Các bài thuốc phải áp dụng thận trọng hoặc cấm dùng khi đang mang thai.

ngobinh88

Thành viên mới
Tham gia
6/4/2016
Bài viết
0
Từ xưa, Đông y đã nhận thấy, việc áp dụng thuốc đối với thiếu nữ đang mang thai yêu cầu rất thận trọng. Nếu không chăm chỉ, có thể dẫn tới một vài ảnh hưởng rất xấu, như khiến hoạt động sinh lý của cơ th.ể người mẹ bị rối loạn; gây rong huyết; gây động thai hoặc sảy thai; khiến thai nhi bị teo lại, lười phát triển được; thai bị chết lưu trong bụng mẹ; khiến cho thai nhi bị dị hình, ...
dau-nhuc-xuong-khop-khi-mang-thai.jpg

Phụ nữ mang thai thường mắc nhiều bệnh về xương khớp.
Xem thêm: đau nhức xương khớp khi mang thai
Nói theo hướng khác, thuốc có thể gây tác hại trên 4 phương diện:
  1. Không có lợi đối với cơ th.ể người mẹ;
  2. Không hữu dụng đối với thai nhi;
  3. Không có ích đối với quá trình sinh sản;
  4. Không hữu ích đối với trẻ sơ sinh.
Vận dụng thuốc khinh suất đối với thiếu nữ đang mang thai, có thể gây có nên vài tác động tiêu cực tai hại như vậy, thành ra trong "Đông dược học" có một nội dung mà mỗi người lương y, cũng như Bệnh nhân, bắt buộc phải nắm vững, gọi là "Dựng phụ dược kỵ"; còn gọi là "Nhẫm thân dược kỵ". "Dựng phụ", "nhẫm thân", đều là 1 vài từ Hán Việt, chỉ người thiếu phụ đang mang thai; "dược kỵ" là thuốc buộc phải kiêng kỵ.
Để tiện dụng cho việc sử dụng thuốc trên lâm sàng, hiện tại thuốc bất lợi đối với thai phụ, thường được phân loại theo các cách giải quyết như sau:
1. Phân loại theo công dụng của thuốc:
Nói tầm thường, một số vị thuốc có công dụng thuộc một vài loại: "Hoạt huyết thông kinh", "phá khí hành trệ" (hành khí mạnh để tiêu ứ trệ), "nhuyễn kiên tán kết" (mềm vật rắn, tan khối tích), "công trục tuấn hạ" (tẩy, trục thủy mạnh), "hoạt lợi trọng trụy" (loại thuốc nhuận tràng, lợi tiểu có thể gây sảy thai, sa nội tạng), "tẩu soán khai khiếu" (phát tán, lây lan tỏa nhanh, mạnh trong cơ th.ể), đều là các thứ nên cấm kỵ Tuy nhiên mang thai.
Cụ thể là:
  • Thuốc hoạt huyết thông kinh: Tam lăng, nga truật, hồng hoa, nhũ hương, ích cái thảo.
  • Thuốc phá khí hành trệ: Thanh tị nạnh, chỉ thực, tân lang (hạt cau), đàn hương.
  • Thuốc nhuyễn kiên tán kết: Miết giáp, bối mẫu, hạ khô thảo, bán hạ, thiên nam tinh.
  • Thuốc công trục tuấn hạ: Thương lục, đình lịch, nguyên hoa, khiên ngưu tử (hạt bìm bìm), đại hoàng.
  • Thuốc hoạt lợi trọng trụy: Tỳ ma tử (hạt thầu dầu), đông quỳ tử, du bạch tị nạnh, hoạt thạch, xa tiền tử (hạt mã đề), mộc thông, từ thạch, mông thạch.
  • Thuốc tẩu soán khai khiếu: Xạ hương, băng phiến, tô hợp hương.
Xem thêm: benh gout uong gi ?
2. Phân loại theo đối tượng tác dụng:
Gây tác hại đối với người mẹ hoặc bào thai.
Trong đó đại bộ phận là các thứ thuốc gây tổn hại đối với cơ th.ể người mẹ.
  • Thuốc gây tổn hại đối với cơ th.ể người mẹ, làm mất bản lãnh tiếp tục nuôi dưỡng thai nhi, khiến quá trình mang thai bị gián đoạn, bao gồm vài vị: Hồng hoa, ý dĩ nhân, nguyên hoa, tam lăng, thông thảo, thường sơn, hoạt thạch, qua lâu căn, đại hoàng.
  • Thuốc gây tổn hại trực tiếp tới bào thai, cản trở quá trình phát dục của thai nhi, bao gồm: Bán hạ (làm thai bị tổn thương), bố đậu (làm nát thai), ngô thù du (khiến thai bị nhiễm độc).
3. Phân loại theo hậu quả:
Thuốc có thể gây có nên các ảnh hưởng, như sát thai (làm chết thai nhi), đọa thai (gây trụy thai), hoạt thai (gây động thai), độc thai (khiến thai bị lây độc).
Một số vị thuốc cụ thể:
  • Thuốc sát thai: phụ thân đậu, thủy ngân.
  • Thuốc đọa thai: Nguyên hoa, cam toại, đại kích, khiên ngưu (hạt bìm bìm), vương bất lưu hành, xuyên sơn giáp, bổ cốt chi, lưu hoàng, đào nhân.
  • Thuốc hoạt thai: Xa tiền tử (hạt mã đề), đông quỳ tử, hòe thực, trạch tả.
  • Thuốc gây độc thai: Uất lý nhân, thanh cao, tế tân, tân lang.
4. Phân theo cường độ:
- Thuốc cấm dùng, bao gồm các vị thuốc có độc tính tương đối mạnh và có dược tính mãnh liệt, có thể khiến cơ th.ể người mẹ và bào thai thương tổn nguy hiểm, khiến thai bị chết hoặc sảy thai, như thủy ngân, phê sương, bố đậu, đại kích, thương lục, lê lô, ô đầu, tích phấn, ...
- Thuốc bắt buộc thận trọng, bao gồm các vị thuốc có độc tính tương đối thấp và có dược tính tương đối hoãn hòa. Bao gồm 1 số vị thuốc trong loại thuốc hoạt huyết hành khí, công hạ lợi thủy, nhuyễn kiên tán kết, tẩu soán trọng trụy, như hồng hoa, đào nhân, tân lang, thanh so bì, đại hoàng, trạch tả, mẫu lệ, khổ sâm, tế tân, ...
- Đối với loại thuốc yêu cầu thận trọng khi áp dụng, phải theo đúng phương châm ứng dụng thuốc hữu hiệu và thiết yếu. cụ thể, phải căn cứ vào loại bệnh tình mà cân nhắc xem có bắt buộc phải sử dụng hay ít. Nếu phải sử dụng, phải để ý "biện chứng thi trị" thật chính xác, ứng dụng thuốc đúng liều lượng và đúng phương pháp (thời gian sử dụng). một số vị thuốc nên được bào chế và phối ngũ (phối hợp 1 vài vị thuốc trong thang thuốc) một bí quyết thích đáng, để có thể giảm thiểu tối đa 1 vài tác hại đối với thai phụ và thai nhi. Dường như, để đề phòng phát sinh sự cố, trừ phi làm biếng vận dụng ít được, còn nói thông thường nên phòng tránh vận dụng một số vị thuốc mà người xưa cảnh báo là nên thận trọng. Còn đối với một vài vị thuốc thuộc loại cấm ứng dụng, thì tuyệt đối không chăm chỉ được dùng.
Trên đây mới chỉ liệt kê vài vị thuốc tương đối thông dụng. xa xưa, trong sách "bản thảo c.ương mục" của Lý Thời Trân đã đề cập đến 247 vị thuốc nên dùng thận trọng hoặc cấm dùng khi đang mang thai. Hiện tại, khoa học còn xác định thêm ít không chăm chỉ 1 vài vị thuốc mới, bất lợi hoặc có hại lớn đối với thai phụ. thành thử, khi đang mang thai, nếu cần dùng Đông dược để tẩm bổ hoặc làm thuyên giảm loại bệnh tật, khăng khăng buộc phải có sự Mách bạn và hướng dẫn cụ thể của lương y Đông y.
 
Top