Hoàn Cát Bụi Thời Gian - Sidney Sheldon

Trong chuyên mục 'Tiểu thuyết' đăng bởi Monmunmon, 30/6/2013. — 1.978 Lượt xem

  1. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Cát Bụi Thời Gian - Sidney Sheldon

    CHƯƠNG 1 - PAMPLONA, TÂY BAN NHA
    Nếu kế hoạch không thực hiện được bọn mình sẽ chết hết cả lũ. Anh ôn lại trong óc một lần cuối, thử đi thử lại cố tìm xem còn kẽ hở nào, nhưng không thấy gì. Kế hoạch thật là táo bạo, nó đời hỏi phải tính toán cẩn thận đến từng giây. Nếu trôi chảy, nó sẽ là một chiến công tuyệt vời, có thể sánh với nhân vật Elcid vĩ đại. Còn nếu bị hỏng thì...
    Thế là thời gian lo lắng qua rồi, Jaime tự triết lý. Bây giờ đã đến lúc hành động.
    Jaime Miro là một huyền thoại, một anh hùng đối với dân vùng Basque, nhưng anh lại là một kẻ đáng nguyền rủa đối với chính phủ Tây Ban Nha. Anh cao đến một mét chín mươi, khuôn mặt rắn rỏi và thông minh, thân hình vạm vỡ, đôi mắt đen thoáng vẻ lo nghĩ. Những người quen biết thường thích mô tả anh to lớn hơn, đen và hung dữ hơn. Anh mang trong người nhiều tính cách, một con người thực tế, biết rất rõ những gì là bất lợi cho bản thân mình, nhưng cũng lại là một con người lãng mạn, sẵn sàng hy sinh cho những gì mình tin tưởng Thị trấn Pamplona như đang lên cơn vậy. Đó là buổi sáng kết thúc đua bò tót, thường thường hàng năm tổ chức từ ngày mồng bẩy tháng Bảy đến ngày mười bốn tháng Bảy. Có đến ba chục ngàn khách thập phương đổ về thị trấn.
    Nhiều người đến cốt để xem cảnh bò chen nhau chạy, rất đáng sợ, và nếu muốn tỏ ra can đảm, họ lao vào chạy trước đàn bò. Tứ nhiều hôm trước, họ đã thuê hết các phòng khách sạn. Đám sinh viên từ Navare đến chỉ còn biết nằm vạ vật trước cửa nhà này, hiên nhà khác, hành lang nào đó hoặc trong ô tô, ngoài quảng trường và ngay trên các hè phố của thị trấn.
    Khách du lịch chen chúc trong các tiệm cà phê, quán rượu hay trong khách sạn... mải mê ngắm những đoàn diễu hành khổng lồ với những màu sắc sặc sỡ trong tiếng nhạc rộn rã. Phần lớn người diễu hành khoác lên mình những chiếc áo choàng tím với mũ liền màu xanh kim tuyến hoặc đỏ, vàng... Tràn qua các phố, đoàn diễu hành như những dòng sông cầu vồng. Tiếng pháo nổ dọc theo các tuyến xe điện càng làm cho không khí thêm ồn ào, sôi động.
    Họ kéo nhau tới đây để xem các trận đấu bò vào buổi tối. Nhưng sự kiện kỳ thú nhất lát nữa mới diễn ra. Đó là Encierro hội bò đuổi.
    Từ nửa đêm trước, tại những đường phố cuối thị trấn đã được tắt điện, đàn bò bị lùa khỏi chuồng để vượt sông và tập trung qua đêm tại cuối đường Cake Santo Domingo. Sáng nay, chúng sẽ được chạy dọc theo phố hẹp Cake Santo Domingo đã được che chắn, kỹ bởi các thanh cản bằng gỗ tại các góc phố. Khi chúng chạy hết phố thì sẽ được nhét vào các khu chuồng tại quảng trường Hemingway để chuẩn bị cho những trận đấu buổi chiều.
    Suốt từ nửa đêm tới sáu giờ sáng, các vị khách nhậu nhẹt, hát hò, háo hức không tài nào ngủ được. Những người sẽ tham gia chạy trước đàn bò tót khoác nơi cổ những chiếc khăn choàng màu đỏ San Permin truyền thống.
    Sáu giờ kém mười lăm, các ban nhạc bắt đầu kéo nhau ra phố và chơi các điệu nhạc sôi động của xứ Navare. Đúng bảy giờ, một pháo hiệu bay vút lên báo hiệu chuồng bò đã mở, đám đông lại càng háo hức. Vài giây sau quả pháo hiệu thứ hai bay lên báo cho toàn thị trấn biết bò đã xuất phát.
    Tiếp đó là một cảnh tượng không thể quên được. Bắt đầu, nó rầm rì theo gió từ xa vọng lại, hầu như không nhận thấy được. Tiếng ồn cứ lớn dần, lớn dần cho tới khi biến thành những tiếng nổ phát ra từ những cặp móng vuốt nện xuống mặt đường. Rồi đột nhiên vọt tới hàng chục con bò mộng, con nào con nấy ngót nghét cả tấn, lao sầm sập vào phố Santo Donlgo như đoàn tầu hỏa phóng hết tốc độ. Phía trong những thanh chắn bằng gỗ được đặt tại mỗi góc phố giao nhau là hàng ngàn chàng trai vừa ham muốn lại vừa hoảng sợ, sắp được tỏ rõ lòng quả cảm bằng việc chạy trước mũi những con bò điên.
    Đàn bò xuất phát từ cuối đường, qua phố Esthafeta và phố Favier, băng qua những cửa hiệu dược phẩm và trang phục, quầy hoa quả, lao về phía quảng trường Hemingway trong những tiếng hò la “ôlê” từ các đám đông như đã hóa rồ. Khi đàn bò tới gần, người ta giẫm đạp lên nhau để chạy trốn những cặp sừng nhọn hoắt và những chiếc móng giết người. Cái chết kề sát lưng khiến cho một số người tham gia vội vàng tìm đường chạy trốn. Số này bị đám đông hò hét “Cobardon! ”- đồ hèn. Một số người vấp ngã trên đường lập tức được lôi ra ngoài.
    Đứng sau những thanh gỗ chắn có một ông già nắm tay một cậu bé, cả hai ông cháu đều nín thở theo dõi quang cảnh kỳ thú diễn ra cách mình có vài bước chân.
    – Cháu nhìn các chàng trai kìa! - Ông cụ kêu lên. - Họ thật là cừ!
    – Ông ơi, cháu sợ lắm. - Chú bé run rẩy.
    – Ông già vòng tay ôm lấy cậu bé.
    – Ôi, Manolo, sợ thật.
    Nhưng cũng thật tuyệt. Một lần ông cũng chạy trước đàn bò thế này. Không gì có thể ví được với nó. Mình đem mình ra chết thử, và điều đó khiến người ta cảm thấy mình đích thực là đàn ông.
    Theo lệ, đàn thú sẽ mất hai phút để chạy hết chín trăm thước chiều dài đường Santo Domingo dẫn tới khu đường đấu và khi đàn bò đã được nhốt an toàn trong chuồng thì phát pháo hiệu thứ ba sẽ được bắn lên. Nhưng hôm ấy, phát đạn thứ ba đã không được bắn bởi một thảm hoạ bắna từng có trong lịch sử bốn trăm năm hội bò tót của Pamplona.
    Khi đàn bò tót lao vào đoạn đường hẹp, có sáu bảy người mặc áo choàng sặc sỡ đã tháo bỏ những thanh chắn gỗ, thế là chúng như được thoát ra khỏi sự tù túng, chật chội đổ ào vào trung tâm thành phố. Cái cảnh tượng mà khoảnh khắc trước đó còn là ngày hội hạnh phúc đột nhiên trở thành cơn ác mộng. Bầy thú điên dại lao vào đám người đứng xem còn đang ngơ ngác. Cậu bé và ông cụ nằm trong số người bị nạn đầu tiên. Cả hai bị đàn bò húc ngã rồi bị giẫm bét.
    Những cặp sừng hung ác sọc vào chiếc xe nôi giết chết luôn đứa bé và húc ngã bà mẹ rồi giày xéo nát bấy cái thân thể mỏng manh ấy. Khắp nơi tràn ngập không khí chết chóc. Đàn bò xô ngã đám đàn bà trẻ con, chọc những cặp sừng gớm ghiếc vào những người đi đường, vào các giá bày thực phẩm, kể cả các bức tường, hất tung mọi thứ không may xuất hiện trên đường đi của chúng. Người ta gào thét trong nỗi kinh hoàng, xô đẩy nhau trong tuyệt vọng hòng thoát ra khỏi đường chạy của đàn thần chết có sừng ấy.
    Một chiếc xe tải màu đỏ bỗng xuất hiện trên đường và lập tức trở thành mục tiêu tấn công của bò. Chúng lao theo chiếc xe đang từ từ chạy xuôi phố Estrella – đường dẫn tới nhà tù Pamplona.
    Nhà tù này cao hai tầng, xây bằng đá, cửa sổ có chấn song sắt lớn, trông rất gớm ghiếc. Bốn góc có bốn bót gác, phía trên cổng vào tung bay lá cờ Tây Ban Nha hai màu đỏ - vàng. Chiếc cổng đá dẫn tới một sân nhỏ.
    Tầng hai của tòa nhà là dãy xà lim chuyên giam giữ tử tù.
    Phía bên trong, một lính gác bận đồ cảnh sát Armanda đang dẫn vị cha cố mặc áo choàng đen đi dọc hành lang tầng hai. Người lính khoác khẩu tiểu liên.
    Thấy ánh mắt cha cố nhìn khẩu súng vẻ dò xét, người lính nói:
    – Chẳng phải là quá cẩn thận đâu, thưa cha. Tầng này toàn bọn cặn bã xã hội cả.
    Vị cha cố được dẫn qua một phòng đặt máy dò kim loại, giống như chiếc máy đặt ở sân bay.
    Xin cha thứ lỗi, nguyên tắc ở đây...
    – Hẳn rồi, cha biết.
    Khi vị cha cố bước qua chiếc máy, một tiếng rít vang lên dọc hành lang.
    Người lính gác theo bản năng đặt tay lên cò súng chĩa vào ông. Vị cha cố quay lại cười với người lính gác.
    – Ồ, xin lỗi, - vừa nói cha vừa tháo bỏ cây thánh giá kim loại nặng nề đeo trước ngực bằng một sợi dây bạc và trao cho người lính gác.
    Lần này khi cha cố bước qua, chiếc máy im lặng.
    Người lính gác trả lại cây thánh giá, rồi cả hai đi sâu vào khu tận cùng của nhà tù. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc sộc hành lang. Cha biết đấy, - người lính gác thong thả nói, - cha chỉ phí thời gian vô ích. Đám súc vật này làm gì có linh hồn mà cứu rỗi.
    – Biết thế, nhưng phải cố, con ạ.
    – Xin thưa với cha, - người lính gác lắc đầu, - cổng địa ngục đang chờ đón cả hai chúng nó.
    – Hai? Sao họ bảo cha phải rửa tội cho ba đứa? - Vị cha cố ngạc nhiên.
    – Chúng tôi đã tiết kiệm thời gian cho cha. Thằng Zamazo ngoẻo sáng nay trong nhà thương rồi. Bệnh đau tim! - Người lính gác nhún vai.
    Hai người bước tới hai gian xà lim trong cùng.
    – Đây thưa cha.
    Người lính gác mở khóa một gian xà lim, thận trọng lùi lại khi cha cố lách mình vào phía trong, rồi khóa lại như cũ và đứng ngoài hành lang, cảnh giác với bất cứ hiện tượng lạ nào.
    Cha cố bước tới chỗ có bóng người nằm trên chiếc giường đơn tanh tưởi.
    – Tên con là gì?
    – Ricardo Mellado.
    Cha cố nhìn hắn chằm chằm. Thật khó nói trông hắn ra sao. Mặt sưng húp bê bết máu. Mắt gần như nhắm tịt lại.
    Người tù mấp máy cặp môi dày:
    – Kính chào cha. Con rất mừng là cha đã đến.
    – Cứu vớt linh hồn con là bổn phận của nhà thờ. - Cha cố đáp lại.
    – Họ sẽ treo cổ con sáng nay phải không cha?
    Cha cố vỗ nhẹ vào vai người tù:
    – Con phải chịu hình phạt thắt cổ.
    Ricardo Mellado nhìn xói vào cha cố.
    – Không!
    – Cha rất tiếc. Nhưng quyết định này là của chính ngài thủ tướng.
    Cha cố đặt tay lên đầu người tù và lầm rầm đọc kinh.
    – Con đã phạm tội lớn trong suy nghĩ, trong lời nói, và con thành tâm ăn năn xin được tha tội. - Ricardo nói.
    Cha cố vẫn tiếp tục đọc kinh. Bên ngoài người lính gác đứng nghe, nghĩ thầm trong bụng. Thật là cái trò tốn thời gian ngu xuẩn. Chúa sẽ phỉ nhổ vào mặt thằng chết tiệt đó.
    Cha cố đọc xong bài Kinh rửa tội.
    – Con của ta, cầu Chúa nhận linh hồn của con lên Thiên đường.
    Vị cha cố bước ra phía cửa xà lim. Người lính gác mở khóa, rồi bước lùi lại, hướng nòng súng nhằm vào người tù. Khóa xong, anh ta bước sang xà lim bên cạnh, mở cửa.
    – Thằng này nữa là hết, thưa cha.
    – cha cố bước vào xà lim. Người tù bên này cũng bị đánh đến thảm hại. Cha cố lặng lẽ nhìn hắn, rồi hỏi:
    Tên con là gì?
    – Felix Carpio.
    Hắn ta người râu ria, vạm vỡ, nổi lên một bên má là vết sẹo xám ngoét, mà bộ râu rậm không thể che được.
    – Tôi không sợ chết, thưa cha.
    Thế là tốt, con ạ. Cuối cùng thì chẳng ai trong chúng ta sống mãi được.
    Khi cha cố đang nghe Carpio xưng tội thì có tiếng ồn từ xa vọng đến, lúc đầu nghe lao xao, sau lớn dần và bắt đầu dội vào nhà tù. Tiếng chân bầy thú nện rầm rầm như tiếng sấm lẫn tiếng gào thét của đám người hoảng loạn. Viên lính gác giật mình nghe ngóng. Tiếng ồn ào mỗi lúc một gần.
    – Thưa cha, phải nhanh lên, ngoài kia hình như đang có chuyện.
    – Ta xong rồi đây.
    Người lính nhanh chóng mở khóa để cha cố bước ra ngoài hành lang, rồi khóa lại cẩn thận. Chợt có tiếng động lớn ở phía trước nhà tù. Người lính quay ra nhìn qua ô cửa sổ hẹp, có chấn song sắt.
    – Cái quỷ gì thế nhỉ?
    – Nghe như ai đó muốn gặp chúng ta đấy. Cha mượn cái kia nhé? - Cha cố nói.
    – Cha mượn cái gì?
    – Vũ khí của con.
    Cha cố vừa nói vừa lặng lẽ tháo bỏ phần chóp của cây thánh giá lớn đeo trước ngực, để lộ ra một con dao găm nhọn, dài. Nhanh như chớp, con dao đã thọc vào ngực người lính.
    – Thế đấy, con ạ. - Vừa nói ông vừa lôi khẩu tiểu liên khỏi tay anh ta. - Chúa và Cha đã thống nhất là con không cần thứ đồ chơi này nữa. - Jaime Miro vừa nói vừa làm dấu thánh. Người lính đổ xuống sàn xi măng. Jaime Miro lấy chùm chìa khóa trong người hắn rồi nhanh chóng mở khóa hai ô xà lim. Những tiếng ồn ào bên ngoài vọng vào còn dữ dội hơn.
    – Đi thôi - Jaime ra hiệu.
    Ricardo Mellado nhặt lấy khẩu súng.
    Cậu đóng thầy tu giống thật, chút nữa thì cả tớ cũng bị lừa. - Anh ta gượng cười với cái miệng sưng vều.
    – Bọn nó quần các cậu quá lắm phải không? Được. Rồi chúng sẽ phải trả giá! - Jaime vòng tay ôm hai người tù, đỡ họ đi xuống hành lang.
    – Thế Zamozo làm sao?
    – Bị đánh đến chết. Bọn tớ nghe thấy cậu ấy gào thét. Chúng đưa vào bệnh xá, rồi bảo cậu ấy chết vì đau tim.
    Phía trước họ là cánh cửa sắt đóng chặt.
    – Chờ tớ ở đây. - Jaime nói.
    Anh tiến tới phía cánh cửa sắt nói vọng sang với người lính gác bên ngoài:
    – Ta xong việc rồi, anh gác.
    Anh ta mở cửa, giục.
    – cha phải nhanh lên. Bên ngoài đang...
    Anh ta không bao giờ nói được hết câu bởi đã bị lưỡi dao của Jaime ngăn lại.
    – Đi thôi, Jaime ra hiệu cho hai người.
    Felix Carpio nhặt khẩu súng của người lính gác, cả ba đi xuống tầng dưới.
    Cảnh tượng bên ngoài hết sức lộn xộn.
    Đám cảnh sát chạy lăng xăng cố tìm hiểu điều gì đã xảy ra và đối phó với những người đang gào thét trong buồng giam hòng thoát khỏi những con thú điên.
    Một con bò tấn công từ phía cổng trước, xô đổ chiếc cổng đá. Một con khác thì đang vầy vò cái xác lính gác đã nát bấy.
    Chiếc xe đỏ đang đậu trong sân, máy vẫn nổ. Trong khung cảnh hỗn độn đó, hầu như chẳng ai chú ý đến ba kẻ đang bỏ trốn, còn những người nhìn thấy thì lại đang lo giữ thân, hỏi làm được gì?
    Jaime và những người bạn của anh nhảy lên phía sau chiếc xe tải. Nó lặng lẽ lặng lẽ vượt qua những đám đông đang tán loạn khắp đường phố.
    Các lực lượng cảnh sát bán quân sự mặc đồng phục màu xanh mũ dạ đen cố gắng trong tuyệt vọng ngăn cản sự hỗn loạn. Cảnh sát Armanda đóng tại thủ phủ các địa phương cũng đối phó vô vọng trước tai ương bất ngờ này. Người ta giẫm đạp lên nhau hòng thoát khỏi bầy thú đang sôi máu. Sự đe dọạ từ những con bò tót không tai hại bằng hiểm họa do chính họ gây ra trong khi xô đẩy nhau trốn chạy. Tội nhất là các ông già bà lão bị xô ngã rồi bị đám đông giẫm đạp lên.
    Jaime đưa mắt nhìn cảnh tượng hãi hùng, vò đầu bứt tai. Điều này không phải là dự tính trong kế hoạch. Anh nhìn cảnh chết chóc đang bao trùm, không biết phải làm gì để có thể ngăn nó lại. Tuyệt vọng, anh nhắm nghiền mắt, cố xua khỏi đầu những hình ảnh khủng khiếp lọt vào mắt.
    Chiếc xe chạy tới vùng ngoại ô Pamplona, rồi tiếp tục lao về phía nam, bỏ lại đằng sau đám âm thanh ồn ào, hỗn độn.
    – Chúng ta đi đâu thế, Jaime? - Ricardo Mellado hỏi.
    – Torne có một chỗ an toàn. Chúng ta sẽ ở đó đến tối rồi đi tiếp.
    Fexlix Carpio co rúm người lại vì đau đớn. Jaime Miro, vẻ mặt đầy thương xót, khẽ nói:
    – Chúng ta sớm đến đó thôi, bạn của tôi.
    Trong đầu Jaime, những cảnh tượng hãi hùng ở Pamplona cứ hiện lên, không thể xua đi được.
    Chừng nửa tiếng sau họ đến một cái làng nhỏ thuộc Torne. Chiếc xe chạy vòng theo rìa làng, đến một ngôi nhà đứng đơn lẻ giữa những ngọn núi. Jaime đỡ mấy người bạn ra khỏi thùng xe.
    – Nửa đêm sẽ có xe đến đón các bạn, - người lái xe nói. - Bảo họ hãy đưa đến một bác sĩ và nhớ quẳng cái xe đi nhé. - Jaime nhắc.
    Ba người bước vào trong. Đó là một ngôi nhà kiểu thôn quê, đơn sơ, ấm cúng, trần nhà có cột đỡ, phòng ở có lò sưởi. Một mảnh giấy nhỏ đặt trên bàn.
    Jaime Miro đọc và mỉm cười với dòng chữ, “Nhà của tôi cũng là nhà của các bạn”. Trên giá bày đủ loại rượu, Jaime rót rượu ra cốc.
    – Không một lời nào đủ để cảm tạ cậu, bạn thân yêu. Ly này là dành cho cậu.
    – Ricardo Mel1ado nói.
    Chúc cho sự tự do. - Jaime nâng cốc.
    Chợt vang lên tiếng lích rích của con chim bạch yến bị nhốt trong lồng, Jaime bước tới, lặng lẽ nhìn con chim nhỏ vùng vẫy. Anh mở lồng, nhẹ nâng nó ra và mang đến bên cửa sổ.
    – Chú chim nhỏ hãy bay đi, - anh thì. thầm. - Mọi loài vật đều phải được tự do.
     




  2. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 2 - MADRID
    Thủ tướng Leopoldo Martinez đang trong cơn tức giận. Ông ta nhỏ người, đeo kính, toàn thân rung lên mỗi khi nói.
    – Phải chặn thằng Jaime Miro lại. - Ông ta thét, giọng cao và rung lên. - Các ông có hiểu tôi không? - Ông ta quát tháo một nhóm ngót chục người trong phòng. - Chỉ một tên khủng bố thôi mà cả quân đội lẫn cảnh sát đều bất lực.
    – Cuộc họp diễn ra tại cung Moncloa, nơi ngài thủ tướng sống và làm việc, cách trung tâm thủ đô Madrid khoảng năm kilômét, nằm trên đại lộ Gallcia. Tòa nhà xây bằng gạch đỏ với những ban công sắt uốn lượn cầu kỳ, những tấm màn cửa sổ xanh dịu và các tháp canh trấn giữ các góc.
    – Đó là một ngày nắng, khô. Nhìn qua cửa sổ, hơi nóng từ mặt đất bốc lên lay động như những hồn ma. Hôm qua Miro đã biến Pamplona thành nghĩa địa.
    – Martinez dằn mạnh nắm đấm xuống mặt bàn. - Hắn đã sát hại người lính gác và cuỗm mất hai tên khủng bố. Đàn bò chúng thả ra đã làm náo loạn cả thành phố.
    Một lúc lâu không ai lên tiếng.
    Khi nhậm chức thủ tướng, ông ta lớn tiếng tuyên bố. “Hành động đầu tiên của tôi sẽ là giải tán những nhóm phân liệt. Madrid phải là một mái nhà hòa hợp vĩ đại. Nó sẽ biến những người Andalusia, người Basque, người Catalan, người Gallcy... thành người Tây Ban Nha. ”.
    Ông ta quá lạc quan. Những người Basque kiên quyết độc lập lại nghĩ khá, và làn sóng những vụ nổ bom, cướp nhà băng, những cuộc biểu tình do những kẻ khủng bố thuộc ETA tiếp tục nổ ra không thể ngăn chặn được.
    Một người ngồi phía bên phải Martinez khẽ nói:
    – Tôi sẽ tìm được hắn.
    Đó là giọng của đại tá Ramon Acoca, người đứng đầu GOE, nhóm hành động đặc biệt, được thành lập để săn lùng những kẻ khủng bố người Basque.
    Acoca ở tuổi lục tuần, vóc dáng khổng lồ, cặp mắt đục lạnh lùng trên khuôn mặt đầy sẹo. Y đã từng là một sĩ quan trẻ dưới quyền Francisco Franco trong thời nội chiến, và giờ đây vẫn cuồng tín theo đuổi triết lý của Franco, “Chúng ta có nghĩa vụ trước Chúa và Lịch sử. ”.
    Acoca là một sĩ quan tài ba và đã từng là một trong số những trợ thủ tin cậy nhất của Franco. Viên đại tá này khắc sâu một nguyên tắc cứng rắn:
    xử phạt ngay lập tức những kẻ nghi ngờ hoặc những kẻ không tuân thủ luật chơi. Y đã từng trải qua những thời kỳ lộn xộn trong nội chiến, một bên là Liên minh dân tộc của những người theo chủ nghĩa quân chủ, các tướng lĩnh phiến loạn, các chủ đất, nhà thờ, cũng như các tên phát xít phái Falang. Còn bên kia là lực lượng chính phủ cộng hòa bao gồm những người theo chủ nghĩa xã hội, cộng sản, tự do, và những phái phân liệt người Basque và Catalan. Một thời kỳ khủng khiếp đầy chết chóc tàn phá, một sự điên rồ đã lôi cuốn người và phương tiện chiến tranh từ hàng chục vùng đất, gây ra cái chết cho biết bao sinh mạng. Giờ đây người Basque lại tiếp tục chiến đấu và giết chóc.
    Đại tá Acoca cầm đầu đám nhân viên chống khủng bố hữu hiệu và tàn bạo.
    Những nhân viên này hoạt động bí mật, ăn mặc cải trang và không bao giờ xuất hiện công khai hoặc chụp ảnh, vì sợ bị trả thù.
    Nếu kẻ nào đó có thể ngăn chặn được Jaime Miro ắt phải là đại tá Acoca, - thủ tướng nghĩ, - nhưng có một trở ngại:
    Ai sẽ là người ngăn chặn đại tá Acoca?
    Giao cho viên đại tá phụ trách vụ này không phải là chủ ý của thủ tướng.
    Vào lúc nửa đêm, ông ta nhận được một cú điện thoại từ đường dây riêng và nhận ra ngay cái giọng ấy.
    – Chúng tôi rất phiền lòng với những hoạt động của Jaime và bọn khủng bố, và thấy ông cần giao nhiệm vụ tiêu diệt chúng cho đại tá Ramon Acoca phụ trách GOE. Như vậy đã rõ chưa?
    – Rõ, thưa ngài. Ý của ngài sẽ được quan tâm lập tức.
    Rồi đường dây chết lặng.
    Giọng nói đó là của thành viên thuộc OPUS MUNDO. Tổ chức này là một hệ thống bí mật bao gồm các chủ nhà băng, luật sư, chủ các công ty có thế lực, và các bộ trưởng chính phủ. Người ta xì xào rằng tổ chức này nắm trong tay những nguồn tài chính khổng lồ, nhưng tiền từ đâu ra, sử dụng và sinh sôi thế nào thì đó là một điều bí ẩn. Tìm hiểu nhiều về nó được coi là không lành mạnh.
    Thủ tướng đã giao quyền cho đại tá Acoca như được chỉ thị nhưng tên khổng lồ này đã trở nên cuồng tín đến không thể kiểm soát được. Tổ chức GOE của y đã tạo ra một làn sóng khiếp sợ. Thủ tướng nghĩ đến những người phiến loạn Basque mà Acoca đã tóm được ở gần Pamplona, Những người này đã bị kết tội và đều chịu án treo cổ. Nhưng chính viên đại tá đã đòi phải hành quyết họ bằng hình phạt độc địa hơn:
    một sợi thép gai từ từ siết chặt lại, rồi bẻ gãy cổ nạn nhân, trơ cả tủy sống ra.
    Jaime Miro trở thành nỗi ám ảnh thường trực của Acoca.
    – Tôi muốn lấy cái đầu hắn. - Acoca nói. - Cứ cắt bỏ cái đầu ấy, phong trào người Basque sẽ chết theo.
    Không đơn giản thế. Thủ tướng nghĩ, mặc dù cũng phải thừa nhận một phần sự thực trong câu nói của Acoca. Jaime Miro là một thủ lĩnh đầy uy lực, lại cuồng, tín theo đuổi sự nghiệp, vì thế mà đầy nguy hiểm.
    Song Acoca cũng nguy hiểm không kém. Thủ tướng nghĩ tiếp. Giám đốc an ninh Primo Casado nói:
    – Thưa ngài, không ai có thể lường trước những điều xảy ra ở Pamplona.
    Jaime Miro là một kẻ...
    – Tôi bíết hắn là gì. - Thủ tướng dằn giọng. - Điều tôi muốn biết là bây giờ hắn ở đâu? - Ông ta quay sang viên đại tá.
    – Tôi đang theo dõi hắn. - Acoca đáp, giọng nói làm cả căn phòng rung lên. - Xin được phép lưu ý ngài thủ tướng rằng chúng ta không chỉ chống lại một kẻ duy nhất mà là đang đối phó với tất cả lũ người Basque. Chúng che giấu, nuôi dưỡng, cung cấp vũ khí cho Jaime và bọn khủng bố. Hắn là người hùng đối với chúng. Nhưng đừng lo, hắn sẽ chẳng mấy mà thành người anh hùng trên giá treo cổ. Tất nhiên là sau khi tôi tóm được hắn.
    Không phải Chúng Ta mà là Tôi. Thủ tướng để ý xem có ai chú ý đến điều đó không. Phải, ông lo lắng nghĩ, sẽ phải làm một cái gì đó với thằng cha này.
    – Thưa các vị, tất cả chỉ có vậy. - Ông ta đứng dậy.
    Mọi người lục tục đứng lên theo, trừ Acoca.
    Leopoldo Martinez đi đi lại lại trong phòng:
    Mả mẹ cái dân Basque. Tại sao chúng lại không muốn làm người Tây Ban Nha? Chúng còn muốn gì nữa?
    Chúng thèm khát quyền lực. - Acoca nói. - Chúng muốn tự chủ, muốn có tiếng nói riêng, cờ quạt riêng.
    – Không được, chừng nào tôi còn giữ chiếc ghế này. Tôi nhất quyết không cho ai xé nhỏ Tây Ban Nha. Chính phủ sẽ bảo cho biết chúng nó được phép làm cái gì và không được phép làm cái gì. Chúng nó chẳng là gì, cái đám tiện dân ấy...
    – Thưa ngài, - một trợ lý bước vào, vẻ như muốn xin lỗi, giám mục Ibanez đã đến.
    – Đưa lão ta vào.
    Ngài có thể tin rằng giáo hội đứng đằng sau chuyện này. Đã đến lúc ta phải dạy cho chúng nó một bài học. - Viên đại tá nheo nheo mắt.
    Giáo hội luôn là sự mỉa mai lớn nhất của lịch sử. Acoca cay đắng nhủ thầm.
    Khi nội chiến bắt đầu nổ ra, nhà thờ Thiên Chúa giáo đứng về phía các lực lượng dân tộc. Giáo trưởng đứng đằng sau tổng tư lệnh Franco và như thế, cho phép ông ta lớn tiếng nói rằng mình đang chiến đấu vì Đức Chúa trời. Cho tới khi nhà thờ của dân Basque, các tu viện và tu sĩ bị tấn công, thì giáo hội mới chấm dứt sự ủng hộ này.
    – Các ngài phải cho người Basque và người Catalan được tự do hơn. - Giáo hội đòi hỏi. - Và các ngài không được sát hại các vị tu sĩ người Basque nữa.
    – Tổng tư lệnh Franco bực tức điên cuồng. Giáo hội dám láo xược ra lệnh cho Chính phủ?
    Bắt đầu một cuộc chiến tranh tiêu hao. Lại thêm nhà thờ và tu viện bị các lực lượng Franco hủy hoại. Các nữ tu và tu sĩ bị sát hại. Các giám mục bị giam lỏng. Cha cố khắp cả nước bị trừng phạt vì đã truyền bá, rao giảng những điều mà chính phủ cho là kích động nổi loạn. Tới khi giáo hội dọa rút phép thông công thì Franco mới chấm dứt những cuộc tấn công của mình.
    Giáo hội chết tiệt! Acoca nghĩ.
    Sau khi Franco chết, giáo hội lại ngóc dậy. Y quay lại phía thủ tướng:
    – Đã đến lúc lão giám mục này phải biết ai đang nắm Tây Ban Nha.
    Giám mục Calvo Ibanez nhỏ nhắn, mảnh khảnh, đám tóc bạc trắng chạy quanh đầu, nhướng mắt nhìn hai người qua cặp kính không gọng.
    – Một buổi chiều tốt lành!
    Acoca cảm thấy nghèn nghẹn ở cổ. Chính sự xuất hiện của vị giáo sĩ này làm cho y phát ốm. Họ là bầy dê của Juda dẫn những con cừu non ngốc nghếch tới lò sát sinh.
    Vị giám mục đứng đó đợi một lời mời ngồi. Nhưng điều đó không xảy ra.
    Ông cũng chẳng được giới thiệu với tên đại tá. Đó là một sự khinh miệt có tính toán.
    Thủ tướng đưa mắt thăm dò ý tứ viên đại tá.
    Acoca nói nhát gừng:
    – Một số tin tức đáng lo ngại đã làm chúng tôi chú ý, rằng quân phiến loạn Basque đang tổ chức các cuộc họp tại các tu viện Thiên Chúa giáo. Chúng tôi cũng biết rằng giáo hội dung túng cho các tu viện và nhà dòng cất giấu các vũ khí của bọn phiến loạn. - Giọng y lanh lảnh như có thép. - Khi các vị giúp đỡ kẻ thù Tây Ban Nha thì chính các vị đã trở thành kẻ thù của Tây Ban Nha.
    Giám mục Ibanez quắc mắt nhìn y, rồi quay sang ông thủ tướng:
    – Thưa ngài, với lòng kính trọng sâu sắc, tất cả chúng ta đều là những con người của đất nước Tây Ban Nha. Người Basque không phải là kẻ thù của các ngài. Tất cả những gì họ đòi hỏi là tự do để...
    – Chúng không đòi hỏi mà là yêu sách. - Acoca gầm lên. - Ở đâu bọn chúng cũng cướp nhà băng, giết hại cảnh sát, vậy mà ông dám nói rằng họ không phải là kẻ thù của chúng ta?
    Tôi thừa nhận là đã có những sự thái quá không thể bào chữa được. Song, đôi khi tranh đấu cho những gì mình tin...
    Chúng không tin vào bất cứ cái gì ngoài bản thân. Chúng không hề quan tâm đến Tây Ban Nha, như một nhà văn lớn của ta đã nói:
    ở đất nước Tây Ban Nha này không có bất cứ ai quan tâm đến lợi ích chung. Nhóm nào cũng chỉ quan tâm đến lợi ích của nhóm ấy. Giáo hội, dân Basque, dân Catalan. Nhóm nọ chửi mẹ nhóm kia...
    Ông giám mục biết tên đại tá trích lời Ortega y Gasset. Nguyên văn câu này còn gồm cả quân đội và chính phủ, nhưng ông ta khôn khéo im lặng, quay sang phía thủ tướng, hy vọng có một cuộc đối thoại mềm mỏng hơn.
    Thưa ngài, giáo hội Thiên Chúa...
    Thủ tướng thấy Acoca đưa đẩy vấn đề như thế là đủ.
    – Xin Đức giám mục đừng hiểu sai chúng tôi. Về nguyên tắc, tất nhiên, chính phủ này đứng sau giáo hội một trăm phần trăm.
    – Nhưng chúng tôi cũng không thể cho phép nhà thờ, nhà dòng và các tu viện chống lại mình mãi được. Nếu các ông tiếp tục dung túng cho bọn người Basque cất giấu vũ khí và tụ họp ở đó, các ông sẽ phải gánh chịu hậu quả. - Acoca lại lên tiếng.
    – Tôi khẳng định rằng báo cáo mà các vị nhận được là sai lệch. - Đức giám mục nhỏ nhẹ. - Dẫu sao tôi cũng sẽ điều tra ngay.
    Cám ơn Đức giám mục, tất cả chỉ có thế thôi. Thủ tướng Martinez và đại tá Acoca cùng nhìn theo Đức giám mục bước ra.
    – Anh nghĩ sao? - Martinez hỏi. - Lão ta biết chuyện gì sẽ xảy ra. Vị thủ tướng thở dài. Không cần phải bới thêm chuyện với giáo hội thì mình cũng đã đủ chuyện rồi.
    – Nếu giáo hội ủng hộ bọn Basque, thì tức là họ chống lại chúng ta. - Giọng Acaco vang lên hằn học. - Tôi muốn ngài thủ tướng cho phép dạy bọn này một bài học.
    Martinez rùng mình khi bắt gặp ánh mắt cuồng tín của Acaco, trở nên thận trọng.
    – Đúng là anh có báo cáo rằng nhà thờ đang giúp đỡ quân phiến loạn?
    – Tất nhiên, thưa ngài.
    Không thể có quyết định khác nếu như người này nói đúng sự thật. Thủ tướng biết Acoca căm thù giáo hội đến thế nào. Nhưng để giáo hội nếm chút mùi trừng phạt có khi cũng hay, miễn là Acoca đừng đi quá đà Thủ tướng Martinez suy nghĩ lung tung. Chính Acoca phá vỡ sự im lặng.
    – Nếu nhà thờ che giấu bọn khủng bố thì họ phải bị trừng phạt.
    – Anh sẽ bắt đầu từ đâu? - Thủ tướng gật đầu miễn cưỡng.
    – Jaime Miro và đồng bọn của hắn hôm qua xuất hiện ở Avila. Chắc chắn chúng đang lẩn trốn trong tu viện đó.
    – Khám xét tu viện. - Thủ tướng đi tới một quyết định.
    Quyết định đó là khởi đầu của một chuỗi sự kiện làm lung lay đất nước Tây Ban Nha và chấn động thế giới.
     
  3. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 3
    Avila êm ả nhẹ nhàng tựa tuyết rơi; mềm mại, dịu dàng như làn gió hạ thì thầm; lặng lẽ như sao sa.
    Tu viện dòng Cistercian nằm bên ngoài thị trấn Avila có thành lũy bao quanh.
    Thị trấn nằm ở vị trí cao nhất của Tây Ban Nha, cách Madrid về phía Tây Bắc một trăm mười hai cây số. Tu viện được xây dựng dành cho sự tĩnh lặng.
    Luật lệ ở đây được áp đặt từ năm 1601 và không hề thay đổi qua hàng thế kỷ:
    nghi thức tế lễ, sự khắc khổ về tinh thần, sự kín đáo khắc nghiệt, sự tự hành tội và sự im lặng. Luôn luôn là im lặng.
    Tu viện gồm một khu nhà đá sù sì bốn bề khép kín. Nhà thờ là khu kín nhất nằm ở giữa, xung quanh tòa trung tâm này, qua các ô lỗ cửa sổ, ánh sáng đổ lên những phiến đá lớn lát sàn. Tu viện có bốn chục nữ tu sĩ cầu nguyện trong nhà thờ và sống luôn ở nhà tu.
    Tu viện tại Avlia là một trong số bảy tu viện còn sót lại ở Tây Ban Nha trong khi hàng trăm tu viện khác đã bị hủy hoại trong phong trào chống giáo hội xảy ra theo chu kỳ trên đất nước Tây Ban Nha kéo dài hàng thế kỷ.
    Tu viện dòng Cistercian dành cho những người trọn đời vào đây cầu nguyện.
    Nơi đây không có khái niệm mùa và thời gian. Những người đã bước chân vào đây thì mãi mãi tách biệt với thế giới bên ngoài. Cuộc sống ở Cistercian là tu hành và sám hối. Kinh Thánh được đọc thuộc lòng hàng ngày, sự giam mình là tuyệt đối và vĩnh hằng.
    Tất cả các sơ đều ăn mặc giống nhau. Quần áo của họ cũng như mọi thứ khác tròng tu viện đều mang dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng qua nhiều thế kỷ.
    Chiếc áo choàng ngoài không tay có mũ liền - tượng trưng cho sự ngây thơ và trong trắng. Chiếc áo thêu bằng lanh biểu trưng cho sự từ bỏ mọi hấp dẫn của thế gian và sự hành xác. Cái áo khoác vai được ghép bằng những mảnh vải len rộng xõa xuống người nói lên sự tự nguyện lao động. Chiếc khăn choàng bằng lanh trùm đầu vòng qua cằm che kín hai bên má và cổ là sự hoàn thiện của bộ đồng phục.
    Bên trong những bức tường của tu viện là hệ thống đường đi lại và cầu thang nối liền phòng ăn với phòng chung, các phòng nhỏ và phòng làm lễ, và chỗ nào cũng bao trùm một cảm giác rộng rãi, sạch sẽ mà lạnh lẽo. Những cửa sổ mắt cáo hướng ra một khu vườn có tường cao bao quanh. Các cửa sổ đều có chấn song sắt và đều vượt quá tầm nhìn để tránh những sự hấp dẫn từ bên ngoài.
    Phòng ăn dài và sơ sài, màn che ô các cửa sổ đều rủ và cửa chớp đóng lại.
    Những giàn nến đặt trên các chân nến cổ in bóng trên trần nhà và các bức tường. Suốt bốn trăm năm không một thứ gì bên trong những bức tường thay đổi, trừ những khuôn mặt. Các sơ đều không có tài sản riêng, vì họ khao khát được nghèo thi thố với sự nghèo khổ của Đấng cứu thế. Ngay trong nhà thờ cũng trống trơn, trừ một cây thánh giá bằng vàng là món quà của một người giàu có vào giáo hội tặng từ xa xưa. Bởi nó quá xa lạ với trật tự khắc khổ ở đây, nên nó được giấu kín trong một chiếc hộp để ở nhà ăn. Một cây thánh giá bằng gỗ mộc mạc thay cho nó được treo ở bệ thờ.
    Đám đàn bà chia sẻ cuộc đời với Chúa này sống chung, làm chung, ăn chung và cầu nguyện chung, mặc dù họ không bao giờ tiếp xúc, trò chuyện với nhau.
    Ngoại lệ duy nhất được phép là khi họ cùng nghe, hoặc khi bà Nhất Bentina giáo huấn họ tại phòng của bà. Thậm chí ngay cả khi đó, một loại ngôn ngữ cổ bằng dấu hiệu cũng được sử dụng đến triệt để.
    Bà Nhất Bentina là một phụ nữ sùng đạo ở tuổi bảy mươi với khuôn mặt rạng rỡ, luôn vui vẻ song đẩy nghị lực, một con người luôn tự hào về sự bình an cùng niềm vui của cuộc sống trong tu viện, và kiêu hãnh với cuộc đời hiến dâng cho Chúa. Hết mực thương yêu những nữ tu của mình, bà cảm thấy còn đau đớn hơn bản thân người bị trừng phạt mỗi khi phải thực hiện một hình phạt nào đó theo nguyên tắc.
    Các nữ tu đi lại trong tu viện, mắt nhìn xuống đất, hai tay vòng lại sau lần áo trước ngực. Họ lướt qua nhau, không một lời hay một cử chỉ nhận biết. Tiếng nói duy nhất ở đây là tiếng chuông mà văn hào Pháp Victor Hugo gọi là “nghệ thuật opera của những tháp chuông”.
    Các bà sơ tới đây do nhiều nguyên cớ và từ nhiều miền đất khác nhau. Họ xuất thân từ những gia đình quý tộc, nông dân, binh lính... khi họ về đây là những người giàu, kẻ nghèo, có giáo dục hay dốt nát, tứ cố vô thân hay đầy tôi tớ, kẻ bần hàn hay được coi là quyền cao chức trọng, nhưng giờ đây tất cả đều là một trong con mắt của Chúa, cùng có chung một khát vọng được thành thân vĩnh viễn với Chúa Giêsu.
    Điều kiện sống trong tu viện cực kỳ kham khổ. Mùa đông, cái lạnh như dao cắt và ánh sáng mờ ảo, lạnh lẽo thấm qua những khung cửa sổ xám xịt. Các nữ tu mặc nguyên quần áo ngủ trên nệm rơm, đắp tấm len thô ráp.
    Mỗi tu sĩ ở riêng một phòng nhỏ, mà đồ đạc gồm chiếc nệm rơm, chiếc ghế lưng thẳng, cái hũ đất nhỏ và cái chậu lăn lóc ở một góc dưới đất. Không một tu sĩ nào được phép đặt chân vào phòng của người khác, trừ bà Nhất Bentina.
    Không có bất cứ một hình thức giải trí nào. Chỉ làm việc và các lễ cầu nguyện, Có những phòng dành cho việc đan lát, đóng sách, dệt vải và làm bánh mì. Mỗi ngày có tám giờ cầu kinh:
    Mantins, Lauds, Prime, Terce, Sext, None, Vespers, và Campline.
    Ngoài những lễ này, còn các lễ cầu nguyện khác:
    Kinh đọc trước bữa ăn, các bài Thánh ca và những bài Kinh khác.
    Lễ Mantins được đọc vào lúc nửa thế giới còn ngủ say còn nửa kia chìm trong tội lỗi.
    Lễ Lauds tiếp theo lễ Matins vào lúc mặt trời mọc, được coi là nghiệm diệu của thắng lợi vinh quang của Chúa.
    Lễ Prime là lễ buổi sáng của nhà thờ, xin Chúa chúc phước cho mọi công việc trong ngày.
    Lễ Terce được tiến hành vào chín giờ ba mươi, đọc lên để nén dục vọng của con người.
    Lễ None được cầu nguyện hồi ba giờ chiều, vào lúc chúa Giêsu bị hành hình.
    Lễ Vespers tiến hành vào buổi chiều của Hội thánh như lễ Lauds.
    Lễ Compline là sự hoàn chỉnh những thời gian ngắn ngủi trong ngày, cũng có những hình thức của lễ cầu nguyện ban đêm. Một sự sửa soạn cho sự chết cũng như sự ngủ vào lúc tận cùng của ngày.
    Ở một số dòng tu khác, hình phạt bằng roi đã được bãi bỏ, nhưng nó vẫn còn tồn tại ở các tu viện dòng Cistercian. Ít nhất mỗi tuần một lần, có khi hàng ngày, các nữ tu tự hành hạ thể xác mình bằng cái roi có sáu sợi dây xích điểm gai nhọn. Mỗi khi quất vào lưng, chân hay mông, nó gây ra những đau đớn đến tột độ. “Thân thể của Chúa bị hành hạ, nên thân thể của chúng ta phải được làm cho giống với thân thể bị tổn thương của Người. ”.
    Cuộc sống ở đây còn hà khắc hơn bất cứ nhà tù nào, ấy thế mà “tù nhân” lại cảm thấy hạnh phúc như họ chưa từng biết đến thế giới bên ngoài. Họ từ bỏ tình yêu xác thịt, của cải và sự tự do lựa chọn. Nhưng khi đoạn tuyệt với những cái đó, họ cũng đoạn tuyệt luôn cả những tham vọng và ganh đua, hằn thù và ghen ty, và tất cả những ham muốn, sự cám dỗ đầy rẫy ở thế giới bên ngoài. Bên trong tu viện luôn ngự trị một không khí bình yên và niềm vui khôn tả được hầu hạ bên Chúa. Sự bằng an mơ hồ ngự trị trong bốn bức tường của tu viện và trong trái tim của những người ở đây.
    Nếu tu viện này là nhà. tù thì đó phải là nhà tù trên thiên đường của Chúa, với sự nhận biết về cõi vĩnh hằng, một hạnh phúc dành cho những người đã tự nguyện tới đó và ở lại đó.
    Sơ Lucia thức giấc khi hồi chuông vang lên trong thư viện. Cô giật mình mở mắt, có cảm giác mất phương hướng trong giây lát. Gian phòng nhỏ của cô chìm trong bóng tối ảm đạm, tiếng chuông báo hiệu cho cô biết lúc đó là ba giờ sáng, là giờ lễ cầu Kinh đêm trong lúc thế giới bên ngoài còn chìm trong bóng tối.
    “Khỉ gió! Cái trò nhàm chán này sẽ giết mình mất”. Sơ Lucia nghĩ.
    Lucia nằm co ro trong chiếc giường nhỏ, thêm đến tuyệt vọng một điếu thuốc lá. Cô uể oải lết khỏi giường. Bộ đồ nặng nề phải mặc vào người cả lúc đi ngủ như tấm giấy ráp cọ sát vào làn da nhạy cảm của cô. Lucia nhớ đến những bộ cánh kiểu cách treo trong phòng của mình ở Roma hay trong biệt thự ở Gstaad.
    Sơ Lucia có thể nghe thấy những tiếng loạt xoạt bên ngoài phòng, khi các nữ tu tập trung lại. Cô uể oải dọn giường rồi bước ra hành lang, nơi các tu đã sắp xếp thành hàng, im lặng, mắt cắm xuống, bắt đầu chầm chậm đi về phía nhà thờ.
    Trông cứ như một bầy chim cánh cụt ngốc nghếch. Sơ Lucla nghĩ. Vì sao những người đàn bà này dám từ bỏ cuộc sống của mình, từ bỏ tình ái, từ bỏ ăn ngon mặc đẹp? Thiếu những thử đó, còn có lý do gì để mà sống? Những luật lệ chết tiệt!
    Khi sơ Lucia nhập tu viện, bà Nhất Bentina nói với cô:
    – Con nhớ khi đi phải cúi đầu xuống. Tay phải gấp lại dưới áo. Bước ngắn, đi chậm. Con không bao giờ được nhìn bất cứ sơ nào, thậm chí cả liếc nữa. Con không được nói. Tai con chỉ được phép nghe những lời của Chúa.
    – Vâng, thưa Mẹ.
    Tháng ấy, Lucia làm đúng như vậy.
    – Mọi người tới đây không phải để cùng sống với những người khác, mà chỉ để chung sống với Đức Chúa. Sự cô đơn tinh thần là điều quan trọng nhất cho sự hòa nhập với Chúa. Nó được các quy tắc giữ im lặng bảo vệ.
    – Vâng, thưa Mẹ.
    – Con phải luôn giữ cho mắt im lặng. Nhìn vào mắt người khác sẽ làm con phân tán bởi những sự tưởng tượng vô ích.
    – Vâng, thưa Mẹ.
    Bài học đầu tiên của con là tẩy trừ những thói quen cũ và những sở thích trần tục, xóa bỏ mọi hình ảnh của quá khứ. Con sẽ phải làm lễ tẩy uế và hành xác để gột bỏ tính ích kỷ và sự bướng bỉnh. Như thế vẫn chưa đủ cho chúng ta ăn năn về những tội lỗi của mình trong quá khứ. Một khi thấy được cái đẹp và lòng thánh thiện vô bờ bến của Chúa, chúng ta sẽ không chỉ muốn ăn năn cho những tội lỗi của mình, mà còn cho bất cứ tội lỗi nào của người khác. " – Vâng, thưa Mẹ, cơn xin hứa.
    – Con phải đấu tranh với lòng tà dâm, điều mà John of the Cross gọi là đêm đen của những cảm giác.
    – Vâng, thưa Mẹ khả kính.
    Mỗi tu sĩ phải sống trong sự im lặng và cô đơn như mình đã ở trên Thiên đường. Trong sự im lặng của thiêng liêng, thanh khiết mà mình hằng khao khát, người tu sĩ có thể đến được với sự yên tĩnh vĩnh hằng, và đến được với Chúa.
    Đến cuối tháng thứ nhất Lucia có cơ hội thực hiện lời hứa ban đầu của mình.
    Tròn một tháng bước chân vào tu viện, mái tóc cơ bị xén như lông cừu. Bà nhất trưởng tu viện đích thân hành sự. Bà gọi Lucia lên phòng của mình và ra hiệu cô ngồi xuống ghế. Bà bước ra phía sau và trước khi Lucia kịp nhận biết chuyện gì xảy ra thì cô đã thấy những lọn tóc óng ả của mình rơi lả tả. Cô định phản kháng, nhưng bỗng cảm nhận được rằng sự việc đang diễn ra chỉ hoàn thiện thêm cái vỏ bọc của mình. Tốt thôi! Sau này mình muốn để nó mọc lại lúc nào chả được. Lucia nghĩ. Còn bây giờ mình sắp như con gà bị vặt trụi lông đây.
    Trở về với gian phòng chật chội được phân, cô nghĩ:
    chỗ này là cái hang rắn chứ phòng gì. Sàn gồm những tấm gỗ trống trơn. Cái nệm rơm và chiếc ghế dựa khô cứng chiếm hầu hết diện tích. Cô thèm khát được có một tờ báo. Ở đây họ chẳng bao giờ được biết đến báo chí, họ quên đi cả rađio lẫn tivi. Không có bất cứ một mối liên hệ nào với thế giới bên ngoài. Cô nghĩ.
    Nhưng cái làm cho Lucia khó chịu nhất là cái yên lặng không bình thường.
    Sự giao tiếp duy nhất là bằng dấu hiệu của bàn tay. Riêng học thuộc những ký hiệu này đã suýt làm Lucia phát điên. Khi cần cái chổi, cô được dạy là bàn tay phải xòe ra, và đưa từ phải sang trái như đang quét.
    Khi không hài lòng về việc gì, bà Nhất thường làm động tác chụm đầu hai ngón tay lại với nhau ba lần ở phía trước ngực, còn các ngón kia gập lại. Lúc nào Lucia tỏ ra làm việc lề mề, bà đặt lòng tay phải lên tay trái của mình. Còn để quở mắng Lucia, bà dùng cả năm ngón tay vuốt từ trên xuống dưới má mình, ở chỗ gần tai phải.
    Ôi, lạy Chúa, trông cứ như bà ấy gãi nốt bọ chét đốt.
    Họ đã đi tới nhà thờ. Các tu sĩ cầu kinh trong im lặng, nhưng sơ Lucia thì đang nghĩ về những điều còn quan trọng hơn cả Chúa.
    Một hai tháng sau bọn cảnh sát chán không lùng sục nữa, ta sẽ biến khỏi cái nhà thương điên này.
    Sau những bài Kinh buổi sáng, sơ Lucia cùng những bà sơ khác vào phòng ăn. Cô lén lút phá bỏ luật lệ hàng ngày bằng việc nhìn trộm các khuôn mặt xung quanh. Đó là trò tiêu khiển duy nhất. Cô không thể hình dung làm sao sống cùng nhau mà lại có thể không biết được mặt nhau.
    Cô ngắm nhìn các khuôn mặt một cách hết sức thích thú.
    Một số nom có tuổi, một vài người còn trẻ, một số đẹp, lại có một số xấu tệ.
    Có ba khuôn mặt đặc biệt gây cho Lucia thích thú. Thứ nhất là Theresa, người đàn bà tuổi trạc sáu mươi, không thể gọi là đẹp được nhưng lại toát lên sức mạnh tinh thần, tạo cho bà một sự hấp dẫn tự nhiên. Lúc nào trông cũng như người đang cười thầm, tưởng chừng bà cất giấu trong mình những bí mật tuyệt vời.
    Một nữ tu khác Lucia cảm thấy hấp dẫn là sơ Graciela. Cô ta có khuôn mặt đẹp đến choáng ngợp ở độ tuổi ba mươi. Nước da màu ô liu, những đường nét thiên thần và cặp mắt thì như hai biển nước màu tro long lanh.
    Cô này nhẽ ra phải là một minh tinh màn bạc mới đúng Lucia nghĩ. Cô ta gặp chuyện gì nhỉ Sao cô ta lại chôn vùi cuộc đời mình ở nơi lạnh lẽo này?
    Nữ tu sĩ thứ ba khiến Lucia quan tâm là sơ Megan. Cặp mắt xanh, lông mi lông mày hoe vàng. Cô này ở cuối độ tuổi hai mươi, có dáng vẻ tươi tắn chân thật.
    Cô ta làm gì ở đây nhỉ? Mà tất cả những người này có việc gì ở đây? Họ giam mình trong bốn bức tường, được thí cho một gian phòng chật hẹp để ở, một ít thức ăn đã lên mùi với tám giờ cầu kinh, và lao động thì nặng nhọc. Còn giấc ngủ lại quá ngắn. Chắc họ mất trí, cả lũ điên mất rồi.
    Cô may mắn hơn họ nhiều, bởi họ sẽ bị kẹt ở đây cho đến hết đời, trong khi cô thì biến khỏi đây chỉ trong một hay hai tháng nữa. Ba tháng cũng nên, Lucia nghĩ, đây là chỗ ẩn nấp tuyệt vời. Có họa là rồ thì mới đi tìm chỗ khác. Vài tháng sau, khi cảnh sát chán không lùng nữa, lúc đó mình sẽ rời khỏi nơi này và sẽ lấy được tiền ở Thụy Sĩ có khi mình sẽ viết một cuốn sách về cái nơi điên rồ này.
    Vài hôm trước, sơ Lucia được bà Nhất sai vào văn phòng để tìm một thứ.
    Và cô đã lợi dụng cơ hội để xem trộm mấy tập hồ sơ. Thật vô phúc, cô bị bắt quả tang.
    Cô phải chịu hình phạt hành tội. Mẹ trưởng tu viện Bentina ra hiệu cho cô.
    Sơ Lucia cúi đầu ngoan ngoãn làm hiệu. “Con xin vâng thưa Mẹ khả kính”.
    Lucia quay về phòng mình và vài phút sau các nữ tu đi lại ngoài hành lang đều nghe thấy những tiếng động rợn người của chiếc roi vun vút liên hồi trong không khí. Họ không thể biết được sơ Lucia đang quất roi xuống giường.
    Họ ngồi trong phòng ăn. Bốn mươi bà sơ ngồi bên hai dãy bàn dài. Các tu sĩ dòng Cistercian ăn chay hoàn toàn. Có thể có bữa thêm chút thịt cùng chất tươi lót dạ, một chén trà hoặc cà phê và vài lát bánh mì khô. Bữa chính là vào lúc mười một giờ, gồm một ít súp loãng, một ít rau, và thỉnh thoảng có một lát hoa quả.
    Bà Nhất đã dạy Lucia. “Chúng ta đến đây không phải để sướng thân ta, mà để hài lòng Chúa”.
    Đồ ăn thế này không đáng cho con mèo của ta ăn. Lucia nghĩ bụng. Mình ở đây đến hai tháng rồi và đám chắc mình đã sụt mất dăm ký là ít.
    Dùng xong bữa sáng, hai nữ tu đem hai chiếc chậu rửa tớ hai đầu bàn và đặt ở đó. Các tù sĩ ngồi quanh bàn lần lượt chuyển những chiếc đã ăn của mình tới chỗ người tu sĩ có chiếc chậu rửa. Nữ tu sĩ này rửa từng chiếc, rồi lau khô, rồi trả nó về chủ. Nước trong chậu có vẻ sẫm màu hơn và nhờn hơn.
    Thế mà họ sẽ sống thế này cả đời, sơ Lucia thấy gai cả người. Nhưng mình thắc mắc làm gì? Chui vào đây chẳng khác đi tù chung thân.
    Và cô hướng tâm hồn bất tận của mình về một điếu thuốc lá. Cách đó năm trăm mét theo một con đường nhỏ, đại tá Ramon Acoca và hai chục người được chọn lựa kỹ càng của GOE - nhóm hành động đặc biệt - đang chuẩn bị tấn công tu viện.
    o O o
    Đại tá Roman Acoca có những thiên bẩm của người đi săn. Y say mê săn bắn, nhưng cái gây cho y cảm giác thỏa mãn tột độ là sự giết chóc.
    Một lần y thổ lộ với người bạn. “Khi giết, tôi cảm thấy sung sướng đến cực điểm. Không cần biết đó là con hươu con thỏ hay con người. Cái cảm giác lấy đi cuộc sống của kẻ khác làm cho tôi cảm thấy mình có quyền lực vô hình như Đấng Chúa Trời”.
    Acoca đã từng ở ngành tình báo quân sự và y nhanh chóng nổi tiếng là tài giỏi. Y can dảm, tàn nhẫn, thông minh và sự hòa trộn những đặc tính đó làm cho một trong số trợ lý của đại tướng Franco chú ý đến.
    Lúc đầu, khi tham gia đội quân của Franco, Acoca chỉ giữ chức trung úy, thế mà chưa đầy ba năm y đã leo lên tới chức đại tá, một kỳ tích chưa từng thấy. Y được tin cẩn giao cho phụ trách những người thuộc phái Falang và nhóm đặc biệt của y được sử dụng để khủng bố những người chống lại Franco.
    Trong thời nội chiến một người thuộc tổ chức OPUS MUNDO đã được giao nhiệm vụ tìm gặp Acoca – Tôi muốn ông hiểu rằng, được phép của đại tướng Franco, chúng tôi tiếp xúc với ông.
    – Rõ, thưa ngài Chúng tôi thường xuyên để mắt tới ông, thưa ông đại tá Chúng tôi hài lòng với những gì chúng tôi thấy.
    – Cảm ơn ngài.
    Đôi khi chúng ta có những việc, nói sao nhỉ, rất nguy hiểm, nên cần hết sức kín đáo.
    – Tôi hiểu, thưa ngài.
    – Chúng ta nhiều kẻ thù, những người không hiểu được tầm quan trọng của công việc chúng ta đang làm.
    – Rõ, thưa ngài.
    – Đôi khi họ gây trở ngại cho chúng ta. Nhưng chúng ta không cho phép điều đó xảy ra.
    – Không đời nào, thưa ngài.
    – Tôi tin rằng chúng tôi có thể dùng một người như ông, thưa đại tá. Tôi nghĩ chúng ta hiểu nhau.
    – Vâng, thưa ngài. Tôi lấy làm hân hạnh được phục vụ.
    – Chúng tôi muốn ông cứ tiếp tục ở trong quân đội. Điều đó sẽ có giá trị lâu dài đối với chúng ta cả ông và chúng tôi. Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông sẽ được nhận vài công việc đặc biệt.
    – Cảm ơn ngài.
    Ông không bao giờ được tiết lộ cuộc gặp gỡ này.
    – Không đời nào.
    Người đàn ông bên kia chiếc bàn đã làm cho Acoca lúng túng. Có một cái gì đó khiến ông ta nom đáng sợ vô cùng.
    Thời gian đó, đại tá Acoca được OPUS MUNDO giao cho hàng chục phi vụ.
    Đúng như đã được báo trước, đây toàn những việc hết sức nguy hiểm và hết sức kín đáo.
    Tại một trong những phi vụ đó Acoca đã gặp được cô gái trẻ rất dễ thương trong một gia đình gia gỉáo. Trước đó, tất cả những phụ nữ Àcoca đã từng gặp đều là bọn gái điếm hay gái bao. Hắn tỏ ra hết sức khinh bỉ đám này. Bọn gái điếm thực sự mê cái sức mạnh của y, còn y thì luôn dành cho họ sự đối xử tồi tệ nhất.
    Nhưng Susana Cerredilla thì lại thuộc một thế giới hoàn toàn khác biệt. Cha nàng là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Madrid, còn mẹ là một luật gia. Khi Susana mười bảy, nàng có cơ thể của một phụ nữ hoàn thiện và khuôn mặt tuyệt tác của một Madonna:
    Acoca chưa từng gặp phụ nữ nào như cô bé phát triển sớm này. Sự trong trắng mỏng manh của nàng khơi dậy trong y một cảm giác mềm yếu mà y chưa từng biết đến.
    Y yêu cô bé một cách điên dại, và vì những lý do mà cha mẹ nàng lẫn Acoca không hiểu nổi, nàng cũng phải lòng y.
    Vào tuần trăng mật, Acoca tưởng như mình chưa từng biết một người đàn bà nào khác. Nhục dục y đã trải, nhưng sự hòa quyện giữa tình yêu và nỗi đam mê lại là cái gì đồ y chưa từng được biết đến.
    Ba tháng sau hôn lễ, Susana báo với y nàng đã mang thai. Acoca sưởng phát điên. Như tăng thêm niềm vui cho họ, y bỗng được điều về làng Castioblanco xinh đẹp thuộc vùng Basque. Khi đó là mùa thu năm 1963, cuộc chiến giữa người cộng hòa và người dân tộc đang độ quyết liệt nhất.
    Vào một sáng chủ nhật yên ả khi Acoca cùng Susana đang nhấm nháp cà phê tại một quán trong làng, bỗng dưng quảng trường đầy ắp những người Basque biểu tình.
    – Anh muốn em về nhà, - Acoca nói, - ở đây sắp lộn xộn rồi.
    – Thế còn anh...?
    – Nghe anh đi, anh sẽ không sao đâu.
    Những người biểu tình đã tỏ ra không kìm chế được nữa.
    Ramon Acoca thấy nhẹ nhõm khi nhìn theo Susana của mình đi thoát khỏi đám đông, về phía tu viện ở cuối quảng trường. Nhưng khi nàng vừa tới đó, cánh cửa tu viện bất thần bật tung và những người Basque có vũ trang trốn trong đó rầm rộ kéo ra, súng trên tay bắn như vãi đạn. Acoca bất lực đứng nhìn vợ mình gục chết. Chính hôm đó y đã thể trả thù dân Basque và giáo hội.
    Và lúc này đây y đang ở Avil1a, bên ngoài một tu viện khác. Lần này chúng phải chết.
    Trong bóng tối bao trùm tu viện, sơ Theresa nắm chặt chiếc roi trong tay, vụt tới tấp vào người. Sự đau đớn cắt da xé thịt do những chiếc gai sắc nhọn gây ra khiến bà muốn hét lên, nhưng điều đó là không được phép và bà phải dồn nén những tiếng gào thét vào lòng.
    Hãy tha thứ cho những lỗi lầm của con, Giêsu. Hãy chứng giám rằng con đang hành hạ mình như Người đã bị hành hạ, đang chịu đựng những vết thương như Người đã phải chịu đựng. Hãy cho con được chịu đựng như người đã chịu đựng.
    Bà suýt ngất đi vì đau đớn, rồi gắng tiếp tục hình phạt ba lần nữa, rồi tuyệt vọng ngã xuống chiếc giường con. Bà không lau máu đi vì điều đó bị cấm, gắng gượng chịu những đau đớn cực độ do mỗi cử động mang lại. Sơ Theresa cất roi vào chiếc hộp màu đen, đặt trở lại góc cũ Nó luôn được đặt ở đó, để thường xuyên nhắc nhở rằng mỗi lỗi lầm dù là nhỏ nhất cũng phải trả bằng sự đau đớn tột độ..
    Sơ Thresa đã phạm lỗi vào buổi sáng hôm đó, lúc bà đi tới hành lang, mắt nhìn xuống, và va vào sơ Graciela. Giật mình, sơ Thresa ngẩng lên và bất chợt ánh mắt đụng luôn phải gương mặt của sơ Graciela. Bà liền thuật lại tội lỗi của mình. Mẹ Bentina nheo mày tỏ vẻ không hài lòng và làm dấu sự hành tội. Bà đưa tay phải từ vai nọ sang vai kia ba lần, bàn tay nắm chặt như đang giữ lấy cây rơi, đầu ngón tay cái tì chặt vào lòng ngón tay trỏ.
    Nằm trên giường, sơ Theresa không thể quên đi được khuôn mặt đẹp đến khác thường của cô gái trẻ. Bà biết mình sẽ không bao giờ được nói chuyện hay chỉ nhìn thấy khuôn mặt đó nữa vì một lỗi lầm nhỏ nhất biểu lộ quan hệ gần gũi giữa các nữ tu sĩ cũng sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Trong một môi trường khổ hạnh về tinh thần và thể xác, không một mối quan hệ, dù dưới hình thức nào, được phép tồn tại. Nếu hai tu sĩ làm việc bên nhau và cùng tỏ ra thích thú người bạn im lặng của mình, Mẹ bề trên sẽ lập tức tách họ ra. Cũng không có sơ nào được phép ngồi cạnh cùng một người hai lần trong ngày. Giáo hội tế nhị gọi sự chú ý của một tu sĩ đến một người khác là “một quan hệ đặc biệt”, và hình phạt sẽ đến rất nhanh, nghiêm khắc. Sơ Therasa phải chịu hình phạt vì đã vi phạm nguyên tắc đó.
    Giờ đây tiếng chuông vọng tới sơ Theresa như từ cõi xa xôi. Đó là tiếng chuông của Chúa đang khiển trách bà.
    Ở phòng bên tiếng chuông vọng vào chuỗi những giấc mơ của sơ Graciela, tiếng ngân lẫn vào những tiếng cọt kẹt dâm đãng bởi những chiếc lò xo của giường.
    Thằng Marôc da đen tiến về phía cô, trần truồng, hai tay hắn vươn ra chộp lấy cô. Graciela mở mắt choàng tỉnh, tim đập liên hồi. Cô nhìn quanh thảng thất, nhưng kịp nhận ra là đang ở một mình trong căn phòng nhỏ hẹp và tiếng động duy nhất là tiếng chuông gõ đều đều thanh thản.
    Sơ Graciela quỳ xuống bên giường. Giêsu, cảm tạ Người đã đưa con thoát khỏi quá khứ. Cảm tạ Người đã ban cho con niềm sung sướng được ở đây trong ánh sáng của Người. Hãy cho con được sung sướng chỉ trong hạnh phúc bên Người, xin Người hãy giúp con được làm giảm nhẹ nỗi buồn trong trái tim đau khổ của Người.
    Cô trở dậy, thu dọn giường cẩn thận, rồi nhập vào đoàn tu sĩ đang lướt nhẹ về phía nhà thờ để làm lễ Kinh Matins. Cô cảm nhận được mùi nến cháy khen khét quen thuộc và nhận biết được những viên đá đã mòn, vẹt dưới chân.
    Ban đầu, khi mới vào tu viện, Graclela không hiểu được khi Mẹ Trưởng tu viện dạy rằng nữ tu là một phụ nữ dám từ bỏ tất cả để có được mọi thứ. Lúc đó Graciela mười bốn tuổi. Giờ đây, mười bảy năm đã trôi qua, cô đã hiểu rõ được lời dạy đó. Trong mơ ước, cô có tất cả, vì ước mơ là tư duy đáp lại linh hồn.
    Thời gian của cô đầy ắp một sự yên tĩnh tuyệt vời.
    Ơn Người cho con được quên, thưa Cha. Cảm tạ Người đã ở bên con. Thiếu Người con không thể đối mặt với quá khứ kinh khủng... ơn Người... ơn Người...
    Khi lễ Mathins kết thúc, các tu sĩ trở về phòng mình nghỉ chờ đến lễ Lauds lúc mặt trời mọc.
    Bên ngoài, đại tá Ramon Acoca và quân lính yên lặng chuyển động trong bóng đêm. Khi tới sát tu viện, Acoca nói. “Jaime Miro và quân của hắn được trang bị nhiều vũ khí. Đừng chần chừ. ”.
    Y nhìn tu viện từ phía trước. Trong khoảnh khắc, y thấy những người Basque chạy ào ra và Susana ngã xuống trong cơn mưa đạn.
    Đừng bận tâm đến việc phải bắt sống Miro làm gì, Acoca ra lệnh.
    Sơ Megan tỉnh giấc bởi sự yên lặng. Một sự yên lặng khác thường. Một sự yên lặng đang chuyển động, tiếng lao xao của không khí, tiếng thì thầm của con người. Có những tiếng động mà suốt mười lăm năm ở tu viện cô chưa từng nghe thấy. Linh cảm về một câu chuyện gì rất khủng khiếp ập đến bao phủ lấy cô.
    Trong bóng đêm, cô nhẹ nhàng trở dậy mở cửa phòng mình. Không thể tin được, hành lang đầy ắp người. Một người khổng lồ có gương mặt sẹo từ trong phòng của Mẹ Bentina bước ra, lôi bà theo. Megan sửng sốt nhìn. Mình đang mơ một cơn ác mộng cô nghĩ, không thể có những người này ở đây được.
    – Các người giấu nó ở đâu? - Đại tá Acoca gắt lên.
    Vẻ khiếp sợ hiện lên trên mặt mẹ Bentina.
    – Ôi! Đây là Thánh địa của Chúa. Các người đừng làm ô uế nó, - giọng bà run rẩy. - Các người hãy đi khỏi đây ngay.
    Bàn tay như gọng kìm của viên đại tá siết chặt cánh tay bà, y lắc mạnh người bà:
    – Tôi chỉ muốn có Miro, thưa sơ..
    Cơn ác mộng là có thực.
    – Những cánh cửa phòng khác bắt đầu mở, các tu sĩ xuất hiện với vẻ mặt ngơ ngác. Họ chưa bao giờ được chuẩn bị cho một sự kiện không bình thường như vậy xảy đến.
    – Acoca đẩy dúi mẹ nhất rồi quay sang. Patricio Arrieta, một trong số trợ thủ chủ chốt của y:
    – Lục soát toàn bộ từ trên xuống dưới.
    Quân lính của Acoca bắt đầu tản ra chiếm giữ toàn bộ nhà thờ, nhà ăn, các buồng ở, lôi dậy những tu sĩ vẫn còn đang ngủ và dồn họ qua hành lang nhà thờ.
    Các tu sĩ tuân theo không, nói năng gì, trung thành với lời thề giữ im lặng, ngay cả trong hoàn cảnh này. Hình ảnh giống như trong cuốn phim bị tắt âm thanh, tiếng động.
    Những người lính Acoca hừng hực khát vọng trả thù.
    Họ đều là người Falang, và đều hằn sâu trong trí nhớ là giáo hội đã quay lưng lại họ như thế nào. Trong cuộc Nội chiến, giáo hội đã ủng hộ những người thuộc, phái trung thành chống lại lãnh tụ vĩ đại của họ - Tổng tư lệnh Franco.
    Đây là cơ hội để họ trả thù cho người thân của mình. Sức mạnh và sự câm lặng của các nữ tu khiến cho họ giận dữ hơn bao giờ hết:
    Khi Acoca đi qua một gian phòng, y nghe thấy có tiếng kêu vọng ra từ đó:
    Nhìn vào, y thấy lính mình đang lột váy áo của một nữ tu. Y bỏ đi.
    Sơ Lucia bị đánh thức bởi tiếng hò hét của đám lính bên ngoài. Cô hoảng sợ ngồi phắt dậy. Bọn cảnh sát đã phát hiện ra ta, ý nghĩ đầu tiên vụt đến trong đầu cô. Phải tìm cách biến khỏi đây. Không có đường nào khác đi ra khỏi tu viện ngoài cách đi qua cửa chính.
    Cô vụt dậy, ghé mắt nhìn ra hành lang. Cái cảnh cô nhìn thấy thật đáng kinh ngạc. Hành lang đầy kín không chỉ cảnh sát mà còn cả những người mặc quần áo dân sự mang vũ khí. Mẹ Bentina đang đứng ở giữa đám lộn xộn, lặng lẽ cầu kinh, nhìn bọn lính làm ô uế tu viện thân yêu của bà. Sơ Megan bước đến bên bà. Lucia nhập vào đám tu sĩ.
    – Có chuyện gì thế? Họ là ai? - Lucia hỏi. Đó là những lời đầu tiên cô nói ra mồm kể từ khi nhập tu viện.
    Mẹ Bentina đặt bàn tay phải dưới nách trái ba lần, ý nói “trốn”.
    Lucia tròn mắt ngạc nhiên, nghĩ. Bây giờ Mẹ cho phép rồi. Ta phải tìm cách ra khỏi đây thôi, vì đức Kitô. Con muốn nói là vì Đức Kitô, thưa Mẹ Nhất.
    – Chúng tôi đã lục soát mọi nơi, thưa đại tá. Không có một dấu vết nào của Jalme Miro hay bọn tay chân của hắn. - Patricio Arrieta chạy đến nói với Acoca.
    – Soát lại? Acoca cương quyết.
    Bà Nhất Bentina sực nhớ đến báu vật duy nhất trong tu viện. Bà vội vàng đến bên sơ Theresa, thì thầm:
    – Ta có việc cho con. Hãy vào nhà ăn lấy cây thánh giá vàng và mang nó đến tu viện ở Mendavla. Con phải đưa nó ra khỏi đây ngay. Nhanh lên.
    Sơ Theresa run bắn người tới mức chiếc khăn quàng cổ rung lên từng đợt. Bà ngước mắt nhìn Mẹ, hoang mang. Sơ đã sống trong tu viện này suốt ba chục năm.
    Cái ý nghĩ rời khỏi nơi đây với bà là quá sức tưởng tượng. Bà đưa tay, làm dấu. “Con không thể”.
    Mẹ Nhất giận dữ:
    – Không thể để cây thánh giá lọt vào tay bọn quỷ satăng này. Hãy làm điều ta bảo, vì Chúa Giêsu.
    – Một tia sáng lóe lên trong mắt sơ Theresa. Bà đứng thẳng người ra dấu. “Vì Chúa Giêsu, ” rồi vội vàng đi về phía nhà ăn.
    Sơ Theresa tiến đến chỗ các bà sơ đang tụ tập, hoang mang nhìn cảnh lộn xộn quanh mình. Bọn lính mỗi lúc một tàn bạo, chúng đập phá bất kể thứ gì trong tầm mắt. Acoca nhìn chúng tỏ vẻ hài lòng. Lucia quay sang Megan và Graciela:
    – Tôi không biết rõ hai sơ, nhưng tôi đang tìm cách trốn khỏi đây. Các sơ cùng đi chứ?
    Hai người cùng sửng sốt nhìn cô, không ai dám lên tiếng. Sơ Theresa vội vã tiến về phía ba người, mang theo một vật được bọc trong mảnh vải. Mấy người lính vẫn tiếp tục dồn các nữ tu vào phòng ăn.
    – Đi thôi. - Lucia nói.
    Sơ Theresa, Megan và Gralilela tỏ ý ngập ngừng giây lát, rồi theo Lucia đi về phía cửa lớn. Họ không còn nhận ra hành lang quen thuộc đã bị phá tan.
    Một người lính bất ngờ xuất hiện trước mặt.
    – Đi đâu vậy các quý bà. Quay lại! Các bạn tôi có ý dành cho các quý bà vài điều bất ngờ.
    – Chúng tôi có một món quà cho ngài. - Lucia nói. Cô cúi xuống nhấc lên một cây đèn nến to bằng thép trong đống đổ nát, mỉm cười.
    – Cô làm gì với cái này? - Tên lính bối rối nhìn cây đèn.
    – Cái này. - Lucia giáng mạnh cây đèn vào đầu hắn.
    Hắn đổ nhào xuống đất, bất tỉnh.
    Ba nữ tu sĩ đờ người kinh hãi.
    – Biến thôi. - Lucia nói.
    Một lát sau Lucia, Megan, Graciela và Thẹresa đã tới sân trước của tu viện, nhanh chóng vượt qua cổng, rồi lẩn vào trời đêm sáng sao. - Tôi phải chia tay các bà thôi. Họ sẽ lùng bắt đấy, các bà nên trốn khỏi đây ngay. - Lucia ngừng bước. Cô quay lại nhìn nhận những ngọn núi hiện lên cao cao phía trên tu viện.
    Ta sẽ trốn ở đó đến khi cuộc lục soát địu đi, rồi sẽ thẳng hướng Thụy sĩ mà tiến.
    May ra thì có được may mắn đó. Cái bọn chó đẻ làm mất cả chỗ trốn tuyệt vời.
    Khi Lucia trèo lên được một quãng, cô nhìn xuống. Từ vị trí thuận lợi, có thể thấy được ba nữ tu sĩ. Không tin được. Cả ba vẫn đứng chôn chân ở trước cổng tu viện như ba pho tượng mặc đồ đen.
    Trời ơi! Cô nghĩ. Biến đi chứ, đứng đấy để chúng tóm à. Nhúc nhích đi. Họ không thể cất chân lên được. Cứ như là tất cả những cảm giác trong họ đã tê liệt từ lâu, nên họ không thể cảm nhận được điều đang hoặc sắp xảy đến. Ba bà sơ cắm mắt nhìn xuống chân mình. Họ quá kinh hãi nên không nghĩ ra được gì. Họ đã giam mình quá lâu đằng sau cửa Chúa, tách biệt với thế giới. Lúc này đây, bên ngoài những bức tường che chở, nỗi hoang mang sợ hãi bao trùm lên họ. Họ không hề có ý nghĩ đi đâu hoặc làm gì. Bên trong những bức tường kia cuộc sống của họ đã được sắp sẵn. Họ đã sống bằng nguyên tắc. Đột nhiên giờ chẳng có nguyên tắc nào cả. Chúa muốn gì ở họ? Ý định của Người là gì vậy?
    Họ đứng nép vào nhau, không dám nói, cả không dám nhìn nhau. Sơ Theresa ngập ngừng chỉ về hướng quầng sáng của thị trấn Avila xa xa:
    – Về phía đó.
    Rồi ba người loạng choạng tiến tới. Quan sát họ từ trên cao, Lucia nghĩ, Ôi, cái bọn ngu ngốc! Đấy là chỗ đầu tiên bọn chúng sẽ tìm. Thôi kệ, dù sao cũng là việc của các người. Ta có việc của ta. Cô đứng đó, tần ngần nhìn theo họ tiến gần đến cái chết đang rình rập. Một lũ ngốc.
    Lucia đi ngược xuống chân đồi, làm những hòn đá lổng chổng lăn xuống, rồi bắt đầu chạy theo họ. Chiếc áo nhà tu nặng nề như níu chân cô lại.
    – Đợi một tý. - Cô gọi to. - Đứng lại đã. Ba bà sơ dừng chân và quay lại.
    Lucia vội chạy đến bên họ, vừa nói vừa thở:
    – Các bà đi sai đường rồi. Nơi đầu tiên bọn chúng tìm các bà là trong thị trấn.
    Phải trốn chỗ khác.
    Cả ba bà ngơ ngác nhìn Lucia.
    – Lên núi. Trên kia kìa. Mấy bà ngố. Thôi, đi theo tôi- Lucia nóng nảy nói.
    Cô quay người và hướng thẳng lên núi, mấy bà tu nhìn theo do dự rồi lần lượt, từng người một, bước thấp bước cao đi theo. Vừa đi, Lucia chốc chốc lại ngoái về phía sau nhìn họ. Sao mình lại không thể để mặc họ được nhỉ. Cô nghĩ. Mình có trách nhiệm gì với họ đâu. Đi cả lũ thế này hết sức nguy hiểm. Cô cắm cúi trèo, bụng nghĩ họ vẫn bám theo sau.
    Ba bà sơ đi theo hết sức khó nhọc. Mỗi khi họ tụt lại, Lucia đều dừng bước đợi họ theo kịp cô.
    Đến sáng, mình sẽ bỏ họ lại.
    – Nhanh lên nào, - Lucia gọi.
    Tại tu viện, cuộc tấn công đã kết thúc. Những nữ tu bàng hoàng trong những bộ đồ tu sĩ rách mướp và dính máu đang được dồn vào những thùng xe tải đóng kín, không biển số.
    – Đưa chúng về sở chỉ huy của tôi ở Madrid. - Acoca ra lệnh. - Tách riêng từng đứa ra.
    – Thưa, ghi tội danh là...
    – Che giấu bọn khủng bố.
    Rõ, thưa đại tá. - Patricio Arrita nói. Gã ta ấp úng. Thưa đại tá, có bốn đứa hiện không rõ trốn đâu.
    Tìm ngay. - Cặp mắt Acoca lạnh lùng.
    Đại tá Acoca đáp máy bay về Madrid trình diện thủ tướng.
    – Jaime Miro đã tẩu thoát trước khi chúng tôi đến tu viện.
    – Tôi cũng đã nghe. Thủ tướng Martinez gật đầu. Ông tự hỏi, liệu Jaime Miro đã bao giờ xuất hiện ở tu viện chưa mà lại bắt đầu từ đó. Chẳng gì nghi ngờ nữa.
    Đại tá Acoca ngày càng trở nên nguy hiểm, khó mà kiểm soát được hắn nữa. Đã có những phản ứng gay gắt về cuộc tấn công táo tợn vào tu viện. Thủ tướng thận trọng chọn từ:
    – Báo chí đang săn lùng tôi về chuyện xảy ra ở tu viện – Báo chí đang biến tên khủng bố này thành một anh hùng. - Acoca nói, mặt lạnh như đá. - Ta không thể để họ gây áp lực.
    – Thằng cha ấy gây cho chính phủ bao điều khó xử, ông đại tá, chưa kể bốn nữ tu sĩ. Nếu họ nói...
    Khỏi phải lo. Chúng chưa thể đi xa được. Tôi sẽ tóm được chúng và tôi sẽ tóm được Miro.
    Thủ tướng quyết định không thể chờ đợi lâu hơn:
    – Ông đại tá, tôi muốn ông đảm bảo rằng ba mươi sáu nữ tu ông đang giữ phải được đối xử tất, và tôi sẽ ra lệnh cho quân đội cùng tham gia tìm kiếm Miro và đồng bọn. Ông sẽ hợp tác với đại tá Sostelo.
    Một thoáng yên lặng rợn người xuất hiện trong một lúc Cặp mắt Acoca lạnh băng.
    – Ai trong chúng tôi sẽ chỉ huy hoạt động này?
    Thủ tướng Martinez nuốt giận:
    – Tất nhiên là ông rồi.
    Lucia và ba bà sơ đi suốt đêm cho tới bình minh, cứ theo hướng Đông Bắc mà leo núi, mỗi lúc một xa Avila và tu viện. Các bà sơ, do thường xuyên đi lại trong im lặng nên gây rất ít tiếng động. Âm thanh duy nhất lúc này là tiếng loạt xoạt của những chiếc áo nặng nề, tiếng lách cách phát ra từ những tràng hạt, và tiếng thở gấp gáp khi họ cố sức trèo mỗi lúc một cao hơn.
    Tới vùng cao nguyên Guadarrama, họ đi dọc theo một con đường gồ ghề rồi băng qua những cánh đồng đầy cừu và dê. Tảng. sáng, họ đã vượt qua vài dặm đường để tới khu rừng bên làng nhỏ Villacastin.
    Phải bỏ họ ở đây thôi. Lucia quyết định. Chúa của họ sẽ che chở cho họ.
    Chúa chắc hẳn cũng đủ che chở cho ta. Cô cay đắng nghĩ. Thụy Sĩ xa vời vợi. Ta không có tiền, không có hộ chiếu, lại ăn mặc như người nhà mồ. Bây giờ thì chắc chúng đã phát hiện ra có người trốn. Chúng sẽ lùng cho bằng ra. Ta phải thoát khỏi đám này càng sớm càng tốt.
    Vào đúng lúc ấy, một điều đã khiến cô thay đổi ý định...
    Sơ Theresa đang đi trong rừng, bà vấp vào một rễ cây chồi lên. Cái hộp mà bà cẩn thận che chở suốt đoạn đường bị rơi xuống. Một vật bên trong văng ra khỏi cái khăn bọc ngoài. Lucia dán mắt nhìn cây thánh giá bằng vàng được chạm trổ cầu kỳ đang ánh lên rực rỡ dưới những tia sáng ban mai.
    Vàng ròng à? Lucia nghĩ. Có kẻ nào trên kia đang giữ hộ cho ta. Cây thánh giá đó là của trời cho. Đó là chiếc vé đưa ta đến Thụy Sĩ.
    Lucia theo dõi sơ Theresa nhặt cây thánh giá lên và nâng niu, gói nó vào mảnh vải bọc. Cô mỉm cười với mình. Lấy cây thánh giá đó dễ thôi, mấy bà sơ này sẽ răm rắp làm mọi thứ mình yêu cầu.
    Thị trấn Avila trở nên náo động. Tin tức về cuộc tấn công vào tu Viện lan đi rất nhanh, và cha Berrendo đã được cử ra để chọi với đại tá Acoca.
    Ông linh mục này đã vào tuổi bảy mươi, dáng vẻ nhu mì bên ngoài ẩn giấu một sự mạnh mẽ bên trong. Ông là một người cha hiền từ và hiểu biết để chăm sóc đàn con chiên của mình. Nhưng vào lúc này, trong lòng ông tràn đầy cơn giận dữ lạnh lùng. Đại tá Acoca để ông phải chờ đợi đến một tiếng đồng hồ rồi mới cho phép được ra mắt trong phòng y. Cha Berrendo nói ngay, không cần rào đón.
    – Chính ông và lính của ông đã tấn công một tu viện mà chẳng cớ lý do gì cả.
    Đó là một hành động điên rồ. Chúng tôi chỉ đơn giản làm bổn phận của mình. - Acoca dằn giọng. - Tu viện đó đã che giấu cho Jaime Miro và đồng bọn giết người của hắn. Tự các bà sơ chuốc họa vào thân đó thôi. Chúng tôi đang giữ họ để điều tra.
    – Thế ông đã tìm được Jaime Miro ở trong tu viện chứ? - Ông linh mục giận dữ hỏi lại.
    Đại tá Acoca nói trơn tuột:
    – Không, thật tiếc hắn và đồng bọn đã tẩu thoát trước khi chúng tôi kịp đến...
    Nhưng tôi sẽ tìm ra lũ chúng nó và công lý sẽ được sáng tỏ Tất nhiên là công lý của ta. - Acoca nở nụ cười nham hiểm.
     
  4. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 4
    Bốn bà sơ bước chầm chậm, trang phục cả bốn tuy, nghèo nàn song lại trở nên “rắc rối” đối với một địa thế gồ ghề và phức tạp. Dép của họ quá mỏng manh, không chống đỡ nổi mặt đất đầy đá lởm chởm. Áo choàng của họ vướng víu vào mọi thứ. Sơ Theresa thậm chí còn không đọc được kinh. Hai tay sơ luôn bận bịu gạt những cành cây nhọn để chúng khỏi cào vào mắt.
    Trong ánh sáng ban ngày, sự tự do càng trở nên kinh khủng hơn. Chúa Trời đã lôi họ ra khỏi cõi cực lạc để rồi quẳng vào một thế giới hoàn toàn xa lạ, và sự dẫn dắt của Người mà họ tự nguyện nhắm mắt theo lâu nay cũng đã bị rời bỏ.
    Họ thấy mình như rơi vào một vùng đất chưa in dấu chân người, chẳng bản đồ, cũng chẳng la bàn. Những bức tường bấy lâu từng bảo vệ họ khỏi mọi hiểm họa bỗng dưng biến mất, và họ chợt thấy mình trần trụi, nhỏ nhoi. Sự nguy hiểm rình rập khắp nơi mọi chốn mà họ thì chẳng có đến một hang hốc giấu thân.
    Cảnh vật và những âm thanh nơi đây thật đáng nghi ngờ. Côn trùng, chim chóc và cả những mảng trời xanh dồn dập ùa vào các giác quan họ. Còn một cái gì khác nữa rất đáng sợ mà họ chưa gọi được tên.
    Khi mới rời tu viện, cả ba sơ Theresa, Graciela và Megan đều cố tránh nhìn mặt nhau, theo bản năng giữ gìn kỷ luật. Giờ đây người nào cũng hết sức hào hứng khi được quan sát lẫn nhau. Lại nữa, sau bao năm sống trong im lặng, họ bỗng thấy nói ra lời thật khó khăn. Khi cất giọng, tiếng họ nghèn nghẹn, như đang học một kỹ năng mới lạ. Và bên tai họ thì cứ vang lên cái giọng nói lạ lùng, không hiểu của người ở bên hay của chính mình. Chỉ Lucia là tỏ ra thoải mái, tự tin. Ba người kia tự nhiên đều hướng về Lucia tìm một sự dẫn dắt, như bao năm qua đã hướng về Chúa.
    – Chúng ta cũng phải tự giới thiệu nhỉ. - Lucia nói. - Tôi là sơ Lucia.
    Lúng túng một lúc, rồi Graciela dụt dè: - Tôi là sơ Graciela. Một cô gái mắt đen và có vẻ mặt thật hấp dẫn.
    – Tôi là sơ Megan. Cô gái tóc vàng có cặp mắt xanh nổi bật.
    Tôi là sơ Theresa. Người già nhất nhóm. Năm mươi hay sáu mươi Khi cả bọn đang nằm nghỉ ở vạt rừng ngoài làng, Lucia nghĩ. Họ cứ như những con chim mới nở bị rơi khỏi tổ. Nếu chỉ có một mình chắc họ sẽ chẳng tồn tại được dăm phút. Thật tội nghiệp. Thây kệ, ta sẽ lên đường sang Thụy sĩ với cây thánh giá.
    – Lucia đi tới bìa rừng, rẽ cây nhìn về phía khu làng nhỏ phía dưới. Vài người đang đi lại trên đường. Không có dấu hiệu nào của những kẻ đã tấn công vào tu viện.
    Nào, Lucia nghĩ bụng, cơ hội đến rồi. Cô quay lại phía ba người. - Có lẽ tôi vào làng kiếm chút đồ ăn. Các sơ đợi ở đây cô gật đầu ra hiệu cho sơ Theresa. - Sơ đi với tôi.
    Sơ Theresa hết sức bối rối. Suốt ba chục năm nay bà chỉ tuân theo những lời chỉ bảo của Mẹ Bentina. Giờ đây bỗng dưng bà sơ trẻ này nhảy vào vị trí đó.
    Nhưng điều gì sẽ diễn ra thì đó là ý nguyện của Chúa. Sơ nghĩ Người cử cô ta tới đây để giúp chúng ta, và cô ấy đang nói lời của Người.
    Tôi phải đem cây thánh giá này tới tu viện Mendavia càng sớm càng tốt.
    – Phải lắm, xuống đó ta sẽ hỏi đường đi.
    Hai người ra khỏi rừng.
    Có vẻ thuận lợi đây, Lucia nghĩ thầm. Họ đi tới ven thị trấn nhỏ. Một tấm biển đề Villacastin. Phía trước họ là phố chính của thị trấn. Bên trái là con phố nhỏ vắng lặng. Tốt, Lucia thầm nghĩ. Sẽ chẳng ai chứng kiến được điều sắp xảy ra.
    Lucia quay sang phố nhỏ:
    – Đi đường này thôi, ít có khả năng bị phát hiện. Sơ Theresa gật đầu, ngoan ngoãn đi theo. Vấn đề bây giờ là làm sao lấy được cây thánh giá khỏi tay sơ Theresa.
    – Mình sẽ giật lấy, rồi chạy, Lucia nghĩ, nhưng mụ có thể sẽ kêu lên và sẽ khiến mọi người chú ý. Không được. Phải đảm bảo chắc chắn là mụ yên lặng.
    Một cành cây rơi xuống từ lúc nào hiện ra trước mặt, Lucia dừng lại, cúi nhặt lên. Cành cây khá nặng. Tuyệt vời. Rồi đợi cho sơ Theresa tới kịp mình. Sơ Theresa...
    Bà quay nhìn Lucia. Đúng lúc cô bắt đầu nâng cành cây lên thì một giọng đàn ông không hiểu từ đâu vang tới.
    – Chúa ở bên các bạn.
    Lucia giật mình nhìn quanh, cất chân định chạy. Một người đàn ông đứng đó trong chiếc áo choàng màu nâu và chiếc mũ trên đầu của kẻ tu hành. Ông có dáng người cao, gầy, khuôn mặt chim ưng với một ấn tượng thánh thiện nhất mà Lucia lần đầu được thấy. Cặp mắt ông ta lan tỏa một cảm giác nồng nàn và giọng nói thì thật nhẹ nhàng, ấm áp.
    – Tôi là tu sĩ Miguel Carrilo.
    Lucia bừng tỉnh. Kế hoạch của cô bị cản trở. Nhưng đột nhiên lại có một kế hoạch khác hay hơn. Ơn Chúa, người đã đến với chúng tôi. - Lucia nói. Người này sẽ giải thoát cho cô. Ông ta có thể biết được con đường ngắn nhất và an toàn nhất đưa cô ra khỏi Tây Ban Nha. - Chúng tôi từ tu viện dòng Cistercian gần Avila tới đây. - Cô giải thích. - Đêm hôm qua tu viện bị một số kẻ lạ mặt tấn công. Tất cả các nữ tu sĩ đều bị bắt giữ. Bốn người chúng tôi khó khăn lắm mới trốn được.
    – Ông tu sĩ đáp lời, giọng tràn đầy căm giận:
    – Tôi tới đây từ tu viện ở San Generro, nơi tôi đã cầu nguyện suốt hai mươi năm qua. Chúng tôi bị kẻ lạ mặt tấn công đêm hôm kia, - ông ta thở dài. - Tôi biết rằng Chúa đã có sẵn kế hoạch cho những đứa con của Người, nhưng tôi phải thú thật là chính tôi lúc này cũng không hiểu được dự tính của Người.
    – Những người đó đang truy lùng chúng ta. - Lucia nói. - Điều quan trọng là chúng ta phải ra khỏi Tây Ban Nha càng sớm càng tốt. Ông có cách nào không?
    Tu sĩ Carrillo cười khẽ:
    – Tôi nghĩ mình có thể giúp được các sơ. Chúa đã cho chúng ta gặp nhau. Xin hãy đưa tôi tới chỗ những người còn lại.
    Vài phút sau, Lucia đã đưa vị tu sĩ tới bìa rừng.
    – Đây là tu sĩ Carrillo, - cô nói - đã sống trong tu viện suốt hai mươ năm qua.
    Ông ấy đến để giúp đỡ chúng ta.
    Phản ứng của mỗi người đối với ông tu sĩ mỗi khác. Graciela không dám nhìn thẳng vào mặt; Megan thì dò xét với những cái liếc nhanh, thích thú còn Theresa thì coi ông như một vị sứ giả được Chúa phái đến để dẫn dắt bà tới tu viện ở Mendavia.
    Tu sĩ Carrillo nói:
    – Không nghi ngờ gì, bọn người đã tấn công vào tu viện đang truy tìm các bạn. Để đánh lạc hướng chúng, việc đầu tiên là các bạn phải thay đổi trang phục.
    – Chúng tôi chẳng có bộ nào để thay cả. - Megan nói.
    – Tu sĩ Carril1o mỉm cười sung sướng:
    – Đức Chúa trời có một tủ quần áo vĩ đại, Người sẽ cho chúng ta. Hãy theo tôi quay vào thị trấn.
    Quãng hai giờ, là giờ ai nấy nghỉ trưa, tu sĩ Carril1o cùng bốn bà sơ vừa đi vào phố chính của thị trấn vừa kín đáo quan sát xem có bị ai theo dõi không.
    Các cửa hiệu đều đóng cửa nhưng quán ăn và tiệm giải khát vẫn mở, từ bên trong vang ra những điệu nhạc hỗn độn, lạ tai.
    Tu sĩ Carrillo quan sát vẻ mặt của sơ Theresa rồi nói:
    – Đó là loại nhạc Rock, rất phổ biến với bọn trẻ thời nay. Hai phụ nữ trẻ đứng trước một quầy rượu nhìn đám tu sĩ đi qua. Các nữ tu cũng tròn xoe mắt nhìn quần áo của họ. Một người mặc chiếc váy ngắn không che nổi cặp đùi, kẻ kia váy dài hơn nhưng lại xẻ toang hoác ở vế Cả hai đều mặc áo lót không tay bó sát người.
    Mặc thế thì cũng như không, sơ Theresa hoang mang nghĩ. Đứng ở lối vào là một người đàn ông mặc chiếc áo bó chặt không có cổ, trông thật lạ mắt. Một sợi dây gắn đá óng ánh lủng lẳng trước ngực. Những hương vị lạ lùng chào đón khi họ đi qua. Mùi nicotin và mùi whisky.
    Megan dán mắt nhìn theo cái gì đó đang đi ngang qua đường. Cô dừng lại.
    – Gì thế Có chuyện gì vậy? - Cô nhìn Carrillo, hỏi. Megan nhìn theo người phụ nữ đang bế một đứa bé. Bao nhiêu năm đã trôi qua, kể từ lần cuối cô được nhìn một đứa bé, hay là một đứa trẻ con? Lần cuối cùng khi cô còn ở trại mồ côi, mười bốn năm về trước. Hình ảnh bất ngờ làm cho Megan chợt nhận thấy cuộc sống của cô đã xa vời với cuộc sống bên ngoài biết bao nhiêu.
    Sơ Theresa cũng nhìn theo đứa bé, nhưng bà lại nghĩ về một điều khác. Nó là con của Monique. Đứa bé bỗng dưng khóc toáng lên. Nó khóc vì mình bỏ nó.
    Nhưng không thể thế được. Ba chục năm qua rồi cơ mà. Theresa vội quay mặt nhưng tiếng khóc của đứa bé vẫn vang bên tai bà. Họ tiếp tục đi. Qua một rạp xinê. Tấm phông quảng cáo đề Ba người tình. Mấy bức ảnh phô diễn những người phụ nữ hở hang đang ôm ghì lấy người đàn ông để trần bộ ngực. Sao mà họ.... họ gần như trần truồng thế - Sơ Theresa kêu lên.
    Ông tu sĩ Carrillo chau mày:
    Phải, thật đáng hổ thẹn với những cái mà các rạp chiếu bóng đưa lên màn ảnh. Một cảnh khiêu dâm thuần túy. Những hành động riêng tư nhất, kín đáo nhất cũng đem bày ra cho mọi người cùng xem. Chúng biến những đứa con của Chúa thành súc vật.
    Họ đi qua một cửa hàng bán đồ kim khí, hiệu làm đầu, cửa hàng bán hoa, bán kẹo, tất cả đều đóng cửa. Cứ tới mỗi cửa hiệu, các tu sĩ lại dừng chân ngắm nghía những món hàng bày trong tủ kính, bồi hồi với những hình ảnh mờ ảo một thời nào đó.
    Tới một hiệu trang phục phụ nữ, tu sĩ Carrillo ra dấu:
    Dừng lại.
    – Mấy tấm màn đã kéo xuống che kín mặt trước cửa hiệu, trên đó treo tấm biển đóng cửa.
    – Hãy đợi tôi ở đây.
    Bốn người phụ nữ nhìn theo ông ta bước đi, rồi biến mất sau góc phố. Họ lúng túng nhìn nhau. Ông ta đi đâu thế nhỉ, nếu không quay lại thì sao?
    Vài phút sau, họ nghe thấy tiếng cửa trước mở ra, và tu sĩ Carrillo xuất hiện ở lối vào, tươi cười.
    – Nhanh lên. - Ông ra hiệu cho họ.
    Khi họ đã vào bên trong và tu sĩ khóa cửa lại, Lucia hỏi:
    – Làm sao ông...
    – Chúa tạo ra cửa sau cũng như Người đã tạo ra cửa trước. - Ông tu sĩ nói bằng giọng trang nghiêm song vẻ tinh quái trong câu nói khiến Megan bật cười.
    Mấy bà sơ nhìn quanh, lo lắng. Đây là một kho lớn toàn váy áo, giày dép, tất nịt... đủ loại, đủ màu. Toàn những thứ từ nhiều năm họ không được thấy. Các kiểu cách trông đến lạ. Lại có cả túi xách, ví tay, phấn son... quá nhiều thứ, không biết phải để mắt vào thứ nào.
    Đám đàn bà đứng đó, há hốc mồm. - Chúng ta phải nhanh lên. - Carril1o đe.
    " Cần rời khỏi trước khi hết giở nghỉ trưa, cửa hàng mở lại. Thôi, nhanh tay lên.
    Chọn lấy bất cứ thứ nào mình mặc vừa.
    Lucia nghĩ bụng. Nhờ trời, cuối cùng mình lại được ăn mặc đúng như một người phụ nữ. Cô bước tới một giá treo quần áo và bắt đầu lựa chọn kỹ càng, cuối cùng lấy ra chiếc váy màu ve và chiếc áo khoác lụa cùng bộ. Không phải loại Belenciaga, nhưng lúc này thì cũng được. Cô chọn thêm vài chiếc quần áo lót đôi giày mềm, rồi bước vào ngăn thay đồ và chỉ sau vài phút đã sẵn sàng lên đường.
    Những người khác vẫn còn đang loay hoay với bộ đồ mặc ngoài. Graciela chọn chiếc váy vải hoa trắng, làm nổi bật mớ tóc đen và nước da sẫm của cô, rồi một đôi dép.
    Megan lựa chiếc váy hoa màu xanh bày mẫu, chiếc váy dài quá đầu gối, và đôi giày đế thấp.
    Sơ Theresa lúng túng không biết chọn gì. Những vải vóc và màu sắc làm bà hoa mắt. Nào đồ lụa, đồ flanen, đồ tuýt đồ da... Nào hàng vải bông, vải chéo, vải nhung. Rồi kẻ ngang, kẻ dọc, carô... Và đủ các màu. Và mọi thứ đều như... hở hang. Hở hang, đó là từ bật ra trong đầu Theresa. Suốt ba mươi năm qua, bà được che phủ kín đáo với bộ đồ tu sĩ nặng nề, giờ đây bà phải cởi bỏ chúng và khoác lên người những vật nhẹ bẫng và thiếu đứng đắn này. Cuối cùng bà cũng tìm được chiếc váy dài nhất và chiếc áo khoác vải dày, cổ cao, và dài tay.
    Nhanh lên, các bạn. Cởi bỏ hết đồ cũ ra và thay cái mới vào đi. - Tu sĩ Carrillo giục.
    Họ nhìn nhau bối rối. - À, phải, tôi sẽ đợi ở phòng ngoài. - Ông ta cười.
    Ông ta đi về phía sau cửa hiệu, rồi vào phòng giao dịch. Ba bà sơ bắt đầu cởi bỏ quần áo, đứng trước nhau e thẹn.
    Ở phòng bên, tu sĩ Carrillo vội vàng kê một chiếc ghế dài phía dưới ô cửa sổ nhìn sang gian hàng và qua đó, dán mắt theo dõi các bà sơ thay đồ. Hắn tính toán:
    Ta thịt đứa nào trước bây giờ Miguel Carrillo bắt đầu sự nghiệp từ năm lên mười, với nghề ăn trộm. Sinh ra, hắn đã có khuôn mặt đẹp, như thiên thần và mớ tóc xoăn hoe vàng, những thứ đã tỏ rõ giá trị không thể lường hết được trong nghề hắn chọn. Hắn bắt đầu từ hành vi lưu manh thấp hèn nhất:
    “giật ví nẵng đồ trong các cửa hiệu. Hắn lớn lên, ”nghiệp vụ cũng phát triển theo. Rồi hắn sinh nát rượu và bắt đầu săn những phụ nữ giàu có. Nhờ dáng vẻ bên ngoài tuyệt vời, hắn đã rất thành công. Hắn tiến hành một số vụ lừa đảo độc đáo, cứ vụ sau lại tài tình hơn vụ trước. Thật không may, vụ lừa đảo mới đây nhất đã lại chẳng chịu theo ý muốn của hắn.
    Làm ra vẻ nhà tu hành từ một tu viện xa xôi, Carrillo đi từ nhà thờ này tới nhà thờ khác xin trú qua đêm. Hắn luôn được đón tiếp niềm nở, nhưng buổi sáng hôm sau, khi các vị cha cố mở cửa nhà thờ, thì thấy những đồ có giá trị của Chúa cùng vị khách tu hành “cơ nhỡ” đã không cánh mà bay. Cũng thật vô phúc, số phận đâm ra lừa đảo lại hắn. Hai đêm trước, tại Bejor, vị linh mục trưởng tự dưng khó ngủ lại đi thơ thẩn trong đêm và Carrillo đã bị bắt quả tang khi đang “lau chùi” đồ quý của nhà thờ. Tu viện trưởng vốn to khỏe nên dễ dàng vật ngã Carrillo và tuyên bố nộp hắn cho cảnh sát. Một cái cốc bằng bạc lớn bỗng rơi ra. Carrillo nhặt lên và nện thẳng vào đầu kẻ dám mang cảnh sát ra dọa mình. Hoặc là cái cốc bạc quá nặng, hoặc giả xương sọ ông linh mục quá mỏng, nhưng dù thế nào chăng nữa thì ông cũng đã nằm lăn ra và:.. như ngủ thiếp đi. Carrillo chạy trốn, cố gắng càng xa càng tốt. Hắn chạy qua Avila, nghe được vụ tấn công của đại tá Acoca và tổ chức GOE bí mật vào tu viện. Cũng là.
    số phận đã cho Carril1o gặp bốn vị nữ tu đang bỏ trốn này.
    Giờ đây, say sưa với những toan tính, hắn vuốt ve cặp mắt trên những tấm thân trần của họ, nghĩ bụng:
    Còn một lý thú nữa. Vì đại tá Acoca đang truy lùng bọn này nên chắc chắn sẽ có một khoản tiền thưởng béo bở dành cho ai bắt được chúng. Trước hết, ta ấp chúng đã, rồi sau sẽ đem chúng nộp cho Acoca.
    Ba bà sơ vẫn đang hoàn toàn trần trụi. Carrillo chăm chú theo dõi họ lóng ngóng mặc quần áo lót. Rồi họ cũng mặc xong, ngượng ngập cài những chiếc cúc không quen thuộc, kéo những sợi dây khóa xa lạ, cố gắng nhanh nhất có thể. Đến lúc hành sự rồi, Carrillo hân hoan nghĩ. Hắn tụt xuống, đi sang gian hàng, tiến tới quan sát họ với vẻ hài lòng, nói:
    Tuyệt vời. Không ai trên đời này còn ngờ được các bạn là tu sĩ. Tôi xin khuyên thêm là các bạn nên quàng khăn. - Hắn chọn cho mỗi người một chiếc, rồi theo dõi họ quàng lên đầu. Migllel Carril1o quyết định Graciela sẽ là người đầu tiên. Không nghi ngờ gì, cô là một trong những người đàn bà đẹp nhất mà hắn đã gặp. Và cái thân hình kia? Làm sao mà con bé lại phung phí nó cho Chúa thế nhỉ Ta sẽ chỉ cho con bé biết phải làm gì với nó.
    Hắn quay sang Lucia, Theresa và Megan:
    Chắc các bạn phải đói lắm. Tôi muốn các bạn tới tiệm cà phê ta vừa đi qua và đợi chúng tôi ở đó. Tôi sẽ tới nhà thờ mượn một ít tiền của linh mục để trả tiền ăn. - Hắn quay sang Graciela.
    – Tôi muốn sơ đi cùng để giải thích cho linh mục biết chuyện xảy rạ ở tu viện.
    Tôi... xin vâng.
    Carrillo nói với ba người còn lại. - Chúng tôi sẽ tới chậm một lát. Bây giờ xin các bạn hãy dùng cửa sau.
    Hắn nhìn theo Lucia, Theresa và Megan đi khuất. Khi nghe thấy tiếng cánh cửa đóng lại sau lưng họ, hắn quay sang Graciela. Con bé thật tuyệt vời, hắn nghĩ, có lẽ phải giữ nó lại với ta, và sẽ dùng nó vào một vài vụ. Nó có thể giúp ta nhiều đây. Tôi xong rồi. - Graciela nhìn hắn.
    – Chưa được. - Carrillo ra vẻ quan sát cô một lát. - Không được:
    Tôi sợ cách ăn mặc này không hợp với cô. Cởi ra đi.
    – Nhưng... sao lại thế – Bộ này không vừa lắm. - Carril1o liến thoắng. - Người ta sẽ để ý, mà cô thì không muốn làm họ chú ý, đúng không?
    Graciela ngập ngừng đi về phía sau gian hàng. - Nhanh lên nào. Chúng ta có rất ít thời gian. Graciela lóng ngóng kéo chiếc váy qua đầu. Đang lúng túng với bộ đồ lót thì Carrll1o đột ngột xuất hiện.
    – Cởi tất cả ra. - Giọng hắn khàn khàn. Graciela tròn mắt nhìn hắn. - Cái gì thế” Không? - Cô kêu lên. - Tôi... tôi không thể. Xin ông...
    Để tôi giúp sơ - Carrillo tiến sát bên cô. Tay hắn vươn ra giật tung chiếc xu chiêng và xé rách toang chiếc quần lót.
    Không, - cô hét lên. - Ông không được làm thế dừng lại ngay.
    – Graciela, chúng ta vừa mới chỉ bắt đầu, em sẽ thấy yêu nó ngay thôi.
    Đôi tay khỏe của hắn ôm vòng lấy cô. Hắn đè cô xuống sàn và nhanh chóng cởi quần áo của mình. Tấm màn che trí nhớ Graciela đột nhiên rơi xuống. Chính là tên Marôc da đen đang cố sức ấn vào trong cô, xé ruột gan cô, và cái giọng the thé của mẹ cô đang gầm lên. Graciela hãi hùng. Không, không thể như thế nữa. Không. Không được. Cô nghiến răng đạp Carrillo ra và vùng dậy. Đồ chết tiệt. Hắn kêu lên, vung tay đấm vào mặt cô. Graciela ngã ra, quay cuồng, choáng váng. Cô thấy mình đang trở về với thời gian.
    Ngày đó... Ngày đó...
    o O o
    LAS NAVAS DEL MARQUES, TÂY BAN NHA, 1955
    Graciela tròn năm tuổi, những hình ảnh đầu tiên, đọng lại trong ký ức của cô là một dòng người lạ trần truồng trèo lên, trèo xuống giường của mẹ. Mẹ cô giảng giải:
    Đấy là các bác của con. Con phải tỏ ra kính trọng các bác ấy. Những ông bác phì nộn, tục tằn và không chút tình cảm. Họ ở lại một đêm, một tuần, một tháng, rồi biến mất. Khi họ đi khỏi, Dolores Pinero lập tức tìm được một người mới.
    Thời trẻ, Dolores Pinero có một vẻ đẹp khác thường và Graciela đã thừa hưởng được những nhan sắc cũng như thân hình của mẹ.
    Nhìn Graciela hồi nhỏ cũng đã thấy choáng váng. Đôi gò má cao, nước da màu ôliu, mớ tóc đen óng ánh và đôi mày rậm dài. Cơ thể trẻ trung của cô tràn đầy hứa hẹn.
    Năm tháng trôi qua, thân hình Dolores Pinero trở nên béo phì và khuôn mặt thanh tú tuyệt hảo đã trở nên thâm tím lại bởi những cú đấm của thời gian. Mặc dù không còn đẹp nhưng bà vẫn dễ gần và lại nổi tiếng là một người bạn giường sôi nổi. Bà sống cuộc sống đạm bạc của một thợ may, sống bất cần đời, và chỉ được những phụ nữ nghèo khó hoặc bần tiện trong làng thuê mướn. Dolores Pinero căm ghét con mình bởi lẽ cô bé luôn gợi lại cho bà về một người đàn ông bà đã yêu. Cha của Graciela, một thợ cơ khí đẹp trai đã xin được cưới cô gái xinh xắn Dolores, nhưng khi cô gái báo tin về cái bầu thì anh ta biến mất, bỏ mặc cô với cái mầm đáng nguyền rủa. Dolores tính tình cay độc, và cô, đã dồn sự trả thù lên đầu đứa trẻ. Bất cứ khi nào con gái làm điều gì không phải bà lại đánh đập nó và hét toáng:
    “Mày cũng ngu như thằng bố mày! ”.
    Cô bé không biết làm cách nào để tránh được những cơn mưa đòn, hoặc những lời chửi mắng mỗi ngày một nhiều hơn, đau hơn độc địa hơn. Cứ mỗi buổi sáng Graciela lại thức dậy và cầu nguyện:
    Chúa ơi, xin Người đừng để mẹ đánh con hôm nay. Chúa ơi, xin Người làm cho mẹ được hạnh phúc hôm nay.
    Chúa ơi, xin Người hãy làm cho mẹ nói là mẹ yêu con hôm nay. Khi không đánh đập Graciela, mẹ cũng tránh mặt cô. Graciela tự sửa soạn các bữa ăn và tự giặt giũ. Cô bé làm lấy bữa trưa để mang tới trường và nói với cô giáo:
    – Hôm nay, mẹ làm cho em món empanađas. Mẹ biết em thích món này lắm mà. Hay:
    Em xé rách quần áo, nhưng mẹ khâu lại cho em. Mẹ thích làm mọi thứ cho em.
    Hoặc:
    – Hai mẹ con em sẽ đi xem phim vào ngày mai. Và điều đó làm cô giáo đau đớn.
    Las Navas del Marques là một làng nhỏ cách Avila một giờ đường và cũng như mọi xóm làng khác, mọi người ở đây đều biết chuyện riêng của nhau. Lối sống của Dolores Pinero bị mọi người ghét bỏ lại được thể hiện ra qua cách cư xử với Graciela. Các bà mẹ không dám cho con mình chơi với cô bé, sợ rằng đạo đức của con mình sẽ bị vấy bẩn. Graclela cũng được đi học ở trường, tại Plazoletadel Cristo, nhưng cô không có bạn bè cùng lớp và cả cùng trường. Cô là một trong số học trò thông minh nhất, nhưng đạo đức thì xấu. Cô không thể để tâm vào việc học hành vì luôn cảm thấy mệt mỏi. Thầy cô giáo thường nhắc nhở:
    Em phải đi ngủ sớm hơn, Graciela, em phải nghỉ ngơi đủ để có thể tỉnh táo làm bài. Song sự mệt mỏi của cô chẳng liên quan gì tới chuyện ngủ muộn. Hai mẹ con ở chung một phòng nhỏ, có hai ngăn. Graciela nằm trên chiếc đi văng trong cái ngăn chật hẹp, cách giường ngủ của mẹ chỉ bằng một bức màn mỏng, lại còn rách, khiến những âm thanh kích động trong đêm đã làm cô thức giấc, và buộc cô phải nghe, khi mẹ cô “vật lộn” với một người lạ mặt không rõ từ đâu trèo lên giường bà.
    Khi Graciela mang sổ 1iên lạc về, mẹ cô rít lên:
    – Tao cũng như mày, mang về những điểm đạo đức xấu xa này, và mày biết tại sao lại như thế không? Bởi vì mày ngu. Ngu? Graciela thường tin mẹ nói đúng và gắng không khóc. Cứ mỗi buổi chiều tan học cô lại thẫn thờ một mình theo con đường nhỏ ngoằn ngoèo giữa những hàng cây keo và sung dâu, đi qua những ngôi nhà bằng đá quét vôi trắng, nơi có những người giàu tình thương đang vui vầy với gia đình. Graciela cũng có những người bạn, nhưng họ đều trốn trong trí não cô. Ở đó có những cô bé xinh xắn và các cậu bé đẹp đẽ, họ mời cô tới dự những cuộc liên hoan vui vẻ với những chiếc bánh ngọt cùng những cây kem. Các bạn bè tưởng tượng của cô hết sức tốt bụng và họ đều nghĩ là cô rất đẹp Khi vắng mẹ, Graciela thường ngồi một mình, với những đoạn độc thoại dài với bạn bè.
    Bạn giúp mình làm bài tập với, Graciela, mình không biết làm số học, mà bạn thì lại giỏi toán Tối hôm nay chúng mình làm gì nhỉ, Graciela? Đi xem phim nhé! Hay vào phố uống CôcaCola Mẹ bạn sẽ cho bạn đến ăn tô ở nhà mình chứ, Graciela Nhà mình mở tiệc to lắm. Không, mình sợ khó đấy. Mẹ mình sẽ cảm thấy cô quạnh nếu mình không ở bên. Mình là tất cả của mẹ, bạn biết đấy.
    Mỗi chủ nhật Graciela lại dậy thật sớm, nhẹ nhàng mặc quần áo, thận trọng không làm thức giấc mẹ cô đang cùng ngủ với một ông bác nào đó trên giường, rồi một mình tới nhà thờ San Juan Bavtista. Ở đó có cha Perez kể về những miền hạnh phúc của cuộc sống sau khi chết, về cuộc sống thần thoại bên Chúa Giêsu.
    Nhưng Graciela không thể đợi đến khi chết mới được gặp Người. Đức cha Perez trạc tuổi bốn mươi, rất có duyên. Ông tới Navas del Marques đã vài năm nay. Cha lo lắng từ người giàu đến kẻ nghèo, người ốm đau lẫn kẻ khỏe mạnh và trong cái làng nhỏ bé này không một bí mật nào mà cha không tường. Cha Perez biết Graciela là một cô bé ngoan đạo và cũng biết câu chuyện về dòng đàn ông lạ mặt thường xuyên chung giường với mẹ cô. Đó không phải là căn nhà thích hợp cho một cô gái trẻ. Nhưng liệu ai có thể làm gì để thay đổi điều đó.
    Cha Perez luôn tự hỏi, không hiểu bằng cách nào mà Graciela vẫn giữ được mình trong trẻo như thế. Cô gái bé nhỏ tốt bụng, dịu dàng và không hề phàn nàn về cuộc sống của mình.
    Graeiela luôn xuất hiện ở nhà thờ trong bộ quần áo gọn gàng, sạch sẽ mà cha biết chắc là cô bé tự giặt lấy. Cha cũng biết cô bé bị bọn trẻ trong thị trấn xa lánh và vì thế, cha thường tỏ ra thông cảm với cô. Sau mỗi buổi lễ ông lại dành cho cô một khoảng thời gian và khi thư thả lại dẫn cô tới một tiệm cà phê nhỏ.
    Mùa đông đến, cuộc sống của Graciela như hòa trộn với cảnh vật, trở thành một bức tranh ảm đạm đáng lo sợ Las Navas del Marques nằm trong một thung lũng, bốn phía núi bao quanh và bởi vậy, mùa đông ở đây dài tới sáu tháng. Về mùa hè thì dễ chịu hơn nhiều, khách du lịch tràn vào thị trấn, mang theo những tiếng cười, điệu nhảy và phố xá trở nên sống động. Họ dồn tới quảng trường Manuel Delgado Barudo dễ thương trước những vở nhạc kịch biểu diễn trên một sân khấu nhỏ dựng trên đá và ngắm nhìn những, dân địa phương tưng bừng trong điệu Sartana, một điệu nhảy dân tộc đã tồn tại hàng thế kỷ, với đôi chân trần, tay nối tay kết thành một vòng tròn rực rỡ. Graciela ngắm nhìn những vị khách quây quần quanh các bàn cà phê bên đường nhấm nháp aperitivos hay mua cá ở pescađeria chợ cá, hoặc tụ tập ở các tiệm hút. Vào một giờ chiều, các tiệm giải khát luôn đông nghịt khách du lịch thưởng thức món Chateo với đồ ăn biển, ô liu và khoai tây rán.
    Hấp dẫn nhất đối với Graciela là được xem paseo vào mỗi buổi tối. Các chàng trai cô gái đi lên đi xuống dọc đường Mayse theo những nhóm riêng, họ liếc nhìn nhau, mặc các bậc cha mẹ, ông bà và bạn bè theo dõi bằng những cặp mắt chăm chú từ các quán cà phê lề đường. Đó là một buổi lễ tìm bạn truyền thống đã được truyền qua nhiều thế kỷ. Graciela háo hức muốn tham gia nhưng bị mẹ nghiêm cấm.
    Mày muốn làm đĩ à? - Bà thét vào mặt Graciela. - Hãy tránh xa lũ con trai.
    Chúng nó chỉ muốn duy nhất một thứ trên người mày. Tao quá hiểu điều đó, - giọng bà cay đắng.
    Nếu ban ngày còn khả dĩ chịu đựng được thì hằng đêm lại đem đến cho Graciela một nỗi khổ nhục quá sức Qua lần vải thưa ngăn cách, cô phải nghe những âm thanh rên rỉ, oằn oại và những tiếng thở mạnh đầy luôn kích động:
    – Nhanh nữa... mạnh nữa... nữa.
    Chưa tới mười tuổi, Graciela đã biết tất cả mọi từ ngữ tục tĩu trong tiếng Tây Ban Nha. Chúng được thầm thì hay hét lên, hay rên rỉ. Những tiếng kêu đê mê làm Graciela khó chịu, song đồng thời cũng thức dậy những ham muốn là lạ trong cô.
    Khi Graeiela mười bốn tuổi thì ông bác Marôc xuất hiện. Da hắn đen bóng, râu cạo nhẵn. Hắn có đôi vai vĩ đại, ngực to bè và đôi cánh tay khổng lồ. Người Marôc đến vào lúc nửa đêm, khi Graciela còn đang ngủ. Sáng hôm sau cô mới nhìn thấy, khi hắn kéo tấm ri đô, trần truồng đi ngang qua chỗ cô nằm để ra phía sau. Graciela suýt nữa thì kêu lên. Hắn thật vĩ đại, mọi thứ đều vĩ đại Gã..... sẽ giết mẹ mình mất. Graciela nghĩ. - Ồ Còn ai đây nữa nhỉ? Dolores Pinero vội ra khỏi giường, cộc lốc:
    – Con em Sự bối rối ngượng ngùng trùm lên Graciela, khí cô nhìn người mẹ trần truồng đứng nép mình bên gã Marôc. Gã cười, để lộ hàm răng trắng nhởn:
    Tên là gì, cô bé?
    Graciela quá xấu hổ trước hắn. Bà mẹ đáp thay. - Tên nó là Graciela. Con bé chậm phát triển.
    – Cô bé xinh quá. Tôi đánh cuộc là hồi trẻ cô cũng đẹp như thế.
    – Em vẫn trẻ mà. - Dolores ngắt lời. Rồi quay sang con gái. - Thay quần áo đi. Nhanh không muộn học bây giờ Vâng, thưa mẹ.
    Tên Marôc đứng nhìn cô gái chầm chậm bước đi. Người đàn bà có tuổi kéo tay hắn phỉnh phờ:
    Về giường đi, anh yêu. Chúng ta chưa xong mà. - Tí nữa, - gã đáp, vẫn đứng nhìn theo Graciela.
    Gã Marôc ở lại. Mỗi chiều, khi ở trường về, Graciela lại cầu nguyện rằng hắn đã đi. Vì những lý do nào đó mà cô chưa hiểu, gã làm cô sợ hãi. Gã luôn tỏ ra lịch sự và chưa hề làm điều gì bậy bạ với cô, vậy mà chỉ cần nghĩ tới gã đã khiến cô rùng mình.
    Sự đối xử của hắn với mẹ thì lại hoàn toàn khác. Hắn hầu như cả ngày uống rượu, ở lì trong nhà, và nốc bằng hết bất cứ đồng tiền nào Dolores kiếm được.
    Thỉnh thoảng trong đêm, ngay khi đang làm tình, hắn lại đánh bà, và đến buổi sáng Dolores lại xuất hiện với một bên mắt thâm tím hoặc cặp môi rách.
    Mẹ ơi, sao mẹ lại phải chịu đựng ông ấy Graciela hỏi.
    – Đó là người đàn ông thật sự chứ không phải loại tí hon như bọn khác. Ông ấy biết làm cách để một người đàn bà mãn nguyện. Hơn nữa, ông ấy yêu ta điên dại.
    Graciela không tin. Cô biết tên quỷ da đen đang vắt kiệt hình hài mẹ, nhưng không dám chống lại. Cô quá kinh hãi sự giận dữ của bà, vì khi bà thực sự giận dữ thì trong nhà như xuất hiện một người điên. Đã có lần bà cầm dao nhọn đuổi theo cô, bởi cô đã dám pha trà, chứ không phải rót rượu, cho một “ông bác”.
    Một buổi sáng chủ nhật Graciela trở dậy và sửa soạn vào nhà thờ. Mẹ cô đi từ sớm để trả vài bộ quần áo khách cần. Đúng lúc Glaciela cởi bỏ váy ngủ, tấm màn che bị kéo sang bên và gã da đen hiện ra, trần truồng. - Này, cô bé xinh đẹp! Mẹ cháu đâu?
    – Mẹ đi trả hàng từ sớm rồi.
    Hắn chăm chú nhìn tấm thân trần của Graciela. Quả thật cô rất đẹp. - Hắn khẽ nói. Graciela nóng bừng khắp người. Cô biết mình phải làm gì che đậy sự trần trụi bằng cách nhanh chóng mặc áo váy và đi. Nhưng thay vào đó cô lại đứng yên, cảm thấy không sao cử động được. Cảm thấy ngạt thở. Gã Marôc nói giọng khàn khàn:
    - Cô còn bé lắm. Mặc quần áo vào rồi đi đi.
    – Không - Cô nới qua hơi thở. Tôi không còn bé nữa.
    Sự đau đớn tiếp theo không giống bất cứ cảm giác nào Graciela đã biết.
    – Chúng mày làm cái mẹ gì thế này?
    – Tiếng Dolores Pinero rít lên. Trong khoảnh khắc, mọi thứ đều sững lại, đông cứng. Bà đứng bên giường, mắt trợn trừng nhìn con gái và con quỷ đen.
    Graciela nhìn mẹ, sợ đến chết được. Cặp mắt Dolores hằn lên cơn giận điên cuồng.
    – Đồ đĩ - Bà gào lên. - Đồ con đĩ thối tha.
    – Mẹ.... xin mẹ....
    Bà vớ chiếc gạt tàn bằng gang vẫn để góc giường phang mạnh vào đầu con gái. Đó là hình ảnh cuối cùng Graciela còn nhớ.
    Cô tỉnh lại trong căn phòng bệnh viện trắng, rộng. Phòng có tới hai chục giường, đều kín người. Những hộ lý bận rộn ngược xuôi theo tiếng la gọi của bệnh nhân.
    Cuối chiều, một bác sĩ trẻ đến bên giường cô. Anh ta trạc ba mươi, nhưng nom già và mệt mỏi.
    – Tốt? - Anh ta nói. - Cuồi cùng cô cũng tỉnh lại.
    Tôi ở đâu thế này? Cô nhăn mặt hỏi.
    – Cô đang ở phòng làm phúc bệnh viện thị trấn Avila. Cô vào đây từ hôm qua, trông lúc đó thật kinh khủng. Chúng tôi phải khâu cái trán cho cô. Tự tay ông trưởng khoa Ngoại khâu đấy, bảo cô quá đẹp, không thể mang sẹo được.
    Ông ấy nhầm, Graciela nghĩ bụng. Mình sẽ phải mang sẹo cho đến hết đời.
    Vào ngày thứ hai, cha Perez đến thăm Graciela. Một hộ lý đẩy chiếc ghế tới bên giường. Linh mục nhìn cô gái xinh đẹp và nhợt nhạt nằm đó mà trái tim tan ra. Cái việc kinh khủng đến với cô đã lan ra khắp LasNavas del Marques, nhưng không ai có thể làm gì được. Dolores Pinero đã nói với cảnh sát rằng con gái bà bị vỡ đầu do ngã.
    – Con có thấy khá hơn không, con của ta? - Cha Perez hỏi.
    Graciela gật đầu. Cử động làm cô cảm thấy đau đớn:
    – Cảnh sát đang muốn hỏi nhiều vấn đề. Con có muốn Cha nói lại với họ điều gì không?
    Chỉ là tai nạn thôi mà. - Cuối cùng cô nói.
    Linh mục không chịu nổi cái nhìn trong mắt cô gái. - Cha hiểu. Điều cha phải nói đau đớn khôn tả. Graciela, cha đã nói chuyện với mẹ con...
    Và Graciela hiểu ra.
    Con... con không thể về nhà được nữa, phải không?
    Cha sợ là không được. Chúng ta sẽ nói chuyện đó sau. - Cha Perez cầm tay Graciela. - Mai cha sẽ quay lại thăm con.
    – Cám ơn cha.
    Khi linh mục đi khỏi, Graclela nằm đó cầu nguyện. Lạy Chúa kính yêu.
    Chúa hãy để cho con được chết. Con không muốn sống.
    Cô còn biết đi đâu về đâu. Sẽ chẳng bao giờ cô được nhìn lạì căn nhà của mình, hay những khuôn mặt quen thuộc của thầy cô giáo. Chẳng còn gì trên thế giới này dành cho cô cả.
    Một hộ lý đến bên giường.
    – Em cần gì không?
    Graciela nhìn cô hộ lý, tuyệt vọng.
    Hôm sau. Người bác sĩ lại xuất hiện.
    – Có tin vui đây. - Ông ta nói lúng túng. Cô đã khỏe, ra viện được rồi. Đó là lời nói dối, nhưng phần sau thì là sự thật. Chúng tôi cần giường cho bệnh nhân mới.
    Cô được tự do đi. Nhưng đi đâu?
    Một giờ sau cha Perez tới, có thêm một linh mục khác.
    – Đây là Cha Berrendo, một bạn cũ của cha.
    Graciela liếc nhìn vị linh mục nom yếu ớt.
    – Chào cha.
    Ông ấy nói phải. Cha Berrenđo nghĩ. Cô ấy thật đẹp. Cha Perez đã kể cho ông về những chuyện xảy ra đối với Graciela. Linh mục cho rằng có thể thấy những dấu ấn của môi trường mà đứa trẻ đã lớn lên, một sự khắc khổ, một vẻ thách đố, hay tự thương hại. Nhưng hoàn toàn không thấy gì trên khuôn mặt cô gái này.
    – Cha lấy làm tiếc con đã phải khổ như vậy. - Cha Berrendo nói với cô. Lời ông mang đầy hàm ý. Cha Perez nói:
    Graciela con, cha phải quay về Las Navas del Marques. Cha đã nhờ cha Berrendo.
    – Nỗi lo sợ tràn đầy trên mặt Graciela. Cô cảm thấy sợi dây cuối cùng nối cô với căn nhà thân thuộc đang bị cắt đứt – Đừng đi, con xin cha. - Cô nài nỉ.
    Cha Perez nắm lấy tay cô:
    Cha hiểu, con cảm thấy cô đơn. - Ông nói nồng hậu. - Nhưng con không cô đơn, hãy tin cha. Hoàn toàn không.
    Người hộ lý mang một bọc nhỏ tới. Cô ta đưa cho Graciela.
    – Đây là quần áo của em. Có lẽ em sắp phải đi rồi đấy. Hai linh mục đưa mắt nhìn nhau.
    – Sao con không mặc đồ vào, rồi đi với cha? Cha Berrendo nhắc. - Chúng ta sẽ nói chuyện. Mười lăm phút sau đó, cha Benendo giúp Graciela bước ra ngoài, hòa vào dòng ánh sáng ấm áp. Ngay cửa bệnh viện là mảnh vườn đầy những bông hoa rực rỡ, nhưng Graciela đang choáng váng nên chẳng nhìn thấy gì.
    Khi đã ngồi trong phòng mình, cha Berrendo nói:
    Cha Perez bảo rằng con không có chỗ nào để đi.
    Graciela gật đầu.
    – Không một ai thân thuộc.
    – Mỗi... - Thật khó nói. - Mỗi... mẹ con.
    – Cha Perez nói con hay đi một mình trong làng. Cái làng nhỏ mà cô không bao giờ được thấy nữa.
    – Vâng.
    Graciela nhớ về những sáng chủ nhật, về những buổi lễ đẹp đẽ và nhớ đến sự khao khát được ở bên Chúa, trốn khỏi sự tủi nhục của cuộc đời mà cô phải sống.
    – Graciela, có khi nào con nghĩ tới chuyện vào tu viện? ”.
    – Chưa. - Cô giật mình với ý kiến đó.
    – Tại Avila đây có một tu viện dòng Cistercian. Ở đó mọi người sẽ quan tâm đến con.
    Con... Con cũng không biết. - Ý nghĩ thật đáng sợ.
    – Nơi đó không phải là dành cho tất cả mọi người. Và cha phải nói trước, đó là nơi nghiêm khắc nhất trong các tu viện. Một khi con đã bước qua cổng và thề, thì có nghĩa là con đã hứa với Chúa sẽ không bao giờ rời khỏi tu viện.
    Graciela lặng lẽ nhìn ra bên ngoài cửa sổ với những ý nghĩ lẫn lộn trong đầu.
    Ý nghĩ tách mình ra khỏi xã hội khiến cô sợ hãi. Sẽ như vào tù vậy. Nhưng cái thế giới mà cô yêu mến này đã dành cho cô điều gì? Toàn những đau khổ và tuyệt vọng ngoài sức chịu đựng. Đôi lúc cô đã định tự hủy hoại cuộc đời. Chỉ cách đó mới làm cho cô thoát khỏi những đau đớn. Cha Berrendo lại nói.
    – Điều đó tùy con định đoạt. Nếu con thuận, cha sẽ đưa con tới gặp Mẹ Trưởng tu viện.
    Graciela gật đầu.
    – Vâng, được ạ.
    Bà Nhất nhìn kỹ gương mặt cô gái trẻ đứng trước mình. Đêm qua, lẩn đầu tiên sau bao năm bà lại được nghe giọng nói ấy. Một đứa trẻ sẽ đến với con.
    Con hãy bảo vệ nó.
    Con mấy tuổi? - Bà hỏi.
    – Mười bốn.
    Cũng đủ tuổi Vào thế kỷ thứ IV người ta đã ra sắc lệnh cho các cô gái ở tuổi mười hai cũng được phép làm tu sĩ.
    – Con sợ. - Graciela nói với Mẹ Bentina.
    Con sợ. Câu nói vang lên trong trí nhớ Bentina. Con sợ....
    Điều đó bao năm về trước ta cũng thất ra như vậy.
    Bentina nói với cha linh mục:
    – Con không biết làm sao nếu có tiếng gọi, thưa cha. Con sợ!
    – Bentina, lần đầu tiên tiếp xúc với Chúa có thể rất xáo động, vì quyết định hiến dâng cuộc đời cho Người là một việc hết sức khó khăn. Làm sao tiếng gọi lại đến với mình nhỉ. Bentina tự hỏi. Thời đó bà hầu như chẳng thích thú gì việc theo đạo. Khi là một cô gái, chủ nhật bà còn trốn cả đi lễ nhà thờ. Tuổi học trò, bà thường đắm mình trong các cuộc vui, ăn diện và bạn trai. Nếu bạn bè cùng đám ở Madrid được hỏi để chọn lầy người có khả năng trở thành tu sĩ thì Bentina sẽ đứng vào hàng cuối cùng.
    Nhưng khi đến tuổi mười chín, nhiều sự kiện xảy đến đã làm thay đổi cuộc đời bà.
    Hôm ấy, một giọng nói vang lên lúc cô đang nghỉ.
    – Bentina, dậy ngay và đi ngay ra ngoài. Cô mở mắt, sợ hãi. Bật đèn đầu giường lên, cô thấy có mỗi mình trong phòng. Giấc mơ lạ quá. Nhưng giọng nói đó thì thật biết bao. Cô lại nằm xuống nhưng không tài nào ngủ lại được.
    – Bentina, dậy ngay và đi ra ngoài. Đó là tiềm thức của mình, cô nghĩ, sao mình lại muốn đi ra ngoài vào nửa đêm thế này?
    Cô tắt đèn đi. Một lát sau, giọng nói lại vang lên. Thật là điên. Cô khoác áo, xỏ dép và xuống gác. Cả nhà còn đang say giấc.
    Cô mở cửa bếp, làm sao cô biết mình phải đi ra sân bằng cửa sau? Làn gió lạnh vây bọc quanh mình. Cô nhìn vào bóng đen dầy đặc, bắt gặp một đốm sáng mờ ảo từ chiếc tủ lạnh cũ đã bỏ, chứa những đồ lặt vặt. Bentina hiểu ngay cô ở đó để làm gì. Cô bước tới cái tủ lạnh bỏ đi cứ như bị thôi miên và mở ra. Cậu em trai ba tuổi co ro trong đó, bất tỉnh.
    Đó là sự việc đầu tiên. Lúc ấy Bentina tự lý giải rằng đó là một ngẫu nhiên bình thường. Hẳn là mình nghe thấy tiếng đứa em thức dậy đi ra sân, và mình biết là cái tủ lạnh ở đó. Mình lo lắng cho nó nên đến kiểm tra.
    Song việc thứ hai thì không dễ gì lí giải. Nó đến khoảng một tháng sau đó.
    Trong giấc ngủ, Bentina nghe thấy giọng nói:
    – Phải dập lửa đi.
    Cô bừng tỉnh, mạch đập dồn dập. Không thể ngủ lại được Cô choàng áo, xỏ dép và bước ra hành lang. Không có khói. Không có lửa. Cô mở cửa buồng ngủ của cha mẹ. Mọi thứ đều bình thường.
    Phòng cậu em cũng không có lửa. Cô xuống gác và xem xét mọi phòng.
    Không có dấu hiệu nào của lửa.
    Mình là một con ngốc, Bentina nghĩ bụng. Đó chỉ là giấc mơ.
    Đúng lúc cô trở lại giường thì cả ngôi nhà rung lên bởi một tiếng nổ lớn.
    Cả nhà thoát chết. Lính cứu hỏa khó khăn lắm mới dập được đám cháy.
    – Ngọn lửa bắt đầu dưới tầng hầm, làm cho chiếc nồi hơi bị nổ. - Một anh lính giải thích.
    Sự việc tiếp theo đó ba tuần lễ thì không có giấc mơ nào. Bentina đang ngồi đọc sách ở sân trong thì bỗng thấy một người lạ mặt đi ngang qua. Anh ta nhìn cô, và khoảnh khắc đó cô cảm giác một ý nghĩ độc ác nào đó gần như sờ thấy được từ cái nhìn đó. Đột nhiên anh ta quay đi và biến mất. Bentina không thể xua đi được hình ảnh người đó.
    Ba ngày sau, khi cô đang đứng đợi thang máy trong một tòa nhà. Thang máy mở ra, và đúng lúc định bước chân vào thì cô bắt gặp người điều khiển vẫn đứng sẵn bên trong. Đó chính là người đàn ông cô đã thấy hôm trước. Bentina hoảng sợ bỏ chạy. Cánh cửa đóng lại và thang máy chạy tiếp. Một khoảnh khắc sau, chiếc thang máy nổ tung, giết chết tất cả mọi người trong đó.
    Chủ nhật đó, Bentina đến nhà thờ.
    Chúa cao cả, con không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng con rất sợ. Xin Người hãy dẫn dắt con và nói với con. Người muốn con phải làm gì.
    Đêm hôm đó câu trả lời đã đến trong giấc ngủ. Giọng nói đó cất lên đúng một từ “Dâng hiến”.
    Suốt đêm cô nghĩ đến câu nói ấy. Sáng hôm sau cô kể lại cho linh mục nghe.
    – A, con là một trong số người may mắn. Con đã được lựa chọn. - Ông reo lên.
    – Chọn làm gì?
    – Con có tự nguyện hiến dâng đời mình cho Chúa không, con của ta?
    – Con... con không biết! Con sợ!
    Nhưng cuối cùng, cô gia nhập tu viện. Mình đã chọn con đường đúng. Mẹ Bentina nghĩ. Bởi vì chưa bao giờ mình được biết đến niềm hạnh phúc như thế?
    Và giờ đây, là một đứa trẻ đang run rẩy nói “con sợ”.
    Mẹ Nhất cầm tay Graciela:
    – Chưa vội đâu, Graciela. Chúa không bỏ ta. Hãy suy nghĩ kỹ và trở lại khi con muốn, chúng ta sẽ nói chuyện.
    – Nhưng có gì để nghĩ? Mình còn nơi nào trên trái đất này nữa đâu. Sự im lặng cũng tốt. Mình đã nghe quá nhiều tiếng ồn hãi hùng.
    Cô ngước nhìn Mẹ, nói:
    – Con xin đón chào sự im lặng.
    Đó là mười bảy năm về trước. Và từ bấy giờ, lần đầu tiên cô tìm thấy sự thanh bình. Cuộc đời cô đã hiến dâng cho Chúa. Quá khứ kia không còn là của cô. Những tội lỗi mà cô đã từng lớn lên cùng với chúng đã được rũ sạch. Cô trở thành nàng dâu của Đức Kitô. Và tới phút cuối của cuộc đời cô sẽ hòa nhập với mọi người.
    Cùng với năm tháng trôi qua trong yên lặng, mặc cho những cơn ác mộng đôi lúc hiện về, mọi âm thanh hãi hùng trong trí nhớ của cô cũng dần dần lắng xuống.
    Sơ Graciela dược giao làm vườn, trông nom những chiếc cầu vồng nhỏ bé của phép mầu nhiệm của Chúa. Sơ không hề biết chán trước vẻ lộng lẫy của chúng. Những bức tường tu viện sừng sững bao quanh như núi đá nhưng Graciela không bao giờ cảm thấy chúng giam cô bên trong, mà là chúng giam cái thế giới kinh khủng ở bên ngoài, một thế giới cô không bao giờ muốn gặp lại.
    Cuộc sống trong tu viện thật thanh bình, yên ả. Bỗng chốc, những cơn ác mộng lại trở về, ngay trong hiện thực. Thế giới của cô bỗng bị những kẻ mọi rợ xâm phạm. Chúng đẩy cô ra khỏi nơi tôn nghiêm để rơi vào thế giới mà cô đã vĩnh viễn từ bỏ, khiến những tội lỗi dồn dập đổ về, bao trùm lên cô nỗi kinh hoàng. Tên quỷ da đen đã trở lại. Cô cảm thấy hơi thở nóng hổi của hắn trên mặt mình. Trong khi chống cự, Graciela mở mắt nhìn. Đó là một tu sĩ đè lên cô, đang cố cưỡng hiếp cô. Hắn bảo:
    Dừng tay, sơ! Sơ sắp sửa được thưởng thức thứ này!
    – Mẹ ơi. - Graciela kêu to. - Mẹ cứu con với
     
  5. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 5
    Lucia carmine cảm thấy xốn xang khi đi trên phố. Tuyệt diệu biết bao khi lại được mặc lên người bộ váy áo mềm mại và được nghe tiếng thầm thì của lụa cọ sát vào làn da.
    Cô liếc nhìn hai bà bạn. Họ bước đi ngượng ngùng, xa lạ trong bộ trang phục mới, dụt dè, bối rối trong những chiếc váy, chiếc tất. Trông họ cứ như từ hành tinh khác rơi xuống. Bọn khỉ ấy không thuộc thế giới này. Lucia nghĩ. Khác nào chúng đeo biển “hãy bắt tôi đi”.
    Theresa khó chịu lắm. Ba mươi năm nơi tu viện đã hằn sâu trong bà sự nhu mì, khuôn phép mà giờ đây nó đang bị xúc phạm bởi những cái mới lạ đang dồn ép lên bà:
    Cái thế giới mà một thời bà thuộc về nó, giờ đây như vô thực. Chính tu viện của bà mới là thực. Vì thế, bà khao khát được trở về chốn ẩn náu với những bức tường che chở của mình.
    Megan thấy những gã đàn ông đang nhìn mình theo từng bước chân thì đỏ mặt. Cô sống trong một bóng tối hoàn toàn, và đã quá lâu, tới mức không còn cớ thể hình dung ra nổi một người đàn ông là như thế nào, chưa nói đến chuyện “chúng” lại cười với mình. Nó ngượng ngượng, thiếu đứng đắn... nhưng thinh thích. Đàn ông làm thức dậy những cảm giác đã bị chôn chặt từ lâu trong Megan. Lần đầu tiên trong ngần ấy năm, cô ý thức được cái nữ tính của mình.
    Họ tới cái quán giải khát mà lúc trước họ đã đi qua, tiếng nhạc từ bên trong vọng ra đường phố. Ông tu sĩ Carril1o gọi là gì nhỉ? Rock and Roll. Rất quen thuộc với bọn trẻ. Một cái gì đó khiến Megan chau mày. Đột nhiên cô nhận ra điều đó. Lúc đi qua rạp hát, ông tu sĩ nói thật đáng hổ thẹn với những cái mà cái rạp chiếu bóng đưa lên màn ảnh. Một cảnh khiêu dâm thuần túy. Những hành động riêng tư nhất, kín đáo nhất cũng đem bày ra cho mọi người xem.
    Tim Megan đập nhanh. Nếu tu sĩ Carrillo đã thật sự giam mình nơi tu viện đến hai chục năm thì làm sao ông ta có khả năng biết về nhạc Rock hay những cảnh trong phim? Có cái gì đó thật không ổn?
    Cô quay sang Lucia và Theresa, giọng khẩn cấp:
    – Chúng ta phải quay lại cửa hàng ngay.
    Họ nhìn theo, rồi cùng nhanh chóng bám theo Megan.
    Graciela nằm trên sàn đang cào cấu Carril1o, tuyệt vọng chống cự hòng thoát thân.
    – Đồ con khỉ! Nằm yên! - Hắn bắt đầu cảm thấy mệt.
    Hắn nghe thấy tiếng động và ngước lên nhìn. Hắn thấy một cái gót giày đang lao tới đầu mình và đó là hình ảnh cuối cùng hắn nhớ được.
    Megan nâng Graciela đang run rẩy ngồi dậy và đỡ cô trong tay, thở phào:
    – Tốt rồi. Lão sẽ không thể làm phiền sơ được nữa.
    Phải mấy phút sau Graciela mới mở miệng được.
    – Nó, nó, lần này không phải lỗi ở tôi, - cô thanh minh.
    Lucia và Theresa đã vào tới trong, và chỉ liếc nhìn Lucia đã hình dung được sự việc.
    – Thằng chó đẻ.
    Cô nhìn xuống cái thân hình nửa trần truồng đang bất tỉnh trên sân. Khi mọi người còn đứng nhìn, cô đã gỡ mấy cái dây lưng trên giá và trói chặt tay Miguel Carrillo ra sau.
    – Trói chân nó lại, - cô bảo Megan.
    Megan lẳng lặng làm theo. Cuối cùng, Lucia đứng dậy, hài lòng.
    – Thế, chiều nay, khi nào họ mở cửa, hắn sẽ giải thích cho họ rằng hắn đang làm gì ở đây. - Rồi nhìn kỹ Graciela. - Sơ không sao chứ?
    – Tôi... tôi... không. - Cô gượng cười.
    – Chúng ta phải rời khỏi đây. - Megan nói. - Mặc quần áo nhanh lên.
    Khi họ chuẩn bị đi, Lucia nói:
    – Đợi một tí Cô đến chiếc máy đếm tiền và vặn mạnh chìa khóa. Bên trong có vài tờ một trăm Peseta. Lucia gom lại, lấy một cái ví trên giá rồi đút tiền vào trong. Để ý thấy biểu hiện bất bình thường trên nét mặt Theresa, cô nói:
    – Xin sơ hãy nhìn đây. Nếu Chúa không muốn cho ta chỗ tiền này thì người đã chẳng để nó ở đây.
    Họ ngồi nói chuyện trong quán cà phê. Sơ Theresa nói:
    – Ta phải đưa cây thánh giá này tới tu viện ở Mendavia càng sớm càng tốt.
    Nơi đó sẽ an toàn cho tất cả chúng ta.
    Không phải cho ta, Lucia nghĩ. Sự an toàn của ta là ở ngân hàng Thụy sĩ kia.
    Nhưng trước tiên, ta phải lấy được cây thánh giá đã.
    – Tu viện ở Mendavia ở phía Bắc phải không?
    – Phải.
    – Bọn lính sẽ tìm ta ở tất cả các thị trấn. Tối nay ta phải lên đồi ngủ.
    Sẽ chẳng ai nghe thấy tiếng mụ cho dù mụ có gào lên. - Lucia nghĩ.
    Cô hầu bàn mang tới bốn tờ thực đơn. Ba bà sơ cầm ngắm nghía, bối rối.
    Lucia hiểu ngay. Đã bao năm qua họ không được phép chọn lựa bất cứ cái gì. ở tu viện, họ ăn như máy các thứ đồ ăn nghèo nàn được đặt trước mặt. Giờ đây họ đối mặt với một số lượng vĩ đại những món ăn ngon lành, xa lạ.
    Sơ Theresa lên tiếng đầu tiên:
    – Tôi... Tôi dùng chút cà phê và bánh mì.
    Sơ Graciela nói:
    – Tôi cũng thế.
    – Ta còn phải đi đường dài. Tôi thấy nên gọi món gì đấy có chất. Trứng chẳng hạn. - Megan nói.
    – Lucia nhìn Megan với ánh mắt khác. Phải để mắt vào con bé này, cô nghĩ, rồi nói to:
    – Sơ Megan nói phải. Các sơ để tôi gọi.
    Cô gọi món cam thái lát, trứng trộn khoai rán, thịt xông khói, bánh mì nóng, mứt và cà phê.
    – Chúng tôi đang vội, - cô bảo người hầu bàn.
    Giờ nghỉ trưa hết vào bốn rưỡi, lúc đó toàn thị trấn sẽ tỉnh lại. Cô muốn ra khỏi nơi đây trước khi có người phát hiện Carrillo trong hiệu trang phục.
    Khi đồ ăn được mang ra, các bà sơ ngồi nhìn chúng chằm chặp.
    – Ăn tự nhiên đi. - Lucia giục.
    Họ bắt đầu ăn, lúc đầu từ tốn, sau thì hào hứng, vượt qua mọi lo sợ về tội lỗi.
    Sơ Theresa là người duy nhất gặp trở ngại. Bà cắn một miếng thịt, rồi nói:
    – Tôi... Tôi không thể. Thế này là... là từ bỏ...
    – Thưa sơ, sơ muốn tới tu viện phải không? Thế thì phải ăn mới có sức khỏe mà đi chứ. - Megan nói.
    Sơ Theresa nói vẻ đạo đức:
    – Rất đúng. Tôi sẽ cố ăn. Nhứng tôi hứa với các sơ là tôi không thích đâu.
    Lucia cố gắng mới làm được vẻ ngây ngô:
    – Phải lắm. Thôi, sơ ăn đi.
    Ăn xong, Lucia lấy tiền của hiệu trang phục ra trả rồi cả bọn hỏa vào cái nắng nóng ngoài đường phố đang bắt đầu nhộn nhịp trở lại. Các cửa hiệu lục tục mở cửa.
    Bây giờ chắc họ đã tìm ra Carrillo. - Lucia nghĩ.
    Lucia và Theresa nóng ruột muốn ra khỏi thị trấn sớm nhưng Graciela và Megan thì lại cử chậm chạp. Hai người bị hấp dẫn bởi cảnh sắc, âm thanh và mùi vị phố phường.
    Mãi tới khi ra tới ngoài thị trấn hướng về dãy núi phía trước, thì Lucia mới dám đi thong thả.
    Họ chậm chạp tiến theo hướng Bắc, trèo lên mạn đồi lởm chởm. Lucia sốt ruột muốn hỏi xem sơ Theresa có chịu đưa cho cô mang hộ cái bọc vải không nhưng lại chẳng muốn nói ra điều gì có thể gây cho bà nghi ngờ.
    Khi tới một khoảng trống trên đồi cao xung quanh um tùm cây cối, Lucia nói:
    – Chúng ta có thể nghỉ đêm ở đây. Sáng mai ta sẽ đi tới tu viện ở Mendavia.
    Ba người gật đầu tin tưởng.
    Mặt trời chậm chạp đi ngang bầu trời xanh, khoảng đất trống yên tĩnh, chỉ có những tiếng động dịu dàng của mùa hè. Cuối cùng, đệm cũng đổ xuống.
    Lần lượt, các bà sơ duỗi đài trên thảm cỏ xanh.
    Lucia nằm yên, thở nhè nhẹ, lắng tai nghe một sự yên lặng mỗi lúc một sâu hơn, đợi cho mọi người ngủ say để thực hiện kế hoạch của mình.
    Sơ Theresa thấy khó nghĩ. Nằm dưới trời sao giữa các sơ thế này, với bà thật là xa lạ. Họ bây giờ có tên, có khuôn mặt, có giọng nói và bà lo sợ bị Chúa trừng phạt vì những hiểu biết bị cấm đoán này. Bà thấy bị mất mát kinh khủng.
    Sơ Megan cũng không ngủ được. Trong cô tràn ngập sự xáo động của những sự kiện diễn ra ban ngày.
    “Sao mình lại biết được mưa gian của lão tu sĩ nhỉ” Cô tự hỏi. Rồi mình lấy đâu ra can đảm để cứu sơ Glaciela? Cô mỉm cười, không thể giấu được một chút hài lòng với mình, mặc dầu cô biết sự tự hào là một tội lỗi.
    Graciela đã ngủ, cảm thấy kiệt sức bởi những gì trải qua. Cô trằn trọc trở mình, bị đè nặng bởi giấc mơ bị rượt đuổi theo những hành lang tối om dài vô tận.
    Lucia Camine vẫn nằm yên đợi. Khoảng hai tiếng sau, cô nhẹ nhàng trở dậy và rón rén trong đêm tới chỗ sơ Theresa. Cô sẽ lấy cái gói và biến đi.
    Khi tới gần, Lucia thấy sơ Theresa vẫn thức, đang quỳ gối lẩm nhẩm đọc Kinh. Mẹ kiếp! Cô vội vàng tháo lui.
    Lucia lại nằm xuống, buộc mình phải kiên nhẫn. Sơ kia không thể cầu nguyện cả đêm. Bà ấy rồi cũng phải ngủ.
    Lucia phác trong đầu các kế hoạch. Tiền lấy được trong cửa hiệu đủ cho cô đi xe buýt hoặc tầu hỏa tới Madrid. Một khi đã ở đó thì tìm một hiệu cầm đồ là chuyện đơn giản. Cô thấy mình đang đưa cho người chủ hiệu cây thánh giá vàng. Ông ta có thể nghi đây là đồ ăn cắp, nhưng chẳng hề gì. Sẽ có khối kẻ muốn mua nó.
    – Tôi xin gửi bà một ngàn Peseta.
    Cô cầm lấy cây thánh giá trên bàn.
    – Thà tôi bán người tôi còn hơn.
    – Một trăm năm mươi ngàn.
    – Thà tôi đun chảy nó ra rồi đổ xuống cống.
    – Hai trăm ngàn. Giá cuối cùng đấy.
    – Ông đang ăn cướp của người mù. Nhưng thôi được, tôi chấp nhận giá đó.
    Người chủ hiệu hớn hở với tay ôm lấy cây thánh giá.
    – Phải, tôi để quên đâu đó hộ chiếu rồi. Ông biết ai có thể thu xếp cho tôi một hộ chiếu không?
    Tay cô mơn man cây thánh giá lấp lánh ánh vàng.
    Ông chủ hiệu ngập ngừng, rồi nói:
    – Tình cờ tôi có một người bạn thường làm những việc tương tự.
    Và thỏa thuận đã đạt được. Cô sẽ lên đường tới Thụy Sĩ, tới tự do. Cô nhớ lời cha cô:
    ở đó có nhiều tiền, con tiêu cả mười đời cũng không hết.
    Đôi mắt cô bắt đầu khép lại. Một ngày quá dài.
    Trong giấc ngủ chập chờn, Lucia nghe thấy tiếng chuông nhà thờ vang lên từ ngôi làng nhỏ. Tiếng chuông làm thức dậy trong cô những ký ức xa xôi về một miền đất khác, một thời gian khác.
    o O o
    TAORMINA, SICILY 1968
    Cứ mỗi buổi sáng cô lại tỉnh giấc bởi tiếng chuông từ nhà thờ San Domenico, cao cao trên dãy núi Peloritani bao quanh Taormina. Cô thích tỉnh dậy từ từ, được uể oải vươn người như một con mèo. Cô vẫn nhắm mắt, và cố nhớ ra một điều gì đó thật tuyệt diệu. Điều gì nhỉ? Câu hỏi đó như một sự quấy rầy, và cô gạt nó khỏi đầu, không thích đoán ra ngay mà muốn thưởng thức sự bất ngờ. Cuối cùng, sự sung sướng bùng lên và tràn ngập. Cô là Lucia Maria Carmine, con gái của Angelo Carmine. Chỉ điều đó thôi cũng đủ làm cho bất ký ai trên thế giới cũng đều cảm thấy hạnh phúc.
    Họ sống trong một không gian rộng lớn như thần thoại. Người hầu kẻ hạ nhiều hơn con số mà cô gái Lucia mười lăm tuổi có thể đếm được. Sáng sáng, một vệ sĩ đưa cô tới trường bằng chiếc xe hơi sang trọng. Cô lớn lên trong các bộ váy đẹp nhất và những đồ chơi đắt tiền nhất mà Sicily có thể có được, cô là sự ghen ty của bạn học.
    Cha cô là trung tâm cuộc sống của cô. Trong mắt Lucia, đó là người đàn ông đẹp trai nhất thế giới. Người đàn ông thấp đậm, khuôn mặt rắn rỏi và cặp mắt nâu luôn toát ra sức mạnh quyền lực. Ông có hai con trai, Arnaldo và Victo, nhưng Angelo Carmine cưng chiều cô con gái hơn cả. Lucia hết sức tôn kính cha mình. Ở nhà thờ, trong khi linh mục nói về Chúa thì Lucia luôn nghĩ đến cha.
    Vào mỗi buổi sáng ông đến bên giường cô và nói:
    – Tới giờ dậy đi học rồi, gương mặt thiên thần của cha.
    Không phải như thế. Lucia biết cô không thật đẹp. Mình hấp dẫn; cô nghĩ bụng mỗi khi ngắm mình trong gương. Phải, hấp dẫn chứ không là đẹp. Hình ảnh phản chiếu cho thấy một cô gái trẻ có khuôn mặt trái xoan, làn da dịu dàng, hàm răng trắng, cằm khỏe khỏe quá chăng? Cặp môi dày khêu gợi dày quá chăng? Và cặp mắt đen ranh mãnh.
    Nếu khuôn mặt cô thiếu một chút xinh đẹp thì thân xác cô lại như một sự bù đắp còn hơn cả mong đợi. Ở tuổi mười lăm thân hình Lucia đã phát triển hoàn thiện với bộ ngực căng tròn, eo nhỏ và cặp mông chuyển động hứa hẹn đầy khoái lạc.
    – Thế này thì bố phải đến phải gả chồng sớm cho con mất. - Người cha thường trêu con gái. - Chẳng mấy chốc mà con sẽ khiến các chàng trai phát điên lên, cô gái trong trắng và bé bỏng của cha.
    – Con muốn lấy một người như cha, nhưng chẳng có ai được như cha đâu.
    Ông cười.
    – Không sao. Cha sẽ tìm cho con một hoàng tử. Con sinh ra dưới ngôi sao may mắn. Một ngày nào đó con sẽ biết đến cảm giác khi một người đàn ông ôm con trong vòng tay.
    Lucia đỏ mặt.
    – Vâng, thưa cha.
    Đúng là không có ai làm việc đó với cô. Trong suốt mười hai giờ qua, Benito Patas, một trong những gã bảo vệ, luôn có mặt trên giường cô khi người cha vắng mặt ở thị trấn. Lucia biết, nếu bị cha phát hiện ông sẽ giết chết cả hai.
    Benito ở tuổi ba mươi, và cái việc cô con gái xinh đẹp và trinh trắng của dòng họ Angelo Carmine vĩ đại đã chọn gã để phá trinh mình luôn làm gã tự hào.
    – Có được như em muốn không? - Hắn hỏi sau lần đầu chung đụng.
    – Ồ được - Lucia hổn hển. - Khá hơn.
    Cô nghĩ thầm, Tuy hắn không được như Mario, Tomy hay Ennco, nhưng chắc chắn là khá hơn Boberto hay Leo.
    Mười ba tuổi, Lucia thấy mình giữ trinh tiết thế là đã quá lâu Cô ngó quanh và quyết định người may mắn sẽ là Paolo Costel1o, con trai của một trong những bác sĩ của Angelo Carmine. Paolo mười bảy tuổi, người vạm vỡ, là ngôi sao bóng đá ở trường. Lần đầu nhìn thấy Paolo cô đã ham mê ham mệt.
    Lucia tìm mọi cách để tiếp xúc với người mình yêu được nhiều nhất. Paolo không hay biết rằng những gặp gỡ thường xuyên đó đã được tính toán kỹ càng.
    Cậu vẫn coi cô gái hấp dẫn của Angelo Carmine như đứa trẻ. Vào một ngày đầu tháng Tám, Lucia quyết định không thể cứ ngồi chờ được nữa. Cô gọi điện cho Paolo.
    – Lucia Carmine! đây Bố em có chuyện muốn bàn với anh, cụ hỏi chiều nay anh có thể đến nhà bể bơi không?
    Paolo ngại ngùng lẫn mừng rỡ. Angelo Carmine là một cái tên mà ai cũng nể sợ, nhưng không ngờ con người Maftoso hùng mạnh này lại biết đến sự tồn tại của cậu.
    – Anh rất sung sướng. - Paolo nói. - Cụ muốn anh đến vào lúc nào?
    – Ba giờ.
    Giờ nghỉ trưa, lúc cả thế giới còn đang ngủ. Nhà bể bơi đứng lẻ loi ở tận tít một đầu của vùng đất rộng của gia đình cô, cha cô lại đã ra khỏi thị trấn. Sẽ chẳng có gì cản trở...
    Paolo đến đúng giờ hẹn. Qua chiếc cổng để ngỏ dẫn tới khu vườn, cậu đi thẳng vào dẫy nhà và đứng trước cánh cửa đóng kín, gõ nhẹ.
    – Thưa ngài Carmine...?
    Một bóng người tiến về phía cậu.
    – Paolo...
    Cậu nhận ra giọng nói của cô.
    – Lucia, anh tìm cha em. Cụ có đây không?
    Lucia đã đến sát bên Paolo, đủ để cậu thấy cô không váy áo gì trên người.
    – Lạy Chúa Paolo hổn hển. - Cái gì...?
    – Em muốn anh... với em.
    – Điên à? Em còn là đứa trẻ con. Thôi, anh phải chuồn đây. Cậu bắt đầu đi ra cửa.
    – Cứ đi đi Em sẽ mách cha là anh muốn cưỡng hiếp em.
    – Đừng. Em đừng làm thế.
    – Về đi, rồi anh sẽ thấy.
    Cậu dừng lại. Nếu Lucia làm thật, trong đầu cậu không một mảy may nghi ngờ về số phận của mình. Chặt phăng cái của ấy đi chỉ là việc mở đầu.
    Cậu bước tới gần Lucia để giãi bày:
    – Lucia, em thân yêụ. – Anh gọi vậy nghe được đấy.
    – Không... Hãy nghe anh, Lucia. Điều này rất nghiêm trọng, cụ sẽ giết anh, nếu em nói là bị anh cưỡng hiếp.
    – Em biết.
    Cậu cố thêm một nước:
    – Cha anh sẽ bị mang tiếng. Cả gia đình anh sẽ bị phỉ nhổ.
    – Em biết.
    Vô vọng.
    – Thế em muốn gì ở anh?
    – Em muốn anh... làm nó cho em.
    – Không. Không thể được. Nếu cha em biết, ông cụ sẽ giết anh ngay.
    – Còn nếu anh đi khỏi đây, bố em chắc chắn sẽ cho anh toi mạng. Anh không có cách thứ ba để lựa chọn, đúng không”.
    – Nhưng tại sao lại là anh, Lucia? - Anh nhìn cô hoang mang.
    – Bởi vì em phải lòng anh, Paolo.
    ... Cuối cùng, Lucia tỉnh trước. Cô lên tiếng:
    – Mai lại thế nhé.
    Khi Lucia mười tuổi, Angelo Carmine nghĩ rằng đã đến lúc cho con gái mở tầm mắt ra thế giới bên ngoài. Cùng bà dì già Rosa đi kèm, Lucia trải qua những kỳ nghỉ hè ở Capri, Ischia, ở Venice, Rome, và ở chục nơi khác.
    – Con phải được mở mang đầu óc. Chứ không phải cứ là ông nông dân như bố con đây. Đi du lịch sẽ giúp con hoàn thiện vốn kiến thức. Đến Capri, dì Rosa sẽ đưa con đi xem tu viện Carthusian của thánh James, thăm villa An Michele, rồi Palazza a More...
    – Vâng, thưa cha...
    – Rome là kho báu của thế giới. Tới đó con phải thăm thành phố Vatican, Hoàng cung Santa Maria Maggiore và tất nhiên là cả bảo tàng Borghese nữa.
    – Vâng, tất nhiên.
    – Còn ở Milano? Con phải đến Cung hòa nhạc để nghe âm nhạc là như thế nào. Cha sẽ thu xếp vé xem vở La Scala cho dì và con. Đến Florence, con sẽ đi Bảo tàng nghệ thuật thành phố, Bảo tàng Uflri và hàng chục nhà thờ, viện bảo tàng khác.
    – Vâng, thưa cha.
    Với những kế hoạch chặt chẽ. Lucia cố gắng để không đặt chân tới một nơi nào trong số những địa chỉ kể trên. Dì Rosa thì duy trì chặt chẽ những giấc nghỉ trưa vào ban ngày và đi ngủ sớm vào buổi tối.
    – Cháu cũng phải nghỉ ngơi, Lucia.
    – Hẳn rồi, thưa dì Rosa.
    Và khi dì Rosa ngủ, Lucia đi khiêu vũ tại Quisisana ở Capri, nhập vào một nhóm sinh viên đại học ở Mamna Piccola, đi picnic ở Bangi di Tiberio, đi đường cáp lên núi Ancapi. Tại đó, cô nhậu nhẹt ở quảng trường Ulberto với một đám sinh viên Pháp.
    Ở Venice, một tay chèo thuyền đẹp trai đưa cô tới câu lạc bộ disco, một chàng đánh cá đưa cô đi câu ở Chiogga. Còn dì Rosa thì đi ngủ.
    Tại Rome, Lucia uống rượu từ Apulla và tìm đến được tất cả những nhà hàng kỳ thú khác thường như Marte, Ranieni hay Giggifari.
    Bất kỳ tới đâu Lucia cũng tìm ra được những quán rượu nhỏ, những hộp đêm giấu kín và những chàng trai ưa nhìn, lãng mạn. Cha thân yêu nói đúng làm sao.
    Đi du lịch đã giúp con hoàn thiện được kiến thức của mình.
    Nằm trên giường, cô học những cách nói và những ngôn ngữ khác nhau. Và nghĩ, Học ngoại ngữ thế này thích hơn học ở trường nhiều.
    Sicily cũng là một kỳ quan để Lucia mặc sức khám phá. Đây là một hòn đảo của những chùa tháp Hy Lạp, những nhà hát, nhà thờ Roman và Byzantine, nhà tắm Arab và những lâu đài Swabian.
    Lucia tìm thấy Palermo hấp dẫn và sống động. Cô thích thú đi lang thang quanh Klasa, một khu Arab cổ, đi tham quan Opera dei Pupi, một nhà hát múa rối, nhưng chính Taomirna, nơi cô sinh ra, mới thực sự là chốn cô yêu Nó là hình ảnh thu nhỏ của một thành phố.
    Ở bờ biển Lon có một ngọn núi trông ra thế giới. Đó là thành phố của những cửa hiệu trang phục và kim hoàn, của những quán rượu và quảng trường cổ kính, của những khách sạn rực rỡ và lộng lẫy như ở Excelsior Palace và San Domenico.
    Con đường ngoằn ngoèo dẫn tới hải cảng Naxos dốc, hẹp và nguy hiểm.
    Nhưng khi Lucia Carmine nhận được chiếc ôtô, quà tặng sinh nhật lần thứ mười lăm, thì cô bất chấp mọi luật lệ giao thông, nhưng không một lần bị cản trở.
    Hơn hết thảy, cô là con gái của Angelo Carmine.
    Đối với những ai có đủ can đảm hoặc ngu ngốc để tìm hiểu thì Angelo Carmine chỉ là một người buôn bán bất động sản. Điều đó có phần đúng, vì dòng họ Carmine là chủ của khu vila ở Taormina, của một ngôi nhà bên hồ Como ở Cernobbio, một nhà trọ ở Gstaad, một lâu đài ở trung tâm và một mảnh đất rộng ở ngoại ô Rome. Nhưng đó chỉ là phần nổi, bởi gia đình carmine còn có những kinh doanh màu mỡ gấp nhiều lần. Ông là chủ của hàng chục nhà chúa, hai sòng bạc, sáu con tàu chuyên chở cocain từ những vùng trồng trọt của ông ở Colombia và hàng lô những tổ hợp sinh lợi, khác, gồm cả cho vay nặng lãi. Angelo Carmine là một capo của các Mafioso người Sicily, vì thế ông giàu có, uy quyền, sung sướng là điều dễ hiểu. Cuộc sống của ông là nỗi ao ước của người khác, là một bằng chứng đầy thuyết phục rằng một nông dân Sicily nghèo, nếu có những khát khao và chịu khó làm lụng, thì sẽ có ngày thành công.
    Carmine bắt đầu cuộc đời mình khi mười hai tuổi, giúp việc cho Mafioso.
    Mười lăm tuổi cậu trở thành người đi đòi nợ của những khoản vay nặng lãi.
    Sang tuổi mười sáu, cậu tham gia giết chết người và bắt đầu lập nghiệp.
    Ít lâu sau, ông cưới Anna, mẹ Lucia. Những năm tiếp theo, ông leo tới tột đỉnh của bậc thang xảo trá, để lại sau hàng dãy xác chết kẻ thù. Ông đã đổi khác, nhưng Anna vẫn nguyên là một cô gái nông dân giản dị mà ông đã cưới.
    Bà sinh cho ông ba đứa con kháu khỉnh, nhưng rồi sự đóng góp của bà với cuộc đời ông cũng dừng lại. Dường như ý thức được rằng mình không còn vai trò gì trong gia đình nữa, bà lặng lẽ rời bỏ cuộc sống. Sự quan tâm dành cho bà cũng chỉ đủ để gầy ra một ồn ào nho nhỏ mà thôi.
    Arnaldo và Victo cùng lo chuyện làm ăn với cha. Ngay khi còn nhỏ, Lucia đã thích thú nghe trộm những cuộc nói chuyện kỳ thú giữa cha với các anh mình, về chuyện họ đã xỏ mũi hay khuất phục đối thủ của họ ra sao. Đối với Lucia, cha cô như một hiệp sĩ trong bộ áo giáp sáng bóng. Cô không thấy điều gì sai trái trong việc làm của cha và các anh mình. Ngược lại, họ đang giúp đỡ mọi người. Nếu người ta muốn đánh bạc, tại sao lại để những điều luật ngu xuẩn ngăn cản họ? Nếu đàn ông cảm thấy sung sướng khi chung chạ với đàn bà, tại sao lại không giúp họ? Cha và các anh cô thật tất bụng biết bao đã cho người ta vay tiền khi họ bị đám chủ nhà băng nhẫn tâm từ chối. Đối với Lucia, cha và các anh là những công dân kiểu mẫu. Bằng chứng hiển nhiên được thể hiện trong sự lựa chọn bạn bè của các anh cô. Mỗi tuần một lần Angelo Carmine lại tổ chức tiệc linh dình tại vila riêng. Và ồ, hãy xem những ai ngồi dự tiệc tại gia đình Carmine? Ngải thị trưởng, vài ủy viên Hội đồng thành phố, các vị quan tòa... Bên họ là những minh tinh màn bạc, các ca sĩ opera, và thường xuyên có cả ngài cảnh sát trưởng cùng một tay vệ sĩ. Chưa kể năm nào đích thân ông Thống đốc cũng xuất hiện vài lần.
    Lucia sống một cuộc đời thơ mộng, đầy ắp các bữa tiệc, quần áo đẹp, đồ trang sức quý, ô tô, kẻ hầu hạ và những người bạn đầy thần thế. Cho tới một tháng Hai, vào đúng ngày sinh nhật lần thứ hai mươi ba của cô thì tất cả những cái đó bỗng dưng kết thúc.
    Nó đến thật bình thường. Hai người đàn ông tới vila tìm cha cô. Một là ông cảnh sát trưởng và người kia là phụ tá của y.
    – Xin ngài lượng thứ, - cảnh sát trưởng giãi bày, đây là cái việc xuẩn ngốc mà cấp trên giao cho tôi phải thực thi. Một ngàn lần xin lỗi ngài. Xin ngài rộng lòng cùng tôi tới trụ sở cảnh sát, tôi sẽ đảm bảo đưa ngài về kịp dự sinh nhật con gái ngài.
    – Không hề gì. - Carmine vui vẻ. - Ai cũng phải làm nhiệm vụ của mình. - Ông mỉm cười. - Tay ủy viên mới được Tổng thống bổ nhiệm này, theo cách nói của người Mỹ, khá xun xoe.
    – Có lẽ là như thế. - Cảnh, sát trưởng thở dài. - Nhưng ngài đừng lo. Ngài và tôi đều đã thấy những kẻ bợ đỡ thì lên nhanh như diều, nhưng cũng đứt nhanh thôi phải không?
    Họ phá lên cười rồi cùng đi tới trụ sở cảnh sát.
    Hôm đó Angelo Carmine không về dự tiệc được, và cả những ngày sau nữa.
    Thực sự ông đã không một lần được gặp lại những người thân của mình.
    Chính quyền lập hồ sơ truy tố ông với hàng trăm thứ tội, nào giết người, buôn lậu ma túy, mại dâm, phá hoại, nào hàng lô các tội khác... Việc bảo lãnh bị bác.
    Mẻ lưới của cảnh sát tung ra đã chụp trúng tổ chức tội ác của Carmine. Ông trông cậy vào những quan hệ có thế lực ở Sicily để bác bỏ những lời buộc tội, nhưng thay vào đó, ông lại bị đưa tới Rome vào nửa đêm và bị giam tại Regina Corli, nhà tù Queen of Heaven nổi tiếng.
    Ông bị nhốt trong một xà lim chật chội có vài ô cửa sổ chấn song sắt, một lò sưởi, một chiếc giường đơn và toalet không có chỗ ngồi. Thật là một sự xúc phạm, một điều sỉ nhục ngoài sức tưởng tượng.
    Lúc đầu Carmine tin tưởng luật sư của mình, Tommaso Contorno, sẽ giải thoát ngay cho ông.
    Khi Contorno đến gặp tại nhà tù, Carmine nổi giận với ông ta.
    – Họ đã đóng cửa các nhà chứa và các tụ điểm ma túy họ biết rất rõ về hoạt động kiếm tiền của ta. Có kẻ nào đã khai. Hãy tìm ra kẻ đó và mang cái lưỡi của nó vào cho ta.
    – Xin ngài đừng lo. - Contorno trấn an. - Chúng tôi sẽ tìm ra hắn.
    Sự lạc quan của ông ta hóa ra không có cơ sở. Để bảo vệ các nhân chứng, chính quyền địa phương đã kiên quyết từ chối tiết lộ họ, cho tới khi phiên tòa bắt đầu.
    Hai ngày trước phiên tòa, Angelo Carmine cùng những thành viên mafia khác được đưa tới Ribibbia Prigione, nhà tù có hệ thống an ninh nhất cách, Rome mười hai dặm. Phòng xử án cạnh đó được củng cố như pháo đài. Một trăm sáu mươi bị cáo mafia xích chân tay đưa đến phòng xử án qua một đường ngầm rồi bị nhốt vào ba mươi chiếc lồng thép có kính chống đạn. Lính bảo vệ nai nịt tận răng vây quanh trong và ngoài phòng. Người tới dự bị khám xét kỹ trước khi được phép vào.
    Khi Angelo Carmine bước vào phòng xử án, tim ông đập rộn lên vì sung sướng. Vị quan tòa ngồi đó là Glovanni Buscetta, người đã nằm trong danh sách ăn lương của Carmine suốt mười lăm năm và cũng là vị khách thường xuyên của gia đình. Carmine biết rằng cuối cùng thì công lý của ông cũng sẽ được thực hiện.
    Phiên tòa bắt đầu. Angelo Carmine nhìn lên vị quan tòa Sicily đang im lặng để cầu cứu. Thật kinh ngạc, nhân chứng chính của phiên tòa không ai khác, mà là Benito Patas, tên cận vệ thân tín của ông.
    Patas đã sống trong gia đình Carmine từ rất lâu và được tin cẩn hết mức nên hắn nắm khá rõ các chuyện làm ăn tuyệt mật của “gia đình. ” Bị cảnh sát tóm cổ vài phút sau khi lạnh lùng sát hại một bạn trai mới của tình nhân hắn, và bị dọa sẽ phải ngồi tù chung thân, thì Patas đành nhận giúp cảnh sát chống lại Carmine để được hưởng mức án nhẹ hơn. Giờ đây Angelo ngồi trong phòng xử án, hoảng hốt. và kinh ngạc nghe Patas lôi ra những bí mật sâu kín nhất của lãnh địa Carmine.
    Ngày nào Lucia cũng có mặt ở phòng xử án để nghe con người đã từng là bạn tình của cô đang hãm hại cha và các anh cô.
    Lời khai của Benito Patas như kéo cửa đập ngăn lũ. Hàng chục nạn nhân kéo đến kể lại những chuyện mà Angelo Carmine và đồng bọn của ông đã gây ra cho họ, nào Mafia đã bóp nghẹt việc làm ăn, đã đe dọa họ, đã sát hại hoặc biến những người thân của họ thành tàn tật, nào bán ma túy cho con cái họ. Cái dây tội ác thật vô tận.
    Nguy hiểm hơn là lời khai của những thành viên trong tổ chức ăn năn hối lỗi và quyết định lên tiếng.
    Lucia được phép vào thăm cha trong tù.
    Vui mừng khôn tả, ông ôm chặt cô và thì thầm.
    – Đừng lo, chánh án Giovanni Buscetta là quân át chủ bài của cha. Hắn biết tất cả mọi trò lừa đảo của luật pháp. Hắn sẽ làm cho các anh con và cha trắng án.
    Angelo Carmine đã tỏ ra là một nhà tiên tri tồi.
    Công chúng cảm thấy bị lăng nhục bởi sự quá đáng của Mafia và cuối cùng vị chánh án Giovanni Buscetta, một con thú chính trị láu cá, đã tuyên án tù dài hạn đối với mọi thành viên của tổ chức, và dành cho Angelo Carmine cùng hai con trai mức án là hai mươi tám năm.
    Đối với Angelo Carmine, đó có nghĩa là án tử hình.
    Cả nước Ý hân hoan. Công lý cuối cùng đã chiến thắng. Song đối với Lucia thì đó là cơn ác mộng không thể tưởng tượng ra nổi. Cả ba con người mà cô yêu quý nhất đời đang bị đẩy xuống địa ngục.
    Một lần, Lucia vào thăm cha tại xà lim. Sự thay đổi bỗng chốc trong ông, nhìn mà đau xé ruột. Chỉ vài ngày, ông đã biến thành một cụ già. Thân hình lẩy bẩy và sắc thái hồng hào ở ông bỗng trở nên vàng vọt.
    – Chúng đã phản bội ta. - Ông rên rỉ. - Tất cả bọn chúng đã phản bội ta.
    Thằng Giovanni Buscetta. Món nợ lớn quá, Lucia, ta biến hắn thành kẻ giàu có, vậy mà hắn làm ta thế này đây. Còn thằng Patas. Ta như cha nó. Ôi, cái thế giới này ở đâu ra vậy” Ôi, cái điều khủng khiếp này ở đâu ra vậy” Chúng cũng là người Sicily như ta mà.
    Lucia cầm tay cha trầm trầm nói:
    – Con cũng là người Sicily, thưa cha. Mối thù của cha sẽ được trả, xin thề trước cha, bằng cả cuộc đời con.
    – Đời cha thế là hết:
    – Ông nói. - Nhưng đời con vẫn ở cả phía trước. Cha có một tài khoản ở Zurich. Tại nhà băng Leu. Rất nhiều tiền, con tiêu suốt đời không hết. Ông thì thầm vào tai cô những con số. - Hãy rời bỏ nước Ý đáng nguyền rủa này. Hãy lấy tiền ấy mà hưởng thụ nghe con.
    Lucia ôm chặt ông.
    – Cha!
    – Nếu khi nào cần một người bạn, con có thể tin tưởng Dominic Durell. Ông ta có một căn nhà ở Pháp tại Beziers, gần biên giới Tây Ban Nha.
    – Con sẽ nhớ.
    – Hãy hứa với cha con sẽ rời bỏ nước Ý!
    – Vâng, thưa cha. Nhưng con phải làm vài việc đã.
    Ấp ủ khát vọng trả thù là một việc, tìm ra cách để thực hiện nó là việc khác.
    Cô đơn độc, mà việc đó lại chẳng dễ dàng gì.
    Lucia nhớ đến một thành ngữ Ý:
    Ruban il mestiele Mình phải nghĩ xem họ làm thế nào.
    Vài tuần sau, Lucia Carmine xuất hiện tại nhà ông chánh án Giovanni Buscetta. Chính ông ta mở cửa.
    Ông ta nhìn Lucia, hết sức ngạc nhiên. Ông thường nhìn thấy cô mỗi khi là khách của gia đình Carmine. Nhưng họ chẳng có gì để nói với nhau.
    – Lucia Carmine! Cô tới đây làm gì vậy? Lẽ ra cộ.... – Cháu tới để cảm ơn ngài. Thưa ngài kính mến:
    Ông nhìn cô nghi ngại – Cảm ơn tôi về cái gì?
    Lucia nhìn sâu vào mắt ông – Vì ngài đã đưa được ông bố và các anh cháu về đúng con người họ. Cháu là một con bé ngây thơ sống trong ngôi nhà ghê tởm đó. Cháu không hề biết họ là một lũ... - cô bật khóc sụt sịt.
    Ông chánh án hoang mang, rồi vỗ nhẹ vào vài cô.
    – Thôi nào, thôi nào. Vào nhà uống nước.
    – Cảm... cảm ơn ngài.
    Khi đã ngồi trong phòng, Buscetta nói:
    Tôi đã không biết là cô cũng nghĩ được như thế về cha mình. Tôi có cảm giác cha con cô rất thuận hòa.
    – Chỉ tại cháu đã không biết sự thật về cha và các anh cháu là như thế nào.
    Khi chưa hiểu được thì... người cô rung lên:
    – Ngài không biết đâu, cháu đã muốn thoát ra, nhưng không biết cách nào có thể...
    – Bác đã không hiểu. - Ông vỗ vào tay cô. - Tội nghiệp, bác đã hiểu nhầm cháu.
    – Cháu rất sợ ông ấy. - Giọng cô chứa chan gợi cảm.
    Không phải lần đầu tiên quan tòa Buscetta để ý Lucia trẻ đẹp ra sao. Cô mặc trên người bộ váy đen giản dị làm nổi bật những đường nét nhấp nhô của một cơ thể tràn căng sức sống. Ông để mắt nhiều nhất vào bộ ngực và không thể không công nhận cô đã lớn biết bao.
    Ngủ với con gái Angelo Carmine thì thật thú vị, Buscetta nghĩ. Hắn bây giờ không thể làm gì được ta. Thằng già nghĩ rằng hắn là chủ nợ của ta. Nhưng ta xử án thế đã lịch sự với hắn lắm rồi. Con bé này chắc hẳn còn trinh tiết. Ta sẽ dạy cho nó vài điều trên giường.
    Người quản gia có tuổi mang tới khay trà và hộp bánh quy. Bà đặt chúng trên bàn.
    – Tôi rót trà nhé?
    – Để em. - Lucia nói. Giọng cô ấm áp và đầy hứa hẹn.
    Chánh án Buscetta mỉm cười với Lucia.
    – Bà đi được rồi. - Ông ta nói với bà quản gia.
    Ông chánh án nhìn theo Lucia bước tới chiếc bàn nhỏ nơi đặt khay trà, cẩn thận rót trà cho ông và cho mình.
    – Tôi có cảm giác là cô với tôi sẽ trở thành những người bạn rất gần gũi, Lucia. - Giovanni thăm dò.
    Lucia trao ông ta một nụ cười quyến rũ.
    – Cháu cũng rất muốn như thế, thưa bác kính mến.
    – Cô cứ gọi tôi là Giovanni.
    – Giovannil - Lucia trao ông ta chén trà. Cô nâng chén nhấp một ngụm, rồi nói. - Vĩnh biệt những kẻ ác – Vĩnh biệt những kẻ ác. - Mỉm cười, Buscetta cũng nâng chén lên. Ông ta nhấp -một ngụm, nhăn mặt. Chè có vị đắng.
    – Có quá...?.
    – Không, không. Ngon lắm bạn thân mến.
    – Vì tình bạn của chúng ta. - Lucia lại nâng chén.
    Cô nhấp một ngụm và vị chánh án cũng làm theo.
    Buscetta không bao giờ uống hết chén trà. Một cơn đau thắt đột ngột đến và ông ta cảm thấy như có que cời lửa nóng đỏ xuyên vào tim. Ôm lấy ngực, ông ta lắp bắp:
    – Ôi, trời ơi! Gọi bác sĩ..... Lucia ngồi đó, lặng lẽ nhấp trà, nhìn ông chánh án lảo đảo rồi ngã xuống sàn, co quắp, rồi đờ ra.
    – Một thằng, thưa cha. - Lucia nói.
    Benitoi Patas đang chơi một mình trong buồng giam thì người cai ngục đến bảo:
    – Anh có bạn tình tới thăm.
    Benito gật đầu. Hắn được ban cho một thân phận đặc biệt trong tù, với nhiều đặc quyền. Những cuộc thăm viếng tình cảm chỉ là một trong số đó. Patas có nửa tá bạn gái, thay nhau vào thăm. Hắn tự hỏi hôm nay cô nào tới với mình.
    Hắn ngắm mình trong chiếc gương nhỏ trên tường phòng giám, xức một chút dầu thơm lên tóc, chải cho bóng lên, rồi bước theo người cai ngục đi dọc hành lang tới một khu có những phòng riêng.
    Hắn đứng lại, tròn mắt nhìn.
    – Lucia! Lạy Chúa, cô làm cái quái gì ở đây thế? Làm sao cô vào được đây?
    – Em nói với họ chúng mình đã đính hôn, Beniyto! Lucia nhỏ nhẹ.
    Cô mặc chiếc váy lụa trễ cổ lộng lẫy, dán chặt vào những đường cong cơ thể.
    Beniyto bước giật lùi:
    – Đi ra!
    – Nếu anh muốn vậy. Nhưng trước hết xin anh nghe em nói vài lời. Khi em nhìn thấy anh đứng trên bục để làm chứng buộc tội cha và các anh em, em căm thù anh, em đã muốn giết anh. - Cô tiến tới gần hắn. - Nhưng rồi em nhận ra được rằng điều anh làm là một hành động quả cảm. Anh dám đứng lên nói ra sự thật. Cha và các anh của em không phải quỷ, nhưng họ làm những việc làm của quỷ dữ và anh là con người duy nhất có đủ sức mạnh để chống lại họ.
    – Hãy tin tôi, Lucia. Hắn nói. - Bọn cảnh sát buộc tôi phải...
    – Anh không cần phải giải thích. - Cô nói mềm mại. - Nhất là với em. Anh có nhớ lần đầu chúng mình bên nhau? Lúc đó em hiểu ngay rằng em yêu anh và em sẽ luôn luôn yêu anh.
    – Lucia, lẽ ra tôi không nên làm cái điều mà...
    – Anh yêu? Em muốn chúng ta quên đi những việc đã qua. Nó đã lùi vào dĩ vãng. Điều quan trọng bây giờ là anh và em.
    Cô tiến tới bên hắn, và lúc này hắn có thể ngửi thấy mùi nước hoa dịu dàng tỏa ra từ người cô. Tâm trí hắn rối bời.
    – Cô định... cái đó?
    – Hơn tất cả những gì em đã định trong cuộc đời. Đó là lý do hôm nay em tới đây. Để chứng tỏ với anh rằng em là của anh, và không phải chỉ bằng lời.
    Ngón tay cô lần nhẹ trên vai và khoảnh khắc sau chiếc váy đã nằm trên sàn.
    Cô hoàn toàn khỏa thân.
    – Anh tin em chứ?
    Chúa ơi, cô ta đẹp biết bao.
    – Bây giờ anh tin rồi. - Giọng hắn khàn khàn.
    Lucia tiến sát hắn, da thịt cô cọ vào người hắn.
    – Cởi ra anh, nhanh lên nào? -Cô thì thầm.
    Cô nhìn Patas cởi quần áo rồi ngoan ngoãn đi theo khi hắn cầm lấy tay cô dẫn tới chiếc giường trong góc phòng. Hắn đè nghiến cô xuống và leo phắt lên cô, mặt hắn nở nụ cười kiêu ngạo.
    – Giống như thời xưa vậy. - Hắn nói giọng tự mãn. - Em không thể quên anh được, phải không?
    – Vâng, - Lucia thì thầm bên tai hắn. - Thế anh có biết tại sao em không thể quên được anh không?
    – Không, em yêu. Nói anh nghe nào?
    – Bởi vì em là người Sicily, như cha em vậy.
    Cô với tay ra sau gáy, gỡ chiếc trâm cài tóc dài và nhọn.
    Benito Patas thấy đột ngột nhói đau bên sườn bèn há miệng như muốn kêu lên, nhưng Lucia đã kề miệng hôn hắn âu yếm và khi người Benito cong lên, quằn quại trên người cô thì...
    Vài phút sau cô đã mặc xong quần áo, cài trâm lại vào tóc Benito nằm yên dưới chiếc chăn mỏng, mắt nhắm nghiền. Lucia gõ cửa và mỉm cười với người cai ngục tới mở cho cô, thì thầm:
    – Anh ấy ngủ!
    Viên cai ngục nhìn cô gái trẻ đẹp, mỉm cười:
    – Chắc hẳn cô đã vắt kiệt hắn.
    – Tội hy vọng thế. - Lucia đáp.
    Sự mạo hiểm tài tình của cô gái trẻ, đẹp trong hai vụ trả thù làm xôn xao nước Ý. Công chúng ý dễ bị kích động hân hoan chúc mừng cô, che giấu cho cô trốn chạy. Còn cảnh sát, hoàn toàn đương nhiên, có quan điểm khác. Lucia Carmine đã sát hại một vị chánh án đáng kính lại còn giết thêm một người nữa ngay bên trong bức tường nhà tù là cú chơi khăm tàn tệ không kém những tội ác do cô gây ra kia. Báo chí được dịp bán chạy với số lượng cao nhất.
    – Tôi muốn cái đầu nó. - Cảnh sát trưởng gầm lên. - Tôi muốn nó ngay hôm nay.
    Các mẻ lưới được tung ra, trong khi đó, trung tâm của sự chú ý lại đang ẩn náu tại nhà Salvatore Giuseppe, một trong những tay chân của cha cô may mắn thoát khỏi cơn bão lửa.
    Lúc ấy, suy nghĩ duy nhất của Lucia là trả thù cho cha và các anh. Cô nghĩ mình không thể trốn tránh mãi được và đã chuẩn bị kỹ càng để tự sát khi bị bắt.
    Tuy nhiên, sau một thời gian, suy nghĩ trong đầu cô đã chuyển sang sự sống.
    Cuộc sống với cô vẫn quý giá biết bao. Ta sẽ không để cho chúng tóm được, cô tự thề với mình. Không đời nào.
    Salvatore Giuseppe và vợ ông ta đã làm mọi thứ có thể để cải trang cho Lucia. Tóc cô trở nên sáng màu hơn, răng đen hơn, cô có thể đeo kính suốt ngày và chịu khoác lên mình những bộ quần áo tồi tàn.
    Salvatore soi xét tác phẩm thủ công của mình.
    – Không tồi, ông ta nói. - Nhưng cũng chưa an toàn. Chúng tôi phải đưa cô ra khỏi đất Ý. Cô phải tới một nơi mà ảnh mình không có trên trang nhất các báo.
    Một chỗ nào đó mà cô có thể nhởn nhơ được vài tháng.
    Lucia nhớ ra!
    Nếu khi nào cần một người bạn, con có thể tin tưởng Domimic Durell, như anh em với bố vậy:
    Ông ấy ông ấy có một ngôi nhà ở Beziers, bên Pháp, gần biên giới Tây Ban Nha.
    – Cháu biết một chỗ có thể tới được. - Lucia nói. Nhưng cháu cần một hộ chiếu.
    – Chúng tôi sẽ thu xếp.
    Hai mươi tư giờ sau, Lucia ngắm tấm ảnh mới chụp của mình trong hộ chiếu mang tên Lucia Roma.
    – Cô sẽ đi đâu?
    – Cha cháu có một người bạn bên Pháp có thể giúp cháu được.
    – Có cần tôi đi cùng tới biên giới... - Salvatore nói.
    Cả hai đều biết điều đó nguy hiểm như thế nào.
    – Thôi ạ, chú Salvatore, chú giúp cháu thế là đủ.
    Sáng hôm sau Salvatore Giuseppe thuê một chiếc Fiat dưới cái tên Lucia Roma và đưa cô chìa khóa xe.
    – Cẩn thận nhé. - Ông lo lắng dặn dò.
    – Chú đừng lo. Cháu sinh ra dưới ngôi sao may mắn mà.
    Chẳng phải cha cô đã nói thế sao Tại biên giới Ý - Pháp, các xe con sắp thành hàng dài chậm chạp nhích lên đợi đến lượt làm thủ tục vào đất Pháp. Càng tiến gần tới trạm kiểm soát Lucia càng thấy sợ hãi. Họ đang bủa lưới tìm bắt cô ở mọi điểm ra. Nếu họ tóm được, Lucia hiểu, cô chỉ có một mức án duy nhất là ngồi tù tới hết đời. Ta sẽ tự sát trước. Lucia nghĩ.
    Cô tiến tới người sĩ quan cửa khẩu.
    – Hộ chiếu, thưa bà?
    Lucia đưa cho anh ta. Người sĩ quan nhận hộ chiếu và mở ra, rồi liếc nhìn Lụcia. Cô nhận thấy nét bối rối trong cặp mắt anh ta. Viên sĩ quan nhìn hộ chiếu, rồi ngẩng lên nhìn cô, lần này thì kỹ hơn nhiều. Lucia thấy người mình như tan ra.
    – Bà là Lucia Carmine.
     
  6. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 6
    Không! - Lucia thét lên, mặt cắt không còn hột máu. Cô nhìn quanh và tìm đường thoát. Vô vọng. Đột nhiên viên sĩ quan mỉm cười trước sự kinh hoàng của cô. Anh ta cúi người về phía cô, thì thầm:
    – Thưa bà, ông cụ rất tất đối với gia đình tôi. Bà có thể đi được. Chúc bà may mắn!
    Lucia choáng váng trước may mắn bất ngờ.
    Cô nhấn ga và chồm lên vượt qua vạch đường biên. Viên sĩ quan cửa khẩu Pháp, người thường tự hào mình sành sỏi về phái đẹp đưa mắt nhìn người đàn bà không lấy gì là đẹp ở trước mặt. Cô có mái tóc hời hời, đeo đôi kính dày cộp, hàm răng xỉn và bộ trang phục cổ lỗ tồi tàn.
    Sao đàn bà Ý lại kém đến thế so với phụ nữ Pháp?
    Hắn khinh bỉ nghĩ rồi đóng dấu vào hộ chiếu của Lucia và vẫy tay cho cô đi.
    Sáu tiếng sau, Lucia tới Beziers.
    Đầu dây đằng kia trả lời ngay từ hồi chuông đầu. Một giọng nam mềm mại:
    – Xin chào.
    – Cho tôi nói chuyện với Dominic Durell.
    – Dominic Durell đây. Ai đang nói vậy?
    – Lucia Carmine. Bố cháu dặn...
    – Lucia? - Giọng nói mừng rỡ hẳn lên. - Bác đang đợi cháu đây.
    – Cháu cần được giúp đỡ.
    – Cháu có thể tin ở bác.
    Lucia thở dài trút nỗi lo âu. Đó là tin lành đầu tiên cô nghe được trong suốt một thời gian dài và đột nhiên cô cảm thấy mệt mỏi làm sao.
    – Cháu cần một chỗ có thể tránh được cảnh sát.
    – Không có vấn đề gì. Vợ chồng bác đã chọn sẵn một chỗ tuyệt vời, cháu muốn ở bao lâu cũng được.
    Điều đó tốt đẹp đến khó tin.
    – Cảm ơn bác!
    – Cháu đang ở đâu thế, Lucia?
    – Cháu đang ở...
    Đúng lúc đó bỗng có tiếng máy đàm thoại sóng ngắn của cảnh sát phát sóng lách tách trong ống nghe, rồi đột nhiên lại biến mất.
    – Lucia...
    Một tiếng chuông báo động vang lên trong đầu cô.
    – Lucia, cháu ở đâu thế Để bác cháu đến đón cháu?
    Sao ông ta lại có đàm thoại của cảnh. sát trong nhà? Ông ấy cầm máy ngay ở hồi chuông đầu tiên, cứ như đã chờ đợi cú điện thoại của cô từ lâu.
    – Lucia, cháu có nghe thấy bác không?
    Lucia tin chắc rằng người đàn ông ở đầu dây kia là một cảnh sát.
    Mẻ lưới đã được giăng sẵn. Cú điện này đang bị theo dõi.
    – Lucia...
    Cô dập máy và vội vàng rời trạm điện thoại. Mìn phải biến khỏi Pháp ngay.
    Cô nghĩ và trở lại xe lấy bản đồ trong cốp ra xem. Biên giới Tây Ban Nha chỉ cách đó vài giờ xe. Cô cất bản đồ rồi mở máy cho xe chạy về phía Tây, nhắm hướng Sebastian.
    Chính tại biên giới Tây Ban Nha, mọi sự bắt đầu trở nên rắc rối.
    Viên sĩ quan cửa khẩu biên giới Tây Ban Nha xem qua loa hộ chiếu của Lucia song khi đưa trả lại, bỗng có cái gì đó khiến hắn do dự. Hắn nhìn kỹ cô hơn, nét mặt thay đổi.
    – Xin bà. đợi cho một phút. Tôi phải mang hộ chiếu vào đóng dấu ở trong kia:
    Hắn đã nhận ra ta, Lucia tuyệt vọng. Cô nhìn theo hắn đi vào bót cảnh sát và đưa hộ chiếu của cô cho một sĩ quan khác. Hai người trao đổi với vẻ hào hứng.
    Phải trốn ngay. Cô bước ra khỏi xe. Một nhóm du lịch người Đức vừa làm xong thủ tục hải quan đang ồn ào kéo lên chiếc xe buýt đỗ gần xe Lucia mang hàng chữ chỉ lộ trình:
    Madrid..
    – Achtung, - người hướng dẫn nói to. - Schnell Lucia liếc về phía bót gác. Viên sĩ quan cầm hộ chiếu của cô đang hét gì đó vào máy.
    – Tất cả lên xe!
    Không nghĩ ngợi thêm, Lucia bước tới nhóm du lịch đang cười đùa chí chóe và bước lên xe, xoay mặt khỏi phía người hướng dẫn. Cô ngồi xuống một chiếc ghế ở phía cuối, cúi đầu xuống. Đi đi cô cầu khẩn, đi nào!.
    Qua cửa sổ ô tô Lucia thấy một người nữa bước tới chỗ hai người trước và cả chụm đầu trước tấm hộ chiếu của cô. Cứ như đáp lại lời cầu khẩn của Lucia, cửa ô tô đóng lại và tiếng máy như trả cô về với cuộc sống. Lát sau chiếc xe lăn bánh ra khỏi San Sebastian hướng về Madrid. Điều gì sẽ xảy ra khi những viên sĩ quan cửa khẩu đó phát hiện ra cô đã bỏ xe? Ý nghĩ đầu tiên chắc sẽ là:
    Cô ta vào phòng vệ sinh. Họ sẽ đợi và cuối cùng là cử người vào tìm cô trong đó.
    Bước tiếp theo, họ sẽ tìm kiếm cô ở trong khu vực xem cô trốn ở chỗ nào. Lúc đó, hàng chục xe con, xe ca sẽ bị lục soát. Cảnh sát sẽ không thể đoán được cô đã đi đâu và đi bằng phương tiện gì.
    Trên xe, toán du lịch ồn ào cười nói. Rõ ràng họ đang có một ngày hạnh phúc. Sao lại không, Lucia cay đắng nghĩ. Họ không bị cảnh sát rình rập theo sát gót. Có đáng phải mạo hiểm cả cuộc đời mình như thế không? Trong đầu cô tái hiện những hình ảnh về chánh án Buscetta và Benito.
    Tôi có cảm giác rằng cô và tôi sẽ trở thành những người bạn rất gần gũi.
    Lucia... vĩnh biệt những kẻ ác.
    Và Benito Patas:
    Cứ như thời xưa vậy, em không thể quên anh được, phải không nào?
    Và cô đã bắt hai tên phản bội phải trả giá cho những tội lỗi của chúng. Thế có đáng không?
    Chúng chết, nhưng cha và các anh cô vẫn phải chịu tù đầy cho đến hết đời.
    Ồ, đáng lắm, Lùcia nghĩ, rất xứng đáng.
    Có người trên xe cất giọng một bài hát Đức. Những người khác hòa theo.
    “In Muuchen ein Holhrau Hans, eni wwei, sufạ.:
    “ Với nhóm này, mình sẽ an toàn được một lúc, Lucia nghĩ, tới Mađrid sẽ quyết định làm gì tiếp.
    Cô đã không bao giờ tới được Madrid.
    Đến thị trấn Avila, chiếc xe dừng tại một điểm có trong lịch trình để nghỉ ngơi, và để, như người hướng dẫn nói, đi vệ sinh.
    Lucia vẫn ngồi ở ghế, theo dõi hành khách lục tục chen nhau ra phía cửa trước. Mình ở đây an toàn hơn. Nhưng người hướng dẫn đã để mắt tới cô.
    – Xuống xe đi, - anh ta nói, - chúng ta chỉ dừng ở đây mười lăm phút.
    Lucia do dự, rồi miễn cưỡng đi ra phía cửa xe.
    Khi cô đi qua, người hướng dẫn bỗng gọi lại và nói:
    – Cô không phải người trong đoàn.
    Lucia trao cho anh ta một nụ cười thân mật.
    – Vâng, đúng thế. - Cô nói. - Ông thấy đấy. Xe của tôi bị hỏng ở San Sebastian, mà tôi thì lại rất cần về Madrid ngay, cho nên...
    – Không thể được. Đây là một chuyến đi riêng.
    – Tôi hiểu. - Lucia nhỏ nhẹ. - Nhưng ông hiểu cho, tôi cần phảị. – Cô phải dàn xếp chuyện này với trụ sở công ty tại Munich.
    – Tôi không thể... Tôi đang rất vội vã...
    – Không? Cô sẽ gây rầy rà cho tôi. Xuống đi, nếu không tôi sẽ gọi cảnh sát.
    – Nhưng...
    Dù cô có nói gì cũng không lay chuyển được anh ta. Hai mươi phút sau, Lucia cay đắng nhìn theo chiếc buýt quay mũi lao xuống đường cao tốc về phía Madrid. Cô đứng lẻ loi, không hộ chiếu, hầu như không có tiền, và cảnh sát của gần chục nước đang truy lùng cô vì tội giết người, sử dụng hộ chiếu giả, nhập cảnh bất hợp pháp, vân vân...
    Cô xem xét kỹ xung quanh. Xe buýt đã dừng lại trước tòa nhà hình tròn có tấm biển chỉ dẫn đây là một bến xe khách.
    Mình có thể đi một xe khác ở đây.
    Cô bước vào trong. Đó là một tòa nhà rộng rãi tường đá hoa, rải rác xung quanh là hàng chục cửa bán vé. Mỗi cửa có một biển đề tên địa phương mà xe sẽ đến:
    SEGOVIA... MUNOGALINDO... VALIAPOLID... SALAMANCA...
    MADRID. Các cầu thang máy dẫn xuống tầng dưới, nơi các chuyến xe xuất phát. Ở đó có quầy hàng bán bánh rán, kẹo, bánh kẹp nhân bọc trong những giấy nến. Lucia chợt nhận ra mình đói cồn cào. Mình sẽ không mua bất cứ thứ gì cho tới khi biết giá vé xe là bao nhiêu.
    Đúng lúc Lucia bắt đầu bước tới ô cửa đề Mađriđ, có hai người cảnh sát mặc sắc phục đang vội bước tới bến xe. Một người cầm bức ảnh. Họ đi từ ô cửa này đến ô cửa khác chìa ảnh cho các nhân viên bán vé xem và hỏi han gì đó.
    Chúng nó tìm mình. Cái thằng du lịch khốn kiếp đã báo cho chúng.
    Có một gia đình hành khách đang lên thang máy. Họ đi ra phía cửa. Lucia bám theo, trà trộn trong họ và thoát ra ngoài. Cô đi theo những con đường rải đá của Avila, không dám bước mạnh, như sợ mọi người để ý. Cô rẽ vào con phố Madrid Soledad với những tòa nhà ốp đá và những ban công sắt uốn lượn cầu kỳ. Tới quảng trường Santa, cô ngồi xuống chiếc ghế đá dài trong công viên và nghĩ việc phải làm tiếp theo. Cách đó khoảng trăm mét có vài phụ nữ và vài đôi nam nữ đang ngồi thưởng thức cảnh hoàng hôn. Bỗng xuất hiện ở đầu kia quảng trường chiếc xe tuần tiễu và hai cảnh sát bước ra khỏi xe. Họ tiến tới những phụ nữ đang ngồi một mình và đòi xem giấy tờ. Tim Lucia đập nhanh.
    Cô cố gắng làm vẻ bình thản, đứng lên thật chậm, xoay lưng lại phía cảnh sát và thong thả bước đi. Phố bên cạnh có cái tên Sống và Chết.
    Không biết đây có phải là điềm báo không?
    Dọc phố có những con sư tử đá nom như sống thật đang thè lưỡi, và trong sự tưởng tượng của Lucia, chúng như đang lao vào cô. Gần bên cô là một nhà thờ lớn. Mặt trước nhà thờ treo tấm bảng kim loại lớn khắc hình một cô gái trẻ và cái đầu lâu đang nhăn nhở. Cảnh vật dường như cũng đầy sự chết chóc.
    Lucia chợt nghe thấy tiếng chuông nhà thờ. Xa xa, trên đồi cao mọc lên những bức tường của một tu viện. Cô đứng đó, nhìn lên không chớp mắt.
    – Sao con lại tới đây, con gái? - Bà Nhất Bentina nhẹ nhàng hỏi.
    – Con cần một nơi lánh nạn.
    – Và con đã quyết định lánh nạn nơi Chúa?
    Hoàn toàn chính xác.
    – Vâng ạ. - Lucia bắt đầu ứng biến. - Đó là điều con hằng mong muốn, là được hiến dâng đời mình cho Người.
    – Đó là điều chúng ta hằng mong ước, phải không con?
    Giêsu, bà ta bắt đầu mê tít rồi. Lucia thích thú nghĩ.
    Bà Nhất tiếp tục.
    – Con phải hiểu Cistercian là dòng tu nghiêm khắc nhất trong tất cả các dòng tu. Chúng ta hoàn toàn bị tách rời khỏi thế giới bên ngoài.
    Lời bà như tiếng nhạc vang bên tai Lucia.
    – Những người đã bước vào bên trong những bức tường này có lời thề không bao giờ rời bỏ nó.
    – Con không đời nào rời bỏ. - Lucia cố gắng làm cho bà yên tâm. Chắc chắn là trong vài tháng tới.
    Bà Nhất đứng lên.
    – Đây là một quyết định quan trọng, ta muốn con hãy về và suy nghĩ kỹ trước khi quyết định.
    Lucia cảm thấy lợi thế đang trượt mất, và hoảng sợ. Cô còn chỗ nào để đi.
    Hy vọng duy nhất lúc này là được trốn tránh đằng sau những bức tường này.
    – Con nghĩ kỹ rồi. - Lucia vội nói. - Hãy tin con, thưa Mẹ khả kính, con đã không nghĩ về bất cứ điều gì khác từ hàng năm nay. Con muốn từ bỏ thế giới kia. - Cô nhìn sâu vào mắt Mẹ Trưởng tu viện. - Con muốn được ở đây hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. - Giọng Lucia run lên, chân thật.
    Mẹ Nhất đâm bối rối. Cô gái này có cái gì đó bất ổn, hoảng loạn hay đang xáo động? Dầu sao thì còn lý do nào tốt hơn để ai đó tới đây, nơi mà tinh thần họ sẽ được bình an bởi sự trầm lặng cầu nguyện?
    – Con theo đạo?
    – Dạ, thưa Mẹ!
    Mẹ Nhất cầm lấy chiếc bút lông ngỗng cổ lỗ:
    – Nói cho ta biết tên con, con gái.
    – Tên con là Lucia... Roma.
    – Cha mẹ con còn sống chứ?
    – Con còn bố?
    – Ông ấy làm gì?
    – Là một thương gia. Nhưng đã... nghỉ rồi ạ.
    Lucia nhớ tới hình ảnh người cha xanh xao gầy gò cô gặp lần cuối cùng trong tù mà lòng quặn đau.
    – Con có anh chị hay em không?
    – Có hai anh ạ.
    – Thế các anh con làm gì?
    Lucia quyết định phải dùng tới mọi thứ có thể giúp. Được cô, dù phải dối trá tới đâu, – Họ là linh mục.
    – Đáng yêu sao.
    Cuộc sát hạch kéo dài thêm ba giờ đồng hồ nữa. Vào lúc cuối, Mẹ Bentina nói:
    – Ta dành cho con chiếc giường nghỉ qua đêm nay. Sáng mai con sẽ bắt đầu tìm hiểu mọi quy định, song, nếu vẫn thấy muốn, con có thể nhập dòng tu.
    Nhưng ta báo trước, con đã chọn một con đường hết sức khó khăn.
    Xin hãy tin con. - Lucia nói nhiệt thành. - Con không thể chọn con đường nào khác.
    Làn gió đêm mềm mại và ấm áp thì thầm qua khoảng trống của khu rừng.
    Lucia thiếp đi. Cô thấy mình đang trong bữa tiệc tại một vila đẹp đẽ, cha cô, các anh cô cũng ở đó. Mọi người đều đang hết sức vui vẻ thì một người lạ mặt bước vào hỏi:
    Bọn người này là ai thế nhỉ?
    Rồi các ngọn đèn bật sáng, và một ngọn cứ nhấp nháy chiếu vào mặt cô. Nó khiến cô chói mắt, và thức giấc.
    Có đến sáu người đàn ông đang vây quanh mấy bà sơ trong khoảng rừng. Bị đèn chiếu vào mắt, Lucia chỉ nhận được lờ mờ hình dáng của họ.
    – Các bà là ai? - Người đàn ông hỏi. Giọng ông ta sâu và thô ráp.
    Lucia bừng tỉnh, cảnh giác. Cô đã bị sa bẫy. Nhưng nếu bọn người này là cảnh sát thì họ đã phải biết những bà sơ này là ai, và đang làm gì trong rừng vào buổi đêm thế này?
    Lucia chớp lấy cơ hội:
    – Chúng tôi là các bà sơ của tu viện Avila, một số người của chính phủ đã...
    – Chúng tôi có nghe về vụ đó. - Người đàn ông ngắt lời.
    Các sơ khác cũng đã tỉnh giấc, hoảng sợ.
    – Các ông... các ông là ai? - Megan hỏi.
    – Tôi là Jaime Miro.
    Họ có sáu người, vận những chiếc quần thô ráp, áo choàng da, áo len cổ thấp, giày xỏ dây và đội mũ bêrê truyền thống xứ Basque. Họ mang nhiều súng ống. Và trong ánh trăng mờ ảo trông họ như ma quỷ. Hai trong số họ cứ như vừa bị đánh đập nặng.
    Người đàn ông tự xưng là Jaime Miro nom cao, gầy, đôi mắt đen dữ tợn.
    – Có thể họ đã bị theo tới đây. - Anh quay sang một người trong nhóm. - Kiểm tra xung quanh.
    Lucia nhận ra người vừa đáp lời là một phụ nữ. Cô nhìn người đó di chuyển nhẹ nhàng trong khu rừng.
    – Mình sẽ làm gì với họ bây giờ - Ricardo Menado hỏi.
    Jaime Miro nói:
    – Chúng ta để họ lại rồi đi thôi.
    Một người trong bọn phản đối.
    – Jaime, đây là những bà sơ nhỏ bé của Giêsu.
    – Thì để cho Giêsu trông nom họ. Chúng ta còn có việc phải làm. -Jaime Miro nói cộc lốc.
    Các tu sĩ lúc này đã đứng lên cả, chờ đợi. Những người đàn ông xúm quanh Jaime, đang tranh cãi với anh ta.
    – Chúng ta không thể để cho họ bị bắt. Acoca và bọn lính đang truy lùng họ.
    – Thì chúng cũng đang lùng ta.
    – Các bà sơ sẽ không thể thoát được nếu chúng ta không giúp họ.
    Jaime Miro cương quyết:
    – Không, không thể mạo hiểm trao tính mạng mình cho họ. Chúng ta có sứ mệnh của chúng ta.
    Fellx Carpio, một trong những phụ tá của Jaime nói:
    – Chúng ta có thể đi cùng họ một phần đường, Jaime. Chỉ cần giúp họ ra khỏi đây. - Anh ta quay sang hỏi. - Các tu sĩ về đâu?
    Theresa lên tiếng, ánh sáng của Chúa bừng lên trong mắt bà.
    – Tôi có một sứ mệnh của Chúa. ở Mendavia có một tu viện sẽ che chở cho chúng tôi.
    Felix Carpio quay sang Jaime Miro:
    – Chúng ta sẽ đưa họ tới đó. Mendavia nằm trên đường tới Sebastian.
    Jaime quay sang anh ta, không kìm được giận dữ:
    – Đồ ngu xuẩn? Sao cậu không trương biển lên báo cho cả thế giới biết ta sẽ tới đâu.
    – Tôi chỉ định...
    – Bây giờ thì không còn cách nào khác là đưa họ đi cùng. Nếu Acoca tìm được họ, hắn sẽ bắt họ phải nói. Và họ sẽ làm chậm chân chúng ta cũng như sẽ làm cho Acoca và bọn đao phủ của hắn theo dõi chúng ta dễ hơn nhiều.
    Lucia chỉ nghe một tai, cây thánh giá vàng cách cô có một tầm với, Bọn khốn kiếp! Sao lại tới vào cái lúc này Chúa ơi, sao Chúa lại hài hước vậy.
    – Thôi được. - Jaime Miro nói. - Chúng ta sẽ đưa họ tới tận tu viện rồi để họ lại đó nhưng không thể đi cùng cả đám như gánh xiếc thế này được. - Anh ta quay sang mấy bà sơ, không giấu được vẻ bực tức trong giọng nói. - Có ai trong số các bà biết Menđavia ở đâu không?
    – Các bà sơ nhìn nhau.
    – Không chính xác lắm. - Graciela lên tiếng.
    – Vậy làm thế quái nào mà các bà đến đó được.
    – Chúa sẽ dẫn đường. - Sơ Theresa nói chắc chắn.
    Một người khác trong bọn, Rubio Arzano, cười nói:
    – Các sơ gặp may. - Anh ta hất đầu về phía Jaime. - Chúa đích thân xuống dẫn lối cho các sơ đấy.
    Cái nhìn của Jaime làm cho anh ta im lặng.
    – Chúng ta sẽ chia nhỏ ra đi ba đường khác nhau.
    Anh ta lấy tấm bản đồ từ chiếc gói sau lưng ra. Cả bọn xúm quanh nó và chiếu đèn vào.
    – Tu viện Mendavia nằm ở đây, phía. Đông Nam Logrono. Tôi sẽ đi theo hướng Bắc qua Vailadolld rồi tới Burgos. - Anh ta đưa ngón tay chạy dọc bản đồ, rồi quay sang Rubio, một người đàn ông cao lớn ưa nhìn. - Cậu đi đường này tới Olmedo, lên Penafiel rồi Randa de Duero.
    Rubio gật đầu.
    Jaime Miro nhìn Ricardo Mellado, một trong số hai người mặt mày bầm tím.
    – Ricardo, cậu tới Sêgovia, rồi theo đường nối tới Cerezo de Abazo, rồi tới Soria. Chúng ta sẽ gặp lại tại Logrono. - Anh ta cất tấm bản đồ đi. - Từ đây đến Logrono là hai trăm mười cây số. - Anh ta nhẩm tính. - Sau bảy ngày nữa chúng ta sẽ gặp nhau ở đó. Nhớ tránh xa các đường chính.
    – Gặp nhau tại chỗ nào ở Logrono? - Felix hỏi.
    – Đoàn xiếc Nhật Bản sẽ biểu diễn ở Logrono tuần tới - Ricardo nói.
    – Tốt lắm. Ta sẽ gặp nhau ở đó vào buổi biểu diễn.
    Các tu sĩ sẽ đi như thế nào? - Felix Carpio lên tiếng.
    – Ta phải chia họ ra.
    Đã đến lúc phải ngăn họ lại, Lucia quyết định.
    – Thưa các ông. Nếu bọn lính đang tìm bắt các ông, thì chúng tôi sẽ đi đường khác cho an toàn.
    – Nhưng chúng tôi thì không để như vậy được, thưa sơ Jaime nói. - Các sơ đã biết kế hoạch của chúng tôi.
    – Hơn nữa, - người mang tên Rubio nói thêm. - Các sơ không có cơ hội nào đâu. Chúng tôi thuộc vùng này. Chúng tôi là người Basque và những người ở miền Bắc là bạn bè chúng tôi cả. Họ sẽ giúp chúng ta, che giấu ta khỏi bọn lính quốc gia. Các sơ sẽ không bao giờ đi được Mendavia, nếu tự đi.
    Ta không định tới Menđavia, ngốc ạ – Thôi được, lên đường đi. Tôi muốn chúng ta phải xa khỏi đây trước bình minh. - Jalme Miro vẫn cáu kỉnh.
    Sơ Megan lặng lẽ nghe người đàn ông đang ra lệnh. Anh ta có vẻ ngạo mạn và xấc xược, song ở con người này cũng toát ra một uy lực mạnh mẽ.
    Jaime nhìn sang Theresa và chỉ vào Tomas Sanzuro cùng Rubio.
    – Họ sẽ lo cho bà.
    – Chúa lo cho tôi. - Sơ Theresa nói.
    – Rõ. Nên các bà mới tới đây được. - Jaime đáp cộc lốc.
    Rubino bước tới Theresa.
    – Rubio Arzano xin được phục vụ sơ. Gọi sơ là gì đây.
    – Tôi là sơ Theresa.
    Rất nhanh Lucia lên tiếng:
    – Tôi sẽ đi cùng Theresa. - Bất cứ giá nào cô cũng không để họ chia rẽ mình với cây thánh giá vàng.
    – Cũng được. - Jaime gật đầu, anh ta chỉ tay vào Graciela. - Ricardo, cậu nhận sơ này.
    Ricardo Mellado gật đầu.
    – Được thôi.
    Người đàn bà mà Jaime phái đi trinh thám đã trở lại.
    – Không có gì. - Cô nói.
    – Tốt. - Jaime nhìn Megan. - Sơ sẽ đi với chúng tôi.
    Megan gật đầu. Cô thấy thích con người này. Người phụ nữ cũng có cái gì đó kích thích sự hiếu kỳ. Nước da sẫm, cái nhìn dữ tợn và những nét cú vọ của loài thú ăn thịt, miệng như một vết thương nhỏ. Ở cô ta toát ra một dục tính mãnh liệt.
    Người phụ nữ bước đến bên Megan.
    – Tôi là Amparo Jiron. Sơ cứ ngậm tiếng lại thì sẽ không có chuyện gì phiền phức.
    Jaime nói với mọi người.
    – Đi thôi nào. Đến Logrono trong bảy ngày. Không rời mắt khỏi các bà sơ.
    Sơ Theresa và Rubio Arzano bắt đầu đi xuống con đường nhỏ. Lucia vội vã theo sau. Cô đã thấy tấm bản đồ mà Rubio Arzano đeo sau lưng. Ta sẽ lấy nó, Lucia quyết định, vào lúc hắn ngủ.
    Cuộc hành trình xuyên Tây Ban Nha bắt đầu.
    o O o
    Miguel Carrillo choáng váng.
    Sự thật là Miguel carrilo hết sức choáng váng. Đó không phải một ngày tốt đẹp với hắn. Buổi sáng bắt đầu tuyệt vời biết bao khi hắn vớ được mấy nữ tu và đánh lừa được họ rằng mình cũng là một tu sĩ. Khi cạm bẫy sập thì cũng là lúc hắn bị đánh bất tỉnh, tay chân bị trói gô còng queo dưới sàn cửa hiệu trang phục.
    Chính là bà vợ chủ hiệu đã phát hiện ra hắn. Đó là một phụ nữ đã có tuổi, vạm vỡ, tính tình cắn của, lại có ria mép. Bà ta nhìn người đàn ông bị trói gô dưới đất hỏi:
    – Ngươi là ai? Ngươi là cái gì đây?
    Carrillo vận hết sự quyến rũ của mình:
    – Ôi cảm tạ Chúa, bà đã đến, senorita. Tôi đang cố gắng tìm cách thoát khỏi cái bẫy này để có thể gọi điện thoại báo cho cảnh sát.
    – Ngươi vẫn chưa trả lời ta?
    – Hắn cố gắng vùng vẫy để tạo một tình thế dễ chịu hơn.
    – Lời giải thích rất đơn giản. Senorita, tôi là tu sĩ Gonzales. Tôi tới đây từ một tu viện gần Madrid. Lúc đi ngang qua cửa hàng xinh đẹp của bà, thì tôi thấy hai người đàn ông đang trèo vào trong hiệu. Tôi cảm thấy ngăn chúng lại là nhiệm vụ cao cả của người con của Chúa bèn theo chúng vào trong này, hy vọng có thể giảng giải cho chúng thấy được tội lỗi. Nào ngờ lại bị chúng đánh ngất đi, rồi chúng trói tôi lại. Nào, xin bà làm ơn cởi trói cho...
    – Mierda!
    Hắn ngạc nhiên nhìn.
    – Bà nói sao?
    – Mày là ai?
    – Tôi vừa nói, tôi là...
    – Mày là thằng lừa đảo xấu xa nhất, tao biết.
    Bà ta bước về phía mấy bộ áo choàng mà các nữ tu đã bỏ lại – Thế cái gì đây?
    – A! Cái đó, phải rồi, hai gã thanh niên đã mặc để đánh lừa mọi người, bà thấy đấy, và...
    – Ở đây có bốn bộ mà mày lại nói là có hai người.
    – Phải, hai đứa nữa vào sau và...
    Bà ta bước về phía máy điện thoại.
    – Bà làm gì vậy, thưa bà?
    – Gọi cảnh sát.
    – Điều đó chưa cần thiết, tôi đảm bảo với bà như vậy Ngay sau khi bà cởi trói, tôi sẽ tới ngay đồn cảnh sát để báo lại mọi sự việc.
    Người đàn bà nhìn chiếu tướng hắn:
    – Ông quên cài cúc kìa, thưa cha!
    Cảnh sát còn tỏ ra ít hiểu hơn cả người đàn bà. Carrillo bị bốn người Gurda Civil xét hỏi. Những bộ đồng phục màu xanh và những chiếc mũ dạ đen thế kỷ Mười tám cũng đủ gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp đất nước Tây Ban Nha và rõ ràng là chúng có phép mầu đối với Carrillo...
    – Anh có biết rằng mình có đặc điểm giống hệt người đã giết một vị linh mục ở phía Bắc?
    Carrillo gật đầu.
    – Tôi không ngạc nhiên. Tời có một người em sinh đôi, cầu Chúa trừng phạt hắn đi. Bởi nó mà tôi phải vào tu viện. Người mẹ đau khổ của chúng tôi...
    – Đừng lỡm.
    Một người khổng lồ với khuôn mặt đáng sợ bước vào phòng.
    – Xin kính chào ngài, ngài đại tá Acoca.
    – Anh ta đây à?
    – Vâng, thưa đại tá. Chúng tôi đã tìm thấy hắn cùng với quần áo mấy nữ tu, vì thế tôi nghĩ có thể ngài muốn tự hỏi cung hắn.
    – Phải, tôi rất thích được nói chuyện với anh này.
    Carrillo trao cho viên đại tá cái nhìn duyên dáng của hắn.
    – Ngài đã tới, tôi rất vui sướng, thưa đại tá. Tôi có một sứ mệnh của nhà thờ, và một điều hết sức quan trọng, là phải đến được Barcelona càng sớm càng tốt.
    Tôi đã cố gắng giải thích với các vị đây rằng tôi là nạn nhân của hoàn cảnh, đơn giản chỉ vì tôi cố gắng làm một người làm phúc.
    Đại tá Acoca gật đầu thông cảm.
    – Bởi ông đang vội, tôi sẽ không lấy nhiều thời gian của ông.
    Carrillo tươi cười:
    – Cảm ơn ngài đại tá.
    – Tôi sẽ hỏi ông vài điều đơn giản. Nếu ông trả lời trung thực, mọi thứ sẽ tốt đẹp. Còn nếu nói dối tôi, thì sẽ rất đau đớn đối với ông. - Y mân mê vật gì trong tay.
    – Người nhà Trời không biết nói dối. - Carrillo đáp thẳng thắn.
    – Tôi rất sung sướng được nghe vậy. Hãy kể về bốn nữ tu.
    – Tôi không biết gì về bốn...
    Quả đấm va vào miệng hắn có gắn những núm đồng, làm máu bắn tóe ra.
    – Chúa ơi, ông làm cái gì thế? - Carrillo hổn hển.
    – Hãy nói về bốn nữ tu. - Acoca nhắc lại câu hỏi.
    – Tôi không...
    Quả đấm lại tìm đến cái mồm Carrillo, lần này nghe như có tiếng răng gãy:
    Carrillo ngạt thở vì máu trào ra.
    – Đừng, tôi...
    – Nói về bốn nữ tu. - Giọng Acoca vẫn nhẹ nhàng, vừa phải.
    – Tôi... - Hắn nhìn thấy nắm đấm đang từ từ nâng lên. – Có! tôi... - Từ ngữ chen nhau tuôn ra. - Họ ở Villacastin, đang chạy trốn khỏi tu viện của họ. Xin đừng đánh tôi nữa.
    – Tiếp tục!
    – Tôi... tôi bảo sẽ giúp họ. Họ cần phải thay quần áo...
    – Nên anh đột nhập vào cửa hiệu...
    – Không. Tôi... vâng. Tôi... họ lấy trộm một số quần áo rồi đánh tội xỉu, rồi bỏ tôi ở đó.
    – Họ có nói sẽ đi đâu chứ?
    – Không! - Một thoáng tự trọng bất ngờ xuất hiện trong Carrillo.
    Nhưng việc hắn không đả động gì đến Mendavia cũng chẳng có gì liên quan đến việc bảo vệ các tu sĩ. Carrilo chẳng mảy may để ý đến họ. Đó chỉ bởi vì viên đại tá đã làm biến dạng khuôn mặt hắn. Sau khi ra tù, nếu có ngày ấy lạy Chúa, việc làm ăn của hắn sẽ rất khó khăn.
    Đại tá Acoca quay sang mấy người lính dân vệ:
    – Xem sự thuyết phục hữu nghị thì làm được gì nào?
    Đưa nó tới Madrid, bắt giữ về tội giết người.
    Lucia, sơ Theresa, Rubio Arzano và Tomas Sanjuro đi theo hướng Tây Bắc, nhằm phía Olmedo, tránh xa những đường chính, băng qua những cánh đồng lúa. Họ đi ngang những đàn cừu, dê và cảnh đồng quê yên ả đối nghịch với sự gian nguy đang trải qua. Họ đi thâu đêm. Rạng sáng, họ hướng về một điểm đã định sẵn trên vùng đồi.
    Thị trấn Olmedo ở phía trước. Chúng ta sẽ dừng chân tại đây cho đến tối.
    Hai sơ nom như muốn ngủ lắm rồi.
    Sơ Theresa thì thấy như kiệt sức. Nhưng điều đang diễn ra trong nội tâm bà còn ghê sợ hơn nhiều. Bà thấy mình như đang xa dần thực tại. Nó bắt đầu với việc biến mất của chuỗi tràng hạt quý giá. Bà đánh mất - hay có kẻ đã lấy cắp?
    Bà không rõ. Nó là niềm an ủi của bà đã bao năm, bà không còn nhớ. Nó đã trở thành một phần của đời bà, sự yên lành của bà, thế mà nó lại đã mất tích!
    Bà mất nó Ở tu viện khi có cuộc tấn công? Và có thật là có cuộc tấn công không? Dường như không. Bà không chắc được điều nào là thực, điều nào là tưởng tượng. Đứa trẻ bà đã thấy. Nó có phải con của Monique? Hay Chúa đánh lừa bà? Mọi thứ đều lẫn lộn. Không như khi bà còn trẻ, tất cả đều rõ ràng, đơn giản.
    Khi bà còn trẻ...
     
  7. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 7 - EZE, PHÁP
    Khi lên tám tuổi, hầu như mọi nguồn hạnh phúc đến với cuộc sống của Theresa de Fosse đều từ nhà thờ. Nó giống như một ngọn lửa thần bí cuốn cô vào hơi ấm của mình. Cô tới nhà thờ nhỏ Pénitent Blance, cầu kinh ở nhà thờ lớn tại Monaco và Notre Dame Bon Voyage ở Cannes, nhưng cô thường xuyên có mặt trong các buổi lễ nhà thờ tại Eze.
    Theresa sống trong lâu đài ở vùng núi, phía trên một làng trung cổ Eze, gần Monte Carlo trông ra Côte d Azru. Làng này nằm cheo leo trên một mỏm núi và đối với Theresa, từ đó có thể nhìn thấy cả thế giới. Từ tu viện ở trên đỉnh, những nếp nhà chạy xuống theo sườn núi cho tới Địa Trung Hải xanh thẳm phía dưới.
    Monique, kém Theresa một tuổi, là vẻ đẹp của cả gia đình. Ngay từ lúc bé, người ta đã có thể biết lớn lên cô sẽ là một phụ nữ tuyệt vời. Monique có những đường nét thanh tú, cặp mắt long lanh và cảm giác tự tin, rất hợp với dáng vẻ của cô. Theresa thì xấu xí đến tai hại. Sự thực, ông bà De Fosse rất xấu hổ về người con gái lớn của họ. Nếu Theresa chỉ xấu vừa phải thôi thì họ đã gửi cô tới một bác sĩ chỉnh hình để cái mũi của cô ngắn lại, đưa cái cằm của cô ra phía trước hay chỉnh cho hai mắt cô cùng nhìn vào một điểm. Nhưng vấn đề là mọi đường nét ở cô đều lệch lạc. Mọi thứ đều đặt không đúng chỗ, cứ như một diễn viên hề làm biến dạng khuôn mặt để gây cười.
    Nhưng nếu Chúa đã lừa cô về hình dáng bên ngoài, thì người lại đền bù bằng cách ban cho cô một món quà đáng kể. Theresa có giọng hát của một thiên thần.
    Giọng cô được chú ý ngay trong lần đầu tiên cô hát ở đội đồng ca nhà thờ. Giáo dân ngạc nhiên nghe chất giọng trong trẻo, thuần khiết bay ra từ đứa trẻ.
    Theresa càng lớn, giọng cô càng mượt mà. Cô được giao toàn bộ phần hát lĩnh xướng của nhà thờ song Theresa thấy xấu hổ với ngoại hình của mình mỗi khi phải đứng tách riêng ra lĩnh xướng.
    Ở trường học, Monique có tất cả bạn bè. Trai cũng như gái đều kéo bầy kéo đàn đến với cô. Họ muốn được chơi cùng, cô, muốn được người khác nhìn thấy họ ở bên cô. Cô được mời có mặt ở mọi buổi liên hoan. Theresa cũng được mời, nhưng luôn quá muộn, như một sự hoàn thành nghĩa vụ xã hội và Theresa đau đớn cảm nhận điều đó – Ô, Renee! Em không thể chỉ mời một trong hai đứa trẻ nhà De Fosse mà không mời đứa kia. Thế sẽ là mất lịch sự.
    Monique rất xấu hổ có một bà chị xấu xí, còn cho rằng dầu sao bà chị cũng làm ảnh hưởng tới mình.
    – Ông bà De Fosse đối xử đúng mực với cô con gái lớn. Họ hoàn thành nghĩa vụ bậc cha mẹ một cách kỹ càng nhưng rõ ràng, người mà họ yêu chiều vẫn là Monique. Cái điều mà Theresa luôn khao khát thì cô lại không được đó là tình yêu thương.
    Theresa là đứa trẻ ngoan ngoãn, sẵn sàng và mong muốn được làm hài lòng mọi người, một học trò giỏi, yêu nhạc, yêu lịch sử, ngôn ngữ, và rất chăm chỉ.
    Các thầy cô giáo, đám gia nhân và người dân thị trấn ai nấy đều xót xa cho cô.
    Như lời một thương gia khi cô rời cửa hiệu ông ta.
    – Chúa đã không để ý khi tạo ra con bé.
    Nhà thờ là nơi duy nhất Theresa tìm thấy tình người. Linh mục thương cô, Chúa Giêsu thương cô. Sáng sáng, cô đi lễ Met và làm dấu mười bốn bận. Quý trong nhà thờ mái vòm lạnh lẽo, cô cảm thấy sự hiện diện của Chúa. Khi hát, Theresa tràn ngập cảm giác hy vọng và cảm nhận được điều kỳ diệu nào đó sẽ đến với mình. Đó là điều duy nhất khiến cô còn chịu đụng nổi cuộc sống.
    Theresa không bao giờ lộ ra nỗi bất hạnh của mình cho cha mẹ hay em gái biết, vì không muốn họ phiền lòng. Cô cũng giữ kín trong lòng mình điều bí mật rằng Chúa yêu cô biết bao và cô cũng yêu Chúa nhường nào.
    Theresa yêu em gái mình. Họ cùng chơi bên nhau ngoài khu đất quanh lâu đài và cô thường để Monique thắng trong các trò chơi. Họ cùng đi thám hiểm theo những bậc đá trơn tuột trổ vào sườn núi dẫn xuống làng Eze phía dưới, và lang thang dọc theo các đường phố hẹp đầy cửa hiệu, xem các nghệ sĩ bán tác phẩm của họ.
    Khi hai cô gái bước sang tuổi học trò, lời tiên đoán của mọi người đã thành sự thật. Monique càng trở nên xinh đẹp hơn và đám con trai vây bọc lấy cô, trong khi Theresa có rất ít bạn. Cô thường ở nhà may vá, đọc sách một mình.
    Hôm đó, khi đi qua phòng khách, Theresa nghe thấy cha mẹ đang bàn luận về mình.
    – Rồi nó sẽ thành gái già. Chúng ta sẽ phải cưu mang nó cả đời.
    – Theresa sẽ tìm được một người. Tính tình con bé rất dịu dàng.
    – Đó không phải là cái mà thanh niên ngày nay quan tâm. Chúng cần đứa nào làm chúng sung sướng trên giường kia.
    Theresa chạy trốn.
    Theresa vẫn hát trong nhà thờ vào các chủ nhật và bởi thế, một sự kiện đã đến, hứa hẹn làm thay đổi cuộc đời cô. Trong giáo đoàn, có bà Neff, dì ruột của vị giám đốc đài phát thanh Nice.
    Một buổi sáng chủ nhật bà ở lại nói chuyện với Theresa.
    – Này cô bé, cô đang phung phí đời mình ở đây. Cô có một giọng hát khác thường nên phải biết tận dụng nó.
    – Cháu đang tận dụng nó đây. Cháu...
    – Tôi không định nói về... - Bà nhìn quanh nhà thờ... - chỗ này. Tôi muốn nói là phải sử dụng giọng hát một cách chuyên nghiệp. Khi nghe cô hát, tôi tự hào vì mình đã tìm ra một tài năng. Tôi muốn cô hát cho cháu tôi nghe. Cậu ấy có thể đưa cô lên Radio. Cô có muốn thế không?
    – Cháu... cháu không biết. - Ý nghĩ đó khiến cô hoảng sợ.
    – Về bàn với gia đình xem sao.
    – Mẹ nghĩ đó là một điều tuyệt vời. - Mẹ cô nói.
    – Điều đó có thể tốt cho con. Cha cô gật gù.
    Nhưng chính Monique lại có ý ngăn cản điều đó. Chị không phải là người hát chuyên nghiệp, - cô nói. Chị đừng tự làm trò cười cho thiên hạ.
    Điều đó chẳng có liên quan chút nào với lý do cô ta ngăn cản người chị.
    Monique sợ Theresa có thể thành công. Hiện tại, cô ta luôn được mọi người chú ý. Thật không công bằng, Monique nghĩ, khi Chúa lại ban cho Theresa giọng hát tuyệt vời như thế. Nếu chị ấy trở nên nổi tiếng thì sao Mình sẽ bị ra rìa, bị lu mờ. Vì thế, Monique tìm mọi cách để chị mình không đi thử giọng.
    Nhưng chủ nhật sau, bà Neff vẫn giữ Theresa lại và bảo:
    – Tôi đã nói chuyện với cháu tôi. Cậu ấy sẵn lòng để cho cô thử giọng, và sẽ đợi cô vào ba giờ chiều thứ tư.
    Thế là thứ tư tuần đó, một cô Theresa hết sức sợ hãi đã xuất hiện ở đài phát thanh tại Nice và đến gặp giám đốc!
    – Tôi là Louis Bonnet. - Anh ta nói cụt lủn. - Tôi sẽ dành cho cô dăm phút.
    Sự xuất hiện của một Theresa bằng xương bằng thịt chỉ khẳng định thêm nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của anh ta.
    Bà dì cũng đã từng gửi đến đây những tài năng mặt mũi thế này.
    Phải bảo bà ấy mới được. Nhung anh ta biết mình không dám. Vấn đề ở chỗ bà dì rất giàu và anh ta lại là người thừa kế duy nhất.
    Theresa theo Louis Bonnet đi qua một hành lang hẹp dẫn vào một buồng phát thanh nhỏ.
    – Cô đã bao giờ hát trên sóng phát thanh chưa?
    Chưa ạ, thưa ngài. - Chiếc áo khoác của cô ướt đẫm mồ hôi. Sao mình lại đem thân vào chốn này?
    Theresa tự hỏi. Cô đang trong cơn hoảng sợ, chỉ chực chạy trốn.
    Bonnet để cô ngồi trước chiếc micro. Hôm nay, không có người chơi piano nào ở đây cho nên cô sẽ phải hát một cappella. Cô có biết nó là gì không?
    – Dạ có, thưa ngài.
    – Tuyệt! - Anh ta tự hỏi, không phải lần đầu, rằng chẳng biết bà dì có đủ giàu cho bõ công mình làm những cuộc thử giọng ngu xuẩn này không?
    Tôi sẽ ở phòng điều khiển. Cô có đủ thời gian để hát một bàl.
    – Thưa ngài, tôi sẽ phải...
    Anh ta đã đi khuất, Theresa ngồi một mình trong phòng, nhìn chằm chằm vào micro. Cô không biết mình sẽ hát bài gì. Hãy đi gặp anh ta. - Bà dì anh ta đã nói thế. - Đài phát thanh có chương trình ca nhạc vào các tối thử bảy... Mình phải thoát khỏi đây thôi.
    Giọng của Louis từ đâu phát ra:
    – Tôi không có cả một ngày trời đâu.
    – Xin lỗi. Tôi không thể....
    Nhưng anh chàng giám đốc đã quyết định trừng phạt cô vì tội đã làm mất thời gian.
    – Vài nốt thôi, - anh ta khăng khăng đòi. Đủ để anh ta có thể nói lại với bà dì rằng cô gái này ngu xuẩn tới mức nào. Có thể nhờ đó mà cản được bà ta thôi đưa tới đây những người được bà bảo hộ.
    – Tôi đợi đây Anh ta ngả lưng vào ghế, châm một điếu Gitaule. Bốn tiếng nữa mới phải đi.
    Yvette vẫn sẽ đợi. Anh sẽ có thời gian vào phòng cô, trước khi về nhà với vợ mình. Có khi còn kịp để...
    Anh ta chợt nghe thấy, và không thể tin vào tai mình. Một giọng hát ngọt ngào, trong vắt đến... lạnh cả sống lưng. Một giọng hát đầy ước mơ và khát vọng, về sự cô đơn và nỗi tuyệt vọng, về những tình yêu đã mất và những giấc mơ đã chết... Giọng hát khiến anh ta trào nước mắt. Nó khuấy động những ẩn giấu trong sâu thẳm mà bấy lâu anh ta tưởng chúng đã chết. Đây là tất cả những gì anh ta có thể thất lên. Giêsu Kitô! Nàng ở đâu ra vậy?
    Một nhân viên phụ trách máy bước vào buồng chỉ huy từ lúc nào, đang đứng nghe như bị thôi miên. Cánh cửa buồng lại mở ra và những người bị giọng hát cuốn hút lũ lượt kéo nhau vào. Họ đứng chết lặng khi nghe những âm thanh xé lòng từ một trái tim tuyệt vọng đang gào thét đòi tình thương. Trong phòng tịnh không còn tiếng động nào khác.
    Khi bài hát kết thúc, sự tĩnh mịch còn kéo dài mãi. Cuối cùng, một phụ nữ cất tiếng:
    – Bất kể cô ta là ai, không được để giọng hát này “thoát”.
    Louis Bonnet vội vã đi sang phòng phát thanh. Theresa đang nhấp nhỏm đợi được về:
    – Xin lỗi vì tôi ngồi lâu quá. Ngài hiểu cho, tôi chưa bao giờ.. – Nào, ngồi xuống đã, Maria.
    – Tôi là Theresa.
    – Xin lỗi cô. - Anh ta hít thật sâu. - Chúng tôi có chương trình ca nhạc vào các đêm thứ bảy.
    – Tôi biết. Tôi vẫn thường nghe.
    – Cô đồng ý hát trên chương trình ấy nhé!
    Theresa tròn mắt nhìn anh ta, không thể tin vào điều vừa nghe thấy... – Ngài nói... ngài muốn... thuê tôi?
    Bắt đầu từ tuần này. Chúng tôi sẽ trả thù lao ở mức tối thiểu. Nhưng với cô, đó sẽ là một khoản thu nhập lớn đấy!
    Điều đó hầu như tốt đẹp đến khó tin. Họ sẽ trả tiền cho mình hát.
    – Thuê chị ấy à? Bao nhiêu cơ? - Monique hỏi.
    – Chị không biết. Chị không quan tâm. - Điều quan trọng là có người cần đến mình. Theresa định nói thế nhưng rồi kìm lại được.
    – Một điều kỳ diệu. Vậy là con được lên đài. - Cha cô nói.
    Mẹ cô đã sắp đặt xong các kế hoạch:
    – Tất cả bạn bè của chúng ta sẽ được nghe và họ sẽ phải gửi thư đến nói rằng con hát hay làm sao.
    Theresa nhìn Monique, đợi cô em gái nói:
    Mẹ không phải làm thế. Chị Theresa hát rất hay.
    Nhưng Monique không nói gì. Chuyện ấy sẽ sụp đổ nhanh chóng là điều cô ta đang nghĩ.
    Monique đã nhầm.
    – Tối thứ bảy tại đài phát thanh, Theresa thấy sợ hãi.
    Hãy tin tôi! Louis Bonnet trấn an cô. - Hoàn toàn bình thường thôi. Tất cả các nghệ sĩ đều qua đây cả mà.
    Họ đang ngồi chờ ở một phòng nhỏ màu xanh dành cho các diễn viên.
    – Cô sắp sửa khiến cho tất cả người nghe xúc động.
    – Tôi sắp lên cơn sốt thì đúng hơn.
    Không còn thời gian đâu. Cô sẽ diễn sau hai phút nữa.
    Chiều hôm đó Theresa đã tập dượt vớl dàn nhạc nhỏ sẽ đệm cho cô. Buổi tập thật không bình thường. Căn phòng chật ních các nhân viên của đài, những người đã được nghe về cô gái trẻ có giọng hát ngoài sức tưởng tượng. Không một ai nghi ngờ rằng họ đang chứng kiến sự ra đời của một ngôi sao.
    – Thật đáng tiếc, cô bé xinh không được nhiều. Giám đốc sân khấu chép miệng. - Nhưng chỉ nghe trên đài thì cũng chẳng ảnh hưởng gì...
    Buổi biểu diễn tối đó của Theresa thật tuyệt vời. Cô thấy mình chưa bao giờ lại được hát như thế. Ai biết được những gì rồi sẽ đến với mình? Cô có thể trở nên nổi tiếng và đàn ông sẽ quỳ dưới chân cô, cầu xin cô lấy họ, như họ đã cầu xin Monique.
    Như đọc được ý nghĩ của cô, Monique nói:
    – Em rất mừng cho chị, nhưng đừng để chuyện đó cuốn chị đi. Những thứ này chẳng bền đâu.
    Sẽ bền, Theresa hạnh phúc nghĩ cuối cùng mình đã được làm người, một con người như mọi con người.
    Sáng thứ hai, một cú điện thoại đường dài gọi đến cho Theresa.
    – Chắc hẳn thằng cha nào đó đùa cợt. - Cha cô bảo. Hắn nói hắn là Jacques Raimu.
    Một giám đốc sân khấu sáng chói nhất nước Pháp. Theresa thận trọng nhấc máy.
    – Alô!
    – Cô De Fosse đấy ạ?
    – Vâng.
    – Theresa De Fosse phải không?
    – Vâng, tôi đây.
    – Jacques Raimu đây. Tôi đã được nghe chương trình của cô trên đài vào tối thứ bảy. Cô chính là người tôi đang tìm.
    – Tôi... Tôi không hiểu.
    – Tôi đang dựng vở tại nhà hát kịch Comédie Francaise, một vở ca kịch. Tôi đang tìm một người có giọng hát như cô. Nói thật là không thể có giọng hát nào giống được cô. Ai đang phụ trách cô đấy?
    – Phụ trách tôi ấy à? Tôi... không có ai phụ trách tôi cả.
    – Vậy tôi sẽ tới và chúng ta sẽ thỏa thuận cụ thể.
    – Ngài Raimu... tôi... tôi không được xinh đâu. - Thật đau đớn cho cô phải nói ra điều đó, nhưng cô hiểu là không có cách nào khác. Không được để ông ta mong đợi hão huyền.
    Ông cười:
    – Cô sẽ xinh đẹp khi ta thỏa thuận xong. Nhà hát là tạo dựng. Nghệ thuật hóa trang sân khấu có thể làm mọi ma thuật mà người ta không thể tin được.
    – Nhưng...
    – Mai tôi sẽ gặp cô.
    Một giấc mơ trên đỉnh cao của sự kỳ diệu. Được làm ngôi sao trong một vở kịch của Raimu?
    – Bố sẽ thỏa thuận trực tiếp với. ông ta. - Cha cô nói. - Con phải cẩn thận khi tiếp xúc với một người của nhà hát.
    – Bố mẹ sẽ mua cho con một cái váy mới. - Mẹ cô nói. Và mẹ sẽ mời ông ta ăn cơm tối.
    Monique im lặng. Đến nước này thì không thể chịu nổi nữa. Không thể nghĩ được rằng chị cô lại đang trở thành một ngôi sao. Có lẽ, còn một cách để...
    Monique đã sắp xếp để cô là người đầu tiên xuống thang khi Raimu đến nhà De Fosse chiều hôm đó. Cô gái trẻ trung và xinh đẹp tới mức tim ông muốn nhảy ra ngoài. Để đón ông, cô ta mặc chiếc áo dài buổi chiều màu trắng giản dị, làm nổi bật thân hình tuyệt vời.
    Lạy Chúa, ông ta nghĩ. Hình dáng này với cái giọng ấy! Côgái hoàn hảo thật. Cô ấy sẽ trở thành ngôi sao vĩ đại.
    – Tôi không thể nói hết niềm vinh hạnh được gặp cô. - Raimu nói.
    – Tôi rất sung sướng được gặp ngài. Tôi là một người cực kỳ hâm mộ ngài.
    Thưa ngài Raimu - Monique cười nồng hậu.
    – Hay lắm. Rồi chúng ta sẽ rất hợp nhau trong công việc Tôi mang theo đây một kịch bản. Đó là một câu chuyện tình rất thơ mộng, tôi nghĩ là...
    Đúng khoảnh khắc ấy Theresa bước vào phòng. Cô vận chiếc váy mới, nhưng trông thật ngượng ngập. Nhìn thấy Jacques Raimu, cô dừng lại.
    – Ôi xin chào. Tôi không biết ngài ở đây. Tôi định nói là... ngài tới sớm.
    Ông nhìn Monique dò hỏi.
    – Đây là chị tôi, chị Theresa. - Monique nói.
    Cả hai đều thấy được ấn tượng dữ dội qua sự thay đổi nét mặt của ông ta. Nó chuyển từ trạng thái sốc sang thất vọng, rồi là kinh tởm.
    – Cô là cô ca sĩ đó?
    – Vâng.
    Ông quay sang Monique:
    – Thế cô là...
    Monique cười vẻ ngây thơ, nói:
    – Tôi là em gái chị Theresa.
    Raimu quay sang xem xét lại Theresa, rồi lắc đầu.
    – Rất lấy làm tiếc, - ông nói với Theresa. - Cô quá... - ông lúng túng tìm chữ.
    – Cô quá trẻ. Nếu cô thứ lỗi, tôi sẽ trở về Paris.
    Và họ đứng đó nhìn ông bước ra cửa.
    Ăn tiền rồi, Monique hân hoan. Ăn tiền rồi.
    Theresa không tham gia thêm buổi phát sóng nào nữa. Louis Bonnet nài nỉ cô trở lại, nhưng nỗi đau đớn quá lớn khiến cô khước từ.
    Nhìn thấy em gái mình rồi, Theresa nghĩ, thì còn ai dám cần đến mình nữa Mình thảm hại quá.
    Chừng nào còn sống, Theresa sẽ còn không quên được cái ánh mắt và vẻ mặt Jacques Raimu.
    Chỉ tại mình mơ mộng ngu ngốc. Theresa tự nhủ. Đó là Chúa phạt mình đấy mà.
    Sau đó, Theresa chỉ hát trong nhà thờ, và ngày càng trở nên cô đơn hơn bao giờ hết.
    Mười năm tiếp theo, Monique xinh đẹp chối bỏ hàng chục lời cầu hôn.
    Nào là con trai thị trưởng, con chủ nhà băng, bác sĩ... nào là con các nhà buôn giàu có. Dập dìu quanh cô có từ các chàng trai trẻ vừa mới ra trường tới các vị có danh tiếng, thành đạt ở tuổi bốn mươi, năm mươi. Họ là những người giàu hay kẻ nghèo, già nua hay trẻ trung, đẹp mã hay xấu xí, có học hoặc vô học.
    Đáp lại tất cả họ, Monique nới không!
    – Thế con muốn tìm cái gì? - Cha cô chán nản hỏi.
    – Cha à, ở đây người nào cũng nhạt nhẽo. Eze quả là nơi nghèo nàn. Hoàng tử trong mơ của con ở Paris kia.
    Làm theo bổn phận, ông gửi cô con gái tới Paris. Và đành phải cho Theresa đi cùng em gái.
    Mỗi cô đi thăm Paris theo cách riêng của mình.
    Monique tham dự các buổi dạ hội từ thiện và các bữa tiệc đầy hấp dẫn, dùng trà với những đàn ông danh giá Theresa thì đi thăm bảo tàng Les Invalldes và bảo tàng Louvre. Monique đến các cuộc đua ngựa ở Longchamp hay các hội hè ở Malmaison. Theresa thì tới Notre Dame cầu nguyện và thả bộ theo con đường rợp bóng dọc kênh đào St. Martin. Monique đến nhà hàng Maxim hay Moulin Rouge, trong khi Theresa thơ thẩn dạo quanh bến cảng, tạt vào các hiệu sách, dừng chân ở nhà thờ thánh Dems. Theresa thích Paris, còn Monique, xét về mọi góc độ, chuyến đi thật là thất bại.
    Khi họ trở về, Monique bảo với cha:
    – Không thể tìm thấy một người nào mà con muốn cưới.
    Không gặp được một ai khiến con thấy hấp dẫn sao?
    – Không hoàn toàn thế. Có một chàng trai đưa con tới nhà hàng Maxim. Cha hắn là chủ các mỏ than.
    – Trông anh ta thế nào? - Mẹ cô háo hức.
    – Ờ, hắn ta rất giàu, rất đẹp trai, rất lịch sự và rất chiều chuộng con.
    – Anh ta có cầu xin con cưới anh ta không?
    – Cứ mười phút lại hỏi một lần. Cuối cùng đơn giản là con từ chối gặp lại hắn.
    Mẹ cô nhìn cô ngạc nhiên:
    – Sao lại thế?
    – Bởi vì tất cả câu chuyện hắn nói ra chỉ là về than than rải đường, than cục, than xám. Nhạt nhẽo, thật là nhạt nhẽo.
    Năm sau, Monique quyết định rằng cô phải trở lại Paris.
    – Chị sẽ đi gói đồ của chị. - Theresa nói.
    – Không Lần này em sẽ đi một mình. - Monique lắc đầu Vì thế, trong khi Monique đi Paris, Theresa ở nhà và sáng sáng lại vào nhà thờ cầu nguyện cho em gái mình sẽ tìm được một hoàng tử xứng đáng. Rồi một hôm, phép mầu nhiệm đến. Mầu nhiệm bởi nó đến chính với Theresa chứ không là ai khác. Hoàng tử đó có tên là Raoul Givradot.
    Vào một chủ nhật, anh đến nhà thờ và nghe cô hát.
    Anh chưa từng được nghe một giọng hát như thế. Mìnhphải gặp cô ấy, anh tự nhủ.
    Sáng hôm sau, khi Theresa dừng lại ở cửa hàng tạp hóa trong làng mua ít vải thì Raoul Givradot đang đứng sau quầy hàng.
    – Ca sĩ?
    Cô nhìn anh, lúng túng.
    – Xin... xin lỗi!
    – Hôm qua tôi được nghe cô hát trong nhà thờ, thật tuyệt.
    Anh đẹp trai, cao lớn, với đôi mắt sẫm tỏa sáng và đôi môi ướt mọng đáng yêu. Anh ngoài ba mươi, hơn Theresa độ một hai tuổi.
    Theresa sững sốt trước ngoại hình của anh, tới nước chỉ còn lắp ba lắp bắp.
    Cô nhìn anh, tim dập thình thịch.
    – Ca... Cảm ơn... tôi... tôi muốn mua ba thước vải mushin.
    – Rất sung sướng được phục vụ cô, mời cô sang bên này. - Raoul cười.
    Theresa bỗng thấy mê mẩn trước sự hiện diện của chàng trai, với thân hình đẹp đẽ, và hơi hướng đàn ông bao quanh anh.
    Khi Raoul đang gói ba thước vải lại cô mới dám hỏi:
    – Anh môi... anh mới tới đây phải không?
    Anh nhìn cô. Nụ cười của anh làm cô run bắn lên.
    – Tôi tới Eze được vài ngày rồi. Dì tôi là chủ hiệu này. Bà ấy cần được giúp đỡ và tôi nghĩ rằng mình sẽ làm việc ở đây một thời gian.
    Một thời gian là bao nhiêu? Theresa thấy mình tự đặt câu hỏi ấy..
    – Lẽ ra cô phải là ca sĩ chuyên nghiệp mới đúng. - Raoul bảo.
    Theresa nhớ đến ấn tượng trên nét mặt Raimu khi ông nhìn thấy cô. Không, cô sẽ chẳng mạo hiểm thò mặt ra nữa.
    – Cảm ơn - Theresa lẩm bẩm.. Trước vẻ bối rối và ngượng ngập của cô, Raoul cố kéo cô vào câu chuyện.
    – Tôi chưa từng tới Eze. Một thị trấn xinh đẹp đấy.
    – Dạ. - Theresa ấp úng.:
    – Cô sinh ra ở đây?
    – Vâng.
    – Cô có yêu nó không?
    – Có Theresa cầm gói vải, chạy biến đi.
    Hôm sau, cô tìm được lý do để trở lại cửa hàng. Cô đã thức tới nửa đêm để chuẩn bị những câu chuyện cô sắp nói với Raoul.
    Tôi rất mừng vì anh thích Eze...
    Tu viện này có từ thế kỷ Mười bốn, anh biết không?
    Anh đã bao giờ tới Saint-Paulđe-Vence chưa? ở đó có một nhà thờ đáng yêu...
    Tôi rất thích Monte Carlo, anh thấy thế nào?
    Thật tuyệt vời khi được ở đó. Thỉnh thoảng em gái tôi và tôi lái xe xuống Granđe Corniche và đi nhà hát Fort Antoine. Anh có biết cái nhà hát ấy không?
    Đó là nhà hát ngoài trời...
    Anh có biết Nice một thời được gọi là Nikaia? Ồ, anh không biết? Đúng thế đấy. Trước đây, những người Hy Lạp đã từng ở đó. Nice có một bảo tàng hài cốt những người thượng cổ sống cách đây ba ngàn năm, điều đó thú vị nhỉ?
    Theresa tự trang bị hàng chục câu chuyện mào đầu. Thật không may, khoảnh khắc cô bước vào cửa hiệu và nhìn thấy Raoul, mọi thứ vụt bay hết. Cô chỉ đứng chôn chân nhìn anh, không nói được lời nào.
    – Chào, - Raoul vui vẻ nói. - Thật vui được gặp lại cô, cô DeFosse.
    – Cảm ơn, - cô thấy mình thật ngốc nghếch. Mình ba mươi tuổi rồi đấy, cô nghĩ thầm, thế mà mình lại đang hành động như ở tuổi học trò. Dừng lại ngay.
    Nhưng cô không thể dừng lại được.
    – Hôm nay tôi có thể giúp gì cho cô?
    – Tôi cần... cần thêm muslin.
    Cái thứ cuối cùng cô cần đến.
    Cô nhìn Raoul khi anh đi lấy cuộn vải, khi anh đặt cuộn vải lên quầy và trải ra đo.
    – Cô cần bao nhiêu?
    – Anh đã có gia đình chưa? - Cô định nói hai mét nhưng lại bật ra câu này.
    Anh ngẩng lên nhìn cô với nụ cười nồng hậu trên khuôn mặt.
    – Chưa, tôi chưa được làm kẻ may mắn đó. Anh đáp.
    Anh sắp sửa thôi, Theresa nghĩ, ngay khi Monique từParis trở về.
    Monique sẽ yêu thích người đàn ông này. Họ thật hoàn hảo cho nhau. Cứ nghĩ tới phản ứng của Monique khi gặp Raoul, Theresa tràn đầy vui sướng. Có.
    một cậu em rể như Raoul Givradot cũng thật thú vị.
    Hôm sau, khi Theresa đi qua cửa hiệu, Raoul nhìn thấy bóng cô vội vàng chạy ra.
    – Xin chào cô. Tôi sắp được nghỉ. Nếu cô rỗi, mong cô bằng lòng dùng trà cùng tôi.
    – Tôi... tôi... vâng, cảm ơn anh.
    Theresa như cứng lưỡi trước anh, còn Raoul thì làm mọi thứ có thể để cô được tự nhiên, thoải mái và liền sau đó, Theresa thấy mình đang nói với con người lạ này những điều mà cô chẳngbao giờ nói với ai - về sự cô đơn.
    – Đám đông có thể càng làm người ta cô đơn hơn. - Theresa nói. - Tôi luôn cảm thấy mình như một ốc đảo trong biển người.
    – Tôi hiểu, - anh cười.
    – Ồ, nhưng chắc anh phải có nhiều bạn lắm.
    – Chỉ quen biết thôi. Suy cho cùng, có ai thật sự là nhiều bạn đâu.
    Dường như cô đang nói chuyện với bóng hình mình trong gương.
    Một giờ đồng hồ qua đi rất nhanh, đã đến lúc Raoul phải trở về với công việc.
    – Cô có vui lòng dùng bữa trưa ngày mai cùng tôi? - Khi họ đứng dậy, Raoul hỏi.
    Anh ta tốt bụng, tất nhiên là vậy. Theresa biết rằng chẳng người đàn ông nào có thể cảm thấy cô hấp dẫn, đặc biệt một chàng trai hào hoa phong nhã như Raoul Givradot. Cô tin rằng anh tốt với tất cả mọi người.
    – Tôi rất vui lòng. - Theresa nói.
    Hôm sau, khi cô tới, Raoul vui như trẻ con.
    – Tôi được nghỉ cả buổi chiều. Nếu cô không quá bận, sao ta không phóng xuống Nice nhỉ?
    Họ lao xe theo con đường dốc dọc Moyenne Corniche. Thành phố trải ra như một tấm thảm diệu kỳ phía dưới họ. Theresa dựa vào ghế, nghĩ Mình chưa từng được hạnh phúc như thế này. Rồi cô thấy như có lỗi. Mình đang hạnh phúc thay cho Moniquẹ. Từ Paris, Momque sẽ trở về vào ngày hôm sau và Raoul sẽ là món quà Theresa dâng cho em gái mình. Cô cũng đủ thực tế để biết rằng những Raoul này sinh ra trên đời không phải dành cho mình. Cô đã đón nhận đủ đau đớn trong đời và từ lâu đã biết cái gì là có và cái gì là không thể. Người đàn ông đẹp trai đang ngồi bên cô là một giấc mơ mà cô không được phép mơ tới.
    Họ ăn trưa ở Le Chanteler, trong khách sạn Negresco tại Nice. Đó là một bữa ăn tuyệt vời, nhưng sau đó thì Theresa không nhớ nổi mình đã ăn những gì Hình như cô và Raoul không hề dừng cuộc chuyện trò Họ có rất nhiều thứ để giãi bày với nhau. Raoul dí dỏm, duyên dáng, và tự nhiên. Anh thấy cô quyến rũ. Thật sự quyến rũ. Anh hỏi cô nhiều điều và chăm chú nghe cô bày tỏ. Họ đồng nhất hầu hết về mọi chuyện, cứ như họ đã là bạn tâm tình của nhau hàng năm nay. Nếu Theresa có chút hối tiếc nào về điều gì sắp đến, cô kiên quyết gạt ngay nó ra khỏi đầu.
    – Anh có vui lòng tới dùng bữa tối với chúng tôi vào ngày mai không? Em gái tôi sẽ từ Paris trở về. Tôi muốn anh biết cô ấy.
    – Tôi rất sung sướng, Theresa.
    Hôm sau, khi Monique trở về, Theresa không thể kìm được câu hỏi:
    – Em đã tìm được chàng trai nào thú vị ở Paris chưa? - Rồi cô nín thở chờ câu trả lời.
    – Lại vẫn những người nhạt nhẽo ấy, - Momque đáp. Vậy là Chúa đã định.
    – Chị dã mời một người tới dự bữa tối nay. Chị nghĩ em sẽ thích anh ta. - Theresa nói.
    Mình sẽ không bao giờ để cho ai biết mình thích anh ấy như thế nào. Theresa nghĩ.
    Đúng bảy giờ ba mươi tối hôm đó, người quản gia đưa Raoul Givradot vào phòng khách, nơi mà Theresa, Monique và cha mẹ họ đang chờ đợi.
    – Đây là mẹ tôi và cha tôi, thưa ngài Raoul Givradot.
    – Xin chào ông bà.
    – Và em gái tôi, Monique. - Theresa hít sâu một hơi.
    – Xin chào ông. - Biểu hiện của Monique là lịch sự, không có gì hơn.
    Theresa nhìn Raoul, hy vọng anh ta bị choáng váng trước vẻ đẹp của Monique.
    – Rất hân hạnh! - Chỉ là vẻ lịch sự.
    Theresa nín thở đợi những ánh mắt mà cô nghĩ và tin là sẽ bay qua bay lại giữa hai người. Nhưng Raoul đang nhìn Theresa.
    – Đêm nay cô trông đáng yêu làm sao, Theresa.
    – Cảm... cảm ơn. - Cô đỏ mặt nói lắp bắp.
    Mọi sự tối hôm đó đều đảo lộn. Ý định đưa Monique và Raoul đến với nhau, để được xem họ cưới nhau, để có một cậu em rể như Raoul - thậm chí không có cả dấu hiệu nảy nở. Khó mà tin là mọi chú ý của Raoul lại chỉ dành cho Theresa. Nó như một điều kỳ diệu trong mơ đang biến thành sự thực. Cô thấy mình là Cinderella, cô gái xấu xí mà hoàng tử đã chọn để cầu hôn. Điều đó không thực, nhưng lại đang xảy ra, mà Theresa thấy mình đang cố sức chống lại. Cô thật sự muốn chống lại Raoul và sự quyến rũ của anh, bởi cô hiểu điều đó tốt đẹp quá mức, đến phi lý và cô hoảng sợ ngỡ như sự đau đớn lại xảy ra lần nữa. Suốt những năm qua cô đã giấu kín tình cảm của mình, bảo vệ mình khỏi nỗi đau đớn đến tột cùng vì sự chối bỏ. Giờ đây, theo bản năng, cô lại cố sức làm điều đó.
    – Tôi đã nghe con gái ông bà hát, - Raoul nói, thật vô cùng kỳ diệu.
    Theresa thấy mặt mình nóng bừng.
    – Mọi người đều ca ngợi giọng hát của chị ấy. - Monique ngọt ngào nói.
    – Đó là một buổi tối kỳ ảo, và đỉnh điểm của nó rồi cũng phải đến.
    Khi đồ tráng miệng đã được mang đi, Raoul nói với cha mẹ Theresa:
    .
    – Khu nhà của ông bà trông thật đáng yêu, - rồi anh quay sang Theresa. - xin phép được cô đưa đi thăm vườn.
    Theresa nhìn qua Monique, cố gắng tìm một biểu hiện tình cảm nào đó trên mặt em gái nhưng Monique lại tỏ ra hết sức thờ ơ.
    Chắc nó bị mù, bị câm, bị điếc. Theresa nghĩ bụng.
    Thế rồi cô nhớ lại những chuyến Monique tới Paris, tới Cannes hay St. Tropez để tìm một hoàng tử hoàn mỹ cho mình nhưng chẳng lần nào gặp được.
    Vậy thì đó không phải lỗi của đàn ông, mà là lỗi của em gái mình. Nó đã không hiểu được chính nó cần gì.
    – Tôi sẵn lòng. - Theresa quay sang Raoul.
    Ra ngoài rồi, cô vẫn không quên “mơ ước” của mình.
    – Anh có thích Monique không?
    – Cô ấy có vẻ rất đẹp, - Raoul đáp, hãy hỏi tôi thích chị của cô ấy thế nào?
    Rồi anh ôm và hôn cô.
    Cảm giác đó Theresa chưa một lần có được. Cô run rẩy trong vòng tay anh.
    Cảm ơn Chúa, xin cảm tạ Người.
    – Tối mai em đi ăn với anh nhé? - Raoul hỏi.
    – Vâng. - Theresa thở hổn hển. - Ồ, vâng.
    Khi còn có hai chị em, Monique nói:
    – Anh ta hình như thật sự thích chị.
    – Chị cũng nghĩ thế, - Theresa xấu hổ nói.
    – Chị cũng thích anh ấy à?
    – Ừ.
    – Ồ, hãy cẩn thận, bà chị lớn! - Monique cười to. - Đừng để chuyện ấy chui vào đầu chị.
    Quá muộn rồi, Theresa nghĩ bụng. Quá muộn rồi.
    Sau đó, ngày nào Theresa và Raoul cũng ở bên nhau.
    Monique thường đi cùng với họ. Ba người tới những khu dạo chơi, tới các bãi biển ở Nice và vui đùa ở những khách sạn làm bánh cưới. Họ ăn trưa tại một tiệm nhỏ rất hấp dẫn ở Cap d Antibes, đi thăm nhà thờ Matsise ở Vence.
    Họ ăn tối ở lâu đài Chèvre d Or (Dê Vàng) và nhà hàng Thánh Michel nổi tiếng. Có hôm, từ năm giờ sáng cả ba đã cùng tới khu chợ ngoài trời của nông dân, họp kín các đường phố Monte Carlo, mua bánh mì mới, rau và hoa quả.
    Những ngày chủ nhật, khi Theresa hát trong nhà thờ, Raoul và Monique thường có mặt Ở đó để nghe và sau đó anh thường xiết chặt Theresa và nói:
    – Em đúng là một phép lạ. Anh có thể nghe em hát suốt đời Bốn tuần sau cuộc gặp đầu tiên, Raoul cầu hôn Theresa.
    – Anh tin rằng em có thể có bất kỳ người đàn ông nào em muốn, - Raoul nói, nhưng anh sẽ rất sung sướng nếu được em chọn.
    Trong một khoảnh khắc khủng khiếp, Theresa nghĩ rằng anh ta đang nhạo báng mình, nhưng trước khi cô kịp nói ra ý nghĩ đó, anh lại tiếp tục – Em yêu, anh phải nói với em rằng anh chưa được biết nhiều phụ nữ, nhưng em là người tế nhị nhất, tài năng nhất, tình cảm nhất...
    Mỗi từ như một nốt nhạc bên tai Theresa. Cô muốn cười vang lên. Cô muốn hét to lên. Tôi hạnh phúc biết bao, cô nghĩ, yêu và đượcyêu..
    – Em sẽ lấy anh nhé?
    Ánh mắt cô đủ nói lên câu trả lời.
    Khi Raoul đi rồi, Theresa chạy như bay vào thư viện, nơi em cô, mẹ cô và cha cô đang ngồi uống cà phê.
    – Raoul vừa cầu hôn với con, Mặt cô đỏ bừng và hầu như có một vẻ đẹp xuất hiện ở cô Cha mẹ cô như sững ra. Họ có vẻ choáng váng. Chính Monique lên tiếng trước:
    – Theresa, chị có chắc là anh ấy không quan tâm tới tiền của gia đình ta không?
    Câu nói như một cái tát vào mặt cô.
    – Em không định ác ý như thế. - Monique tiếp tục. - Nhưng mọi điều hình như đến quá nhanh.
    Theresa quyết định không để bất cứ điều gì cản trở niềm hạnh phúc của mình.
    – Chị biết em muốn bảo vệ chị, - cô nói – Nhưng Raoul có tiền. Ông bố có để lại cho anh ấy một gia sản nhỏ. Hơn nữa, anh ấy không ngại phải làm lụng để kiếm sống. Cô cầm tay em gái trong tay mình, vẻ tội nghiệp. - Nào, xin em hãy mừng cho chị, Monique. Chị chưa từng nghĩ là sẽ được biết đến cảm giác này.
    Chị hạnh phúc đến có thể chết được.
    Thế rồi cả nhà ôm lấy cô và nói họ mừng cho cô biết bao, rồi họ bắt đầu hào hứng bàn về những dự tính cho lễ cưới Sớm tinh mơ hôm sau Theresa tới nhà thờ, quỳ xuống cầu nguyện.
    Cảm tạ Người, Cha của con. Cảm tạ Người đã cho con niềm hạnh phúc dường ấy. Con sẽ làm mọi điều để xứng đáng với tình yêu của Người và của Raoul. Amen.
    Theresa bước vào hàng bách hóa, đôi chân chơi vơi trên mặt đất, và nói:
    – Nếu ngài bằng lòng, tôi sẽ đặt mua một ít vải để may váy cưới.
    Raoul cười vang ôm lấy cô trong tay.
    – Em sắp là một cô dâu tuyệt đẹp rồi.
    Và Theresa hiểu anh định nói gì. Đó là phép mầu nhiệm.
    Đám cưới được dự định tổ chức sau đó một tháng tại nhà thờ làng. Tất nhiên Monique sẽ là người phù dâu.
    Năm giờ chiều thứ sáu, Theresa nói chuyện lần cuối cùng với Raoul. Mười hai giờ ba mươi ngày thứ bảy, khi cô đang đứng trong phòng làm lễ của nhà thờ đợi chú rể - lúc đó đã chậm ba mươi phút - thì linh mục đến cầm tay kéo cô sang một bên. Theresa ngạc nhiên trước sự xúc động của ông. Tim cô đập mạnh.
    – Làm sao vậy, cha? Có chuyện gì? Có chuyện gì xảy ra với Raoul?
    – Ôi, con của ta, - linh mục nói, - Theresa yêu quý, tội nghiệp của cha.
    – Gì thế, cha? Nói cho con đi? - Cô bắt đầu hoảng sợ.
    – Cha, cha vừa mới nhận được tin đây thôi. Raoul...
    – Tai nạn? Anh ấy có sao không? - Cô gần như hét lên.
    –... đã rời thị trấn sớm hôm nay.
    – Anh ấy làm sao? Chắc có chuyện gì khẩn cấp khiến anh ấy phải...
    – Anh ta đã cùng... em gái con. Mọi người thấy họ lên chuyến tàu đi Paris.
    Căn phòng xoay tít. Không. Theresa nghĩ. Mình không được ngất đi, mình không được tỏ ra bối rối trước Chúa.
    Cô chỉ còn nhớ lờ mờ về những gì xảy ra sau đó. Từ xa xôi vọng đến bên cô tiếng linh mục tuyên bố gì đó về lễ cưới, và loáng thoáng nghe thấy tiếng ồn ào trong nhà thờ:
    Mẹ Theresa ôm cô con gái, nói:
    – Theresa tội nghiệp của mẹ. Em gái con độc ác quá. Mẹ rất đau lòng.
    Nhưng Theresa lại bỗng tỉnh táo. Cô biết làm sao để mọi việc trở nên bình thường.
    – Đừng buồn mẹ ạ. Con không trách Raoul đã phải lòng Monique đâu. Người đàn ông nào cũng vậy thôi. Đáng ra con phải biết không có người đàn ông nào lại yêu được con.
    – Con nói sai rồi. - Cha cô kêu lên. - Con đáng giá bằng mười Monique.
    Nhưng sự so sánh của người cha đã quá muộn màng.
    – Con muốn về nhà.
    Họ đi qua đám đông. Khách khứa trong nhà thờ rẽ sang hai bên nhường lối, lặng lẽ nhìn theo.
    Khi về tới lâu đài, Theresa khẽ nói:
    – Xin đừng lo cho con. Con hứa với bố mẹ rằng mọi việc sẽ tốt đẹp Rồi cô lên phòng cha lấy ra một lười dao cạo và cứa vào hai cổ tay.
    o O o
    Khi Theresa mở mắt, bác sĩ riêng và linh mục của làng đang đứng bên giường cô.
    – Không - Cô hét lên - Tôi không muốn trở lại Hãy để tôi chết. Để cho tôi chết!
    – Tự sát là một trọng tội. Chúa đã cho con cuộc sống, Theresa. Chỉ Người mới có thể quyết định khi nào nó kết thúc. Con còn trẻ. Còn cả cuộc đời phía trước. - Linh mục nói.
    – Để làm gì? - Theresa thổn thức. Để chịu đựng hơn nữa? Tôi đã không thể chịu nổi nỗi đau đang phải chịu. Tôi không thể chịu được!
    Giêsu đã chịu đựng nỗi đau và đã chết cho tất cả chúng ta. Đừng quay lưng lại với Người. - Ông nhẹ nhàng nói.
    Bác sĩ đã khám xong cho cô.
    Cô cần nghỉ ngơi. Tôi đã nói với bà nhà cho cô ăn kiêng nhẹ một thời gian, - ông chỉ tay vào cô, - nhưng không có món dao cạo đâu đấy.
    Sáng hôm sau Theresa lê ra khỏi giường. Khi cô đi vào phòng khách, mẹ cô nói vẻ cảnh giác:
    – Con dậy làm gì thế Bác sĩ bảo...
    – Con phải vào nhà thờ. Con cần nới chuyện với Chúa. - Theresa đáp giọng khàn khàn.
    – Mẹ sẽ đi với con. - Mẹ cô lưỡng lự.
    – Không, con phải đi một mình.
    – Nhưng...
    – Để cho con nó đi. - Cha cô gật đầu.
    Họ nhìn theo cái bóng không hồn chệnh choạng ra khỏi nhà.
    – Điều gì sẽ đến với con bé nữa nhỉ? - Mẹ Theresa thì thầm.
    – Có trời mà biết.
    Cô bước vào nhà thờ quen thuộc, tiến đến trước điện và quỳ xuống:
    – Ta đến nhà Người để nói với Người vài điều, hỡi Chúa? Ta khinh bỉ Người vì Người đã sinh ra em ta được xinh đẹp Ta khinh bỉ Người vì Người đã sinh ra ta xấu xí. Ta khinh bỉ Người vì đã để cho em ta mang đi người đàn ông duy nhất mà ta yêu quý. Ta phỉ nhổ vào Người.
    Những câu cuối cô nói to tới mức mọi người xung quanh quay cả sang nhìn.
    Cô đứng dậy và xiêu vẹo ra khỏi nhà thờ.
    Theresa không bao giờ tin rằng lại có một nỗi đau đớn đến thế. Đau đớn đến không thể chịu nổi, đến không thể nghĩ về một điều gì khác, khiến cô mất ăn mất ngủ. Ký ức luôn hiện rõ trong trí óc cô, giống như các cảnh trong một cuốn phim.
    Cô nhớ lại ngày cùng Raoul và Monique đi dạo dọc bãi biển ở Nice..
    – Trời hôm nay bơi thì tuyệt. – Raoul nói.
    – Em cũng muốn thế, nhưng không thể được. - Theresa không biết bơi. - Em sẽ không phiền lòng nếu hai người xuống bơi. Em đợi ở khách sạn nhé.
    Và cô đã sung sướng khi thấy Raoul cùng Monique bắt thân nhau dễ dàng thế.
    Họ ăn trưa tại một quán trọ gần Cagne. Người hầu bàn nói:
    – Món tôm hùm hôm nay đặc biệt ngon.
    – Em sẽ ăn món này. à Monique nói. - Theresa tội nghiệp không thể ăn được, tôm cua sẽ làm chị ấy ho rũ rượi.
    Ở St. Tropez:
    – Anh nhớ cưỡi ngựa quá. Ở nhà thì sáng nào anh cũng đi ngựa. Em có muốn đi với anh không, Theresa?
    – Em... Em sợ không được, Raoul.
    – Em sẵn lòng đi cùng anh, - Monique nói:
    – Em cũng thích cưỡi ngựa.
    Thế là họ đi suốt buổi sáng.
    Có hàng trăm bằng chứng, nhưng cô đã quên hết cả. Cô bị mù lòa, bởi cô muốn thế. Những ánh mắt mà Raoul và Monique trao cho nhau, những đụng chạm vô tình, những tiếng thì thầm và những chuỗi cười.
    Sao mình lại ngu ngốc đến thế nhỉ?
    Đêm đến, khi Theresa cố chợp được mắt thì lại nằm mơ. Nhưng giấc mơ luôn khác nhau, nhưng cũng luôn giống nhau. , Raoul và Monique đang làm tình trên sàn, trần truồng. Và con tàu đang chạy qua chiếc cầu nhỏ bắc ngang hẻm núi. Chiếc cầu bỗng dưng sập xuống và tất cả, con người lẫn con tàu, đều lao xuống vực thẳm.
    Raoul và Monique đang tại phòng khách sạn, trần truồng trên giường. Raoul ném mẩu thuốc lá hút dở xuống đất và căn phòng nổ tung, lửa trườn lên và thui cháy cả hai người, tiếng gào của họ làm Theresa tỉnh giấc.
    Từ một đỉnh núi, Raoul và Monique ngã xuống dòng sông, hay chết trong một tai nạn máy bay.
    Những giấc mơ luôn khác nhau.
    Những giấc mơ luôn giống nhau.
    Cha mẹ Theresa hết sức lo ngại. Họ nhìn con gái ngày càng tiều tụy, nhưng không biết làm gì để giúp cô.
    Đột nhiên Theresa bắt đầu ăn. Cô ăn luôn mồm. Dường như lúc nào cũng thấy đói. Cô lấy lại được trọng lượng và tiếp tục tăng cân, cho tới khi da dẻ cô hồng hào.
    Khi cha mẹ thử nói với cô về nỗi đau lòng, cô bảo:
    – Con bây giờ khỏe rồi. Đừng lo cho con.
    Theresa lại tiếp tục cuộc sống như chẳng có gì xảy ra. Cô vào phố, đến các cửa hiệu và làm những việc thường làm. Tối tối cô ăn cùng cha mẹ, rồi đọc sách, thêu thùa. Cô đã xây quanh mình một pháo đài vững chắc và khẳng định sẽ không ai có thể chọc thủng nó. Không người đàn ông nào còn dám nhìn mình nữa. Không bao giờ nữa.
    Bề ngoài, Theresa có vẻ vui. Bên trong cô đắm chìm trong sâu thẳm cô đơn, tuyệt vọng. Ngay cả khi có mọi người ở xung quanh cô vẫn một mình ngồi trong chiếc ghế cô đơn, trong căn phòng cô đơn, trong ngôi nhà cô đơn và trong thế giới cô đơn.
    Khoảng một năm sau, cha cô đi Avila.
    – Cha có vài việc phải giải quyết ở đó, - ông nói với Theresa. - Xong là cha sẽ rỗi rãi, sao con không đi với cha. Avila là một thị trấn rất hấp dẫn. Nó sẽ làm con vui vẻ. Hãy lánh xa nơi này một thời gian.
    – Không, cảm ơn cha.
    – Thôi được, - ông nhìn bà vợ thở dài.
    Người quản gia từ ngoài đi vào phòng khách.
    – Xin lỗi, cô DeFosse. Bức thư này gửi cho cô, nó vừa tới.
    Dù chưa bóc thư, Theresa đã ngập tràn phỏng đoán về một điều kinh khủng đang chập chờn quanh nó.
    Bức thư viết:
    Theresa, người yêu dấu của anh, Chúa biết anh không có quyền được gọi em là người yêu sau cái điều kinh khủng anh đã làm, nhưng anh xin hứa sẽ bù đắp lại cho em, dù có phải trả bằng cả cuộc đời Anh không biết bắt đầu từ đâu.
    Monique đã bỏ đi, để lại đứa con gái hai tháng tuổi. Nói thật ra, anh cảm thấy nhẹ người. Anh phải thú nhận rằng đã phải sống trong địa ngục kể từ ngày rời bỏ em. Anh sẽ không bao giờ hiểu được tại sao mình lại làm điều đó. Dường như anh đã bị bắt đi, bởi một loại bùa mê huyền bí của Monique, nhưng anh biết ngay từ đầu riêng việc anh cưới cô ấy là một sai lầm khủng khiếp. Chính em mới là người anh hằng yêu dấu. Giờ đây anh hiểu rằng chỉ một nơi duy nhất anh có thể tìm được hạnh phúc là ở bên em. Khi em nhận được bức thư này cũng là lúc anh đang trên đường trở về với em.
    Anh yêu em và anh vẫn hằng yêu em, Theresa. Vì cuộc sống còn lại của chúng ta, anh cầu xin em tha thứ. Anh muốn...
    Theresa không thể đọc hết được bức thư. Cái ý nghĩ gặp lại Raoul và đứa con của anh ta với Monique thật ghê tởm, không thể chịu nổi.
    Cô quẳng lá thư xuống đất, điên cuồng.
    – Tôi phải đi ngay khỏi đây, - Theresa hét lên, - ngay tối nay, ngay bây giờ, nào, đi nào!
    Cha mẹ cô không thể làm cô bình tĩnh trở lại.
    – Nếu Raoul tới đây, - cha cô nói, - thì ít nhất con cũng nên nói chuyện với nó.
    – Không? Nếu thấy hắn, con sẽ giết hắn. - Cô giật tay cha, nước mắt tuôn trào xuống khuôn mặt, nài nỉ. - Cho con đi với cha. Con sẽ đi bất kỳ nơi nào đủ xa để trốn thoát khỏi Raoul.
    – Vì thế, ngay tối hôm đó, Theresa theo cha lên đường đi Avila:
    Cha Theresa như quẫn trí trước sự bất hạnh của con gái mình. Ông không phải người dễ đồng cảm, nhưng một năm qua, bằng sự can đảm của mình, Theresa đã giành được ở ông sự cảm phục. Cô ngẩng cao đầu, đối mặt với dân thị trấn, và không một lời phàn nàn. Ông không thể làm gì để an ủi cô. Khi tới Avila, ông nhớ một thời cô dã tìm thấy sự khuây khỏa trong nhà thờ, bèn hỏi:
    – Cha Benendo, linh mục ở đây, là một bạn cũ của cha. Có thể ông ấy sẽ giúp được con. Con gặp ông ấy chứ?
    – Không, con không có việc gì phải làm với Chúa. Theresa ở khách sạn một mình trong khi cha cô lo việc làm ăn. Khi ông quay lại, cô vẫn trong chiếc ghế ấy, nhìn chằm chằm vào bức tường.
    – Theresa, con hãy đến với cha Berrendơ đi.
    – Không ạ.
    Ông lúng túng không biết làm sao. Cô từ chối rời khỏi phòng khách sạn, từ chối quay về Eze.
    Vào phút cuối, linh mục tới thăm Theresa.
    – Cha con nói rằng có một thời con đã đi lễ đều đặn.
    Theresa nhìn vào cặp mắt của vị linh mục ốm yếu và lạnh lùng nói:
    – Tôi không còn thích nữa. Giáo hội chẳng có gì dành cho tôi hết.
    Cha Berrendo mỉm cười:
    – Giáo hội có vài thứ để dành cho mọi người, con của ta. Giáo hội dành cho chúng ta hy vọng và ước mơ.
    – Tôi đã chán ngấy mơ ước rồi.
    Ông nắm tay cô trong đôi tay gầy guộc của mình, nhìn thấy những vết sẹo trắng to trên hai cổ tay cô, mờ nhạt như một ý ức xa xưa vậy.
    – Chúa không tin như thế. Hãy nói chuyện với Người và Người sẽ chỉ bảo con.
    Theresa ngồi yên, mắt dán vào tường và cuối cùng, khi linh mục miễn cưỡng ra khỏi căn phòng, thậm chí cô cũng không biết.
    Sáng hôm sau, khi Theresa bước chân vào nhà thờ mái vòm lành lạnh, cái cảm giác bình lặng gần gũi từ xưa bỗng trùm lên cô. Lần cuối, cô đã đến nhà thờ để nguyền rủa Chúa. Một cảm giác hổ thẹn sâu kín dâng lên. Chính là sự yếu mềm trong cô đã phản bội cô, chứ không phải Chúa.
    Hãy tha thứ cho con, - cô thì thầm. - Con đã mắc tội. Con đã sống trong sự căm thù. Hãy giúp con. Xin hãy giúp con. Cô nhìn lên và thấy cha Berrenđo đang đứng đó Khi cô cầu nguyện xong, ông đưa cô vào phòng mình ở phía sau phòng làm lễ.
    – Con không biết phải làm gì, thưa cha. Con không tin vào bất cứ điều gì nữa. Con đã mất đức tin, - giọng cô dồn nén đầy tuyệt vọng.
    – Thế khi còn là một cô bé, con có đức tin không?
    – Có, rất nhiều.
    – Vậy thì con vẫn có, còn của cha. Đức tin là thực và vĩnh hằng. Mọi điều khác chỉ là tạm thời.
    Hôm đó, họ nói chuyện hàng giờ.
    Tới quá chiều, khi Theresa trở về, cha cô nói:
    – Cha phải quay về Eze. Con đã sẵn sàng chưa?
    – Không, thưa cha. Hãy cho con ở lại đây một thời gian.
    – Con sẽ thấy thoải mái chứ? - Cha cô ngập ngừng.
    – Vâng, thưa cha. Con xin hứa.
    Từ đó, ngày nào Theresa và cha Berrendo cũng gặp nhau. Trái tim linh mục hết sức thông cảm với Theresa. Ông thấy cô không phải là một người đàn bà kém hấp dẫn mà chỉ thấy đây là một tinh thần bất hạnh và đẹp đẽ.
    Họ nói về Chúa, về tạo hóa, về ý nghĩa của cuộc sống mà cô hầu như không nhận biết được. Theresa bắt đầu bình thường trở lại Một hôm, cha Berrendo nói với cô:
    Cái điều mà cha đã nhận được sự đáp lại sâu sắc trong con người cô:
    – Con của ta, nếu con không còn tin ở thế giới này nữa, thì con hãy tin vào thế giới tiếp theo. Tin vào thế giới mà Giêsu đang đợi để tiếp nhận con.
    Lần đầu tiên kể từ ngày được ấn định là ngày cưới của mình, Theresa bắt đầu cảm thấy thanh thản trở lại Nhà thờ đã trở thành thiên đường của cô, như chính nó đã từng như vậy. Nhưng cô còn nghĩ về tương lai của mình nữa.
    – Con không có nơi nào để ra đi.
    – Con có thể trở về nhà.
    – Không. Con sẽ không bao giờ trở lại đó được nữa. Con không thể giáp mặt Raoul. Con không biết làm gì. Con muốn chạy trốn, nhưng không có chỗ nào để mà trốn!
    Cha Berlendo im lặng một lúc lâu. Cuối cùng ông nói:
    – Con có thể ở lại đây.
    Cô nhìn quanh phòng khách sạn, bối rối.
    – Ở đây ấy à?
    – Tu viện dòng Cistercian ở cạnh đây. - Ông nhướng người. - Để cha nói cho con biết. Đó là một thế giới bên trong thế giới, nơi mọi người được hiến dâng cho Chúa. Tim Theresa đập rộn.
    – Nghe... thật tuyệt.
    – Cha phải nói trước với con rằng đó là một trong những dòng tu nghiêm khắc nhất thế giới. Những người được nhận vào phải thề giữ nhân đức, im lặng và ngoan ngoãn. Không có kẻ nào vào đó rồi lại ra.
    Nhũng lời đó của cha khiến Theresa run rẩy.
    – Con sẽ không bao giờ rời xa nó. Đó chính là nơi con đã cố công tìm kiếm, thưa cha:
    Con khinh bỉ cái thế giới con đang tồn tại.
    Nhưng cha Berrendo vẫn không hết lo lắng. Ông biết Theresa sẽ phải đối mặt với một cuộc sống khác biệt hoàn toàn những điều cô đã trải qua.
    – Sẽ không có đường trở lại, con ạ.
    – Con sẽ không bao giờ trở lại.
    Sớm hôm sau, cha Berrendo dẫn Theresa tới gặp mẹ Bentina. Ông để hai người nói chuyện.
    Khoảnh khắc Theresa bước vào tu viện, cô đã hiểu ra. Kết cuộc, cô hả hê nghĩ, kết cuộc...
    Sau cuộc gặp gỡ này, Theresa háo hức gọi điện về cho cha mẹ.
    – Mẹ đang rất lo. - Mẹ cô nói. - Khi nào con trở về nhà?
    – Con đang ở nhà đây, thưa mẹ.
    Ông giám mục Avila làm lễ.
    – Lạy Chúa, đấng tạo hóa, xin Người chúc phước trên cô dâu này để cô được phục sức bởi đạo đức Thiên thượng, cầu cho cô gái được đức tin trọn vẹn và sự trung tín không suy suyễn.
    Theresa đáp lại:
    – Con xin từ bỏ nước ở thế gian này và tất cả mọi sự quyến rũ của nó vì tình yêu thương của Chúa - Đức Giêsu Kitô.
    Tôi xin gả người này cho Chúa Giêsu Kitô, con trai của Cha tối cao, xin được nhận dấu ấn của đức Thánh linh để người này được gọi là tân phụ của Đức Chúa trời và nếu người này phụng sự Chúa trung tín thì sẽ được đội mũ Triều thiên đời đời. Hỡi Người đã chiếu cố lựa chọn người này trong sự tương giao vợ chồng như bà Maria đã được phước, mẹ của Chúa Giêsu Kitô... ở trước ngôi nhà của Đức Chúa trời và trước mặt các thiên sứ.. Con hãy kiên nhẫn gìn giữ cho ý chí của Người, cho tình yêu, lòng bác ái và con có thể xứng đáng được nhận mũ Triều thiên của phước hạnh giống như Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
    Cầu xin Chúa phục sức cho con khi con ngã lòng, làm cho con được mạnh mẽ khi con mềm yếu, cho con được bình yên và sự cái trị tâm linh với lòng thương xót, sự ngay thẳng của đường lối của Người - Amen.
    Giờ đây, ba mươi, năm sau, nằm trong rừng nhìn mặt trời leo lên đường chân trời, sơ Theresa nghĩ:
    Mình đã đến tu viện với những lý do sai trái. Không phải là mình đến với Chúa mà là mình trốn chạy khỏi thế giới. Nhưng Chúa đã thấu được tim mình.
    Bà đã sáu mươi tuổi và ba mươi năm cuối của cuộc đời là cõi hạnh phúc bà được biết tới. Giờ đây bà lại bị ném trở về với cái thế giới mà bà đã trốn chạy.
    Thêm nữa, trí óc bà lại đang chơi những trò lừa đảo lạ lùng với bà.
    Bà không biết cái nào là thực cái nào là hư. Quá khứ và hiện tại lẫn lộn với nhau trong một hình ảnh kỳ ảo lạ lùng. Sao điều này lại đến với mình? chúa đã sắp xếp cho ta những gì vậy?
     
  8. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 8
    Đối với sơ Megan, chuyến đi này thật sự kỳ thú. Cô đã kịp làm quen với những cảnh sắc và âm thanh xung quanh và cái tốc độ thích nghi này đã làm cô ngạc nhiên.
    Cô tìm thấy sự hấp dẫn trong những người bạn đồng hành. Amparo Jiron là một phụ nữ dũng mãnh, dễ dàng theo kịp hai người đàn ông, song tuy vậy, cô ta cũng rất đàn bà.
    Felix Carpio, người đàn ông vạm vỡ với bộ râu biếc hồng cùng một vết sẹo, có lẽ rất tốt bụng và dễ thương.
    Nhưng đối với Megan, nhân vật mạnh mẽ nhất trong nhóm vẫn là Jaime Miro. An ta có một sức mạnh vô địch và một lòng trung thành không thể lay chuyển vào niềm tin của mình. Nó khiến Megan nghĩ tới các tu sĩ trong tu viện.
    Khi họ bắt đầu chuyến đi, Jaime, Amparo yà Fellx đều đeo những chiếc chăn túi và súng trên vai.
    – Để tôi mang đỡ một cái chăn nào, - Megan đề nghị.
    Jaime Miro nhìn cô ngạc nhiên, rồi nhún vai.
    – Được thôi, sơ.
    – Anh đưa cô một cái. Nó nặng hơn cô tưởng, nhưng cô không kêu ca, chừng nào mình đi với họ thì mình còn gánh phần của mình.
    Megandường như nghĩ rằng họ sẽ đi như vậy mãi, loạng choạng trong bóng đêm, cành cây đập, bụi rậm cào, sâu bọ tấn công và chỉ có mỗi ánh trăng soi đường.
    Những người này là ai? Megan tự hỏi. Sao họ lại bị săn đuổi? Chính bởi Megan và những tu sĩ khác cũng đang bị săn đuổi, nên Megan cảm thấy những người đồng hành này hết sức gần gũi với mình.
    Họ rất ít khi nói chuyện, chỉ thỉnh thoảng lại có cuộc trao đổi khó hiểu.
    – Đã sắp đặt mọi thứ ở Valladolid chưa?
    – Rồi, Jaime. Rubio và Tomas sẽ gặp chúng ta tại nhà băng trong khi trận đấu bò xảy ra.
    – Tốt lắm. Nhắn bảo Largo Corter đón ta. Nhưng đừng hẹn ngày cụ thể.
    – Hiểu rồi Ai là Largo Corter, là Rubio, là Tomas? Megan thắc mắc. Điều gì sẽ xảy ra ở trận đấu bò và nhà băng? Cô mở miệng định hỏi nhưng lại nghĩ mình có cảm giác họ không thích được hỏi lắm thì phải.
    Gần bình minh họ ngửi thấy mùi khói bay lên từ thung lũng phía dưới.
    – Đợi ở đây! Jaime thì thầm. - Im lặng!
    Họ nhìn theo anh đi ra bìa rừng và biến khỏi tầm mắt.
    – Cái gì thế - Megan hỏi.
    – Ngậm miệng vào.
    Mười lăm phút sau Jaime Miro trở lại.
    – Bọn lính? Ta sẽ đi vòng sau chúng.
    Họ quay lui khoảng nửa dặm, rồi thận trọng xuyên rừng cho tới khi đến con đường nhỏ. Miền đồng quê trải rộng trước mắt họ, thoảng hương thơm từ những cây rơm và quả chín.
    Megan không kìm được sự tò mò.
    – Sao bọn lính lại truy tìm các ông? - Cô hỏi.
    – Cô cứ hiểu là hai bên không nhất trí với nhau. - Jaime nói.
    Và cô phải bằng lòng với lời giải thích đó. Tạm thời thôi, cô nghĩ, cô đã quyết tâm tìm hiểu kỹ hơn con người này.
    Nửa giờ sau, khi họ tới được một khoảng trống nhưng kín đáo, Jaime nói.
    – Mặt trời lên rồi. Ta sẽ ở đây chờ đêm đến, - anh nhìn Megan. - Đêm nay chúng ta sẽ phải đi nhanh hơn.
    – Phải lắm, - cô gật đầu.
    – Sơ hãy dùng chăn của tôi. Tôi đã quen ngủ đất rồi. - Fellx Carpio nói với Megan.
    – Cái này của ông. Tôi không thể... - Megan nói.
    – Vì Chúa, - Amparo gắt lên. - Chui vào chăn đi. Bọn ta không muốn bà đánh thức chúng ta dậy chỉ vì mấy con nhện chết tiệt.
    Có một sự hằn học trong giọng nói cô ta khiến Megan không hiểu.
    Không nói lời nào, Megan chui vào chăn, tự hỏi cô ta bực cái gì nhỉ? Megan nhìn Jaime kéo cái chăn của anh ta xa khỏi chỗ cô nằm một chút, rồi chui vào.
    Amparo cũng chui vào theo à, hiểu rồi, Megan nghĩ.
    Jaime nhìn với sang Megan.
    Sơ phải ngủ lấy sức đi. Còn một chặng đường dài đấy.
    Megan bị thức giấc bởi tiếng rên rỉ. Nghe như ai đó đang trong cơn đau khủng khiếp. Cô ngồi dậy, lo lắng. Nhưng tiếng rên rỉ phát ra từ trong chăn của Jaime. Chắc anh ta đang ốm lắm. Đó là ý nghĩ đầu tiên của cô.
    Nhưng rồi Megan nghe tiếng Amparo Jiron hổn hển:
    – Ôi, phải, phải:
    Đưa nó cho em. Mạnh lên! Phải! Nào! Nào!
    Mặt Megan nóng bừng.
    Cô vội vàng làm dấu, rồi bắt đầu cầu nguyện. Tha thứ cho con, Đức Cha.
    Hãy cho ý nghĩ con chỉ ngập tràn hình ảnh Người. Hãy cho tinh thần con tìm đến Người, để nó tìm đến được cội nguồn và điều tốt đẹp trong Người.
    Và âm thanh đó vẫn tiếp tục. Cuối cùng, khi Megan nghĩ rằng cô không thể chịu đựng thêm một khoảnh khắc nào nữa, thì nó dừng lại. Nhưng lại có những tiếng động khác làm cô không chợp mắt được. Đó là tiếng rừng đêm vang khắp xung quanh cô. Âm thanh hỗn độn cảa các loài chim quyện vào nhau, tiếng choe chóe của những con thú nhỏ và tiếng gầm gừ của các loài thú lớn.
    Megan nhớ tới nhà trẻ mồ côi. Cái nhà trẻ mồ côi tuyệt vời, và khủng khiếp...
    o O o
    Họ gọi cô là “Megan kinh hoàng. ”.
    Họ gọi cô là “Megan quỷ mắt xanh”.
    Họ gọi cô là “Megan bất tử. ”.
    Cô lên mười tuổi.
    Cô đã được mang tới trại mồ côi này khi còn là đứa trẻ sơ sinh, bị bỏ rơi trên bậc cửa nhà một cặp vợ chồng nông dân, những người đang không đủ sức nuôi chính bản thân mình.
    Trại trẻ mồ côi là một tòa nhà hai tầng quét vôi trắng đơn sơ ở ngoại ô Avila, tại một khu nghèo của thành phố, cách xa quảng trường Desan Vicente. Trại này do Merceđes Angeles, một người đàn bà hộ pháp cùng bản tính dữ tợn mà nhiều khi làm cho những đứa trẻ được bảo trợ hiểu nhầm tình cảm thân mật bà dành cho chúng.
    Megan nom khác hẳn những đứa bé cùng trại, một kẻ xa lạ với mớ tóc vàng, cặp mắt xanh sáng, nổi bật so với những đứa trẻ tóc đen, mắt đen.
    Nhưng ngay ngày đầu, Megan cũng tỏ ra lạ lùng cả trong nhiều thứ khác nữa. Cô là một đứa trẻ có tính cách độc lập mạnh mẽ, một người cầm đầu, một kẻ chuyên gây rối.
    Bất cứ có chuyện gì lộn xộn trong trại thì Mercedes Angeles cũng biết ngay rằng đó là do Megan đầu têu ra.
    Suốt nhiều năm, Megan cầm đầu các cuộc đấu tranh đòi thức ăn. Cô tập hợp bọn trẻ lại thành một cộng đồng và bày ra những trò phản kháng hết sức thông minh, đủ làm đau đầu các nhà quản lý, gồm cả hàng chục vụ trốn trại. Chẳng cần phải nói, Megan trở nên gần gũi với mọi đứa trẻ. So với chúng, nới chung, cô nhỏ tuổi và nhỏ về cả vóc dáng hơn, nhưng chúng đều đến với cô, tìm sự chỉ dẫn. Cô tự nhiên trở thành kẻ cầm đầu. Còn những đứa bé hơn lại thích được nghe cô kể chuyện. Cô có một trí tưởng tượng kỳ lạ.
    – Chị Megan, bố mẹ em là ai vậy?.
    – À! Bố mày là một tên kẻ trộm vàng bạc thông minh. Nửa đêm ông ấy leo lên mái một khách sạn để lấy trộm kim cương của một nữ diễn viên nổi tiếng.
    Nhưng khi đang nhét kim cương vào túi thì cô diễn viên tỉnh dậy.
    – Thế bà ấy tóm được me à?
    – Không. Ông ấy rất đẹp trai.
    – Thế rồi sao nữa?
    – Họ phải lòng nhau, rồi lấy nhau. Thế là mày ra đời.
    – Nhưng sao họ lại đưa em vào trại mồ côi? Họ không yêu em à?
    – Đây luôn luôn là phần khó giảng giải!
    – Tất nhiên là họ yêu mày. Nhưng... ờ... họ đi trượt tuyết ở Thụy Điển và bị chết trong một vụ tuyết sụp khủng khiếp.
    – Tuyết sụp là như thế nào?
    – Là khi một đám tuyết lớn bỗng tụt xuống và chôn bố mẹ mày ở dưới đó.
    – Thế cả bố lẫn mẹ em đều chết à?
    – Chứ sao. Và những lời cuối cùng của họ là họ yêu mày. Nhưng chẳng còn ai để trông nom mày, nên mày phải vào đây.
    Megan cũng khao khát như những đứa trẻ khác muốn biết cha mẹ mình là ai.
    Đêm đêm cô thường đến với giấc ngủ bằng những câu chuyện tự bịa ra cho mình:
    Bố mình là một người lính tham gia cuộc nội chiến. Bố là một đại úy, chiến đấu rất dũng cảm. Bố bị thương trong một trận đánh và được mẹ là y tá chăm sóc Hai người lấy nhau, rồi bô trở lại mặt trận và hy sinh. Mẹ nghèo quá không nuôi nổi mình, nên phải để mình ở một nhà nông dân, và điều đó làm cho mẹ tan nát cõi lòng. Cô thường khóc một cách ngốc nghếch cho người cha dũng cảm đã chết và người mẹ, một quả phụ đáng thương..
    Hoặc, Bố mình là một người đấu bò, một trong những matadore vĩ đại. Bố nổi tiếng khắp Tây Ban Nha. Mọi người đều kính phục bố. Mẹ là một vũ nữ Flameco xinh đẹp. Họ cưới nhau, nhưng một hôm bố đã bị chết bởi một con bò to lớn, hung dữ Mẹ buộc phải từ bỏ mình.
    Hoặc, Bố mình là gián điệp cừ khôi từ một nước...
    Dòng tưởng tưởng chẳng bao giờ cạn.
    Trong trại có ba chục trẻ, từ những đứa mới sinh bị từ bỏ đến những đứa tuổi mười bốn. Hầu hết là dân Tây Ban Nha, nhưng cũng có những đứa đến từ sáu nước khác, thế nên Megan trở nên thông thạo vài thứ tiếng. Cô ngủ trong cùng phòng với hơn một chục cô bé khác. Có những cuộc nói chuyện thì thầm trong đêm về những con búp bê và quần áo. Khi các cô gái lớn lên, họ nói về giới tính. Chuyện đó nhanh chóng trở thành mục chính để trao đổi.
    – Mình rồi sẽ lấy chồng, nhưng mình sẽ không để chồng làm cái ấy đâu, mình cho rằng làm thế là xấu.
    Một đêm, vào lúc mọi người đều đã ngủ, Primo Conde, một trong những cậu bé của trại bò đến phòng các cô gái. Cậu rón rén đến bên giường cô.
    – Megan... - giọng cậu thì thào.
    – Primo? Có chuyện gì thế? - Megan tỉnh ngay.
    – Cho mình vào giường cậu với, được không? Cậu ta sụt sịt sợ hãi.
    – Được Khẽ thôi.
    Primo mười ba tuổi, bằng với Megan, nhưng nhỏ con so với tuổi và là đứa trẻ đã từng bị đánh đập tàn nhẫn. Cậu bé luôn phải chịu những cơn ác mộng và thường thức dậy giữa đêm rồi kêu thét. Những đứa trẻ khác thì ghét bỏ nhưng Megan lại luôn bảo vệ cậu.
    Primo leo lên nằm cạnh Megan và cô cảm thấy những giọt nước mắt chảy xuống má cậu. Cô ôm chặt lấy bạn trong tay.
    – Thôi, nín đi. nào, - cô thì thầm. - Nín nào.
    Tiếng sụt sịt nhỏ dần rồi tắt hẳn. Người cậu nép sát vào cô và cô cảm thấy được sự xúc động của cậu đang lớn dần.
    – Primo...
    – Mình xin lỗi. Mình... mình không thể nén được. Mình yêu bạn, Megan. Bạn là người duy nhất trên thế gian này mà mình nghĩ đến.
    – Bạn vẫn chưa được ra thế giới bên ngoài kia mà.
    – Xin bạn đừng cười.
    – Đâụ.... – Mình chẳng có ai ngoài bạn.
    – Mình biết.
    – Mình yêu bạn.
    – Mình cũng yêu cậu, Primo.
    Im lặng.
    – Xin lỗi vì đã làm phiền bạn. Mình về giường mình đây Giọng Primo đầy vẻ đau xót. Cậu ta ngồi dậy.
    – Đêm đó giấc ngủ đã không đến với Megan.
    Thỉnh thoảng, một đứa trẻ lại được gọi lên phòng quản lý để gặp cha mẹ nuôi tương lai. Đó luôn là phút giây xúc động đối với chúng, vì đó cũng có nghĩa là một cơ hội để thoát khỏi sự buồn thảm của trại mồ côi, một cơ hội để có được mái ấm thật sự và được thuộc về một người khác.
    Nhiều năm trôi qua, Megan đã thấy nhiều những đứa trẻ mồ côi được lựa chọn. Họ về nhà của những thương gia, nông dân, chủ nhà băng, chủ cửa hiệu.
    Luôn luôn chỉ là những đứa trẻ khác, chẳng bao giờ là cô Tiếng tăm của cô luôn đi trước, như một cảnh báo. Cô thường nghe những bậc cha mẹ tương lai nói chuyện với nhau.
    – Con bé nom xinh đẹp, nhưng nghe nói nó khó bảo lắm, – Có phải nó là đứa đã mang lén mười hai con chó vào trại trẻ tháng trước không?
    – Họ nói nó đầu têu những trò quái quỷ. Tôi sợ... nó không hợp với bọn trẻ ở nhà.
    Họ chẳng biết gì về những đứa trẻ khác đã yêu mến cô thế nào. Mỗi tuần cha Berrendo đến thăm bọn trẻ được bảo trợ một lần và Megan luôn mong ngóng gặp ông. Cô ham đọc sách và linh mục cùng Mercedes Angeles đều chú ý cung cấp sách cho cô. Megan có thể thổ lộ với linh mục nhiều điều mà cô không dám, hoặc không thể, nói với ai khác. Chính cha Berrendo là người mà hai vợ chồng nông dân nọ đã mang đứa trẻ sơ sinh Megan đến – Sao họ không muốn giữ con vậy?
    – Họ muốn lẳm, Megan, nhưng họ già và ốm đau luôn. Ông linh mục già nói nhỏ nhẹ.
    – Thưa cha, tại sao bố mẹ thật của con lại bỏ con ở nhà nông dân đó?
    – Cha chắc chắn là vì họ nghèo, không đủ sức nuôi con.
    Lớn lên, Megan bỗng trở nên sùng đạo. Cô bị khuấy động bởi phần trí tuệ của Thiên Chúa giáo. Cô đọc Xưng tội của Thánh Augustine, những tác phẩm của Thánh Francis, Thomas More, Thomas Merton. ,. và vô số cuốn sách khác.
    Megan tới nhà thờ đều đặn, và cô thích những nghi thức lễ Met,. lễ Ban Thánh thể, lễ trước bứa ăn. Có lẽ cô, yêu hơn cả là cảm giác thanh bình huyền diệu luôn bao toả quanh mình mỗi khi cô ở trong nhà thờ.
    – Con muốn làm một người công giáo. - Một ngày nọ Megan nói với cha Berrendo.
    Ông nắm tay cô trong tay mình, nheo nheo mắt:
    – Có lẽ con đã là người công giáo, Megan. Nhưng chúng ta sẽ làm lễ tiếp nhận con. Con có tin vào Chúa. Đấng tối cao, Người tạo ra trời và đất không?
    – Có, con tin.
    – Con có tin vào Giêsu Kitô, con trai duy nhất của Người, đã được sinh ra và chịu đựng không?
    – Có, con tin.
    – Con có tin vào linh hồn thiêng liêng, vào giáo hộI Thiên Chúa thiêng liêng, xã hội của các vị Thánh, tha thứ cho tội lỗi không?
    – Có, con rất tin.
    – Exiabea, spriritus immunde. Hãy thoát khỏi người này. Những tinh thần nhơ bẩn hãy nhường chỗ cho ý Chúa. - Ông lại thổi vào mặt cô.
    – Megan, hãy nhận lấy Chúa lòng lành qua hơi thở này và hãy nhận lấy sự phù hộ của Chúa bằng an ở bên mình.
    Mười lăm tuổi, Megan trở thành cô gái trẻ đẹp. Mớ tóc vàng mượt mà và nước da trắng khiến cô nổi bật trong đám bạn gái của mình.
    Một hôm, cô được gọ lên phòng Merceđes Anges. Cha Berrendo cũng ở đó.
    – Chào cha!
    – Chào con, Megan!
    – Đáng tiếc, ta có một việc phải nói với con, Megan. - Merceder Angeles lên tiếng.
    – Sao ạ? Cô lục lại trong óc, cố nhớ sai sót mới nhất của mình.
    – Lứa tuổi giới hạn ở đây là mười lăm, và đã tới sinh nhật lần thứ mười lăm của con. - Bà hiệu trưởng tiếp tục.
    – Tất nhiên Megan đã biết luật lệ đó, nhưng cô gạt nó ra khỏi đầu, bởi không muốn đối mặt với thực tế rằng mình chẳng có một nơi nào trên thế giới này để đến rằng chẳng có ai cần cô, rằng cô sắp bị bỏ rơi một lần nữa.
    – Con phải... con phải rời khỏi đây ạ?
    Mercedes Anges thấy khó xử nhưng cũng không có cách nào khác.
    – Ta nghĩ... phải tuân theo luật lệ thôi. Chúng ta có thể tìm một chỗ cho con làm cô hầu.
    – Megan chẳng biết nói sao.
    – Thế con muốn đi đâu? - Cha Berrendo lên tiếng.
    Suy nghĩ về điều đó, một ý nghĩ chợt đến với Megan. Đã có một nơi dành cho cô.
    Kể từ khi mười hai tuổi, Megan phải góp phần cho trại trẻ bằng việc mang hàng đến các nơi trong thị trấn, nhiều lần mang cả tới tu vlện Cistercian:
    Hàng luôn được chuyển đến Mẹ Bentina. Cô đã lén nhìn những hình ảnh các nữ tu khi họ cầu kinh hay đi đi lại lại và cô nhận thấy trong họ một cảm giác thanh bình, hầu như thoát tục. Cô ghen tỵ với niềm hân hoan dường như được toả ra từ họ.
    Với Megan, tu viện này giống như một ngôi nhà của tình thương.
    Mẹ Nhất mến cô gái trẻ trung tóc vàng này ngay, và suốt mấy năm, giữa hai người có những cuộc trao đổi dài:
    – Sao người ta lại vào tu viện? - Một lần Megan hỏi.
    – Người ta đến tu viện vì nhiều lý do, hầu hết là để dâng mình cho Chúa.
    Cũng một số đến trong tuyệt vọng, chúng ta cho họ hy vọng. Số khác đến vì thấy không còn lý do gì để sống, chúng ta chỉ cho họ rằng:
    còn Chúa! Lại có những người đến đây bởi lẽ họ đang trốn chạy. Còn những người khác thì bị đời ruồng bỏ nên họ muốn được thuộc về Chúa.
    Điều đó vang lên câu trả lời trong cô gái trẻ. Mình chưa bao giờ thực sự thuộc về ai, Megan nghĩ. Đây là một cơ hội.
    – Con nghĩ con sẽ vào tu Viện.
    Sáu tuần sau, Cô thực hiện lời thề nguyện.
    Và cuối cùng, Megan đã được sở nguyện. Đây là Mẹ, là các chị và em cô, một gia đình cô chưa hề có. Và tất cả họ chỉ là một, dưới Đức Cha của họ.
    Megan làm kế toán trong tu viện. Cô hết sức thích thú thứ ngôn ngữ bằng cử chỉ mà các bà sơ sử dụng khi cần giao tiếp với Mẹ Nhất. Có bốn trăm bảy mươi hai cử chỉ, đủ để diễn đạt với nhau mọi thứ họ cần bày tỏ. Khi đến lượt một sơ nào đó phải lau rửa các căn phòng, Mẹ Nhất Bentina đưa bàn tay phải ra phía trước và đập vào mu bàn tay kia. Nếu một tu sĩ bị sốt, người đó tới Mẹ và đập đầu ngón tay trỏ và ngón giũa bàn tay phải vào phía bên ngoài cổ tay trái.
    Nếu một yêu cầu nào đó bị trì hoãn Mẹ Nhất Bentina sẽ đưa cùi tay phải lên trước tay trái của bà và nhẹ nhàng hạ xuống:
    Ngày mai.
    Một sáng tháng Mười một, Megan được giới thiệu những lễ nghi của đám tang. Một nữ tu đang hấp hối và tiếng chuông gỗ vang lên trong điện thờ báo hiệu bắt đầu của một lễ nghi vẫn được giữ gìn nguyên vẹn từ năm 1030. Tất cả những ai có thể đáp lại tiếng gọi này đều vội đến quỳ trong phòng bệnh xá để xức dầu thơm và cầu nguyện.
    Họ thầm cầu kinh để các vị thánh giúp cho phần hồn của nữ tu sĩ được siêu thoát, để biểu thị đã đến lúc ban những lễ phước cuối cùng:
    Mẹ Trưởng tu viện chìa bàn tay trái, lòng bàn tay ngửa ra và dùng đầu ngón cái của bàn tay phải vạch lên đó một dấu thập.
    Khi đọc xong bài kinh cuối cùng, cái xác vẫn được đặt nguyên chỗ đó một giờ nừa cho linh hồn có thể lìa xa. Tại chân giường, một cây nến Phục sinh lớn, biểu tượng Thiên Chúa của nguồn sáng vĩnh cửu được thắp lên trong chiếc đế gỗ. Người y tá của tu viện lau rửa sạch xác nữ tu rồi mặc vào cho chiếc áo choàng đen quen thuộc, trùm cho chiếc mũ trắng, đi cho đôi tất xù dài và đôi đép bện lấy. Một trong số các nữ tu mang vào vòng hoa tươi, hái ngoài vườn.
    Khi liệm xong, một đoàn sáu nữ tu mang thi thể người quá cố tới nhà thờ, đặt lên chiếc bục phủ vải trắng trước bệ thờ. Không được để cái xác đó đơn côi mà hai tu sĩ phải ngồi đọc lễ cầu kính ở bên ghế của mình, còn phía bên kia xác chết, cây nến Phục sinh vẫn cháy lập loè.
    Chiều hôm sau, xong lễ cầu hồn, người chết được đưa qua điện thờ ra nghĩa địa riêng, tường bao quanh, nơi các tu sĩ ngay cả lúc đã qua đờI vẫn giữ được sự cách biệt. Các sơ, ba người một bên dùng những băng vải trắng, thận trọng hạ huyệt. Theo tập quán của dòng tu Cistercian, người chết không được che đậy gì trong lòng đất, nên chôn cất không có quan tài. Hai tu sĩ bắt đầu nhẹ nhàng thả đất lên cái xác đã cứng đờ. Đó là công việc cuối cùng họ với người nữ tu quá cố, trước khi tất cả trở về nhà thờ đọc những bài kinh hối lỗi.
    Họ ba lần cầu xin Chúa rủ lòng thương linh hồn người đã qua đời.
    Domine miserere superpeccatrice.
    Domine miserere superpeccatrice.
    Domine miserere superpeccatrice.
    Đôi lúc, cô gái trẻ Megan chìm trong u sầu. Tu viện đã cho cô sự thanh bình song dẫu vậy cô vẫn không thấy mình hoàn toàn thanh thản. Cứ như một phần đời cô còn lạc ở nơi nào đó. Những khao khát mà đúng ra cô đã phải quên từ lâu lại trỗi dậy. Cô thấy mình nghĩ về đám bạn mà cô bỏ lại ở trại trẻ mồ côi và tự hỏi điều gì đã đến với họ. Cô luôn tự h ỏi cái gì đang xảy ra ở thế giới bên ngoài, cái thế giớI mà cô đã từ bỏ, nơi có tiếng nhạc, có những điệu nhảy, và tiếng cười.
    Megan tới tìm Mẹ Betina.
    – Thỉnh thoảng điều dó lại xảy đến, với tất cả mọi chúng ta. - Bà trấn an Megan. - Nhà thờ gọi nó là aceđia - tội lỗi. Đ ó là tình trạng phiền muộn về tinh thần, vũ khí của quỷ sa tăng. Đ ừng lo nghĩ về nó, con ạ. Nó sẽ qua thôi.
    Và nó đã qua.
    Nhưng có một thứ không sao qua đi, đó là nỗi khao khát cháy bỏng muốn được biết cha mẹ mình là ai.
    Mình sẽ chẳng bao giờ biết, Megan tuyệt vọng nghĩ. Hết đời cũng chẳng biết.
     
  9. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 9 - THÀNH PHỐ NEW YORK
    Các phóng viên chen chúc bên ngoài khách sạn - sơn màu xám Waldoft Astoria ở New York, dõi theo đoàn người tiếng tăm trong những bộ lễ phục buổi tối bước ra khỏi những chiếc xe sang trọng, đi qua cánh cửa quay lên phòng đại khiêu vũ trên tầng ba. Các quan khách đến đây từ khắp thế giới.
    Cameru liên tiếp chớp nháy trong khi các phóng viên nhao nhao:
    – Ngài phó tổng thống, xin làm ơn nhìn sang phía này.
    – Ông thống đốc Adams, xin cho tôi chụp thêm một kiểu nữa.
    Có nhiều thượng và hạ nghị sĩ từ nhiều nước, những trùm tư bản và những nhân vật có máu mặt của thế gi ới Họ tới đây để kỷ niệm lần thứ sáu mươi ngày sinh của Ellen Scott. Thực ra chẳng phải tất cả sự kính trọng mà họ đang tỏ ra là dành cả cho Ellen, như một người lãnh đạo của hệ thống công nghiệp Scott nhân đạo, một trong những kết khối thế lực nhất. Pháo đài khổng lồ nhiều chân rết này gồm cả những công ty dầu hoả và công nghiệp khác, các hệ thống giao thông và các nhà băng. Một lý do nữa là tất cả tiền thu được buổi tối nay sẽ chuyển tới các hoạt động Từ thiện quốc tế. Scott Industries có lợi tức trên mọi vùng của thế giới. Hai mươi bảy năm về trước, người đứng đầu, ông Milo Scott, đã chết đột ngột vì đau tim, và vợ ông ta, Eilen, giữ quyền quản lý hệ thống công nghiệp khổng lồ này. Kể từ đó, bà đã tỏ ra là một người quản lý kiệt xuất, đã nhân lên hơn ba lần tài sản của công ty.
    Phòng đại khiêu vũ của khách sạn Waldoft Astria rất lớn được trang hoàng màu be và màu vàng kim, có sân khấu trải thảm đỏ. Một ban công với ba mươi lô xếp vòng quanh gian phòng, trên mỗi lô đều có một chùm đèn.
    Ở trung tâm ban công là các vị khách danh dự. Có ít nhất sáu trăm quý ông, quý bà ngồi dự tại những chiếc bàn lung linh ánh bạc.
    Bữa tiệc kết thúc, thống đốc New York bước nhanh lên sân khấu:
    – Kính thưa ngài phó tổng thống, thưa các quý ông, quý bà và các vị khách quý mến, đêm nay tất cả chúng ta có mặt ở đây với mục đích tỏ lòng ngưỡng mộ tới người phụ nữ đáng kính và sự hào phóng của bà trong nhiều năm qua.
    Ellen Scott là mẫu người thành công trong mọi lĩnh vực. Bà có thể là một nhà khoa học vĩ đại hay một bác sĩ. Bà cũng có thể là một chính trị gia kiệt xuất, và tôi phải thưa với các vị rằng, nếu Ellen Scott quyết định tranh cử tổng thống Mĩ thì tôi sẽ là người đầu tiên bỏ phiếu cho bà. Tất nhiên không phải là kỳ bầu cử tới, mà là kỳ sau đó.
    Trong phòng rộn lên tiếng cười và tiếng vỗ tay.
    – Nhưng Ellen Scott còn hơn cả một người phụ nữ lỗi lạc Bà còn là một con người đầy tình thương, giàu lòng bác ái, không bao giờ do dự với việc tham gia vào những vấn đề nóng bỏng của thế giới ngày nay...
    Bài nói còn kéo dài thêm mười phút nữa, nhưng Ellen Scott chẳng buồn nghe. Hắn ta nhầm to, bà nhăn nhó nghĩ. Tất cả bọn họ đều nhầm to. Scott Inđustrie thậm chí cũng chẳng phải là công ty của ta. Milo và ta đã đánh cắp nó.
    Và ta đã phạm một tội ác còn lớn hơn thế. Nhưng nó cũng sẽ chẳng là vấn đề gì nữa, ngay cả bây giờ cũng vậy. Bởi ta sắp chết.
    Bà nhớ rõ từng lời của vị bác sĩ khi ông đọc kết quả xét nghiệm - đó là cái án tử hình dành cho bà.
    – Tôi hết sức mong bà tha lỗi, thưa bà Scott, tôi không có cách nào để báo điều này cho bà nhẹ nhàng hơn. Chứng ung thư đã lan khắp hệ bạch huyết trong cơ thể bà. Không còn mổ được nữa.
    Bà đã cảm thấy một khối nặng đột ngột đè lên dạ dày.
    – Tôi còn... còn bao lâu nữa?.
    – Có lẽ một năm. - Ông bác sĩ ngập ngừng.
    Không kịp mất. Không đủ cho ngần ấy việc.
    – Ông sẽ không nới với ai về chuyện này? - Giọng bà vẫn điềm tĩnh.
    – Chắc chắn là không.
    – Cảm ơn bác sĩ.
    Bà không nhớ mình đã rời khỏi Trung tâm y tế của giáo phái trưởng lão Colombia và lái xe vào phố như thế nào. Ý nghĩ duy nhất bà là:
    Ta phải tìm ra nó trước khi chết.
    Bài diễn thuyết của thống đốc đã kết thúc.
    – Thưa các ông, các bà. Tôi rất lấy làm vinh dự và sung sướng được giới thiệu, bà Ellen Scott.
    Bà đứng dậy trong tiếng hoan hô và đi về phía sân khấu, một người đàn bà gầy gò, tóc xám, lưng thẳng, ăn vận lịch sự và toát ra một sức sống mà bà không còn cảm thấy. Họ nhìn mình giống như nhìn một ngôi sao chỉ còn le lói, bà cay đắng nghĩ. Mình sẽ chẳng còn ở đây lâu nữa.
    Trên sân khấu, bà đợi cho tiếng vỗ tay lắng xuống. Họ đang tung hô một con quỷ Nêu biết, họ sẽ làm gì? Giọng bà vang lên mạnh mẽ.
    – Kính thưa ngài phó tổng thống, thưa các vị thượng hạ nghị sĩ, thưa ngài thống đốc Adams...
    Một năm, bà nghĩ. Không biết nó ở đâu và còn sống hay đã chết. Ta phải tìm ra nó.
    Bà vẫn nói, một cách vô thức, tất cả những gì mà người ta muốn nghe từ bà.
    – Tôi vô cùng sung sướng đón nhận sự kính trọng này, không phải cho tôi, mà cho tất cả những người đã đóng góp tích cực để chia sẻ gánh nặng với những người không được hưởng sự may mắn như chúng ta ở đây...
    Ký ức bà trôi ngược về bốn mươi hai năm trước, tại Gary, Indiana...
    Mười tám tuổi, Ellen được nhận vào làm tại nhà máy phụ tùng ô tô của công ty Seott Industries tại Gary Indiana. Đấy là một cô gái cởi mở, hấp dẫn, rất được công nhân trong nhà máy mến mộ. Vào hôm Milo Scott đến thị sát nhà máy, Ellen được chọn để hướng dẫn cho anh.
    – Này, Ellie? Có phải rồi cô sẽ lấy em trai ông chủ và bọn tôi sẽ phải làm thuê cho cô không. - Ai đó hỏi trêu, – Phải. - Ellen Dudash cười vang. - Bao giờ chạch đẻ ngọn đa nhé.
    Milo Scott không có điểm nào Ellen mong đợi. Anh ta ba mươi tuổi, cao, mảnh khảnh. Không xấu lắm, Ellen nghĩ bụng, có vẻ nhút nhát và trịnh trọng.
    – Cô thật tốt bụng dành thời gian cho tôi, cô Dudasb. Hy vọng tôi không làm phiền đến công việc của cô.
    – Hy vọng là sẽ làm ông vừa lòng. - Cô cười.
    Nói chuyện với anh ta thật dễ dàng.
    Không thể tin được, mình đang chơi đùa với em trai ông chủ lớn. Mình sẽ kể cho ông bà già nghe.
    Milo tỏ ra thích thú với công nhân và công việc của họ. Ellen dẫn anh qua phân xưởng sản xuất bánh răng số tròn và dài. Cô đưa anh tới buồng tôi luyện, nơi những bánh răng được đưa vào quá trình làm cứng, rồi tới phân xưởng đóng gói, bộ phận vận chuyển... và đến chỗ nào anh cũng tỏ ra xúc động.
    – Hoạt động ở đây thật là sôi nổi, phải không cô Dudash?
    Anh ta là chủ mọi thứ ở đây thế mà cứ như một đứa trẻ nhút nhát. Có lẽ còn có điều gì đó.
    Tai nạn xảy ra chính trong khu lắp ráp. Một chiếc cẩu treo tự động phía trên cao đang vận chuyển những thanh kim loại bỗng xảy ra trục trặc và một tấm thép lao xuống. Milo Scott đứng chính xác ở vị trí tấm thép sẽ rơi trúng. Ellen linh cảm thấy mối nguy, và không kịp suy nghĩ, cô xô anh sang bên, còn mình thì không tránh kịp, bị thanh sắt quệt vào.
    Cô tỉnh lại trong một phòng riêng tại bệnh viện, ngập trong hoa. Khi Ellen mở mắt và nhìn quanh, cô nghĩ Giống như mình đã chết và đã được lên thiên đàng Có hoa phong lan, hoa hồng, hoa loa kèn hoa cúc và cả những loại hoa mà cô chưa từng biết đến.
    Tay phải cô bị bó cứng, hai bên sườn bị băng bó chặt và hết sức đau đớn.
    Một y tá bước vào:
    – A, cô đã tỉnh rồi, cô Dudash. Để ôi báo bác sĩ.
    – Tôi... tôi ở đâu thế?
    – Trung tâm Blake, một bệnh viện tư.
    Ellen nhìn quanh căn phòng rộng. Mình làm sao mà thanh toán nổi viện phí – Chúng tôi đang phải đối phó với những cú điện gọi tới cô – Điện nào?
    – Báo chí đang tìm cách lọt vào phỏng vấn cô. Bạn bè gọi điện cho cô. Ông Scott cũng gọi cho cô vài lần...
    – Ông ấy có sao không?
    – Xin lỗi, cô hỏi sao?
    – Ông ấy có bị thương trong tai nạn ấy không?
    – Không, sớm nay ông ấy lại đến, nhưng côđang ngủ.
    – Ông ấy đến thăm tôi?
    – Phải, - cô y tá nhìn khắp phòng. - Hầu hết hoa ở đây là của ông ấy đấy.
    Không thể tin được.
    – Bố mẹ cô đang ở phòng đợi. Cô thấy gặp họ được chưa?
    – Tất nhiên.
    – Tôi sẽ để họ vào.
    Ôi, mình chưa từng được chữa chạy như thế này ở bệnh viện bao giờ. Ellen nghĩ.
    Cha mẹ cô đi vào và bước đến giường cô. Họ sinh ra ở Ba Lan, tiếng Anh của họ chưa thật sõi. Cha Ellen là thợ cơ khí, một người đàn ông thô, vạm vỡ, còn mẹ cô là một nông dân chất phác.
    – Mẹ mang súp cho con đây, Ellen.
    – Mẹ, họ cho con ăn trong bệnh viện mà.
    – Nhưng họ không cho con ăn món súp của mẹ, hãy ăn đi và con sẽ chóng khoẻ hơn.
    – Con đã xem tờ báo này chưa? Bố mang cho con một tờ đây Cha cô nói.
    – Ông đưa nó cho cô. Một dòng chữ đậm chạy dài, CÔNG NHÂN NHÀ MÁY LIỀU THÂN CỨU CHỦ.
    – Cô đọc bài viết hai lần.
    – Con đã có một hành động dũng cảm để cứu ông ấy.
    Dũng cảm à? Ngu xuẩn thì có. Nếu kịp có thời gian suy nghĩ thì mình đã cứu mình trước. ĐÓ là việc ngớ ngẩn nhất mà mình đã làm. Tại sao Mình có thể bị chết!
    Gần trưa hôm đó, Milo Scott đến thăm Ellen, mang theo một bó hoa lớn.
    – Xin tặng cô, - anh nói ngượng ngập. - Bác sĩ bảo cô sẽ chóng bình phục.
    Tôi... tôi không thể nói được, rằng tôi biết ơn cô như thế nào.
    – Có gì đâu – Đó là một hành động can đảm nhất mà tôi được chứng kiến. Cô đã cứu cuộc đời tôi.
    Cô cựa mình, nhưng nó chỉ lảm cái đau chạy suốt cánh tay cô.
    – Cô đau lắm không?
    – Đau. - Sườn cô bắt đầu nhức nhối. - Bác sĩ bảo tôi bị làm sao?
    – Cô bị gãy một tay và ba xương sườn.
    Một cái tin không thể xấu hơn. Mắt cô đầy lệ.
    – Có chuyện gì vậy?
    Biết nói sao để anh khỏi cười.
    Cô đã chắt chiu từng đôla cho một chuyến đi tới New York. Một chuyến đi hằng ao ước, với mấy bạn gái trong nhà máy. Nó là giấc mơ của cô. Bây giờ ta sẽ dứt khỏi công việc một hay hai tháng. Nào, đi Manhattan.
    Ellen bắt đầu đi làm từ lúc mười lăm tuổi. Cô có sự độc lập mạnh mẽ và luôn tự lo liệu chọ bản thân, nhưng lúc này cô nghĩ:
    Nếu thực biết ơn mlnh như thế, ông ấy sẽ có thể thanh toán một phần viện phí cho mình. Nhưng hỏi ông ấy thì thật dở. Cô bắt đầu thấy buồn ngủ. Chắc lại do thuốc.
    – Cảm ơn ông về những bông hoa, ông Scott. Được gặp ông thật dễ chịu. - Cô nói mơ màng. - Mình sẽ lại phải lo về khoản tiền chạy chữa đây.
    Ellen Dudash thiếp đi.
    Sáng hôm sau, một người đàn ông cao to, trông đầy vẻ sang trọng vào phòng Ellen.
    – Xin chào cô Dudash. Sáng nay cô thấy trong người thế nào?
    – Khá hơn, cảm ơn ông.
    – Tôi là Sam Norton, trưởng phòng phụ trách báo chí của Scott Industries...
    – Ôi, cô chưa từng gặp ông ta. - Ông sống ở đây à?
    – Không, thưa cô. Tôi bay từ Washington sang..
    – Để thăm tôi?
    – Để giúp cô – Giúp tôi làm gì?
    – Báo chí đang ở bên ngoài, cô Dudash. Vì tôi không tin cô đã có dịp gặp gỡ báo chí, nên tôi nghĩ có thể cô cần giúp đỡ gì chăng?
    – Thế ông cần gì?
    – Chủ yếu họ sẽ yêu cầu cô nói rằng vì sao cô đã cứu ông Scott, và cứu như thế nào.
    – Ồ thật đơn giản. Nếu kịp suy nghĩ thì tôi đã chạy thoát thân.
    – Dudash Nếu là cô, tôi sẽ chẳng nói thế đâu. - Norton ngạc nhiên.
    – Sao lại không? Sự thực là như thế.
    Đây hoàn toàn không phải điều ông ta mong đợi. Cô gái này hình như chẳng hiểu gì về tình thế của mình.
    Có cái gì đó khiến Ellen lo lắng, và cô quyết định nói thẳng:
    – Ông sẽ gặp ông Scott chứ?
    – Vâng.
    – Ông có sẵn lòng giúp tôi?
    – Nếu giúp được, chắc chắn là tôi sẵn lòng.
    – Tôi hiểu. Tôi hiểu tai nạn này không phải do lỗi ông ấy và ông ấy cũng chẳng bảo tôi phải đẩy ông ấy ra, nhưng... - Tính cách độc lập mạnh mẽ khiến cô do dự, - ồ mà thôi.
    A, vấn đề là thế, Norton nghĩ bụng. Cô ta định đòi một phần thưởng. Là bao nhiêu đây? Tiền mặt chăng? Hay một công việc béo bở hơn? Gì vậy nhỉ?
    – Nào, tiếp tục đi, cô Dudash.
    Cô nói buột ra:
    – Sự thật là tôi không có nhiều tiền và tôi cũng sẽ mất đi một vài khoản thu nhập vì bị nạn thế này, nên tôi không nghĩ rằng tôi có thể trả được toàn bộ viện phí. Tôi không muốn làm phiền ông Scott, nhưng nếu ông ấy có thể thu xếp cho tôi vay một khoản, tôi hứa sẽ hoàn lại sau. - Cô nhìn biểu hiện trên nét mặt Norton và hiểu nhầm, rồi nói tiếp. - Tôi xin lỗi. Có lẽ ông cho tôi là lợi dụng.
    Có điều tôi gom góp mãi mới được số tiền để du lịch một chuyến, rồi... phải, phải, chuyện này làm đảo lộn hết cả, - cô hít một hơi sâu, - chuyện này chẳng liên quan gì đến ông ấy. Tôi sẽ tự lo liệu.
    Sam Norton thiếu chút nữa thì đã hôn cô. ĐÃ bao lâu nay rồì mình mới được thấy một tấm lòng vô tư thật sự. Nó đủ dể khôi phục lại lòng tin của mình vào cánh đàn bà.
    Ông ta ngồi xuống mép giường, dáng vẻ nghề nghiệp biến mất, và cầm lấy tay cô.
    – Ellen, tôi có. linh cảm cô và tôi sẽ trở thành bạn gần gũi của nhau. Tôi hứa với cô, cô sẽ không phải lo lắng gì về tiền viện phí. Nhưng việc trước hết cần làm là cô phải vượt qua cuộc họp báo sắp tới. Chúng tôi muốn cô tranh thủ được dịp may này, để... - ông dừng lại, - tôi nói thực lòng. Công việc của tôi là đảm bảo cho Scott Industries thoát được vụ này một cách tốt đẹp.
    – Tôi đoán vậy. Ông định nói rằng, sẽ là không hay lắm nếu tôi bảo là tôi thực sự chẳng thích thú gì việc cứu ông Milo Scott. Nhưng chắc sẽ tốt hơn nếu tôi nói vài điều, thí dụ như, tôi thích được làm việc cho công ty Scott Industries tới mức khi Milo Scott lâm nguy, tôi biết tôi phải cứu lấy ông ấy dù có nguy hiểm đến tính mạng mình, phải không?
    – Phải.
    – Cô cười:
    – Được thôi, nếu giúp được ông. Nhưng tôi chỉ không muốn nói dối ông, ông Norton. Tôi không hiểu cái gì lại xui khiến tôi làm điều này.
    Norton cười đáp:
    – Đó sẽ là bí mật của chúng ta. Tôi cho đám sư tử vào nhé.
    Có tới hơn hai chục phóng viên từ các đài, báo và tạp chí. Đây chỉ là một câu chuyện vớ vẩn, nhưng báo chí lại có ý khai thác đến tận cùng. Chuyện một người làm thuê xinh đẹp liều thân cứu em trai của chủ mình chẳng phải ngày nào cũng có, và sự thực anh ta, ngẫu nhiên lại là Milo Scott, chẳng làm cho câu chuyện kém phần hấp dẫn chút nào.
    – Thưa cô Dudash, khi nhìn thấy tấm sắt đang lao xuống chỗ mình, suy nghĩ đầu tiên của cô là gì?
    – Ellen nhìn sang Sam Norton và nói:
    – Tôi nghĩ, phải cứu ông Scott, nghĩ sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân nếu để ông ấy thiệt mạng, – Cuộc họp báo diễn ra trôi chảy. Khi Sam Norton thấy Ellen đã có vẻ mệt mỏi, ông nói:
    – Như vậy đó, thưa các ông, các bà. Xin cảm ơn các vị!
    Họ kéo nhau đi khỏi. Ellen quay sang Sam Norton:
    – Tôi đáp như vậy có được không?
    – Cô thật vĩ đại. Thôi, bây giờ thì ngủ đi!
    Giấc ngủ đến chập chờn. Cô mơ thấy mình đang ở bên tượng Nữ thần Tự Do nhưng người giữ cửa không cho cô leo lên, bởi cô không đủ tiền mua vé.
    Chiều hôm đó Milo Scott đến thăm Ellen. Cô ngạc nhiên khi thấy anh, bởi nghe đâu nhà anh ở tận New York.
    – Tôi nghe tin cuộc phỏng vấn diễn ra rất tốt đẹp. Cô quả là một anh hùng.
    – Ông Scott. Tôi phải thưa với ông một chuyện. Tôi không phải là anh hùng.
    Tôi đã không kịp dừng lại để nghĩ về việc cứu ông. Tôi... Tôi chỉ làm điều đó...
    – Tôi biết. Sam Nortơn đã nới với tôi.
    – Vâng, còn...
    – Ellen, có nhiều kiểu anh hùng. Cô không nghĩ đến việc cứu tôi vào lúc đó nhưng cô làm điều đó theo bản năng, thay vì cứu chính mình.
    – Tôi... tôi chỉ muốn ông hiểu.
    – Sam cũng kể cho tôi rằng cô lo lắng về viện phí.
    –...
    – Tất cả đã được thu xếp. Và về khoản thu nhập trong vài tuần cô bị thiệt thòi vì gặp tai nạn, - anh cười, - Cô Dudash, tôi... tôi nghĩ rằng cô không hiểu được tôi nợ cô bao nhiêu.
    – Ông không nợ tôi gì hết.
    – Bác sĩ nói với tôi rằng cô sẽ ra viện vào ngày mai. Cô cho tôi được mua bữa tối cho cô nhé.
    Anh ta chẳng hiểu gì cả, Ellen nghĩ. Mình không cần lòng nhân đức hay sự thương hại của anh ta.
    Ông Scott! Ông hãy nghe tôi nói:
    ông không nợ gì tôi Cảm ơn ông đã quan tâm đến khoản viện phí. Vậy là xong.
    – Tốt. Bây giờ tôi xin phép được mời cơm cô?
    Nó đã bắt đầu như thế. Milo Scott ở lại Gary một tuần và tối nào anh cũng gặp Ellen.
    Cha mẹ Ellen đe:
    – Coi chừng đấy! Các ông chủ lớn không bao giờ đi với các cô gái trong nhà máy mà không muốn một thứ!
    Đó chính là thái độ của Ellen từ đầu, nhưng Milo đã thay đổi suy nghĩ trong cô:
    Anh lúc nào cũng là một người lịch sự hoàn hảo, và cuối cùng mọi việc trở nên rõ ràng với Ellen, anh ấy thưc sự thích được ở bên mình.
    Những điểm nào Milo tỏ ra dụt dè, kín đáo thì Ellen lại mạnh mẽ, cởi mở.
    Trong cuộc đời mình, Milo luôn bị bao vây bởi những người đàn bà mà khát vọng cháy bỏng của họ đã trở thành một bộ phận trong triều đại Scott hùng mạnh. Họ tiến hành những mưu mô đầy tính toán. Ellen Dudash là người phụ nữ trung thực đầu tiên mà Milo gặp Cô nghĩ sao nói vậy. Cô thông minh, cô hấp dẫn, và hơn hết, thật thú vị được ở bên cô. Cuối tuần đó cả hai đều phải lòng nhau.
    – Anh muốn cưới em. Anh không còn tâm trí nào để nghĩ đến việc khác. Em lấy anh nhé? - Miio nói.
    – Thôi ạ.
    Cả Ellen cũng chẳng nghĩ được một điều gì khác. Sự thực là cô lo sợ. Scott là dòng họ quý tộc. Họ danh giá, giàu có và thế lực. Mình không thể bước vào giới họ được. Đó sẽ là một sự ngu ngốc cho mình, và cho cả Milo nữa. Nhưng Ellen cũng hiểu mình đang chống lại một thứ mà biết chắc là mình sẽ thất bại.
    Họ tổ chức hôn lễ tại Toà thẩm phán trị an ở Greenwich, bang Connecticut, rồi lên đường về Manhattan để Ellen Dudash được gặp mặt nhà chồng.
    Byron Scott ra đón cậu em mình:
    – Mày làm cái trò khỉ gì thế Cưới một con Ba Lan quạ mổ à? Mày có mất trí không đấy?
    Còn Susan thì nhỏ nhẹ:
    – Tất nhiên cô ta lấy Milo chỉ vì tiền. Khi cô ta phát hiện ra cậu ấy không có tý tài sản nào thì chúng ta sẽ lo phần thủ tục ly dị. Cuộc hôn nhân này không bền đâu.
    Họ đã đánh giá quá thấp Ellen Dudash.
    – Anh trai và chị dâu anh ghét bỏ em, nhưng em không lấy họ. Em lấy anh.
    Tuy vậy, em cũng không thể là trở ngại giữa anh với Byron. Nếu cuộc hôn nhân này làm anh bất hạnh, Milo, thôi thế này, em sẽ đi.
    Anh ôm nàng trong tay, thì thầm:
    – Anh rất yêu và rất cảm phục em, lúc nào Byron và Susan thực sự hiểu em, họ cũng sẽ yêu mến em thôi.
    Cô ôm chặt anh và nghĩ, anh trong trắng làm sao. Mình yêu anh ấy biết nhường nào.
    Byron và Susan không tỏ ra khó chịu với cô em dâu mới. Họ là bề trên.
    Với họ, Ellen luôn chỉ là cô gái Ba Lan nhỏ nhắn làm thuê trong một nhà máy của họ.
    Ellen tìm tòi, đọc và học hỏi. Cô nhìn xem các bà vợ của bạn bè Milo ăn mặc thế nào, rồi bắt chước. Cô quyết tâm trở thành một người vợ xứng đáng với Milo Seott, và cô đã thành công đúng lúc. Nhưng không phải trong con mắt của gia đình nhà chồng. Một cách chậm rãi, sự ngây thơ trong cô trở thành sự hoài nghi. Giàu có và thế lực chưa hẳn đã là tuyệt điệu. Cô nghĩ, tất cả những gì họ muốn là giàu hơn nữa, thế lực hơn nữa.
    Ellen che chở quyết liệt cho Milo, nhưng cô cũng chỉ giúp anh được rất ít.
    Scott Industries là một trong số ít những hệ thống công nghiệp trên thế giới trong tay một cá nhân. Mọi cổ phần đều thuộc về Byron. Cậu em trai Milo chỉ là một người làm thuê ăn lương và ông ta không bao giờ để Milo quên điều đó.
    Ông đối xử tồi tệ với em mình. Milo bị giao làm đủ thứ việc thấp hèn và chẳng bao giờ được chia sẻ chút lợi lộc nào.
    – Sao anh lại phải chịu như thế, Milo? Anh cần gì ông ấy. Chúng ta có thể đi khỏi đây. Anh có thể tự lo lấy việc làm ăn của mình.
    – Anh không thể xa Scott Industries được. Byron cần anh.
    Vào đúng lúc đó, Ellen hiểu được lý do thật sự của chồng. Milo rất yếu đuối.
    Anh cần một người mạnh mẽ để dựa dẫm. Cô hiểu anh sẽ không bao giờ đủ can đảm để rời bỏ công ty. Được, cô háo hức nghĩ. Rồi một ngày nào đó công ty này sẽ thuộc về anh ấy. Byron không thể sống mãi được. Milo là người thừa kế duy nhất.
    Khi Susan Scott thông báo rằng mình mang thai, một tai hoạ giáng xuống Ellen. Nó sẽ thừa kế tất cả.
    Khi đứa trẻ ra đời, Byron nói:
    – Nó là con gái, nhưng tôi sẽ dạy nó biết cách quản lý công ty.
    Đồ con hoang, Ellen nghĩ bụng. Tim cô đau nhói cho Milo. Anh chỉ nói một câu:
    – Con bé kháu lắm phải không?
    o O o
    Người phi công lái chiếc Lockheed Lodestar có vẻ lo lắng.
    – Phía trước đang tối đen lại. Tôi không ưa cái cảnh này. - Anh ta quay sang người lái phụ. - Cầm lái này, - rồi đi vào ca bin.
    Ngoài hai tay lái chính và phụ, trên máy bay còn có năm hành khách. Byron Scott, người sáng lập tài tình, năng động và người lãnh đạo tối cao của Scott Industries, Susan người vợ hấp dẫn của ông ta, Patricia, đứa con gái một tuổi của họ. Milo Scott, em trai của Byron và vợ Milo, Ellen. Họ đi từ Paris đến Madrid, trên một trong những chiếc máy bay của công ty. Việc mang theo đứa trẻ là quyết định vào phút cuối cùng của Susan.
    – Em không muốn xa nó lâu như thế. - Cô nói với chồng.
    – Em sợ con nó quên mất mẹ à? - Người chồng chọc tức. - Thôi được, ta sẽ mang nó theo.
    Thời đó, khi Chiến tranh thế giới lần thứ Hai đã kết thúc, Scott Industries đang hối hả vươn sang thị trường châu Âu. Byron tới Madrid tìm hiểu những khả năng mở một nhà máy thép.
    Người phi công đến bên Byron:
    – Xin lỗi ngài! Chúng ta đang tiến gần tới những đám mây đen. Thời tiết không thuận lắm. Ngài có muốn quay trở lại không?
    Byron nhìn ra qua ô cửa nhỏ. Họ đang bay xuyên qua những biển mây xám xịt và cứ vài giây lại sáng lên bởi những tia chớp phía xa.
    – Tôi có cuộc gặp tối nay ở Madrid. Anh có thể bay vòng qua bão được không?
    – Tôi sẽ cố gắng. Nếu không được, tôi sẽ cho máy bay quay lại.
    Byron gật đầu.
    – Phải đấy!
    – Xin các vị buộc chặt dây lưng lại.
    Susan đã nghe được cuộc trao đổi. Cô bế đứa bé lên và bỗng ước ao giá như mình không mang nó theo. Mình sẽ nói Byron bảo phi công quay lại, cô nghĩ bụng.
    – Byron...
    Đột nhiên họ bị rơi vào bão và máy bay bắt đầu chao đảo trong những luồng gió dữ dội. Mưa đập mạnh vào các cửa kính. Bão đã che mọi tầm nhìn. Họ thấy như đang đi trên một biển bông cuồn cuộn.
    Byron bật nút hệ thông liên lạc.
    – Ta đang ở đâu thế, Blake?
    – Ta đang cách Madrid năm mươi lăm dặm về phía Tây Bắc, bên dưới là thị trấn Avila.
    – Byron nhìn ra ngoài cửa sổ:
    – Thôi, ta hãy quên Madrid đi. Quay lại, mau biến khỏi đây thôi.
    – Rõ, thưa ngài.
    Quyết định này tới chậm một tích tắc. Đúng vào lúc viên phi công bắt đầu nghiêng máy bay thì một mỏm núi bỗng lờ mờ hiện ra ngay trước mắt. Không đủ, dù chỉ một giây, để tránh tai nạn. Bầu trời như bị rách toạc, và nổ tung ra, các khoang thân và cánh rơi xuống một vùng cao nguyên.
    Sau tiếng nổ là một sự tĩnh mịch lạ thường, sự tĩnh mịch vẫn có ỏ nơi đây tự ngàn xưa. Chỉ còn tiếng lửa cháy lách tách từ những mảnh xác máy bay.
    Ellen! Ellen!
    Ellen Scott mở mắt. Cô đang nằm dưới một tán cây và Milo đang vỗ nhẹ vào mặt cô. Thấy cô đã tỉnh, anh nói:
    – Cảm tạ Chúa.
    Ellen ngồi dậy, đầu choáng váng, khắp người ê ẩm. Cô nhìn những mảnh xác xung quanh mà trước đó còn là chiếc máy bay và bừng tỉnh.
    – Mọi người đâu? - Cô thều thào hỏi.
    – Chết cả rồi Cô nhìn chồng – Ôi, lạy Chúa! Không!
    Anh gật đầu, mặt tái đi vì đau đớn.
    – Byron, Susan, con bé, hai phi công, tất cả!
    Ellen Scott nhắm mắt lại. Sao Milo và mình lại sống sót? Cô tự hỏi. Thật là khó hiểu. Mình phải xuống thị trấn nhờ sự giúp đỡ. Nhưng quá muộn rồi. Họ đã chềt cả. Không thể tin nổi. Vài phút trước thôi họ còn sống khoẻ mạnh.
    – Em đứng dậy được không?
    – Em... em nghĩ là được.
    Milo giúp vợ đứng dậy. Một cơn choáng dội đến, cô đứng yên đợi cho nó qua đi.
    Milo quay sang nhìn xác máy bay. Những ngọn lửa bốc càng cao hơn.
    – Ra khỏi đây thôi. - Anh nói. - Cái đồ khỉ này sẽ nổ tung bất cứ lúc nào.
    Họ lặng lẽ tránh ra và nhìn lửa cháy. Giây lát sau đó, một tiếng nổ vang lên từ thùng nhiên liệu và cả chiếc máy bay bốc lửa ngùn ngụt.
    – Chúng ta còn sống, thực là một phép lạ. - Milo nói.
    Ellen nhìn xác máy bay đang cháy. Một điều gì đó bỗng chập chờn trong óc, nhưng cô chưa định hình được nó. Một điều gì đó về Scott Industries. Đôt nhiên cô hiểu ra.
    – Milo!
    – Gì vậy? - Anh không thực sự để ý nghe.
    – Đó là số phận.
    Sự sốt sắng trong giọng cô khiến anh quay lại.
    – Cái gì thế, em?
    – Scott Industries. Nó thuộc về anh rồi – Anh không...
    – Milo, Chúa ban nó cho anh. - Giọng cô tràn ngập một sự xúc động mãnh liệt. - Cả cuộc đời anh đã sống dưới cái bóng của ông anh lớn. - Lúc này ý nghĩ của cô đã trở nên rõ ràng, mạch lạc và cô quên hết cả cơn choáng váng, sự đau đớn. Lời nói tuôn ra ảo ạt tới mức cả người cô rung lên. - Anh đã phải làm công cho Byron suốt hai chục năm để xây dựng nên cái công ty này. Cũng như ông ấy, anh đã phải lo lắng cho sự thành đạt của công ty, nhưng ông ấy, ông ấy có bao giờ tính công cho anh không? Không! Cái công ty này nó luôn là công ty của ông ấy, thắng lợi của ông ấy, lợi lộc của ông ấy. Nào, cuối cùng thì bây giờ anh cũng có cơ hội được thừa hưởng những gì của chính mình.
    Anh nhìn cô, hoảng sợ:
    – Ellen? Xác họ còn... làm sao em lại có thể nghĩ về...?
    – Em hiểu. Nhưng ta không giết họ. Đến lượt ta rồi, Milo. Cuối cùng chúng ta cũng được hưởng cái của chúng ta. Chẳng ai còn sống để mà nhận công ty này, ngoài chúng ta. Nó là của chúng ta! Của anh!
    Và cũng lúc đó họ nghe thấy tiếng khóc của đứa trẻ. Ellen yà Milo Scott nhìn nhau, cùng như không thể tin vào tai mình. Milo nói như reo.
    – Patricia đấy. Í nó còn sống. Ôi, lạy Chúa tôi!
    Họ tìm thấy đứa trẻ gần một bụi rậm. Bởi một phép lạ nào đó, nó vẫn lành lặn như đang nằm trong nôi.
    Milo bế lên và ôm chặt lấy nó.
    – Suỵt! Nín đi cưng, - anh thì thầm, - mọi điều rồi sẽ tốt đẹp cả thôi.
    Ellen đứng bên cạnh anh, một cú sốc hiện trên mặt cô.
    – Anh... anh bảo nó chết rồi kia mà.
    – Chắc con bé bị rơi, rồi ngất đi.
    Ellen nhìn đứa trẻ một lúc lâu.
    – Đáng lẽ nó đã phải chết cùng bố mẹ, - cô nói bằng giọng nghẹn ngào.
    Milo trợn mắt nhìn cô.
    – Em bảo gì cơ?
    – Di chúc của Byron để lại mọi thứ cho Patricia. Anh có thể làm người trông nom cho nó hai chục năm nữa để khi lớn lên nó lại đối xử với anh tồi tệ như bố nó đã từng làm. Phải anh muốn vậy không?
    Anh im lặng.
    – Chúng ta sẽ chẳng bao giờ có lại cơ hội này - Cô nhìn chằm chằm đứa bé và trong đôi mắt có cái vẻ hoang dại mà Milo chưa từng thấy. Nó cứ như cô muốn...
    Cô ấy chẳng còn là mình nữa. Cô ấy đang bị choáng. - Vì Chúa, Ellen, em đang nghĩ gì vậy?
    Cô đăm đăm nhìn chồng, vẻ hoang dại mất dần trong ánh mắt.
    – Em cũng không biết. - Cô nói bình tĩnh. - Chúng ta phải làm một cái gì, như để nó ở chỗ nào đó chẳng hạn, Milo. Viên phi công nói chúng ta đang ở gần Avila. Có thể rất đông khách du lịch ở đó. Chẳng ai vì cớ gì lại liên hệ đứa trẻ này với vụ máy bay rơi.
    Milo lắc đầu:
    – Bạn bè họ biết rằng Byron và Susan mang Patricia theo.
    Ellen nhìn vào xác máy bay đang cháy:
    Chẳng sao. Họ đã bị chết cháy trong vụ tai nạn. Chúng ta sẽ tổ chức đám tang riêng ở đây.
    – Ellen, - anh phản đối, - ta không thể làm thế. Ta sẽ không bao giờ bở đứa bé.
    – Chúa đã dàn xếp cho ta. Chúng ta đã...
    Milo nhìn đứa bé.
    – Nhưng con bé...
    – Nó sẽ khoẻ mạnh. - Ellen dỗ dành. - Chúng ta sẽ gửi nó vào một nhà tử tế bên ngoài thị trấn. Sẽ có người nhận nuôi nó và nó sẽ lớn lên, sẽ sống một cuộc đời dễ chịu ở đây.
    Anh lắc đầu:
    – Anh không thể! Không!
    – Nếu anh yêu em, anh sẽ làm điều đó vì hai ta. Anh phải lựa chọn, Milo.
    Hoặc anh có em, hoặc anh sẽ sống hết cuộc đời để hầu hạ cho đúa cháu gái của anh.
    – Em. Anh xin...
    – Anh yêu em không?
    – Hơn cả đời anh, - Milo nói giản dị.
    – Vậy anh hãy chứng minh đi?
    Họ thận trọng đi xuống sườn núi trong bóng đêm, gió thổi buốt mặt. Vì chiếc máy bay đâm vào một khu rừng ở trên cao, tiếng nổ bị cản lại, nên người dân thị trấn không hay biết gì về chuyện đã xảy ra.
    Ba giở sau, tại ngoại ô Avila, Ellen và Milo tới một ngôi nhà nông dân nhỏ.
    Lúc đó bình minh chưa tới.
    – Ta để nó ở đây, - Ellen thì thầm.
    Milo cố gắng lần cuối.
    – Ellen, có lẽ ta...
    – Hành động? - Cô nói cương quyết.
    Không thêm một lời, anh mang đứa bé đến cửa ngôi nhà. Nó mặc trên người chiếc áo ngủ màu hồng đã bị rách và một chiếc chăn quấn quanh.
    Milo nhìn Patricia một lúc lâu, mắt đẫm lệ, rồi nhẹ nhàng đặt xuống.
    Anh thì thầm:
    – Chúc hạnh phúc, cháu yêu!
    Tiếng khóc đã đánh thức Asuncion Moras. Trong lúc ngái ngủ, bà tưởng đó là tiếng be be của con dê hay con cừu.
    Làm sao nó lại sổng được khỏi chuồng thế nhỉ?
    Làu bàu, bà chui khỏi đệm ấm, khoác chiếc áo cũ đã bạc màu và đi ra cửa.
    Khi thấy đứa trẻ đang nằm dưới đất gào khóc, giãy giụa, bà kêu lên:
    – Madre de Dies! Ôi, lạy Chúa.
    Bà lớn tiếng gọi chồng.
    Họ mang đứa trẻ vào nhà, rồi cứ chằm chằm nhìn nó. Đứa trẻ không ngừng khóc và da thịt dường như đã tím tái.
    – Phải đưa nó vào viện thôi.
    Họ vội vàng quấn thêm cho đứa bé một cái chăn, bế ra chiếc xe vẫn dùng để chở khách để đưa nó đến bệnh viện và ngồi đợi trên chiếc ghế băng ngoài hành lang. Ba mươi phút sau một bác sĩ đến mang đứa trẻ đi khám.
    Khi trở lại, bác sĩ nói:
    – Cô bé bị cảm lạnh.
    – Thế nó có sống được không?
    Ông bác sĩ nhún vai.
    Milo và Ellen lập cập đi vào trạm cảnh sát ở Avila. Viên trung sĩ trực ban nhìn hai nhà du lịch bê bết bùn đất.
    – Xin chào! Tôi giúp gì được ông bà?
    – Một tai nạn kinh khủng, - Milo nól. - Máy bay chúng tôi bị đâm phải núi và...
    Một giờ sau đội cứu thương lên đường. Khi họ tới nơi thì chẳng còn gì để xem ngoài những mảnh xác máy bay còn đang âm ỉ, và những hành khách đã cháy đen.
    Cuộc điều tra về vụ tai nạn máy bay của chính quyềnTây Ban Nha được tiến hành qua loa.
    – Lẽ ra viên phi công không được liều lĩnh bay vào một cơn bão mạnh như thế. Chúng ta phải quy trách nhiệm này cho sai lầm của người lái. Một cảnh sát nói. Không có lý do nào để bất kì ai ởAvila liên hệ vụ tai nạn máy bay này với đựa trẻ bị bỏ lại trên bậc cửa của một nhà nông dân.
    Như vậy là kết thúc.
    Như vậy mới chỉ là bắt đầu Milo và Ellen tổ chức tang lễ riêng cho Byron, Susan và con gái họ, Patricia. Khi trở về New York, họ lại tổ chức tang lễ lần thứ hai và bạn bè của dòng họ Scott tới dự. Họ hết sức kinh ngạc.
    – Tai nạn khủng khiếp quá. Tội nghiệp Patricla bé nhỏ.
    – Vâng, - Ellen buồn bã nói. - Điều an ủi duy nhất là tai nạn xảy đến rất nhanh nên không người nào phải chịu cái chết đau đớn kéo dài.
    – Tin về vụ tai nạn làm rung chuyển cả cộng đồng tài chính. Dường như tất cả đều thống nhất rằng Scott Industries đã phải chịu một tổn thất không thể bù đắp nổi khi không có Byron Scott.
    – Đừng nghe bất kỳ ai trong bọn họ nói, - Ellen bảo chồng. Anh còn giỏi hơn Byron nhiều. Công ty này sẽ lớn mạnh hơn bao giờ hết.
    – Anh không biết sẽ phải làm gì nếu không có em.
    – Anh chẳng phải làm gì cả. Từ giờ trở đi ta sẽ có tất cả những gì mả ta hằng mơ ước.
    Cô ôm chặt anh và nghĩ, Ai có thể tin được cô Ellen Dudash, từ một gia đình Ba Lan nghèo làm ở Galy, Inđiana, lại có ngày nói, “Từ giờ trở đi, ta sẽ có tất cả những gì trên thếgiới mà ta hằng mơ ước?
    Sự thực đúng là như thế.
    Suốt mười ngày, đứa bé vật lộn với cái chết và sự sống. Khi cơn bệnh đã lui, cha Berrendo tới gia đình vợ chồng nông dân nọ. Ta có một tin vui cho các con đây ông sung sướng nói. - Đứa bé đã qua cơn nguy hiểm và sẽ khoẻ mạnh.
    Hai vợ chồng Moras nhìn nhau lo ngại.
    – Tôi rất mừng cho con bé. - Người nông dân nói lảng.
    – Cô bé ấy là món quà của Chúa đó. - Cha Berrendo cười rạng rỡ – Đúng vậy, thưa cha. Nhưng vợ chồng chúng tôi đã bàn bạc và nghĩ rằng Chúa Trời đã quá hào phóng với chúng tôi. Món quà của Người cần phải ăn mà chúng tôi thì đang không đủ miếng ăn cho chính mình.
    – Nhưng con bé thật là đẹp. - Cha Berrendo giảng – Đành là vậy, nhưng hai vợ chồng tôi đều già cả, ốm yếu, không gánh vác nổi việc nuôi nấng đứa bé. Chúa phải lấy lại món quà của Người thôi.
    Và như thế, chầng có chỗ nào để mà nương thân, đứa bé được đưa vào trại trẻ mồ côi ở Avila.
    Milo và Ellen ngồi nghe di chúc trong phòng viên luật sư của Byron Scott. Chỉ ba người có mặt. Trong Ellen ngập tràn một cảm giác xáo dộng, hầu như không nói ra được. Chỉ vài chữ trong mảnh giấy nhỏ kia mà đủ sức biến dược cô và Milo trở nên giàu có ngoài sức.
    Ta sẽ mua những bức tranh cổ, mua một trang trại ở Southampton và một lâu đài cổ ở Pháp. Đấy mới chỉ là bắt đầu.
    Luật sư lên tiếng và Ellen hướng sự chú ý của mình sang ông. Mấy tháng trước cô đã xem một bản sao di chúc của Byron và đã biết chính xác nó viết gì.
    “Trong trường hợp cả vợ tôi và tôi đều qua đời, tôi để lại tất cả cổ phần của tôi trong công ty Scott Inđustries cho con gái độc nhất của tôi, Patricia, và trong trường hợp đó, tôi chỉ định em trai tôi, Milo, là người quản lý tài sản của tôi cho tới khi Patricia đến tuổi hợp pháp và có thể tiếp quản... ”.
    Đừng hòng! Tất cả đã thay đổi rồi, Ellen háo hức nghĩ.
    Ông luật sư Lawrence Gray nói nghiêm trang:
    – Đây là một tổn thất ghê gớm đối với tất cả chúng ta. Tôi hiểu ông bà yêu mến người anh trai ông như thế nào, ông Milo, và về phần cháu bé... - Ông lắc đầu. Nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Ông có thể không biết rằng anh trai ông đã thay đổi di chúc của mình. Tôi sẽ làm phiền ông bà với những thủ tục pháp lý. Tôi sẽ đọc cho ông bà nghe phần chính, ông lật lật đến phần ông cần tìm. - Tôi bổsung di chúc này, để con gái tôi, Patricia sẽ nhận một khoản năm triệu đôla thêm vào phần một triệu đôla mỗi năm mà con tôi được nhận cho đến hết đời. Tất cả cổ phần trong Scott Inđustries mang tên tôi sẽ thuộc về em trai tôi, Milo, như một phần thưởng cho sự phục vụ trung thành và quý giá mà em tôi đã đóng góp cho công ty trong nhiều năm. “ Milo thấy căn phòng chao đảo.
    – Ông làm sao thế Ông Gray nhìn lên..
    Milo thấy tức thở. Chúa nhân từ, chúng con đã làm gì vậy? Chúng con đã tước đi của cháu quyền thừa hưởng mặc đù điều đó đã trở nên không cần thiết nữa. Bây giờ chúng con sẽ trả lại cho cháu cái quyền ấy.
    Anh quay sang định nói điều gì đó với vợ nhưng cái nhìn trong mắt cô làm anh khựng lại.
    – Chúng ta hãy làm một cái gì đó, Ellen. Không thể bỏ nó ở đấy như thế.
    Họ đang ở trong căn phòng trên đại lộ Năm, sửa soạn đi dự một bữa tiệc từ thiện.
    – Đó đúng là cái chúng ta muốn làm, Ellen nói. Trừ phi anh muốn mang nó về đây và cố gắng giải thích tại sao chúng ta lại bảo nó đã chết cháy trong tai nạn máy bay.
    Anh không biết trả lời cô như thế nào. Nghĩ một lát, anh nói:
    – Thôi được. Hàng tháng ta sẽ chuyển tiền cho cháu để...
    – Đừng ngốc thế, Milo. Cô dằn giọng. - Gửi tiền cho nó? Để bọn cảnh sát tìm hiểu tại sao lại có hiện tượng ấy và rồi lần ra ta? Không. Nếu lương tâm giày vò anh thì chúng ta sẽ chuyển tiền của công ty vào quỹ từ thiện. Hãy quên đứa bé đi Milo. Nó đã chết. Nhớ chưa?
    – Nhớ.. Nhớ... Nhớ...
    Câu nói cứ vang lên trong đầu Ellen Scott khi bà nhìn xuống đám đông trong phòng khiêu vũ khách sạn Waldoft Astoria và kết thúc bài nói của mình. Mọi người lại đứng dậy hoan hô.
    Họ đang hoan hô một người đàn bà đã chết, bà nghĩ.
    Đêm đó ma quỷ hiện về. Ellen Scott tưởng rằng bà đã xua đuổi được chúng đi từ lâu. Lúc đầu, sau tang lễ cho anh chồng, chị dâu, những vị khách đêm này, đến rất đều đặn. Những đám mù xám lởn vởn ở đầu giường và những giọng nói thì thầm vào tai cô. Cô thường tỉnh giấc mạch đập dồn dập, nhưng không nhìn thấy gì. Cô không nói cho chồng biết về chuyện đó. Anh yếu đuối, và nó có thể sẽ khiến anh hoảng sợ mà làm điều gì dại dột, có hại cho công ty.
    Nếu sự thực bị rò rỉ thì vụ scandal này sẽ phá tan Scott Industries. Lo xa thế nên Ellen kiên quyết không để điều đó xảy ra. Cô âm thầm chịu đựng những bóng ma cho tới khi chúng bỏ đi, để cô được sống yên ổn.
    Giờ đây, vào cái đêm đại tiệc này, chúng lại hiện về.
    Bà thức giấc, ngồi trên giường và nhìn quanh. Căn phòng trống trơn và tĩnh mịch, nhưng bà biết chúng vẫn ở đó. Chúng muốn nói gì với bà? Chúng có biết bà cũng sắp về với chúng không?
    Ellen đi sang phòng khách rộng bày toàn đồ cổ của một ngôi nhà đẹp mà bà đã mua sau khi Milo qua đời. Bà nhìn căn phòng đáng yêu và nghĩ, Tội nghiệp Milo. Anh đã không kịp hưởng chút lợi tức nào từ cái chết của người anh trai.
    Một năm sau vụ tai nạn máy bay, Milo đã chết vì đau tim. Ellen Scott tiếp quản công ty và điều hành nó với một năng lực xuất chúng và tài trí thông minh, đẩy Scott Industries lên hàng đầu thế giới.
    Công ty này thuộc về đòng họ Scott, bà nghĩ, mình sẽ không trao nó cho bất kỳ thằng cha căng chú kiết nào.
    Điều này hướng suy nghĩ về con gái Byron và Scean, người thừa kế chính đáng cái ngai vàng mà bà đã đánh cắp của đứa cháu. Bà lo sợ chăng, hay muốn chuộc tội trước khi từ giã cõi đời?
    Ellen Scott ngồi suốt đêm trong phòng khảch, phác ra kế hoạch. Bao năm đã trôi qua? Hai mươi tám năm. Nếu còn sống, bây giờ đời nó ra sao? Cô đã là vợ một nông dân hay một thương gia trong làng? Con cái gì chưa? Vẫn còn sống ở Avila hay đã bỏ đi nơi nào khác?
    Ta phải tìm được con bé. Ellen nghĩ. Và phải nhanh lên. Nếu Patricia còn sống thì ta phải gặp nó, nói chuyện với nó. Sau cùng ta phải tạo nên một tình huống. Tiền có thể biến sự dối trá thành sự thật. Ta sẽ tìm ra cách giải quyết mà không để nó biết ra sự thực là gì.
    Sáng hôm sau, Ellen cho gọi Alan Tuker, trưởng ban an ninh của Scott Industries. Ông này nguyên là thám tử, tuổi ngoài bốn mươi, người gầy, đầu đang hói, dáng vẻ ốm yếu, nhẫn nại và thông minh.
    – Tôi muốn ông giúp tôi một việc.
    – Vâng, thưa bà Scott.
    Bà quan sát ông ta, ước tính sẽ nói đến đâu. Chừng nào còn sống ta không thể gây nguy hiểm cho công ty. Cứ tìm được Patricia rồi sẽ tính cách giải quyết với con bé sau.
    Bà nhướng người tới:
    – Hơn hai mươi năm về trước có một đứa bé mồ côi bị bỏ lại rơi thềm một nhà nông dân ngoại ô Avila, Tây Ban Nha. Ta muốn ông tìm xem hiện cô bé ở đâu và mang về đây cho ta, càng sớm càng tốt.
    Nét mặt Alan Tucker vẫn bất dộng. Bà Scott không muốn người làm thuê cho mình tỏ thái độ trên nét mặt.
    Vâng, thưa bà! Ngày mai tôi sẽ đi!
     
  10. Monmunmon

    Monmunmon Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    1/1/2012
    Bài viết:
    4.529
    Lượt thích:
    873
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Học sinh
    Trường:
    Quậy
    CHƯƠNG 10
    Đại tá Ramon Acoca đang trong trạng thái thoải mái. Rốt cuộc thì mọi thứ đều đã trở lại đúng chỗ của nó.
    Một người lính bước vào:
    – Đại tá Sostelo đã tới.
    – Đưa ông ta vào.
    Ta cũng sẽ kkông cần hắn nữa, Acoca nghĩ. Hắn có thể về với đám lính vô tích sự của mình.
    Đại tá Fal Sostelo bước vào.
    – Chào đại tá.
    – Chào đại tá.
    Thật là mỉa mai. Sostelo nghĩ. Cũng cùng một cấp bậc nhưng lão khổng lồ sẹo mặt này có thể bóp chết mình. Bởi hắn có quan hệ với OPUS MUNDO. Đối với Sostelo, phải có mặt theo yêu cầu của Acoca thì thật nhục nhã nhưng cố gắng không để lộ sự bực tức ra ngoài.
    – Ông cần gặp tôi?
    – Phải. - Acoca chỉ cho hắn ta chIếc ghế. - Mời ngồi. Tôi có một tin cho ông đây, Jaime Miro mang theo các nữ tu đó.
    – Ông bảo sao?
    – Phải. Chúng đang cùng đi với Miro và đồng bọn. Bọn chúng đã tách làm ba nhóm.
    – Làm sao... làm sao ông biết được?
    Ramon Acoca ngả người ra sau.
    – Ông có chơi cờ không?
    – Không.
    – Thật tiếc. Chơi cờ là một môn thể thao có tính giáo dục. Để thành một tay cờ giỏi thì cần phải nắm được tính toán của đối phương. Jaime Miro và tôi đang chơi cờ với nhau.
    – Tôi không hiểu... - Fal Sostelo tỏ vẻ ngạc nhiên.
    – Chẳng phải văn vẻ gì đâu, ông đại tá. Chúng tôi không dùng bàn cờ mà dùng trí não. Chắc chắn tôi hiểu Jaime Miro hơn bất cứ ai trên đời. Tôi biết cái đầu hắn hoạt động ra sao. Tôi biết rằng hắn sẽ cho nổ con đập ở Raina, và ta đã bắt được ba thằng ở đó. Miro chỉ nhờ tình cờ mà thoát được. Tôi đoán hắn sẽ gắng giải thoát cho mấy tên bị bắt, và Miro cũng hiểu rằng tôi sẽ đoán biết.
    – Acoca nhún vai. - Có điều tôi đã không ngờ hắn lại sử dụng lũ bò vào kế hoạch của mình. - Giọng Acoca lộ chút khâm phục.
    – Có vẻ như ông...
    – Ngưỡng mộ hắn? Tôi ngưỡng mộ đầu óc của hắn. Nhưng khinh bỉ con người hắn.
    – Ông có biết Miro đi về phía nào?
    – Hắn đi theo hướng Bắc. Tôi sẽ tóm được hắn trong vòng ba ngày nữa. - Acoca nói quả quyết.
    Đại tá Sostelo há hốc mồm nhìn đại tá Acoca, thán phục.
    – Cuối cùng sẽ là nước chiếu tướng.
    Đúng là đại tá Acoca hiểu Jaime Miro, song như vậy cũng chưa đủ. Y muốn có một thứ vũ khí tối độc để đảm bảo thắng lợi, và y đã tìm thấy.
    – Bằng cách nào mà ông...?
    – Một trong những kẻ đồng loã của Miro, - đại tá Acoca vênh mặt, - là người cung cấp tin Rubio, Tomas và hai bà sơ chỉ men theo đường nhỏ, bỏ lại sau những làng mạc xây bằng đá cổ kính cùng những đàn dê, đàn cừu đang gặm cỏ, các mục đồng đang chăm chú nghe nhạc hoặc tường thuật bóng đá từ những chiếc radio.
    Quá khứ và hiện tại tương phản mạnh mẽ song Lucia lại đang nghĩ về những cái khác Cô luôn luôn theo sát sơ Theresa rình cơ hội tước lấy cây thánh giá rồi trốn đi. Hai người đàn ông bám sát họ. Rubio Arzano cao to, ưa nhìn, vui tính. Một nông dân đầu óc đơn giản, Lucia nhận định. Tomas Sanjuro thì nhỏ hơn và bắt đầu hói. Trông hắn giống người bán giày dép hơn là kẻ khủng bố. Cả hai đều có vẻ dễ xỏ mũi.
    Đêm đêm họ băng qua những vùng đồng bằng phía Bắc Avila, gió từ dãy Guadarrama thổi tới mát lạnh. Họ bỏ qua những cánh đồng lúa mì, cây ôliu, nho, ngô và bới khoai dưới đất, hái quả trên cây, tìm trứng và gà con trong các ổ – Đất nước Tây Ban Nha là một cái chợ khổng lồ. - Rubio Arzano nói.
    – Và mua mọi thứ chẳng mất xu nào. Tomas Sanjuno cười.
    Sơ Theresa không hay biết nhũng gì quanh mình. Ý nghĩ duy nhất trong bà là làm sao tới được tu viện ở Mendavia. Cây thánh giá ngày càng nặng, nhưng bà vẫn không để nó rời khỏi tay. Sắp rồì, bà nghĩ. Sắp đến rồi. Chúng ta đang trốn khỏi Gethsemane và kẻ thù của ta để đến một lâu đài mới màNgười đã chuẩn bị cho chúng ta.
    Sơ Theresa không biết mình đã nói thành tiếng.
    – Tôi... không có gì đâu, - bà lẩm bẩm.
    Lucia nhìn bọc vải mà sơ Theresa đang giữ.
    – Chắc là nặng lắm. - Cô tỏ ý thông cảm. - Sơ không để tôi mang đỡ cho một lúc?
    Sơ Theresa càng ôm nó chặt hơn vào người.
    – Giêsu còn mang nặng hơn. Tôi mang cái này vì Người.
    Một cái gì đó rất kỳ quặc trong giọng nói của bà.
    – Sơ vẫn bình thường đấy chứ?
    Tất nhiên.
    Sơ Theresa không ngủ được:
    Bà thấy choáng váng, rồi lên cơn sốt. Trí óc lại đang đánh lừa bà. Mình không được ốm, Mẹ Bentina sẽ quở trách mình. Nhưng Mẹ Bentina không có đó. Mọi thứ vẫn lẫn lộn. Và những người đàn ông này là ai? Mình không tin họ. Họ muốn gì ở mình nhỉ...
    Rubio Arzano tìm cách bắtchuyện, cố làm bà tự nhiên.
    – Ra thế giới bên ngoài chắc các sơ lạ lắm nhỉ. Sơ ở trong tu viện bao lâu rồi?
    – Ba mươi năm. Sao hắn lại muốn biết?
    – Ôi thật là dài. Sơ từ đâu tới đấy?
    Bà cảm thấy thật đau đớn phải nói lại cái từ ấy:
    – Eze.
    Mặt anh ta sáng bừng.
    – Eze? Một lần tôi đã đến đó nghỉ hè. Thật là một thị trấn đáng yêu. Tôi biết rõ nơi đó. Tôi nhớ...
    Tôi biết rõ nơi đó. Rõ thế nào? Hắn có biết Raoul không? Hay chính Raoul cử hắn tới đây? Và sự thực giáng xuống bà như một tia chớp. Bọn người lạ mặt này sẽ đưa bà về Eze, về với Raoul Givradot. Chúng bắt cóc bà. Chúa đang trừng phạt vì bà đã bỏ đứa con của Monique:
    Bây giờ thì bà đã hiểu đứa bé bà nhìn thấy khi trước ở Villacastin là con của em gái bà.
    – Nhưng không thể thế được, phải không? Việc đó đã hơn ba chục năm về trước, - Theresa lẩm bẩm. - Bọn chúng đang dối trá mình.
    Rublo Arzano để ý những tiếng lẩm bẩm.
    – Có chuyện gì vậy, sơ?
    – Không - Sợ Theresa quay ngoắt đi.
    Bà đi guốc vào bụng họ. Bà sẽ không để họ bắt. Raoul và đứa trẻ đó về. Bà phải tới tu viện ở Mendavia trao lại cái hình thập giá Vàng để Chúa sẽ tha thứ cho tội lỗi khủng khiếp mà bà đã phạm. Mình phải thông minh mới được.
    Không thể để bọn chúng hiểu rằng mình biết thừa đều bí mật của chúng.
    – Tôi vẫn khoẻ, - bà đáp Vượt qua cánh đồng khô cháy nắng, họ đến một làng nhỏ. Nơi đó, những người đàn- bà nông dân vận đồ đen đang giặt giũ dưới mái lều lợp rạ. Đám phụ nữ trải quần áo trên những tấm đá, rồi giũ sạch trong dòng nước tuôn chảy.
    Thanh bình quá, Rubio nghĩ. Cảnh trí gợi đến công việc đồng áng mà anh đã bỏ lại, không bom đạn, không giết chóc. Có bao giờchúng ta còn được thấy lại hoà bình?
    – Xin chào – Xin chào – Làm ơn cho chúng tôi hớp nước. Đi xa quả là khát.
    – Đúng thế. Xin các vị cứ tự nhiên.
    Nước mát làm họ tỉnh cả người.
    Cảm ơn các bà, tạm biệt.
    Tạm biệt!
    Rubio không muốn cất bước. Tomas kéo anh ta lên trước, thì thầm trao đổi.
    Chúng đang nói về ta đấy. Chúng tưởng mình không biết gì về âm mưu đó.
    Sơ Theresa tiến gần đến để xem họ đang nói gì.
    –... Một khoản thưởng 500. 000 pesetas cho cái đầu của chúng ta. Tất nhiên.
    thằng Acoca sẽ trả cao hơn đối với Jaime, nhưng hắn không cần cái đầu. Hắn cần cái khác của anh ấy kia...
    Cả hai cùng phá lên cười.
    Nghe lỏm được, sự khẳng định trong Therêsa càng lớn. ĐÂy là bọn giết người đang làm việc cho quỷ sa tăng, quỷ phái chúng đến để đem ta đày xuống địa ngục Nhưng Chúa mạnh hơn bọn chúng, Người sẽ không cho chúng bắt ta về nhà.
    Raoul Givradot đang ở bên bà, nở một nụ cười mà bà hiểu rất rõ Ca sĩ!
    Xin lỗi, ông nói gì?
    Hôm qua tôi được nghe cô hát. Cô thật kỳ điệu. Xin phép được giúp cô Xin ông bán giúp cho ba thước vải muslin.
    Xin sẵn sàng. Đường này... Dì của tôi là chủ cửa hiệu này. Bà ấy cần người làm, và tôi nghĩ làmình có thể làm cho bà ấy một thời gian.
    Anh tin chắc em có thể có bất cử người đàn ông nào mà em muốn. Theresa, nhưng anh hy vọng em sẽ chọn anh.
    Anh ấy đẹp trai biết bao.
    Anh chưa từng gặp một ai như em, em yêu.
    Raoul cầm lấy tay cô và n cô đằm thắm.
    Em sắp thành một nàng dâu xinh đẹp.
    Nhưng bây giờ mình đã là nàng dâu của Chúa Kito. Mình không thể quay về với Raoul được Lucia theo sát sơ Theresa. Bà đang nói chuyện một mình, không tài nào nghe rõ được.
    Bà ấy sẽ kiệt sức, Lucia nghĩ bụng. Chả mấy chốc ta sẽ đoạt được. cây thánh giá ấy.
    Tới sẩm tối, họ nhìn thấy thị trấn Olmedo ở phía xa.
    Rubio dừng lại:
    – Ở đồ hẳn có bọn lính! Ta hãy theo dường đồi vòng qua thị trấn.
    Họ vượt qua mấy cánh đồng, hướng tới vùng đồi trên Olmedo. Vừa leo tới đỉnh đồi, Tomas Sanjiuro bỗng đưa tay ra hiệu:
    – Dừng lại, - anh ta thì thầm.
    Rubio bước tới bên, hai người cùng đi ra ven đồi và nhìn xuống thung lũng phía dưới. Ở đó có một đám lính cắm trại.
    – Mẹ kiếp! - Rubio thì thào. Phải tới một trung đội. Chắc chúng sẽ rút quân vào sáng mai, lúc đó ta sẽ đi tiếp.
    Anh quay sang Lucia và Theresa, cố gắng không để lộ sự lo lắng.
    – Các sơ chúng ta sẽ nghỉ đêm ở đây. Phải rất yên lặng. Dưới kia có lính.
    Đó là điều tốt đẹp nhất mà Lucia được nghe. Tuyệt vời, cô nghĩ. Ta sẽ biến đi cùng cây thánh giá vào lúc nửa đêm. Họ sẽ không dám đuổi ta vì sợ bọn lính.
    Đối với sơ Theresa, tin này có ý nghĩa khác. Bà đã nghe hai người đàn ông nói rằng đại tá Acoca đang lùng bắt họ. Bọn chúng gọi đại tá Acoca là kẻ thù.
    Nhưng những người này mới là kẻ thù, cho nên đại tá Acoca sẽ là bạn ta. Cảm tạ Chúa đã đưa đại tá Acoca đến với con.
    Rublo cao lớn nói với bà:
    – Sơ có hiểu không? Chúng ta phải rất, rất, im lặng.
    – Vâng, tôi hiểu.
    Ta hiểu hơn cả ngươi tưởng Họ không hề biết rằng Chúa đã giúp bà nhìn thấu tim đen họ Tomas Sanjuro tỏ ra ân cần:
    – Tôi hiểu tình hình này khó khăn cho hai sơ thế nào, nhưng chúng tôi đảm bảo đưa các sơ đến tu viện an toàn.
    Tới Eze, hắn định nói thế. Ôi, hắn thật xảo quyệt. Hắn thốt ra những lời đường mật của quỷ sa tăng. Nhưng Chúa trong ta, và Người đang dẫn dắt ta.
    Họ thu xếp chỗ ngủ cho hai sơ cạnh nhau.
    Trời đêm trong vắt điểm những ánh sao nhấp nháy. Lucia khấp khởi nghĩ thầm:
    Chỉ vài giờ nữa ta sẽ lên đường tới tự do. Ngay khi chúng ngủ say. Cô ngáp. Cô không nhận thấy mình đã mệt mỏi thế nào. Cuộc hành trình dài, gian khổ và sự căng thẳng đầu óc đã làm cả nhóm mệt lử. Mắt cô nặng trĩu. Mình sẽ chợp mắt một tí thôi, Lucia nghĩ.
    Cô thiếp đi.
    Sơ Theresa nằm gần Lucỉa, tỉnh như sáo. Bà đang chống lại những kẻ muốn đày đọa linh hồn bà xuống địa. ngục bằng cách bắt giữ bà. Mình đang tỉnh táo.
    Chúa đang thử thách mình, Người đày đọa mình thế này để mình tìm được đường về với Người. Và những kẻ này đang cố sức ngăn cản mình...
    Bốn giờ sáng, sơ Theresa lặng lẽ ngồi đậy. Cách bà vài tấc Tomas Sanjuro đang say giấc. Người đen, cao lớn tên là Rubio thì đang gác ở bìa khoảng trống, quay lưng lại. Bà có thể nhìn rõ bóng anh ta đổ trên hàng cây.
    Rất nhẹ nhàng, sơ Theresa trở dậy. Bà ngần ngừ, nghĩ đến cây thánh giá. Có nên mang theo không? Nhưng mình sẽ về ngay thôi mà. Chỉ cần tìm một nơi giấu an toàn cho tới khi quay lại. Bà nhìn xuống chỗ Lucia đang nằm. Đúng Bên sơ này nó sẽ được an toàn.
    Bà lặng lẽ tới bên Lucia đang ngủ và nhẹ nhàng luồn cây thánh giá được bọc kỹ vào trong chăn. Lucia không hề hay biết. Sơ Theresa quay lưng và đi vào khu rừng, thoát khỏi tầm nhìn của Rubio Arzano, rồi thận trọng lần xuống đồi đi về hướng trại lính. Đồi dốc và trơn ướt sương đêm, nhưng Chúa đã chắp cánh để bà băng băng xuống đồi mà chẳng hề vấp ngã, bà lao đến với sự cứu vớt linh hồn.
    Trong bóng đêm phía trước, một bóng người đột ngột hiện ra.
    Một giọng nói vang lên:
    Ai đó?
    – Sơ Theresa.
    Bà tiếnđến bên người lính gác mặc quân phục đang chĩa súng vào bà.
    – Này bà già, bà ở đâu đến đây?
    Bà nhìn anh ta vớicặp mắt bừng sáng.
    – Chúa cử ta đến.
    – Chúa à? Đêm hôm thế này sao?
    – Phải, Người cử ta tới gặp đại tá Acoca.
    – Về nới với Người rằng bà không phải gu của công đại tá Chào bà. Anh lính lắc lắc đầu.
    – Ông không hiểu gì cả. Tôi là sơ Theresa từ tu viện Cistercian. Tôi đang bị Jaime Miro và đồng bọn bắt giữ.
    Bà nhìn thấy sự kinh ngạc hiện trên mặt người lính. - Bà từ... bà từ tu viện đó sao?
    – Phải.
    – Tu viện ở Avila?.
    – Đúng.:
    Theresa kiên nhẫn giải thích Có chuyện gì thế nhỉ? Anh ta không nhận thấy việc bà thoát được lũ ma quỷ đó quan trọng thế nào sao?
    – Đại tá hiện giờ không có ở đây, thưa sơ. - Anh lính thận trọng nói. Câu nói như một gáo nước lạnh. Nhưng đại tá Sostelo phụ trách ở đây, tôi có thể đưa bà tới gặp ông ấy.
    – Ông ấy có thể giúp tôi được không?
    – Ồ, tôi đảm bảo là ông ấy giúp được. Xin bà đi theo tôi.
    Chắc hẳn anh lính gác không dám tin vào vận may của mình. Đại tá Fal Sostelo đã cử nhiều toán lính bủa lưới khắp nước để tìm bắt bốn nữ tu nhưng không kết quả. Giờ bỗng dưng một trong bốn nữ tu đó lại dẫn thân đến trại, lại gặp đúng anh ta để đầu thú đại tá, sắp sướng rơn lên đây.
    Hai người bước vào lều, nơi đại tá Fai Sostelo, người phó chỉ huy của mình đang cắm đầu vào bản đồ. Họ cùng ngẩng lên nhìn.
    – Xin lỗi ngài đại tá. Đây là sơ Theresa ở tu viện dòng Cistercian.
    Đại tá Sostelo nhìn người phụ nữ mà không tin vào mắt mình. Suốt ba ngày, tất cả mọi nỗ lực đều được sử dụng để tìm cho được Jạime Miro cùng các nữ tu sĩ, và bây giờ, trước, mắt mình là một trong số đó. Đứng là có Chúa thật.
    – Mời sơ ngồi.
    Thời gian đâu mà ngồi, sơ Theresa nghĩ. Bà phải cho ông ta thấy được nó cấp bách thế nào.
    – Chúng ta phải nhanh lên. Bọn chúng đang tìm cách bắt tôi về Eze.
    – Ai dang bắt bà về Eze? - Viên đại tá bối rối.
    – Bọn người của Jaime Miro.
    – Thưa sơ, có một lúc nào tình cờ sơ biết bọn chúng ở đâu không - Đại tá đứng dậy.
    – Tất nhiên. - Sơ Theresa nóng ruột nói.
    Bà quay lại và chỉ lên phía trên núi.
    – Chúng đang trốn các ông trên kia kìa.
    o O o
    Sau khi gặp Ellen Scott, Aian Tucker đi ngay Avila, lòng đầy phấn chấn.
    Elien Scott không phải loại người có ý thích thất thường. Đằng sau chuyện này sẽ là cái gì Đó rất lý thú đấy, Aian Tucker nghĩ, và ta có linh tính rằng, nếu ngả Đúng quân bài ta sẽ được một món rất bở.. Ông trọ ở khách sạn Cuatro Postes, hỏi người tiếp Đón.
    – Quanh Đây có tòa báo nào không?
    – Ở dưới phố, thưa ông. Phía bên trái, sau hai tòa nhà kia.
    – Cảm ơn cô – Không có gì.
    Dọc theo phố chính, thị trấn đã tấp nập trở lại sau giờ nghỉ trưa. Tucker nghĩ đến cô gái bí ẩn mà ông có nhiệm vụ phải đưa về. Điều này chắc rất quan trọng.
    Nhưng vì sao quan trọng? Bên tai ông văng vẳng tiếng Elien Scott:
    Nếu cô ta còn sống, mang cô ấy về cho tôi, ông không được nói chuyện này với bất kỳ ai.
    Vâng, thưa bà. Tôi sẽ nói gì với cô ấy Ông cứ nói là một người bạn của cha cô ấy muốn gặp. Cô ấy sẽ đến.
    Tucker tìm được nhà báo. Ông tiến đến gần một trong hàng chục người đang ngồi sau dãy bàn bên trong, – Làm ơn cho tôi gặp ông tổng biên tập.
    Người đàn ông chỉ vào một phòng.
    – Trong Đó, thưa ông.
    – Cảm ơn Tucker mở cửa phòng và nhìn vào trong. Một người trạc tuổi ba mươi ngồi sau bàn đang có vẻ bận rộn.
    – Tôi giúp được gì ông? - Người đàn ông nhìn lên.
    – Tôi đang đi tìm một Senorita.
    – Chỗ tôi chưa có đủ sao, thưa Senol? - ông ta mỉm cười – Cô ta bị bỏ lại ở một nhà nông dân quanh Đây, khi còn bé xíu.
    – Ồ, cô ấy bị bỏ hay sao? - Nụ cười nhạt đi.
    – Đúng vậy.
    – Và ông đang đi tìm cô ấy?
    – Đúng là như thế.
    – Việc Đó cách Đây bao lâu, thưa ông?
    – Hai mươi tám năm.
    – Trước thời tôi, có lẽ chẳng dễ dàng lắm Đâu.
    – Ông có thể chỉ giùm người có khả năng giúp tôi không?
    Ông tổng biên tập ngả người ra sau nghĩ ngợi.
    – Đúng là tôi có thể giúp được. Ông thử đến tìm cha Berrendo xem.
    Cha Berrendo trầm ngâm nghe người lạ mặt, một vạt áo linh mục trùm lên đôi chân gầy.
    Khi Aian Tucker nói lý do tới Đây, cha Berrendo hỏi:
    – Tại sao ông lại muốn tìm hiểu về chuyện này, Senor? Nó xảy ra lâu lắm rồi:
    Ông muốn biết cụ thể điều gì?
    Tucker do dự, thận trọng chọn từ:
    – Tôi không được toàn quyền nói ra. Tôi chỉ có thể đảm bảo với cha rằng nó sẽ không có hại gì đối với người phụ nữ Đó. Nếu có thể, cha cho tôi biết địa chỉ nhà người nông dân mà cô ta bị bỏ lại.
    Nhà người nông dân. Ký ức trong cha ngược về ngày mà hai vợ chồng Moras đến gặp cha sau khi đã mang đứa bé tới bệnh viện.
    Tôi nghĩ là đứa bé sắp chết, thưa cha. Chúng tôi phải làm gì bây giờ.
    Cha Berrendo gọi điện tới Don Marago, cảnh sát trưởng.
    – Tôi nghĩ đứa bé đã bị một khách du lịch nào Đó đến Avila bỏ lại. Ông thử kiểm tra các khách sạn, các nhà trọ xem ai khi đến có mang theo một đứa bé mà lúc đi thì lại không.
    Cảnh sát rà soát kỹ tất cả các thẻ đăng ký mà các khách sạn đều phải làm nhưng không tìm được gì.
    – Con bé cứ như từ trên trời rơi xuống, - Don Marago nói.
    Ông ta không hề biết rằng mình đã tới gần đến sự bí ẩn như thế nào.
    Khi cha Berrendo mang đứa bé đến trại trẻ mồ côi, Mercedes Angeles hỏi:
    – Thưa cha, nó có tên không?
    – Tôi không biết.
    – Thế không có cái chăn hay thứ gì khác đề tên nó à?
    – Không.
    Mercedes Angeles nhìn đứa bé trên tay linh mục.
    – Vậy chúng ta sẽ phải đặt cho nó một cái tên, phải không thưa cha?
    Bà vừa môi đọc xong một cuốn tiểu thuyết trữ tình và rất thích cái tên của một nhân vật nữ trong Đó.
    – Megan, - bà nói, - chúng ta gọi nó là Megan.
    Và mười bốn năm sau, cha Berrendo lại đem Megan tới tu viện dòng Cistrician.
    Ngần ấy năm sau nữa, người đàn ông lạ mặt này lại đi tìm cô gái Đó. Cuộc đời luôn là một vòng tròn khép kín, Cha Berrendo nghĩ thầm. Theo một cách bí ẩn nào Đó mà nó đã xoay vòng đối với Megan. Không, không phải Megan. ĐÓ là cái tên mà trại mồ côi đã đặt cho con bé.
    – Mời ông ngồi. - Cha Berrendo nói. Có nhiều điều để kể cho ông nghe.
    Và cha bắt đầu câu chuyện.
    Sau khi linh mục kể xong, tâm trí Aian Tucker rộn lên. Chắc chắn là phải có một lý do đích đáng mới khiến Elien Scott quan tâm tới. Đứa trẻ bị từ bỏ ở một nhà nông dân Tây Ban Nha hai mươi tám năm về trước mà bây giờ là một phụ nữ tên gọi Megan, theo như ông linh mục này.
    Cứ nói là một người bạn của cha cô ấy muốn gặp.
    Nếu ông nhớ Đúng thì Byron Scott cùng vợ và con gái đã bị chết trong một tai nạn máy bay Đâu Đó ở Tây Ban Nha nhiều năm về trước. Liệu có một mối quan hệ nào chăng? Aian Tucker thấy cái cảm giác kích thích đang lớn dần trong ông.
    Thưa cha, tôi muốn được tới tu viện thăm cô ta. Điều này rất hệ trọng.
    Linh mục lắc đầu.
    – Ông tới quá muộn, vài ngày trước tu viện đã bị quân chính phủ tiến công.
    Aian Tucker nhìn linh mục.
    – Bị tiến công? Thế các nữ tu sĩ có làm sao không?
    – Họ đã bị bắt và bị đem đi Madrid.
    – Cảm ơn cha. - Aian Tucker đứng dậy Ông ta định sẽ đáp chuyến máy bay sớm nhất đi Madrid.
    – Bốn trong số các nữ tu đã trốn thoát. Sơ Megan có trong số Đó. - Cha Berrendi tiếp tục.
    Sự việc trở nên phức tạp.
    – Thế bây giờ. cô ấy ở Đâu?
    – Không một ai biết. Cảnh sát và quân đội đang lùng bắt cô ta và những tu sĩ cùng trốn.
    – Tôi hiểu.
    Trong những trường hợp bình thường, Aian Tucker đã gọi điện về cho Elien Scott để báo ràng vụ việc bế tắc Nhưng sự nhạy cảm của nghề thám tử đã mách bảo ông có cái gì Đó cần phải điều tra tiếp.
    Ông gọi điện cho Elien Scott.
    – Cũng khó khăn đôi chút, thưa bà Scott.
    Ông ta kể lại cuộc nói chuyện với linh mục.
    – Không một ai biết cô ta đang ở Đâu sao?
    – Cô ta và những người khác đang trốn chạy, nhưng họ sẽ không thể trốn được lâu bởi đang bị cảnh sát và một nửa quân đội Tây Ban Nha truy tìm. Khi nào họ thò mặt ra, tôi sẽ đến ngay.
    Im lặng.
    – Việc này rất hệ trọng với tôi, ông Tucker.
    – Rõ, thưa bà Scott.
    Aian Tucker trở lại tòa báo và nói với người tổng biên tập:
    – Nếu có thể được, ông cho phép tôi xem những số báo cũ của ta.
    – Ông đang tìm một diều gì Đó đặc biệt?
    – Vâng. Trước kia, tại Đây đã xảy ra một tai nạn máy bay.
    – Bao giờ thưa ông?
    – Hai mươi tám năm trước. Năm l948.
    Mười lăm phút sau Aian Tuker đã có được số báo ông cần tìm. Một dòng tít lớn làm tim ông chực nhảy ra ngoài.
    MÁY BAY RƠI LÀM CHẾT NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ CẢ GIA ĐÌNH Ngày 1 tháng Mười năm l948, Byron Scott, Chủ tịch của Scott Industries, cùng vợ, Susan và con gái một tuổi, Patricia, bị chết cháy trong một tai nạn máy bay...
    Vớ bở rồi? Tucker cảm thấy tim mình đập dồn dập. Nếu điều Đó Đúng như mình nghĩ, thì mình sắp thành một người giàu có... một người rất giàu có.
    o O o
    Nằm khỏa thân trên giường, cô cảm giác được cơ thể Benito Patas đang đè lên mình. Người cô rạo rực có cái gì không ổn. Mình đã giết Patas, cô nghĩ, hắn chết rồi cơ mà.
    Lucia choàng dậy, thảng thất nhìn quanh. Đâu ra Benito? Cô đang ở trong rừng, và trong chiếc túi ngủ. Có cái gì Đó đè lên đùi. Lucia lôi ra, và Đó là cây thánh giá được bọc trong vải. Cô nhìn nó nghi hoặc. Chúa đã dành cho mình một phép mầu, cô nghĩ.
    Lucia không thể hiểu làm sao cây thánh giá lại ở Đó, song cô cũng chẳng bận tâm, Cuối cùng thì cô cũng đã có nó trong tay. Tất cả những gì phải làm lúc này là nhanh chóng chuồn khởi nơi Đây.
    Cô bò ra khỏi chăn và nhìn sang chỗ Theresa. Bà ta đã biến Đâu mất. Lucia quan sát trong bóng đêm, chỉ nhìn thấy Tomas Sanjuro mờ ảo ở bìa bãi trống, mặt quay nhìn hướng khác. Rubio ở Đâu. Không thành vấn đề. Đến lúc biến khỏi nơi Đây rồi.
    Cô bắt đầu lần mò ra khỏi bãi trống, tránh hướng Sanjuro, lom khom để khỏi bị phát hiện.
    Đúng lúc Đó, màn đêm đột nhiên bị xé toang.
    Đại tá Fai Sostelo phải ra một quyết định. Mình đã nhận được mệnh lệnh từ chính ngài thủ tướng là phải hợp tác chặt chẽ với đại tá Ramon Acoca để giúp hắn tóm được Jaime Miro và bọn tu sĩ. Nhưng số phận đã phù hộ bằng cách đặt vào tay mình một trong những tu sĩ ấy Tại sao lại phải chia sẻ vận may này với Acoca khi tự mình có thể tóm được bọn khủng bố và hưởng vinh quang một mình? Mẹ thằng Acoca, Fai Sostelo nghĩ, cơ hội này là của ta. Biết Đâu OPUS MUNDO lại dùng mình thay Acoca. Vất mẹ nó đi những trò cờ quạt với chả nắm được tính toán của đối thủ. Phải, giờ là lúc phải dạy cho thằng khổng lồ sẹo mặt ấy một bài học.
    Đại tá Sostelo ra những mệnh lệnh rõ ràng cho binh lính.
    – Không bắt sống một đứa nào. Các anh đang đứng trước bọn khủng bố. Tiêu diệt hết.
    – Thưa đại tá, - thiếu tá Porte ấp úng, - trong Đó còn có cả các tu sĩ, có nên...
    – Để bọn khủng bố nấp sau bọn tu sĩ à? Không, chúng ta sẽ không để tuột cơ hội này.
    Sostelo chọn mười hai người cho cuộc tấn công và ra lệnh trang bị kỹ càng.
    Trong đêm, chúng lặng lẽ trèo lên sườn núi dốc. Trăng đã ẩn sau những đám mây, giáp mặt không nhìn rõ mặt. Tuyệt. Bọn chúng không thể thấy được ta đang đến.
    Khi tất cả đã sẵn sàng, Sostelo hét vang hết cỡ giọng:
    – Bỏ vũ khí xuống, các anh đã bị bao vây! Và chưa dứt câu, hắn đã xuống lệnh. - Bắn! Bắn liên tục!
    Mười hai khẩu súng đồng loạt khạc đạn.
    Tomas Sanjuro không kịp hiểu điều gì xảy ra. Một loạt đạn găm vào ngực và anh chết trước khi đổ xuống mặt đất. Rubio Arzano đang ở phía bên kia của bãi trống lúc súng bắt đầu nổ. Thấy Sanjuro gục ngã anh giương súng định bắn trả nhưng rồi lại kịp dừng tay. Khoảng trống tối như mực. Nếu bắn trả, khác nào lạy ông tôi ở bụi này.
    Anh rất ngạc nhiên khi thấy Lucia đang lom khom cách mình vài bước chân.
    – Sơ Theresa Đâu? - Anh thì thào.
    – Bà ấy... bà ấy đi rồi.
    – Thấp xuống, - Rubio bảo.
    Anh lôi tay cô và hai người chạy ngoằn ngoèo về phía khu rừng, ra khỏi tầm đạn. Đạn rít vèo vèo xung quanh nhưng trong chốc lát cả hai đã vào được rừng cây. Họ vẫn chạy. Rồi họ nghe tiếng hò hét xa dần. Đuổi bắt được ai trong khu rừng tối đen như mực thế này?
    Rubio dừng lại cho Lucia thở.
    – Ta đã mất hai người, vẫn phải đi tiếp thôi. Anh nghe tiếng Lụcia đang thở dốc. - Cô có cần nghỉ một chút không?
    – Không, - cô đáp. Mặc dầu đã kiệt sức nhưng cô không hề có ý định để bị tóm, nhất là vào lúc cô đã có cây thánh giá trong tay.
    – Tôi khỏe. Ta hãy đi khỏi Đây ngay.
    Đại tá Fai Sostelo đang đứng trước thảm họa. Một tên khủng bố bị giết, nhưng có Chúa mới biết bao nhiêu tên đã thoát. Hắn không tóm được Jaime Miro hoặc một tên đồng bọn dù là tép riu nào, mà chỉ mỗi bà sơ. Sostelo biết mình phải báo cáo đại tá Acoca về sự việc đã xảy ra, nhưng hắn không hề mong đợi điều Đó.
    Cú điện thứ hai của Alan Tucker gọi về khiến Ellen Scott thấy tình hình đáng ngại hơn nhiều.
    – Tôi đã tình cờ thu thập được một số tin tức khá thú vị, thưa bà Scott. - Ông ta thận trọng nói.
    – Tin gì Đó?
    – Tôi đã đọc kỹ một số báo cũ ở Đây, hy vọng có thêm được thông tin về cô gái.
    – Sao nữa? - Bà dốc hết nghị lực để Đón nhận cái mà bà biết nó sẽ tới.
    – Hình như đứa bé bị bỏ rơi vào khoảng thời gian vụ tai nạn máy bay. - Tucker vẫn giữ giọng điềm đạm.
    Im lặng. Rồi ông ta tiếp tục.
    – Vụ tai nạn đã làm thiệt mạng người anh chồng của bà cùng vợ và con họ, cháu Patricia.
    Tống tiền Đây. Không thể có sự giải thích nào khác. Vậy là ông ta đã tìm ra.
    – Phải đấy, - bà điềm đạm nói. - Lẽ ra tôi phải nói trước với ông. Tôi sẽ giải thích tất cả khi ông trở về. Có tin gì mới về con bé không?
    – Chưa, nhưng cô ta khó mà trốn lâu được. Cả nước Tây Ban Nha đang cùng tìm kiếm cô ấy.
    – Có gì mới nhớ báo tôi ngay. Bà dập nhanh máy.
    Alan Tucker lặng lẽ nhìn ống nói câm lặng trong tay. Quả là một người đàn bà lạnh lùng, ông cảm phục nghĩ. Không biết bà ta sẽ cảm thấy ra sao khi có một bạn tình?
    Ta đã sai lầm khi phái hắn đi, Elien Scott nghĩ. Phải làm gì để hãm hắn lại.
    Rồi sẽ làm gì đối với cô gái?
    Một tu sĩ. Chừng nào gặp nó hẵng hay. Tiếng người thư ký vang trong máy điện thoại nội bộ.
    – Khách đang đợi bà ở văn phòng, thưa bà Scott.
    – Tôi đến đây Lucia và Rubio tiếp tục băng rừng, chốc chốc lại vấp ngã, mặc cho gai góc cản chân, rắn rết đe dọa, thêm mỗi bước là thêm mỗi xa kẻ thù.
    Cuối cùng, Rubio nói:
    – Dừng đây được rồi. Chúng không đuổi nữa Đâu.
    Họ đang ở trên núi cao, giữa rừng rậm.
    Lucia ngả lưng xuống đất, cố lấy lại hơi. Trong óc bỗng hiện lên cảnh tượng khủng khiếp vừa được chứng kiến. Tomas gục ngã không một lời trối trăng. Cái bọn khốn ấy định giết hết tụi mình Đây, Lucia nghĩ:
    Lý do duy nhất giải thích cho việc cô còn sống sót là sự có mặt của người đàn ông ngồi bên cô.
    Cô nhìn Rubio khi anh đứng dậy đi xem xét xung quanh.
    – Ta có thể nghỉ hết đêm ở Đây thưa sơ.
    – Phải đấy. - Cô nóng lòng muốn đi, nhưng lại biết mình cũng cần nghỉ ngơi.
    Như đọc được ý nghĩ cô, Rubio nói:
    – Chúng ta sẽ đi tiếp vào lúc bình minh.
    Lucia thấy cồn cào trong bụng. Thậm chí mới nghĩ vậy thôi, Rubio đã lên tiếng:
    – Chắc sơ phải Đói lắm. Tôi sẽ đi kiếm chút gì về ăn. Sơ có yên tâm ở Đây một mình không?.
    – Vâng, sẽ tốt thôi.
    Người đàn ông to lớn khom người ngồi xuống bên cô.
    – Xin sơ đừng quá lo sợ. Tôi hiểu. Đối với sơ, sẽ khó khăn biết bao khi trở lại thế giới này sau bao năm giam mình trong tu viện. Mọi thứ chắc đều hết sức xa lạ.
    Lucia nhìn anh ta, nói với giọng lãnh đạm:
    – Tôi sẽ cố làm quen với nó.
    – Sơ thật dũng cảm, thưa sơ. - Anh đứng dậy. - Tôi quay về ngay thôi..
    Cô nhìn theo Rubio biến mất trong rừng cây. Đã tới lúc phải có một quyết định, và cô có hai lựa chọn. Có thể trốn ngay lúc này, tới một thị trấn gần nhất, bán cây thánh giá để có hộ chiếu và tiền sang Thụy Sĩ. Hoặc là ở lại với người đàn ông này cho tới khi tránh hẳn được bọn lính. Như thế an toàn hơn, Lucia quyết định.
    Cô nghe tiếng động trong rừng và quay lại. Đó là Rubio, miệng tươi cười.
    Chiếc mũ bê rê đầy cà chua, nho và táo.
    Anh ngồi xuống bên cô.
    – Bữa sáng Đây. Một con gà béo thì dễ ợt, nhưng nếu nhóm lửa để nướng thì sẽ lộ mất. Ngay sườn núi này có một trang trại.
    Lucia nhìn chằm chằm những thứ trong mũ.
    – Nhiều đấy nhỉ. Tôi đang Đói mềm Đây.
    – Ăn thử xem. - Anh đưa cô một quả táo.
    Ăn xong, Rubio thao thao trong khi Lucia mê mải với những tính toán của mình, chẳng để ý gì.
    – Mười năm. Sơ nói là đã ở trong tu viện mười năm?
    – Sao cơ? - Lucia giật mình.
    – Sơ đã ở tu viện mười năm rồi?
    – Ổ, đúng thế.
    – Vậy thì sơ sẽ chẳng biết được những gì đã xảy ra suốt thời gian Đó. - Anh lắc lắc đầu.
    – Dạ.... không.
    – Mười năm qua thế giới đã thay đổi kinh khủng sơ ạ.
    – Thật thế ư?
    – Franco đã chết rồi. - Rubio nói hào hứng.
    – Chết thế nào được?
    – Ồ, Đúng thế đấy. Chết hồi năm ngoái.
    Và chỉ định Juan Carlos làm người kế tục mình Lucia nghĩ bụng.
    – Sơ có thể rất khó tin, nhưng lần đầu tiên đã có một người bước lên mặt trăng. Sự thực Đúng thế.
    – Thật á? - Đúng ra là hai cơ. Tên của họ là gì nhỉ? NeilArmstrong và Buzzsomething.
    – Ồ phải. Những người Bắc Mỹ. Và còn có một chiếc máy bay hành khách bay nhanh hơn cả tiếng động.
    – Không thể tin được. - Mình muốn nhảy ngay lên chiếc Concorde Đó.
    Rubio thì như đứa trẻ, sung sướng được đưa Lucia tới những sự kiện của thế giới.
    – Ở Bồ Đào Nha đã nổ ra một cuộc cách mạng và ở Mỹ, tổng thống Nixon đã dính líu vào một vụ tai tiếng lớn và phải từ chức.
    Rubio thật dễ mến, Lucia nghĩ.
    Anh lấy ra gói thuốc lá Ducados, loại thuốc đen, hút khá nặng của Tây Ban Nha.
    – Hy vọng tôi hút thuốc sẽ không làm cô khó chịu.
    – Không sao, - Lucia nói, - cứ tự nhiên.
    Cô nhìn anh châm thuốc, và khi khói thuốc bay vào mũi, cô thấy thèm quá.
    – Tôi thử một điếu có được không?
    – Cô muốn thử một điếu thuốc lá? Thật không?
    – Chỉ để biết nó ra làm sao thôi mà, Lucia làm vẻ ngượng ngùng.
    – Ồ, được chứ.
    Anh chìa gói thuốc ra. Cô rút một điếu đặt lên miệng, và anh châm lửa.
    Lucia rít sâu một hơi. Khi khói thuốc tràn đầy buồng phổi cô cảm thấy tuyệt vời.
    Rubio nhìn cô, bối rối.
    – Té ra là mùi vị thuốc lá như vậy. - Cô ho.
    – Sơ có thích không?
    – Không hẳn, nhưng...
    Lucia hút tiếp một hơi dài nữa. Trời, cô nhớ nó biết bao. Nhưng cô hiểu mình phải cẩn thận. Không thể để anh nghi ngờ. Vì thế, cô dập điếu thuốc một cách vụng về giữa hai ngón tay. Cô mới chỉ ở tu viện ít tháng, song dầu sao Rubio cũng Đúng. Trở lại thế giới bên ngoài thật kỳ lạ. Cô tự hỏi không biết Megan, Gracielia đang làm gì. Điều gì đã đến với sơ Theresa? Liệu bà ta có bị bọn lính bắt không?
    Mặt Lucia bắt đầu cay cay. Một đêm dài đầy căng thẳng.
    – Tôi muốn chợp mắt một lúc.
    – Đừng lo. Tôi sẽ canh cho sơ.
    – Cảm ơn ông. - Cô nói với nụ cười trên môi. Chỉ một lát sau cô đã ngủ.
    Rubio Arzano nhìn cô và nghĩ:
    Mình chưa từng gặp một phụ nữ như thế này. Cô ta cao cả, dám hiến dâng đời mình cho Chúa, nhưng dẫu vậy từ cô ta cũng toát ra một vẻ trần tục. Đêm nay cô đã hành động một cách dũng cảm như bất cứ người đàn ông dũng cảm nào.
    Cô là một người phụ nữ rất đặc biệt, Rubio Arzano nghĩ thầm khi ngắm Lucia ngủ. Cô gái bé nhỏ của Giêsu.
     
Đang tải...

Chia sẻ cùng bạn bè

Đang tải...
TOP