theo cách người khác nhìn chúng ta”
    Emily đã lau dọn khắp lượt sàn bếp ở Trăng Non và giờ đang mê mải dùng giấy ráp đánh bóng mặt sàn men theo đúng các đường “hoa văn chữ chi” tuy đẹp nhưng rất phức tạp, vốn là một trong những truyền thống tại Trăng Non và nghe đồn được phát minh bởi cụ cố từng nổi tiếng với câu nói “Tôi sẽ ở đây”. Bà Laura đã dạy Emily cách làm và Emily rất tự hào về kỹ năng của mình. Ngay cả bà Elizabeth cũng phải hạ cố nhận xét Emily đã rất khéo tay trong việc đánh bóng các hoa văn nổi tiếng đó, và một khi bà Elizabeth đã phải cất lời khen ngợi thì mọi bình luận xa xôi hơn cũng trở thành vô dụng mà thôi. Ở làng Hồ Blair, chỉ độc có trang trại Trăng Non là vẫn giữ gìn phong tục lâu đời dùng giấy ráp đánh bóng mặt sàn; từ lâu các bà nội trợ khác đã bắt đầu sử dụng những thiết bị “mới toanh” cũng như nhiều dụng cụ vệ sinh tinh xảo nhằm làm trắng sàn nhà. Nhưng quý bà Elizabeth Murray không nằm trong nhóm đó; chừng nào bà còn nắm quyền cai quản Trăng Non thì chừng đó nến vẫn còn được thắp sáng và sàn nhà vẫn được dùng giấy ráp đánh sáng bóng như gương. Bà Elizabeth từng khiến Emily bực mình đến phát điên vì cứ nhất định đòi cô phải khoác bộ “Mẹ Hubbard” cũ rích của bà Laura trong lúc lau chùi sàn nhà. Có lẽ cũng cần phải giải thích một chút cho các thành viên của thế hệ này biết, “Mẹ Hubbard” là một chiếc váy suông kỳ quái về cơ bản được sử dụng như một bộ váy ở nhà và thời xưa từng rất được ưa chuộng vì vừa mát mẻ vừa dễ mặc. Có lẽ chẳng cần phải nói cũng biết, bà Elizabeth hoàn toàn phản đối kiểu váy Mẹ Hubbard này. Theo cách nhìn nhận của bà thì chúng là thành tựu mới nhất của sự lôi thôi luộm thuộm, và bà Laura không bao giờ được phép có thêm bất kỳ chiếc nào nữa. Tuy nhiên, với chiếc váy cũ kia, cho dù màu tử đinh hương xinh đẹp ban đầu đã bị phai thành sắc trắng nhờ đục thì nó vẫn còn quá “tốt” nên chưa nhất thiết phải bị tống ra thùng rác; và nó chính là cái váy Emily bị bắt mặc lên người.

    Cũng chẳng khác gì bà Elizabeth, Emily căm ghét cái kiểu váy Mẹ Hubbard ấy đến tận tâm can. Với cô, chúng còn tệ hơn cả đám “tạp dề em bé” đáng ghét mà cô phải mặc hồi mùa hè đầu tiên đặt chân đến trang trại Trăng Non. Cô biết thừa trông mình sẽ lố bịch đến thế nào trong chiếc váy Mẹ Hubbard của bà Laura, vốn dài tới tận chân cô mà lại buông thõng xuống từ đôi vai gầy gò của cô, trông vừa lùng thùng vừa xấu xí; và Emily thì luôn sợ bị trở nên “lố bịch”. Cô từng khiến bà Elizabeth choáng váng khi lạnh lùng tuyên bố rằng cô “thà xấu xí còn hơn lố bịch”. Thành ra Emily lau chùi đánh bóng sàn nhà nhưng lúc nào cũng để mắt canh chừng cửa ra vào, sẵn sàng bỏ chạy nếu nhỡ có bất kỳ khách lạ nào xuất hiện giữa lúc cô đang chui trong cái váy gớm guốc đó.

    “Bỏ chạy”, như Emily biết rõ mười mươi, không phải là một truyền thống của nhà Murray. Ở Trăng Non, ta cần giữ vững lập trường, bất kể là vì vấn đề gì… chẳng hạn như ta lúc nào cũng phải ăn mặc tề chỉnh đúng đắn phù hợp với tình hình. Emily ý thức được điều này hoàn toàn hợp lý, nhưng cô vẫn còn trẻ, vẫn còn khờ dại, đủ để canh cánh nỗi lo sẽ xấu hổ đến chết nếu có bất kỳ ai nhìn thấy cô đang khoác trên người cái váy Mẹ Hubbard của bà Laura. Cái váy gọn gàng thật đấy… sạch sẽ thật đấy… nhưng nó cũng thật “lố bịch”. Bạn cứ thử mà xem!

    Đúng lúc Emily vừa chà cát xong xuôi và đang đem bình cát cất vào trong cái hốc nhỏ bên dưới bệ bếp, chỗ quen thuộc dành cho nó từ thời xưa, thì cô nghe có tiếng người lạ vọng lại từ ngoài khu vườn sau bếp. Nhòm vội qua cửa sổ, cô nhận ra ngay ai là chủ nhân của những giọng nói đó… cô Beulah Potter và bà Ann Cyrilla Potter, hiển nhiên, đang đến để tham dự cuộc họp của Hội Phụ nữ Cứu trợ theo kế hoạch. Họ thẳng tiến tới cửa sau, theo đúng thói thường ở Hồ Blair mỗi khi người ta đến nhà hàng xóm, kể cả để thăm hỏi thân tình lẫn bàn công chuyện; lúc này họ đã băng qua hàng thục quỳ rực rỡ sắc màu được ông Jimmy trồng hai bên con đường lát đá dẫn tới khu chế biến bơ sữa, và trong số toàn thể dân cư cả ở trong lẫn ngoài vùng Hồ Blair, họ là hai người Emily ít muốn bị bắt gặp nhất trong bất kỳ hoàn cảnh lố bịch nào. Không kịp cân nhắc, cô đâm bổ vào buồng để giày và đóng sầm cửa lại.

    Bà Ann Cyrilla gõ cửa bếp hai lần, nhưng Emily không hề nhúc nhích. Cô biết bà Laura đang dệt vải trên căn gác xép áp mái; cô có thể nghe thấy tiếng bàn đạp thậm thịch văng vẳng phía trên đầu. Nhưng cô chắc mẩm bà Elizabeth đang làm bánh ở chái bếp và hẳn thể nào cũng nhìn thấy hai vị khách. Bà sẽ dẫn họ vào phòng khách và rồi Emily có thể chuồn khỏi chỗ này. Và có một điều cô đã hạ quyết tâm… họ không được phép nhìn thấy cô trong chiếc váy Mẹ Hubbard kia. Cô Potter là một phụ nữ gầy gò, chanh chua, ăn nói độc địa, thích ngồi lê đôi mách, lại có vẻ ghét bỏ tất cả mọi người nói chung và Emily nói riêng; còn bà Ann Cyrilla là một bà tám phốp pháp, hòa nhã, khéo léo, xinh đẹp, và, chính bởi sự ngọt ngào thân thiện của bà mà chỉ trong một tuần cũng đủ sức gây nên những tổn hại đích thực nhiều hơn cả cô Potter làm được trong hẳn một năm. Dù không thể cưỡng nổi cảm tình dành cho Ann Cyrilla, Emily vẫn không tin tưởng bà. Cô quá thường xuyên được nghe chuyện bà Ann Cyrilla giễu cợt những người vốn trước “mặt” luôn được bà bày tỏ thái độ dịu dàng duyên dáng, và bà Ann Cyrilla, vốn là một trong những “Wallace đỏm dáng” nơi Ao Thành Kiến, đặc biệt thích cười cợt những nét khác thường trong trang phục của người khác.

    Tiếng gõ cửa lại vang lên; lần này xuất phát từ cô Potter, theo như suy đoán của Emily dựa vào những âm thanh giật cục. Họ đang dần mất kiên nhẫn. Chà, họ thích thì cứ việc gõ cho đến khi đàn bò về nhà đi, Emily thầm hứa trong lòng. Cô sẽ không ra mở cửa trong cái váy Mẹ Hubbard đâu. Rồi cô nghe tiếng Perry vọng từ ngoài vào, giải thích rằng bà Elizabeth đang hái quả mâm xôi ở bãi đất lổn nhổn gốc cây đằng sau chuồng bò, nhưng mời họ vào trong và cứ thoải mái như ở nhà, cậu sẽ đi gọi bà về. Trước sự tuyệt vọng của Emily, hai vị khách làm đúng thế thật. Cô Potter ngồi xuống kèm theo tiếng cọt kẹt, còn bà Ann Cyrilla thì nghe phù một tiếng, trong lúc tiếng bước chân rút lui của Perry tắt dần trong vườn. Emily nhận ra cô sắp đường cùng đến nơi rồi. Bên trong cái tủ giày tí hin này – vốn không chỉ đựng giày mà còn cất cả đống quần áo lao động của ông Jimmy nữa – vừa ngột ngạt vừa nóng hầm hập. Cô chỉ ước ao sao cho Perry sẽ không mất quá nhiều thời gian mới tìm ra bà Elizabeth.

    “Ôi chao, trời nóng kinh lên được,” bà Ann Cyrilla vừa nói vừa rên ầm lên.

    Emily tội nghiệp – không, không, chúng ta không được gọi cô là Emily tội nghiệp; cô không đáng phải nhận sự thương hại – cô rất ngốc nghếch và đã được đối xử vô cùng hợp tình hợp lý rồi; Emily, vốn khi đó mồ hôi đang vã ra như tắm, hoàn toàn đồng ý với bà.

    “Tôi không dễ nóng bức như người béo,” cô Potter nói. “Hy vọng bà Elizabeth sẽ không bắt chúng ta phải chờ lâu quá. Bà Laura đang dệt vải… tôi nghe thấy tiếng máy dệt trên gác xép. Nhưng có gặp bà ấy cũng chẳng ăn thua… dù bà ấy hứa hẹn gì thì bà Elizabeth cũng sẽ chẳng buồn đếm xỉa cho xem, chỉ bởi vì đó không phải quyết định của bà ấy. Tôi thấy ai đó vừa chà cát đánh bóng sàn nhà xong. Bà có thấy những tấm ván mòn vẹt kia không? Thể nào bà lại chẳng đoán là bà Elizabeth Murray sắp lát sàn mới; ấy vậy nhưng tất nhiên bà ấy quá keo kiệt. Nhìn dãy nến trên mặt lò sưởi kìa… nhìn mà xem, ánh sáng đã kém lại còn thêm bao nhiêu phiền phức, chỉ vì nếu cho thêm tí dầu hỏa thì sẽ tốn kém hơn. Dào ôi, bà ấy đâu có mang tiền theo được chứ; dẫu có mang họ Murray đi chăng nữa thì rồi tới lúc đến cánh cổng vàng, bà ấy cũng phải bỏ tất cả lại phía sau thôi.”

    Emily sững sờ choáng váng. Cô nhận ra mình không chỉ sắp chết ngạt trong tủ giày, giờ cô còn biến thành kẻ nghe lén – một việc cô chưa từng làm kể từ buổi tối tại Maywood, khi cô trốn dưới gầm bàn cốt nghe lỏm xem các ông cậu bà bác bàn bạc thế nào về số phận của cô. Tất nhiên, hồi đó cô chủ tâm làm thế, còn giờ là trong thế bất đắc dĩ – ít nhất, cái váy Mẹ Hubbard đã biến nó thành tình thế bất đắc dĩ. Nhưng chuyện đó không giúp cho những lời bình luận của cô Potter trở nên dễ lọt tai hơn. Ai cho cô ta cái quyền được gọi bác Elizabeth là kẻ keo kiệt? Bác Elizabeth không keo kiệt. Đột nhiên, Emily thấy giận cô Potter vô cùng. Chính cô cũng thường âm thầm chỉ trích bác Elizabeth, nhưng một người ngoài mà lại dám làm thế thì quả không thể nào chấp nhận được. Lại còn cái kiểu châm chọc những người họ Murray nữa chứ! Emily có thể hình dung ra ánh mắt cô Potter lóe lên đanh đá đến mức nào khi cô ta thốt lên câu này. Còn về những cây nến…

    “Ánh nến có thể chiếu sáng cho người nhà Muray nhìn xa trông rộng hơn nhiều so với cô có thể nhìn dưới ánh mặt trời đấy, thưa cô Potter,” Emily khinh khỉnh hết mức so với một người đang bị cả một dòng sông mồ hôi tuôn đầm đìa sau lưng trong khi mũi chỉ ngửi thấy mùi da cũ.

    “Chắc hẳn vì vấn đề chi phí nên năm nay bà ấy mới không cho Emily tiếp tục đến trường nữa,” bà Ann Cyrilla nói. “Hầu hết mọi người đều chắc mẩm dù sao đi nữa bà ấy cũng sẽ vẫn cho con bé học ở Shrewsbury một năm… cô hẳn sẽ cho rằng bà ấy thể nào cũng làm thế, nếu không phải vì lý do nào khác thì ít nhất cũng bởi lòng kiêu hãnh. Nhưng tôi nghe nói bà ấy đã quyết định ngược lại rồi.”

    Tim Emily chùng hẳn xuống. Cho đến tận lúc này, cô vẫn chưa dám khẳng định bà Elizabeth sẽ không cho cô tới Shrewsbury. Nước mắt bắt đầu dâng lên ầng ậng… những giọt nước mắt thất vọng bỏng rát, nhức nhối.

    “Emily phải được học nghề gì đó để kiếm sống thôi,” cô Potter nhận xét. “Cha con bé chẳng để lại cái gì sất.”

    “Cha đã để cháu lại đấy thôi,” Emily thầm nói, siết chặt tay thành hai nắm đấm. Cơn giận dữ đã hong khô những giọt lệ trong mắt cô.

    “Ối dà,” bà Ann Cyrilla nói, giọng thấm đẫm ý chế giễu ra chiều khoan dung lắm, “nghe đồn Emily định kiếm sống bằng nghề viết truyện đấy – không chỉ sống cho qua ngày đâu, mà tôi dám chắc con bé còn rắp tâm làm giàu nữa đấy.”

    Bà lại cười lớn. Cái ý tưởng này mới lố bịch làm sao chứ. Đã lâu lắm rồi bà Ann Cyrilla không nghe thấy chuyện gì buồn cười đến thế.

    “Người ta bảo con bé lãng phí đến quá nửa thời gian viết quếnh viết quáng những thứ vô bổ,” cô Potter đồng tình. “Tôi mà là bà Elizabeth thì chẳng mấy chốc sẽ chữa cho con bé khỏi cái thói hành động vớ vẩn như thế ngay.”

    “Chẳng đơn giản thế đâu. Theo như tôi hiểu thì con bé lúc nào cũng khó dạy bảo lắm – quá cứng đầu cứng cổ đúng kiểu người nhà Murray. Cái đám ấy ai cũng ngang như cua hết.”

    (Emily, đầy phẫn nộ: “Nghe cái cách nhận xét về chúng ta bất kính chưa kìa! Giá không phải đang mặc cái váy Mẹ Hubbard này thì mình đã tông cửa xông ra đối chất với họ rồi.”)

    “Như hiểu biết của tôi về bản chất con người thì con bé rõ là cần phải được quản giáo cho chặt vào,” cô Potter nói. “Rồi nó sẽ thành kẻ lẳng lơ cho xem, ai nhìn cũng có thể thấy rõ như thế. Rồi nó sẽ lại thành một Juliet thứ hai thôi. Bà cứ đợi mà xem. Mới mười bốn tuổi đầu mà nó đã đánh mắt với tất cả mọi người rồi!”

    (Emily, một cách đầy châm biếm: “Cháu không như thế! Và mẹ không phải kẻ lẳng lơ. Mẹ hoàn toàn có khả năng, nhưng mẹ không trở thành người như thế. Còn bà thì dù có muốn cũng không làm được, bà cô già đáng kính ạ!”)

    “Con bé đâu có được xinh đẹp như Juliet tội nghiệp, mà nó lại còn tẩm ngẩm tầm ngầm quá thể, vừa ranh mãnh vừa thâm sâu khó lường. Bà Dutton bảo trên trần đời bà ấy chưa từng gặp đứa trẻ nào ranh mãnh đến thế. Nhưng vẫn có những điểm khiến tôi thích ở cô bé Emily tội nghiệp ấy đấy.”

    Giọng bà Ann Cyrilla đầy vẻ kẻ cả. Emily “tội nghiệp” co rúm lại giữa đống giày dép.

    “Điểm khiến tôi không thích ở con bé là lúc nào nó cũng làm ra vẻ thông minh,” cô Potter nói giọng quả quyết. “Con bé toàn sử dụng những lời lẽ khôn ngoan học được từ trong sách nhưng lại mạo nhận đó là của mình…”

    (Emily, tức giận: “Cháu không thế!”)

    “Mà nó lại còn giỏi mỉa mai người khác và rất dễ tự ái nữa chứ, và tất nhiên cũng kiêu ngạo chẳng kém gì Lucifer,” cô Potter kết luận.

    Bà Ann Cyrilla lại bật cười vui vẻ, ra chiều khoan dung.

    “Ôi dào, ai mà chẳng biết người nhà Murray vốn thế từ xưa. Nhưng sai lầm lớn nhất của họ là cứ đinh ninh rằng chỉ mỗi họ mới biết cách xử lý đúng đắn mọi việc, và cái lối tư duy ấy thì Emily nhiễm nặng lắm. Đấy, thậm chí con bé còn cho rằng nó thuyết giảng giỏi còn hơn cả cha Johnson nữa cơ.”

    (Emily: “Đấy là tại mình bảo trong một bài giảng mà ông ấy nói câu trước một đằng, nói câu sau một nẻo đấy mà… và ông ấy làm vậy thật còn gì. Và cháu cũng đã nghe thấy bà châm chích cả chục bài giảng rồi ấy chứ, bà Ann Cyrilla.”)

    “Con bé cũng hay ghen tị nữa,” bà Ann Cyrilla nói tiếp. “Cứ thua ai cái gì là con bé không tài nào chịu đựng nổi, nó muốn cái gì cũng phải đứng nhất cơ. Tôi biết thừa trong đêm hòa nhạc, nó đã thấy tủi nhục đến trào nước mắt vì Ilse Burnley ẵm gọn giải thưởng dành cho màn hội thoại. Emily diễn dở quá… nó cứ cứng đờ như khúc gỗ ấy. Mà nó lại còn liên tục cãi lại các bậc bề trên nữa chứ. Kể ra, nếu nó không tỏ thái độ vô giáo dục quá thể như thế thì chuyện cũng hay ho đấy.”

    “Cũng lạ là bà Elizabeth không trị được cái chứng đó của nó. Người nhà Muray lúc nào cũng chắc mẩm nền tảng giáo dục của họ nhỉnh hơn hẳn so với người bình thường,” cô Potter nói.

    (Emily, đầy phẫn nộ, nói với đám giày dép: “Đúng thế còn gì.”)

    “Tất nhiên,” bà Ann Cyrilla nói, “theo tôi phần lớn khuyết điểm của Emily đều từ mối quan hệ qua thân mật với Ilse mà ra hết. Lẽ ra họ không nên cho phép con bé qua lại với Ilse như thế. Này nhé, người ta bảo Ilse cũng kém mộ đạo chẳng thua gì cha nó đâu. Tôi lúc nào mà chẳng biết nó nào có tin vào Chúa… và ngay cả Quỷ Dữ nữa.”

    (Emily: “Con quỷ trong mắt bà còn xấu xa hơn nhiều.”)

    “Ối chà, sau lúc phát hiện ra người vợ quý báu của mình không bỏ nhà theo Leo Mitchell, giờ ngài bác sĩ dạy dỗ con bé tử tế hơn một chút rồi,” cô Potter khịt mũi. “Ông ấy đã cho con bé đến lớp giáo lý. Nhưng con bé không thích hợp làm bạn Emily đâu. Nghe bảo cứ mở miệng ra là nó lại chửi với rủa. Có hôm bà Mark Burns đang ở trong văn phòng của ông bác sĩ thì nghe thấy Ilse nói rõ mồn một trong phòng khách ‘ra ngoài, đồ chết giẫm Spot,’ chắc hẳn là con chó.”

    “Ôi chao ôi, ôi chao ôi,” bà Ann Cyrilla rền rĩ.

    “Bà có biết tuần vừa rồi tôi đã nhìn thấy nó làm gì không… chính tôi nhìn tận mắt bắt tận tay luôn nhé!” cô Potter nói bằng giọng vô cùng quả quyết. Bà Ann Cyrilla không cần phải giả định rằng cô đang dựa vào mắt của bất kỳ người nào khác.

    “Cô chẳng thể làm tôi ngạc nhiên được đâu,” bà Ann Cyrilla nói líu ríu. “Dào, ghe bảo tối thứ Ba tuần trước, nó đã tham gia nghi thức quấy rối đêm tân hôn tại đám cưới của Johnson, ăn mặc chẳng khác gì thằng con trai.”

    “Cũng gần giống như vậy. Nhưng chuyện xảy ra ở ngay sân trước nhà tôi cơ. Nó đi cùng Jen Strang, cô bé sang xin tôi rễ cây hoa hồng Ba Tư cho mẹ. Tôi đã hỏi Ilse xem liệu nó có biết may vá, nướng bánh và làm vài việc khác mà tôi nghĩ ắt hẳn nó đã được dạy rồi. Nhưng hỏi đến đâu Ilse cũng đều nói ‘không’, thái độ đến là trâng tráo, thế rồi nó nói… theo bà đứa con gái đó đã nói gì nào?”

    “Ồ, nó nói gì?” bà Ann Cyrilla thì thào háo hức.

    “Con bé nói, ‘Cô có biết đứng bằng một chân còn chân kia giơ lên cao ngang tầm mắt không, cô Potter? Cháu biết làm thế đấy.’ Và…” – cô Potter hạ thấp giọng bật ra một âm thanh thấm đẫm sự kinh hoàng – “… nó làm y như thế!”

    Vị thính giả ở trong tủ vùi mặt vào chiếc áo xám của ông Jimmy hòng nén cơn buồn cười chỉ chực bật ra ngoài cổ họng. Cô nàng bốc đồng Ilse thích gây sốc cho cô Potter biết chừng nào chứ!

    “Lạy Chúa lòng lành, quanh đó có ai không?” bà Ann Cyrilla tha thiết hỏi.

    “Không… thật may quá. Nhưng tôi tin chắc cho dù có ai ở đấy thì con bé cũng làm y như thế thôi. Lúc đó chúng tôi đứng ngay sát đường chứ… bất kỳ ai cũng có thể đi ngang qua. Tôi xấu hổ quá thể. Thời tôi còn trẻ, một cô gái mà làm chuyện gì tương tự thế thì có mà chết đi cho xong.”

    “Như thế đã thấm tháp gì so với chuyện con bé và Emily tắm trên bãi cát dưới ánh trăng mà không có lấy một mảnh vải che thân,” và Ann Cyrilla nói. “Đó đúng là chuyện tai tiếng không gì sánh kịp. Cô đã nghe chuyện đó chưa?”

    “Ồ, có chứ, chuyện đó thì cả cái làng Hồ Blair này ai mà chẳng biết. Tất cả mọi người đều đã nghe kể rồi, trừ mỗi Elizabeth và Laura. Tôi vẫn chưa tìm ra tin này lan đi từ nguồn nào. Bọn chúng bị ai nhìn thấy à?”

    “Ôi chao, không, không đến nỗi thế đâu. Ilse tự mình nói ra đấy. Có vẻ như nó nghĩ rằng đó là chuyện khá đương nhiên. Tôi thấy phải có ai đó nói chuyện với Laura và Elizabeth thôi.”

    “Bà trực tiếp nói đi,” Potter gợi ý.

    “Ôi, không, tôi không muốn chuốc lấy sự ghét bỏ của hàng xóm láng giềng đâu. Ơn Chúa, tôi không phải lãnh trách nhiệm dạy dỗ Emily Starr. Nếu không, còn lâu tôi mới cho phép con bé dính líu đến Lưng Bình Priest quá nhiều như thế. Anh ta là kẻ kỳ quái nhất trong cả cái dòng họ Priest kỳ quái ấy. Tôi dám chắc anh ta thảo nào cũng ảnh hưởng xấu đến con bé. Đôi mắt xanh lá của anh ta khiến tôi sởn hết cả tóc gáy. Tôi chẳng biết anh ta có tin vào bất cứ điều gì không nữa.”

    (Emily, lại đầy châm biếm: “Ngay cả Quỷ cũng không sao?”)

    “Theo như đồn thổi thì giữa anh ta và Emily có một câu chuyện khá kỳ quái,” cô Potter nói. “Tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao cả. Chiều muộn hôm thứ Tư tuần vừa rồi, người ta bắt gặp họ trên quả đồi lớn, cư xử một cách quái lạ không để đâu cho hết. Họ cứ dán mắt lên trời mà đi… rồi đột nhiên dừng lại… chộp lấy cánh tay nhau rồi chỉ thẳng lên trên. Họ làm đi làm lại mấy lần liền. Bà Price quan sát họ từ sau cửa sổ và chịu không thể hình dung nổi họ đang làm gì. Trời vẫn còn quá sớm, chưa thể có sao được, và bà ấy chẳng tài nào nhìn ra có thứ gì trên trời. Bà ấy đã nằm trằn trọc cả đêm băn khoăn về chuyện đó ấy.”

    “Chà, chung quy lại thì vẫn là vấn đề này thôi… Emily Starr cần được trông nom,” bà Ann Cyrilla nói. “Thỉnh thoảng tôi có cảm giác có khi sáng suốt ra thì nên hạn chế Muriel và Gladys giao du quá nhiều với con bé.”

    (Emily, nồng nhiệt: “Ước gì bà làm thế. Bọn họ quá ngốc nghếch, quá khờ khạo, và lúc nào cũng cứ lảng vảng quanh cháu và Ilse.”)

    “Ngẫm cho thấu đáo, tôi thấy thương thay cho con bé,” cô Potter nói. “Nó quá dại dột và kiêu căng, đâm ra chẳng chóng thì chầy rồi sẽ khiến tất cả mọi người ghét bỏ thôi, và những người đàn ông đứng đắn, biết suy nghĩ thấu tình đạt lý sẽ chẳng đời nào để tâm đến nó đâu. Geoff North kể cậu ta từng đưa nó về nhà một lần, và với cậu ta, thế là đã quá đủ rồi.”

    (Emily, quả quyết: “Cháu tin cô! Nhận xét được câu đó thì Geoff đã tỏ ra khá thông minh đấy.”)

    “Nhưng xem chừng con bé dễ chẳng sống qua nổi thời thiếu nữ đâu. Con bé có vẻ bị viêm phổi nặng lắm. Nói thật lòng, Ann Cyrilla ạ, tôi thực lấy làm tiếc cho đứa bé tội nghiệp đó.”

    Đối với Emily, đây đúng là giọt nước làm tràn ly. Cô, một người nhà Starr đích thực mang trong mình một nửa dòng máu Murray lại phải nhận lòng thương hại từ Beulah Potter! Mẹ Hubbard cũng vậy mà không Mẹ Hubbard cũng vậy, làm sao mà chịu đựng nổi chuyện này chứ! Cánh cửa tủ đột nhiên bật mở và Emily hiện ra, trong bộ váy Mẹ Hubbard, đứng sừng sững trên lớp giày dép và áo quần. Má cô đỏ bừng, mắt tối lại. Bà Ann Cyrilla và cô Beulah Potter há hốc cả miệng, mất một lúc lâu vẫn chẳng khép lại được; mặt họ dần trở nên đỏ thẫm; họ chết lặng chẳng nói được câu gì. Suốt cả phút ấy, Emily nhìn chăm chăm họ trong sự im lặng thấm đẫm ý khinh miệt và chất chứa vô vàn ý nghĩa. Rồi, với phong thái của một nữ hoàng, cô đường bệ băng qua căn bếp rồi biến mất ở phía bên kia cánh cửa phòng khách, đúng lúc bà Elizabeth bước lên những bậc cấp bằng sa thạch kèm theo lời xin lỗi trang nghiêm vì đã bắt họ phải đợi. Cô Potter và bà Ann Cyrilla vẫn chết lặng không nói nên lời, thành ra họ chẳng dễ gì trò chuyện về Hội Phụ nữ Cứu trợ, vậy nên sau vài câu hỏi đáp nhát gừng, họ lúng túng cáo từ. Chẳng thể lý giải được thái độ của họ, bà Elizabeth đoán chắc hẳn họ bực mình thái quá vì phải chờ đợi. Vậy là bà gạt hẳn vấn đề đó ra khỏi tâm trí. Một người nhà Murray chẳng cần quan tâm xem những người nhà Potter nghĩ gì làm gì. Cánh cửa tủ mở toang chẳng tiết lộ điều gì, và bà cũng không hề biết rằng trong căn phòng đóng kín trên kia, Emily đang nằm vắt ngang giường, úp sấp mặt xuống mà khóc nức nở vì xấu hổ, giận dữ và tủi nhục. Cô thấy tổn thương và mất thể diện. Ngay từ đầu, toàn bộ chuyện này đều do cái thói kiêu căng ngớ ngẩn của cô mà ra… cô ý thức rõ điều đó… nhưng sự trừng phạt cô phải gánh chịu nặng nề quá.

    Cô không quá để tâm đến lời nói của cô Potter, nhưng những lời châm chọc dù không quá chua cay nhưng lại đầy ác ý của bà Ann Cyrilla lại khiến cô đau đớn thật sự. Cô vốn vẫn có cảm tình với bà Ann Cyrilla xinh đẹp, dễ mến, một con người lúc nào cũng tử tế, thân thiện và chẳng bao giờ tiếc lời khen ngợi cô. Cô vẫn đinh ninh bà Ann Cyrilla thật tâm quý mến mình. Ấy vậy mà giờ lại phát hiện ra bà đang nói về cô theo cách này đây! “Chẳng nhẽ họ không thể nói một điều nào tử tế về mình sao?” cô nức nở. “Ôi, chẳng hiểu vì sao mình lại cảm thấy mình đã bị vấy bẩn… phần do sự ngu ngốc của bản thân, phần bởi thái độ ác ý của họ… và mình còn cảm thấy tinh thần vừa nhơ nhuốc vừa rối loạn. Liệu còn có khi nào ta cảm thấy mình sạch sẽ được nữa không?” Mãi đến khi đã viết hết mọi chuyện vào trong cuốn nhật ký, cô mới lại có cảm giác “sạch sẽ”. Sau lúc đó, cô bắt đầu nhìn nhận sự việc một cách bớt méo mó hơn và cố gắng bình tĩnh xem xét vấn đề.

    “Thầy Carpenter nói chúng ta cần phải biết cách học hỏi từ mọi trải nghiệm của mình,” cô viết. “Thầy nói rằng mọi trải nghiệm, bất kể dễ chịu hay không, đều hữu ích đối với chúng ta, miễn là chúng ta có khả năng xem xét sự việc một cách thản nhiên. ‘Đây chính là một lời khuyên sáng suốt mà ta luôn canh cánh trong lòng,’ thầy nói giọng chua chát, ‘ấy vậy nhưng chẳng bao giờ có thể áp dụng vào bản thân được cả.’

    “Tốt thôi, tôi sẽ cố gắng nhìn nhận sự việc này bằng thái độ bình thản! Có lẽ muốn làm được thế thì cần cân nhắc hết thảy những điều người ta nói về tôi, rồi sau đó chỉ cần quyết định xem điều nào là thật điều nào là giả, và điều nào chỉ đơn thuần là sự bóp méo… cái đó tôi thấy còn tệ hơn cả sự giả mạo nữa.

    “Trước hết: việc ẩn trốn trong tủ đựng giày, vốn đơn thuần xuất phát từ thói tự cao tự đại, nằm trong diện những hành động xấu của tôi. Và có lẽ sự xuất hiện của tôi, sau khi đã phải ở trong đó suốt một lúc lâu, cũng như việc khiến họ thất kinh, lại là một hành động xấu khác. Nhưng ngay cả vậy, tôi vẫn chưa thể cảm thấy ‘bình thản’ nhìn nhận sự việc này được, bởi vì cho dù không nên, tôi vẫn cảm thấy mừng vì đã làm như thế – thực vậy, ngay cả khi họ đã nhìn thấy tôi trong bộ váy Mẹ Hubbard! Tôi sẽ không bao giờ quên vẻ mặt của họ! Nhất là vẻ mặt của bà Ann Cyrilla. Cô Potter thì chẳng mấy chốc sẽ gạt chuyện này ra khỏi tâm trí thôi… cô ta sẽ bảo thế là đáng đời tôi lắm… nhưng bà Ann Cyrilla thì cho dù có chết cũng sẽ không bao giờ vượt qua được chuyện đã bị bắt quả tang như thế.

    “Còn giờ, hãy ngẫm nghĩ cho kỹ những lời chỉ trích họ dành cho Emily Starr và quyết định xem Emily Byrd Starr có đáng phải nhận những lời chỉ trích đó không, toàn bộ hay chỉ một phần. Giờ thì hãy thẳng thắn mà nhìn nhận nhé, Emily, hãy ‘nhìn sâu vào tận tâm can’ và cô gắng đánh giá bản thân, không phải bằng con mắt của cô Potter hay bằng cách nhìn của chính bản thân ngươi, mà theo con người đích thực của ngươi.

    “(Chắc hẳn rồi tôi sẽ thấy chuyện này rất thú vị cho xem!)

    “Đầu tiên, bà Ann Cyrilla nói tôi là kẻ cứng đầu cứng cổ.

    “Tôi có phải kẻ cứng đầu cứng cổ hay không?

    “Tôi biết mình là người kiên quyết, và bác Elizabeth vẫn nói tôi bướng bỉnh. Nhưng cứng đầu cứng cổ là cách nói tệ hơn hết thảy. Kiên quyết là tính tốt, thậm chí nếu đầu óc thực tế một chút thì ngay bướng bỉnh cũng có mặt tích cực bù đắp lại. Nhưng người cứng đầu cứng cổ lại là người quá ngu ngốc nên chẳng thể nhìn ra hay thấu hiểu được tính xuẩn ngốc của lối giải quyết nào đó mà cứ khăng khăng bám trụ vào nó… nói gọn lại, khăng khăng vận hết tốc lực lao vào một bức tường đá.

    “Không, tôi không phải kẻ cứng đầu cứng cổ. Tôi biết cách chấp nhận những bức tường đá.

    “Chỉ có điều tôi phải mất rất nhiều công sức mới thuyết phục được bản thân tin rằng chúng là những bức tường đá chứ không phải các mô phỏng bằng giấy bồi. Bởi vậy, tôi chính là kẻ bướng bỉnh.

    “Cô Potter nói tôi là đứa lẳng lơ. Điều này hoàn toàn không đúng sự thực, vậy nên tôi sẽ không nói đến nó làm gì. Nhưng cô ấy còn nói tôi ‘đánh mắt’ với người khác. Nào, tôi có thế thật không? Tôi không chủ tâm làm thế… tôi biết rõ như vậy; nhưng có vẻ như người ta vẫn có thể vô tình ‘đánh mắt’ với người khác, mà đã như vậy thì tôi tránh làm sao được chứ? Tôi làm sao có thể cả đời này đi đâu cũng cụp mắt xuống. Hôm nọ chú Dean đã bảo tôi:

    “ ‘Cháu mà cứ nhìn ta thế này, Sao Trời ạ, thì ta chẳng biết làm gì khác mà đành phải thuận theo yêu cầu của cháu thôi.’

    “Còn tuần vừa rồi, bác Elizabeth cũng tỏ ra khá khó chịu vì bác ấy bảo lúc tôi dỗ ngon dỗ ngọt để Perry đồng ý tham gia buổi dã ngoại của lớp giáo lý, tôi đã nhìn cậu ấy một cách ‘không đứng đắn chút nào’. (Perry ghét các buổi dã ngoại của lớp giáo lý lắm.)

    “Này nhé, trong cả hai trường hợp ấy, tôi thấy mình chỉ đang nhìn bằng ánh mắt nài nỉ thôi đấy chứ.

    “Bà Ann Cyrilla nói tôi không xinh đẹp. Có thật thế không?”

    ©STE.NT

    Emily đặt bút xuống, bước tới bên tấm gương và vận hết khả năng “bình thản” để quan sát. Tóc đen… mắt tím mơ màng… môi đỏ thắm. Cho đến lúc này thì vẫn chưa đến nỗi nào. Trán cô quá cao, nhưng kiểu tóc mới của cô đã đánh tan khiếm khuyết đó. Da cô trắng như tuyết còn má cô, thuở nhỏ vốn nhợt nhạt là thế, giờ phơn phớt như ngọc trai hồng. Miệng cô rộng quá cỡ nhưng hàm răng rất đẹp. Đôi tai hơi nhọn khiến cô chẳng khác gì cô nai con duyên dáng. Cổ cô có những đường nét mà cô chẳng thể ngăn mình yêu thích được. Thân hình mảnh khảnh chưa vào độ chín toát lên vẻ duyên dáng; cô biết, do đã tận tai nghe bà cô Nancy nhận xét, rằng cô có cái mắt cá chân và mu bàn chân của cụ Shipley. Emily rất nghiêm túc chọn đủ mọi góc độ ngắm nhìn Emily – trong – gương rồi sau đó quay lại với cuốn nhật ký.

    “Tôi đã rút ra kết luận rằng mình không hề xinh đẹp,” cô viết. “Chắc trông tôi cũng có vẻ khá xinh nếu tóc tai được làm đúng kiểu, nhưng một cô gái xinh đẹp đích thực thì dù để kiểu tóc gì cũng vẫn xinh, vậy nên bà Ann Cyrilla nói thế là đúng rồi. Nhưng tôi cảm thấy chắc chắn tôi không xấu đến mức như bà ấy ám chỉ.

    “Rồi bà ấy còn bảo tôi tẩm ngẩm tầm ngầm chứ… thâm sâu khó lường nữa. Tôi chẳng thấy chuyện ‘thâm sâu khó lường’ thì có gì không đúng, ấy vậy nhưng nghe giọng thì có vẻ như bà ấy nghĩ là có đấy. Tôi thà là người thâm sâu còn hơn là kẻ nông cạn. Nhưng tôi có láu cá không? Không. Tôi không phải người như vậy. Vậy mới đáng nói, tôi như thế nào mà lại khiến ta nghĩ tôi là kẻ láu cá chứ? Bác Ruth lúc nào cũng khăng khăng bảo tôi như thế. Tôi nghĩ có lẽ là tại tôi vốn có thói quen, hễ thấy chán ghét người khác thì thể nào tôi cũng bất thình lình rút vào trong thế giới riêng của mình và đóng sầm cửa lại. Mọi người rất khó chịu với chuyện này… tôi thấy nếu cánh cửa bị đóng sầm lại ngay trước mặt mình thì có bực bội cũng hợp tình hợp lý thôi. Người ta gọi nó là tẩm ngẩm tầm ngầm, trong khi nó chỉ đơn thuần là hành vi tự vệ. Vậy nên tôi sẽ chẳng băn khoăn gì về chuyện đó hết.

    “Cô Potter đã nói một điều thật kinh tởm… rằng tôi đã mạo nhận những lời lẽ khôn ngoan đọc được trong sách là của mình… cố gắng tỏ ra thông minh. Chuyện này sai một trăm phần trăm. Thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ ‘cố gắng tỏ ra thông minh’. Nhưng… tôi quả thật thường tìm cách hình dung xem một suy nghĩ nào đó của mình sẽ như thế nào nếu được diễn đạt bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là một dạng khoe khoang. Tôi phải cẩn thận với chuyện này mới được.

    “Ghen tức: không, tôi không có cái thói đó. Phải thừa nhận rằng tôi rất muốn được là người đứng đầu. Nhưng không phải vì ghen tức với Ilse nên buổi tối hòa nhạc hôm ấy tôi mới khóc. Tôi khóc vì cảm thấy tôi đã làm rối tung vai diễn của mình. Tôi diễn cứng đơ đơ thật, đúng y như bà Ann Cyrilla nhận xét. Chẳng hiểu sao tôi không thể diễn được tròn vai. Thỉnh thoảng, có vai diễn nào đó dường như được đo ni đóng giày cho tôi, bởi vậy tôi có thể là nhân vật đó, nhưng nếu không, tôi sẽ không thực hiện tốt phần hội thoại. Tôi diễn vai đó chỉ cốt làm vui lòng cô Johnson, và tôi thấy xấu hổ khủng khiếp vì tôi biết cô ấy rất thất vọng.

    “Và có vẻ như lòng kiêu hãnh của tôi cũng bị tổn thương chút ít, nhưng tôi chưa bao giờ nảy sinh suy nghĩ ghen tị với Ilse. Tôi tự hào về bạn ấy… bạn ấy diễn kịch rất tuyệt vời.

    “Đúng vậy, tôi đã cãi lại. Tôi thừa nhận đó là một trong những khiếm khuyết của mình. Nhưng mọi người đã nói những điều kinh khủng đến thế! Mà tại sao khi mọi người cãi lại tôi thì người ta chẳng thấy có gì không đúng? Họ vẫn làm thế hết lần này đến lần khác… trong khi tôi cũng có lý nhiều chẳng kém họ.

    “Hay mỉa mai? Phải, tôi e rằng đó lại là một khuyết điểm khác của mình. Hay tự ái… không, tôi không có tính đó. Tôi chỉ nhạy cảm thôi. Còn kiêu ngạo? Chà, đúng vậy thật, tôi quả có hơi kiêu ngạo… nhưng không kiêu ngạo theo kiểu mọi người vẫn nghĩ. Tôi không thể ngăn mình ngẩng cao đầu, và tôi cũng không thể không cảm thấy thật tuyệt vời khi được hậu thuẫn bởi cả một thế kỷ những con người chính trực, tử tế với những truyền thống tốt đẹp và trí tuệ đáng nể trọng. Không giống như những người nhà Potter… chỉ vừa mới phất lên ngày hôm qua!

    “Ôi, những người phụ nữ đó xuyên tạc mọi chuyện về Ilse tội nghiệp mới ghê làm sao chứ. Tôi cho là chúng ta đừng hòng mơ tưởng đến chuyện người họ Potter hoặc vợ của một người mang họ Potter nhận ra được cảnh mộng du trong vở Phu nhân Macbeth. Tôi đã nhắc đi nhắc lại với Ilse rằng trước khi luyện tập cảnh đó, cậu ấy nhất thiết phải nhìn trước ngó sau xem cửa giả đã đóng hết chưa. Cậu ấy diễn vai này khá tuyệt. Cậu ấy chưa bao giờ tham gia vụ phá rối cô dâu chú rể đó… cậu ấy chỉ bảo cậu ấy thích đi đến đó thôi. Còn về chuyện tắm dưới trăng… quả có chuyện thế thật, chỉ có điều chúng tôi vẫn mặc một ít quần áo đấy chứ. Chuyện đó chẳng có gì đáng kinh khiếp cả. Chuyện đó đẹp đến mỹ mãn… dù vậy thì bây giờ nó đã bị phá hoại, bị thoái hóa bởi những lời đồn thổi lan khắp mọi nơi. Tôi chỉ ước giá như Ilse chưa kể chuyện đó cho ai.

    “Chúng tôi bỏ lên bãi cát đi dạo. Tối đó trăng sáng vằng vặc, bãi cát đẹp lung linh. Bà Gió xạc xào giữa những vạt cỏ trên đụn cát, những con sóng lấp lánh dịu dàng trườn lên quét sạch bờ biển. Chúng tôi háo hức muốn tắm, nhưng thoạt đầu tin chắc rằng chẳng thể thỏa mãn mong muốn đó được vì làm gì có quần áo tắm. Vậy nên chúng tôi ngồi trên cát, trò chuyện cùng nhau. Vịnh lớn hùng vĩ trải dài trước mắt chúng tôi, lấp lánh như dát bạc, quyến rũ đến say lòng, chạy dài tít tắp mất hút giữa những màn sương mờ mịt của bầu trời phương Bắc. Trông nó chẳng khác gì một đại dương bao la giữa ‘chốn thần tiên hoang vắng’.

    “Tôi nói:

    “ ‘Tớ chỉ mong sao được lên tàu, dong buồm thẳng tiến ra ngoài kia… ngoài… ngoài… tớ sẽ cập bờ ở nơi nào được nhỉ?’

    “ ‘Anticosti[1] chăng,’ Ilse nói… theo tôi thấy có phần hơi quá thiếu sức sáng tạo.

    [1] Đảo Anticosti nằm ở Quebec, Canada.

    “ ‘Không đâu… không… tớ nghĩ là nơi chân trời góc bể cơ,’ tôi mơ màng nói. ‘Một bờ biển xinh đẹp chẳng ai biết tới, nơi mưa chẳng bao giờ rơi, gió chẳng bao giờ thổi. Có lẽ là quê hương của Gió Bắc nơi cậu bé Diamond[2] từng đặt chân đến. Người ta có thể băng qua biển bạc, dong buồm tiến về nơi đó trong một buổi tối như tối nay.’

    [2] Trong tác phẩm Trên lưng Gió Bắc (At the back of the North Wind) của nhà văn George MacDonald, cậu bé Diamond đã làm bạn với ngọn gió Bắc và được bà đưa tới quê hương của bà, nơi không có khổ đau, không có cái chết.

    “ ‘Tớ nghĩ nơi đó chính là thiên đường,’ Ilse nói.

    “Vậy là chúng tôi bàn luận về sự bất tử, và Ilse bảo cậu ấy sợ chuyện đó lắm… sợ phải sống mãi mãi; cậu ấy bảo chắn chắn trăm phần trăm cậu ấy sẽ chán ghét bản thân đến tột độ. Tôi thì bảo có lẽ tôi khá thích ý tưởng của chú Dean về sự luân hồi… tôi không tài nào tìm hiểu được xem liệu chú ấy có tin vào thuyết này hay không… và Ilse bảo có lẽ sẽ hay ho thật nếu cậu dám chắc cậu sẽ được tái sinh làm một con người tử tế, nhưng nhỡ không phải như thế thì sao?

    “ ‘Ái chà, với bất cứ hình thức bất tử nào thì cậu cũng đều buộc phải chấp nhận mạo hiểm thôi,’ tôi nhận xét.

    “ ‘Dù sao đi nữa,’ Ilse nói, ‘cho dù kiếp sau tớ được là chính mình hay phải làm người khác thì tớ vẫn hy vọng mình sẽ không có cái tính khí nóng nảy khủng khiếp đó. Nếu vẫn tiếp tục được là chính mình thì chỉ cần sau nửa giờ đặt chân đến thiên đường, tớ sẽ đập vỡ cây đàn hạc, xé nát vầng hào quang và vặt trụi cánh của các thiên thần khác. Cậu biết thừa tớ sẽ làm thế cho coi, Emily ạ. Tớ chẳng thể làm khác được. Hôm qua tớ lại cãi nhau một trận long trời lở đất với Perry. Lỗi hoàn toàn thuộc về tớ… nhưng tất nhiên cậu ấy đã làm tớ phát điên vì thói huênh hoang của cậu ấy. Tớ ước gì có thể kiềm chế tính nóng nảy của mình.’

    “Giờ tôi chẳng mảy may bận tâm đến những cơn giận dữ của Ilse… Tôi biết rõ những lời bạn ấy nói trong lúc giận dữ chẳng bao giờ là thật lòng cả. Tôi không bao giờ để bụng bất cứ lời nào. Tôi chỉ mỉm cười với bạn ấy, và nếu có sẵn mẩu giấy nào trong tay, tôi sẽ ghi lại những điều bạn ấy nói. Hành động này chỉ khiến bạn ấy tức điên lên đến mức nghẹn hết cả lời, chẳng nói năng được gì thêm nữa. Ngoài những lúc đó ra thì Ilse rất đáng mến và nhộn kinh lên được.

    “ ‘Cậu không thể kiềm chế được cơn giận dữ vì cậu thích nổi giận,’ tôi nói.

    “Ilse nhìn tôi chằm chằm.

    “ ‘Không phải… tớ không như thế.’

    “ ‘Có đấy. Cậu thích nó,’ tôi khăng khăng.

    “ ‘Chà, tất nhiên,’ Ilse nói, cười toe toét. ‘Đúng là trong lúc nó diễn ra tớ thấy vui vẻ thật. Thật mãn nguyện kinh lên được khi nói những điều xúc phạm nhất, gọi ra những biệt danh tồi tệ nhất. Tớ tin là cậu nói đúng, Emily ạ. Tớ thích nó thật. Kỳ lạ thật đấy, ấy vậy mà chẳng bao giờ tớ nghĩ đến điều đó. Có lẽ nếu thật lòng không vui vẻ gì khi nổi giận thì tớ sẽ chẳng giận dữ làm gì cho cam. Nhưng sau khi mọi chuyện đã qua… tớ lại hối hận vô cùng. Hôm qua, sau khi cãi nhau với Perry, tớ đã khóc hàng giờ liền.’

    “ ‘Phải, và cậu cũng thích chuyện đó… đúng không?’

    “Ilse trầm ngâm suy nghĩ một lúc.

    “ ‘Có lẽ thế thật, Emily ạ; cậu đúng là người kỳ lạ. Tớ sẽ không nói về chuyện này nữa. Đi tắm thôi. Không có quần áo hả? Không thành vấn đề. Cách đây cả dặm làm gì có ai đâu. Tớ không thể cưỡng lại những con sóng kia. Chúng đang gọi tớ.’

    “Tôi cũng cảm thấy y như vậy, và tắm dưới ánh trăng dường như là một chuyện lãng mạn xiết bao, thú vị xiết bao… mà nó đúng là như thế thật, khi những người nhà Potter chưa biết gì về nó. Đến khi biết rồi, họ đã làm nó hoen ố. Chúng tôi cởi quần áo trong một cái hõm nhỏ nằm giữa các đụn cát – trông chẳng khác gì một cái bát bàng bạc dưới ánh trăng – nhưng vẫn mặc nguyên váy lót. Chúng tôi đã vui đùa thỏa thích, vừa té nước vừa bơi lộ giữa làn nước xanh lấp lánh như dát bạc, giữa những con sóng nhẹ nhàng êm ái, y như hai nàng tiên cá hay hai nữ thần biển. Dường như chúng tôi đang sống trong một bài thơ hoặc một câu chuyện thần tiên. Và khi bước lên bờ, tôi chìa tay về phía Ilse, nói:

    “ ‘Bước tới đây nơi bãi cát vàng

    Nhún gối chào hôn lên mặt cát,

    Ngọn gió hoang tắt lời hát,

    Khéo léo đặt bước chân

    Và, những tiên nữ đáng yêu, gánh nặng trên thân.’

    “Ilse nắm tay tôi và chúng tôi nhảy vòng tròn trên bãi cát loang loáng ánh trăng, sau đó chúng tôi leo lên chỗ cái tô bạc, mặc quần áo vào rồi về nhà trong niềm hân hoan mãn nguyện. Tất nhiên, chỉ có điều chúng tôi phải cuộn hai cái váy lót ướt sũng lại kẹp dưới nách, thành ra có vẻ như váy của chúng tôi bám sát vào cơ thể, tuy nhiên chẳng ai nhìn thấy chúng tôi hết. Và giờ thì cả cái làng Hồ Blair này đều đang lấy làm chướng tai gai mắt đến tột độ vì chuyện đó đây.

    “Dù sao đi nữa, tôi mong là chuyện này không đến tai bác Elizabeth.

    “Thật quá tệ vì bà Price lại mất ăn mất ngủ đến thế trước chuyện của chú Dean và tôi. Chúng tôi đâu có làm bùa phép quái đản gì đâu… chúng tôi chỉ đơn thuần đi dạo trên núi Ngoạn Mục và dõi tìm dấu vết các bức tranh giữa những đám mây. Có lẽ hành động đó trẻ con thật đấy… nhưng nó thú vị vô cùng. Tôi thích chú Dean ở chính cái tính đó đấy… chú ấy chẳng bao giờ chỉ vì thấy nó có vẻ trẻ con mà e ngại không dám làm một chuyện vô hại và thú vị nào đó. Chú ấy chỉ cho tôi thấy một đám mây giống như in một thiên thần đang bay ngang bầu trời xanh nhạt tươi sáng rạng rỡ, ôm trên tay một đứa trẻ. Một tấm khăn voan mỏng tang màu xanh nhạt che phủ mái đầu của thiên thần mây, và bên dưới lớp voan ấy, một vì sao nhạt nhòa đầu tiên sáng nhấp nháy. Đôi cánh thiên thần được bịt vàng, còn chiếc váy trắng muốt lốm đốm màu đỏ sẫm.

    “ ‘Kia là Thiên Thần Sao Hôm đang bế ngày mai tới,’ chú Dean nói.

    “Cảnh tượng đẹp đến nỗi đã khiến tôi chìm đắm trong một thời khắc huy hoàng. Nhưng chỉ mười giây sau nó đã thay đổi, không khác gì một con lạc đà với cái bướu ngoại cỡ!

    “Chúng tôi đã có nửa tiếng đồng hồ tuyệt vời, dẫu cho bà Price, vốn chẳng nhìn thấy bất cứ thứ gì trên bầu trời, có cho rằng chúng tôi hẳn điên mất rồi.

    “Chà, riêng trong vấn đề này, chẳng cần phải cố gắng chiều theo ý người khác làm gì. Điều duy nhất cần làm là sống đúng với bản chất của mình. Xét cho cùng, tôi tin vào bản thân mình. Tôi không xấu xa và ngu ngốc như họ vẫn tưởng, tôi cũng không mắc bệnh lao phổi, và tôi còn biết viết lách nữa. Giờ đây khi đã viết lại toàn bộ mọi chuyện, tôi cảm nhận sự việc theo cách khác hẳn. Điều duy nhất vẫn khiến tôi bực mình chính là việc cô Potter tỏ ra thương hại tôi… bị một người mang họ Potter thương hại kia đấy!

    “Ngay lúc này đây, tôi dõi mắt ra ngoài cửa sổ và nhìn thấy thảm sen cạn của bác Jimmy… rồi bất chợt ánh chớp lóe lên… vậy là cả cô Potter, cả thái độ thương hại lẫn miệng lưỡi cay độc của cô ta dường như đều chẳng còn là vấn đề nữa. Sen cạn ơi, ai đã nhuộm màu cho các bạn vậy, những cây hoa rực rỡ tươi đẹp diệu kỳ? Chắc hẳn các bạn đã được tạo hình từ những buổi hoàng hôn mùa hè.

    “Hè này, tôi đã giúp đỡ bác Jimmy rất nhiều công việc vườn tược. Tôi tin chắc tôi cũng yêu khu vườn chẳng thua kém gì bác ấy. Ngày nào chúng tôi cũng đều có những khám phá mới về hoa và nụ.

    “Vậy là bác Elizabeth sẽ không cho tôi đến Shrewsbury! Ôi, tôi cảm thấy thất vọng đến độ cứ như thể tôi thật lòng mong mỏi bác ấy sẽ cho phép vậy. Dường như mọi cánh cửa cuộc đời đều đã đóng sập lại trước mặt tôi rồi.

    “Nhưng xét cho cùng, tôi vẫn còn vô vàn điều đáng để cảm kích. Có lẽ rồi đến năm sau, bác Elizabeth sẽ cho phép tôi học ở đây thôi, còn thầy Carpenter có thể chỉ bảo cho tôi rất nhiều; tôi không phải kẻ đáng ghê tởm; ánh trăng vẫn đẹp đẽ xiết bao; rồi sẽ có ngày tôi dấn thân vào sự nghiệp viết lách… và tôi có một con mèo lông xám đáng yêu mặt tròn vành vạnh vừa mới nhảy tót lên trên bàn, dụi dụi mũi vào cây bút của tôi như muốn ra nhắc nhở rằng tôi viết liền một mạch như thế là đủ lắm rồi.

    “ ‘Mèo xám mới đích thực là mèo chứ!’”
     
  6. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 5: Thà ít còn hơn không
    Một đêm khuya tháng Tám, nghe thấy tiếng huýt sáo ra hiệu của Teddy vọng vào từ con đường Ngày Mai, Emily bèn lẻn ra ngoài gặp cậu. Cậu có tin mới… cứ nhìn đôi mắt sáng long lanh của cậu là đủ đoán ra được.

    “Emily ơi,” cậu kêu lên đầy phấn khích, “rốt cuộc tớ cũng được tới Shrewsbury rồi! Tối nay mẹ tớ vừa bảo mẹ đã quyết định sẽ cho phép tớ đi!”

    Emily rất mừng… nhưng vẫn không tránh khỏi xen lẫn một nỗi buồn phiền kỳ lạ, và cô tự trách bản thân vì đã nảy sinh cảm xúc đó. Trang trại Trăng Non sẽ quạnh quẽ cô đơn đến thế nào đây khi ba người bạn thân thiết lâu năm của cô đều đã đi mất! Cho đến tận giây phút này, cô mới chợt nhận ra cô coi trọng tình bạn cùng Teddy biết bao nhiêu. Trong hết thảy những viễn cảnh tương lai gần cô tự vẽ ra cho bản thân, hình ảnh Teddy vẫn luôn luôn hiện diện. Cô vẫn luôn coi sự có mặt của Teddy là hiển nhiên. Giờ thì sẽ chẳng còn ai nữa… đến cả chú Dean cũng không, vì chú Dean lại sắp thực hiện chuyến du hành mùa đông như thường lệ… hoặc tới Ai Cập hoặc tới Nhật Bản, có lẽ phải đợi đến phút chót chú mới quyết định được. Cô biết làm gì đây? Tất cả những cuốn sổ Jimmy trên trần thế này liệu có thay thế nổi vị trí của những người bạn thân thiết bằng xương bằng thịt của cô không?

    “Chỉ mong sao cậu cũng được đi!” Teddy nói, trong lúc cả hai dạo bước trên đường Ngày Mai – nhưng giờ thì gần như đã biến thành đường Hôm Nay rồi, vì những cây thích non rậm rạp lớn nhanh như thổi đã cao vút hẳn lên.

    “Mong ước không thôi thì có ích lợi gì đâu. Thôi đừng nhắc đến chuyện này nữa… chỉ khiến tớ thêm buồn thôi,” Emily nói nhát gừng.

    “Ôi dào, dù sao chúng mình vẫn còn những kỳ nghỉ cuối tuần mà. Mà tớ đi được lần này cũng là nhờ công cậu đấy. Chính vì nghe những lời cậu nói tối hôm nọ ở khu nghĩa địa mà mẹ đã cho phép tớ đi. Tớ biết từ sau hôm đó, mẹ tớ vẫn suy nghĩ chuyện đó suốt, vì cứ thỉnh thoảng mẹ lại buột ra một câu nào đó. Tuần vừa rồi, có hôm tớ nghe thấy mẹ tớ lẩm bẩm, ‘Làm mẹ thật khủng khiếp… thật khủng khiếp khi làm mẹ mà phải chịu đựng những chuyện như thế này. Ấy vậy mà con bé đó còn gọi tôi là kẻ ích kỷ cơ đấy!’ Rồi có lần khác, mẹ tớ nói, ‘Nếu ta muốn nắm giữ thứ duy nhất còn lại cho ta trên cuộc đời này thì có phải là ích kỷ không?’ Nhưng tối nay lúc mẹ bảo tớ có thể đi, thái độ của bà dễ chịu lắm. Tớ biết người làng vẫn bảo mẹ tớ không được tỉnh táo lắm, và đôi lúc đúng là mẹ tớ hơi kỳ quái thật. Nhưng chỉ những lúc có mặt người khác mới như thế. Cậu không biết được những lúc chỉ có riêng hai mẹ con với nhau, mẹ tớ dịu dàng và tình cảm đến thế nào đâu, Emily ạ. Tớ không muốn bỏ mẹ ở nhà mà đi. Nhưng tớ phải học hành lên chứ!”

    “Tớ rất mừng nếu những gì tớ nói đã thay đổi được suy nghĩ của bác ấy, nhưng bác ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho tớ về chuyện đó đâu. Từ bữa đó đến giờ bác ấy vẫn luôn ghét tớ… cậu biết thừa như thế còn gì. Cậu biết thừa cứ mỗi lần tớ đến Vạt Cúc Ngải, bác ấy lại nhìn tớ theo kiểu gì rồi đấy… ôi, bác ấy rất lịch sự với tớ. Nhưng còn đôi mắt của bác ấy kia, Teddy ạ.”

    “Tớ biết,” Teddy nói, không mấy thoải mái. “Nhưng đừng khắt khe với mẹ tớ quá, Emily ạ. Tớ đảm bảo không phải lúc nào mẹ tớ cũng thế đâu… mặc dù từ lúc tớ biết ý thức thì mẹ tớ đã như thế rồi. Tớ không biết bất cứ điều gì về mẹ hồi trước đó. Mẹ tớ chẳng bao giờ kể gì cho tớ… tớ không biết chút gì về cha tớ. Mẹ chẳng nói gì về cha cả. Thậm chí tớ còn chẳng biết vết sẹo trên mặt mẹ tớ do đâu mà có nữa.”

    “Tớ nghĩ là tâm trí mẹ cậu chẳng có vấn đề gì cả đâu, thật đấy,” Emily nói chậm rãi. “Nhưng tớ nghĩ có chuyện gì đó khiến bác ấy vướng bận… luôn bận tâm về nó… một điều gì đó bác ấy không tài nào quên, không tài nào rũ bỏ khỏi đầu được. Teddy này, tớ dám chắc mẹ cậu bị ám mất rồi. Tất nhiên, tớ không có ý nói là bị ma mãnh hay bất kỳ thứ ngớ ngẩn nào đó kiểu vậy ám. Mà là bị ám bởi một suy nghĩ khủng khiếp nào đó.”

    “Tớ biết mẹ tớ không vui vẻ hạnh phúc gì cho cam,” Teddy nói, “và tất nhiên nhà tớ vốn nghèo. Tối nay mẹ tớ đã nói rõ mẹ chỉ có thể cho tớ đi học ở Shrewsbury trong vòng ba năm thôi… mẹ chỉ đủ sức chu cấp được cho tớ đến chừng ấy. Nhưng chỉ cần như thế tớ cũng đã có được bước khởi đầu rồi… sau đó thì tớ sẽ tìm ra cách để trụ tiếp. Tớ biết tớ có thể làm được. Tớ sẽ thu xếp ổn thỏa chuyện đó với mẹ.”

    “Rồi sau này, thể nào cậu cũng sẽ trở thành một họa sĩ vĩ đại,” Emily mơ màng nói.

    Họ đã đi đến cuối đường Ngày Mai. Bãi cỏ ven hồ đang trải dài trước mặt, bị phủ trắng bởi cả một biển hoa cúc. Người nông dân ghét hoa cúc vì coi chúng chỉ là loài cỏ dại gây hại, nhưng giữa một buổi hoàng hôn mùa hè, nếu đứng nhìn lại từ Vùng Đất Của Niềm Vui Đã Mất, cả một cánh đồng trắng xóa hoa cúc ấy thật chẳng khác gì khung cảnh trong mơ. Bên dưới chúng, hồ Blair sáng lấp lánh như bông huệ tây vàng khổng lồ. Còn trên ngọn đồi phía Tây, Ngôi Nhà Tuyệt Vọng nhỏ nhắn náu mình giữa những bóng đổ, có lẽ đang mơ màng tưởng nhớ đến một cô dâu dối trá chưa từng một lần đặt chân đến nơi này. Vạt Cúc Ngải tối đen như mực. Liệu có phải bà Kent đang cô đơn ở đó, nức nở trong bóng tối, chỉ biết làm bạn cùng nỗi khao khát tình yêu thương vừa bí ẩn vừa vật vã?

    Emily đang ngước nhìn bầu trời hoàng hôn; đôi mắt cô nhìn chăm chú, khuôn mặt xanh xao toát lên vẻ kiếm tìm. Cô không còn cảm giác buồn bã hay chán chường nữa, chẳng hiểu sao chỉ cần có Teddy bên cạnh thì cô chẳng bao giờ lưu giữ cảm giác đó lâu được. Trên khắp cõi trần này, chẳng có thứ âm nhạc nào giống như giọng nói của cậu. Dường như chỉ cần có cậu, bỗng nhiên điều tốt đẹp nào cũng có thể biến thành sự thật. Cô không thể đến Shrewsbury… nhưng cô vẫn có thể làm việc và học hành ngay tại Trăng Non… ôi chao, cô sẽ làm việc và học hành như thế nào đây. Một năm nữa được ở bên thầy Carpenter sẽ ích lợi cho cô lắm đây… có lẽ cũng chẳng kém cạnh gì Shrewsbury. Cô cũng đã có Đường Apls của mình mà leo lên rồi… cô sẽ leo lên đó, cho dù trên đường có bao nhiêu trở ngại đi chăng nữa… cho dù cô có nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào hay không.

    “Đến lúc đó, tớ sẽ vẽ lại hình ảnh cậu ngay lúc này đây,” Teddy nói, “và đặt tên cho bức tranh là Jeanne d’Arc… khuôn mặt tràn ngập sinh khí… đang lắng nghe tiếng lòng của mình.”

    Cho dù tiếng lòng của cô có như thế nào đi chăng nữa thì tối đó, đến lúc lên giường đi ngủ, tâm trạng Emily vẫn có phần hơi chán nản, rồi đến lúc tỉnh dậy sáng hôm sau thì chẳng hiểu sao cô cứ đinh ninh trong dạ là ngày hôm đó thể nào cô cũng sẽ nhận được tin tốt lành nào đó – một cảm giác đinh ninh mãi vẫn không phai nhạt cho dù đã bao nhiêu tiếng đồng hồ trôi qua vẫn theo đúng cái cung cách sáo mòn quen thuộc của những ngày thứ Bảy tại Trăng Non, vẫn là những khoảng thời gian tất bật dọn dẹp sạch sẽ tinh tươm để ngôi nhà chào đón ngày Chủ nhật, đồng thời chạn thức ăn lại được bổ sung đầy đặn. Ngày hôm đó vừa lạnh vừa ẩm ướt, với những màn sương mù nương theo ngọn gió Đông kéo về từ biển, phủ chụp màn sương lên khắp Trăng Non và khu vườn cũ.

    Đến lúc trời chạng vạng, cơn mưa xám lay phay bắt đầu giăng giăng, trong khi tin tức tốt lành thì mãi vẫn chẳng thấy tăm hơi. Emily vừa lau chùi xong xuôi đám đế nến bằng đồng, trong lúc đó vẫn không quên sáng tác một bài thơ có tên Khúc ca về cơn mưa, thì bà Laura cho biết bà Elizabeth muốn gặp cô trong phòng khách.

    Trong trí nhớ của Emily, những cuộc trò chuyện trong phòng khách giữa cô và bà Elizabeth chẳng được dễ chịu gì cho cam. Có vắt óc mãi cô cũng không nghĩ ra được dạo gần đây có việc gì, đã hoàn thành cũng vậy mà vẫn đang dang dở cũng vậy, có khả năng dẫn đến cuộc nói chuyện này, dầu vậy cô vẫn run run đi vào phòng khách: cho dù bà Elizabeth định nói gì với cô thì ắt hẳn đó cũng là chuyện đặc biệt quan trọng, nếu không đã chẳng cần phải nói trong phòng khách. Đây chỉ là một trong những thói quen vặt vãnh của bà Elizabeth thôi. Daffy, con mèo to xác, lẻn vào bên cạnh cô như một cái bóng xám lặng lẽ. Cô hy vọng bà Elizabeth sẽ không đuổi nó ra; có nó bên cạnh cô thì cô sẽ được trấn an phần nào: một con mèo luôn là kẻ hậu thuẫn hiệu quả, miễn nó đứng về phe ta!

    Bà Elizabeth đang đan; bà trông có vẻ nghiêm nghị nhưng không có dấu hiệu khó chịu hay giận dữ. Bà chẳng buồn quan tâm đến Daff, chỉ thầm nghĩ Emily nhìn mới cao làm sao khi đứng giữa căn phòng lâu đời trang nghiêm dưới ánh chiều chạng vạng. Bọn trẻ con cứ gọi là lớn nhanh như thổi! Dường như mới ngày hôm kia thôi, Juliet xinh đẹp, thẳng thắn… bà Elizabeth Murray kiên quyết gạt hết những suy nghĩ của mình sang một bên.

    “Ngồi xuống đi, Emily,” bà nói. “Ta có chuyện cần nói với cháu.”

    Emily ngồi xuống. Daffy cũng bắt chước theo, khoan khoái cuộn đuôi lại quanh chân. Emily đột nhiên có cảm giác tay nhớp nháp, miệng khô khốc. Cô chỉ ước gì lúc này mình cũng đang đan lát. Thật khó chịu làm sao khi cứ ngồi thừ ra ở đây, chẳng có việc gì làm, băn khoăn không biết sắp có chuyện gì sắp xảy ra. Chuyện đã xảy ra lại là điều cô chưa bao giờ nghĩ đến. Bà Elizabeth, sau khi thong thả đan xong một vòng tròn trên chiếc tất của bà, nói thẳng vào vấn đề:

    “Emily, tuần tới cháu có muốn đến Shrewsbury không?”

    Đến Shrewsbury? Cô có nghe nhầm không vậy?

    “Ôi, bác Elizabeth!” cô thốt lên.

    “Ta đã bàn bạc rất kỹ chuyện này với các bác của cháu,” bà Elizabeth nói. “Mọi người đều đồng ý với ta rằng cháu nên được học lên cao hơn. Tất nhiên sẽ tốn một khoản chi phí đáng kể… không, đừng ngắt lời ta. Ta không thích bị ngắt lời đâu… nhưng bác Ruth sẽ trả một nửa phí tổn, coi như đóng góp nuôi dưỡng cháu… Emily, đừng có ngắt lời ta! Bác Oliver sẽ trả nốt phần phí tổn còn lại; bác Wallace sẽ chu cấp sách vở cho cháu, còn ta sẽ phụ trách khoản quần áo. Tất nhiên, cháu sẽ tùy sức mà giúp bác Ruth chăm lo nhà cửa, coi như phần nào đền đáp lại lòng tốt của bác ấy. Chỉ cần đáp ứng được điều kiện đưa ra, cháu sẽ được tới Shrewsbury ba năm.”

    Điều kiện gì đây? Emily – chỉ muốn nhảy múa ca hát và cười lên khanh khách khắp căn phòng khách lâu đời vốn xưa nay chưa từng có bất kỳ người nhà Murray nào, kể cả mẹ cô, dám to gan nhảy múa cười đùa trong đó – đành miễn cưỡng ép mình ngồi thẳng đơ như pho tượng trên chiếc ghế đệm và thầm hỏi mình câu hỏi đó. Trong sự chờ đợi hồi hộp, cô phần nào cảm thấy thời khắc này xem ra cũng khá kịch tính.

    “Ba năm ở Shrewsbury,” bà Elizabeth tiếp tục, “cũng sẽ ích lợi với cháu chẳng kém gì ba năm ở Queen; tất nhiên, ngoại trừ việc cháu sẽ không lấy được chứng nhận hành nghề giáo viên, mà với cháu thì chuyện đó cũng chẳng thành vấn đề, cháu đâu có tự mình kiếm sống. Nhưng, như ta đã nói đó, sẽ có một điều kiện.”

    Tại sao bác Elizabeth không nói luôn xem điều kiện đó là gì? Emily gần như không thể chịu đựng nổi sự chờ đợi hồi hộp này nữa. Liệu có khả năng bà Elizabeth phần nào e ngại việc nhắc đích xác cái điều kiện đó không? Chuyện trò câu giờ không phải là thói quen của bà. Lẽ nào nó khủng khiếp đến thế ư?

    “Cháu phải hứa,” bà Elizabeth nghiêm nghị nói, “rằng trong suốt ba năm ở Shrewsbury, cháu sẽ từ bỏ hoàn toàn việc viết lách vớ vẩn của cháu… hoàn toàn, ngoại trừ những bài luận mà có lẽ nhà trường sẽ yêu cầu.”

    Emily ngồi bất động… và bình tĩnh. Một bên là không Shrewsbury; còn một bên, không còn thơ, không còn những câu chuyện và “nghiên cứu”, không còn những cuốn sổ Jimmy thú vị đa dạng sắc màu. Cô không cần thêm một giây phút nào để cân nhắc quyết định của mình.

    “Cháu không hứa thế được, bác Elizabeth ạ,” cô nói kiên quyết.

    Bà Elizabeth sửng sốt đánh rơi cả mảnh tất đang đan. Bà không ngờ sẽ có chuyện này. Bà cứ đinh ninh rằng với khát khao được tới Shrewsbury ấy, Emily sẽ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ điều kiện nào để đổi lấy cơ hội được đi, nhất là một điều kiện vặt vãnh như thế, vốn theo bà Elizabeth thì chỉ thuần túy liên quan đến việc dẹp bỏ thói bướng bỉnh đi thôi.

    “Ý cháu là cháu sẽ không từ bỏ việc viết lách vớ vẩn của cháu để đổi lấy sự giáo dục mà lúc nào cháu cũng giả vờ là vô cùng mong muốn?” bà tra vấn.

    “Không phải cháu không làm mà chỉ là cháu không thể,” Emily giải thích, đầy thất vọng. Cô đã biết rõ bà Elizabeth có lẽ sẽ không hiểu được, bà Elizabeth vốn chẳng bao giờ hiểu được điều này. “Cháu không thể không viết được, bác Elizabeth. Nó ăn vào trong máu của cháu rồi. Ép buộc cháu cũng chẳng ích lợi gì cả. Cháu muốn được đi học thật, không phải chuyện giả vờ, nhưng cháu không thể đánh đổi bằng việc từ bỏ chuyện viết lách. Cháu không thể giữ được một lời hứa như thế, vậy thì có hứa cũng được việc gì đâu ạ?”

    “Vậy thì cháu cứ ở nhà đi,” bà Elizabeth giận dữ nói.

    Emily những tưởng bà sẽ đứng dậy bước ra khỏi phòng. Ấy vậy nhưng bà Elizabeth lại nhấc cái tất lên và trở lại công việc đan lát trong tâm trạng vô cùng phẫn nộ. Thành thật mà nói, bà Elizabeth cảm thấy sửng sốt đến mức phi lý. Bà thật lòng muốn cho Emily đến Shrewsbury. Truyền thống đòi hỏi rất nhiều ở cô, và hết thảy mọi người trong nhà đều cho rằng họ nên cho cô đi. Chính bà là người đưa ra ý tưởng về điều kiện này. Bà tưởng rằng đây là một cơ hội tốt để dẹp bỏ thói quen ngu ngốc lãng phí thời gian và tiền bạc không – giống – người – nhà – Muray chút nào, và bà không mảy may nghi ngờ sự thành công của kế hoạch này, vì bà biết rõ Emily muốn đi như thế nào. Ấy vậy mà giờ thì xem cái con bé bướng bỉnh vô ơn bạc nghĩa, ngu ngốc thiếu lý trí này đi – “bản chất Starr đang lộ ra rồi đấy,” bà Elizabeth hậm hực nghĩ, chẳng còn nhớ gì đến cái dòng máu Shipley vẫn đang chảy trong huyết quản cô! Bà biết làm gì đây? Đúc rút từ chính kinh nghiệm bản thân, bà biết quá rõ một khi Emily đã hạ quyết tâm thì chẳng gì có thể lay chuyển được cô, và bà cũng biết rõ mặc dù cả ông Wallace, ông Oliver lẫn bà Ruth đều giống như bà, luôn cho rằng niềm đam mê viết lách của Emily quá ngốc nghếch và phi truyền thống, nhưng họ sẽ không ủng hộ yêu cầu của bà – Elizabeth. Bà Elizabeth Murray nhìn thấy rõ thể nào mọi người cũng sẽ quay lưng hoàn toàn lại với bà, và bà Elizabeth Murray cũng không thích viễn cảnh này chút nào. Nhẽ ra bà phải lay chuyển được, với thái độ tự nguyện, đứa bé gầy gò xanh xao đang ngồi trên cái ghế đệm ngay trước mặt bà kia. Đứa bé ấy yếu ớt đến thế, thơ trẻ đến thế, ấy vậy nhưng cũng khó lay chuyển đến thế. Suốt ba năm qua, bà Elizabeth Murray đã nỗ lực chữa trị thói viết lách dại dột, ngốc nghếch này của Emily, nhưng cũng bằng ấy năm, bà, một con người trước nay chưa từng thất bại trước bất kỳ việc gì, lại không thể thực hiện được điều này. Đâu thể dùng cách bỏ đói hòng khuất phục cô; mà ngoài biện pháp đó ra thì có vẻ chẳng còn cách nào hiệu quả cả.

    Bà Elizabeth giận dữ ngồi đan, trong khi Emily ngồi bất động, vật lộn với cảm giác thất vọng cay đắng đan xen lẫn nỗi ấm ức trước sự bất công. Cô đã hạ quyết tâm sẽ không khóc trước mặt bà Elizabeth, nhưng thật khó lòng nuốt ngược nước mắt vào trong. Cô chỉ mong sao Daff đừng có gừ gừ với cái vẻ thỏa mãn lồ lộ như thế, cứ như thể trong mắt của một chú mèo xám, hết thảy sự đời đều vô cùng hoàn hảo vậy. Cô ước gì bà Elizabeth bảo cô đi ra ngoài. Nhưng bà Elizabeth lại chỉ giận dữ ngồi đan chẳng nói chẳng rằng. Toàn bộ sự việc này phần nào giống như một cơn ác mộng. Gió đang mạnh dần lên, mưa bắt đầu quật vào ô cửa sổ, và dường như bao thế hệ Murray đã yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng đang từ những khung ảnh tối màu nhìn xuống bằng ánh mắt khiển trách. Họ không hề cảm thông với những ánh chớp, những cuốn sổ Jimmy cũng như những con đường Alps; không hề cảm thông với nỗ lực theo đuổi những thứ cao sang thần thánh dù cám dỗ nhưng chẳng mấy thuận tai quen mắt. Nhưng, bất chấp cảm giác thất vọng đang chất chứa trong lòng, Emily vẫn không thể không nghĩ rằng tình huống này mà được vận dụng vào một cảnh bi kịch trong tiểu thuyết thì thật tuyệt vời biết nhường nào.

    Cửa mở và ông Jimmy khẽ khàng bước vào. Ông Jimmy đã biết rõ sắp có chuyện gì và nãy giờ vẫn chủ tâm bình tĩnh lắng nghe đằng sau cánh cửa. Ông biết Emily sẽ không đời nào hứa hẹn một chuyện như thế; ông từng nói với bà Elizabeth như vậy tại cuộc họp gia đình mười ngày trước. Ông chỉ là đơn giản là Jimmy Murray, nhưng ông hiểu một điều mà bà Elizabeth Murray khôn ngoan không tài nào hiểu được.

    Nguồn ebooks: http://www.luv-ebook.com

    “Có chuyện gì vậy?” ông hỏi, đưa mắt từ người này sang người kia.

    “Chẳng có chuyện gì cả,” bà Elizabeth ngạo mạn nói. “Ta vừa đề nghị sẽ cho Emily đi học, và con bé đã từ chối rồi. Tất nhiên, con bé muốn làm gì thì cứ tùy ý thôi.”

    “Ai mà tùy ý nổi khi sau lưng có đến cả nghìn bậc tổ tiên chứ,” ông Jimmy nói bằng chất giọng kỳ dị vốn vẫn được ông sử dụng mỗi lần nói đến những vấn đề kiểu này. Cách nói đó lần nào cũng khiến bà Elizabeth rùng cả mình; bà không bao giờ có thể quên được sự kỳ dị của ông chính do lỗi của bà mà ra cả. “Emily không thể hứa như chị mong muốn được. Cháu có hứa được không, Emily?”

    “Không ạ.” Cho dù đã cố kiềm chế, hai giọt nước mắt to tướng vẫn lăn xuống hai bên má Emily.

    “Nếu cháu có thể,” ông Jimmy nói, “cháu sẽ hứa chuyện đó vì ta chứ, đúng không?”

    Emily gật đầu.

    “Chị đòi hỏi quá đáng quá, Elizabeth,” ông Jimmy nói với người phụ nữ đang giận dữ ngồi đan. “Chị đòi hỏi con bé phải từ bỏ hoàn toàn đam mê viết lách… này nhé, giả sử chị chỉ yêu cầu nó từ bỏ một phần nào đó thôi thì sao… Emily này, nếu bác ấy chỉ yêu cầu cháu từ bỏ một phần nào đó thôi thì sao? Cháu có thể làm được không?”

    “Một phần nào là sao ạ?” Emily thận trọng hỏi.

    “Chà, ví như bất kỳ thứ gì không phải sự thực chẳng hạn.” Ông Jimmy rụt rè bước đến chỗ Emily rồi đặt một bàn tay lên vai cô vẻ khẩn nài. Bà Elizabeth vẫn không ngơi tay đan, nhưng đường đan đã chậm rãi hẳn lại. “Ví như những câu chuyện chẳng hạn, Emily. Bác ấy đặc biệt không thích những câu chuyện cháu sáng tác ra. Bác ấy nghĩ chúng chỉ thuần là dối trá. Bác ấy không mấy quan tâm đến những thứ khác. Cháu không nghĩ là cháu có thể từ bỏ việc viết truyện trong ba năm sao, Emily? Được học tập là một điều tuyệt vời. Chỉ vì muốn được đi học mà bà Archibald của cháu đã phải tằn tiện vất vả lắm đấy; ta đã nghe bà kể lại chuyện đó không ít lần rồi. Thế nào, Emily?”

    Emily nghĩ nhanh trong đầu. Cô thích sáng tác truyện: thật khó lòng từ bỏ việc đó. Nhưng nếu mỗi khi cảm hứng dâng trào, cô vẫn có thể viết lại bằng thơ những tưởng tượng bay bổng của mình… và còn cả những phác thảo nhân vật khác thường trong cuốn sổ Jimmy… ghi chép về các sự kiện xảy ra trong ngày… dí dỏm… châm biếm… bi thảm… thì có lẽ cô vẫn có thể chịu đựng được.

    “Thử thuyết phục bác ấy đi, thử thuyết phục đi,” ông Jimmy thì thầm. “Xoa dịu bác ấy một chút. Cháu nợ bác ấy nhiều lắm, Emily ạ. Nhượng bộ bác ấy đi.”

    “Bác Elizabeth,” Emily rụt rè nói. “Nếu bác cho cháu đến Shrewsbury, cháu hứa trong vòng ba năm sẽ không viết bất cứ thứ gì không đúng sự thực. Thế có được không ạ? Bởi vì cháu chỉ có thể hứa được đến thế thôi.”

    Bà Elizabeth đan nốt hai vòng tất nữa rồi mới hạ cố đáp lời. Cả ông Jimmy lẫn Emily đều tưởng bà sẽ chẳng thèm đáp lại. Ấy thế nhưng bà đột nhiên gấp hết đồ đan lại và đứng dậy.

    “Rất tốt. Cứ làm như thế đi. Tất nhiên, ta phản đối nhiều nhất là những câu chuyện của cháu: về những thứ còn lại, ta nghĩ là bác Ruth sẽ chăm lo cẩn thận khiến cháu chẳng còn thời gian đâu mà lãng phí vào chúng nữa.”

    Bà Elizabeth đường bệ bước ra ngoài, lòng thầm nhẹ nhõm vô cùng vì bà đã không phải gánh chịu thất bại thảm hại, mà vẫn được chiếu cố để có thể rút lui trong danh dự khỏi một tình huống phức tạp. Ông Jimmy vỗ vỗ mái đầu đen nhánh của Emily.

    “Tốt lắm, Emily. Cháu biết đấy, bướng bỉnh quá là không được. Và ba năm có phải là cả đời đâu, mèo con.”

    Không phải là cả đời thật: nhưng đối với một đứa trẻ mới mười bốn tuổi đầu thì cũng có khác gì đâu. Tối đó, lúc đã lên giường, Emily khóc thầm cho tới tận khi chìm vào giấc ngủ; và rồi, tỉnh dậy lúc ba giờ sáng, giữa đêm khuya tối đen như mực, gió vần vũ thét gào trên bãi biển phương Bắc không biết đã qua bao đời người, cô nhỏm dậy, thắp một ngọn nến rồi ngồi vào bàn, mô tả lại toàn bộ cảnh huống này trong cuốn sổ Jimmy; cân nhắc từng từ từng chữ cốt sao cho không lời nào viết ra lại không phản ánh nghiêm ngặt thực tế!
     
  7. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 6: Những ngày đầu ở Shrewsbury
    Teddy, Ilse và Perry reo lên mừng rỡ khi Emily báo tin cô sẽ tới Shrewsbury. Ngẫm đi ngẫm lại, Emily cũng thấy khá vui. Điều tuyệt vời là cô sẽ được học trung học. Cô không hào hứng gì với chuyện phải ăn nhờ ở đậu tại nhà bà Ruth. Đây là chuyện không ngờ mà tới. Cô vẫn cho rằng bà Ruth sẽ không đời nào sẵn lòng chấp nhận cho cô ở cạnh, và cô cũng luôn đinh ninh rằng nếu có quyết định cho cô đến Shrewsbury chăng nữa thì bà Elizabeth hẳn cũng sẽ cho cô trọ ở chỗ khác… có thể là với Ilse. Chắn chắn, cô thích phương án này hơn nhiều. Cô biết khá rõ cuộc sống sẽ chẳng thể dễ dàng khi sống dưới mái nhà bà Ruth. Ấy là chưa kể cô còn không được phép viết truyện nữa.

    Cảm thấy nỗi khát khao sáng tạo thiêu đốt trong tâm nhưng lại bị cấm thể hiện ra ngoài; nỗi vui mừng râm ran khi thai nghén được trong óc những nhân vật hài hước hay đầy kịch tính, ấy vậy nhưng lại bị cấm mang lại sự sống cho chúng; đột nhiên choáng ngợp bởi ý tưởng về một cốt truyện xuất sắc, ấy vậy nhưng ngay lập tức lại nhận ra rằng ta chẳng thể phát triển nó được. Toàn bộ những điều này chính là một sự tra tấn chẳng ai có thể ý thức được, ngoại trừ những người có khao khát sáng tác bẩm sinh. Hết thảy các bà Elizabeth trên đời này cũng chẳng bao giờ hiểu được điều đó. Với họ, đây chỉ được coi là sự ngu ngốc thuần túy.

    Hai tuần cuối tháng Tám ấy, trang trại Trăng Non chìm trong bầu không khí tất bật. Bà Rlizabeth và bà Laura bàn đi bàn lại không biết bao nhiêu lần về chuyện váy vóc của Emily. Cô phải có trang phục không làm mất thể diện nhà Murray, nhưng một tiêu chuẩn chọn lựa nữa là phải mang tính thường thức và không thời thượng. Bản thân Emily không được đóng góp ý kiến trong vấn đề này. Một hôm, bà Laura và bà Elizabeth đã tranh luận “từ giữa trưa cho tới tận chiều tối ướt đẫm sương” về việc liệu Emily có được phép có một chiếc áo lụa hay không – Ilse có ba cái – rồi cuối cùng quyết định bỏ phiếu chống trước nỗi thất vọng vô bờ của Emily. Nhưng bà Laura có cách nghĩ riêng liên quan đến cái mà bà không dám gọi thẳng ra là “váy dạ hội”, vì chỉ cần bà Elizabeth nghe thấy cái tên đó thôi thì số phận của nó sẽ được định đoạt xong xuôi vô phương cứu vãn: cái váy bằng vải sa xinh đẹp vô cùng, màu xám phớt hồng – tôi cho rằng đây chính là cái sắc màu mà thời đó người ta gọi là tro của hoa hồng; không cổ – quả là một bước nhượng bộ vĩ đại của bà Elizabeth; với hai ống tay áo phồng to ắt hẳn vào thời này sẽ khiến người ta thấy chướng mắt lắm, nhưng vào thời đó, giống như mọi xu hướng thời trang khác, lại vừa đẹp vừa duyên khi được khoác trên người một cô gái xinh xắn. Đây là cái váy đẹp nhất Emily từng có trong đời; và lại còn dài nhất nữa, một đặc điểm mang ý nghĩa vô cùng lớn lao vào thời kỳ đó, vì người ta chỉ được coi là trưởng thành khi đã được mặc váy “dài”. Váy dài chấm đôi mắt cá chân xinh đẹp của cô.

    Một tối, trong lúc và Laura và bà Elizabeth đều đang đi vắng, cô đã mặc chiếc váy đó, bởi hy vọng chú Dean sẽ được nhìn thấy cô trong trang phục này. Ông dành cả buổi tối đến chơi cùng cô – ngày hôm sau ông sẽ khời hành, quyết định lên đường đi Ai Cập – và họ cùng dạo bước trong vườn. Emily cảm thấy mình chín chắn và sành điệu hẳn, vì cô phải nhấc cái chân váy đẹp lung linh lên để không dính vào đám cỏ hoàng yến. Cô quấn quanh đầu chiếc khăn nhỏ màu hồng phớt xám, và dưới con mắt của ông Dean thì cô quả là giống một vì sao hơn bao giờ hết. Hai con mèo đi hộ tống – Daffy, chú mèo mướp lông bóng mượt và Sal Ngổ Ngáo, cho đến giờ vẫn đang nắm quyền thống trị trên khắp các kho chuồng ở trang trại Trăng Non. Bọn mèo đến rồi lại đi, nhưng Sal Ngổ Ngáo thì mãi mãi vẫn luôn ở đó. Hai con mèo tung tăng đùa nghịch trên các luống cỏ, núp sau các bụi hoa rậm rạp rồi nhảy chồm lên người nhau, luồn lách chạy quanh chân Emily. Ông Dean sắp đi Ai Cập, nhưng ông hiểu rõ mười mươi rằng cho dù ở bất cứ nơi nào, thậm chí ngay giữa bầu không khí mê hoặc huyền bí của những đế quốc đã chìm vào quên lãng, ông cũng không chứng kiến được bất cứ điều gì khiến ông thích thú hơn bức tranh tuyệt đẹp mà Emily và đàn mèo con đã khắc họa nên trong khu vườn Trăng Non lâu đời trang nghiêm ngào ngạt hương hoa này.

    Họ không trò truyện hào hứng như thường lệ, và sự im lặng dệt nên một bầu không khí có phần kỳ dị giữa hai người. Đã từng có một đôi lần, trong cơn bốc đồng, ông Dean bất chợt nảy sinh cái khao khát điên rồ được vứt hẳn chuyến đi Ai Cập sang một bên mà ở lại nhà hết cả mùa đông; có lẽ sẽ tới Shrewsbury; ông nhún vai cười nhạo chính mình. Cô nhóc này đâu cần ông chăm lo cơ chứ… các quý bà quý cô ở trang trại Trăng Non là những người giám hộ cực kỳ hiệu quả. Cô vẫn chỉ là một đứa trẻ, bất chấp vóc dáng cao ráo mảnh mai và đôi mắt sâu thăm thẳm. Nhưng cái ngấn cổ trắng ngần của cô mới hoàn hảo làm sao chứ… cái viền môi cong cong đỏ thắm ngọt ngào kia mới quyến rũ biết nhường nào. Chẳng mấy chốc mà cô sẽ thành một người phụ nữ; nhưng không phải người phụ nữ dành cho ông; không phải dành cho gã Lưng Bình Priest khập khiễng vốn cùng thế hệ với cha cô. Đã hàng trăm lần, ông Dean tự nhắc nhở bản thân đừng biến mình thành một gã ngốc. Ông phải lấy làm thỏa mãn với những gì số phận đã trao cho ông – tình bạn và tình thương mếm của ngôi sao thanh tú này. Nhiều năm sau, tình yêu của cô sẽ là một điều kỳ diệu – dành cho một người đàn ông nào đó khác. Chắc chắn, ông Dean ấm ức nghĩ, cô sẽ lại lãng phí nó cho một gã lùn tốt mã nào đó trên thực tế sẽ chẳng xứng đáng nhận một nửa tình cảm đó.

    Emily đang nghĩ không biết cô sẽ nhớ ông Dean da diết đến nhường nào; cô sẽ nhớ ông hơn bao giờ hết. Mùa hè đó, họ đã bầu bạn thân thiết xiết bao. Bất kể lần nào chuyện trò cùng ông, dẫu chỉ trong vài phút ngắn ngủi, cô cũng đều có cảm giác cuộc sống của mình trở nên phong phú hơn nhiều. Những câu châm ngôn thông minh, hóm hỉnh, hài hước và đẫm chất tròa phúng của ông luôn đáng cho người khác học hỏi. Chúng khơi dậy sự quan tâm; khiêu khích và truyền cảm hứng cho cô. Những câu ngợi khen thảng hoặc của ông giúp cô tự tin hơn. Ông luôn cuốn hút cô theo một cách lạ kỳ mà không ai trên thế giới này có thể làm được. Cô cảm nhận được điều đó, nhưng cô không tài nào phân tích cho rõ ràng được. Còn Teddy… cô ý thức được rõ ràng tại sao cô lại yêu quý Teddy. Chỉ đơn thuần xuất phát từ cái chất Teddy riêng của cậu thôi. Và Perry nữa… Perry là một cậu nhóc rám nắng tinh quái, vui nhộn, tính tình bộc trực và huênh hoang mà dù có cố ta cũng chẳng thể nào không yêu quý được. Nhưng ông Dean thì khác. Liệu có phải sức mê hoặc của ông bắt nguồn từ sự hấp dẫn của những điều chưa biết; của trải nghiệm; của sự hiểu biết khôn ngoan; của một trí tuệ được mài giũa mỗi ngày một thêm sắc sảo nhờ bao cay đắng đã trải qua trong cuộc đời; hay của những điều ông Dean biết rõ trong khi có thể cô sẽ chẳng bao giờ biết? Emily không sao trả lời được. Cô chỉ biết rằng nếu đem so sánh với ông Dean, tất cả những người khác đều có phần hơi nhạt nhẽo; thậm chí ngay cả Teddy cũng vậy, dù cô yêu quý cậu nhất. Ôi chao, đúng vậy, Emily không bao giờ mảy may nghi ngờ gì chuyện cô yêu quý Teddy nhất. Tuy nhiên, có vẻ như ông Dean lại thỏa mãn được phần nào bản chất tinh tế và phức tạp của cô mà nếu không có ông thì lúc nào nó cũng luôn trong tình trạng đói khát.

    “Cảm ơn chú vì tất cả những gì chú đã dạy cho cháu, chú Dean ạ,” cô nói khi hai chú cháu dừng lại đứng bên cái đồng hồ mặt trời.

    “Lẽ nào cháu nghĩ rằng cháu chẳng dạy ta điều gì cả, hả Sao Trời?”

    “Làm sao có thể chứ? Cháu nhỏ như thế, ngây ngô như thế…”

    “Cháu đã dạy ta cách cười không nhuốm vị cay đắng. Ta hy vọng cháu sẽ không bao giờ nhận ra đó là một ân huệ lớn lao đến mức nào. Đừng để người ta làm hư cháu ở Shrewsbury nhé, Sao Trời. Cháu đang quá háo hức vì được đi đến đó nên ta chẳng muốn dội một gáo nước lạnh vào làm gì. Nhưng ở Trăng Non này, cháu sẽ sống sung túc… dễ chịu hơn nhiều.”

    “Chú Dean! Cháu muốn được học gì đó…”

    “Học hành! Học hành đâu đồng nghĩa với việc bị nhồi sọ bằng môn đại số và thứ tiếng Latin hạng hai. Ông cụ Carpenter có thể dạy cháu nhiều hơn và bổ ích hơn hết thảy những tay mơ, cả nam lẫn nữ, ở trường trung học Shrewsbury.”

    “Ở đây, cháu không thể tiếp tục đến trường được nữa,” Emily phản đối. “Cháu sẽ cô đơn lắm. Tất cả học sinh tầm tuổi cháu nếu không tới Queen hay Shrewsbury thì cũng sẽ ở nhà. Cháu không hiểu nổi chú, Dean ạ. Cháu cứ tưởng chú sẽ lấy làm mừng vì các bác ấy cho phép cháu đến Shrewsbury chứ.”

    “Ta mừng chứ… vì điều đó mang lại niềm vui cho cháu. Chỉ có điều…những tri thức mà ta mong muốn cháu tiếp tục thu được sẽ chẳng hề được dạy trong các trường trung học, và cũng chẳng thể đo lường được bằng các bài thi cuối kỳ. Cho dù cháu có thu hoạch được bất kỳ điều giá trị nào ở bất kỳ trường học nào đi chăng nữa, thì đó cũng là nhờ cháu phải tự mình tìm tòi. Đừng để người ta biến cháu trở nên khác với con người thật của mình, thế thôi. Ta không nghĩ là họ sẽ làm được thế đâu.”

    “Không, họ không làm thế được đâu ạ,” Emily quả quyết. “Cháu cũng giống như con mèo trong truyện của Kipling ấy – cháu bước đi trong sự cô đơn tự do, và vẫy cáo đuôi tự do mỗi khi đến nơi nào khiến cháu hài lòng. Bởi vậy nên những người nhà Murray mới nhìn cháu bằng ánh mắt ngờ vực như thế. Mọi người nghĩ là lẽ ra cháu lúc nào cũng nên có bầy đàn. Ôi chú Dean, chú sẽ viết thư thường xuyên cho cháu chứ? Chẳng ai hiểu cháu được như chú. Và cháu đã quen với sự hiện diện của chú quá rồi, đến nỗi chẳng thể nào thiếu vắng chú được.”

    Emily nói – và nghĩ trong lòng – về điều này một cách khá đơn giản, nhưng khuân mặt xương xương của ông Dean đỏ bừng lên. Họ không chào tạm biệt nhau – theo đúng như thỏa thuận bấy lâu giữa hai người. Ông Dean vẫy tay chào cô.

    “Chúc cháu mỗi ngày đều may mắn,” ông nói.

    Emily chỉ trao cho ông nụ cười chậm rãi huyền bí quen thuộc của mình…ông đã đi rồi. Khu vườn có vẻ cô đơn biết bao dưới ánh chiều tà xanh nhạt, với những cây trúc đào đang bung hoa trắng xóa như những bóng ma thấp thoáng chỗ này một ít, chỗ kia một ít. Cô vô cùng mừng rỡ khi nghe tiếng huýt sáo của Teddy vang lên trong rừng cây bụi của ông John Ngạo Mạn.

    Vào buổi tối cuối cùng trước khi xa nhà, cô đã tới thăm thầy Carpenter và xin thầy góp ý về mấy bản thảo cô để lại cho thầy đọc và phê bình tuần vừa rồi. Trong số đó có mấy câu chuyện mới nhất, được cô sáng tác ngay trước khi bà Elizabeth đưa ra tối hậu thư. Riêng về vụ phê bình thì thấy Carpenter lúc nào cũng rất sẵn lòng đóng góp ý kiến, và lần nào thầy cũng nói thẳng thừng chẳng chút kiêng nể gì; nhưng thầy rất công bằng, và Emily luôn tin tưởng vào những nhận định của thầy, ngay cả khi thầy nói những điều nhất thời như dao sắc cứa vào tâm hồn cô.

    “Câu chuyện tình này chẳng có gì hay ho cả,” thầy nói thẳng thừng.

    “Con cũng biết đây không phải câu chuyện con muốn viết,” Emily thở dài.

    “Chẳng có câu chuyện nào tuân theo ý muốn hết,” thầy Carpenter nói. “Trò sẽ không bao giờ viết được thứ gì có thể khiến trò thực sự hài lòng, cho dù nó có thỏa mãn những người khác đi chăng nữa. Về chuyện tình yêu, trò không thể sáng tác chúng được, vì trò không thể cảm nhận được chúng. Đừng cố gắng viết bất cứ thứ gì trò không thể cảm nhận được… rồi sẽ thành thất bại thôi…’những tiếng vọng chẳng có giá trị gì hết’. Này, còn câu chuyện này nhé, chuyện về bà cụ này này. Cũng không đến nỗi nào. Hội thoại thông minh đấy…thắt nút đơn giản và ấn tượng. Và ơn Chúa, trò có khiếu hài hước đấy. Theo ta thì đó là lý do chủ yếu khiến trò không giỏi viết truyện tình yêu. Chẳng người nào có thể viết được truyện tình yêu nếu người ta không có khiếu hài hước đích thực.”

    Emily không hiểu tại sao lại vậy. Cô thích viết truyện tình…và chúng là những câu chuyện bi thương ủy mị vô cùng.

    “Shakespeare có thể đấy chứ ạ,” cô bướng bỉnh đáp.

    “Trò khó lòng được xếp vào cùng đẳng cấp với Shakespeare,” thầy Carpenter nói khô khốc.

    Emily đỏ bừng hết mặt mày.

    “Con biết là con không được như thế. Nhưng chính thầy nói là chẳng có ai mà.”

    “Và ta vẫn giữ ý kiến đó. Shakespeare là ngoại lệ càng làm sáng tỏ quy tắc này. Mặc dù chắc chắn khiếu hào hước của ông ấy không được vận dụng khi ông ấy viết Romeo và Juliet. Tuy nhiên, hãy quay lại với Emily ở trang trại Trăng Non nào. Câu chuyện này – chà, một người trẻ tuổi nếu vẫn chưa bị ô uế thì có thể đọc truyện này.”

    Dựa vào cách uốn giọng của thầy Carpenter, Emily ý thức được thầy không đánh giá cao câu chuyện cô viết. Cô giữ im lặng trong lúc thầy Carpenter nói tiếp, phẩy tay gạt những bản thảo quý giá của cô sang bên chẳng chút e dè.

    “Cái này xem chừng na ná tác phẩm bắt chước một cách kém cỏi phong cách Kipling. Dạo gần đây trò đọc truyện của ông ấy hả?”

    “Vâng ạ.”

    “ Ta cũng đoán thế. Đừng cố bắt chước Kipling. Nếu nhất thiết phải bắt chước, thì bắt chước Laura Jean Libbey ấy. Ngoại trừ tên truyện ra thì cái này chẳng có gì hay ho cả. Một câu chuyện hư cấu vặt vãnh sặc mùi đọa đức giả. Và Tài sản chôn vùi không phải là một câu chuyện; nó chỉ là cái máy. Nó kêu cót két. Không một giây một phút nào nó có thể khiến ta quên đi thực tế nó là một câu chuyện. Bởi vậy nên nó không phải một câu chuyện.”

    “Con đang cố viết một truyện sát với thực tế,” Emily cãi lại.

    “Ái chà, đó mới chính là lý do. Tất cả chúng ta đều nhìn cuộc sống thông qua một ảo tưởng – ngay cả với người bị vỡ mộng nhiều nhất trong chúng ta. Chính vì vậy, nếu các sự kiện quá sát với thực tế thì chúng sẽ chẳng thuyết phục được ai hết. Để xem nào – Gia đình Madden – lại thêm một nỗ lực bám vào chủ nghĩa hiện thực nữa. Nhưng nó chỉ là bức ảnh chụp chứ không phải chân dung.”

    “Những chuyện thầy vừa nói chẳng thuận tai chút nào,” Emily thở dài.

    “Nếu chẳng ai nói bất cứ điều gì không thuận tai thì thế giới này ắt hẳn sẽ dễ chịu lắm, nhưng nó cũng sẽ rất nguy hiểm,” thầy Carpenter bắt bẻ lại. “Trò đã nói với ta trò muốn nghe phê bình chứ không cần lời đường mật. Tuy nhiên, cũng có đôi chút đường mật dành cho trò đây. Ta đã giữ nhận xét này để nói sau cùng. Chút khác biệt tương đối ổn, và nếu không sợ làm hỏng trò thì ta hẳn sẽ nói rằng nó quả là xuất sắc. Sau mười năm nữa, trò có thể viết lại truyện này và biến nó thành một tác phẩm ra trò. Đúng vậy, mười năm… đừng có nhăn mặt, Ngọc Bích. Trò có tài năng; và trò có sự nhạy cảm ngôn ngữ tuyệt vời… lần nào trò cũng tìm được cách dùng từ đắt nhất… đó là món quà vô giá. Nhưng trò cũng phạm phải một vài lỗi tệ hại. Những chỗ in nghiêng này này… chừa cái thói ấy đi, Ngọc Bích, chừa cái thói ấy đi. Và một khi đã xa rời hiện thực thì trò phải kiềm chế trí tưởng tượng của mình chứ.”

    “Giờ thì nó bị kiềm chế rồi đấy ạ,” Emily ủ rũ nói.

    Cô kể lại cho ông nghe về thỏa thuận giữa cô và bà Elizabeth. Thầy Carpenter gật gật đầu.

    “Tuyệt.”

    “Tuyệt!” Emily nhắc lại, giọng vô hồn.

    “Phải. Đó đúng là thứ trò cần đấy. Nó sẽ dạy trò cách kiềm chế và tiết kiệm. Trong ba năm ấy, hãy bám sát hiện thực và thử xem trò có thể hiểu gì về chúng. Hãy để cho vương quốc tưởng tượng được yên mà bám chặt vào cuộc sống bình thường.”

    “Làm gì có cái gọi là cuộc sống bình thường chứ ạ,” Emily nói.

    Thầy Carpenter nhìn cô một lúc lâu.

    “Trò nói đúng… quả là không có,” thầy nói chậm rãi. “Nhưng người ta vẫn luôn băn khoăn vì ta hiểu về điều đó mới ít ỏi làm sao. Chà, cứ tiếp tục đi…tiếp tục đi…cứ đi theo con đường trò đã chọn… và tạ ơn thần thánh vì đã cho trò tùy ý bước trên con đường đó.”

    “Bác Jimmy nói chẳng ai có thể làm gì tùy ý khi sau lưng có đến cả nghìn bậc tổ tiên.”

    “Ấy vậy mà người ta cứ bảo ông ấy ngốc nghếch đấy,” thầy Carpenter lầm bầm. “Tuy nhiên, có vẻ như các bậc tổ tiên của trò không đặt cho trog một lời nguyền đặc biệt nào. Họ chỉ đơn giản đặt ra cho trog mục tiêu hướng tới các đỉnh cao, và họ sẽ chẳng đời nào để trò sống thanh thản khi vẫn chưa thực hiện được điều đó. Cứ gọi nó là tham vọng đi…hay khát vọng…cacoethes scribendi…muốn gọi là gì cũng được. Dưới sự khiêu khích… hay sự quyến rũ của nó… người ta phải không ngừng leo lên cao…cho tới khi thất bại… hoặc…”

    “Thành công,” Emily nói, hất mái tóc đen nhánh ra đằng sau.

    “Amen,” thầy Carpenter nói.

    Tối đó Emily viết một bài thơ – Tạm biệt Trăng Non, nước mắt ướt đẫm trên từng con chữ. Từng câu từng dòng như thấm vào trong lòng cô. Thật tuyệt vời xiết bao khi được đến trường… nhưng cô lại phải rời xa trang trại Trăng Non yêu dấu! Mọi thứ ở Trăng Non đều gắn bó với cuộc sống và tâm hồn cô… là một phần máu thịt của cô.

    “Không phải chỉ có mình cô yêu căn phòng, cây cối và những rặng đồi… chính chúng cũng yêu mình,” cô nghĩ.

    Cái va ly nhỏ màu đen của cô đã chật ních đồ. Bà Elizabeth đã coi sóc để mọi món đồ cần thiết đều được cất vào đó, trong khi bà Laura và ông Jimmy thì để ý sao cho ngay cả một vào món đồ không thật sự cần thiết cũng được đóng gói theo. Bà Laura đã bảo Emily rằng cô sẽ tìm thấy một đôi tất ren màu đen cất trong đôi dép quai hậu – ngay cả bà Laura cũng chẳng dám liều đến mức chọn tất lụa – còn ông Jimmy cho cô ba cuốn sổ Jimmy kèm với một chiếc phong bì bên trong có đồng năm đô la.

    “Để mua bất cứ thứ gì cháu muốn, Mèo Con ạ. Nhẽ ra ta định bỏ mười đô cơ, nhưng bác Elizabeth chỉ cho ta ứng trước năm đô tiền lương tháng tới thôi. Có lẽ bác ấy cũng đoán ra được.”

    “Nếu có thể tìm ra cách kiếm được mấy con tem của Mỹ thì cháu có được phép lấy một đô để mua chúng không ạ?” Emily hồi hộp nói nhỏ.

    “Cháu thích mua gì cũng được,” ông Jimmy kiên định nhắc lại, mặc dù ông vẫn chẳng thể hiểu nổi tại sao lại có người thích mua mấy con tem của Mỹ chứ. Nhưng nếu Emily muốn mua tem Mỹ, thì cô cũng nên có tem Mỹ.

    Ngày hôm sau trôi qua giống y như một giấc mơ đối với Emily… con chim véo von trong rừng cây bụi nhà ông John Ngạo Mạn khi cô tỉnh giấc lúc bình minh… hành trình tới Shrewsbury trong buổi sáng mát lành đầu tháng Chín… màn đón chào lạnh nhạt của bà Ruth… khoảng thời gian trong một ngôi trường lạ… tổ chức ở các lớp năm nhất… về nhà ăn tối… chắc chắn bằng đấy việc chẳng thể chỉ gói gọn trong một ngày được.

    Nhà bà Ruth nằm cuối một con ngõ trong khi dân cư, mấp mé vùng nông thôn. Emily nghĩ ngôi nhà thật xấu kinh lên được, trang trí lờ loẹt đủ các thể loại hầm bà lằng. Nhưng ở Shrewsbury, chẳng có gì ngoài một bãi cỏ nhỏ trơ trụi, khô khan; nhưng có một thứ Emily vừa nhìn thấy đã thích. Phía sau ngôi nhà là một bãi đất rộng với những cây linh sam mảnh mai cao vút – những cây linh sam mảnh dẻ nhất, thẳng tăm tắp và cao chót vót nhất mà cô từng nhìn thấy, trải về đằng sau nhà hòa vào trong một cảnh sắc mơ màng sanh ngắt dài vô tận.

    Bà Elizabeth ở Shrewsbury cả ngày, mãi đến sau bữa tối mới về nhà. Ra đến ngưỡng cửa, bà bắt tay Emily, nhắn nhủ cô hãy tỏ ra ngoan ngoãn và phải tuyệt đối làm theo lệnh bà Ruth. Bà không hôn Emily, nhưng so với bình thường thì giọng bà Elizabeth đặc biệt dịu dàng. Emily đứng trên ngưỡng cửa, nước mắt đầm đìa, nghẹn ngào nhìn theo cho đến khi bóng dáng bà Elizabeth đã khuất khỏi tầm mắt – bà Elizabeth đang quay về trang trại Trăng Non dấu yêu.

    “Vào nhà đi thôi,” bà Ruth nói, rồi thêm “và xin cháu đừng có đóng sầm cửa lại đấy.”

    Ơ này, Emily có bao giờ đóng sầm của đâu.

    “Chúng ta sẽ rửa bát đĩa ăn lúc tối,” bà Ruth nói. “Từ rày về sau ngày nào cháu cũng phải làm thế đấy. Ta sẽ chỉ cho cháu chỗ để đồ đạc. Chắc bà Elizabeth đã bảo cháu là ta muốn cháu làm vài việc nội trợ lặt vặt để đổi lại việc trọ ở đây.”

    “Vâng,” Emily đáp ngắn gọn.

    Cô không lăn tăn chuyện phải làm việc nhà, nhiều đến đâu cũng thế… nhưng chính giọng điệu của bà Ruth mới gây khó chịu.

    “Tất nhiên cháu mà ở đây thì chi phí sinh hoạt của ta sẽ đội lên rất nhiều,” bà Ruth tiếp tục. “Nhưng cũng là chuyện hợp tình hợp lý khi tất cả chúng ta cùng phải đóng góp nuôi dưỡng cháu. Ta cho là, và lúc nào ta cũng nghĩ như vậy, đáng ra sẽ tốt hơn nhiều nếu cho cháu đến trường Queen để kiếm cái chứng chỉ làm giáo viên.”

    “Cháu cũng muốn thế,” Emily nói.

    “Hừm.” Bà Ruth bĩu môi. “Ra là thế. Nếu vậy thì ta thật không hiểu nổi tại sao bác Elizabeth lại không cho cháu đến Queen. Xét trên nhiều phương diện khác thì ta dám chắc bà ấy đã chiều chuộng cháu quá đủ rồi… ta vẫn cho rằng nếu bà ấy nghĩ cháu thực lòng mong muốn điều này thì kiểu gì bà ấy chẳng nhân nhượng. Cháu sẽ ngủ ở buồng bếp. Mùa đông chỗ đó ấm hơn những phòng khác. Trong đó không có khí đốt, nhưng dù sao đi nữa thì ta cũng chẳng đủ khả năng sắm khí đốt để cho cháu học hành. Cháu phải dùng nến thôi; mỗi lần dùng hai cây cũng được. Ta muốn cháu giữ phòng riêng gọn gàng ngăn nắp và có mặt ở đây để ăn cơm đúng vào giờ giấc ta đã đề ra. Ta cực kỳ để ý đến chuyện này đấy. Còn một việc nữa mà cháu cũng cần phải hiểu ngay lập tức. Cháu không được phép đưa bạn bè về đây. Ta không có ý định mua vui cho bọn chúng đâu.”

    “Ilse cũng không được ạ, hay Perry, hay Teddy cũng vậy ạ?”

    “Chà, Ilse là một người nhà Burnley và cũng có quan hệ xa. Con bé thỉnh thoảng đến cũng được, không có chuyện lúc nào cũng chạy lăng quăng ở đây đâu nhé. Theo những gì ta nghe được thì con bé không phải một người bạn đồng hành phù hợp với cháu lắm. Về phần đám con trai… chắc chắn là không. Ta chẳng biết gì về Teddy Kent, và cháu phải thấy đủ tự trọng để đừng có mà giao du với Perry Miler.”

    “Cháu đủ tự trọng để giao du với cậu ấy,” Emily vặc lại.

    “Đừng có xấc xược với ta, Em’ly. Cháu cần phải hiểu ngay bây giờ rằng ở đây, cháu sẽ không được phép thích làm gì thì làm như khi cháu ở trang trại Trăng Non đâu. Cháu bị chiều quá hóa hư rồi. Nhưng ta sẽ không cho phép những thằng bé làm thuê được đến thăm cháu gái ta. Rõ là ta không thể hiểu nổi cái sở thích thấp kém đó của cháu từ đâu mà ra. Đến cả cha cháu có vẻ như cũng ra dáng một quý ông đấy chứ. Lên nhà dỡ đồ đạc ra đi. Rồi sau đó học đi. Chúng ta sẽ đi ngủ lúc chín giờ!”

    Emily bừng bừng phẫn nộ. Ngay cả bác Elizabeth cũng chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ cấm Teddy đến trang trại Trăng Non. Cô khóa mình trong phòng và ủ rũ tháo dỡ hành lý. Căn phòng mới xấu xí làm sao chứ. Vừa nhìn là cô đã thấy ghét rồi. Cửa ra vào đóng không chặt; trần nhà dốc thấm mưa lỗ chỗ, sả xuống quá sát giường đến độ giơ tay ra là đã chạm vào được. Sàn nhà trống trơn trải một tấm thảm lớn “thêu móc” khiến Emily nhức cả mắt. Tấm thảm không mang phong cách Muray – nói một cách công bằng thì cũng chẳng phải thị hiếu của bà Ruth Dutton. Một người họ hàng ở quê của ông Dutton quá cố đã tặng nó cho bà. Chính giữa là mảng màu đỏ tươi lòe loẹt, sống sượng, xung quanh là những trang trí hình xoắn ốc màu cam chói mắt và màu xanh lục đậm thái quá. Ở bốn góc thảm là những bó dương xỉ tím và hoa hồng xanh.

    Đồ gỗ trong phòng sơn màu nâu sô cô la trông đến là gớm guốc, bốn bức tường dán loại giấy với hoa văn thậm chí còn gớm guốc hơn nhiều. Các bức tranh cũng mang lại ấn tượng tương tự, đặc biệt là bức thạch bản rực rỡ có hình nữ hoàng Alexandra, nữ trang lấp lánh khắp người, được treo ở một góc độ dễ khiến người ta có cảm giác người phụ nữ vương giả ấy thế nào cũng ngã giập mặt cho xem. Bức thạch bản chẳng thể biến nữ hoàng Alexandra trở nên xấu xí hay tầm thường, nhưng đáng thương thay, cảm giác mà nó mang lại thì cũng chẳng kém cạnh là bao. Trên cái giá hẹp màu nâu sô cô la, có một bình hoa giấy cắm đầy những bông hoa giấy dễ chừng đã hai mươi năm tuổi. Thật chẳng ai có thể tin nổi trên đời này có có bất cứ thứ gì xấu xí và sầu não như chúng.

    “Căn phòng này chẳng thân thiện chút nào… nó không muốn mình… mình sẽ chẳng đời nào tìm được cảm giác thận thuộc thoải mái ở đây,” Emily nói.

    Cô thấy nhớ nhà da diết. Cô muốn những những ánh nến ở Trăng Non tỏa sáng chiếu rọi những cây bu lô… mùi hương của những dãy hoa bia tắm ướt sương… lũ mèo gừ rừ của cô… căn phòng yêu dấu đong đầy ước mơ của cô… sự thính lặng và những bóng đen trong khu vườn cũ… những bài ca oai hùng của sóng gió cất lên giữa vịnh… thứ âm nhạc lâu đời vang vọng mà cô nhớ đến quay quắt giữa sự im lặng của vùng nội địa này. Thậm chí, cô nhớ cả khu nghĩa địa nhỏ vốn là nơi yên nghỉ của những thế hệ Trăng Non quá cố.

    “Mình sẽ không khóc.” Emily siết chặt hai tay. “Bác Ruth sẽ cười nhạo mình cho xem. Mình chẳng thể yêu nổi bất kỳ thứ nào trong này. Liệu bên ngoài có thứ gì không?”

    Cô đẩy cửa sổ lên. Ô cửa trổ ra hướng Nam, mở thẳng ra vạt linh sam, và mùi nhựa thơm bay đến chỗ cô như vuốt ve âu yếm. Phía bên trái, có một khoảng trống giữa rừng cây, làm thành một cái cửa sổ xanh mái vòm, và xuyên sang phía bên kia, người ta sẽ nhìn thấy một khoảnh đất nhỏ chan chứa ánh trăng quyến rũ đến mê người. Và nó cũng dẫn vào khung cảnh hoàng hôn tráng lệ. Phía bên phải trông ra sườn đồi rải rác những mái nhà của cư dân phía Tây Shrewsbury; ngọn đồi lốm đốm ánh đèn giữa ánh chạng vạng ngày thu, đắm chìm trong một vẻ đẹp như miền cổ tích. Đâu đó gần đây, vẳng lại tiếng chim uể oải chắc hẳn của vài chú chim non đang mơ màng buồn ngủ nhún nhảy trên một cành cây sấp bóng.

    “Chao ôi, cảnh tượng này đẹp quá,” Emily thì thào, thò hẳn người ra ngoài để hít căng lồng ngực bầu không khí đượm hương linh sam. “Cha từng bảo mình rằng chỉ cần tìm thấy được một nét gì đẹp đẽ thì con người ta có thể yêu mếm được bất cứ nơi đâu. Mình sẽ yêu nơi này.”

    Nguồn ebook: https://www.luv-ebook.com

    Bà Ruth bất nhờ ngó đầu vào phòng qua cửa ra vào.

    “ Em’ly, sao cháu lại để cái áo ghế kia nằm xộc xa xộc xệch trên sofa phòng ăn thế hả?”

    “Cháu… không… biết,” Emily bối rối nói. Cô thậm chí còn chẳng ý thức được mình đã làm xáo trộn cái áo ghế ấy. Sao bà Ruth lại hỏi cô như thế chứ, cứ như thể bà nghi ngờ cô đang ấp ủ một mưu đồ nham hiểm đen tối khó lường nào đó vậy.

    “Xuống chỉnh nó ngay ngắn lại đi.”

    Đúng lúc Emily ngoan ngoãn xoay người lại thì bà Ruth kêu lên,

    “Em’ly Starr, hạ cửa sổ xuống ngay lập tức! Cháu điên à?”

    “Phòng ngột ngạt quá ạ, “ Emily nài nỉ.

    “Ban ngày thì cháu có thể thông gió được, nhưng mặt trời đã lặn rồi thì đừng có bao giờ mở cái cửa số đó ra. Bây giờ ta chính là người chịu trách nhiệm cho sức khỏe của cháu đấy. Cháu phải biết là người bị lao phổi nhất thiết cần tránh khí đêm và gió lùa chứ.”

    “Cháu không bị lao phổi,” Emily kêu lên phản đối.

    “Tất nhiên là phải cãi rồi.”

    “Mà nếu cháu có bị thật, thì không khí trong lành lúc nào cũng tốt nhất cho cháu. Bác sĩ Burnley đã nói vậy rồi. Cháu ghét cảm giác tù túng lắm.”

    “Những người trẻ tuổi cứ nghĩ người già thật ngốc nghếch, trong khi người già biết rõ bọn trẻ mới ngốc nghếch làm sao.” Bà Ruth cảm thấy nguyên câu cách ngôn đó đã truyền tải hết những gì cần nói rồi. “Đi giũ thẳng cái áo ghế ra đi, Em’ly.”

    “Em’ly” nín nhịn bước đi. Cái áo ghế gây khó chịu được chỉnh lại tư thế chuẩn xác.

    Emily đứng nhìn quanh một lúc. Phòng ăn nhà bà Ruth tháng lệ và “tân thời” hơn hẳn căn “phòng khách” ở Trăng Non, nơi họ vẫn thường tổ chức những bữa ăn “quây quần”. Sàn lát gỗ cứng… thảm Wilton… đồ nội thất bằng gỗ sồi theo phong cách thời Tiền Anh. Nhưng, Emily nghĩ, căn phòng chẳng có được dù chỉ một nửa sự “thân thiện” của căn phòng cổ kính ở Trăng Non. Cô thấy nhớ nhà hơn bao giờ hết. Cô không sao thuyết phục được bản thân tin rằng mình sẽ thích bất kỳ điều gì ở Shrewsbury… việc sống cùng bà Ruth, hay chuyện đi học. So với thầy Carpenter sắc sảo chua cay thì giáo viên ở đây dường như ai nấy đều nông cạn và nhạt nhẽo, chưa kể ở lớp năm hai còn có một đứa con gái mà vừa nhìn cô đã thấy ghét ngay rồi. Ấy vậy mà cô những tưởng quãng đời này sẽ tươi sáng xiết bao… được sống tại Shrewsbury xinh đẹp và đi học trung học. Chà, trên đời đâu có chuyện gì y như ta hằng tưởng tượng đâu, Emily tự nhủ trên đường quay lại phòng, trong tâm trạng bi quan nhất thời. Chẳng phải chú Dean từng có lần kể rằng chú đã dành cả đời ấp ủ mơ ước được chèo thuyền gondola băng qua các dòng kênh Venice dưới đêm trăng sáng sao? Ấy vậy mà đến khi thực hiện được ước mơ đó, thiếu chút nữa chú đã bị bịn muỗi xơi tái.

    Emily nghiễn chặt răng trong lúc mò mẫm bước lên giường.

    “Mình chỉ cần tập trung suy nghĩ vào ánh trăng và không khí lãng mạn, phớt lờ lũ muỗi đi thôi,” cô nghĩ. “Chỉ có điều… bác Ruth châm chích độc địa quá thể.”
     
  8. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 7: Chắp nhặt
    “20 tháng Chín, 19…

    “Dạo gàn đây, tôi thường bỏ bễ cuốn nhật ký của mình. Ở nhà bác Ruth thì người ta chẳng lấy đâu ra nhiều thời gian rảnh rỗi. Nhưng giờ là tối thứ Sáu và cuối tuần này tôi không thể về nhà được, vậy nên tôi đành tìm sự an ủi nơi cuốn nhật ký của mình. Cứ hai tuần một lần tôi mới được về Trăng Non nghỉ cuối tuần. Bác Ruth muốn tôi giúp ‘dọn dẹp nhà cửa’ vào thứ Sáu hàng tuần. Chúng tôi dọn dẹp khắp lượt ngôi nhà suốt từ trên xuống dưới, chẳng màng đến chuyện có cần phải làm thế hay không, y như cách nói của người lang thang khi rửa mặt định kỳ hàng tháng vậy, và rồi đến Chủ nhật sẽ nghỉ ngơi thư giãn, hoàn toàn không động chân động tay làm bất kỳ việc gì.

    “Tối nay, nghe trong không khí có mùi sương giá. Tôi chỉ sợ khu vườn ở Trăng Non sẽ phải oằn mình chống chọi. Bác Elizabeth sẽ bắt đầu chắc mẩm đã đến mùa bỏ căn bếp ngoài trời và mang Waterloo quay trở lại bếp. Bác Jimmy sẽ vừa nấu cám lợn trong vườn cây ăn quả cũ vừa ngâm nga bài thơ do bác sáng tác. Rất có thể Teddy, Ilse và Perry – toàn những người may mắn đều đã được về nhà – sẽ đến đó, và Daff sẽ thơ thẩn xung quanh. Nhưng tôi không được nghĩ về chuyện này nữa. Như thế chỉ làm khuấy động nỗi nhớ nhà thôi.

    “Tôi đang dần thấy yêu mếm Shrewsbury, trường Shrewsbury và các giáo viên ở Shrewsbury – tuy nhiên chú Dean đã nói rất đúng, ở đây tôi chẳng tìm thấy bất cứ ai giống như thầy Carpenter. Các học sinh năm hai và năm cuối đều coi thường đám học sinh năm nhất, và lúc nào cũng tỏ thái độ rất kẻ cả. Một vài người đã ra vẻ bề trên với tôi, nhưng thôi nghĩ chắc họ sẽ chẳng thử làm thế lần nữa đâu – ngoại trừ Evelyn Blake, lần nào gặp tôi cô ta cũng tỏ thái độ kẻ cả, mà chúng tôi lại gặp nhau khá thường xuyên, vì bạn thân của cô ta, Mary Carswell, trọ cùng phòng với Ilse tại nhà bà Adamson.

    “Tôi ghét Evelyn Blake. Điều đó thì chẳng có gì phải nghi ngờ hết. Và cũng chẳng cần phải nghi ngờ chuyện cô ta ghét tôi. Chúng tôi là những kẻ thù bản năng… ngày từ lần đầu gặp gỡ, chúng tôi đã nhìn nhau như hai con mèo xa lạ, và chỉ cần nghĩ thế là đủ. Từ trước đến giờ, tôi chưa từng thực lòng căm ghét ai. Hồi xưa tôi cứ tưởng là có, nhưng bây giờ tôi đã nhận ra đó chỉ là cảm giác không thích thôi. Căm ghét là một thay đổi khá thú vị. Evelyn là học sinh năm hai, cao ráo, khôn ngoan và khá xinh xắn. Cô ta có đôi mắt dài màu nâu nhạt đầy xảo trá và hay nói bằng giọng mũi. Tôi biết cô ta có tham vọng văn chương, và luôn cho rằng mình là cô gái ăn mặc đẹp nhất trường trung học. Có lẽ cô ta đúng là thế thật, nhưng chẳng hiểu sao có vẻ như quần áo của cô ta còn gây được ấn tượng mạnh mẽ với người khác hơn cả bản thân cô ta. Mọi người vẫn chê bôi Ilse bởi ăn mặc quá sang trọng và quá già dặn, nhưng dù sao đi nữa cậu ấy vẫn làm chủ được quần áo của mình. Evelyn thì không thế. Bạn luôn nghĩ đến quần áo của cô ta trước khi nghĩ đến cô ta. Có vẻ như khác biệt nằm ở chỗ Evelyn mặc cho người khác, còn Ilse mặc cho chính bản thân mình. Khi nào quan sát cô ta kỹ càng hơn chút nữa thì tôi sẽ phải viết một bản phác thảo tính cách cô ta mới được. Nó sẽ làm tôi thỏa lòng lắm cho mà xem!

    “Tôi gặp cô ta lần đầu tiên ở phòng của Ilse, và Mary Carswell đã giới thiệu chúng tôi với nhau. Cô ta nhìn xuống tôi – do lớn hơn tôi một tuổi nên cô ta cũng cao hơn tôi một chút – rồi nói,

    “ ‘Ái chà, phải rồi, tiểu thư Starr phải không? Tôi đã nghe dì tôi, phu nhân Henry Blake, kể chuyện về cậu rồi.’

    “Phu nhân Henry Blake chính là cô Brownell hồi xưa. Tôi nhìn thẳng vào mắt Evelyn mà đáp,

    “ ‘Chắc chắn bà Henry Blake đã tô vẽ khá nhiều cho hình ảnh của tôi.’

    “Evelyn bật cười – bằng một kiểu cười tôi chẳng thích chút nào. Nghe cái điệu cười đó, ta sẽ cảm thấy cô ta đang cười chính ta chứ không phải cười cợt điều ta vừa nói.

    “ ‘Cậu không mấy hòa thuận với dì ấy, nhỉ? Theo tôi hiểu thì cậu khá yêu thích văn chương. Cậu viết cho báo nào vậy?’

    “Cô ta hỏi bằng một giọng điệu vô cùng ngọt ngào nhưng cô ta biết rõ rành tôi chẳng viết cho tờ báo nào hết… vẫn chưa.

    “ ‘ Tờ Doanh nghiệp của Charlottetown và tuần báo Thời đại của Shrewsbury,’ tôi đáp lại, toét miệng cười tinh quái. ‘Tôi vừa thỏa thuận với họ xong. Nếu tôi gửi tin cho Doanh nghiệp thì với mỗi mẩu tin, tôi sẽ nhận được hai xu, và hai mười lăm xu một tuần nhờ viết tin xã hội cho tờ Thời đại.’

    “Nụ cười tươi tắn của tôi khiến Evelyn khó chịu. Đáng lẽ ra, học sinh năm nhất không được cười tươi tắn kiểu thế trước mặt các đàn anh đàn chị lớp trên. Chuyện vẫn chưa dừng ở đó.

    “ ‘Ồ, phải rồi, theo tôi hiểu thì cậu phải làm việc để chi trả cho các chi phí sinh hoạt của mình,’ cô ta nói. ‘Chắc hẳn mỗi khoản thi dù nhỏ đến đâu cũng đều hữu ích cả. Nhưng ý tôi muốn nhắc đến những tập san văn học đích thực kia.’

    “ ‘Như Bút lông hả?’ tôi hỏi lại kèm theo một nụ cười toe rạng rỡ khác.

    “Bút lông là tờ báo của trường trung học, được xuất bản định kỳ hằng tháng. Nó được biên tập bởi các thành viên của Đầu lâu và Cú, một ‘hội văn học’ chỉ những học sinh năm hai và năm cuối mới đủ tư cách tham gia. Bài đăng trên Bút lông đều do học sinh viết, và mặc dù theo lý thuyết, bất kỳ học sinh nào cũng được tham gia đóng góp bài vở, nhưng trên thực tế, gần như tờ báo không chấp nhận bất cứ tác phẩm nào của học sinh năm nhất. Evelyn là một thành viên cốt cán trong hội Đầu lâu và Cú, và họ hàng của cô ta nắm vai trò biên tập viên của Bút lông. Rõ ràng cô ta cho rằng tôi đang chế nhạo cô ta, vậy là gần như từ lúc đó cho đến tận khi ra về, cô ta phớt lờ tôi hoàn toàn, chỉ trừ một cú đâm thọc nhẹ nhàng khi câu chuyện chuyển sang đề tài váy vóc.

    “ ‘Tôi muốn có một cái trong đám nơ mới kia quá,’ cô ta nói. ‘Ở Jones & McCallum có mấy mẫu mới đáng yêu lắm, và trông chúng thanh nhã kinh khủng. Sợi ruy băng nhỏ bằng nhung đen mà cậu đang buộc quanh cổ ấy, tiểu thư Starr ạ, trông khá phù hợp đấy. Cái thời chúng còn thịnh hành, chính tôi cũng từng đeo một cái.’

    “Tôi không thể nghĩ ra bất cứ câu phản pháo khôn ngoan nào. Tôi có thể dễ dàng nghĩ ra được những cách nói khôn ngoan khi chẳng có đối tượng nào để sử dụng chúng cả. Vậy nên tôi chẳng nói năng gì mà chỉ đơn thuần mỉm cười một cách vô cùng chậm rãi và khinh khỉnh. Có vẻ như thái độ đó còn khiến Evelyn thấy khó chịu hơn cả lời nói, vì sau đó tôi nghe thấy cô ta bảo rằng ‘tiểu thư Emily Star đó’ có một nụ cười rất giả tạo.

    “Ghi chú: – Người ta có thể làm được vô khối việc nhờ những nụ cười thích hợp. Tôi phải nghiêm túc nghiên cứu vấn đề này mới được. Nụ cười thân thiện… nụ cười khinh bỉ… nụ cười vô tư… nụ cười khẩn khoản… nụ cười toe bình thường hay đầy tính phỉnh phờ.

    “ Còn về cô Brownell – hay nói đúng hơn là bà Blake – tôi đã gặp cô ta trên phố cách đây vài ngày. Lúc vừa đi qua tôi, cô ta quay sang nói gì đó với bạn đồng hành và cả hai cười phá lên. Cách cư xử quá tệ, tôi nghĩ thế.

    “Tôi thích Shrewsbury và thích trường học, nhưng tôi sẽ không bao giờ thích nhà của bác Ruth. Nó có tính cách rất khó chịu. Nhà cũng giống như người vậy… sẽ có ngôi nhà banj thích, có ngôi nhà không… và đôi khi sẽ có ngôi nhà mà bạn yêu. Nhìn từ ngoài vào, ngôi nhà này được bao phủ bởi lối trang trí lòe loẹt. Ở bên trong, các căn phòng thấy đều ngăn nắp, hợp thức và vô hồn. Cho dù có đặt gì vào trong những căn phòng đó thì dường như nó cũng chẳng bao giờ có vẻ như thuộc về nơi đó. Chẳng giống với ở Trăng Non, nơi này chẳng hề có những ngóc ngách hay ho lãng mạn. Phòng này của tôi cũng chẳng cải thiện hơn sau thời gian tôi ở đây. Trần nhà đè bẹp tôi… nó sà xuống ngay sát giường tôi… trong khi bác Ruth không cho phép tôi chuyển giường. Bác ấy tỏ vẻ hết sức kinh ngạc khi tôi đề xuất chuyện này.

    “ ‘Chiếc giường lúc nào cũng được đặt ở góc đó,’ bác ấy bảo, cứ như thể bác ấy đang nói, ‘Mặt trời lúc nào chẳng mọc ở đằng Đông’ vậy.

    “Nhưng các bức tranh mới đích thực là thứ tệ hại nhất ở căn phòng này… những bức thạch bản khắc họa những hình ảnh khó chịu nhất. Một lần tôi xoay chúng úp mặt vào tường và tất nhiên bác Ruth bước vào – bác ấy chẳng bao giờ gõ cửa – và để ý đến chúng ngay lập tức.

    “ ‘Em’ly, sao cháu lại làm xáo trộn những bức tranh vậy?’

    “Bác Ruth lúc nào cũng hỏi ‘tại sao’ tôi làm cái này, ‘tại sao’ tôi làm cái kia. Có khi tôi giải thích được, nhưng nhiều lúc tôi đành bó tay. Và lần này tôi cũng không thể. Nhưng tất nhiên tôi vẫn phải trả lời câu hỏi của bác Ruth. Trong trường hợp này thì một nụ cười khinh khi sẽ chẳng có tác dụng gì đâu.

    “ ‘Cái vòng đeo cổ cho chó của nữ hoàng Alexandra cứ ám ảnh tâm trí cháu,’ tôi nói, ‘còn vẻ mặt của Byron trong giây phút cuối đời ở Missolonghi làm cháu không học hành nghiêm túc được.’

    “ ‘Em’ly,’ bác Ruth nói, ‘cháu có thể cố gắng bày tỏ một chút thái độ biết ơn được không.’

    “Tôi những muốn hỏi’

    “ ‘Với ai kia ạ, nữ hoàng Alexandra hay huân tước Byron?’ nhưng tất nhiên tôi đã không làm thế. Thay vào đó, tôi ngoan ngoãn xoay hết các bức tranh trở lại vị trí cũ.

    “ ‘Cháu vẫn chưa nói cho ta biết nguyên nhân đích thực khiến cháu xoay những bức tranh đó lại,’ bác Ruth nghiêm nghị nói. ‘Có lẽ cháu không định nói cho ta biết. Ngấm ngầm và khó lường… ngấm ngầm và khó lường… ta vẫn luôn nói cháu là người như vậy mà. Ngay từ lần đầu tiên gặp cháu ở Maywood, ta đã nói cháu chính là đứa trẻ ranh mãnh nhất ta từng gặp trên đời.’

    “ ‘Bác Ruth, sao bác lại nói với cháu như thế?’ tôi giận dữ hỏi. ‘Đó là bởi vì bác yêu thương cháu và muốn cháu trở nên tốt hơn, hay bác căm ghét cháu và muốn làm cháu bị tổn thương, hay đơn giản chỉ tại bác không thể làm khác được?’

    “Tiểu thư Xấc Láo này, mong cô nhớ cho đây là nhà của ta. Và kể từ giờ trở đi cô sẽ phải để yên cho các bức tranh của ta. Lần này, ta sẽ tha thứ cho cháu vì đã làm xáo trộn chúng, nhưng đừng để chuyện này xảy ra lần nữa đấy. Cho dù cháu có tưởng mình khôn ngoan đến thế nào chăng nữa, rồi cũng sẽ có lúc ta phát hiện ra động cơ nào khiến cháu xoay ngược những bức tranh đó lại.’

    “Bác Ruth oai vệ bước ra khỏi phòng, nhưng tôi thừa biết bác ấy vẫn đứng nghe ngóng một lúc khá lâu ở đầu cầu thang để xem liệu tôi có bắt đầu nói chuyện một mình không. Bác ấy lúc nào cũng quan sát tôi… thậm chí ngay cả khi bác ấy chẳng nói gì… chẳng làm gì… tôi vẫn biết bác ấy đang quan sát tôi. Tôi có cảm giác mình chẳng khác gì một con ruồi đang ở dưới kính hiển vi. Không một lời lẽ, một hành động nào thoát khỏi sự phê phán của bác ấy, và cho dù không thể đọc được suy nghĩ của tôi, bác ấy cứ thích quy chụp cho tôi những suy nghĩ mà tôi chẳng bao giờ nảy sinh trong đầu. Tôi ghét chuyện đó còn hơn bất kỳ điều gì khác.

    “Lẽ nào tôi không thể nói được điều tốt đẹp gì về bác Ruth? Tất nhiên tôi có thể chứ.

    “Bác ấy là người trung thực, đoan chính, thật thà, cần cù và nói đến kho thức ăn của bác ấy thì bác Ruth không cần phải thấy xấu hổ với ai hết. Nhưng bác ấy chẳng có bất kỳ đức tính đáng mến nào, và bác ấy sẽ chẳng đời nào từ bỏ sự nỗ lực tìm hiểu xem tại sao tôi lại xoay những bức tranh đó lại. Bác ấy sẽ không bao giờ tin rằng tôi đã nói cho bác ấy sự thật giản đơn.

    “Tất nhiên, mọi thứ ‘lẽ ra còn có thể tệ hơn’. Như Teddy từng nói đấy, nó có thể là tranh nữ hoàng Victoria thay vì nữ hoàng Alexandra.

    “Tôi cũng treo một vài bức tranh của riêng mình đã góp phần cứu giúp tôi, một vài bức ký họa rất dễ thương về Trăng Non và về vườn cây ăn quả cũ được Teddy vẽ riêng cho tôi, cộng thêm một bản in khác do chú Dean tặng. Đó là bức tranh với những sắc màu ôn hòa, không mấy sắc nét khắc họa cảnh một hàng cọ bao quanh một dòng suối giữa sa mạc cùng một đoàn lạc đà đang băng qua dải cát dưới bầu trời tối đen điểm xuyết những vì sao. Bức tranh thấm đẫm màu sắc bí ẩn, đầy quyến rũ và mỗi khi nhìn thấy nó, tôi lại quên bẵng món đồ nữ trang của nữ hoàng Alexandra cũng như khuân mặt sầu thảm của huân tước Byron, và tâm hồn tôi thoát ra ngoài… ra bên ngoài… xuyên qua một cánh cổng nhỏ để đến với thế giới bao la, kỳ vĩ của tự do và mơ ước.

    “Bác Ruth hỏi tôi lấy bức tranh đó ở đâu. Đến khi tôi nói cho bác ấy biết thì bác ấy khịt khịt mũi đáp lại,

    “ ‘Ta thật chẳng tài nào hiểu được tại sao cháu lại có cảm tình với Lưng Bình Priest cơ chứ. Ta chẳng thể ưa nổi anh ta.’

    “Tôi không nghĩ là bác ấy sẽ có thiện cảm với chú Dean.

    “Nhưng mặc dù ngôi nhà thì xấu xí còn căn phòng của tôi chẳng hề thân thiện, Miền Chính Trực lại rất xinh đẹp và chính nó đã cứu sống tâm hồn tôi. Miền Chính Trực là rừng linh sam đằng sau nhà. Tôi gọi nó bằng cái tên đó vì linh sam cây nào cây nấy đều cao chót vót, mảnh mai và thẳng tăm tắp. Giữa rừng còn có một hồ nước khoác tấm mạng che bằng dương xỉ, ngay bên cạnh là một tảng đá xám to. Cái hồ được kết nối bằng một con đường nhỏ thất thường uốn lượn quanh co, hệp đến độ chỉ vừa một người đi. Mỗi khi mệt mỏi, cô đơn hay giận dữ, hoặc khi những khát vọng quá cháy bỏng, tôi lại ra nơi này ngồi vài phút. Chẳng ai có thể giữ mãi tâm trạng bất an khi nhìn hàng hàng lớp lớp những chóp nhịn mảnh mai nổi bật giữa trời xanh. Tôi vẫn thường đến đó học vào những chiều đẹp trời, mặc dù bác Ruth luôn nghi ngờ, cho rằng đây thực chất lại chỉ là một biểu hiện nữa cho tính ranh mãnh của rôi thôi. Chẳng bao lâu nữa, trời sẽ tối rất sớm khiến tôi chẳng thể học ở đó được, và tôi rồi sẽ nuối tiếc lắm cho xem. Chẳng hiểu sao, mỗi khi ở nơi này, các quyển sách của tôi lại toát lên một ý nghĩa mà chúng chẳng bao giờ có được khi ở bất cứ nơi nào khác.

    “Có rất nhiều ngóc ngách xanh mướt thân thương trong Miền Chính Trực, nồng nàn mùi hương dương xỉ tắm ánh mặt trời và nhiều khoảng không gian thoáng đãng xanh màu cỏ điểm xuyết những cây cúc tây phơn phớt, khẽ khàng đu đưa về phía nhau mỗi lúc có Bà Gió chạy len lỏi giữa chúng. Và ngay phía bên trái cửa sổ của tôi, một nhóm thông già cao vút đứng đó, dưới ánh trăng sáng hay giữa sắc trời chạng vạng, trông chẳng khác gì một nhóm phù thủy đang ve vẩy đũa phép. Lần đầu tiên nhìn thấy chúng, vào một đêm gió lộng sau buổi hoàng hôn đỏ lửa, dưới ánh nến phản chiếu giống như một ngọn đèn hiệu kỳ quái treo lơ lửng trong không trung, lấp ló giữa đám cành lá, ánh chớp đã xuất hiện – lần đầu tiên tại Shrewsbury – và niềm hạnh phúc tôi cảm nhận được quá lớn lao đến độ chuyện gì cũng chẳng còn quan trọng nữa. Tôi đã viết một bài thơ về chúng.

    “Nhưng chao ôi, nỗi khao khát được viết truyện cháy bỏng trong tôi. Ngay từ đầu tôi đã biết rất khó giữ được lời hứa với bác Elizabeth, nhưng tôi không ngờ nó lại khó khăn đến thế. Dường như mỗi ngày khó khăn càng trở nên nặng nề hơn… những ý tưởng cốt truyện xuất sắc đến thế cứ nhảy vào trong tâm trí tôi. Rồi sau đó, tôi lại phải cầu đến sự hỗ trợ của những bản nghiên cứu tính cách những người tôi quen biết. Tôi đã viết vài bản rồi.

    “Trong tôi lúc nào cũng cháy bỏng một khát khao được thêm mắm giặm muối chút ít cho chúng – tô thêm sắc màu bí ẩn cho bóng tối, điểm thêm vẻ sống động cho những nét đặc sắc nhất. Nhưng tôi nhớ rõ mình đã hứa với bác Elizabeth rằng sẽ không bao giờ viết bất cứ điều gì không đúng với sự thật, bởi vậy tôi đành kiềm chế ngòi bút và cố gắng khắc họa họ chính xác như trên thực tế.

    “Tôi từng viết một bản miêu tả về bác Ruth. Thú vị nhưng nguy hiểm. Tôi không bao giờ để cuốn sổ Jimmy hay nhật ký của mình trong phòng riêng. Tôi biết bác Ruth sẽ lục lọi khắp phòng mỗi khi tôi đi ra ngoài. Bởi vậy tôi luôn mang theo chúng trong cặp sách.

    “Tối nay Ilse đã đến đây và chúng tôi cùng nhau học bài. Bác Ruth không tán thành chuyện này – và, nếu xét một cách công bằng, tôi không nghĩ rằng bác ấy sai. Ilse rất vui vẻ, hài hước nên tôi chỉ e rằng chúng tôi chỉ cười nhiều hơn học. Hôm sau chúng tôi cũng chẳng học hành tử tế trong lớp, thêm vào đó, ngôi nhà này không tán thành chuyện cười đùa.

    “Perry và Teddy thích trường trung học. Perry trang trải chi phí ở trọ bằng cách trông non lò luyện kim và vườn tược, còn tiền ăn uống nhờ vào công việc hầu bàn. Thêm vào đó, cậu còn kiếm được hai mươi lăm xu mỗi giờ cho các việc lặt vặt. Tôi không thường xuyên gặp cậu ấy hay Teddy, chỉ trừ những dịp cuối tuần về nhà, vì theo quy định của trường học thì con trai và con gái không được phép đi cùng nhau cả lúc đến trường lẫn lúc về nhà sau giờ học. Dù vậy thì ối người vẫn làm như thế. Tôi cũng có một vài cơ hội, chỉ có điều tôi đã tự nhủ với lòng rằng nếu không tuân thủ quy tắc thì sẽ là hành vi đi ngược lại với các truyền thống ở Trăng Non. Chưa kể, cứ buổi tối đẹp trời nào tôi vừa từ trường về nhà là bác Ruth lại hỏi liệu tôi có đi cùng ai không. Tôi có cảm giác đôi khi bác ấy có phần hơi thất vọng khi tôi nói ‘Không”.

    “Ngoài ra, tôi chẳng mấy cảm tình với bất kỳ cậu trai nào từng muốn đi về cùng tôi.”

    “20 tháng Mười, 19…

    “Tối nay, phòng tôi nồng nặc mùi bắp cải luộc, nhưng tôi không dám mở cửa sổ. Ngoài trời, khí đêm quá đậm đặc. Kể ra, có lẽ tôi sẽ đánh liều một lát nếu không phải cả ngày hôm đó bác Ruth đã chẳng lấy gì làm vui vẻ dễ chịu. Hôm qua là ngày Chủ nhật tôi ở lại Shrewsbury và lúc hai bác cháu đến nhà thờ, tôi đã ngồi vào trong góc ghế cầu nguyện. Tôi không biết lần nào đi nhà thờ bác Ruth cũng phải ngồi ở vị trí đó, nhưng bác ấy thì lại cứ nhất định cho rằng tôi cố tình làm thế. Bác ấy đọc Kinh Thánh suốt cả buổi chiều. Tôi có cảm giác bác ấy đang đọc nó nhằm vào tôi, mặc dù tôi chẳng thể hình dung nổi nguyên nhân là gì. Sáng nay bác ấy hỏi tại sao tôi lại làm thế.

    “ ‘Làm cái gì ạ?’ tôi hoang mang hỏi lại.

    “ ‘Em’ly, cháu thừa biết cháu đã làm gì đấy thôi. Ta sẽ không đời nào dung thứ cho cái thái độ ranh mãnh này đâu. Động cơ của cháu là gì?’

    “ ‘Bác Ruth, cháu không hiểu bác định nói gì,’ tôi nói, hơi ngạo mạn một chút, vì tôi cảm thấy mình đang bị đối xử bất công.

    “ ‘Em’ly, hôm qua cháu đã ngồi vào trong góc ghế chỉ cốt để làm ta phải tránh khỏi chỗ đó. Tại sao cháu làm thế?’

    “Tôi nhìn xuống bác Ruth; giờ cao hơn bác ấy rồi nên tôi có thể làm vậy được. Bác ấy cũng chẳng thích thế. Tôi bừng bừng giận dữ và có lẽ nét mặt đã phảng phất sắc thái Murray. Làm ầm ĩ lên vì chuyện này thì có vẻ đáng khinh quá.

    “ ‘Nếu cháu làm thế để bác phải tránh khỏi chỗ đó thì chẳng phải chính nó là lý do tại sao đấy ư?’ tôi nói bằng giọng khinh khỉnh đúng y như cảm xúc trong lòng. Tôi nhặt cặp sách lên, hiên ngang bước về phía cửa. Nhưng đến đó thì tôi dừng lại. Tôi bất chợt nhận ra rằng, cho dù người nhà Murray có thể làm hay không làm gì thì lúc này đây, tôi vẫn đang cư xử không đúng với phong thái cần có của một người nhà Starr. Cha hẳn sẽ không tán thành lối cư xử của tôi. Vậy là tôi xoay người lại và nói, cực kỳ lễ phép,

    “ ‘Đáng lẽ cháu không nên nói năng như thế, bác Ruth ạ, và cháu mong bác tha lỗi. Cháu không có bất kỳ ý gì khi ngồi vào trong góc. Chỉ tại tình cờ cháu là người đầu tiên đi vào trong hàng ghế thôi. Cháu không biết bác thích ngồi ở góc đó.’

    “Có lẽ tôi lịch sự hơi thái quá. Gì thì gì, lời xin lỗi của tôi có vẻ chỉ chọc cho bác Ruth tức điên hơn nữa. Bác ấy khịt khịt mũi nói,

    “ ‘Lần này ta tha thứ cho cháu, nhưng đừng có để chuyện này xảy ra lần nữa. Tất nhiên ta chẳng trông chờ cháu sẽ nói cho ta biết lý do của cháu. Cháu quá ranh mãnh để có thể làm thế.’

    “Bác Ruth, ôi bác Ruth! Nếu bác cứ đay đi đay lại rằng cháu là một đứa ranh mãnh rồi thì sẽ đến lúc bác buộc cháu phải trở thành một kẻ ranh mãnh thật cho mà xem, và đến lúc đó thì coi chừng đấy. Nếu đã quyết định biến thành một kẻ ranh mãnh rồi thì cháu thể nào cũng xỏ mũi bác dễ như trở bàn tay! Chính bởi cháu quá thẳng thắn nên bác mới điều khiển cháu được đấy chứ.

    “Tối nào tôi cũng phải lên giường lúc chín giờ – ‘những người có nguy cơ mắc bệnh lao nhất thiết phải ngủ cho đẫy giấc’. Khi tôi đi học về thì ở nhà còn cả núi việc lặt vặt đang chờ sẵn, rồi đến tối lại phải học bài nữa. Vậy nên, chẳng hở lúc nào cho tôi viết lách được gì. Tôi biết bác Elizabeth và bác Ruth bàn bạc về vấn đề này. Nhưng tôi phải viết. Vậy là đến sáng, trời vừa tờ mờ là tôi đã dậy, thay quần áo, khoác thêm một cái áo choàng – vì giờ buổi sáng trời rất lạnh – rồi ngồi xuống tận dụng một tiếng đồng hồ vô giá viết vội viết vàng. Tôi không muốn bác Ruth phát hiện ra và gọi tôi là kẻ ranh mãnh, vậy nên tôi nói thẳng với bác ấy rằng tôi đang làm gì. Bác ấy làm cho tôi hiểu rõ ràng rằng tôi bị thần kinh mất rồi và thế nào cũng không tránh khỏi kết cục tang thương tại một nhà thương điên nào đó, nhưng thực tình, bác ấy không ngăn cấm tôi; có lẽ bác ấy cho rằng chuyện đó rồi cũng chẳng có ích lợi gì. Không phải thế. Tôi phải viết, đó là điều duy nhất có ý nghĩa. Đối với tôi, một tiếng đồng hồ như thế giữa buổi sáng xám xịt chính là thời khắc tươi sáng nhất trong ngày.

    “Dạo gần đây, do bị cấm viết truyện nên tôi thường nghĩ về chúng. Nhưng rồi đến một ngày, tôi bất chợt nhận ra tôi đang phá vỡ thỏa thuận với bác Elizabeth, nếu không phải trên giấy trắng mực đen thì cũng là trong tâm tưởng. Bởi vậy, tôi ngừng việc này lại.

    “Hôm nay, tôi đã viết một bản nghiên cứu tính cách Ilse. Rất thú vị. Chảng dễ gì phân biệt được con người bạn ấy. Bạn ấy quá đặc biệt và khó lường. (Chính tôi đã vắt óc nghĩ ra được từ đó đấy.) Thậm chí, ngay cả cơn giận dữ của bạn ấy cũng chẳng giống với bất kỳ ai khác. Bạn ấy không ném vào mặt họ những lời lẽ kinh khủng như bình thường mà bạn ấy ngấm ngầm chọc ngoáy. (Ngấm ngầm chọc ngoáy là các dùng từ tôi mới phát hiện ra. Tôi thích sử dụng từ mới. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình thật sự nắm bắt được một từ nào đó cho tới tận khi tôi nói thành lời hoặc viết nó ra.)

    “Tôi đang viết cạnh cửa sổ. Tôi thích ngắm nhìn ánh đèn ở Shrewsbury nhấp nháy giữa ánh trời chạng vạng trên khắp ngọn đồi trải dài hút tầm mắt.

    “Hôm nay tôi nhận được thư của chú Dean. Chú ấy đang ở Ai Cập; giữa những đền đài đổ nát thờ các vị thần cổ xưa cũng như lăng mộ của các vị từ thời xa xưa lắm. Tôi chiêm ngưỡng mảnh đất lạ kỳ đó thông qua đôi mắt của chú ấy, dường như tôi đã cùng chú ấy quay ngược lại thời gian xuyên qua hàng bao nhiêu thế kỷ xa xăm; tôi biết sắc màu huyền bí thấm đẫm trên những bầu trời miền đất ấy. Tôi là Emily thành Karmak hay thành Thebes, hoàn toàn không phải là Emily vùng Shrewsbury. Chú Dean có khả năng ma thuật như thế đó.

    “Bác Ruth nhất định đòi đọc thư của chú ấy cho bằng được, và khi đọc xong rồi bác ấy bảo nó thật nghịch đạo!

    “Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến cái tính từ đó.”

    “21 tháng Mười,19…

    “Tối nay, tôi đã leo lên ngọn đồi nhỏ rậm rạp thoai thoải giữa Miền Chính Trực và được tận hưởng niềm hân hoan khi đứng trên tận đỉnh. Bao giờ cũng thế, mỗi khi leo lên một đỉnh đồi nào đó, ta luôn thấy trong lòng dấy lên niềm thỏa mãn. Không khí đượm mùi sương giá, đứng từ trên nhìn xuống, toàn cảnh cảng Shrewsbury hiện lên mới đẹp đến nhường nào, và cây cối quanh tôi thấy đều đang háo hức ngóng chờ một điều gì đó sắp xảy đến – ít nhất đó cũng là cách duy nhất tôi có thể dùng để miêu tả ấn tượng chúng đã ghi dấu trong tôi. Tôi quên hết thảy mọi thứ – sự châm chọc của bác Ruth, thái độ kẻ cả của Evelyn Blake và cái vòng cổ cho chó của nữa hoàng Alexandra – hết thảy mọi thứ trên đời vốn không mấy tốt đẹp. Những suy nghĩ thú vị như đàn chim chấp chới bay đến với tôi. Chúng không phải suy nghĩ của tôi. Nếu là suy nghĩ của tôi thì đã chẳng hay ho được bằng một nửa thế. Chúng đến từ nơi nào đó khác.

    “Đương lúc quay trở về, trên con đường nhỏ tối om ấy, trong không gian tràn ngập những âm thanh thì thầm đáng yêu, tôi chợt nghe thấy tiếng cười khúc khích vang lên giữa vạt linh sam đằng sau lưng. Tôi giật mình, thoáng hốt hoảng. Tôi biết ngay đấy không phải tiếng cười của con người, mà đúng hơn, nó giống như tiếng cười tinh quái đến từ thế giới thần tiên, chỉ phảng phất một chút ranh mãnh rất mơ hồ. Tôi không còn tin vào những yêu tinh rừng nữa – than ôi, người ta mất quá nhiều khi trong lòng trở nên trĩu nặng hoài nghi – vậy nên tiếng cười này khiến tôi hoang mang quá đỗi; và, đúng vậy đấy, một cảm giác hoảng sợ đến sởn gai ốc bắt đầu trườn lên cột sống của tôi. Rồi, đột nhiên, tôi sực nghĩ đến bọn cú và chắc mẩm cái âm thanh này hẳn là từ loài đấy mà ra – một âm thanh hân hoan đích thực, như thể một kẻ sống sót nào đó của Thời đại Vàng đang khúc khích cười một mình giữa bóng tối nơi kia. Có lẽ bọn chúng có hai con, và chắc hẳn đang sung sướng tận hưởng một trò đùa nào đó của loài cú. Tôi phải viết một bài thơ về chuyện này mới được, dù cho tôi chẳng tài nào có thể dùng ngôn ngữ lột tả hết được đến một nửa sức mê hoặc và vẻ ma quái của nó.

    “Hôm qua Ilse đã bị trách mắng một trận ra trò trong phòng thầy hiệu trưởng vì tội khi tan học đã đi bộ về nhà cùng với Guy Lindsay. Thầy Hardy đã nói gì đó khiến bạn ấy điên tiết đến nỗi chộp luôn bình hoa cúc trên bàn thầy ném thẳng vào tường, và tất nhiên, cái bình đã vỡ tan tành.

    “ ‘Nếu là với những cô gái khác thì mọi chuyện rồi sẽ căng lắm cho xem, nhưng thầy Hardy vốn là bạn của bác sĩ Burnley. Thêm nữa, có một điều gì đó ở đôi mắt vàng của Ilse tác động đến ta. Tôi biết đích xác sau khi ném vỡ tan cái bình hoa đó thì bạn ấy sẽ nhìn thầy Hardy theo kiểu nào. Mọi giận dữ đều cạn sạch, đôi mắt bạn ấy sẽ lấp lánh nét cười và đầy táo tợn – bất kính, bác Ruth thế nào cũng gọi nó như thế. Thầy Hardy chỉ nói đơn giản rằng bạn ấy đang hành động trẻ con và sẽ phải đền cái bình, vì đó là tài sản của nhà trường. Chuyện đó phần nào khiến Ilse chết điếng, bạn ấy nghĩ nó là một kết thúc quá nhạt nhẽo cho những hành động anh hùng của mình.

    “Tôi đã trách mắng bạn ấy chẳng chút kiêng dè. Thành thật mà nói, phải có ai đó dạy cho bạn ấy biết lớn biết khôn lên chứ, ấy vậy nhưng có vẻ như ngoài tôi ra thì chẳng còn ai khác cảm thấy có bất kỳ trách nhiệm nào trong vấn đề này. Bác sĩ Burnley sẽ chỉ phá lên cười rũ rượi khi nghe bạn ấy kể lại. Nhưng tôi có lẽ cũng nên khiển trách cả Bà Gió nữa. Ilse chỉ cười phá lên và ôm chầm lấy tôi.

    “ ‘Cưng à, nó là một đống tan hoang nhộn kinh lên được ấy. Khi nghe thấy tiếng vỡ, tớ chẳng còn chút giận dữ nào nữa.’

    “Tuần trước, Ilse đã ngâm thơ tại buổi hòa nhạc của trường và ai cũng nghĩ bạn ấy thật tuyệt vời.

    “Hôm nay, bác Ruth bảo tôi bác ấy mong rằng tôi sẽ trở thành một học sinh ngôi sao. Bác ấy không chơi chữ với tên của tôi; ồ, không, bác Ruth không có ý niệm gì về trò chơi chữ. Bất kể học sinh nào giành được trung bình 90/100 điểm trong kỳ thi Giáng sinh và không có bất kỳ môn nào dưới 80 điểm thì sẽ được gọi là học sinh ‘Ngôi sao’ – ‘Star’ và kể từ đó cho đến cuối học kỳ sẽ được gắn một ngôi sao vàng trên trang phục. Đó là một sự biệt đãi đáng khát khao và tất nhiên không có mấy người giành được. Nếu tôi mà thất bại thì thế nào bác Ruth cũng đay đi đay lại chẳng bao giờ biết chán cho xem. Tôi không được phép thất bại.”

    ©STENT: http://www.luv-ebook.com

    “30 tháng Mười, 19…

    “Hôm nay, tờ Bút lông tháng Mười một được phát hành. Tuần trước tôi đã gửi đến biên tập viên tòa soạn bào thơ về con cú mà tôi sáng tác, nhưng anh ta không dùng. Và anh ta lại đăng bài của Evelyn Blake, một bài thơ vần vớ vẩn, ngu ngốc về Lá mùa thu, y hệt thứ văn chương tôi từng viết cách đây ba năm.

    “Và Evelyn chia buồn với tôi trước toàn thể phòng nữ sinh bởi vì người ta đã không chọn bài thơ của tôi. Chắc hẳn Tom Blake đã kể cho cô ta nghe chuyện đó.

    “ ‘Cậu đừng lấy làm buồn về chuyện đó, tiểu thư Starr. Tom nói nó cũng không đến nỗi nào nhưng tất nhiên vẫn chưa đạt đến tiêu chuẩn của Bút lông được. Rất có thể một hai năm nữa cậu sẽ đạt được trình độ ấy. Cứ tiếp tục cố gắng đi.’

    “ ‘Cảm ơn,’ tôi nói. ‘Tôi không buồn. Việc gì phải thế chứ? Trong bài thơ của mình, tôi đâu có sử dụng từ “long lanh” để ghép vần với từ “màu xanh”. Nếu mà làm thế thì quả thực tôi cũng sẽ lấy làm buồn lắm lắm.’

    “Evelyn nổ hết cả đom đóm mắt.

    “ ‘Đừng thể hiện sự thất vọng quá lộ liễu thế chứ, nhóc,’ cô ta nói.

    “Nhưng tôi nhận thấy sau đó cô ta đã từ bỏ chủ đề này.

    “Chìm đắm trong cảm giác thỏa mãn, ngay khi từ trường về nhà, tôi đã viết vào cuốn sổ Jimmy một bài phê bình bài thơ của Evelyn. Tôi đã mô phỏng nó dựa trên bài tiểu luận của Macaulay về Robert Montgomery tội nghiệp, và bài phê bình này làm tôi thích thú đến độ tôi chẳng còn cảm thấy buồn phiền hay xấu hổ nữa. Khi nào về nhà, tôi sẽ phải đưa cho thầy Carpenter xem mới được. Rồi thầy ấy sẽ cười khùng khục không ngừng cho xem.”

    “6 tháng Mười một, 19…

    “Tối nay, khi liếc qua một lượt cuốn nhật ký của mình, tôi phát hiện ra rồi chẳng mấy chốc, tôi sẽ phải từ bỏ công cuộc ghi lại những hành động tốt và xấu của mình thôi. Có lẽ bởi vì quá nhiều hành động của tôi thuộc kiểu nửa này nửa kia. Tôi chẳng tài nào quyết định được nên xếp chúng vào dạng nào nữa.

    “Cứ sáng thứ Hai, theo như lệ thường, mỗi khi đến lượt điểm danh, chúng tôi sẽ phải đáp lại bằng một câu trích dẫn. Sáng nay, tôi trích dẫn lại một đoạn thơ trong chính bài thơ tôi sáng tác Ô cửa sổ hướng ra biển. Khi tôi rời khỏi Hội đồng để xuống lớp năm nhất, cô Aylmer, cô hiệu phó, ngăn tôi lại.

    “ ‘Emily, em đã đọc một khổ thơ rất hay trong giờ điểm danh. Em đã trích nó từ đâu vậy? Em có biết toàn bộ bài thơ đó không?’

    “Tôi quá phấn khởi đến độ gần như chẳng thể trả lời nổi.

    “ ‘Có ạ, thưa cô Aylmer,’ một cách vô cùng e dè.

    “ ‘ Cô rất muốn có một bản sao bài thơ đó,’ cô Aylmer nói. ‘Em chép lại hộ cô một bản được không? Và ai là tác giả của bài thơ đó vậy?’

    “Tác giả,’ tôi vừa nói vừa cười, ‘là Emily Byrd Starr ạ. Thật ra, thưa cô Aylmer, em đã quên béng mất không kịp tìm một trích đoạn nào để đọc trong giờ điểm danh, mà vội quá em chẳng nhớ ra được gì, vậy nên em đã trích từ chính bài thơ do em sáng tác.’

    “Cô Aylmer mãi chẳng nói gì được mất một lúc. Cô ấy cứ thế nhìn tôi. Cô vốn người to béo, tầm trung niên, mặt vuông chứ điền và có đôi mắt to màu xám rất đẹp.

    “ ‘Cô còn muốn chép bài thơ nữa không ạ, thưa cô Aylmer?’ tôi mỉm cười hỏi.

    “ ‘Có chứ,’ cô nói, vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt lạ lùng đó, cứ như thể trước đấy cô chưa từng nhìn thấy tôi bao giờ vậy. ‘Có chứ, và nhờ em ký tên vào đó nữa nhé.’

    “Tôi hứa sẽ làm vậy và tiếp tục bước xuống cầu thang. Đến chân cầu thang, tôi liếc mắt nhìn lại phía sau. Cô ấy vẫn đứng đó, dõi mắt theo tôi. Từ ánh mắt cô, toát lên một sắc thái nào đó khiến tôi cảm thấy thật vui sướng, thật tự hào, thật hạnh phúc, nhún nhường và… và… sùng tín. Phải, cảm giác của tôi chính là thế đấy.

    “Ôi, ngày hôm nay mới đẹp đẽ làm sao. Giờ thì tôi cần gì phải bận tâm về Bút lông hay Evelyn Blake?

    “Tối nay bác Ruth đã đi bộ về đến đầu thị trấn để thăm anh Andrew nhà bác Oliver, giờ đang làm việc tại ngân hàng ở đây. Bác ấy cho tôi đi cùng. Bác ấy tận tình khuyên bảo anh Andrew rất nhiều chuyện, nào là về nhân cách, về việc ăn uống cũng như về quần áo lót, và bác ấy còn bảo bất cứ khi nào thích anh ta cứ đến nhà chơi tối tự nhiên. Andrew là một người nhà Murray, các bạn thấy rồi đấy, bởi vậy anh ta có thể xông thẳng vào những chỗ Teddy và Perry chẳng dám đặt chân tới bao giờ. Anh ta khá ưa nhìn, với mái tóc thẳng màu đỏ được chải vuốt đúng kiểu. Nhưng lúc nào trông anh ta cũng có vẻ như vừa bị hồ bột và là lượt phẳng phiu vậy.

    “Theo ý tôi buổi tối hôm nay cũng không phải hoàn toàn lãng phí, vì bà Garden, chủ nhà của anh ta có một con mèo rất hay ho mà lại còn thích tán tỉnh tôi nữa chứ. Nhưng khi Andrew vỗ về cậu chàng và gọi cậu chàng là ‘mèo con tội nghiệp’, con vật thông minh đó bèn rít lên với anh ta.

    “ ‘Đừng có suồng sã với mèo quá,’ tôi khuyên Andrew. ‘Và anh phải nói năng một cách tôn trọng về cậu ấy hay với cậu ấy.’

    “ ‘Nhảm nhí!’ bác Ruth nói.

    “Nhưng gì thì gì, mèo cũng có phẩm giá của mèo chứ.”

    “18 tháng Mười một, 19…

    “Dạo này, về đêm trời đã bắt đầu trở lạnh. Hôm thứ Hai, lúc quay về, tôi đã mang theo một bình gin của Trăng Non để giữ ấm. Tôi ôm cái bình cuộn tròn trên giường, thích thú lắng nghe tiếng dông gió thét gào trong Miền Chính Trực bên ngoài và tiếng mưa quay cuồng rú rít trên mái nhà. Bác Ruth chỉ sợ cái nút bần sẽ bật ra khiến mưa trút xuống ngập giường. Chuyện đó có lẽ cũng tệ hại ngang với chuyện đã thực sự xảy ra đêm hôm kia. Nửa đêm, tôi tỉnh giấc, nghĩ ra được một ý tưởng xuất sắc bậc nhất cho một câu chuyện. Tôi cảm thấy mình phải bật dậy ngay lập tức để ghi chép lại vào cuốn sổ Jimmy kẻo sẽ quên biến đi mất. Rồi thì tôi có thể lưu giữ nó cho đến khi thời hạn ba năm đã hết và tôi được tự do viết lách.

    “Tôi nhảy ra khỏi giường và đúng lúc đang quơ quào quanh bàn tìm nến thì lại làm đổ lọ mực. Vậy mà tất nhiên tôi phát bực cả lên và chẳng thể tìm thấy bất cứ thứ gì! Diêm, nến, mọi thứ đều đã biến mất. Tôi dựng lọ mực lên nhưng biết rõ vẫn còn cả một vũng mực trên bàn. Mực dính tèm lem hết các ngón tay tôi, và tôi chẳng dám chạm vào bất cứ thứ gì trong bóng tối, trong khi đó lại chẳng tìm thấy thứ gì để chùi sạch nó đi được. Mà suốt thời gian đó, tôi còn nghe thấy tiếng mực nhỏ tong tong xuống sàn.

    “Giữa lúc tuyệt vọng, tôi mở cửa ra – bằng ngón chân vì tôi không dám chạm đôi tay dính mực của mình lên cửa – rồi đi xuống cầu thang, chùi tay vào cái giẻ lau bếp lò và kiếm được một ít diêm. Nhưng tất nhiên, đến lúc này thì bác Ruth đã dậy, tra hỏi nào tại sao nào động cơ là gì. Bác ấy lấy nhúm diêm tôi cầm, đốt cây nến của bác ấy rồi theo tôi đi lên tầng trên. Ôi, cảnh tượng mới khủng khiếp làm sao chứ! Sao một cái lọ mực bằng đá bé tí teo lại chứa được đến cả một lít mực như thế chứ? Nhìn cái đống lộn xộn kia thì dễ phải mất cả lít mực mới gây ra được.

    “Tôi cảm thấy mình chẳng khác gì một lão già di dân Scotland, một tối kia đi về nhà phát hiện ra tổ ấm của mình đã cháy thành tro còn toàn thể gia đình đã bị người da đỏ lột sạch da đầu, và lão nói, ‘Chuyện này thật nực cười chẳng để đâu cho hết.’ Khăn trải bản đã hỏng; thảm ướt sũng; thậm chí đến cả giấy dán tường cũng bị bắn tung tóe. Nhưng nữ hoàng Alexandra vẫn mỉm cười đôn hậu trước toàn cảnh và Byron vẫn tiếp tục hấp hối.

    “Bác Ruth và tôi đã phải mất cả tiếng đồng hồ hì hụi với muối và giấm. Bác Ruth không tin tôi khi tôi bảo tôi dậy để ghi chép lại một cốt truyện. Bác ấy chắc mười mươi tôi có động cơ khác và đây lại chỉ là một bằng chứng nữa cho tính ranh mãnh khó lường của tôi thôi. Bác ấy còn nói một vài điều mà tôi sẽ chẳng viết lại làm gì. Tất nhiên, tôi xứng đáng bị quở trách vì tội không đậy nắp lọ mực; nhưng tôi không đáng phải chịu tất cả những điều bác ấy nói. Dẫu vậy, tôi vẫn hết sức ngoan ngoãn chấp nhận hết. Một phần là vì tôi đã cẩu thả thật; và một phần là vì tôi đang xỏ đôi giày đi trong nhà. Một khi tôi đang xỏ đôi giày đi trong nhà thì ai muốn lên mặt dậy đời tôi cũng được hết. Rồi bác ấy kết thúc bằng câu lần này bác ấy sẽ tha thứ cho tôi, nhưng đừng có để chuyện này xảy ra lần nữa.

    “Perry đã thắng cuộc thi chạy một dặm trong giải thể thao của trường và phá vỡ kỷ lục. Cậu ấy vênh vang quá thể về chuyện đó và Ilse đã nổi cơn thịnh nộ với cậu ấy.”

    “11 tháng Mười một,19…

    “Tối qua bác Ruth bắt gặp tôi đúng lúc tôi đang đọc David Copperfield và đang khóc nức nở vì thấy Davy bị mẹ xa lánh, chưa kể tôi đang âm thầm giận dữ ông Murdstone. Bác ấy cứ nhất quyết đòi biết tại sao tôi khác nhưng đến khi tôi giải thích thì bác ấy lại không tin.

    “ ‘Khóc vì những người chẳng bao giờ có thật trên đời à!’ bác Ruth của tôi nói với vẻ hoài nghi.

    “ ‘Ôi, nhưng họ có thật đấy chứ ạ,’ tôi nói. ‘Họ cũng có thật như chính bác thôi, bác Ruth ạ. Lẽ nào bác cho rằng cô Betsy Trotwood chỉ là tưởng tượng?’

    “Tôi cứ đinh ninh có lẽ mình có thể có được món trà đích thực khi tới Shrewsbury nhưng bác Ruth lại bảo nó không tốt cho sức khỏe. Vậy nên tôi đành uống nước trắng vì tôi sẽ không uống trà sữa nữa đâu. Cứ làm như tôi còn bé lắm ấy!”

    “30 tháng Mười một,19…

    “Tối nay anh Andrew đã đến đây. Hễ tối thứ Sáu nào tôi không về Trăng Non là anh ta lại đến. Bác Ruth để chúng tôi ngồi nói chuyện riếng với nhau trong phòng khách còn bác ấy ra ngoài tham dự cuộc họp của Hội Phụ nữ Cứu trợ. Andrew, vốn là một người nhà Murray, có thể tin tưởng được.

    “Không phải tôi không thích Andrew. Làm sao có thể không thích một người vô hại như thế cơ chứ. Anh ta thuộc kiểu người đáng mến tử tế, vụng về, hay nói và luôn làm dấy lên trong ta một thôi thúc muốn chọc ghẹo họ. Rồi sau đó ta sẽ thấy ăn năn hối hận bởi vì họ thật quá tốt.

    “Tối nay, nhân bác Ruth đã đi ra ngoài, tôi cố gắng tìm hiểu xem mình có thể thực sự nói chuyện với anh Andrew một cách kiệm lời đến mức nào trong lúc tôi mải theo đuổi dòng suy nghĩ của bản thân. Tôi phát hiện ra tôi có thể bày tỏ thái độ thân thiện mà chẳng cần phải dùng đến nhiều từ ngữ, ‘Không’, ‘Vâng’, trong một vài điểm nhấn, có thể kèm mà cũng có thể không một tiếng cười nhẹ; ‘Em không biết’, ‘Thật thế à?’, ‘Ái chà chà’, ‘Tuyệt quá!’, đặc biệt là câu cuối cùng. Andrew cứ thao thao bất tuyệt, và khi anh ta dừng lại lấy hơi thì tôi sẽ chêm vào câu “Tuyệt quá’. Tôi làm như thế chính xác mười một lần. Andrew thích thế. Tôi biết nó đã mang lại cho anh ta một cảm giác phỉnh phờ dễ chịu rằng anh ta thật tuyệt. Trong lúc đó tôi đang sống trong thế giới mơ ước tưởng tượng huy hoàng tráng lệ bên bờ sông Ai Cập giữa thời Thotmes I.

    “Vậy nên cả hai chúng tôi đều vui vẻ. Tôi suy nghĩ sau này tôi sẽ thử lại lần nữa. Andrew khá ngốc nghếch nên còn lâu mới bắt thóp được trò của tôi.

    “Lúc về nhà, bác Ruth hỏi, ‘Chà, cháu và Andrew chơi với nhau thế nào?’

    “Lần nào anh bạn đến chơi bác Ruth cũng hỏi thế. Tôi biết thừa tại sao. Tôi biết rõ cái âm mưu nho nhỏ vẫn được những người nhà Murray ngấm ngầm thấu hiểu, mặc dù tôi không tin là sẽ có lúc nào đó bất kỳ ai trong bọn họ nói thẳng nó ra.

    “ ‘Vui ạ,’ tôi nói. ‘Anh Andrew đang có tiến bộ đấy ạ. Tối nay anh ấy đã nói một câu chuyện khá thú vị, và anh ấy không cần sử dụng điệu bộ quá nhiều như thường lệ.’

    “Tôi không hiểu nổi tại sao cứ thỉnh thoảng tôi lại nói năng như thế này với bác Ruth. Có lẽ sẽ tốt hơn nhiều cho tôi nếu tôi không làm thế. Nhưng một điều gì đó – tôi không biết có phải là một điều gì đó mang đặc điểm Murray hay Starr hay Shipley hay Burnley hay chỉ đơn thuần là thói ngoan cố thôi – cứ khiến tôi bật ra những câu nói đó trước khi tôi kịp suy ngẫm cho kỹ.

    “ ‘Chắc chắn cháu sẽ tìm được bầu bạn ăn ý hơn ở thị trấn Stovepipe[1] đấy,’ bác Ruth nói.”

    [1] Thị trấn quê hương của Perry.
     
  9. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 8: Không đủ chứng cứ
    Emily tiếc nuối rời khỏi hiệu sách, nơi mùi sách cùng mùi tạp chí mới chẳng khác gì một thứ hương thơm ngọt ngào đối với cô, và vội vã chạy xuống phố Prince lộng gió lạnh căm căm. Mỗi khi có cơ hội, cô đều lẻn đến hiệu sách tranh thủ đắm mình vào các cuốn tạp chí vốn quá đắt đỏ so với khả năng chi trả của cô, hăm hở tìm hiểu xem họ xuất bản dạng tác phẩm nào, đặc biệt là thơ. Có nhiều đoạn thơ cô chẳng thể nhìn ra có chút gì đặc sắc hơn so với một số đoạn thơ do chính cô sáng tác, ấy vậy nhưng các nhà biên tập vẫn đều đặn gửi trả tác phẩm của cô. Emily đã dùng kha khá số con tem Mỹ mua bằng đồng đô la của bác Jimmy để trả cho phong thư phản hổi những tác phẩm non nớt của cô, vốn chỉ được đính kèm lời an ủi lạnh lùng vì đã loại bỏ các bài viết. Bài Tiếng cú cười của cô đã bị trả lại sáu lần, nhưng Emily vẫn chưa hoàn toàn mất niềm tin. Chính buổi sáng đó, cô vừa lại thả nó vào thùng thư ở hiệu sách.

    “Lần thứ bảy may mắn sẽ tới,” cô thầm nhủ trong lúc quay xuống phố đi đến nhà trọ của Ilse. Lúc mười một giờ cô sẽ có bài kiểm tra tiếng Anh và cô muốn liếc qua bài vở ghi chép của Ilse trước khi vào thi. Các học sinh năm nhất đã sắp hoàn thành các bài thi cuối kỳ, vốn được tổ chức theo đợt và bắt đầu khi các phòng học đều vắng bóng học sinh năm hai năm ba – một chuyện luôn khiến cho đám học sinh năm thứ nhất giận dữ đến phát điên. Emily cảm thấy khá chắc chắn là cô bé sẽ giành được một cái ghim cài ngôi sao. Các môn học đánh đố cô nhiều nhất đều đã thi xong và cô không tin mình sẽ dính phải một môn nào dưới tám mươi điểm. Hôm nay là môn tiếng Anh, và gần như chắc chắn cô sẽ đạt trên chín mươi điểm. Chỉ còn lại độc môn lịch sử, vốn là môn học ưa thích của cô. Tất cả mọi người đều kỳ vọng cô sẽ giành được cái ghim cài ngôi sao. Bác Jimmy phấn khích đến độ chẳng thở nổi, còn chú Dean vô cùng tin tưởng vào thành công của cô bé nên đã gửi lời chúc mừng sớm từ trên đỉnh một kim tự tháp. Thư của chú vừa tới hôm trước, kèm theo một gói quà Giáng sinh.

    “Ta gửi tặng cháu chiếc vòng cổ nhỏ bằng vàng được lấy từ xác ướp một nàng công chúa quá cố của triều vua thứ mười chín,” ông Dean viết. “Tên cô ấy là Mena và theo những gì được viết trên văn bia thì cô ấy là người vô cùng ‘hiền thục’. Bởi vậy ta nghĩ cô ấy hẳn sẽ gặp mọi chuyện suôn sẻ trong Sảnh Phán xét[1] và các bị thần cổ xưa đáng sợ hẳn đều mỉm cười bao dung với cô ấy. Món bùa hộ mạng bé nhỏ này đã nằm trên lồng ngực cạn kiệt sức sống của cô ấy qua hàng ngàn năm rồi. Ta gửi tặng cháu món quà chất chứa biết bao thế kỷ yêu thương. Có lẽ nó hẳn phải là một món quà tình yêu. Liệu còn có thể gán cho nó cái lý do nào khác không kho nó đã yên nghỉ trên trái tim cô ấy suốt chừng đó thời gian? Chắc hẳn chính cô ấy đã chọn nó. Nếu là người khác chọn thì thế nào người ta cũng sẽ đặt một thứ lộng lẫy hơn lên cổ con gái một vị vua.”

    [1] Theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại, sau khi chết, mọi người đều phải đi qua Sảnh Maat hay Sảnh Phán xét. Khi họ vào đến đây, thần Anubis sẽ móc trái tim họ ra và cân nó với một sợi lông vũ của nữ thần Maat. Nếu trái tim nhẹ hơn sợi lông thì đó là một linh hồn tốt và ngược lại.

    Món nữ trang nhỏ bé khiêm tốn ấy đã mê hoặc Emily bởi nét quyến rũ và sự bí ẩn của nó, tuy nhiên, cô gần như sợ nó. Lúc vòng nó quanh cần cổ trắng ngần mảnh dẻ của mình, Emily không tránh khỏi một thoáng rùng mình ma quái và băn khoăn mãi trong lòng về người con gái hoàng gia từng đeo chiếc vòng này từ thời hoàng kim của một đế quốc đã chết. Lịch sử của nó là gì, bí mật nào nó đang chất chứa?

    Lẽ đương nhiên, bà Ruth không tán thành chuyện này. Căn cớ gì Emily lại nhận quà Giáng sinh từ Lưng Binh Priest chứ?

    “Ít ra, nếu muốn gửi quà cho cháu thì anh ta cũng nên gửi thứ gì đó mới mẻ chứ,” bà nói.

    “Một món quà kỷ niệm về Cairo được sản xuất tại Đức chẳng hạn,” Emily nghiêm túc gợi ý.

    “Đại loại thế,” bà Ruth tán thành không chút nghi ngờ. “Anh trai bà Ayers đã mang từ Ai Cập về cho bà ấy một cái chặn giấy rất đẹp làm bằng thủy tinh viền vàng, bên trong còn có một bức tranh hình nhân sư. Cái món đồ mòn vẹt kia trông có vẻ rẻ tiền lắm thì phải.”

    “Rẻ tiền! Bác Ruth, liệu bác có nhận ra cái vòng cổ này vốn được làm thủ công và đã được một nàng công chúa Ai Cập đeo từ trước cả thời Moses không?”

    “Ái chà, nếu cháu muốn tin vào những câu chuyện thần tiên của Lưng Binh Priest thì cứ việc,” bác Ruth nói, vẻ thích thú. “Nếu ta mà là cháu, Em’ly ạ, ta sẽ không đeo nó trước mặt mọi người đâu. Người nhà Murray không bao giờ đeo đồ nữ trang xoàng xĩnh. Tối nay cháu không định đeo nó đấy chứ, nhóc?”

    “Tất nhiên là có chứ ạ. Lần gần đây nhất nó được người ta mang trên người có lẽ là tại triều đình Pharaoh trong thời kỳ đàn áp. Giờ, nó sẽ tới buổi lễ khiêu vũ trên giày đi tuyết của Kit Barrett. Đúng là khác biệt một trời một vực! Cháu hy vọng tối nay hồn ma công chúa Mena sẽ không ám cháu. Cô ấy có khi sẽ tức giận vì sự phạm thượng của cháu, ai mà biết được? Nhưng có phải cháu là người vơ vét môn của cô ấy đâu, và nếu không phải cháu thì rồi cũng có người khác sở hữu món này thôi, một người nào đó có lẽ sẽ chẳng mảy may nghĩ đến nàng công chúa nhỏ đó. Cháu dám chắc cô ấy thà thấy sợi dây chuyền tỏa sáng ấm áp trên cổ của cháu còn hơn là ở trong một viện bảo tàng sầu thảm để cho hàng ngàn cặp mắt tò mà vô cảm nhìn chằm chằm. Cô ấy là người ‘hiền thục’, chú Dean đã nói thế, cô ấy sẽ không thấy miễn cưỡng khi cho phép cháu sở hữu sợi dây chuyền xinh đẹp của cô ấy. Thưa công chúa Ai Cập, người mà cả vương quốc đã tuôn trào trên cát sa mạc giống như rượu vang bị đổ tràn, tôi xin chào mừng người đi ngang qua khu vực thẳm thời gian.”

    Emily cúi rạp người và vẫy tay xuống trước những viễn cảnh về hàng bao nhiêu thế kỷ đã chết.

    “Thứ ngôn ngữ khoa trương như thế thật ngu ngốc quá đấy,” bà Ruth khịt mũi.

    “Ồ, câu cuối cùng đó gần như được trích dẫn toàn bộ từ bức thư của chú Dean đấy ạ,” Emily thẳng thắn nói.

    “Nghe cũng giống giọng anh ta lắm,” là lời tán thành khinh khỉnh của bà Ruth. “Chà, ta nghĩ cái vòng Venice của cháu còn hơn chán cái thứ đồ sặc mùi ngoại đạo kia đấy. Này, nhớ đừng có ở lại trễ quá đấy, Em’ly. Nhớ bảo Andrew đưa cháu về nhà trước mười hai giờ nhé.”

    Emily sẽ đi cùng Andrew đến buổi khiêu vũ của Kitty Barrett – một đặc quyền được ban cho một cách khá khoan dung vì Andrew nằm trong số những người được chọn. Cho dù mãi đến tận một giờ cô bé mới về nhà thì bà Ruth cũng sẽ bỏ qua thôi. Nhưng nếu làm vậy, Emily có nguy cơ sẽ gà gật suốt cả ngày, nhất là khi hai tối vừa rồi cô bé đã thức rất khuya để học bài. Trong thời gian thi cử, bà Ruth đã buông lỏng các quy định khắt khe của mình và cho phép tăng thêm kha khá lượng nến. Tôi không biết và cũng chẳng thể ghi chép lại bà ấy sẽ nói gì nếu biết Emily đã tận dụng một phần ánh sáng nến được cấp thêm ấy để viết một bài thơ về những cái bóng. Nhưng chẳng có gì để nghi ngờ chuyện bà sẽ coi nó là một bằng chứng bổ sung cho tính ranh mãnh. Có lẽ hành động đó đúng là ranh mãnh thật. Mong các bạn nhớ cho, tôi chỉ là người viết tiểu sử cho Emily chứ không phải người biện hộ của cô bé.

    Emily gặp Evelyn Blake ở phòng Ilse và dù không lộ rõ ra mặt nhưng Evelyn Blake vô cùng khó chịu trong lòng bởi vì cô ta không được mời đến buổi khiêu vũ trên giày trượt trong khi Emily Starr lại được mời. Vậy là Evelyn, đang ngồi bên chiếc bàn của Ilse và đu đưa cái mu bàn chân cao bọc lụa trước mặt các cô gái không có tất lụa, chỉ chực chờ bùng nổ cơn cáu gắt của mình.

    “Tớ mừng là cậu đã đến, bạn thân mến đáng tin cậy ạ,” Ilse rền rĩ. “Evelyn đã nhiếc móc từ suốt cả sáng nay rồi. Có lẽ giờ cô ta sẽ quay sang cậu mà tha cho tớ một lúc.”

    “Tôi vừa bảo cô ấy là phải học cách kiềm chế tính nóng nảy đi,” Evelyn nói với vẻ ta đây chắc chắn đúng. “Cậu không đồng ý với tôi sao, tiểu thư Starr?”

    “Cậu có chuyện gì vậy, Ilse?” Emily hỏi.

    “Ôi, sáng nay tớ vừa cãi nhau một trận ra trò với bà Adamson. Không sớm thì muộn rồi chuyện này cũng chẳng tránh được đâu mà. Tớ cư xử ngoan ngoãn quá lâu rồi nên cả một đống tật xấu đã chất thành núi trong tớ rồi đây này. Mary biết thế mà, đúng không Mary? Mary tin chắc là rồi sẽ có ngày nó bùng nổ thôi. Bà Adamson đã khơi mào bằng cách hỏi mấy câu rõ là khó chịu. Bác ấy lúc nào chẳng làm thế, đúng không Mary? Sau đó thì bà ấy bắt đầu nhiếc móc, và rồi cuối cùng thì gào lên. Đến lúc đó thì tớ tát vào mặt bà ấy.”

    “Cậu thấy chưa,” Evelyn nói, đầy thâm ý.

    “Tớ chẳng thể dừng lại được,” Ilse toét miệng cười. “Tớ có thể chịu đựng thái độ phi lý và lời nhiếc móc của bà ấy, nhưng đến khi bà ấy bắt đầu kêu lên… cứ lúc nào kêu gào là bà ấy xấu xí không chịu được; vậy đấy, thế là tớ tát bà ấy thôi.”

    “Có lẽ sau đó đó cậu cảm thấy dễ chịu hơn nhiều,” Emily nói, quyết tâm không để lộ bất kỳ dấu hiệu không tán thành nào trước mặt Evelyn.

    Ilse cười phá lên.

    “Có chứ, ban đầu thì vậy. Dù sao đi nữa nó cũng làm bà ấy thôi la hét. Nhưng sau đó thì không tránh khỏi cảm thấy có lỗi; nhưng có lẽ nếu trong trường hợp này nếu xảy ra lần nữa thì tớ sẽ vẫn làm thế thôi. Nếu Mary đây mà không quá tử tế đến thế thì tớ đã chẳng đến nỗi xấu xa bằng một nửa vậy. Thậm chí tớ còn phải cân bằng chút ít ấy chứ. Mary vốn ngoan ngoãn, nhún nhường và bà Adamson dễ dàng áp đảo cậu ấy. Cậu phải nghe bà ấy mắng nhiếc Mary nếu lỡ Mary có tuần nào đi chơi quá một tối cơ.”

    “Bà ấy đúng đấy,” Evelyn nói. “Tốt hơn hết cậu nên đi chơi ít thôi. Cậu đang bị nhắc nhở rồi đấy, Ilse.”

    “Dù sao đi nữa, chẳng phải tối qua cậu cũng ra ngoài chơi đấy sao, bạn thân mến?” Ilse hỏi kèm theo nụ cười toe toét xấu xa.

    Evelyn đỏ hết cả mặt và im lặng kiêu kỳ. Emily cắm đầu vào cuốn vở còn Mary và Ilse bỏ ra ngoài. Emily chỉ mong sao Evelyn cũng đi luôn đi cho xong. Nhưng Evelyn không có ý định bỏ đi chỗ khác.

    “Sao cậu không chỉ bảo để Ilse cư xử cho phải phép hả?” cô ra mở lời với cung cách thân mật đáng ghét.

    “Tôi chẳng có quyền gì với Ilse cả,” Emily lạnh nhạt nói. “Thêm nữa, tôi không nghĩ cậu ấy cư xử có gì không phải.”

    “Ôi, cô gái thân mến; này, chính cậu cũng nghe thấy bạn ấy bảo bạn ấy đã tát bà Adamson rồi đấy.”

    “Bà Adamson cần phải được đối xử như thế. Bà ấy là người đáng ghét; lúc nào cũng gào lên trong khi chẳng có chuyện gì khiến bà ấy phải gào lên như thế. Thật chẳng thể nào bực mình hơn được nữa.”

    “Thế đấy, chiều qua Ilse lại trốn giờ tiếng Pháp để đi cùng Ronnie Gibson lên thượng nguồn sông. Nếu cứ làm thế quá thường xuyên thì thể nào cậu ấy cũng bị bắt quả tang cho xem.”

    “Ilse rất được lòng cánh con trai mà,” Emily nói, biết quá rõ Evelyn muốn gì.

    “Cậu ấy được lòng nhầm đối tượng rồi,” giờ thì Evelyn lại giở giọng kẻ cả, dựa vào trực giác mà ý thức được rằng Emily Starr ghét bị người khác tỏ vẻ bề trên. “Cậu ấy lúc nào cũng có cả một đám con trai rồ dại theo đuổi; cậu để ý mà xem, cánh con trai tử tế có thèm bận tâm đến cậu ấy đâu.”

    “Ronnie Gibson tử tế thế còn gì?”

    “Thế cậu nói gì về Marshall Orde nào?”

    “Ilse chẳng dính dáng gì đến Marshall Orde hết.”

    “Ồ, không dính dáng ấy à! Cậu ấy đánh xe đi chơi với cậu ta đến tận mười hai giờ đêm thứ Ba vừa rồi đấy, mà lúc đến thuê ngựa ở chuồng ngựa thì cậu ta đã say khướt rồi.”

    “Tôi không tin lời nào cậu nói hết! Ilse không bao giờ đi xe ngựa với Marshall Orde.” Môi Emily trắng bệch vì phẫn nộ.

    “Tôi đã nghe một người nhìn thấy bọn họ kể lại đấy. Giờ ở đâu người ta cũng đang bàn tán về Ilse kìa. Có lẽ cậu không có quyền uy gì với cậu ấy nhưng chắc chắn cậu cũng có chút ảnh hưởng nào đó chứ. Tuy nhiên, chính cậu nhiều khi cũng làm những chuyện ngu ngốc còn gì, đúng không? Có thể là chẳng cố tình gây hại gì. Chẳng hạn như cái lần cậu chẳng mặc tí quần áo nào mà đi tắm trên bãi cát ở làng Hồ Blair ấy? Cả trường chẳng ai lại không biết chuyện đó. Tôi đã nghe anh trai của Marsh cười cợt bêu riếu chuyện ấy đấy. Này, hành động đó chẳng ngu ngốc à, bạn thân mến?”

    Emily đỏ bừng mặt vì giận dữ và xấu hổ; tuy nhiên lý do chính là do Evelyn Blake coi là bạn – thân – mến. Buổi đi tắm dưới ánh trăng đẹp đẽ ấy – hết thảy mọi người đã biến nó thành một thứ báng bổ đến thế nào kia chứ! Cô sẽ không trò chuyện về nó với Evelyn; thậm chí cô sẽ chẳng thèm nói với Evelyn rằng họ vẫn mặc váy lót. Cứ để mặc cô ta muốn nghĩ gì thì nghĩ.

    “Có một số chuyện tôi không nghĩ là cậu hiểu rõ vấn đề, tiểu thư Blake ạ,” cô bé nói, với giọng điệu nhuốm màu châm biếm đi kèm với kiểu thái độ dễ khiến cho những từ vốn rất bình thường dường như cũng thành ra hàm chứa nhiều thâm ý không thể diễn đạt bằng lời.

    “Ồ, chẳng phải cậu nằm trong số những Người Được Chọn sao?” Evelyn bật ra một tiếng cười khe khẽ đầy ác ý.

    “Đúng vậy,” Emily bình tĩnh đáp, nhất định không chịu rời mắt khỏi cuốn vở.

    “Dào ôi, đừng tức tối quá, bạn thân mến. Tôi nói thế chỉ vì cảm thấy thật đáng tiếc khi Ilse tội nghiệp cứ đâm đầu vào nhầm chỗ suốt. Tôi cũng mến cậu ấy đấy chứ, cô gái tội nghiệp. Và tôi chỉ mong sao cậu ấy giảm bớt niềm yêu thích các màu sắc sặc sỡ đi. Cái váy dạ hội màu đỏ tươi cậu ấy mặc tại buổi hòa nhạc của lớp năm nhất ấy… thật tình, cậu biết đấy, nó kỳ dị quá.”

    “Tôi lại thấy cậu giống như một bông huệ vàng cao ráo trong lớp vỏ đỏ tươi roi rói,” Emily nói.

    “Cậu đúng là một người bạn trung thành, bạn thân mến ạ. Không biết liệu Ilse có sẵn lòng bảo vệ cậu như thế này không. Chà, có lẽ tôi phải để yên cho cậu học bài thôi. Cậu có bài thi tiếng Anh lúc mười giờ, đúng không nhỉ? Thầy Scoville sẽ tới coi thi đấy; thầy Travers bị ốm mà. Cậu không thấy tóc thầy Scoville đẹp lắm sao? Nhân nói về tóc, bạn thân mến, sao cậu không thả tóc xuống hai bên để che hết đôi tai đi; đại khái là qua cái đầu nhọn ấy? Có lẽ như thế trông cậu sẽ dễ coi hơn nhiều đấy.”

    Emily quyến định nếu Evelyn Blake mà gọi cô là “bạn thân mến” thêm lần nữa thì cô sẽ tương thẳng cái lọ mực vào cô ta. Tại sao cô ta không đi đi để yên cho cô học bài chứ?

    ©STENT

    Evelyn vẫn còn một quân bài khác.

    “Cậu bạn non nớt người Stovepipe của các cậu đã gửi bài cố đăng trên Bút lông đấy. Cậu ta gửi một bài thơ yêu nước. Tom đã đưa nó cho tôi xem. Đến chết vì cười mất. Đặc biệt có một câu rất hay ho; ‘Canada, như nàng trinh nữ, chào đón những đứa con trở về.’ Lẽ ra cậu nên nghe Tom rú lên như thế nào.”

    Emily khó lòng ngăn nổi nụ cười thầm, mặc dù cô bực mình kinh khủng với Perry vì cậu lại tự đi biến mình thành mục tiêu như thế. Tại sao cậu không thể ý thức được giới hạn của mình và hiểu rằng sườn núi Parnassus[2] không phải nơi dành cho cậu?

    [2] Theo thần thoại Hy Lạp, ngọn núi này là nhà của các nàng thơ Muse.

    “Tôi cứ tưởng biên tập viên của Bút lông đâu có quyền cho người ngoài xem các bài viết bị loại của cộng tác viên,” cô lạnh lùng nói.

    “Tom đâu có xem tôi là người ngoài. Và thật ra nó quá hay để cứ giữ rịt đấy. Chà, có lẽ tôi chạy xuống hiệu sách đây.”

    Emily thở phào nhẹ nhõm khi Evelyn đi ra ngoài. Cô ta vừa đi thì Ilse quay lại.

    “Evelyn đi rồi hả? Sáng nay cô ta đến là dễ thương. Tớ không hiểu nổi Mary thấy gì hay ho ở cô ta chứ. Mặc dù không phải kiểu người thú vị nhưng Mary cũng khá tử tế.”

    “Ilse,” Emily nghiêm nghị nói. “Tuần vừa rồi cậu đã ngồi xe ngựa đi chơi tối với Marsh Orde à?”

    Ilse nhìn chằm chằm cô bạn.

    “Không, cô gái thân mến chết tiệt ạ. Tớ có thể đoán được cậu đã nghe câu chuyện bịa đặt đó từ đâu. Tớ không biết cô gái đó là ai.”

    “Nhưng cậu đã trốn buổi tiếng Pháp đi lên thượng nguồn sông với Ronnie Gibson?”

    “Peccavi.”

    “Ilse… lẽ ra cậu không nên… thật sự…”

    “Này, đừng có chọc tức tớ, Emily!” Ilse nói cụt lủn. “Cậu bắt đầu trở nên thiển cận thái quá rồi đấy… phải làm gì đó để chữa trị cho cậu trước khi thói đó biến thành thâm căn cố đế mới được. Tớ ghét sự gò bó. Tớ đi đây; tớ muốn tạt qua hiệu sách trước khi tới trường.”

    Ilse dằn dỗi vơ sách vở lại rồi tất tả bỏ đi. Emily ngáp dài và tự nhủ lòng thế là cô đã thông tỏ bài vở ghi chép hết rồi. Vẫn còn nửa tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ cô phải tới trường. Có khi cô cứ ngả lưng lên giường Ilse một chốc vậy.

    Dường như, mới chỉ phút trước phút sau thôi khi cô ngồi dậy, thất kinh nhìn chằm chằm chiếc đồng hồ của Mery Carswell. Mười một giờ kém năm; chỉ còn năm phút cho cô bé băng qua nửa dặm phố để ngồi vào bàn thi. Emily quáng quàng đội mũ mặc áo khoác, vớ vội mấy cuốn vở rồi lao đi. Đến khi cô bé tới được trường trung học thì sém chút đã đứt hết cả hơi, trong lòng dấy lên cảm giác khó chịu khi ý thức được mọi người đều nhìn cô bằng ánh mắt kỳ quái khi cô băng băng lao qua phố xá, treo áo khoác lên giá mà chẳng buồn đánh mắt qua cái gương, và vội vã chạy vào trong lớp.

    Cả phòng học sửng sốt nhìn chòng chọc, chỗ nãy chỗ kia vang tiếng cười khúc khích. Thầy Scoville, dáng người dong dỏng thanh lịch, đang phát giấy thi cho học trò. Ông đặt một tờ giấy xuống trước mặt Emily và nghiêm nghị hỏi,

    “Trò có soi gương trước khi đến lớp không vậy, tiểu thư Starr?”

    “Không ạ,” Emily bực bội đáp, cảm giác được đang có một sự nhầm lẫn khủng khiếp nào đó.

    “Có… lẽ… nếu… ta… là… trò… thì… giờ… ta… sẽ… nhìn thử… xem sao đấy.” Thầy Scoville có vẻ khó khăn lắm mới cất nổi nên lời.

    Emily đứng dậy quay trở lại phòng thay đồ nữ. Cô bé gặp thầy hiệu trưởng Hardy trên sảnh và hiệu trưởng Hardy nhìn cô chằm chằm. Tại sao hiệu trưởng Hardy lại nhìn chằm chằm… tại sao các học sinh năm nhất lại phá lên cười… ngay khi đối diện với tấm gương soi trong phòng thay đồ, Emily đã hiểu.

    Một bộ râu đen tinh tế nằm vắt ngang môi trên và hai bên má cô; một bộ râu đen sì kiểu cách, hai đầu xoăn tít. Emily mất một lúc cứ há hốc miệng kinh hoàng thất thần nhìn chằm chằm hình ảnh phản chiếu của mình… tại sao… chuyện gì… ai đã làm thế này?

    Cô bé giận dữ quay ngoắt lại. Evelyn Blake vừa bước vào phòng.

    “Cậu… cậu đã làm chuyện này!” Emily hổn hển nói.

    Evelyn nhìn chòng chọc một lúc… rồi bật cười rũ rượi.

    “Emily Starr! Trông cậu kinh quá đi mất. Nói thử coi, cậu đã vào lớp với cái đó trên mặt đấy à?”

    Emily siết chặt nắm tay.

    “Cậu đã làm chuyện này,” cô nhắc lại.

    Evelyn kiêu kỳ đứng thẳng dậy.

    “Thật tình, tiểu thư Starr ạ, rất mong cậu đừng có nghĩ rằng tôi sẽ hạ mình làm cái trò hề như vậy. Theo tôi đoán, cô bạn Ilse quý hóa của cậu cho rằng cô ta đã chơi cho cậu một vố ra trò; cô ta cứ khúc kha khúc khích mãi lúc bước vào lớp vài phút trước.”

    “Ilse không bao giờ làm chuyện này,” Emily kêu lên.

    Evelyn nhún vai.

    “Tôi sẽ lau nó sạch sẽ đi đã rồi sau đó mới tìm hiểu xem ai là thủ phạm,” cô ta nhăn mặt lại nói trong lúc bước ra ngoài.

    Emily, cả người run lên bần bật vừa vì giận dữ xấu hổ vừa vì một nỗi nhục nhã mãnh liệt trước nay chưa từng trải qua bao giờ, bèn lau sạch bộ râu dính trên mặt.

    Thoạt đầu, cô chỉ muốn về nhà; cô không thể đối diện thêm lần nữa với phòng học đầy học sinh năm nhất. Rồi cô nghiến răng quay lại, vẫn ngẩng cao mái đầu tóc đen nhánh bước dọc lối đi giữa lớp để quay về bàn. Mặt cô đỏ bừng bừng còn trong lòng cũng đang rừng rực lửa. Trong góc lớp, cô nhìn thấy mái tóc vàng của Ilse đang cúi xuống tờ giấy. Những học sinh khác người cười mỉm người khúc khích. Thầy Scoville nghiêm trang đến bực mình.

    Emily cầm bút lên nhưng bàn tay run bần bật trên trang giấy.

    Giá như ngay lúc đó cô có thể òa lên khóc cho thỏa lòng thì hẳn nỗi xấu hổ và con giận dữ đã tìm được một lối thoát hiểm. Nhưng không thể làm thế được. Cô sẽ không khóc. Cô sẽ không để họ nhìn thấy cái vực thẳm hổ nhục sâu hun hút của cô. Giá như Emily có thể cười xòa mà bỏ qua cho cái trò đùa ác đó thì hẳn cô đã thấy dễ chịu hơn nhiều. Là Emily, và là người mang trong mình dòng máu Murray kiêu hãnh, cô không thể. Thẳm sâu trong tâm hồn nồng nhiệt, cô vô cùng phẫn uất trước sự sỉ nhục này.

    Còn về bài thi tiếng Anh thì có lẽ cô nên về nhà đi cho rồi. Cô đã mất sẵn hai mươi phút. Phải thêm mười phút nữa cô mới có thể vững tay đủ để viết được. Cô không tài nào điều khiển được tâm trí mình. Bài thi khá hóc búa, theo đúng phong cách ra đề của thầy Travers. Đầu óc cô dường như chỉ là một mớ ý nghĩ chen chúc rối như bòng bong quay cuồng quanh cái điểm cố định là nỗi xấu hổ giày vò tâm can kia. Ngay khi đem nộp bài thi và rời khỏi lớp học, cô đã biết mình đánh mất ngôi sao kia mất rồi. Bài thi đó cùng lắm chỉ đủ điểm qua. Nhưng giữa lúc cảm xúc đang quay cuồng hỗn loạn, cô chẳng buồn quan tâm. Cô vội vã trở về căn phòng thiếu thân thiện ở nhà, tạ ơn trời vì bà Ruth đã đi vắng, và quăng mình lên giường nức nở. Cô cảm thấy đau đớn nhức nhối, cảm thấy như bị đánh đập, cả người bầm dập; và bên dưới hết thảy những nỗi đau đó, nhen nhóm một mối nghi ngờ khủng khiếp đầy dằn vặt.

    Có phải Ilse là thủ phạm không; không, bạn ấy không làm thế đâu; bạn ấy không thể làm thế. Vậy thì ai? Mary? Thế thì phi lý quá. Hẳn phải là Evelyn đã quay lại và giở cái trò đùa độc ác ấy để trả thù. Nhưng cô ta đã phủ nhận lời buộc tội, với vẻ phẫn nộ xem chừng do thấy mình bị sỉ nhục, và đôi mắt cô ta có lẽ toát lên vẻ vô tội mãnh liệt. Ilse đã nói gì nhỉ – “Cậu bắt đầu trở nên thiển cận thái quá rồi đấy… phải làm gì đó để chữa trị cho cậu trước khi thói đó thành thâm căn cố đế mới được.” Có phải Ilse đã dùng cách thức ghê tởm này để chữa trị cho cô không?

    “Không… không… không.!” Emily úp mặt vào gối điên cuồng nức nở. Nhưng nỗi nghĩ ngờ vẫn bám riết.

    Bà Ruth thì chẳng nghi với ngờ gì hết. Bà Ruth đang đi thăm bà bạn Ball, và bà bạn Ball đó lại có một cô con gái học lớp năm nhất. Khi về nhà, Anita Ball đã kể lại câu chuyện vốn được đem ra làm trò cười trong tất cả các lớp năm nhất, năm hai và năm ba, và Anita Ball cho biết Evelyn Blake đã tuyên bố chính Ilse Burnley là tác giả của hành động đó.

    “Vậy đấy,” bà Ruth xông vào phòng Emily ngay khi trở về nhà, “ta nghe nói hôm nay Ilse Burnley đã trang điểm đẹp đẽ cho cháu lắm. Hy vọng đến giờ thì cháu đã nhận ra nó là người thế nào rồi.”

    “Ilse không làm chuyện đó,” Emily nói.

    “Cháu đã hỏi nó chưa?”

    “Chưa ạ. Cháu sẽ không sỉ nhục bạn ấy bằng một câu hỏi như thế.”

    “Chà, ta tin chắc chính nó đã gây ra chuyện đó. Và nó đừng hòng đến đây thêm lần nào nữa. Cháu hiểu cho rõ đấy nhé.”

    “Bác Ruth…”

    “Cháu nghe ta nói rồi đấy. Em’ly. Ilse Burnley không phù hợp làm bạn với cháu đâu. Dạo gần đây ta đã nghe quá nhiều câu chuyện về con bé ấy rồi. Nhưng chuyện này thì không thể tha thứ được.”

    “Bác Ruth, nếu cháu hỏi Ilse liệu có phải bạn ấy đã làm chuyện này không và bạn ấy bảo không thì lẽ nào bác cũng không tin bạn ấy ư?”

    “Không, ta chẳng tin bất kỳ đứa con nào được nuôi dưỡng theo kiểu của Ilse Burnley. Ta tin chắc chuyện gì nó cũng dám làm, điều gì nó cũng dám nói. Đừng có để ta nhìn thấy con bé ấy xuất hiện ở nhà ta lần nào nữa.”

    Emily đứng dậy, cố gắng lột tả vẻ Murray trên khuân mặt đã méo đi vì khóc.

    “Tất nhiên rồi, bác Ruth,” cô lé lạnh lùng nói. “Cháu sẽ không đưa Ilse về đây nếu bạn ấy không được chào đón. Nhưng cháu sẽ tới thăm bạn ấy. Và nếu bác cấm cháu… cháu sẽ… cháu sẽ quay về Trăng Non. Giờ, cháu đang cảm thấy mình có đi đâu cũng chẳng quan trọng. Chỉ có điều… cháu sẽ không để Evelyn Blake đuổi cháu đi đâu.”

    Bà Ruth biết thừa ở trang trại Trăng Non, mọi người sẽ không đời nào tán thành chuyện chia tách hoàn toàn Emily và Ilse. Dù sao đi nữa, họ vẫn quá thân thiết với ông bác sĩ. Bà Duttton trước nay vẫn chẳng ưa gì bác sĩ Burnley. Bà buộc phải thỏa mãn với cái cớ giữ cho Ilse tránh xa khỏi nhà bà, một điều bà vốn đã từ lâu mong mỏi. Không phải vì cảm thông gì với Emily mà bà Ruth bực tức trước sự vụ này như thế, mà thái độ đó chỉ đơn thuần xuất phát từ nỗi giận dữ khi thấy một người nhà Murray bị biến thành trò cười.

    “Ta cứ tưởng cháu chán ngấy chẳng muốn gặp Ilse nữa rồi chứ. Về phần Evelyn Blake, đấy là một đứa con gái quá khôn ngoan và nhạy cảm để có thể chơi cái trò ngu ngốc như thế. Ta biết gia đình Blake. Đó là một gia đình ưu tú và cha của Evelyn cũng thuộc hàng khá giả. Này, đừng có khóc nữa. Mặt mũi cháu nom xinh quá thể. Khóc lóc thì có nghĩa lý gì cơ chứ?”

    “Chẳng có nghĩa lý gì cả,” Emily ủ rũ tán thành, “chỉ có điều cháu chẳng thể dừng được. Cháu không thể chịu đựng nổi khi bị biến thành trò cười. Cháu có thể cam chịu hết thảy mọi chuyện, chỉ riêng điều này thì không. Ôi, bác Ruth ơi, xin bác hãy để mặc cháu một mình. Cháu chẳng thể nuốt nổi món gì đâu.”

    “Có tí chuyện cũng khiến cháu kích động thái quá – đúng kiểu người nhà Starr. Người nhà Murray chúng ta luôn che dấu cảm xúc của mình.”

    “Cháu chẳng tin là họ hàng nhà bác lại có chuyện gì để mà che giấu… một vài người trong dòng họ bác,” Emily thầm phản bác.

    “Sau chuyện này thì tránh xa Ilse Burnley ra nhé, rồi thì cháu sẽ chẳng có mấy nguy cơ bị mất mặt trước bàn dân thiên hạ đâu,” bà Ruth khuyên nhủ trước khi ra ngoài.

    Ngày hôm sau, qua một đêm thao thức – lúc nào cũng canh cánh trong lòng cái cảm giác nếu không thể đẩy cái trần cách xa mặt mình ra thì chắc chắn cô sẽ chết ngạt mất; Emily đến gặp Ilse và miễn cưỡng truyền đạt lại lời bà Ruth đã nói. Ilse đùng đùng nổi giận; nhưng Emily đau đớn nhận thấy cô bạn không kiên quyết xác nhận sự vô tội trước trò đùa vẽ vời đó.

    “Ilse, cậu… cậu không làm chuyện đó thật đấy chứ?” cô bé ngập ngừng hỏi. Cô biết Ilse không làm thế – cô chắc chắn về điều đó – nhưng cô vẫn muốn nghe cô bạn khẳng định lại. Bất ngờ thay, khuôn mặt Ilse bất chợt đỏ ửng lên.

    “Tôi tớ ngài, con chó này, là chi mà làm được điều quá thể như vậy?”[3] cô bé hỏi, có phần bối rối. Thái độ bối rối thế này thật khác một trời một vực so với cô bé Ilse thẳng thắn, vô tư thường ngày. Cô quay mặt sang chỗ khác và bắt đầu lục lọi cặp sách một cách vô mục đích. “Cậu không nghĩ là tớ lại đi làm một chuyện kiểu như thế với cậu đấy chứ, Emily?”

    [3] Trích Sách các vua, Kinh Thánh.

    “Không, tất nhiên là không,” Emily chậm rãi nói. Chủ đề này dừng lại ở đó. Nhưng thẳm sâu trong tâm trí Emily, một mối hồ nghi mơ hồ đã chui ra khỏi nơi ẩn ấp mà lộ rõ hình hài. Tuy nhiên, cô vẫn không tin nổi Ilse lại có thể làm một chuyện như thế; và đến lúc sau lại còn nói dối về chuyện đó nữa. Nhưng tại sao bạn ấy lại bối rối và thẹn thùng đến thế? Chẳng phải nếu vô tội thì như bình thường Ilse hẳn đã làm ầm hết cả lên, không kiêng nể gì mà thẳng thừng nhiếc móc Emily vì mối ngờ vực chẳng có căn cứ xác thực nào, và thông thường sẽ truy đuổi đề tài này cho tới tận khi toàn bộ nọc độc đã bị rút cạn?

    Không ai đả động đến chuyện này lần nữa. Nhưng cái bóng của nó thì vẫn ở đó, và xét ở chừng mực nào đó, đã phá hủy kỳ nghỉ Giáng sinh ở Trăng Non.

    Nhìn bề ngoài, hai cô gái vẫn thân thiết như từ xưa đến nay, nhưng Emily ý thức được một cách sâu sắc đã có một kẽ nứt bất ngờ xuất hiện giữa cả hai. Cho dù cô có nỗ lực đến đâu thì cũng chẳng thể hàn gắn được khe hở đó. Nó lại càng bị khoét sâu hơn khi Ilse dường như chẳng mảy may nhận ra bất kỳ sự chia rẽ nào như thế. Lẽ nào mối quan tâm Ilse dành cho tình bạn giữa hai người vẫn chẳng đủ độ để cô bé cảm nhận được bầu không khí lạnh lùng đã bao trùm lên nó? Lẽ nào cô có thể hời hợt và dửng dưng đến độ không nhận thức được nó? Emily ủ ê ngẫm nghĩ lại mãi và càng lúc đầu óc càng thiếu lành mạnh. Một thứ như thế – một thứ mập mờ nhiễm độc lẩn trốn trong bóng tối chẳng bao giờ dám lộ diện – luôn có sức tàn phá đối với tính cách nồng nhiệt nhạy cảm của cô. Chẳng cuộc cãi vã thẳng thắn nào với Ilse có thể tác động đến cô bé theo cách này; cô đã tranh cãi với Ilse không biết bao nhiêu lần và rồi ngay sau đó lại làm hòa luôn, chẳng vương vấn cay đắng, chẳng còn ánh mắt ngần ngại nào. Chuyện này thì lại khác hẳn. Emily càng nghiền ngẫm, nó lại càng trở nên gớm guốc hơn. Cô không hề vui vẻ, cứ bồn chà bồn chồn và tâm hồn như để tận đẩu đâu. Bà Laura và ông Jimmy nhận thấy thế nhưng lại cứ đinh ninh cô bé đang thất vọng vì cái ghim ngôi sao. Cô đã nói với họ cô tin chắc mình sẽ không đạt được thành tích đó. Nhưng Emily đã thôi lo nghĩ đến cái ghim cài ngôi sao từ lâu rồi.

    Tất nhiên, cô bé mất một thời gian sầu não khi quay trở lại trường trung học và kết quả thi được công bố. Cô không nằm trong tốp bốn người đáng được ghen tị được trưng cái ghim ngôi sao ra, và chuyện này đã thành đề tài cho bà Ruth chì chiết suốt mấy tuần liền. Bà Ruth tưởng như thất bại của Emily đã khiến bà mất đi cái uy tín vốn có của dòng họ, và bà cay đắng khôn nguôi vì điều đó. Nói chung, trong cảm nhận của Emily, năm mới dường như đã đến cũng quá nhiều bất hạnh. Cô bé không bao giờ muốn nhớ lại những chuyện đã xảy ra trong tháng đầu tiên của năm ấy. Cô chìm trong nỗi cô đơn cùng cực. Ilse không thể đến thăm cô, và dẫu cho cô vẫn tự mình đến gặp Ilse, thì cái khe hở nhỏ xíu mong manh giữa họ vẫn càng lúc càng từ từ nở rộng ra. Ilse vẫn chẳng cho thấy bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ cô cảm nhận được nó; nhưng giờ, chẳng hiểu sao, cô hiếm khi ở một mình cùng Ilse. Căn phòng lúc nào cũng có rất đông các cô gái, và chẳng bao giờ thiếu tiếng ồn ào, tiếng cười đùa trêu chọc cùng những chuyền ngồi lê đôi mách về trường lớp; tất cả đều vô hại và thậm chí còn vui vẻ nữa, nhưng khác hẳn so với tình bạn thấu hiểu và thân thiết xưa giữa cô và Ilse. Trước đây, hai người bạn vẫn thường vui vẻ đùa rằng họ có thể đi dạo hay ngồi hàng tiếng đồng hồ bên nhau, chẳng nói năng chi mà vẫn cảm thấy cả hai đều đã có một khoảng thời gian tuyệt vời. Giờ không còn những khoảng lặng như thế nữa; nếu có lúc nào đó tình cờ họ được ở một mình cùng nhau, cả hai sẽ líu lo những câu chuyện vui vẻ và hời hợt, như thể mỗi người đều âm thầm lo sợ rồi sẽ đến lúc bị sự im lặng bội phản.

    Emily khôn nguôi nỗi nhức nhối trong lòng vì tình bạn đã mất giữa hai người; đêm đêm chiếc gối của cô đều ướt mèm nước mắt. Dẫu vậy cô cũng chẳng thể xóa bỏ được mối nghi ngờ đã ăn sâu bén rễ trong cô. Cô không ít lần chân thành tìm mọi cách xóa bỏ nó đi. Ngày nào cô cũng tự nhủ rằng Ilse Burnley không bao giờ có thể chơi trò đó; rằng xét về mặt bản chất thì Ilse không có khả năng làm thế; và cô ngay lập tức đến gặp Ilse, mang theo lòng quyết tâm cao độ rằng cô sẽ đối xử với cô bạn y như từ trước đến nay vẫn thế. Thành ra kết quả là cô lại thân mật vui vẻ – thậm chí vồn vã – một cách gượng gạo, và cũng chẳng yêu quý con người đích thực của cô hơn mức cô yêu quý Evelyn Blake là mấy. Ilse vẫn thân mật vui vẻ không để đâu cho hết, và vết nứt vẫn càng lúc càng nở rộng hơn.

    “Giờ Ilse chẳng giận dữ gì với mình nữa hết,” Emily buồn bã ngẫm nghĩ.

    Quả đúng như thế thật. Ilse lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ với Emily, luôn lấy thái độ lịch sự ra mà dựng thành một tấm vách ngăn kiên cố chẳng vỡ nổi trước một chớp lóe sáng từ tinh thần hoang dã ngày xưa. Emily chẳng mong mỏi gì hơn một cơn giận dữ long trời lở đất của Ilse. Nó có thể phá vỡ tảng băng vẫn không ngừng bền bỉ dày lên giữa họ, và rồi tháo tung cơn lũ cảm xúc vẫn đang bị dồn nén bấy lâu.

    Một trong những nỗi đau nhức nhối nhất phát sinh từ tình huống này là Evelyn Blake ý thức khá rõ tình trạng giữa Ilse và Emily. Ánh giễu cợt lấp lánh trong đôi mắt nâu dài và sắc thái nhạo báng kín đáo khuất lấp trong những câu nói tình cờ của cô ta đã cho thấy rõ cô ta không chỉ ý thức mà còn thích thú với tình huống này. Emily, vốn cảm thấy mình chẳng tài nào chống đỡ được chuyện này, không thể tránh khỏi cảm giác cay đắng khổ sở. Evelyn vốn là cô gái thường xuyên khó chịu trước tình cảm thân thiết của các cô gái khác, và cô nàng đặc biệt tức tối trước tình bạn giữa Ilse và Emily. Tình bạn đó mới trọn vẹn làm sao, mới mê say biết chừng nào. Nó chẳng còn chỗ để bất kỳ ai khác chen vào nữa. Và Evelyn chẳng hề thích thú cái cảm giác bị gạt ra ngoài lề; cái cảm giác rằng có một khu vườn kín cổng cao tường nào đó mà có lẽ cô ta chẳng bước vào được. Bởi vậy, cô ta hân hoan sung sướng xiết bao khi nghĩ rằng tình bạn đẹp đẽ đến bực mình giữa hai cô gái bao lâu nay vẫn khiến cô ta âm thầm ganh ghét vậy là đã đi đến hồi kết thúc.
     
  10. Shino chan

    Shino chan Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    22/4/2017
    Bài viết:
    1.809
    Lượt thích:
    11.310
    Kinh nghiệm:
    113
    Chương 9: Phút huy hoàng
    Emily chậm chạp lê bước xuống cầu thang, cảm giác như mọi sắc màu cuộc sống, mọi giai điệu cuộc đời bằng cách nào đó đều đã bị rút cạn, và cuộc đời đang trải ra trước mắt cô trong màu xám bất tận. Mười phút sau đó, cô đã được bao bọc trong những sắc cầu vồng, và sa mạc tương lai của cô đã nở rộ như bông hoa hồng.

    Nguyên nhân của sự thay đổi diệu kỳ này là một bức thư mỏng được bà Ruth đưa cho cô bé kèm theo một tiếng khịt mũi đặc sệt phong cách bà Ruth. Còn có thêm cả một tờ tạp chí nữa, nhưng thoạt đầu Emily không để ý đến nó. Cô nhìn thấy địa chỉ một công ty hoa cỏ trên góc phong bì, và khi chạm tay vào, cô cảm nhận được sự mỏng manh đầy hứa hẹn của nó – quá khác biệt so với những bức thư dày cộp chật ních những vần thơ bị loại bỏ.

    Trái tim cô đập thình thịch trong lồng ngực khi cô xé phong bì và liếc nhìn tờ giấy đánh máy.

    “Cô Emily B. Starr,

    “Shrewsbury, Đảo H.E.,

    “Can.

    “Cô Starr thân mến:

    “Chúng tôi vô cùng hân hạnh thông báo với cô rằng bài thơ của cô, Tiếng cú cười, rất phù hợp để sử dụng trên Rừng và Vườn. Nó đã được đăng tải trên kỳ tạp chí này của chúng tôi, và chúng tôi có gửi kèm cho cô một tờ tạo chí. Các vần thơ của cô có sự ngân rung đích thực và chúng tôi rất vui nếu được nhận thêm nhiều tác phẩm khác của cô. “Thông thường, chúng tôi không trả tiền mặt cho các tác phẩm gửi đến cho chúng tôi, nhưng cô có thể chọn từ trong bảng danh mục của chúng tôi các hạt cây hay cây trị giá hai đô la để chúng tôi gửi theo dịch vụ trả phí trước đến địa chỉ của cô.

    “Cảm ơn cô,

    “Mãi mãi là người bạn chân thành của cô,

    “THOS. E. CARLTON & CO.”

    Emily thả rơi bức thư và tay run run chộp lấy tờ tạp chí. Cô bắt đầu thấy choáng váng; những con chữ nhảy múa trước mắt cô; cô cảm thấy một nỗi nghẹn ngào kỳ dị dâng lên trong cổ họng; vì ngay trên trang nhất, bên trong một cái khung xinh đẹp trang trí bằng những vòng xoắn xuýt, là bài thơ của cô; Tiếng cú cười, sáng tác bởi Emily Byrd Starr.

    Nó là cái bong bóng ngọt ngào đầu tiên sủi trên chiếc cốc thành công, và dù cô bé có chếnh choáng men say thì thiết nghĩ chúng ta cũng đừng nên coi cô là kẻ khờ dại. Cô mang cả bức thư lẫn tờ tạp chí về phòng để thỏa thích hau háu nhìn chúng, quá hân hoan chẳng buồn để ý đến bà Ruth đang khịt mũi rất nhiệt tình. Bà Ruth thấy nghi ngờ cao độ trước gò má bất chợt ửng hồng, đôi mắt sáng long lanh và vẻ hân hoan bay bổng xa rời cõi trần thế ấy.

    Về đến phòng, Emily ngồi xuống đọc bài thơ như thể cả đời cô bé chưa từng nhìn thấy nó lần nào. Tất nhiên, có một lỗi in trong bài thơ khiến cô sởn hết cả da ốc – thật đáng kinh hoàng khi trăng của người thợ săn lại thành ra chăn của người thợ săn – nhưng nó là bài thơ của cô… của cô… đã được chấp nhận và được đăng trên một tờ tạp chí đích thực.

    Và được trả nhuận bút! Tất nhiên một tấm séc thì sẽ được hoan nghênh nồng nhiệt hơn nhiều; hai đô la của riêng cô, kiếm được bằng chính ngòi bút của cô, có vẻ như là cả một gia tài đối với Emily. Nhưng sẽ thú vị xiết bao khi cô và ông Jimmy chọn lựa hạt giống! Cô có thể tưởng tượng ra hình ảnh thảm hoa xinh đẹp rạng rỡ giữa khu vườn ở Trăng Non mùa hè năm sau; thật lộng lẫy nào đỏ, nào tím, nào xanh, nào vàng.

    Và bức thư viết gì nhỉ?

    “Các vần thơ của cô có sự ngân rung đích thực và chúng tôi rất vui nếu được nhận thêm nhiều tác phẩm khác của cô.”

    Ôi mê ly; ôi sung sướng vô ngần! Thế giới này thuộc về cô; Đường Apls dường như đã ở ngay dưới chân; dẫu có phải bò thêm chút nữa để lên tới tận đỉnh núi thì cũng nhằm nhò gì cơ chứ?

    Emily không thể ở yên trong căn phòng chật hẹp tối tăm với cái trần nhà ngột ngạt và những đồ đạc thiếu thân thiện ấy nữa. Vẻ mặt thê lương của huân tước Byron là một nỗi sỉ nhục đối với niềm hạnh phúc của cô. Cô quơ quàng khăn áo khoác lên người và vội vã lao ra Miền Chính Trực.

    Lúc cô băng qua bếp, bà Ruth, lẽ đương nhiên đang thấy nghi ngờ hơn bao giờ hết, tra hỏi bằng giọng điệu ôn tồn rành rành ý châm chọc,

    “Cháy nhà hay sao thế hả? Hay là cháy bến cảng?”

    “Cả hai đều không ạ. Chính tâm hồn cháu đang cháy đấy ạ,” Emily đáp lại kèm theo nụ cười bí hiểm. Cô bé đóng sập cửa lại và ngay lập tức quên béng mất bà Ruth cùng hết thảy mọi điều mọi người không như ý khác. Thế giới này mới tươi đẹp làm sao; cuộc đời mới đẹp làm sao; Miền Chính Trực mới tuyệt diệu đến nhường nào! Những cây linh sam non nằm dọc con đường đẹp lắc rắc bụi tuyết, như thể, dưới con mắt của Emily, một tấm khăn voan đăng ten nhẹ tênh như không khí đang tinh nghịch phất phơ trên đầu nàng tu sĩ khổ hạnh vốn đã thề nguyền từ bỏ món đồ trang điểm phù phiếm hão huyền kiểu đó. Emily quyết định khi nào quay về sẽ viết lại câu này vào cuốn sổ Jimmy. Cô cứ thế nhảy chân sáo lên tới tận đỉnh đồi. Cô cảm thấy mình dường như đang bay; chân cô quả thực không thể chạm lên mặt đất. Lên đến đồi, cô dừng chân đứng lại đó trong ngây ngất mê say, đôi bàn tay siết chặt, ánh mắt mơ màng. Mặt trời vừa lặn. Xa kia, phía trên bến tàu đóng băng, những đám mây khổng lồ chồng chất lên nhau thành những khối ngũ sắc rực rỡ. Xa hơn nữa, những ngọn đồi trắng xóa đang lấp lóa phía dưới những vì sao sớm. Lọt thỏm giữa những thân cây linh sam cổ thụ tối sẫm, tại một chốn xa xăm xuyên qua không gian ban đêm trong vắt như pha lê, vầng trăng khổng lồ tròn vành vạnh đã nhô lên.

    “Nó có sự ngân rung đích thực,” Emily lẩm bẩm, lại một lần nữa nhấm nháp những câu từ phi thường đó. “Họ muốn đọc thêm tác phẩm của mình! Ôi, giá như cha nhìn thấy những vần thơ của mình được in trên trang giấy!”

    Nhiều năm trước, trong ngôi nhà cũ ở Maywood, khi Emily đang ngủ, cha cô đã cúi xuống bên cô mà nói, “Nó sẽ yêu thương sâu sắc… nó sẽ đau khổ tột cùng… nó cũng sẽ được đền bù bằng những khoảnh khắc huy hoàng.”

    Đây chính là một trong những khoảnh khắc huy hoàng của cô. Cô cảm thấy tinh thần nhẹ bẫng diệu kỳ; cảm nhận được một niềm hân hoan xốn xang tâm hồn đang hiện hữu. Khả năng sáng tạo, vốn đã ngủ yên suốt cả tháng trời vật vã vừa qua, bỗng nhiên lại bùng cháy trong lòng cô như một ngọn lửa thanh tẩy. Nó quét sạch những thứ day dứt, độc hại, thiếu lành mạnh. Bất chợt, Emily biết rằng Ilse không đời nào làm chuyện đó. Cô bật cười sung sướng… thích thú.

    “Xem mình ngu ngốc đến thế nào kia! Ôi, một con nhỏ ngu ngốc đến thế kia chứ! Tất nhiên, Ilse chẳng bao giờ làm chuyện đó. Giờ chẳng con gì xen giữa bọn mình nữa… nó đã biến mất rồi… biến mất rồi… biến rồi. Mình sẽ đi thẳng đến gặp bạn ấy và nói như thế với bạn ấy.”

    Emily vội vã quay xuống con đường hẹp. Miền Chính Trực phơi mình trước mắt cô, thấm đẫm vẻ bí ẩn dưới ánh trăng, được bao bọc trong sự trầm mặc thấm thía của cánh rừng mùa đông. Cô dường như đang chìm đắm trong vẻ đẹp, sự quyến rũ và bí ẩn của nó. Cùng với một tiếng thở dài bất chợt của Bà Gió xuyên qua những lối đi đầy bóng tối, “ánh chớp” lóe sáng và Emily tung tăng tới nhà Ilse, mang theo trong lòng dư quang của nó.

    Cô tìm thấy Ilse đang ở một mình; bèn vung tay ôm chặt cô bạn.

    “Ilse, hãy tha thứ cho tớ,” cô kêu lên. “Lẽ ra, tớ không nên nghi ngờ cậu; tớ đã nghi ngờ cậu; nhưng giờ thì tớ biết rồi; tớ biết rồi. Cậu sẽ tha thứ cho tớ chứ?”

    “Đồ dê con nhà cậu.” Ilse nói.

    Emily thích được gọi là con dê con. Đây chính là Ilse ngày xưa… Ilse của cô.

    “Ôi, Ilse, tớ đã khổ sở chết đi được.”

    “Này, đừng có mà gào toáng lên về chuyện đó thế,” Ilse nói. “Tớ cũng nào có vui vẻ gì cho cam. Emily này, tớ có chuyện cần nói với cậu. Im đi và nghe đây này. Hôm đó tớ gặp Evelyn ở hiệu sách và hai đứa tớ quay về nhà để lấy cuốn sách cô ta cần, rồi tớ thấy cậu đang ngủ say như chết ấy; say sưa đến độ bị tớ nhéo vào má mà cậu vẫn chẳng thèm nhúc nhích. Đúng lúc đó, tính độc ác nổi lên, tớ bèn nhặt một thỏi sáp màu đen và nói, ‘Tớ sẽ vẽ cho cậu ấy một bộ râu’… im đi! Evelyn thuỗn hết cả mặt ra, nói, ‘Ôi,đừng! Cậu không nghĩ làm thế thì hèn hạ quá à?’ Tớ không mảy may có chút chủ ý gì hết; tớ chỉ nói thế cho vui thôi; nhưng cái điệu bộ chính nghĩa khả ố của con tôm Evelyn đó khiến tớ sôi máu lên đến độ tớ quyết định sẽ làm thật cho xem, im đi… tớ định ngay lúc đó sẽ đánh thức cậu dậy và chìa tấm gương ra trước mặt cậu, thế là xong thôi. Nhưng tớ chưa kịp làm gì Kate Errol đã vào và bảo muốn bọn tớ đi cùng, vậy là tớ ném mẩu sáp xuống rồi đi ra ngoài. Chuyện chỉ có vậy thôi, Emily ạ, thề có Caesar đấy. Nhưng sau đó tớ vẫn cảm thấy thật tội lỗi và ngu xuẩn; nếu tớ có thứ gì đó giống như lương tâm thì hẳn tớ sẽ nói là tớ hơi bị cắn rứt lương tâm rồi, bởi vì tớ có cảm giác dẫu cho kẻ nào đã làm chuyện đó thì chắc hẳn chính tớ là người đã gieo rắc ý tưởng đó vào trong đầu hắn ta, và bởi vậy theo một cách nào đó thì cũng phải gánh chịu một phần trách nhiệm. Và rồi tớ nhận ra cậu không tin tưởng tớ; thành ra tớ lại phát điên lên; không phải điên theo kiểu giận dữ đùng đùng đâu, cậu biết đấy, mà là cái kiểu điên bên trong lạnh băng, khó chịu ấy. Tớ nghĩ cậu không có quyền nghi ngờ rằng tớ lại có thể làm một chuyện kiểu như để cậu đi đến trường trong bộ dạng đó. Và tớ nghĩ, đằng nào cậu cũng đã thế rồi nên làm gì thì cứ việc làm tiếp đi; tớ sẽ không thèm nói một lời để mọi chuyện ra ngô ra khoai. Ôi chao ơi, nhưng tớ mừng chết đi được vì cậu đã thông suốt vấn đề.”

    “Cậu có nghĩ là Evelyn Blake đã làm chuyện đó không?”

    “Không. Ôi dào, tất nhiên rất có khả năng chính cô ta đã làm chuyện đó, nhưng tớ chẳng thể luận ra nổi cô ta làm thế bằng cách nào. Cô ta tới hiệu sách cùng Kate và tớ, rồi chúng tớ để cô ta lại đó. Mười lăm phút sau cô ta vào lớp, vậy nên tớ nghĩ cô ta chẳng đủ thời gian quay lại làm chuyện đó đâu. Thật lòng, tớ nghĩ đó là trò quỷ của May Hilson. Chuyện gì mà cậu ta chẳng dám làm, và đúng lúc tớ đang vung vẩy thỏi phấn màu thì cậu ta đang ở trong hành lang. Thể nào cậu ta lại chẳng ‘vồ lấy cái gợi ý đó như mèo thấy mỡ’. Nhưng không thể nào là Evelyn được.”

    Emily vẫn nhất quyết tin rằng chuyện đó rất dễ có khả năng xảy ra và quả đã xảy ra thật. Nhưng giờ đây, vấn đề duy nhất cần để tâm là bà Ruth vẫn tin chắc Ilse là kẻ có tội và bà sẽ vẫn giữ vững niềm tin đó.

    “Ôi chà, đến là xấu hổ,” Ilse nói. “Chúng mình chẳng thể trò chuyện thân thiết chân tình ở đây được; Mary lúc nào cũng có cả đống bạn bè, còn Evelyn Blake, thì lượn lờ khắp mọi chỗ.”

    “Tớ sẽ tìm cho ra kẻ nào là thủ phạm,” Emily nói giọng cay độc, “và buộc bác Ruth phải nhượng bộ.”

    ©STE.NT

    Chiều hôm sau, Evelyn Blake phát hiện ra Ilse và Emily đang cùng nhau thoải mái chèo thuyền. Ít nhất cũng là Ilse đang chèo trong khi Emily ngồi cạnh, chân bắt tréo, vẻ chán chường ngạo mạn toát ra từ đôi mắt khép hờ xấc xược. Đây quả là một cảnh tượng đáng hoan nghênh với một cô gái không thích tình cảm thân thiết giữa những cô gái khác. Nhưng Evelyn Blake không hề vui mừng. Ilse lại đang cãi nhau với Emily; bởi vậy, Ilse và Emily lại một lần nữa đang trong giai đoạn mặn nồng.

    “Tôi rất mừng khi thấy cậu đã tha thứ cho Ilse vì trò đùa hèn hạ đó,” ngày hôm sau cô ta ngọt ngào nói với Emily. “Tất nhiên, đối với cậu ta mà nói thì đó chỉ đơn thuần là một hành động thiếu suy nghĩ thôi. Tôi lúc nào cũng khẳng định như thế; cậu ta chẳng bao giờ dừng lại nghĩ xem cậu ta đang biến cậu thành kẻ kỳ cục đến mức nào. Ilse tội nghiệp là người như thế đấy. Cậu cũng biết là tôi đã tìm cách ngăn cản cậu ta rồi đấy; tất nhiên trước đây tôi không nói cho cậu biết chuyện này; chuyện đã rắc rối sẵn rồi tôi cũng chẳng muốn làm phức tạp hơn nữa; nhưng tôi đã bảo với cậu ta bạn bè mà làm thế với nhau thì hèn hạ quá. Tôi cứ tưởng tôi đã khuyên can được cậu ta rồi chứ. Cậu thật quá tử tế khi tha thứ cho cậu ta đấy, Emily thân mến ạ. Cậu đúng là người tốt hơn tôi nhiều. Tôi e là tôi chẳng bao giờ có thể tha thứ được cho bất kỳ ai từng biến tôi thành trò cười như thế.”

    “Sao cậu không giết chết cô ta ngay tại chỗ đi?” Ilse hỏi khi nghe Emily kể lại chuyện này.

    “Tớ chỉ nheo mắt lại và nhìn cô ta theo đúng kiểu Murray thôi,” Emily nói, “mà như thế thì thà chết đi còn đỡ thảm thương hơn ấy chứ.”
     
Đang tải...
Chủ đề liên quan - Emily trên dải Diễn đàn Date
Emily Books - Lucy Maud Montgomery Tủ sách của bạn 26/10/2018
Emily và ngôi nhà không còn tuyệt vọng - Lucy Maud Montgomery Tiểu thuyết 24/10/2018
Emily ở trang trại trăng non - Lucy Maud Montgomery Tiểu thuyết 24/10/2018
Ebook Tiểu thuyết Đồi Gió Hú - Emily Brontë Tủ sách của bạn 26/6/2018
Đồi gió hú- Emily Bronte Truyện dài 18/7/2013
Emily cực chất trong MV mới ^.^ Bản tin sinh viên 26/10/2012

Chia sẻ cùng bạn bè

Đang tải...
TOP