Truyện phong tục

Thảo luận trong 'Tiếng Trung' bắt đầu bởi linhhang89, 27/7/2010. — 3.552 Lượt xem

  1. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Truyện phong tục

    Chữ song hỷ đỏ

    Người Trung Quốc lúc kết hôn đều phải dán hai chữ chữ “ Hỷ” đỏ thật to ở rất nhiều nơi như : trên tường, trên cửa sổ phòng tân hôn…. Mà hai chữ này nhất định phải viết song song, viết thành chữ “Hỷ” như thế này : 喜喜. Người ta gọi nó là chữ “Song hỷ”. Tập tục này có liên quan mật thiết đến nhà văn lớn đời Tống – Vương An Thạch.

    Tương truyền, Vương An Thạch thời trẻ muốn đến kinh thành (nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam) để tham dự kỳ thi toàn quốc. người nhà của Vương An Thạch không yên tâm lắm, bèn nói cho Vương An Thạch nhìn thấy có rất nhiều người đang vây xung quanh cổng nhà Mã viên ngoại. Chàng ta bước đến gần xem thử, chỉ thấy trên cửa có treo một chiếc đèn kéo quân rất đẹp, bên cạnh còn có một vế đối : “ Tẩu mã đăng, đăng mã tẩu, đăng tức mã đình bộ” (Đèn “ngựa chạy” (đèn kéo quân), đèn ngựa cùng chạy, đèn tắt - ngựa dừng chân). Chàng bất giác khen rằng : “ Vế đối hay! Thật là một vế đối hay!” Lúc này, một lão bộc đứng bên cạnh bước ra khỏi đám đông, cúi rạp người trước Vương An Thạch, sau đó nói rằng :“ Tiên sinh, lão đã để ý đến ngài rất lâu rồi, lão vừa nhìn đã nhận ra ngài là một người có tài. Nay ngài đã nói vế đối này là vế đối hay, vậy lão xin nói thật với ngài, đây là vế đối trên do tiểu thư nhà lão đưa ra, nếu ai có thể đối ra được vế dưới thì người đó có thể cưới tiểu thư. Xin ngài đợi cho một lát, lão đây sẽ vào bẩm báo với lão gia”. Nói xong, ông ta liền đi vào.



    Tuy Vương An Thạch, muốn đối ra vế dưới, nhưng chàng phải lập tức đi dự thi, hơn nữa, cậu chàng còn đang đợi ở nhà, cho nên, chàng không đợi ông lão đó ra, bèn lẳng lặng bỏ đi.

    Hôm sau, Vương An Thạch đi dự thi, chẳng mấy chốc chàng đã làm xong bài thi và nộp lên. Quan chủ khảo xem kỹ bài thi của chàng, không kìm được, vô cùng tán thưởng, ông lập tức gọi Vương An Thạch đến và nói với chàng: “ Chàng trai trẻ, ta đã xem bài thi của ngươi, cảm thấy ngươi rất có tài, ngươi có thể đối một vế đối cho ta được không? “ Nói đoạn, ông chỉ vào lá cờ bên ngoài trường thi và đọc : “ Phi hổ kỳ, kỳ quyển hổ tàng thân” ( Cờ “hổ bay” (cờ ở quan phủ), cờ hổ cùng bay, cờ cuốn - hổ ẩn mình). Vương An Thạch vừa nghe, thoắt chốc đã nhớ đến vế đối ở nhà Mã viên ngoại, thế là chàng lập tức đói vế dưới : “Tẩu mã đăng, đăng mã tẩu, đăng tức mã đình bộ “ (Đèn “ ngựa chạy” (đèn kéo quân), đèn ngựa cùng chạy, đèn tắt - ngựa dừng chân). “Hay ! hay ! Ngươi quả là một chàng trai thông minh! Ngươi hãy về trước đợi công bố kết quả nhé!” Quan chủ khảo nói.

    Vương An Thạch vui mừng trở về nhà cậu. Vừa bước vào cổng thì nhìn thây lão bộc nhà Mã viên ngoại hôm qua đang ngồi trong phòng khách. Hoá ra ông lão đã tìm đủ mọi cách để dò hỏi được nơi ở của Vương An Thạch, không ngoài mục đích chạy đến nhờ chàng đối câu đối. Vương An Thạch lúc này đã hoàn toàn nắm chắc, lập tức viết trên giấy vế đối của quan chủ khảo : “ Phi hổ kỳ, kỳ quyển hổ tàng thân” ( Cờ “hổ bay” (cờ ở quan phủ), cờ hổ cùng bay, cờ cuốn - hổ ẩn mình). Lão bộc cầm lấy mang về cho Mã viên ngoại và tiểu thư xem, họ đều rất hài lòng, lập tức quyết định đến nhà cậu của Vương An Thạch để đề nghị chuyện hôn nhân. Nhưng Vương An Thạch vẫn hơi do dự, người cậu hiểu được tâm sự của cháu, bèn cười nói với chàng: “ An Thạch, cháu yên tâm, tiểu thư này là tiểu thư khuê các rất nổi tiếng ở đây, nàng thông hiểu kinh sách, lễ nghĩa, dịu dàng, nết na, chắc chắn sẽ là một người vợ tốt”. Thế là nhà quyết định ba ngày sau sẽ tổ chức lễ cưới cho họ.

    Ngày kết hôn đã đến rồi, mọi người vui mừng hớn hở đưa cô dâu chú rể vao động phòng. Độ nhiên, ngoài cửa sổ vẳng đến tiếng vó ngựa gấp rút, sau đó là một người lớn tiếng đến báo tin. “ Công tử nhà họ Vương – Vương An Thạch đã đỗ đầu bảng! “ Người của hai nhà vừa nghe, càng thêm vui mừng rạng rỡ, thế là hai nhà mở yến tiệc linh đình đãi khách. Lúc uống rượu, một người khách đứng lên đề nghị rằng: “Chà, hôm nay vừa là ngày đại hỷ kết hôn của Vương công tử, lại nhằm lúc đỗ đầu bảng vàng, thật là mừng lại thêm mừng! chúng ta làm thế nào để bày tỏ sự chúc mừng đây?” Cuối cùng, vẫn là Vương An Thạch nghĩ ra một biện pháp tuyệt hay, chàng dùng bút viết lên giấy đỏ một chữ to, dán lên trên của phòng tân hôn. Mọi người nhìn xem, hoá ra là chữ “Song Hỷ” gồm hai chữ “Hỷ” đặt song song cùng nhau.

    Từ đó, lúc kết hôn hoặc ăn mừng, mọi người đều dán một chữ “song hỷ” để biểu thị sự chúc mừng, may mắn, lợi ích.
     


    chigusatrangpham1990 thích điều này.

  2. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Giày đầu hổ

    Ở Trung Quốc, trẻ em ở rất nhiều nơi sau khi sinh ra đều mang một đôi giày phía trước có thêu hình một chiếc đầu hổ nhỏ. Vì sao lại như vậy?

    Ngày xưa, có một người tên là Dương Đại, chàng rất nghèo, đã hơn ba mươi tuổi rồi vẫn chưa cưới được vợ, chỉ có thể nhờ vào một con đò rách nát, đưa đò nơi bến sông, kiếm vài đồng sống qua ngày. Nhưng bụng dạ chàng rất tốt, người đi đò của chàng, cho dù là không có tiền, chàng vẫn đưa qua sông. Mọi người đều nói: “ Dương Đại tốt bụng như vậy, lại không có tiền để cưới vợ, thật là đáng tiếc quá.

    Một hôm, nhằm lúc trời đổ mưa to gió lớn, trên mặt sông cuộn sóng. Thời tiết như vậy, thường thì mọi người đều không muốn ra ngoài. Bến sông bình thường náo nhiệt phút chốc trở nên lặng lẽ. Dương Đại cũng đang tránh mưa trong căn nhà nhỏ bé, tồi tàn của mình, chàng nghĩ : May mà không có ai muốn qua sông, nếu không thì mình phải chịu khổ rồi. Còn đang nghĩ thì thấy một bà lão ăn mày ở bên kia gọi chàng : “Này, già muốn qua sông!” Dương Đại vội vàng đội mưa chèo đò sang, đón bà lão qua sông. Nhưng mới vừa đến bờ bên này thì bà lão bỗng nói : “Chao ôi, già quên cái chén xin cơm ở bên đó rồi, vậy phải làm sao đây?” Dương Đại vừa nghe, lập tức nói rằng : “Cụ đừng sốt ruột, cụ vào nhà của cháu tránh mưa trước đã, cháu sẽ đi lấy cho cụ.” Nói xong, lại chèo sang bờ bên kia, đến khi chàng quay trở lại thì môi đã cóng đến tím tái rồi.

    Mưa nhỏ hạt rồi, bà lão lấy ra một bức tranh và nói: “ Già không có tiền bạc gì cả, tặng cháu bức tranh này xem như tiền đò vậy!” Dương Đại thoạt nhìn, chỉ thấy trong tranh có một cô gái đang thêu một đôi giày đầu hổ xinh xắn. Dương Đại cảm tạ bà lão, bèn dán bức tranh lên tường, rồi lại đi đưa đò. Đến tối, sau khi Dương Đại quay về, cô gái trong bức tranh đó lại bước xuống, biến thành người sống.

    Cứ như thế, Dương Đại và cô gái trong tranh đã kết thành vợ chồng. Cô gái ban ngày thì trở vào trong bức tranh, ban đêm thì từ trong bức tranh bước ra. Về sau, họ lại có một đứa con trai kháu khỉnh tên là Tiểu Bảo, Tiểu Bảo mang đôi giày đầu hổ, cả nhà sống những ngày tháng vui vẻ, hạnh phúc.

    Tri phủ biết được chuyện này bèn đưa người đến bến đò, cướp bức tranh đó, còn đánh Dương Đại một trận dữ dội. Dương Đại mất vợ, Tiểu bảo mất mẹ, hai cha con đau buồn vô hạn. Tiểu Bảo nghe nói bà lão tặng tranh đi về hướng Nam, liền quyết định đi tìm bà. Cậu mang đôi giày đầu hổ đi mãi đi mãi, sau đó đã gặp được bảy tiên nữ bên một bờ hồ, nàng tiên út chính là mẹ cậu. Tiểu Bảo khóc chạy về phía mẹ. Người mẹ ôm chầm lấy Tiểu Bảo, hôn lấy hôn để, còn nói với cậu : “ Con ơi, từ sau khi tri phủ cướp bức tranh đi, mẹ chỉ có thể sống trong tiên giới, con phải đi tìm tri phủ nói lý lẽ, như thế mẹ mới có thể trở về. “ Nói xong, liền dùng nước hồ bôi một ít lên đôi giày đầu hổ rồi biến mất.

    Đôi giày đầu hổ của Tiểu Bảo vốn đã vừa dơ lại vừa rách, nhưng người mẹ vừa xoa lên lập tức mới hẳn lên. Tiểu Bảo nhớ lời mẹ dặn, tìm gặp tri phủ. Tri phủ đang rầu rĩ bởi vì cô gái không bước ra khỏi bức tranh nữa, Tiểu Bảo vừa đến đã kéo lấy tay của người trong tranh, cô gài liền bước xuống. Tri phủ lập tức sai người bao vây mẹ con Tiểu Bảo, muốn chiếm lấy tiên nữ mãi mãi. Tiểu Bảo giậm mạnh đôi giày đầu hổ của mình, con hổ nhỏ trên giày lập tức chớp chớp mắt, râu cũng dựng lên, gầm to một tiếng, nhảy xuống, ngoạm lấy tri phủ rồi chạy vào sâu trong núi sâu, không còn thấy tên tri phủ xấu xa nữa.

    Tiểu Bảo nắm tay mẹ trở về nhà, cả nhà Dương Đại lại đoàn tụ hạnh phúc.

    Về sau, người ta cho trẻ mới sinh mang đôi giày đầu hổ, hy vọng chúng sẽ bình an, hạnh phúc suốt đời.
     
    chigusatrangpham1990 thích điều này.
  3. trangpham1990

    trangpham1990 Let it be Staff Member Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    12/6/2010
    Bài viết:
    1.016
    Lượt thích:
    2.448
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Bạn còn truyện nào nữa không?
     
  4. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Tơ lụa Trung Quốc

    Hàng Châu là quê hương của tơ lụa. Tơ lụa vừa mềm vừa đẹp, được dệt bằng tơ do con tằm nhả ra. Vậy người Hàng Châu bắt đầu nuôi tằm như thế nào?

    Ngày xửa ngày xưa, ở Hàng Châu có một cô bé tên là A Xảo, em vừa thông minh vừa giỏi giang. Năm em chín tuổi thì mẹ mất, bố em tìm cho em và em trai một người mẹ kế. Người đàn bà này rất xấu xa, chị em A Xảo bị bà ta ngược đãi, thường xuyên ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.

    Mùa đông năm nọ trời rét cóng, người mẹ kế lại bắt A Xảo ra ngoài lấy cỏ về cho dê ăn. A Xảo gùi một cái sọt to trên lưng, đi ra khỏi nhà, nhưng đâu còn cỏ gì nữa chứ? Trên mặt đất đều đóng băng cứng đanh đanh. A Xảo tìm mãi, tìm mãi, tìm cho đến khi trời tối cũng không tìm được một cọng cỏ. Em vừa cuống vừa sợ, sợ về nhà lại bị mẹ đánh mắng. Em mệt đến mức không đi nổi nữa, bèn ngồi trên sườn núi oà lên khóc. Em đang khóc thì bỗng có một chú chim nhỏ đầu bạc bay qua bay lại bên cạnh em, còn cất tiếng kêu: “ Muốn cắt cỏ xanh thì đi theo ta!” Nói xong, chim liền nhằm hướng núi bay đi. A Xảo nửa tin nửa ngờ đuổi theo sau. Chú chim nhỏ bay mãi, bay mãi đột nhiên ngoặt một vòng rồi không thấy đâu nữa. A Xảo đành phải dừng lại. Lúc này, một sự kiện lạ xảy ra : Dưới một cây tùng cổ thụ sum xuê có nở những đoá hoa xinh đẹp, trên mặt đất mọc đầy cỏ non xanh mơn mởn, còn có một dòng suối nhỏ róc rách chảy qua bãi cỏ. A Xảo nhìn thấy những cảnh tượng này thì mừng lắm, em vội vàng khom lưng xuống, bắt đầu cắt cỏ. Cắt mãi, cắt mãi, vô tình đã đi rất xa, rất xa. A Xảo cắt mệt rồi, đứng thẳng người lên thì thấy đằng xa có một cô gái mặc áo trắng váy trắng xách một chiếc làn, đang vẫy tay bảo em đến. A Xảo chạy sang, nhìn thấy một dãy nhà trắng đều tăm tắp, có một cánh rừng xanh um tùm, còn có rất nhiều cô gái mặc áo trắng váy trắng đang hái lá cây. Cô gái hỏi : “ Cô bé, em có thích nơi này không?” A Xảo gật gật đầu. “ Vậy em cứ ở lại đây mấy ngày nhé!”

    Thế là A Xảo đã ở lại. Mỗi ngày, em đều theo các cô gái đi hái lá cây tươi non, sau khi trở về thì dùng những lá cây này bón cho những con sâu nhỏ trắng như tuyết. Những con sâu nhỏ này sau khi ăn lá cây thì lớn nhanh như thổi, không bao lâu thì nhả ra những sợi tơ sáng lấp lánh vừa dai vừa mảnh, kết thành từng “ngôi nhà nhỏ” trắng xoá, nhốt mình trong đó. A Xảo cảm thấy rất thú vị, lại theo cô gái áo trắng học rất nhiều thứ. Cô gái bảo A Xảo : “Những con sâu nhỏ này gọi là “ Thiên trùng” (sâu trời) , lá cây mà chúng ăn gọi là lá dâu. Những sợi tơ mà Ngọc Hoàng Đại Đế ưa dùng “

    Chớp mắt, ba tháng đã trôi qua, A Xảo cũng muốn đón em trai đến để em trai cùng sống cuộc sống tốt đẹp. Một buổi sáng tinh sương, em một mình rời khỏi nơi đó, lúc sắp đi, em sợ không tìm được đường trở lại, bèn hái một ít quả dâu rắc ở ven đường làm dấu. Em còn bắt vài con thiên trùng, định mang về để cho người nhà xem.

    A Xảo trở về nhà thì thấy tất cả đều đã thay đổi : bố đã già rồi, người mẹ kế xấu bụng đã chết, em trai đã lớn lên thành một chàng trai, còn bản thân A Xảo vẫn là một cô bé. Hoá ra nơi mà A Xảo đến là cảnh tiên, ba tháng ở đó bằng với mười lăm năm ở nhân gian!

    A Xảo ở nhà được ít ngày, lại bắt đầu nhớ các cô gái áo trắng ở trong núi, bèn quyết định trở lại núi. Em đi dọc đường thì phát hiện những quả dâu mà mình dải xuống đã mọc thành một rừng dâu. Em đi tới đi lui, cũng không sao tìm được đường trở lại. Lúc em đang cảm thấy kỳ lạ thì con chim đầu bạc nọ lại bay đến, nó kêu rít từng tiếng : “ A Xảo trộm đồ! A Xảo trộm đồ!” A Xảo nghĩ bụng : Chắc là các cô tiên tưởng mình ăn trộm đồ của họ nên giận rồi, bèn giấu đường lại, không cho mình về nữa. Em rất hối hận, nhưng đã không còn cách nào nữa. Em đành trở về nhà, mỗi ngày đều làm giống các cô, hái lá non bón cho thiên trùng ăn, để chúng từ từ lớn lên và nhả tơ.

    Mấy con thiên trùng mà A Xảo mang về đã lớn rồi, để cho thuận tiện, về sau mọi người bèn nối hai chữ “ Thiên – Trùng” lại, đọc thành “ Tàm” (tằm) . Thế là Hàng Châu ở nhân gian đã trở thành quê hương của tơ lụa.
     
  5. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Đón Tết

    Mùng một tháng giêng âm lịch hàng năm là ngày Tết quan trọng nhất của người Trung Quốc - Tết Xuân. Lúc đón Tết, mọi người gặp nhau đều phải chúc nhau một câu : “ Năm mới vui vẻ!”, đó gọi là “chúc Tết” Tại sao Tết gặp mặt nhau phải nói “ Năm mới vui vẻ”?

    Ngày xửa ngày xưa, ở Trung Quốc có một ngôi làng nhỏ xinh đẹp, mọi người ở đó đều vô cùng hiền lành, cần cù lao động, họ sống một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Nhưng chẳng biết bắt đầu từ khi nào, có một con yêu quái tên “ Niên” xông vào ngôi làng nhỏ, hễ đến đêm ba mươi tháng mười hai Âm Lịch là nó chạy ra cướp đồ trong nhà mọi người để ăn. Mọi người sợ hãi vô cùng, đã nghĩ hết mọi cách nhưng đều không đuổi được con “ Niên “ này đi, đành phải đóng chặt cửa, ở trong nhà, không dám gây ra tiếng động nào, mắt nhìn nó nghênh ngang vào làng làm chuyện xấu. Mọi người vừa sợ vừa hận con “Niên “, rất nhiều người lương thiện không còn cách nào khác, đành phải rời bỏ quê hương.

    Chớp mắt lại đến đêm ba mươi tháng Chạp, ngôi làng nhỏ im phăng phắc, gia đình cuối cùng ở lại đây cũng dự định bỏ đi lập tức. Đột nhiên, từ ca vang đến một tiếng kêu chói tai, con “ Niên” hung ác lại xông vào ngôi làng. Đã mấy ngày rồi nó chưa ăn được thứ gì, đói đến sắp phát điên rồi. Nó gầm rống lên, trợn đôi mắt đỏ như máu, tìm thức ăn hết nhà này sang nhà khác. Nó chạy từ đầu làng đến cuối làng cũng không tìm được thứ gì, vì mọi người hầu như đã bỏ đi hết cả rồi. “ Niên” không cam lòng, nó giống như phát điên, tông cửa từng nhà, xem kìa, nó đã sắp xông vào ngôi nhà cuối cùng này rồi.

    Họ sợ quá, người bố cuống quýt nói với mọi người: “ Chạy mau, chạy mau!” Đừng lấy theo gì cả, con “ Niên” sắp đến rôi!” Nhưng người mẹ rất yêu quý những vật dụng trong nhà,chị hớt hải vừa lấy đồ vừa chạy. Con “ Niên” chạy càng lúc càng gần rồi, đứa bé bắt đầu khóc to lên. Nhứng thứ người mẹ mang theo quá nhiều, chị hầu như chạy không nổi nữa. Lúc này, con “ Niên” nghe tiếng trẻ con khóc, liền há to mồm đuôi theo. Người bố vừa cuống vừa sợ, anh giật phăng những thứ trong lòng người mẹ, nào là nhăn, nào là gạo, còn có một cái chậu đồng nữa, vứt hết xuống đất. Cái chậu đồng rơi xuống đất, phát ra âm thanh rất lớn : “Kinh koong!” Hỏng rồi, con “ Niên” nghe thấy tiếng vang lớn như vậy, chắc chắn nó sẽ đuổi theo càng nhanh. Hai người bố, mẹ sợ quá, ôm lấy đứa con nhỏ chạy bán sống bán chết ra ngoài làng. Bỗng dưng, họ cảm thấy phía sau không còn tiếng động nữa, người bố can đảm hơn một chút, anh dừng lại, khẽ quay đầu nhìn, anh ngẩn người ra: Chỉ thấy con “ Niên” đang đứng bên cạnh cái chậu đồng đó, dáng vẻ dường như rất sợ hãi, không dám động đậy gì cả.

    Có chuyện gì vậy? Đột nhiên người bố hiểu ra. Anh lập tức chạy đến một ngôi làng gấn đó, gọi tất cả mọi người lại, mỗi người đều lấy một cái chậu to, họ vừa chạy vừa gõ vào cái chậu thật mạnh. “ Coong – coong – coong “ âm thanh truyền đi rất xa. Quả nhiên, giống như người bố dự đoán, con “ Niên” nghe thấy âm thanh này, sợ hãi vô cùng, tưởng là có yêu quái lợi hại hơn cả nó sắp đến, nó quay đầu bỏ chạy, chạy mãi, chạy mãi, cho đến khi chạy tới một ngọn núi lớn ở rất xa, rất xa, không còn dám quay trở về ngôi làng này nữa.

    Gia đình cuối cùng này hết sức vui mừng, bởi vì họ không chỉ khỏi phải rời bỏ quê hương mà còn đuổi được con “ Niên “ hung ác. Họ nghĩ cách báo tin mừng này cho những người đã chạy trốn khỏi ngôi làng quê. Mọi người đều vui mừng hớn hở trở về nhà của mình. Câu đầu tiên khi họ gặp nhau là : “ Quá niên hảo oa!” có nghĩa là đã qua khỏi những ngày tháng đáng sợ đó rồi. Mọi người lại bắt đầu xây dựng lại ngôi làng nhỏ xinh đẹp của mình.

    Để ngăn ngừa con “ Niên” quay trở lại làng, mọi người còn bắt chước âm thanh gõ chậu, phát minh ra pháo. Vào ngày cuối cùng và ngày đầu tiên theo Âm lịch hàng năm, mọi người đều phải đốt pháo và chúc Tết lẫn nhau. Việc quan trọng nhất còn là : Khi chúc Tết, đừng quên nói câu “ Quá niên hảo” ( Chúc mừng năm mới). Chúc Tết, nói “ Quá niên hảo!” thì suốt năm đó sẽ bình an vui vẻ.
     
    trangpham1990 thích điều này.
  6. trangpham1990

    trangpham1990 Let it be Staff Member Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    12/6/2010
    Bài viết:
    1.016
    Lượt thích:
    2.448
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Hay quá tiếp đi bạn
     
  7. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    DÁN NGƯỢC CHỮ “PHÚC”
    Mỗi lần đến Tết, người Trung Quốc thường dán ngược chữ “ Phúc” trên cửa nhà mình. Bạn có biết vì sao lại thế không?

    Tương truyền vào thời nhà Minh có một ông thầy thợ mộc, tay nghề của ông rất khéo. Ông không chỉ làm sản phẩm bền chắc, mà ông còn thích khắc đủ loại hoa xinh đẹp trên gỗ. Những bông hoa đó giống y như thật. Vì tay nghề của ông cao siêu nên mọi người đều tôn kính gọi ông là “ Thái Sơn”, ngụ ý là ngôi nhà đo ông dựng nên vững chắc như núi Thái Sơn, kỹ thuật của ông cũng là “ Thái Sơn” nổi bật, xuất chúng trong những người cùng nghề. Nếu nhà nào có thể mời được Thái Sơn đến dựng nhà cho mình thì quả thật là việc mừng lớn của nhà đó, họ sẽ giết heo mổ dê, làm những món ăn ngon nhất để chiêu đãi Thái Sơn và các đồ đệ của ông.

    Có một lần, một thương nhân muốn mở một cửa tiệm mới, khó khăn lắm mới mời được Thái Sơn và các đồ đệ của ông dựng nhà cho mình. Nhóm Thái Sơn làm việc cật lực suốt ngày suốt đêm, chỉ mất mấy ngày đã dựng lên cửa tiệm. Thương nhân thoạt trông, thật là bề thế : Nóc nhà cao cao, cột nhà vững chãi, bên trên còn khắc những hoa văn xinh đẹp. ông chưa từng thấy qua ngôi nhà nào đẹp đến thế. Láng giềng trông thấy cũng lũ lượt kéo sang chúc mừng. Thương nhân vô cùng mừng rỡ, ông giết mấy con heo mập mạp trong nhà, làm mấy bàn rượu thịt đầy ắp, nhiệt tình chiêu đãi Thái Sơn và những người khách đến chúc mừng.

    Lúc giết heo, chủ nhân sợ khách bên ngoài chẳng mấy chốc sẽ ăn hết những thứ ngon, ông thầy Thái Sơn không ăn được, bèn giữ lại tim heo, gan heo, cật heo, để những thứ này khỏi biến mùi, lại chiên sơ trong dầu, sau đó dùng giấy gói lại, chuẩn bị cho nhóm Thái Sơn mang theo để ăn dọc đường.

    Nhưng nhóm Thái Sơn không biết ý của chủ nhân, họ đợi mãi, đợi mãi, cho đến khi tất cả các khách khứa đều ăn xong ra về, cũng không thấy những thứ ngon như tim heo, gan heo…. Thái Sơn giận lắm, ông quyết định phải cho thương nhân này biết tay.

    Đêm đã khuya, mọi người đều đã chìm vào giấc ngủ, tất cả đều im phăng phắc. Thái Sơn và các đồ đệ của ông lại chưa ngủ, ông lén bảo các đồ đệ đến cửa tiệm mới xây xong, đảo ngược cây cột chống đỡ nhà, vì tương truyền làm như vậy sẽ khiến việc làm ăn của chủ tiệm rất bất lợi.

    Sáng hôm sau, nhóm Thái Sơn làm như không có gì xảy ra, ăn cơm sáng xong bèn rời khỏi nhà thương nhân. Trước lúc lên đường, chủ nhân đưa cho họ một gói đồ ăn lớn để ăn dọc đường.

    Thái Sơn vừa đi vừa vẫn còn giận thương nhân, trong lúc không để ý đã đi được một quãng rất xa. Một đồ đệ cảm thấy mệt bèn nói với Thái Sơn : “ Sư phụ, chúng ta nghỉ ngơi một lát ngồi xuống ăn chút đồ đi.”

    Nhóm Thái Sơn mở cái gói mà thương nhân đã đưa bèn giật mình kinh ngạc, hoá ra bên trong ngoài màn thầu, còn có đầy ắp cả tim heo, gan heo và cật heo đã được chiên ngon lành. Thái Sơn bây giờ mói biết mình đã trách nhầm chủ nhân, trong lòng hết sức xấu hổ. Ông vội vã gọi các đồ đệ lại và nói với họ : “ Ta viết mấy chữ giao cho các con, mau chóng mang về dán trên cây cột của cửa tiệm.” Nói đoạn, ông lấy ra mấy tờ giấy đỏ trong túi của mình, viết lên trên đó chữ “ Phúc”, giao cho đồ đệ, dặn họ nhất định phải dán ngược, còn phải bảo những người khác đọc to : “ Phúc đến rồi!”

    Lúc họ đến nơi cũng là lúc thương nhân khai trương liền vội dán ngược chữ phúc lên cây cột. Thương nhân lấy làm lạ hỏi tại sao thì họ nói:" phải làm thế này rồi đọc to phúc đến rồi thì sau này mới phát tài". Sau này, người thương nhân phát tài thật.

    Từ đó về sau trở thành tập quán của năm mới. Năm mới hoặc khai trương dán ngược chữ Phúc với ý nghĩa phúc đến rồi.
     
    sk.emo27trangpham1990 thích điều này.
  8. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    DÁN CÂU ĐỐI XUÂN
    Ở Trung Quốc, mỗi lần đến Tết, mọi người ngoài việc ăn bánh chẻo, đốt pháo, chúc Tết lẫn nhau, nhà nhà đều phải dùng giấy đỏ viết câu đối xuân dán lên cửa. Người ta nói làm thế là để xua đuổi yêu quái. Tại sao câu đối xuân lại có thể xua đuổi yêu quái nhỉ?

    Ngày xửa ngày xưa, ở Đông Hải có một ngọn núi tiên, trên núi có một cánh rừng đào um tùm xanh tốt, trong đó có một cây đào vô cùng lớn, dưới gốc cây có hai gian nhà làm bằng đá xanh, có hai anh em sống ở đó, người anh tên là Thần Đồ, người em tên là Uất Luỹ. Hai anh em họ nương tựa vào nhau mà sống, cùng trông coi khu rừng này cẩn thận.

    Phía sau khu rừng này có một sơn động rất thâm u, có đủ loại yêu quái sống ở trong đó. Lúc bình thường, chúng đều không dám đi ra khỏi sơn động, bởi vì Thần Đồ và Uất Luỹ cũng canh giữ chúng. Hai anh em này rất lợi hại, cả hổ trên núi cũng sợ họ chứ đừng nói là đám yêu quái này. nếu có tên yêu quái nào trong bọn chúng dám tác yêu tác quái thì Thần Đồ và Uất Luỹ lập tức trói chúng lại, vứt lên núi để làm mồi cho hổ.

    Nhưng lũ yêu quái này không cam lòng, chúng luôn muốn ra ngoài để tác yêu tác quái. Vào một đêm nọ, một con quỷ cái già triệu tập tất cả các yêu quái lại, mở cuộc họp trong sơn động, Mụ nói : “ chúng ta không thể bị canh giữ mãi như vậy được, chúng ta phải xông ra ngoài!” Đám yêu quái nghe thế đều rất vui mừng : “ Nhưng chúng ta làm sao ra ngoài đây? Thần Đồ và Uất Luỹ canh giữ chúng ta nghiêm ngặt như vậy? “ Một con quỷ nhỏ thở dài nói. Thế là tất cả yêu quái lại bắt đầu nản lòng. Đột nhiên, con quỷ trêu chọc bật cười : “ Chúng ta lấy cắp binh khí của họ, thế thì dù họ có phát hiện ra chúng ta cũng không có cách gì bắt chúng ta! “ Đám yêu quái thoạt nghe đều cảm thấy ý này rất hay, nhưng sai ai đi lấy cắp bây giờ? Tất cả bọn chúng đều nhìn chăm chăm vào tên quỷ trêu chọc. “ Được rồi, được rồi, ai bảo tôi nhỏ nhất chứ. “ Tên quỷ trêu chọc nói.

    Đêm đã khuya rồi, Thần Đồ và Uất Luỹ, sau khi đã kiểm tra xong đồ đạc của mình, cũng đã đi ngủ. Quỷ trêu chọc len lén bước vào phòng họ - Ái chà, binh khí ở bên gối của họ cơ đấy! Tên quỷ trêu chọc hơi sợ, nhưng hễ nghĩ đến việc nếu ra tay thành công thì bọn chúng có thể tự do, thế là nó lấy hết can đảm, trộm đi binh khí, cũng may là hai anh em họ chưa phát hiện.

    Đám yêu quái thấy quỷ trêu chọc ra tay thành công, vui mừng đến nỗi hoa chân múa tay : “ Ha ha, phen này bọn họ không có cách gì bắt chúng ta!” Đám yêu quái, dưới sự dẫn dắt của con quỷ cái, lần lượt từng tên chạy ra khỏi sơn động, la hét ầm ĩ, chuẩn bị đến nơi ở của con người để quậy phá.

    Thần Đồ và Uất Luỹ giật mình tỉnh giấc bởi tiếng la hét của yêu quái, họ đưa tay chụp lấy binh khí của mình, nhưng binh khí còn đâu nữa? Họ nhìn ra cửa sổ, chỉ thấy quỷ trêu chọc loắt choắt đang cầm binh khí của mình la hét, quậy phá. Thần Đồ và Uất Luỹ giận quá : “ Đám yêu quái này thật không biết đạo trời, phép tắc gì cả, chúng tưởng là lấy cắp binh khí của chúng ta thì không ai quản được chúng. Hừm! Chúng thật quá xem thường bọn ta!” Hai anh em lập tức ra khỏi giường, chạy đến khu rừng đào đó, mỗi người bẻ một cành đào từ trên cây đào to nhất, sau đó tức tốc đuổi theo bọn yêu quái.

    Đám yêu quái thấy hai anh em đuổi theo, bắt đầu sợ hãi. Con quỷ cái nói : “ Sợ gì chứ! Không có binh khí, xem bọn họ có thể bắt được chúng ta như thế nào? “ nghe những lời của con quỷ cái, đám yêu quái yên tâm dừng lại, bắt đầu trêu chọc Thần Đồ và Uất Luỹ : “ Ha ha, các ngươi đang tìm gì vậy? Tìm binh khí có phải không? Thật đáng tiếc, ở chỗ chúng ta rồi!” Hai anh em cả giận, huơ cành đào quất lên đầu bọn yêu quái - Kể cũng lạ, cành đào mỏng manh như thế, mềm mại như thế, vừa quất lên người bọn yêu quái, lập tức trở nên có uy lực vô cùng, bọn yêu quái đều ngoan ngoãn nằm rạp xuống đất, Thần Đồ và Uất Luỹ bắt tất cả bọn chúng đưa trở về sơn động.

    Mọi người bây giờ mới hiểu biết hoá ra rừng đào của hai anh em họ còn có thần lực lớn như vậy. Về sau, mỗi lần đón Tết, người ta đều dùng gỗ đào vót thành từng miếng, viết lên chữ “ Thần Đồ” và Uất Luỹ”, sau đó treo ở hai bên cửa, tương truyền làm như vậy có thể xua đuổi được yêu quái. Đó chính là câu đối xuân đầu tiên.

    Hoàng đế triều Minh, Chu Nguyên Chương, sau khi dựng đô ở Nam Kinh, đã hạ lệnh rằng mỗi dịp Tết, nhà nhà đều phải dán trên cửa câu đối xuân viết trên giấy đỏ. Như thế, dán câu đối xuân vào ngày Tết đã dần dần trở thành một phong tục. Đương nhiên, theo sự phát triển của thời đại và sự tiến bộ của xã hội, nội hàm của câu đối xuân cũng càng lúc càng phong phú và đa dạng.
     
    trangpham1990 thích điều này.
  9. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    TIỀN LÌ XÌ

    Ở Trung Quốc, lúc đón Tết, người lớn thường cho trẻ em một ít tiền lì xì, vì sao lại thế? Bên trong việc này còn có một câu chuyện.

    Ngày xửa ngày xưa, ở Đông Hải có một cây đào to, có rất nhiều yêu quái sống trong bộng cây, nào là hồ ly tinh, chuột tinh, sòi già….. Chúng luôn muốn ra ngoài để gây hại, nhưng bình thường luôn có thần tiên canh giữ chúng, đừng hòng tên nào bước ra ngoài. Nhưng hễ đến đêm ba mươi Tết, thần tiên đều trở về nhà ở trên trời để đón Tết, lũ yêu quái này cuối cùng cũng đã có thể tự do rồi. Chúng lũ lượt chạy ra khỏi bộng cậy, quậy phá khắp nơi, gây hại cho bá tánh. Mọi người cũng dần biết được lũ yêu quái này sẽ hoạt động vào ngày này, cho nên họ suốt đêm không ngủ, đốt lửa lò, nói chuyện phiếm, đó gọi là “ Đón giao thừa” . Đám yêu quái này rất sợ những đốm lửa đỏ, thấy lửa trong lò thì không dám vào nhà của con người.

    Một năm nọ, lại đến đêm ba mươi Tết. Hồ ly tinh xảo quyệt đã nghĩ ra một ý xấu : “ Chúng ta đánh thuốc mê con người thì chẳng phải có thể làm được việc chúng ta muốn làm sao? “ Thế là đám yêu quái, dưới sự lãnh đạo của hồ ly tinh, lấy thuốc mê đã được gói cẩn thận trong giấy, đến nơi ở của con người.

    Lúc này, mọi người vẫn vây quanh bếp lửa để đón giao thừa như lúc trước. Chớp mắt đã đến nửa đêm, trẻ con đã buồn ngủ đến không chịu nổi nữa rồi. Người lớn nói : “ Nhất thiết không được ngủ, nếu không yêu quái sẽ tha các con đi! “ Đám yêu quái ở bên ngoài cửa sổ sau khi nghe được những lời này đều rất tức giận, chúng lập tức thổi thuốc mê vào qua khe cửa.

    Quả nhiên, trẻ con ngửi thấy mùi thuốc mê ngào ngạt, cũng không gắng gượng được nữa, chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc mộng. Ngay cả người lớn cũng đều mơ mơ màng màng muốn ngủ thiếp đi. bỗng nhiên, một cơn gió lạnh thổi qua, người lớn rùng mình một cái, thoắt chốc tỉnh lại. Họ nghĩ đến một câu chuyện mà các cụ thường nói : “ Có tiền có thể khiến quỷ đẩy cối xay.” Thế là, họ đã làm rất nhiều bao bằng giấy đỏ, bên trong để một ít tiền, sau đó đặt những bao đỏ này vào tay trẻ con. Làm xong những việc này, họ cũng không gắng gượng nổi nữa, mỗi người bèn trở về phòng của mình để ngủ.

    Đám yêu quái ở bên ngoài đã không còn kiên nhẫn đợi từ rất lâu rồi. Khi chúng thấy lửa trong lò đã tắt, mọi người đều dã đi ngủ thì mừng rỡ đến hoa chân múa tay – phen này có thể quậy một trận rồi! Chúng nghênh nghênh ngang ngang đi vào trong phòng của người lớn. Ái chà! Người lớn thật lợi hại, khiến cho lũ yêu quái không sao đến gần được. “ Đi, chúng ta đi bắt trẻ con! “ Đám yêu quái lại ùa vào phòng trẻ con như ong vỡ tổ. Chúng xông đến trước giường trẻ con, phát hiện trong tay mỗi đứa trẻ đều nắm một chiếc bao đỏ. Đám yêu quái nhìn thấy vật màu đỏ thì hơi sợ hãi, hồ ly tinh lại lấy hết cam đảm, bước lên trước, vạch tay bọn trẻ, lấy chiếc bao đỏ, mở ra xem thử : A, là tiền! Hồ ly tinh đắc ý nói với lũ yêu quái : “ Số tiền này là để cho chúng ta tiêu xài, chắc chắn là những người lớn đó sợ chúng ta, sợ chúng ta ăn mất trẻ con của họ, bèn tặng chúng ta tiền để chúng ta lấy tiền đó tiêu Tết vui vẻ, mặc tình hưởng lạc. “ Đám yêu quái thoạt nghe, cảm thấy những lời hồ ly tinh nói rất có lý , liền quyết định không làm hại trẻ con, chỉ lấy tiền, ăn uống no say mà đi.
     
    trangpham1990 thích điều này.
  10. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    TẾT NGUYÊN TIÊU

    Đời Hán có một hoàng đế tên là Hán Vũ Đế, bên cạnh ông còn có một đại thần là Đông Phương Sóc vô cùng thông minh cơ trí, lại rất tốt bụng. Mỗi khi Hán Vũ Đế tức giận muốn trừng phạt các đại thần, cung nữ, ông đều có thể làm cho Hán Vũ Đế nguôi giận bằng mấy câu khôi hài, cứu mạng những người đó. Cho nên, mọi người xung quanh đều rất thích ông, tôn kính ông.

    Vào mùa đông năm nọ, tuyết rơi liên tục đến mấy ngày. Một hôm tuyết ngừng rơi, Đông Phương Sóc đến vườn thượng uyển để bẻ hoa mai. Mới vừa bước vào cổng vườn, bỗng nhiên ông trông thấy một cô gái sắp nhảy xuống giếng trong vườn. Đông Phương Sóc vội vàng lao đến, ngăn cô gái lại, hoá ra cô là cung nữ Nguyên Tiêu.

    Đông Phương Sóc ôn tồn hỏi : “ Nguyên Tiêu cô nương, cô còn trẻ vì sao phải làm như vậy chứ? “ Nguyên Tiêu khóc và nói : “ Đại nhân, từ khi tiểu nữ vào cung thì không gặp được người thân của mình nữa. Tiểu nữ nghĩ, đời này có lẽ cũng chẳng gặp được họ nữa chi bằng tiểu nữ chết đi. “ Đông Phương Sóc nghe xong, ngẫm nghĩ một lúc rồi chỉ cho Nguyên Tiêu một cách để cô có thể gặp được người thân.

    Đông Phương Sóc lại chạy đến nhà Nguyên Tiêu sắp xếp một lượt, rồi ra phố xem bói cho mọi người. Mọi người đều biết Đông Phương Sóc, biết ông rất có bản lĩnh. Hễ thấy ông xem bói thì đều chen lại để xem náo nhiệt. Chỉ nghe Đông Phương Sóc nói : “ Ngày mười sáu tháng giêng này, kinh thành sẽ bị lửa thiêu rụi, đây là mệnh lệnh của Ngọc Hoàng Đại Đế trên trời. “ Mọi người thoạt nghe đều rất sợ hãi, vội vàng hỏi Đông Phương Sóc có thể tránh được tai nạn này không. Đông Phương Sóc ngẫm nghĩ rồi nói : “ Thế này vậy, ngày mười ba tháng giêng này, thần lửa trên trời sẽ đến đây quan sát. Đến chiều hôm đó, mọi người chỉ cần nhìn thấy một cô gái áo đỏ cưỡi trên con lừa lông đỏ từ hướng Tây Bắc đi lại – đó chính là thần lửa, mọi người phải quỳ xuống khóc lóc cầu cứu, không chừng sẽ có tác dụng.”

    Ngày mười ba tháng giêng đã đến rồi, mọi người đó đã ra ngoài từ sớm, nhìn về hướng Tây Bắc, đợi thần lửa đến. Trời dần dần tối, không biết ai la lên một tiếng : “ Đến rồi, đến rồi!” Quả nhiên, từ hướng Tây Bắc có một cô gái mặc áo đỏ cưỡi lừa đỏ đi đến. Mọi người lập tức quỳ xuống, đồng thanh nói : “ Xin thần lửa cứu chúng tôi với. ”

    Sau khi Đông Phương Sóc về cung, liền nói tin này cho Hán Vũ Đế biết. Hoàng thượng vừa nghe đã sợ hết hồn. Đông Phương Sóc nói : “ Bá tánh đã cầu xin thần lửa lượng tình, thần lửa đã đồng ý giúp đỡ chúng ta rồi. Nghe nói thần lửa thích ăn bánh trôi nhất, người nấu bánh trôi ngon nhất trong cung chhúng ta phải kể đến Nguyên Tiêu cô nương. Đêm mười lăm tháng giêng, chúng ta phải làm thật nhiều bánh trôi, kính dâng lên thần lửa để bà vui vẻ ăn thoả thích, như thế bà sẽ không phóng hoả. Chúng ta lại bảo bá tánh trong thành làm đủ loại hoa đăng, đêm rằm, mười sáu tháng giêng, treo đầy khắp nơi trong thành. Như vậy thì Ngọc Hoàng Đại Đế từ trên trời nhìn xuống sẽ giống như lửa cháy.

    Hoàng thượng thoạt nghe, vội vàng lệnh cho bá tánh trong toàn thành đều phải làm hoa đăng, còn bảo Nguyên Tiêu nấu thật nhiều bánh trôi, chuẩn bị dâng cho thần lửa.

    Đến đêm rằm tháng giêng, trời vừa tối, mọi người đã treo đèn hoa đăng lên, trên cửa, trên cây, bên sông, khắp nơi đèn đuốc sáng chuang, rực rỡ chói mắt, đẹp vô cùng. Hán Vũ Đế cũng dẫn theo người nhà của ông, thay quần áo thường dân, ra ngoài ngắm đèn.

    Nguyên Tiêu tay cầm một chiếc đèn lớn trong cung, bên trên có viết hai chữ to “ Nguyên Tiêu”, vì Hán Vũ Đế muốn để cho thần lửa biết bánh trôi là do Nguyên Tiêu tự tay làm. Đột nhiên em gái của Nguyên Tiêu nhìn thấy chữ trên đèn liền gọi to : “ Chị ơi!” Nguyên Tiêu nghe tiếng em gái, mừng rỡ chạy sang, cả nhà họ cuối cùng cũng đã đoàn tụ rồi.

    Đêm đó, mọi người đều không ngủ, trong thành đèn đuốc sáng thâu đêm, người dân trải qua một đêm yên bình. Hán Vũ Đế cũng rất vui, liền quyết định từ đó về sau, vào ngày nào hàng năm, nhà nhà đều phải ăn bánh trôi, xem hoa đăng. Tập tục này lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
     

Chia sẻ cùng bạn bè


Đang tải...