Phía cuối dòng Mê Kông

Thảo luận trong 'Sống Xanh' bắt đầu bởi dgoanh, 12/4/2011. — 1.461 Lượt xem

  1. dgoanh

    dgoanh Ước mơ tôi... Thành viên thân thiết

    Phía cuối dòng Mê Kông

    Các kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên Môi trường đưa ra đều báo trước một tương lai nhiều biến động đối với Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Nước biển dâng, hàng trăm ngàn ha đất tại vùng đồng bằng này sẽ ngập chìm trong nước. Tuy nhiên, viễn cảnh ấy (dù không xa) vẫn còn lơ lửng như những hạt phù sa trên biển trong suy nghĩ của nhiều người dân miền đất này. Họ chỉ thấy rõ một điều là nguồn lợi từ dòng sông có tên Mê Kông đem lại đang ngày càng ít dần.



    Kì 1: Thiên tai và nhân họa


    Biến đổi môi trường và nỗi lo cơm áo của ngư dân ĐBSCL

    Ngày 20/08/2009, Bộ Tài nguyên Môi trường công bố “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”. Theo đó, trong vòng 100 năm tới, ở mức nước biển dâng 65cm thì ĐBSCL sẽ bị ngập 5.133km2 (12,8% diện tích). Còn ở mức nước dâng 1m, sẽ có 15.116km2 (37,8%) đất đai bị nhấn chìm trong nước biển. Những đầm tôm, ao cá, vườn cây trái, nhà cửa… và cả vựa lúa lớn nhất nước đều có nguy cơ bị nước biển dâng kéo theo lụt lội, triều cường nhấn chìm.

    Các nhà hoạch định chiến lược hiện rất quan ngại trước những diễn biến bất thường của thời tiết trong mấy năm vừa qua và nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai. Biết bao người dân bị ảnh hưởng sẽ sinh sống ở đâu và ra sao nếu tình hình nước biển dâng theo đúng kịch bản dự đoán? Tuy nhiên, đối với hàng triệu người dân miền đất này, những người sẽ phải gánh chịu hậu quả trực tiếp và nặng nề nhất, dự báo này thật sự còn quá “xa vời”. Không phải họ dửng dưng, chỉ vì họ còn bận bịu với quá nhiều lo toan của cuộc sống thường nhật. Biến đổi khí hậu vì thế vẫn chỉ là nỗi lo của… các nhà khoa học và những nhà hoạch định chính sách.

    Sống tại cuối nguồn con sông Mê Kông chảy ra cửa biển Trần Đề thuộc tỉnh Sóc Trăng, vợ chồng ông Nguyễn Thanh Còn đã có bao đời gắn bó với nghề chài lưới trên sông. Ông thuộc khúc sông này như lòng bàn tay mình, bởi chính dòng sông đã nuôi dưỡng ông từ hồi còn tấm bé cho đến khi trưởng thành rồi lấy vợ sinh con. 30 năm bươn chải với dòng sông, chưa bao giờ ông nhận thấy lượng cá, tôm ít như bây giờ.

    Ông cho biết: “Cách đây 10 năm, đoạn sông này cá, tôm rất nhiều. Vợ chồng tôi chài có ngày gần 50 kg, bây giờ thì rất khó kiếm được con cá lớn. Trước kia mỗi mùa lũ, khi nước từ đầu nguồn chảy xuống tôi vẫn bắt được cá linh, cá úc… bây giờ hai loại cá này rất hiếm. Tôi thấy biến đổi khí hậu gì đó trên ti vi nói hoài còn tôi chỉ thấy thực tế là cá tại dòng sông này dần ít đi nhiều. Có lẽ do nhiều người bắt quá, nhưng hỏi mấy bạn ghe cùng xóm thì họ nói cũng không bắt được cá lớn”.

    Cũng như ông Còn, hàng trăm người sinh kế bằng nghề chài lưới ở cuối khúc sông Hậu đổ ra cửa biển Trần Đề này đều không thể hiểu vì sao lượng cá, tôm trên sông ít đi nhiều. Họ chỉ phỏng đoán do nhiều người đánh bắt nên cá sinh không kịp nhu cầu khai thác. Những người ngư dân này chỉ lơ mơ hiểu như vậy, song họ đâu biết rằng trên thực tế chính sự can thiệp thô bạo vào thiên nhiên của con người giờ đang khiến họ phải gánh chịu hậu quả.

    Những người ngư dân nghèo nơi đây chỉ là những nạn nhân vô tội, hoặc nếu có cũng chỉ góp thêm một phần rất rất nhỏ vào bức tranh xám màu về môi trường trên dòng sông lớn thứ 12 thế giới này.



    Bàn tay con người

    Vì những khoản lợi trước mắt, chính bàn tay con người đã can thiệp thô bạo vào dòng sông và vô tình đẩy con người (cũng lại chính con người) là dân nghèo vào ngõ vắng của đường mưu sinh.

    Dòng Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, vòng vèo uốn lượn để rồi đổ vào lãnh thổ Việt Nam bằng hai nhánh (Sông Tiền và sông Hậu), tạo nên lưu vực rộng lớn nuôi sống hàng triệu người. Từ đây những hạt nước chảy qua chín nhánh sông đổ ra biển lớn.

    Từ thế kỷ 18, người Pháp đã bắt đầu ngược dòng Mê Kông để khám phá những nguồn lợi thiên nhiên to lớn do con sông mang lại. Họ đã phát hiện ra nhiều thác nước, cù lao, ao hồ… và thấy được sự cần thiết trong hợp tác chia sẻ quyền lợi giữa các nước có dòng Mê Kông chảy qua, đồng thời cũng không quên cảnh báo việc “ngăn sông” làm thủy điện. Dù vậy, những lời cảnh báo này không được chú ý đến.

    Bất chấp phản ứng từ phía các nhà môi trường, Trung Quốc đã liên tiếp cho xây dựng những con đập lớn nhỏ. Hàng loạt những con đập Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng… đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Kế hoạch xây dựng đập Tiểu Loan của Trung Quốc dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các tiếng nói vì môi trường, cuối cùng vẫn được thi công. Cũng bởi những thác nước tại dòng sông này rất thuận lợi cho phát triển thủy điện. Trong khi đó, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, công nghiệp dẫn đến nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng và thủy điện trở thành lựa chọn số 1.

    Không riêng Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia cũng cho xây dựng những con đập “ngăn sông” làm thủy điện. Theo Giáo sư, TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Quốc hội khóa 11, những con đập thủy điện từ thượng nguồn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng chảy, chất lượng nước, lưu lượng nước, môi trường thủy sinh… của cả dòng sông, mà hạ lưu là nơi hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Cũng theo GS Nguyễn Ngọc Trân, ngay từ bây giờ các nước hạ lưu sông Mê Kông cần nghiên cứu tác động của các hoạt động phát triển này đến dòng chảy, thủy sinh, độ xâm mặn, sự bồi đắp phù sa… của con sông để đưa ra những dự báo kịp thời.

    Chính tác động của con người đối với dòng sông Mê Kông đã gây nên những thiên tai, tạo ra những thảm họa gấp nhiều lần những gì Tạo hóa tạo ra bản chất của dòng sông này mang đến. Tạo hóa đã ban phát cho con người những dòng sông thơ mộng, hiền hòa, nuôi sống biết bao con người nhiều đời nay. Song Tạo hóa cũng rất công bằng một khi những sản vật của Người ban tặng không được con người trân trọng giữ gìn.

    Cuối nguồn mưu sinh
    [​IMG]
    [​IMG] Người dân miền Tây vốn hiền lành, họ khai thác thủy sản ít thì đổ cho nhiều người cùng khai thác hay tại ông trời. Lúa thất, trúng là do thời tiết, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn là do thiên nhiên…

    Theo thống kê của Uỷ ban Sông Mê Kông Việt Nam, có trên 70 triệu người sinh sống tại các lưu vực của dòng sông này. Hiện vẫn chưa có con số thống kê chính thức về số người trực tiếp khai thác sản vật trên sông để mưu sinh, tuy nhiên, con số này không nhỏ.

    Hạ lưu sông Mê Kông thuộc Việt Nam, vùng ĐBSCL, có 17 triệu dân (chiếm 21% dân số cả nước) với 80% số dân sống bằng nghề nông, chính vì thế những tác động đến hệ sinh thái, môi trường, mà cụ thể ở đây là tác động tới dòng sông Cửu Long sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến sinh kế của người dân.

    Xóm Đáy thuộc xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng – thuộc hạ lưu sông Hậu, gần đây nhiều ngư dân đã phải giải nghệ do không thể tiếp tục mưu sinh bằng nghề cá. Nguyên nhân đơn giản là cá không còn nhiều như xưa trong khi giá cả nhiên liệu (dùng chạy ghe, thuyền đánh cá) cứ leo thang mỗi ngày. Nhiều ngư dân phải bỏ nghề để làm lao động công nhật cho nhà máy nhiệt điện Long Phú gần đó mỗi ngày kiếm 50.000 đồng – 70.000 đồng.

    Bà Nguyễn Thị Hồng làm nghề từ lúc còn nhỏ, nay đã có con 17 tuổi cho biết: “Bây giờ kiếm được con cá, con tôm khó quá. Gia đình tui làm nghề này mấy chục năm nay rồi, nhưng chưa năm nào thất như năm nay. Con cá, con tôm nó đi đâu mất hết nên đành phải bỏ nghề thôi”.

    Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở NN&PTNT Sóc Trăng, cá, tôm tự nhiên thuộc sông Hậu thời gian gần đây giảm đáng kể. Chính điều này ảnh hưởng trực tiếp đến những người đánh bắt trên sông. Hiện chính quyền Sóc Trăng đang lập phương án chuyển đổi nghề cho những ngư dân sống trên sông. Tại cù lao Tân Lộc, huyện Thốt Nốt, thành Phố Cần Thơ, những ngư dân hành nghề đánh lưới trên sông cũng chua xót chấp nhận thực tế là bước mưu sinh của mình đang gặp phải khó khăn do cá dần cạn nguồn.

    Nếu những người trực tiếp khai thác những sản vật trên sông đang gặp khó khăn thì cả cánh đồng lúa mênh mông của Cửu Long cũng đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt trong tương lai gần.


    * Đáy là dụng cụ làm bằng lưới có miệng lớn dùng để bắt cá trên sông. Cá theo nước vào miệng đáy sâu trong tùng không bơi lên được.

    Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thiếu nước! Chuyện mới nghe qua như đùa, nhưng đáng tiếc đây lại là nguy cơ có thật, và sẽ chỉ diễn ra trong tương lai gần. Chẳng những các mạch nước ngầm đang dần cạn kiệt, mà ngay cả nước ngọt phục vụ cho vựa lúa lớn nhất nước từ con sông Cửu Long cũng đang có nguy cơ khan hiếm dần. Nguyên nhân đã được các nhà khoa học khẳng định là do biến đổi khí hậu và tác động của con người, bằng những con đập ngăn dòng Mê Kông. Trong bối cảnh đó, việc thu hẹp diện tích sản xuất của vựa lúa đang được tính đến.


    ***********

    Kì 2: Vựa lúa ĐBSCL sẽ khát nước



    Theo khảo sát của các Sở Tài nguyên – Môi trường Đồng Tháp, Sóc Trăng, Cần Thơ và Bạc Liêu, mực nước ngầm trong vòng 10 năm trở lại đây đã giảm xuống trên 1m. Nhiều nơi, mực nước ngầm đã tụt sâu trên 1m và đến mùa hạn mức nước ngầm càng xuống thấp. Tình trạng ô nhiễm mạch nước ngầm đã được cảnh báo từ năm 2004, tuy nhiên những giải pháp khắc phục xem ra còn bế tắc.

    Theo Giáo sư David Dapice, chuyên gia nước ngoài hàng đầu nghiên cứu về chính sách phát triển của Việt Nam, không chỉ nước ngầm cạn kiệt mà trong vòng 5 – 10 năm tới, dưới tác động của biến đổi khí hậu, dải băng hà trên dãy Himalaya tan nhanh sẽ khiến lượng nước không đủ để cung cấp cho hạ nguồn các con sông, trong đó có Mê Kông.

    Bên cạnh đó, hai năm tới Trung Quốc có thể hoàn thành thêm hai dự án đập thủy điện trữ nước, nâng lượng nước trữ lại từ 3 tỉ lên 40 tỉ m3. Chưa kể Thái Lan, Lào và Cam-pu-chia cũng đang có một số dự án làm thay đổi dòng chảy Mê Kông, chính vì vậy ĐBSCL nơi cuối nguồn sẽ khó tránh khỏi nguy cơ thiếu nước cho lúa.

    Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, một trong những chuyên gia đầu ngành của thế giới về cây lúa, tài nguyên nước ngọt ở ĐBSCL chưa được khai thác hợp lý. Hiện tại nông dân đang sử dụng tới 20.000 m3 nước/vụ. ĐBSCL có 3,6 triệu ha/năm, tức là dùng đến 76 tỉ m3/năm trong khi đó tổng lưu lượng nước của sông Mê Kông hiện có khoảng 460 tỉ m3 chảy qua/năm, tức riêng canh tác lúa đã chiếm đến 1/6.

    Song, nguy cơ thực sự không phải ở chỗ người nông dân sử dụng nước chưa hợp lý, mà ở chỗ các nước thượng nguồn đã bắt đầu tích trữ nước cho thủy điện và phục vụ tưới tiêu, chính vì vậy lượng nước từ dòng Mê Kông chảy vào Việt Nam sẽ ít đi rất nhiều trong vài năm tới, GS Võ Tòng Xuân cho biết.

    Theo tin từ Bộ NN&PTNT, Bộ hiện cũng đang tính đến việc giảm diện tích lúa từ nay đến năm 2030, trong đó sẽ giảm diện tích lúa tại ĐBSCL đến 130.000 ha. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, con số này có thể sẽ cao hơn nhiều nếu tình trạng xâm nhập mặn có chiều hướng gia tăng.

    Mặn từ “trên trời rơi xuống”?

    Theo nghiên cứu và dự báo của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu thuộc Liên hiệp quốc và Ngân hàng Thế giới, nếu mực nước biển tăng 1m, nhiệt độ tăng lên 2oC, ĐBSCL sẽ có tới 1,5-2 triệu ha đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lúa, bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể canh tác.


    [​IMG][​IMG] Ngoài nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn cũng là một thảm họa cận kề đối với vựa lúa lớn của cả nước. Song thực tế cho thấy không đợi đến 100 năm nữa theo kịch bản biến đổi khí hậu, mà tình trạng xâm nhập mặn hiện đã diễn ra gay gắt tại các tỉnh hạ lưu sông Mê Kông tiếp giáp với biển. Tại Sóc Trăng, Sở NN&PTNT ghi nhận trong vòng 2 năm nay nước mặn đã xâm nhập đến Cù Lao Dung, Đại Ngãi, điều mà cách đây 5 năm không hề có. Năm 2008, nước mặn xâm nhập vào Long Phú đã làm ảnh hưởng trên 2.500 ha lúa và cây ăn trái của khu vực này.

    Tại Trà Vinh, nước mặn vào cửa biển Định An, xâm nhập sâu vào đất liền, ảnh hưởng nghiêm trong đến diện tích canh tác lúa. Năm 2007, nước mặn đã theo dòng sông Hậu lên đến địa phận Cần Thơ, gây ngập tại một số nơi trong thành phố.

    Theo Tiến sĩ Huỳnh Minh Hoàng, Phó giám đốc Sở Khoa học Công nghệ Bạc Liêu, cây lúa chỉ thích ứng được với nuớc có độ mặn dưới 4‰. Trong giai đoạn trổ, với độ mặn trên 4‰, hạt lúa sẽ bị lép.

    Ông Nguyễn Thanh Lâm, nông dân trồng mía tại huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, người có 4 ha mía bị thiệt hại do nước mặn tràn vào sau trận tràn đê bao năm 2007, cho biết: “Cách đây 10 năm nước không thể dâng cao như thế này, nhưng những năm gần đây nước biển lại vào sâu đến đây (cách 30 km) và rất mặn làm mía chết hết trơn”.

    Đối với người nông dân, nước mặn xâm nhập sâu vào các nhánh sông Mê Kông là do trời. Họ nào có hiểu, chính những con đập lớn nhỏ ngăn dòng của các nước từ thượng lưu và biến đổi khí hậu mới chính là những “thủ phạm” đích thực của tình trạng này.

    Nguy cơ đang tới rất gần


    Theo GS.TS. Võ Tòng Xuân, nước cho sản xuất cây lúa hiện nay càng trở thành một nhu cầu bức thiết, nếu không được sử dụng hợp lý và rà soát tổng thể ngay từ bây giờ thì nguy cơ thiếu nước là rất cận kề. Sau khi Trung Quốc và một số nước như Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia hoàn thành các con đập ngăn dòng phục vụ thủy điện và tưới tiêu, chắc chắn dòng chảy của sông Mê Kông sẽ thay đổi và lượng nước chảy xuống hạ lưu sẽ ít đi vào mùa khô, song mức lũ sẽ cao hơn vào mùa nước nổi, khi các đập xả lũ. Chính vì vậy, nguy cơ thiếu nước cho vựa lúa lớn nhất nước do ảnh hưởng từ việc khai thác sông Mê Kông thậm chí gần hơn rất nhiều so với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

    Năm 2004, ý tưởng tận dụng nước ngọt cho cây lúa tại ĐBSCL đã được khởi xướng khi UBND tỉnh Đồng Tháp cho đắp một số đê bao phân lũ lấy nước rửa trôi vùng đất phèn trũng Đồng Tháp Mười. Nhiều địa phương ở An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng cũng đã dẫn nước ngọt vào sâu trong những vùng đất mặn để phát triển cây lúa.

    Tuy nhiên, theo GS. Xuân nhận định, chương trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau sẽ hao tổn rất nhiều nước ngọt và rất khó thoát nước. Ông cũng chính là người đã phản biện cho chương trình, với đề xuất “nên coi nước mặn cũng là một tài nguyên”, nhưng đáng tiếc đề xuất của ông đã không được quan tâm.
     





Chia sẻ cùng bạn bè


Đang tải...