1. Cuonlennho

    Cuonlennho "Cuộc đời yên ổn, năm tháng bình yên." Thành viên thân thiết

    Truyện loài vật ( Wild Animals I Have Known) - Ernest Thompson Seton

    [​IMG]
     


    Newsun thích điều này.


  2. Cuonlennho

    Cuonlennho "Cuộc đời yên ổn, năm tháng bình yên." Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    1.765
    Lượt thích:
    2.333
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    DOMINO

    (CHUYỆN MỘT CON CÁO NÂU ĐEN)



    PHẦN THỨ I. THỜI THƠ ẤU VÀNG SON

    I – MÁI NHÀ THÂN YÊU

    Mặt trời đã khuất sau rặng núi Gonde, và ánh hoàng hôn êm dịu mà tất cả các loài thú đều yêu thích đang trải dài trên một dải đồi núi và bình nguyên bao la. Ráng chiều sáng rực, phủ ánh hào quang hiền dịu lên những thung lũng xinh xắn như muốn ngăn cản màn đêm. Cao trên ngọn đồi gần sông Soban là một cánh rừng thông nho nhỏ đang độ xanh rờn. Ở đây thật dễ chịu và yên tĩnh lúc chiều tà. Giữa khu rừng đó trên khoảng rừng thưa có một gia đình nhà cáo. Lối vào hang nằm khuất ở ngay bìa rừng. Đúng giờ nay cả gia đình cáo chui ra ngoài nô đùa và tận hưởng hơi mát lúc chiều hôm.
    Cáo mẹ theo dõi bầy con nô đùa. Nó rất sốt sắng duy trì cuộc vui chung. Lũ cáo con nhiều lông tơ mềm mại nô đùa không hề quan tâm đến thực chất của cuộc sống vừa mới bắt đầu trong khi người mẹ dồn hết cả sức lực cao cả vào việc phục vụ chúng, và đối với chúng dĩ nhiên tất cả thế giới này đều là bạn. Chúng nô đùa và ẩu đả, chúng đuổi bắt nhau trong niềm vui mãnh liệt không gì kìm hãm, đuổi theo cả lũ ruồi bọ, hít hít một cách dũng cảm những con ong đất béo tròn và chạy như điên để cố tóm lấy cái chót đuôi của mẹ hoặc giật của nhau mẩu thức ăn cũ nào đó đã quăng bỏ từ lâu.
    Chúng nô đùa cốt để giải trí và thỏa mãn với bất cứ lý do nào khiến cho chúng lại được chạy nhảy tứ tung.
    Chiều hôm đó trò chơi của lũ cáo con là một cái cánh vịt đã khô queo. Hàng chục lần nó bị thảy qua thảy lại từ con nọ sang con kia. Nhưng cuối cùng thì chú cáo con lanh lợi nhất có một khoang đen ngang mõm chiếm được cái cánh vịt. Nó không nhường cho ai cả và bắt đầu ngậm vật đoạt được chạy vòng tròn cho đến lúc những con cáo kia chán cái trò đuổi bắt vô bổ này. Nó liền nhả cái cánh ra và bám luôn lấy đuôi mẹ mà lắc mà giật cho đến khi mẹ nó bất ngờ nhảy lên hất đuôi đi khiến cho kẻ hay gây rối ngã ngửa người ra.
    Giữa lúc nhốn nháo đó, bỗng nhiên trên bãi trống xuất hiện một con cáo già. Vừa nhìn thấy nó cáo mẹ đứng phắt lên và lũ cáo con hoảng sợ, nhưng hình dáng quen thuộc của con cáo kia lập tức làm cho chúng yên tâm. Nó chính là con cáo bố.
    Nó mang thức ăn tới cho nên tất cả đều hướng mắt và mũi về phía nó. Con bố đặt vật mang về xuống đất, đó là một con chuột xạ vừa bị cắn chết, và cáo mẹ vội chạy đến.
    Những người thợ săn thường kể rằng, cáo không bao giờ đem mồi về gần hang nếu cáo con không có nhà. Và trong các câu chuyện của người đi săn đôi lúc cũng có những điều nói đúng.
    Cáo mẹ xé con chuột xạ ra cho bầy con và chúng lao ngay vào. Chúng giằng co, giành giật con mồi, tru lên, giương mắt nhìn nhau dữ tợn, con nào con nấy đều hục hặc lúc lắc cái đầu, cố gắng đoạt lấy phần thức ăn của mình.
    Cáo mẹ nhìn cáo con xúm quanh con chuột chết, đồng thời vội quan sát cả khu rừng. Ở đó luôn ẩn chứa những kẻ thù thâm độc: bọn người có súng ống, lũ trẻ với bầy chó, chim ưng và cú vọ, tất cả đều thèm muốn săn bắt lũ cáo con.
    Cáo mẹ thường xuyên thận trọng và cáo bố cũng giúp đỡ nó trong công việc này. Mặc dù cáo bố giữ vai trò thứ yếu trong việc gia đình và tạm thời khi cáo con còn chưa mở mắt thì thậm chí không được vào hang, nhưng nó vẫn tự nguyện mang thức ăn về và canh gác trước hang.
    Bữa tiệc vui vẻ của bầy con đang lúc sôi nổi nhất thì bỗng nhiên từ xa đưa lại tiếng kêu “ua, ua, ua, áp” của cáo bố. Đó là dấu hiệu báo một nguy hiểm đang đến gần. Giá như lũ cáo con già dặn hơn chút nữa thì chúng đã hiểu ý nghĩa của tín hiệu đó. Nhưng chúng còn quá bé nên cáo mẹ vội vàng giải thích để cho chúng biết phải làm gì. Sau khi nhắc lại cho bầy cáo con nghe tiếng sủa xa xa của cáo bố bằng một giọng trầm trầm đầy đe dọa, cáo mẹ lùa chúng và trong cái hang tranh tối tranh sáng để chúng có thể bình tĩnh ăn hết con chuột xạ.
    Chỉ tính ở một trang trại của vùng New England thôi cũng đã có không dưới một ngàn cặp cáo sinh sống. Mỗi cặp hàng năm lại cho ra đời một lứa cáo mới, và vì thế rất có thể những cảnh vừa thấy trên đây xảy ra thường xuyên trước mỗi hang cáo vào những ngày xuân đẹp trời. Từ đó ta suy ra rằng mỗi năm có trên một trăm ngàn lần cảnh như thế này lặp đi lặp lại mỗi ngày trước mắt chúng ta. Tuy nhiên tất cả những cảnh này diễn ra trong bí mật và bố mẹ lũ thú rừng thận trọng đến mức, rất có thể chỉ có một người trong số một trăm ngàn người mới có diễm phúc được chứng kiến cái khung cảnh gia đình tương tự như thế.
    Ở Gonde con người hạnh phúc duy nhất trong số một trăm ngàn người đó chính là Apne Giucxo. Đó là một cậu bé cao nhồng, tóc bạch kim, mặt đầy tàn nhang, lúc nào cũng leo trèo trên cây tìm tổ quạ thay vì chăn dắt đàn bò.
    Cậu theo dõi bầy cáo nô đùa không phải như mọi đứa bé bất kỳ mà theo dõi với sự hồi hộp của một nhà tự nhiên học tương lai. Cậu chú ý ngay đến con cáo con có cái vệt đen ngang mõm trông như chiếc mặt nạ ở bộ áo đôminô dùng trong ngày hội hóa trang, và sung sướng mỉm cười với nó.
    Cậu bé không hề có ý nghĩ quấy rầy cuộc giải trí của bầy cáo con, nhưng dù sao cậu cũng là kẻ ngẫu nhiên có lỗi cho cuộc vui dừng lại bất ngờ và gây ra tất cả thảm họa sẽ giáng xuống đầu gia đình cáo sau này.
    Apne chỉ săn cáo vào mùa đông. Cậu rất tự hào về con chó săn của mình, nó đầy hứa hẹn sẽ trở thành một con chó nòi tốt nhất trong toàn bang. Sự thực tạm thời thì đó chưa phải là con chó trưởng thành mà mới là một chú cún con, nhưng là chú cún có những cẳng chân khá to, cái bụng thon và bộ ngực nở. Giọng nó rất khỏe, vang xa, và căn cứ vào tính tình hung hăng dễ cáu thì lúc lớn nó sẽ là một con chó dữ. Apne thường nhốt nó ở trong nhà nhưng lần này không hiểu sao nó thoát được ra ngoài, và dĩ nhiên là nó chạy ngay đi tìm cậu chủ. Nó tới gần làm cho cáo bố lo sợ.
    Sau khi biết chắc tất cả bảy đứa con thơ dại yêu quí đã ở ngoài vòng nguy hiểm, cáo mẹ liền chạy ngay ra đối mặt với kẻ thù. Nó cố ý chọn con đường để lọt ngay vào tầm mắt con chó lúc con này chạy gần tới hang, và quả nhiên nó nghe thấy tiếng sủa lanh lảnh khiến cho ngay cả trái tim đã được tôi luyện của chồng nó cũng phải đập mạnh.
    Nhưng giờ đây nó không nghĩ gì đến bản thân mình. Nó thu hút sự chú ý của con chó về phần mình, và khi đã cảm thấy chạy được cách hang một khoảng vừa đủ bảo đảm an toàn cho hang là nó bứt luôn khỏi con chó, làm rối loạn dấu vết và quay trở về hang. Ở nhà mọi việc vẫn đâu vào đấy. Chỉ có con cáo con mõm đen mọi khi hay chạy ra đón mẹ ngay lối ra vào, lần này nép vào xó sâu nhất trong hang và chúi mũi vào đó.
    Năm phút trước nó còn ngó ra ngoài hang, nhưng đến khi nghe thấy tiếng chó sủa ghê rợn chói tai thì nó run sợ đến ớn lạnh xương sống, run rẩy cả đến mẩu chót cái đuôi xù lông. Cáo con cuống quít lẩn vào góc sâu, nằm co rúm lại và cứ nằm mãi như thế rất lâu cả sau khi cơn sóng gió đã đi qua.
    Từ trước tới giờ nó chỉ sống trong thế giới tình thương. Nhưng bây giờ nỗi sợ hãi đã bắt đầu xâm nhập vào thế giới đó rồi.
    II. NỖI BẤT HẠNH
    Trong những người thợ săn rất phổ biến ý kiến cho rằng hình như cáo không động đến những gia cầm ở gần nơi hang nó. Nó cố không làm cho người láng giềng gần gũi nổi cơn thịnh nộ và vì thế luôn luôn tìm cách kiếm mồi ở những trang trại xa hơn.
    Rất có thể vì lý do đó mà ở chuồng gà của Juck mọi việc đều tốt đẹp, còn ở trại Benton thì dà cứ mất luôn luôn. Cụ Benton cũng giống như tất cả mọi người không thể chịu đựng mãi được, và đến khi hơn một phần tư số gà trứ danh của cụ mất tăm thì cụ thực sự phát khùng lên.
    Vào ngày chủ nhật kế đó hai đứa con trai nhà Benton là Xi và Bed đi ngang qua đỉnh đồi vừa lúc nghe thấy con chó của Juck theo vết cáo. Hai chú bé này không mấy thân thiện với con chó nên chẳng muốn can thiệp vào chuyện của nó. Các chú dừng lại, đứng trên cao quan sát một cuộc rượt đuổi trong thung lũng, theo dõi xem cáo xỏ mũi chó một cách linh hoạt như thế nào sau khi đã chán không muốn chạy nữa.
    Nhưng các chú bé chưa kịp cất bước thì con cáo lại hiện ra, lần này ngoạm trong miệng một con gà mái trắng phau. Nhà Benton rất hãnh diện về đàn gà trắng của mình, và rõ ràng là cáo đang tha chính con gà của chúng. Gà trắng rất dễ nhận ra từ xa, và hai chú bé chẳng tốn công gì cũng theo dõi được kẻ ăn trộm đến tận cửa hang của nó.
    Sau nửa giờ đồng hồ chúng đã đứng giữa đám lông trắng phau của con gà thuần chủng. Các chú bé thử luồn cây sào dài chọc vào hang, nhưng sào bị mắc kẹt ở khúc ngoặt của hang và lũ cáo con tuy sợ chết khiếp nhưng vẫn an toàn. Hai con cáo bố mẹ lúc đó cứ chạy tới chạy lui trong rừng ngay gần hang. Chúng hoảng sợ chạy khỏi hang nhưng cáo con còn bị kẹt lại nơi đó cho bên cái hang cứ thôi thúc chúng quay về. Chúng cố lại gần hang nhưng mỗi lần nghe thấy tiếng người thì lại chạy đi và lẩn vào bụi cây.
    Mặc dầu cái hang nằm trên địa phận sở hữu của nhà Juck nhưng các chú bé nhà Benton vẫn quyết định ngày hôm sau quay lại và lôi lũ cáo con ra. Tuy nhiên cáo mẹ đã lo xa trước nỗi nguy hiểm đe dọa ngôi nhà của nó. Ngay sau khi các chú bé bỏ đi nó đã bắt tay vào việc đào một cái hang mới và đến lúc bình minh thì tiến hành di chuyển gia đình.
    Nếu những người nông dân muốn lựa chọn con mèo con tốt nhất trong số những con mới sinh thì họ dùng một phương pháp tự nhiên và đơn giản là mang lũ mèo con ra ngoài đồng trống. Mèo mẹ chẳng mấy chốc đã tìm ra con và bắt đầu tha chúng về. Con đầu tiên nó tha về sẽ được coi là con mèo con tốt nhất. Đó là một dấu hiệu đáng tin cậy. Con mèo linh lợi nhất bao giờ cũng leo lên trên cả đám mèo con, làm cho mẹ nó chú ý đến trước nhất, và chính do thế mà mẹ nó tha nó về trước mọi con khác.
    Trong hang cũ Đomino là con cáo nhanh nhẹn nhất, khỏe mạnh nhất ra đón mẹ trước tiên, và mẹ nó mang nó đầu tiên qua nơi ở mới, anh toàn. Sau đó mẹ nó tha con khỏe nhất trong số các chị em gái của nó, rồi đến lượt thằng em trai vạm vỡ. Trong thời gian này bố chúng canh gác ở các ngọn đồi lân cận.
    Trời sáng dần. Cáo mẹ vừa lên đường với con cáo con thứ ba thì cáo bố phát tín hiệu báo động.
    Các chú bé nhà Benton đã xuất hiện, mang theo thuổng và cuốc chim để đào hang cáo. Nhưng vừa đào được ba bước chân thì chúng vấp phải một tảng đá lớn. Chúng đang bàn luận cách làm thì nghe thấy tiếng nổ rầm rầm đưa đến từ công trường khai thác đá ở trong núi. Thế là chúng có ngay một kế hoạch hành động. Một chú bé chạy vào công trường và quay trở lại ngay với một gói thuốc nổ. Chúng đặt gói thuốc vào khe nứt của tảng đá. Một phút sau tiếng nổ khủng khiếp làm rung chuyển cả sườn đồi. Khi đám mây bụi tan đi cửa hang đầy những tảng đá lớn. Chắc chắn là lũ cáo con còn lại ở trong hang đã bị đè bẹp hoặc chết ngạt. Tiếng nổ đã biến nơi cư trú thành nấm mộ, và các chú bé bỏ đi.
    Giá như các chú bé quay lại nơi đây vào ban đêm thì chúng sẽ được chứng kiến cảnh cáo bố và cáo mẹ dùng chân bới đất như thế nào và cắn xé một cách vô ích những mẩu đá hoa cương để cố chui vào cái hang thân yêu. Đêm hôm sau cáo lại đến nữa. Đến đêm thứ ba chỉ có một mình cáo mẹ đến, và sau đó nó cũng từ bỏ luôn mọi cố gắng đào bới vô vọng.

    III. NHÀ MỚI
    Ngôi nhà mới của cáo nằm cách nhà cũ một dặm và không ở trên đồi nữa. Nó nằm lui xuống phía dưới, gần mé sông, nơi đây con sông rời bỏ đồi núi và chảy len lỏi giữa đồng cỏ. Tại đó, cáo dựng ngôi nhà mới ở giữa một chỗ trũng rộng lớn có vách đá bao bọc xung quanh, có rễ cây hòan diệp liễu và bạch dương quấn vào nhau dày đặc. Cửa ra vào có hai tảng đá lớn che chắn. Hang cũ nằm trên sườn đồi, trong rừng thông, còn cái hang này đào trong lòng trũng phủ bóng hoàn diệp liễu. Thông reo rì rầm và thở dài muôn thưở, còn hoàn diệp liễu lúc nào cũng run rẩy và lo âu. Và dòng sông đưa những cơn sóng của mình đi mãi với khúc nhạc âm vang. Ngay từ cửa vào hang đã bắt đầu là bụi sỏ rậm rạp, kéo dài đến tận một vũng sông êm đềm mọc đầy cỏ lác. Sườn dốc xanh tốt này được dùng làm chỗ chơi đùa của ba đứa nhóc, và suốt mùa hè ở nơi đây có thể hàng vài chục lần quan sát thấy cái cảnh cũ rích cáo bố đi săn trở về nhà. Cỏ xung quanh nhàu nát vì cáo con nô đùa, vật lộn. Chúng lớn nhanh như thổi, nhưng nhanh nhất là con cáo có cái vệt đen trên mõm, cái vệt cứ mỗi ngày một đen hơn.
    Cáo bố mẹ bắt đầu dạy chúng đi săn. Cáo con hầu như không bú nữa và ăn những gì mà cha mẹ chúng ăn. Thế là bố mẹ chúng thu xếp để bắt buộc lũ trẻ tìm lấy thức ăn giống như chúng tự đi kiếm lấy. Bố mẹ không mang thức ăn về hang nữa mà để ở trong rừng, cứ mỗi ngày một xa dần theo đà lớn lên của các con.
    Vừa nghe thấy tiếng mẹ gọi là lũ con lao ngay vào rừng, và ở trong đó chúng bắt đầu một trò chơi nghiêm chỉnh mà kết quả sẽ quyết định bữa ăn trưa của chúng. Chúng lao vào các bụi cây, tìm kiếm và quay cuồng dọc theo sườn dốc phủ đầy cỏ, vừa láo liên vừa hít hít từng cái hố nhỏ.
    Chúng lướt đi mới vui vẻ làm sao, chúng bứt lên trước nhau khi hơi gió mách bảo chúng phải chạy về hướng nào, và thật tuyệt diệu làm sao, cuối cùng chúng đã học được cách phóng như bay theo chân bố mẹ đến thẳng nơi cất giấu thức ăn.
    Chúng được dạy cách săn mồi như vậy. Con cáo con mõm đen sáng dạ nhất, mạnh khỏe nhất và nhanh nhẹn nhất. Nó sống tốt hơn. Nó thường xuyên chiếm được miếng to nhất, béo bở nhất. Nó lớn nhanh hơn các con khác và sự khác biệt này ngày càng dễ nhận ra. Nó lại còn có một nét khác biệt nữa: bộ lông xám đen thời thơ ấu của nó ngày càng xẫm màu hơn. Trên mình các chị em nó bắt đầu lốm đốm nhựng đám lông màu hung và vàng, màu lông đặc trưng của giống nhà cáo, còn lông nó thì ngày một đen đi, và mõm với bốn chân lại đen hoàn toàn.
    IV. TRANG PHỤC MỚI VÀ CUỘC SỐNG MỚI

    Từ đó Đôminô bước vào thế giới rộng lớn đầy rẫy giông tố cuộc đời, vượt xa ngoài phạm vi cái góc nhỏ thân yêu dưới tán liễu. Nay nó bắt đầu một cuộc sống tự lập và chỉ trông cậy vào sức lực bản thân để có thể no nê và toàn vẹn. Mỗi ngày nó thêm thông minh hơn, thận trọng hơn và đẹp đẽ hơn.
    Ngay sau khi rời khỏi cái hang thân thuộc nó đã buộc phải chạy thoát khỏi một cuộc săn đuổi và hiểu rằng tài mưu trí giải cứu cho mình tốt hơn bất cứ đôi chân nhanh nhẹn nhất nào. Ngoài ra nó còn phát hiện được là trong giây phút hiểm nghèo nó có một người bạn trung thành mà nó vẫn thấy hàng ngày từ trước nhưng bây giờ mới có dịp bắt quen.
    Một lần hai con chó đuổi theo Đômino, và do chạy quá lâu theo các vách đá để thoát khỏi chúng nên nó đã bị cạnh đá cứa rách chân. Hôm đó là một ngày khô hanh và oi bức. Sau khi dốc hết sức chạy, Đômino đã bỏ xa được những kẻ đuổi bắt. Nó lao vút về phía con sông với ý định làm dịu bớt mấy cái chân bê bết máu, mỏi rã rời và nóng bừng bừng. Nó trườn xuống sông, lê bước theo bờ nước nông ngược dòng chảy, tận hưởng cái mát mẻ. Nó đi trong nước được chừng một phần tư dặm thì bỗng lại nghe thấy tiếng chó sủa tiến lại gần và nhìn thấy chó chạy tới bờ sông theo dấu chân nó. Chú cáo non trẻ ẩn nấp trong bụi cây rên một cù lao nhỏ, và từ nơi ẩn náu an toàn đó nó sung sướng theo dõi lũ chó bị mất dấu ở chỗ mép nước rồi cứ chạy tới chạy lui dọc bờ sông để cố tìm nó, nhưng cuối cùng chẳng tìm được gì đành phải quay về mà hoàn toàn không hiểu chuyện gì đã xảy ra.
    Có thể con cáo không hiểu rành rẽ rằng nước đã che đậy dấu vết, nhưng trong đầu óc nó đã hình thành một ý niệm sông là nơi rất tốt có thể giúp tránh được mối nguy hiểm khó thoát. Sau này điều đó còn được khẳng định thêm nhiều lần nữa. Ở nơi đó, bên bờ phía hạ lưu có một bãi cát dường như không in lại dấu vết và do đó không thể tố cáo sự có mặt của kẻ chạy trốn. Khi mùa đông đến và dòng sông phủ một lớp băng mỏng lấp lánh, Đômino đã nhận ra rằng băng nâng đỡ nó rất tuyệt nhưng lại vỡ ra dưới chân chó làm cho chó rơi tõm xuống nước.
    Nhưng nơi có lợi nhất té ra lại là cái bờ dốc dựng đứng lởm chởm đá trên bờ sông. Dưới chân dốc có một con đường mòn lượn quanh, đoạn đầu khá to nhưng đoạn sau thu hẹp lại đến mức cáo lách qua còn chật vật và thành ra quá hẹp đối với chó săn. Con đường mòn đó vòng ra mũi đất rồi thoai thoải chạy lên vách đá và dẫn vào rừng, nơi mà đến đây bằng bất cứ con đường nào khác cũng phải mất hông dưới hai năm.
    Ngoài ra, Đômino còn nhận thấy rằng khi không săn được gì ở những nơi khác thì ở bên dòng sông bao giờ cũng có thể tìm thấy một cái gì đó ăn được. Lúc là một con cá bị quăng lên bờ, lúc là một con chim chết, hoặc cùng lắm là một con ếch, tất cả đều có thể làm dịu cơn đói. Thế là trong óc nó hình thành một điều khẳng định vững chắc: nói chung dòng sông là một nơi tuyệt diệu, rất có ích trong những giây phút khó khăn của cuộc sống. Con sông đã trở thành người bạn nó.
    Vào thời gian này con thú mới lớn của chúng ta thay đổi hẳn và mối nguy hiểm luôn đe dọa cuộc sống của nó cũng tăng lên gấp bội.
    Khi thời tiết bắt đầu bước vào những đêm thu trẻ trung lông của Đomino trở nên dày hơn, xốp hơn và thay màu. Mỗi ngày lông một xẫm hơn cho đến lúc cuối cùng sắc hung và xám biến mất hoàn toàn. Và bất cứ người nào am hiểu về lông thú đều có thể nói: “Đó phải chăng là dấu hiệu báo trước một vẻ đẹp không thể mong ước gì hơn. Phải chăng con cáo mới trưởng thành sẽ trở nên một con cáo nâu đen thực thụ?”
    Kiếm được bộ lông cáo nâu đen – đó là một thứ hạnh phúc to lớn vô cùng mà người thợ săn chỉ dám mơ ước đến mà thôi. Thế nhưng cái báu vật đó lại được chính bản thân con thú giữ gìn cẩn thận bằng sự tinh khôn và nhanh nhẹn của mình.
    Cáo nâu đen chỉ về mùa đông mới khác biệt rõ rệt với loại cáo khác. Cáo nâu đen con, khi còn chưa thay bộ lông thời thơ ấu, rất dễ nhầm với những con cáo bình thường. Chỉ lúc mùa đông đến gần mới có thể khám phá ra vẻ đẹp của anh chàng nhiều diễm phúc. Và thế là khi mùa thu đi qua và những đêm băng giá ập tới vùng Gonde thì bộ lông mùa đông sẫm màu của Đomino ngày càng mịn và dày hơn, cái đuôi có đốt cuối màu trắng ngày càng mềm mại hơn, và cái vệt đen xẫm nổi bật ngang mõm ngày càng đen hơn, giống hệt chiếc mặt nạ nằm giữa có lông trắng như bạc viền chung quanh. Đầu và cổ cũng một màu đen bóng. Những điểm lông trắng óng ánh xuất hiện trên nền lông đen như bóng đêm thật chẳng khác gì những ngôi sao sáng điểm rải rác trên bầu trời ban đêm. Ai đã từng trông thấy con cáo con lem nhem hồi tháng Sáu khó mà nhận ra nó vào tháng mười một này với toàn bộ vẻ lộng lẫy huy hoàng của bộ quần áo mùa đông trang nhã. Đomino đã biến thành một con cáo nâu đen tuyệt diệu.
    V. CÁO ĐẸP MÃ VÀ CON QUÁI VẬT

    Chẳng bao lâu mọi người đều biết rằng ở Gonde xuất hiện một con cáo nâu đen. Người ta nhìn thấy con cáo đẹp mã ấy nhiều lần, nó là một kỳ quan trong số những con thú săn lấy lông, và một số người còn thậm chí cho rằng con chó Ghechia lông đen của Juck đã nhiều lần đuôi theo dấu con chân nó. Điều này chí ít cũng là do chính Juck kể lại, tuy rằng bạn bè thường cười giễu coi là chuyện phịa và khẳng định rằng cao cáo nâu đen rất khinh thường con chó ngốc nghếch, và bao giờ cũng đánh lạc hướng được chó bằng một trong vô vàn mánh khóe của nó sau khi đã bắt chó chạy thục mạng theo nó.
    Ghechia có tiếng sủa tuyệt vời: to, trầm và vang xa đến mức gặp đêm yên tĩnh có thể nghe rõ cách hàng vài dặm. Tiếng sủa thực ra là máy móc, bởi vì con chó không hề thay đổi cách sủa trong lúc chạy, ngay cả lúc chạy về nhà theo dấu chân của chính mình.
    Đám trẻ con nhà Juck tưởng tượng rằng Ghechia là một con chó săn mẫu mực, tuyệt vời. Nhưng láng giềng lại cho rằng đó chỉ là sự pha tạp một cái bẫy cáo và một một cái còi xe lửa, mà lại còn là một con vật hung dữ và càu quạu. Những người công tâm hơn thì xác nhận Ghechia là một con chó con to lớn, chạy nhanh, dữ tợn, có giọng sủa thật độc đáo, khó quên.
    Lần đầu tiên tôi nghe thấy tiếng sủa của Ghechia lúc nó bị nhốt trong trang trại. Cái tiếng sủa oang oang, dễ sợ, chát chúa đó cứ âm vang bên tai tôi mãi suốt cả ngày.
    Thế rồi một lần, vào mùa thu khi hoàng hôn buông xuống, tôi đang lang thang trong rừng dưới chân đồi Gonde thì tiếng chó sủa chát chúa từ đằng xa vọng đến làm cho thính giác của tôi phải sửng sốt. Tôi nhận ra ngay lập tức và đoán là Ghechia đang chạy theo dấu một con thú nào đó. Tôi lắng nghe và hiểu ngay câu chuyện đang xảy ra. Tôi nghe thấy tiếng lá cay lay động nhẹ, và một khoảnh khắc sau đã thấy hiện ra một con thú kỳ diệu: con cáo có bộ lông đen như than. Nó ngoảnh nhìn về phía kẻ thù. Con cáo cách tôi cả thảy có năm chục bước, và tôi hiểu mình cần phải làm gì: tôi đặt tay lên môi rồi lấy hơi tắc lưỡi thật to. Con cáo quay ngoắt lại và trườn nhanh về phía tôi.
    Khi giữa chúng tôi chỉ còn không đầy hai chục bướcm nó dừng lại trong tư thế duyênd áng, đôi tai căng thẳng chờ đợi, cái đuôi hơi cụp xuống và chân trước co lên như muốn có xác định xem cái tiếng tắc lưỡi giả làm tiếng chuột hoặc thỏ kia từ đâu đưa lại.
    Chao ôi, bộ lông mới đẹp làm sao!
    Mới là đầu thu nhưng trên nền lông đen bóng đã nổi rõ chòm lông ngực trắng như tuyết và mẩu đuôi cuối màu sáng. Đôi mắt màu vàng của con cáo sáng rực lên như những đốm lửa nhỏm còn những chấm lông lóng lánh ánh bạc thì bao quanh đầu và cổ nó như vầng hào quang. Tôi cảm thấy chưa lần nào trong đời được nhình thấy một tạo vật tuyệt tác như vậy. Cuối cùng tôi đã hiểu đó đích thực là con cáo nâu đen vùng Gonde. Tôi đứng yên không nhúc nhích, con vật cũng bất động. Dường như điều này vẫn thường hay xảy ra: loài vật có lẽ không nghĩ ra rằng đứng trước nó là một con người. Nhưng con cáo đã nghe thấy tiếng chó sủa oang oang đang lại gần, đó là Ghechia chạy theo dấu chân nó. Nó liền quay ngoắt lại, tiếp tục chạy. Tôi lại tắc lưỡi và lại có diễm phúc ngắn nghía lần nữa cái dáng đứng kiều diễm của con thú đang lo sợ. Nhưng tôi đã có một cử động thiếu thận trọng làm lộ mình và con cáo biến mất trong nháy mắt.
    Sau mười phút, một con thú khác hiện ra, cứ cách vài bước nó lại sủa cầm chừng một tiếng. Nó chui qua các bụi cây, làm gãy tất cả những gì cản trở trên đường đi. Nó vụng về, nặng nề, đôi mắt đỏ ngầu như máu và chẳng để ý đến cái gì khác ngoài những dấu vết để lại trên mặt đất, nó tiến lên phía trước với bộ mặt bướng bỉnh, lầm lì. Đó chính là con Ghechia trứ danh định thử sức với nhân vật chạy nhanh nhất trong số dân cư vùng Gonde.
    Tôi bất giác cảm thấy rùng mình phải chứng kiến cái cảnh con thú to béo, phục phịch đánh hơi và tìm ra chính xác mỗi chỗ ngoặt của dấu chân cáo. Tôi thấy thật ghê người khi nghĩ rằng dấu vết kia có thể nói cụ thể là con cáo chạy hướng nào. Chính vì thế mà Ghechia không bối rối, do dự một chút nào. Tôi tắc lưỡi gọi chó nhưng có lẽ chỉ gọi một cái bẫy cáo nào đó thì mới mong đạt được kết quả mà thôi. Con chó chỉ có một ý nghĩ duy nhất là không để mất dấu, đuổi theo kỳ được con cáo. Và sau đó ra sao thì tôi có thể căn cứ vào đôi mắt dữ dằn, ngầu máu của con chó và túm lông dựng đứng trên trán nó mà đoán ra được dễ dàng. Chính bản thân tôi cũng đi săn cáo và ưa thích kiểu săn bằng chó, nhưng ngày hôm đó cái hình ảnh một tạo vật kỳ diệu con chó ngao Xecbe nhẫn tâm săn đuổi và khó lòng thoát khỏi tay nó đã gây cho tôi ấn tượng y như đang đứng trước hình ảnh một con rắn độc định xiết chết nghẹt một con chim nhỏ có giọng hót tuyệt vời.
    Tôi đã lãng quên tình bạn lâu đời giữa người và chó, và từ đó trở đi chuyển tình cảm của mình sang con cáo nâu đen.
    VI. – ĐỜI SỐNG MÙA ĐÔNG CỦA ĐOMINO
    Mùa đông đã đến, các cậu bé thôn quê bắt đầu mùa săn cáo chẳng theo quy củ gì cả. Chúng thường thả hai ba con chó chạy trước rồi chạy bộ theo sau, tay cầm súng.
    Có một lần chúng mở cuộc săn bằng ngựa thực thụ cùng với bầy chó, nhưng Đomino náu kín trong các khe đá gần bờ sông. Mỗi lần trốn thoát kẻ thù nó lại trở nên dũng mãnh hơn và càng thành thạo hơn trong nghệ thuật đánh lạc hướng những kẻ săn đuổi nó. Ngoài ra nó còn trau dồi được cả cách chế ngự bản thân. Tiếng sủa ghê rợn của con chó to lớn vẫn làm cho nó khiếp hãi như trước, nhưng Đomino tập chế ngự được nỗi sợ hãi và lòng dũng cảm của nó mỗi ngày một gia tăng.
    Giờ đây nó sống cuộc đời bình dị của một con cáo độc thân. Nó không có tổ ấm, loài cáo mùa đông ít sống trong hang. Nó nằm ngủ ở những chỗ trống, bộ áo lông dày dặn, mịn màng và cái đuôi mượt mà bảo vệ nó khỏi bị lạnh. Còn tài đánh hơi thính nhạy giúp nó tránh thoát mọi nguy hiểm đang tới gần.
    Nó chỉ ngủ ban ngày, dưới ánh nắng. Đó là quy luật không viết thành văn của loài cáo: “Đêm săn mồi, ngày ngủ”, khi mặt trời lặn và bóng hoàng hôn bao phủ, Đomino bắt đầu đi kiếm ăn.
    Có người nghĩ lầm rằng mọi con thú rừng đều có hể nhìn được trong bóng tối dày đặc. Không đúng, con thú cần ánh sáng. Dĩ nhiên là nó cần ít hơn con người, nhưng dù sao nó cũng cần có một chút ánh sáng. Con thú có khả năng dò dẫm, len lỏi trong bóng đêm tốt hơn con người, nhưng vẫn chỉ là dò dẫm mà thôi. Con thú không ưa ánh sáng chói chang buổi trưa. Thời điểm thích hợp nhất đối với chúng là lúc trời chạng vạng tối. Dưới ánh trăng hay vào đêm sao mùa đông, khắp nơi phủ tuyết, săn mồi tiện lợi hơn nhiều.
    Như thế là mặt trời vừa lặn Đomino đã ra đi săn mồi. Nó chạy thoăn thoắt, cố giữ ngược hướng gió, quay ngang quay ngửa khắp bốn phía để kiểm tra từng bụi cây đáng ngờ, từng lùm cỏ nghi hoặc, ghé thăm tất cả những chỗ trước đây nó đã từng gặp may, và chạy lại ngửi hít từng gốc cây, tảng đá và cả những xó xỉnh bên hàng rào mà nó đã để dấu lại, cốt xem có con cáo nào vừa mới tới đó hay không. Loài cáo cũng như loài chó và sói vẫn có thói quen để lại dấu vết bên mỗi tảng đá và gốc cây. Sau đó nó chạy vượt lên đỉnh đồi, đánh hơi xem gió có đưa lại hương vị của thứ gì đó ăn được chăng. Chỉ có một tiếng xào xạo nhẹ cũng làm cho nó dừng lại và đứng bất động cho đến khi khẳng định rằng không có chuyện gì xảy ra cả, hoặc là rón rén như một con mèo để đến gần hơn tìm hiểu được kỹ xem có chuyện gì. Đôi lúc nó leo lên một cái cây nào đó có cành ngả sát đất, hoặc nếu không có cây thì nó nhảy lên một cái thật cao để nhình quanh, quan sát.
    Trong những chuyến đi đêm như thế, nó hoàn toàn không lẩn tránh các trang trại có chó canh giữ. Số cáo ở những vùng hoang vắng tăng lên đáng kể theo đà di dân tới nơi đó, bởi vì mỗi trang trại là một nguồn cung cấp thức ăn nuôi báo cô hai, ba con cáo sống bám. Thế là anh chàng Đomino của chúng ta cứ chạy từ trang trại này đến trang trại khác, bất chấp sự có mặt của lũ chó. Và để tránh khỏi rơi vào răng chó, nó dừng lại cách mỗi trang trại một khoảng rồi cất giọng đánh tiếng. Nếu chó xồ ra sủa thì nó đánh bài chuồn, còn nếu không có ai đáp lại thì nó kết luận rằng chó đã bị nhốt. Lúc đó nó mạnh dạn luồn vào sân và cuỗm tất cả nhữg gì bắt gặp. Dĩ nhiên con mồi béo bở nhất đối với nó là cô gà mái béo múp mà nó chế ngự được trong nháy mắt bằng cách ngoạm chặt hàm răng vào cổ gà. Nhưng cũng có lúc Đomino buộc phải bằng lòng với những mẩu bánh mì vứt bỏ hoặc một con chuột chết quẳng ra từ một cái bẫy chuột. Thậm chí nó không từ cả việc tha những mẩu thức ăn thừa trong máng lợn.
    Nó tìm thấy thức ăn được gần như thường xuyên, tuy không phải đêm nào cũng có, và như tế cũng đã đạt yêu cầu bởi vì chỉ cần một tuần nói chung có 5 bữa tối khá giả là đã quá đủ để nó không tiêu hao số lượng mỡ trong người và chịu đựng được mùa đông.
    Đó là cuối tháng Bảy. Cáo bố mẹ không những miệt mài kiếm miếng ăn cho bầy con từ các trang trại gần đó mà còn chăm lo giữ gìn chúng khỏi mọi hiểm nguy. Tiếng sủa chát chúa của con chó đen luôn luôn vang lên gần nơi lòng trũng chúng ở, và mỗi lần nghe thấy tiếng sủa đó là con cáo đen con lại run lên. Nhưng thường thường cáo bố hoặc cáo mẹ tiến ra đối mặt với kẻ thù và luôn luôn đánh lừa được chó bằng một mưu mẹo đơn giản nào đó buộc chó phải trở về nhà tay không. Trong vùng vách núi đá ven sông cáo đánh lừa chó dễ đến mức chúng bắt đầu coi thường kẻ địch thủ vụng về của mình và quá tin vào tài khéo léo của bản thân.
    Một bữa, khi cả ba chú cáo con đang chạy tới lui sục tìm trên bãi cỏ non con mồi mà cáo bố vừa mang về, thì bỗng đâu một con chó đốm nhảy xổ vào chúng.
    Lũ cáo con khiếp sợ tiếng sủa oang oang bỏ chạy tán loạn, nhưng con cáo bé nhất không kịp né tránh đã bị hàm răng kếch xù của con chó ngoạm chặt.
    Con chó khủng khiếp mang chiến lợi phẩm của mình về trang trại, đặt xuống bên chân chủ rồi nhìn chủ chờ đợi một lời khen. Nhưng chủ nó chẳng khen ngợi gì nó cả.
    Thảm họa không bao giờ chỉ giáng xuống một lần. Tinh mơ ngày hôm sau cáo bố vừa bắt được một con vịt chạy về thì bỗng tiếng chó sủa buộc nó phải chạy trệch khỏi cái hướng đi đã quá quen thuộc với nó. Nó rơi vào một con đường nhỏ chạy dọc theo hai bờ giậu cao. Nó không thể chui qua bờ giậu với con vịt ngậm chặt trong mồm. Cáo chạy dọc bờ giậu, nhưng lũ chó đã đuổi kịp nó. Nó bèn luồn nhanh sang một lối đi ngang bắt gặp đầu tiên. Than ôi! Kẻ bất hạnh rơi ngay vào một sân nhà có con chó khác, và thế là kết thúc cuộc đời nó.
    Gia đình nó không biết gì về chuyện này. Cáo bố không trở về, không mang mồi kiếm được về. Mẹ và hai đứa con bị bỏ đói. Cơn đói đó có thể là tất cả những gì chúng nhận biết được ngày hôm ấy.
    Trong cái hang ở giữa rừng hoàn diệp liễu chỉ còn cáo mẹ và hai đứa con. Cáo mẹ can đảm gánh vác tất cả nỗi gian truân vất vả. Tuy nhiên nó cũng đã gần hết trách nhiệm đối với bầy con. Suốt tháng tám cáo con theo mẹ đi rất xa săn mồi và tự tìm lấy thức ăn. Đến tháng chín con cái đã to bằng mẹ, còn con đực lông xẫm màu thì lớn vượt hẳn mẹ và khỏe hơn mẹ rất nhiều. Bây giờ mối quan hệ giữa em gái với anh trai và giữa mẹ với con trai đã thay đổi: cả hai con cái bắt đầu xa lánh chàng cáo đẹp trai to lớn đó và cuối cùng chúng cùng tránh né nó.
    Cáo mẹ và cáo con còn sống chung với nhau nhưng một bản năng khó nhận thấy nào đó đã phá tan mối quan hệ gia đình. Chúng giữ tình bạn với con cáo đen to lớn khi tình cờ gặp nhau, nhưng rõ ràng chúng tránh những cuộc gặp gỡ đó. Vậy là chàng Đomino “chạy nhanh” sau khi đã học được cách tự lo lấy cho mình liền rời bỏ vùng trũng trong rừng liễu và bắt đầu cuộc sống của một con cáo độc thân.
    VII. – ĐOMINO TÌM ĐƯỢC BẠN ĐỜI

    Không một con thú rừng nào lại lang thang vô mục đích từ chỗ này qua chỗ khác. Mỗi con thú có một địa hạt quen thuộc riêng của mình, một khu vực để săn mồi nhất định. Vì khu vực đó, chúng sẵn sàng đánh nhau và bảo vệ nó chống lại bất kỳ con thú nào khác cùng loài với chúng.
    Kết quả nhiều cuộc khảo sát cho biết rằng, địa phận săn mồi của cáo thường trải dài ba bốn dặm quanh hang cáo. Rất có thể địa hạt của con này có phần nào đó trùng với địa hạt của con khác. Tuy nhiên thú vật nhanh chóng quenv với loại hàng xóm cố định như thế, sau khi đã nghiên cứu kỹ vẻ ngoài và mùi dấu vết của chúng, và cuối cùng thì những con thú ở cạnh nhau chẳng còn để mắt đến nhau nữa.
    Nếu trong khu vực xuất hiện một con thú lạ thì tình hình sẽ hoàn toàn khác hẳn. Bấy giờ bắt buộc phải ẩu đả hoặc rời đi nơi khác.
    Vào cuối tháng Tuyết, Đomino đến độ sung sức nhất với bộ áo lông sang trọng trên người. Nó bắt đầu đau khổ vì cảnh cô đơn. Đôi khi lòng khao khát vô ý thức được tiếp xúc với một ai đó khiến nó ngồi rất lâu trên cái gờ nhỏ gần một trang trại nào đó, lắng nghe tiếng chó sủa nếu việc đó chẳng gây ra ra điều gì nguy hiểm, hoặc thậm chí nó còn cố tình khiêu khích để cho chó đuổi bắt nó nữa. Thỉnh thoảng nó dừng bước trên đỉnh đồi tràn ngập ánh trăng và tru lên một hồi dài. Các nhà bác học gọi tiếng tru đó là tiếng cáo sủa, còn những người thợ săn gọi đó là tiếng khóc rầu rĩ:
    I-áp, i-áp, i-u-rơ-ơ-ơ, i-ô-u
    I-áp, i-áp, i-u-rơ-ơ-ơ, i-ô-u
    Có lần vào một đêm trong tháng Đói, Đomino tru lên ai oán, chẳng hy vọng có kẻ nào đáp lại. Lúc tru lên như thế nó lại càng cảm thấy mãnh liệt hơn sự cô độc của mình.
    Theo ngôn ngữ loài người thì tháng Đói là tháng hai. Mùa đông bắt đầu tàn, gió đông nam mang hơi ấm nhè nhẹ thổi, nó chính là ngọn gió mang theo hơi thở bí ẩn của mùa xuân.
    I-áp, i-áp, i-u-rơ-ơ-ơ, i-ô-u
    I-áp, i-áp, i-u-rơ-ơ-ơ, i-ô-u
    Đomino lại tru lên, nhắc lại lời kêu gọi của mình, và sau khi nhìn kỹ xung quanh thì lần này nó nhận thấy ở phía xa có một cái bóng lao nhanh trên lớp tuyết trắng bao phủ cánh đồng. Nó đang theo dõi cái bóng đó, đôi tai dỏng lên nghe ngóng, thì một cái bóng khác đã phóng qua trên tuyết ở một khoảng cách gần nó hơn, Đomino liền đuổi theo cái bóng thứ hai này.
    Con người nhận ra những người xung quanh chỉ theo vẻ bề ngoài và rất dễ nhầm lẫn khi người ta thay đổi chút ít dáng vẻ bề ngoài. Về mặt này cáo giỏi hơn ta nhiều: nó nhận ra hàng xóm của nó qua vẻ ngoài và qua cả mùi của những dấu vết chúng để lại cũng như mùi của thân thể chúng và tất cả những thứ đó không thể đồng thời thay đổi đến mức không nhận ra được. Trong nháy mắt Đomino đã bắt được dấu vết của cái bóng thứ hai và linh cảm mách bảo nó ngay một cách chính xác rằng đó là dấu của con cáo Hung sống ở Soban. Từ lâu Hung có quyền kiếm ăn ở nơi này, cho nên Đomino yên trí chạy tiếp. Nhưng đến khi nó bắt gặp dấu vết của cái bóng thứ nhất thì máu trong người nó sôi sục niềm khát vọng kịch chiến: đó là dấu vết của môt con cáo lạ đang lấn chiếm vùng đất của nó, và thế là nó vội vã lao theo. Tuy thế khi nó vừa chạy vừa hít hít dấu chân thì cơn giận dữ của nó vụt tan biến nhường chỗ cho một thứ tình cảm khác hẳn.
    Nó ngửi lại dấu chân và cắm đầu cắm cổ lao theo. Mũi nó, một người chỉ huy tuyệt diệu, khó hiểu, đã thầm bảo nó: “Hãy nhanh lên!”.
    Nó phóng về phía trước với một lòng hăng hái tăng gấp bội và bỗng nhiên lại bắt gặp dấu vết của Hung. Mới vài phút trước đây Đomino còn bước qua dấu vết đó một cách hoàn toàn dửng dưng, nhưng bây giờ mọi việc đã khác rồi. Cái cảm giác mới lại tràn ngập tâm hồn nó. Và nó bỗng thấy tức giận điên cuồng. Toàn bộ lông nó, từ tai đến đuôi, đều dựng đứng cả lên. Cuối cùng, sau khi đã chạy qua ba bốn ruộng ngải cứu nó trông thấy cả hai con cáo. Những gì chúng đang làm hoàn toàn không nói lên là chúng đuổi bắt, đánh nhau, và chẳng rõ được chúng đang có thái độ hòa bình hay thù nghịch với nhau. Con cáo lạ là một con cáo cái không to lắm, màu lông hung có một cái yếm trắng nhỏ, đang chạy cách xa một đoạn phía trước. Hung nhanh nhẹn rượt theo cô nàng. Cáo cái liền quay ngoắt lại và nhảy xổ vào anh chàng, cáo đực nhảy sang một bên nhưng không tỏ ra hằn học. Cứ như thế chúng tiếp tục vừa chạy, vừa lao từ bên này qua bên kia. Trước cảnh tượng đó cả một cơn bão dục vọng và thịnh nộ bùng ra, tràn ngập trong Đomino.
    Không hiểu sao nó cảm thấy rằng nó có quyền được cô Yếm trắng chú ý đến hơn, và nó rất bối rối khi thấy cô nàng cự tuyệt nó còn hăng hơn so với kẻ địch thủ của nó. Đomino bèn quay sang phía Hung, rít lên dữ tợn. Hung cũng dựng đuôi lên ưỡn thẳng người và nhe hai hàm răng gớm ghiếc ra.
    Chúng đứng đối mặt vài giây đồng hồ. Lợi dụng lúc đó, Yếm trắng lại bỏ chạy. Hai kẻ tình địch lao theo, vừa chạy vừa dọa nhau. Đomino đuổi kịp kẻ chạy trốn trước. Cô nàng dừng lại hầm hè nhưng không đến nỗi giận dữ lắm. Hung từ phía bên kia tiến lại gần và nhận thấy nó bị cả Đomino lẫn Yếm trắng uy hiếp.
    Hai kẻ tình địch quấn lấy nhau. Hung bị quật ngã và nằm dài răng va vào nhau côm cốp. Đomino đứng trên người nó nhưng không làm hại gì nó cả.
    Yếm trắng lại bỏ chạy, và hai kẻ tình địch lại chạy hai bên, con nọ gầm gừ với con kia.
    Lúc chúng chạy ngang qua một cánh đồng Yếm trắng hơi tránh xa Hung một chút và xích lại gần con cáo nâu đen, và khi cả ba con dừng lại thì bây giờ không phải là ba con đối nghịch với nhau mà là hai con đối địch với một con. Con cáo đen to lớn, toàn thân ưỡn thẳng, lông trên cổ dựng ngược, đuôi vểnh cao. Nó tru lên dọa dẫm và nhe hàm răng sáng bóng của mình ra và tiến về phía địch thủ, có yếm trắng theo sát bên cạnh.
    Hung hiểu rằng, với nó thế là đã hết. Nó quay đi và ủ rũ chạy mất.
     
    Newsun thích điều này.
  3. Cuonlennho

    Cuonlennho "Cuộc đời yên ổn, năm tháng bình yên." Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    1.765
    Lượt thích:
    2.333
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    PHẦN THỨ HAI: CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH

    VIII – MÙA XUÂN
    Mùa xuân tươi mát đã đến trên đồi núi Gonde. Sườn đồi sẫm màu lại, dòng sông đã tan băng, không trung tràn ngập những tiếng vỗ cánh, tiếng chim kêu rộn rã lúc bình minh và tiếng kêu của những con ếch nhái bé nhỏ trong các đầm lầy đã tan hết băng.
    Trong khu rừng hãy còn khoác bộ áo mùa đông, cây lê hé mắt nhìn qua tuyết và duỗi thẳng những cái lá nhỏ óng ánh ra dường như muốn nói: “Điều tôi hằng chờ đợi đã đến đó, những trái cây màu đỏ của tôi mới hợp thời làm sao”. Gà rừng, sóc, cu li thưởng thức khoản thết đãi đó của tháng Quạ, và tất cả những ai yêu thích thế giới những con thú rừng đều tự nhiên hân hoan nghĩ rằng: bà mẹ thiên nhiên quả là sáng suốt khi để dành thức ăn ngon lành đó cho thời kỳ đói kém.
    Ở trong rừng cũng như ở trên hồ đã bắt đầu mùa kết đôi của thú báo hiệu sự ra đời của những thế hệ mới. Tất cả những điều này cũng được trái tim của Yếm trắng và Đomino hưởng ứng một cách sống động nhất.
    Ngay khi tuyết tan vừa tạo thành những con suối nhỏ giá lạnh đầu tiên chạy dọc theo các sườn dốc, đôi cáo của chúng ta đã đi tìm nơi lập tổ ấm gia đình. Chúng chạy tới chạy lui và tìm kiếm, lại tìm kiếm và chạy khắp nơi. Nói đúng hơn, chỉ có mỗi mình Yếm trắng tìm kiếm còn Đomino thì ngoan ngoãn theo sau, và cứ như thế chúng đi khắp bình nguyên cát phía dông đồi Gonde. Nhưng ở đấy đâu đâu cũng gặp những dấu vết nhỏ do những con cáo khác để lại, mà ý nghĩa của chúng nếu dịch ra ngôn ngữ loài cáo thì quá rõ ràng: “Kẻ lạ mặt muốn chiếm chỗ sẽ phải đổ máu”. Về sau chúng phải lặn lội khắp các khe sói vùng Gonde. Tuy nhiên tuyết trong khe vẫn còn quá dày. Chúng quay trở lại dòng sông và cuối cùng đến được cánh rừng thưa mọc đầy hoàn diệp liễu – chính là cánh rừng hoàn diệp liễu mà Đomino đã sống qua thời thơ ấu. Cuộc tìm kiếm của người bạn gái của Đomino kết thúc tại đây, bởi vì nó đã tìm được tất cả những điều cần thiết.
    Sau khi ngửi hít khắp nơi khắp chốn, con cái bắt đầu đào hố trong một khóm rừng dẻ. Đất ở đây được phủ một lớp tuyết dày, bên dưới có một lớp lá rụng cho nên không bị rắn cứng lại. Ở các nơi khác đất hoàn toàn đóng băng và cáo không tài nào đào được hang.
    Một linh cảm khó giải thích nào đó mách bảo nó rằng cần phải đào hang chính tại đây. Trong lúc ấy Đomino trèo lên đỉnh ngọn đồi bên cạnh và ở đó canh gác. Sau khi làm việc chừng một tiếng đồng hồ con cáo chui ra khỏi hố và Đomino thay chân nó.
    Cứ như thế chúng thay phiên nhau đào bới mấy ngày liền. Cuối cùng hang đã đào xong, gồm một hành lang dài đầu tiên dốc xuống phía dưới, rồi chạy ngược trở lên tới một nơi ở rộng rãi hơn, tiếp đó lại có một hành lang khác dài chừng vài bước dẫn tới một nơi ở nữa ở bên cạnh, còn hành lang thứ nhất thì lại chạy vòng lên trên và kéo dài cho đến khi chạm vào tầng đất đóng băng thì tạm thời kết thúc.
    Hàng ngày hai con cáo cứ cào bới từ trong ra phía đất đóng băng bên ngoài lúc này đã bắt đầu mỗi lúc một mềm hơn, và cuối cùng chúng chui được ra ngoài. Chúng phủ kín lối ra vào hang vòng vèo khéo léo bằng cỏ cũ từ năm ngoái. Sau đó chúng lấp kín lối vào, đào lúc đầu. Ở gần lối vào mới không có dấu vết đất bị đào bới, và kể cả người đứng gần cũng không ai có thể nhận ra được cửa hang, ấy là chưa kể cỏ mọc hàng ngày cứ mỗi lúc lại che dấu nó tốt hơn.
    Thức ăn bắt đầu dễ kiếm, và một lần Yếm trắng tóm được một con cu li thiếu thận trọng mò ra kiếm ăn ban đêm. Nó đem con cu li giấu dưới cát khô trong cái hang ngách.
    Bây giờ thì đôi vợ chồng cố gắng tìm mọi cách tránh càng ít lọt vào mắt người khác ở gần nơi hang càng tốt. Nhiều lần Yếm trắng chạy trong dòng nước của con suối nhỏ cốt không để lại dấu vết dễ dàng nhận thấy trên đường về nhà, còn Đomino thì nhiều lần nằm sát đất sau cái cây đổ trên cỏ khi một chú bé thôn quê nào đó đi ngang qua và không hề nghĩ rằng có một con cáo ở ngay sát bên cạnh. Con thú nâu đen cứ mỗi ngày mỗi phải đề phòng kẻ qua lại nhiều hơn như thế.
    __________________
    IX – SỰ KIỆN

    Sau tháng Quạ đến tháng Cỏ, không khí trong rừng và trên cánh đồng tràn ngập cảnh chờ đón sự màu mỡ phì nhiêu đang tới. Trong người Yếm trắng đã có sự thay đổi rõ rệt: nó bắt đầu lảng tránh Đomino như lảng tránh kẻ thù và gầm gừ giận dữ mỗi khi con đực thử theo nó vào trong hang.
    Đomino cả ngày không bước chân vào trong hang, và đúng trong thời gian nó vắng mặt đã xảy ra một biến cố phi thường.
    Năm chú cáo con ra chào đời, bé xíu, vụng về, “chẳng ra hình thù gì cả” như mọi người vẫn nói, nhưng đối với người mẹ thì chúng là vật kỳ diệu nhất, đáng giá nhất trên thế gian. Từ giây phút đó, với cảm xúc được làm mẹ tràn ngập trong lòng nó phụ thuộc hoàn toàn và tuyệt đối vào bầy con nó.
    Nhiều giờ sau nó mới dám để con lại trong giây lát chỉ cốt đẩy lùi cơn thèm khác uống những ngụm nước mát lạnh của dòng suối gần bên. Trên bờ Đomino đang đợi. Yếm trắng hơi ve vẩy tai, nhưng tuyệt đối yên lặng và làm ra vẻ không nhận ra chồng mình. Con chồng nằm sấp trên lá, nhưng con vợ quay về hang ngay. Ngày hôm sau Yếm trắng thấy đói, nhưng nó không nghĩ đến việc ra ngoài kiếm ăn. Nó vẫn còn đồ ăn giấu trong hang từ trước.
    Qua hai ngày, khi nguồn thức ăn dự trữ đã cạn sạch nó mới ra khỏi hang và đã thấy một đống chuột mới bị cắn chết ở cạnh cửa hang. Rất có thể cáo bố mang chuột về cho lũ con chứ không phải cho cáo mẹ. Chuột được để dành cho bầy con nhưng con mẹ ăn no. Từ hôm đó ngày nào Yếm trắng cũng tìm thấy một thứ gì đó để gần cửa hang hoặc đâu đấy quanh ngay trong cỏ.
    Hai tuần đầu cáo con còn chưa mở mắt, nhưng rồi chúng cũng đến lúc mở mắt được. Bây giờ chúng bớt kêu choe chóe và mẹ chúng có thể yên tâm ra ngoài hơn. Đomino nhận thấy vợ nó không xua đuổi nó nữa và sau vài ngày thì nó được phép sáp nhập vào gia đình.
    Cáo con gần đầy tháng thì lần đầu tiên chúng được phép bò ra ngoài ánh sáng ban ngày. Chúng bò rất chậm chạp và vụng về: chúng hoàn toàn chưa có sự linh lợi cũng như vẻ đẹp, nhưng lại có vẻ đẹp tuyệt vời của những đứa trẻ yếu đuối. Và bất cứ ai có dịp thấy cái gia đình son trẻ đó đều có thể nhận ra ngay lập tức những tình cảm trong lòng của những người làm cha mẹ do chính sự yếu ớt đó mang lại: như tất cả những bậc cha mẹ khác, chúng mong muốn lúc nào cũng được âu yếm, vuốt ve bầy con ngay cả trước những kẻ thù mà vào lúc khác thì chúng đã lậ tức cao chạy xa bay. Từ hôm đó trở đi mỗi ngày lại thấy diễn ra thường xuyên hơn cái cảnh tượng mà ta từng thấy trong thời thơ ấu ở trước căn nhà của chính Đomino. Lũ cáo con mỗi ngày thêm cứng cáp và hơi giống cáo.
    X – KẺ THÙ CŨ

    Một hôm Đomino mang con mồi kiếm được trở về nhà. Năm cái mũi đen bé xíu từ trong hàng thò ra đón nó, và năm cặp mắt sáng long lanh như hạt cườm nhìn dán vào nó. Thình lình có tiếng chó sủa rất to vang lên ngay gần đó. Đomino cảnh giác nhảy phắt lên một gốc cây để nghe cho rõ hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là tiếng sủa chói tai của kẻ thù cũ. Không thể để con chó lại gần tổ ấm thân yêu, và Đomino cố nén sự lo lắng trong lồng ngực dũng cảm lao ra đương đầu với kẻ thù, trong lúc cáo mẹ đưa bầy con vào trong hang.
    Ghechia đuổi theo Đomino ngay tức thì, bây giờ nó cũng đang độ sung sức và khó lòng chịu rút khỏi cuộc đuổi bắt. Chó hơi dừng lại một chút khi đánh hơi thấy Yếm trắng nhưng Đomino đã can đảm ló khỏi bụi cây để lộ mình ra rối cất tiếng sủa và lại thu hút kẻ đuổi bắt về phía mình. Cáo và chó đều trẻ và tràn đầy sức lực. Cuộc chạy đua kéo dài cả tiếng đồng hồ nhưng thậm chí chúng không hề thấy mệt. Cuối cùng Đomino chán ngấy cái trò chạy đuổi và cố bứt khỏi chó như trước kia nó vẫn thường làm. Tuy nhiên bây giờ việc đó hóa ra không dễ thực hiện: thời gian qua Ghechia đã học hỏi được nhiều và trở thành một kẻ đuổi bắt có kinh nghiệm. Cả mánh khóe đầu tiên giở ra lẫn mánh khóe thứ hai đều thất bại. Đomino chợt nhớ đến thành gờ hẹp trên vách núi lởm chởm đá, nơi con sông Soban đổ xuống phía dưới. Nó bèn lao về hướng đó, thu hút theo sau cả kẻ thù tàn nhẫn.
    Không biết đó là một sự ngẫu nhiên hay là một kế hoạch đã định sẵn, chỉ biết cả hai con thú đều phóng vùn vụt thẳng hướng dốc núi, mỗi lúc một gần hơn. Bộ lông áo đen, mịn màng đã bắt đầu thấp thoáng trên bờ sông. Đomino bắt đầi giảm tốc độ, Ghechia dồn hết ức đuổi, hơi thở hổn hển, và nó đã gần kịp con cáo. Cuối cùng chúng tới một con đường mòn khá rộng. Đomino còn chạy chậm lại hơn nữa, và con chó đen nhìn thấy nạn nhân của nó ở rất gần liền gia tăng cố gắng thêm gấp bội. Nó tưởng như sắp đớp gọn được con cáo ngay bây giờ.
    Con đường mòn cứ hẹp lại mãi. Chó cứ xông vào. Nó hoàn toàn tin vào thắng lợi: chỉ còn một bước nhảy nữa thôi là con cáo thấm mệt sẽ nằm gọn trong hàm răng nó. Nhưng con thú khôn ngoan bất thình lình lao nhanh như tên bắn theo gờ đá hẹp dọc vách núi. Và con chó Ghechia ngực nở, vạm vỡ lúc lao theo nó đã bị va vào vách núi và bay lộn nhào dọc theo dốc đá. Nó cứ rơi mãi, rơi mãi cho đến lúc lăn tõm xuống nước sông lạnh buốt, mình mẩy dập nát và đẫm máu.
    Từ trên cao con cáo đen thản nhiên theo dõi chuyến bay đó.
    Dòng sông Soban ở chỗ hẹp đó ngay mùa hè cũng chảy khá nhanh, còn về mùa xuân thì nó biến thành một dòng chảy xiết. Một con chó khỏe nhất cũng sợ chết khiếp cái trò nhảy xuống vực thẳm như thế, và con Ghechia bất hạnh bị thương nặng đến kiệt sức đang cố gắng đấu tranh giành lại sự sống. Dòng nước cuồn cuộn réo hung dữ mang nó đi đến hai dặm, quăng lên quật xuống, lộn ngược hất xuôi, ném nó vào những hòn đá nhọn hoắt và quay tròn nó trong các xoáy nước cho đến khi cuối cùng khinh bỉ vất con vật bất hạnh, què quặt lên bãi cát. Mãi đến ngày hôm sau con Ghechia mới lết được về nhà, và suốt cả mùa xuân rồi mùa hè năm đó nó không sao đi săn được nữa.
    Còn năm cái mũi bé xíu và năm đôi mắt long lanh như hạt cườm trên nhưng cái mõm đầy lông tơ vô tội lại tiếp tục hàng ngày nhô ra bình thản trước cửa hang.
    Bố chúng hóa ra là người bảo vệ cừ khôi, và khu trũng đầy hoàn diệp liễu, có ngôi nhà của chúng, trở thành thung lũng hòa bình.
    XI – CON HƯƠU ĐAMA
    Mùa hè đã bước sang thời kỳ nóng nhất, và tháng Hoa Hồng tỏa ánh sáng rực rỡ. Lũ cáo con lớn nhanh một cách kỳ lạ, hai con trong số chúng đã kịp khoác lên mình bộ lông xám xẫm nói lên nguồn gốc cao quý của chúng và hứa hẹn nhiều trong tương lai. Yếm trắng và Đomino bây giờ cố mang thú sống về nhà để lũ cáo con có thể học săn mồi và tự xé xác nó.
    Hàng ngày cáo bố mẹ tổ chức cho cáo con những cuộc phiêu lưu mới, tạo cho chúng cơ hội bộc lộ sự nhanh nhẹn và tài đánh hơi. Cứ mỗi lần đi săn cáo con lại học được một điều mới mẻ và hoàn thiện được nghệ thuật săn mồi. Vì việc này mà Đomino hầu như ngày nào cũng phải dấn thân vào những nơi nguy hiểm mà bất cứ con cáo nào khác có lẽ đã phải trả giá bằng cả mạng sống rồi. Nhưng nó đều thoát ra khỏi tất cả các cuộc thử thách bình an vô sự và chỉ phát triển sức lực, sự nhanh nhẹn và tháo vát hơn lên mà thôi.
    Trên đồi Gonde có con cu li, và một hôm giữa lúc đang tìm hóng trong đám cây dương sỉ thì Đomino bất ngờ sửng sốt trước một mùi kỳ lạ. Sau vài khoảnh khắc nó nhìn thấy một con vật tương đối to lớn ẩn trong cỏ, màu lông hung sáng lốm đốm trắng.
    Theo bản năng Đomino đứng sững luôn tại chỗ, mắt không rời con vật bí ẩn và sẵn sàng vọt qua một bên nếu như con vật đó xông vào nó. Nhưng con vật màu hung đốm trắng nằm yên như chết, đầu áp sát xuống đất, liếc cặp mắt to tròn sáng long lanh, sợ hãi nhìn nó.
    Loài hươu đama – vì đó chính là một con hươu đama con – rất hiếm ở thung lũng sông Soban, bởi thế Đomino trước nay chưa từng trông thấy và không hiểu mình phải làm gì. Có điều quá rõ ràng là con thú đang cố giấu mình đi kia sợ cáo nhiều hơn là cáo sợ nó. Khi cơ hoảng hốt ban đầu qua đi thì sự tò mò nổi lên trên hết, Đomino bước một bước lại gần con thú đang nằm bẹp. Con vật không động đậy mà cũng không không dám thở nữa. Con cáo tiến thêm một bước nữa. Giữa chúng chỉ còn cách nhau một bước nhảy, nhưng con vật kia vẫn tiếp tục nằm yên không nhúc nhích.
    Lại một bước nữa, và thế là Đomino đã ở ngay trước mũi con hươu con. Con vật vội đứng phắt dậy trên những cái chân cao kều và bắt đầu vừa vụng về nhảy trên đám cây dương xỉ vừa cất tiếng be be ai oán. Đomino cũng nhảy vọt về phía đó theo sát sau nó cốt để mua vui.
    Bỗng nghe có tiếng móng nện thình thịch và một thoáng sau con đama mẹ đã lao vút tới, lông trán nó dựng đứng, mắt rực lửa xanh dữ tợn, và Đomino hiểu ngay rằng nỗi bất hạnh sắp sửa giáng xuống đầu nó. Nó quay phắt lại, nhưng con hươu đama phì phì tức giận đuổi theo, hung dữ gõ những cái móng guốc xuống đất. Con đama mẹ to gấp mười nó và lướt nhanh như gió, chẳng mấy chốc đã đuổi kịp Đomino. Con đama tung chân trước lên đá một cú hiểm vào người cáo khiến cho nó xuýt nữa ngã nhào. Con hươu lại đá nữa, nhưng cáo đã nhanh nhẹn nhảy sang bên tránh được.
    Con hươu đama điên cuồng truy kích Đomino, nó chưa thỏa mãn về chuyện con nó vẫn còn nguyên vẹn và hết bị đe dọa rồi. Dường như nó quyết định dù sao cũng phải trừng trị con cáo đã dám tấn công con nó.
    Nó tiếp tục đuổi theo nạn nhân của mình qua các truông mọc đầy hoàn diệp liễu. Nó không hề thấy mệt mỏi chút nào mà trái lại hình như càng đuổi càng thấy khỏe hơn. Các bụi cây cản trở con cáo chạy trốn, nhưng với con hươu đama nặng nề thì lại chỉ là những vật chướng ngại không đáng kể. Giá như không phải là những bụi cây đáng nguyền rủa này thì một cuộc chạy đua dữ dội như thế có lẽ đã làm cho Đomino thích thú.
    Chúng cứ đuổi nhau như thế được nửa giờ, và Đomino đã thấy rõ là nếu cứ né mình tránh đòn thì trăm lần đều sơ hở cả trăm và một cú đá trời giáng sẽ giết chết nó chắc chắn. Vì thế nó khôn ngoan tính toán tìm cách nhanh chóng thoát ra nơi đở nguy hiểm hơn. Thế là nó bứt ra khỏi các bụi cây và cắm đầu cắm cổ chạy dọc theo cánh đồng rống. Nhưng dù Đomino chạy trốn nhanh thế nào đi nữa thì con hươu đama cũng vẫn bám sát từng bước. Chúng đã chạy vào rừng, Đomino vừa kịp né tránh một cú đá chân trước. May mắn sao cú đá đó lại trúng ào một cái cây to.
    Ở trong rừng, giữa nhưng thân cây cứu tinh, Đomino có thể nghỉ ngơi thoải mái và cười nhạo con hươu đama điên khùng và đứa con ngu ngốc của nó. Dù sao nó cũng được một bài học bổ ích. Nó sẽ nhớ suốt đời rằng, kẻ lạ bao giờ cũng là kẻ thù.
    XII – BÙA MÊ

    Một số người đặt bẫy để kiếm lông thú, một số khác đặt bẫy để tiêu diệt lũ thú rừng có hại, còn một số khác nữa thì chính họ cũng chẳng hiểu lý do nhưng lại đặt bẫy quanh năm. Đám con trai nhà Benton thuộc loại này. Chúng không có khái niệm về kiểu săn bắt thực thụ bằng bẫy và cứ luôn luôn phạm phải cùng một sai lầm là không buộc mồi vào đúng nơi cần buộc. Lỗi lầm đó tố cáo ngay những cái bẫy chúng đặt, và bất kỳ con cáo nào dù chỉ có chút xíu trí khôn của loài cáo thôi thì cũng phải hết sức coi thường. Xung quanh những cái bẫy của đám trẻ nhà Benton bao giờ cũng có ba dấu hiệu đáng tin cậy, làm lũ cáo cảnh giác: đó là mùi sắt, mùi tay người và mùi chân người. Mùi chân tay có thể tan đi rất nhanh, nhưng các cậu bé tự mình phục hồi thường lại thường xuyên. Mùi sắt được lưu giữ và còn tăng cường rõ rệt sau mỗi trận mưa.
    Đomino biết rõ tất cả các bẫy gài trong núi. Bất kỳ lúc nào, không kể ngày hay đêm nó cũng có thể tìm ra bẫy nhanh hơn cả đám trẻ nhà Benton. Mỗi lần đi ngang qua bẫy nó lại ghé thăm. Nó đứng từ xa ngắm nghía và tỏ thái độ khinh thị và chế giễu theo một thứ kiểu cách không thua kém gì ngôn ngữ của con người. Ngay cả con cu li ngốc nghếch và con thỏ ngắn chân cũng thừa đủ trí khôn để mà cười nhạo những cái bẫy của đám trẻ nhà Benton. Và dĩ nhiên Đomino cũng cười nhạo. Lúc đi ngang qua nó lại luôn luôn nhớ xem xét kỹ và để lại dấu vết cuộc viếng thăm của mình tại một gốc cây hoặc tảng đá nào đó.
    Đúng vào thời gian đó Bed Benton học được một phương pháp gài bẫy mới. Một người thợ săn già từ miền bắc tới cho cậu một thứ hỗn hợp thần diệu tanh lợm, chế từ tuyến nước bọt của hải ly trộn với dầu hôi, dầu trừ giun và các chất thơm khác. Cụ nói, chỉ cần vài giọt chất kỳ diệu bày là đủ cuốn hút tất cả bầy cáo, làm tê liệt mọi tính thận trọng của chúng và lôi chúng vào bất cứ thứ cạm bẫy nào.
    Cậu bé Benton vớ được chai nước tuyệt vời đó bèn chạy một vòng rẩy thuốc vào tất cả những cái bẫy của mình. Có loại mùi con người hầu như không nhận thấy, đối với họ chúng hoàn toàn câm lặng, phải cố gắng lắm mới cảm giác thấy, nhưng đối với loài cáo thì chúng lại gào thét như cả một dàn nhạc bởi vì loài cáo có tài đánh hơi. Một mùi làm cho con người khó chịu có thể là cho cáo tưởng như mùi hoa hồng ngào ngạt, mùi trầm hương ngây ngất. Vài giọt chất thuốc kia rớt vào quần áo Benton bốc ra mùi khó chịu đến nỗi bầy ngựa nhốt trong tàu thở phì phì, còn ở trong nhà thì ông bố bắt cậu ngồi ở tít tận cuối bàn. Đối với tài đánh hơi tuyệt diệu của Đomino thì mùi đó do gió đưa tới rõ rệt như đám mây khói bốc lên cuồn cuộc từ đống lửa lớn, và con cáo có thể dễ dàng xác định được nơi phát ra mùi đó y như có thể dựa vào tiếng kèn mà biết được chỗ đứng của người thổi kèn hoặc nghe tiếng nước đổ mà biết được ngọn thác ở đâu. Mùi đó tỏa đi khắp nơi và không gây cho Đomino một cảm giác khó chịu nào, mà ngược lại lôi cuốn nó về phía mình chẳng khác gì ánh lửa vẫy gọi người đi đường lạc trong bóng đêm, hay một bản nhạc huyền diệu dụ dỗ một con người mơ mộng vào rừng. Vừa bắt đầu cuộc săn đêm Đomino đã nghếch mũi lên để tìm xem mùi đó từ đâu đưa lại và chạy thẳng về phía đó.
    Qua một dặm mùi đó dẫn nó đến một nơi quen thuộc từ lâu, thường xuyên phảng phất hơi người và sặc sụa hơi sắt, chỉ đôi khi mới lẫn tí mùi đầu gà buộc vào bẫy một cách ngu xuẩn dường như chỉ cốt cho có vẻ lịch sự. Với Đomino nơi này bao giờ cũng gây cho nó cảm giác khinh thị, nhưng bây giờ cái gì đãm làm cho nó thay đổi đi đến thế. Chẳng khác gì những tia sáng của vầng thái dương đang lặn biến đống rác thành đẹp tuyệt trần hoặc biến những đám mây xám xịt thành những ngọn núi hùng vĩ đỏ thắm và vàng chói, cái thứ ma lực mới càng lúc càng gia tăng đó, cái sức quyến rũ từ xa đã thấm qua lỗi mũi con cáo vào tận đáy sâu tâm hồn nó đó đã hủy diệt mọi khả năng làm chủ bản thân của nó.
    Hươ hươ mũi về phía trước, Đomino chậm rãi nhưng nôn nóng tiến lại chỗ có mùi. Bây giờ cái mùi đó đã khiến cho nó ngây ngất, đầu óc choáng váng. Tai nó ù lên, toàn thân có một luồng điện êm dịu truyền qua. Nó có cả càm giác được nghỉ ngơi sau một cuộc chạy đua mệt lẻ, cả cảm giác ấm áp dễ chịu trong ngày giá rét, cả niềm vui sướng ních căng thịt tươi, nóng hổi vào chiếc dạ dày lép kẹp.
    Đomino căng hai lỗ mũi lên, tim đập thình thịch, hơi thở đứt quãng, mắt lim dim. Từ từ lết đến gần mãi, gần mãi nơi phát ra cái mùi tuyệt diệu, đầy sức quyến rũ đó, và cuối cùng đến sát một cái bẫy được nguy trang kín. Nó đã biết ở đây có bẫy và đã trông thấy ngay bẫy, nhưng nó đã bị mê hoặc, đã hoàn toàn bị sức cám dỗ kia chi phối. Nó thèm khát dữ dội được chạm vào nơi ấy, được tắm trong cái mùi đầy tẫy uy lực và mê đắm đó. Nó cong người lên, nghiêng đầu về một bên và bắt đầu chà cái gáy đẹp của mình xuống đất bẩn, rồi lật ngửa ra và lại lăn qua lăn lại làm cho bộ lông mềm mại dính đầy đất bẩn. Nó hít lấy hít để thứ hơi độc địa đó. Nó đang ở đỉnh cao của khoái cảm thì bỗng – tách! Thế là hàm răng sắt nghiệt ngã bập xuống lưng nó, cắm sâu vào bộ lông đen ánh bạc quý giá.
    Đomino giật mình, và tất cả mọi sự quyến rũ biến mất trong nháy mắt: bản năng tự vệ đã thức tỉnh. Nó đứng phắt dậy ưỡn thẳng tấm lưng chắc nịch. Hàm răng sắt ở cái bẫy vướng vào bộ lông đã tuột đi và Đomino thoát được ra. Giá như không phải là lưng mà là chân sập vào bẫy thì hẳn là mệnh vận nó đã được định đoạt rồi. Nhưng bây giờ nó đã phóng vụt đi mất, hai lỗ mũi phổng to.
    Có những con cáo kém thông minh có thể bị mắc lỡm cái mùi hấp dẫn đó vài lần và do đó cũng là đùa với cái chết. Nhưng với Đomino thì một lần cũng đã đủ để hiểu nỗi khủng khiếp che giấu trong cái mùi đó. Sau này cái mùi mê hồn đó chỉ trong khoảnh khắc đã kích thích nó hồi tưởng lại cái ngoạm chết người của những hàm răng khỏe khủng khiếp.
    __________________
    XIII – MẬT NGỌT CHẾT RUỒI
    Lũ cáo tiếp tục cuỗm gà của nhà Ben ton. Vì các cậu bé không làm gì nổi chúng nên cuối cùng chính ông Benton đã nổi giận, Thoạt đầu ông còn la hét và tuôn ra những lời chỉ trích khinh bỉ khác nhau, thường được bắt đầu bằng câu: “Khi tao còn bé thì…”, nhưng về sau ông đã quyết định gác tuổi già sang một bên và tự mình đi đặt bẫy.
    Bẫy không nên đặt gần trang trại, bởi vì như thế chỉ làm què cẳng chó mèo và lợn. Người đặt bẫy giỏi thường giấu bẫy ở đâu đó trong rừng, cách xa nơi người ở.
    Ông già bắt tay vào việc và đi thăm bẫy. Ông thực hiện ngay một số cải cách có giá trị trong việc bố trí bẫy. Trước hết ông hun từng cái bẫy bằng khói thông để làm mất mùi sắt. Sau đó ông gạt bỏ mọi việc rảy chất thơm vào bẫy. “Có lúc mùi này phát huy ác dung tốt – ông nói – nhưng nó chỉ lôi cuốn được nhữn tên ngốc, còn con thú thông minh thì đoán ra ngay mọi sự và tránh xa những chỗ có mùi. Đối với mọi con cáo bao giờ cũng chỉ có một mùi duy nhất đáng tin cậy là mùi máu gà tươi”. Ông chyển bẫy ra xa những chỗ nhiều người biết và đã bị nhiễm mùi, vùi bẫy trong đất. Cách mỗi bẫy khoảng năm bước ông rải các mẩu thịt gà rồi xóa dấu vết bằng cành thông Thế là bẫy đã đặt xong.
    Sau vài đêm Đomino đi ngang qua. Còn cách khoảng hai trăm bước thì nó đánh hơi thấy mùi thịt gà, nhưng nó càng tiến lại gần thì tính thận trọng thành nếp của nó càng bùng lên mạnh mẽ. Nó từ từ rón rén lại gần. Lỗ mũi phập phồng cảnh giác, nó bò sát lại, cố giữ ở phía cuối gió. Không có mùi sắt, cũng chẳng thấy mùi dấu vết con người, nhưng lại thấy mùi khói khá hắc, thế mà con vật duy nhất có thể tỏa khói lại là con người. Tuy nhiên, rất có thể những mẩu thịt gà ngon lành này do một con cáo khác đánh rơi. Đomino nhận thấy nếu nó tiến lại gần những mẩu thịt gà từ phía bên cạnh thì mùi khói không lấn át mùi thịt gà.
    Nó còn đang do dự thì vừa lúc đó gió đổi hướng, mùi khói biến mất, chỉ còn lại độc mùi thịt gà khêu gợi. Đomino tiến gần thêm ba bước nữa rồi dừng lại. Nó đưa mũi đi khắp bốn phía, đánh hơi kỹ lưỡng. Không đâu nghe mùi dấu vết con người. Trước mắt nó chỉ có thư đồ ăn mà nó đã ăn bao nhiêu đêm, cái thứ nó ưa thích làm sao và vẫn thường xuyên tha về hang. Tuy vậy đôi lúc nó vẫn cảm thấy rõ rệt chút ít mùi khói. Đomino là con thú thận trọng. Nó bắt đầu chậm rãi thụt lùi lại, dùng những cái chân chắc nịch dò đường và chỉ đặt chân lên mặt đất bằng phẳng chứ tránh không bước vào những chỗ gồ ghề. Nhưng bỗng – tách! Đomino đã bị tóm gọn, và lần này là bị tóm vào chân chứ không phải vào lưng để có thể vùng thoát ra được. Đúng thế, bây giờ nó đã bị giữ chặt lại.
    Nó nhảy lên, co chân lại, dùng răng gặm cái bẫy đáng ghét, nhưng tất cả đều vô hiệu: các ngàm thép không nhả chân nó ra và mọi cố gắng thoát thân đều chỉ làm cho nó thêm mệt nhoài.
    Thế là hai giờ đồng hồ vật lộn tuyệt vọng, kiệt sức đã trôi qua. Đomino, lúc thì nằm dài đau khổ và thở dốc, lúc lại nổi khùng một cách bất lực nhe răng gặm cái bẫy sắt lạnh ngắt, nghiệt ngã và rứt đứt những cây non mọc xung quanh. Nhiều lần nó vật vã ráng hết sức, nhiều lần nó bất lực lặng người đi. Nó rất đau khổ, một nỗi đau khổ pha lẫn lộn sự sợ hãi và cái đau xác thịt. Thỉnh thoảng cơn thịnh nộ lại bùng lên, và lúc đó mặc dù đã mệt lả và kiệt sức nhưng trong nháy mắt nó đã khỏe mạnh trở lại và lại bắt đấu vùng vẫy và cắn gặm cái bẫy.
    Môt ngày đã qua đi…. Lại thêm một đêm nữa, một đêm dài dặc nặng nề.
    Vừa hửng sáng đã nghe có tiếng chân ai bước. Con cáo bất hạnh, mệt rã rời, dính đầy bụi đất ngẩng cái mõm mới cách đây không lâu còn tuyệt đẹp lên nhìn. Nó kinh hoàng nhận ra kẻ thù không đội trời chung của nó là con hươu đama đi cùng với đứa con lông đốm! Đomino đứng đờ người ra như chết, hy vọng thoát khỏi sự chú ý của con hươu. Nhưng than ôi, thị giác và khứu giác của con đama lại quá sắc sảo. Nó phát hiện ra con cáo ngay tức thì. Nó chồm lên, mũi khịt phì phì, lông trên người dựng ngược, hai mắt quắc lên những tia lửa xanh lè, giận dữ lao vào con thú đang bị bắt giữ. Đomino né tránh. Nó nhảy qua một bên trong phạm vi cho phép của cái bẫy chứ không thể chạy xa hơn được. Dường như con hươu đama biết điều đó: bây giờ kẻ địch đã ở trong tay nó và nó chỉ có ý nghĩ duy nhất là tiêu diệt kẻ thù! Hân hoan với thắng lợi đến dễ dàng, nó nhảy phốc lên như các con hươu vẫn thường nhảy khi muốn dẫm chết một con rắn độc, lấy đà từ cao trên đầu Đomino giáng tất cả sức nặng toàn thân xuống người con cáo. Đomino giật chạy sang một bên. Chẳng còn gì cứu được nó nữa, một móng guốc nện hết sức đã giáng xuống… nhưng – ôi, hạnh phúc biết bao! – nó không giáng xuống con cáo mà lại giáng xuống đúng ngay cái lò xo của chiếc bẫy ghê rợn. Các ngàm thép mở rộng và Đomino được giải thoát.
    Con cáo thu hết sức tàn lao về phía một bờ giậu gần nhất và chui qua khe hở. Con hươu đama chạy qanh àng giậu vài vòng nhưng lần nào con cáo cũng tránh thoát được sang phía khác dù rằng nó đã hoàn toàn kiệt sức. Cuối cùng nó đã gặp may: con hươu con rống lên gọi mẹ làm cho mẹ nó đành bỏ dở cuộc truy kích. Đomino tập tễnh lê bước về nhà.
    Kẻ ngu ngốc phải qua nhiều lần rơi vào bẫy mới rút ra được một bài học nào đó cho mình, còn người thông mình thì chỉ một lần là đã quá đủ để trở thành sáng suốt hơn. Hai bài học khủng khiếp này là hoàn toàn đủ đối với Đomino. Từ nay đến hết đời nó sẽ nhớ rằng không những phải tránh xa mùi sắt và mùi người, mà nói chung cần đề phòng tất cả những mùi khác thường.
    Các mùi khác thường luôn mang theo sự chết chóc.
    __________________

    XIII- MÙA HÈ VÀ CÔ GÁI NHỎ
    Một lần vào đầu mùa hè Đomino khập khễnh lê ba chân đến gần một trang trại nằm trên một quả đồi cao. Đó là một ngôi nhà cũ kỹ có vườn cây bao la bà vườn sau rộng lớn kéo dài tới gần tới bìa rừng và bao bọc quanh ngôi nhà. Nơi đó thật dễ đến gần mà vẫn không bị phát hiện. Đomino lang thang khắp nơi, hít ngửi tất cả để tìm hiểu tình hình. Cuối cùng nó tấy một khe hở gà bới dưới chân bờ rào bèn chui qua đó vào vườn. Nó rón rén đi giữa đán thân lá khoái tây mọc dày đặc và những bụi dâu đất rậm rì. Đang thận trọng tiến về phía trước nó bỗng trông thấy trong đám lá rậm có cái gì đó bé xíu, đen đen và sáng long lanh. Nó đứng sững lại như trời trồng và hiểu ra ngay lập tức đó là đôi mắt của một con gà tây đang ấp trứng.
    Mỗi con cáo đều có một túm lông nhỏ nằm ngay trên đuôi chỗ giáp với lưng, túm lông này mỗi khi con vật bị kích động thường xù lên. Chỉ dựa vàot úm lông xù lên đó cũng có thể nhận xét được vẻ hồi hộp, lo lắng cảu Đomino trong cuộc săn mồi mạo hiểm như thế này. Nhưng nó còn đang do dự thì phía đằng sau có tiếng động, và Đomino liền quay đầu lại. Nó thấy một con người bé nhỏ đứng cách nó không xa.
    - A, con cáo nhỏ! Mày định giở trò tinh nghịch hả? – cô bé nói với giọng quở trách.
    Đomino giật thót người khi nghe thấy tiếng nói của con người. Nó trong tư thế sẵn sàng nhảy đi nhưng chưa nhảy. Cô bé không có gì nguy hiểm đối với nó – cô ta bé tí thế kia mà. Mà con gà tây lại quá hấp dẫn.
    Trong Đomino nỗi sợ đấu tranh với bản năng săn mồi. Nó vừa liếc nhìn cô bé vừa bước dần về phía con gà. Cô bé kêu lên và chạy đi. Tiếng kêu đó quyết định mọi sự: Đomino nhảy phắt vào bụi cây và trốn mất. Gà được cứu thoát.
    Ngay chiều hôm đó cô bé hỏi cha:
    - Ba ơi, nếu ba có con gà mái ấp trứng ở trong rừng thì ba làm cách nào để cho cáo khỏi bắt mất gà nhưng vẫn không hại gì đến cáo?
    - Ba sẽ đặt xung quanh chỗ gà ấp vài miếng sắt, như thế sẽ chẳng con cáo nào dám đến gần nữa. – người cha đáp.
    Sau đó cô bé nhặt trong vườn một mẩu xích, một mảnh lưỡi cày gãy, một cái móng ngựa và đem đặt chúng xung quanh ổ à mái ấp.
    Vài ngày sau Đomino lại tìm đến chỗ con gà. Nó nhớ rất rõ nơi đã bắt gặp miếng mồi thịnh soạn đó.
    Nó bước thận trọng hơn mọi khi, bởi vì nó có thể gặp người cùng với con gà mái. Tuy nhiên trước khi con gà tây kịp kêu lên báo động thì khứu giác và thịt giác của con cáo đã báo cho nó biết trước sự hiện diện của những vật nguy hiểm sặc sụa mủi sắt. Nó bò giật lùi lại và thử vòng sang hướng khác, nhưng cả ở đây cũng thấy có một trong những vật báo trước sự bất hạnh đó. Lý trí thì thầm bảo nó: “Quay lại!” – và Đomino bỏ đi.
    Cô bé không biết điều đó, nhưng hôm sau người nói với cô: “A, con biết không, sáng nay ba nhìn thấy vết chân cáo mới nguyên trong vườn khoai tây”.
    Như vậy là Đomino bị đánh lừa đã buộc phải để con gà mái tây yên ổn. Nhưng chẳng mấy chốc nó đã tìm được một miếng mồi khác là một con gà mái đang nằm ổ. Nó cắn một nhát đứt cổ con gà và tha về hang. Nhưng trên đường về nó chợt nghĩ ra rằng không tận hưởng cả số trứng gà thì thật uổng. Thế là nó giấu con gà vào đống lá rừng rồi quay trở lại, tha hết quả trứng này đến quả trứng khác tới một trảng rừng trống và giấu ở đó. Nó đánh dấu kho bí mật này bằng một chất tiết ra từ tuyến xạ của mình để sau này tìm lại được và cũng để cho các con cáo khác biết đó là kho riêng của nó. Bấy giờ nó mới lôi con gà đã giấu lên và tha về nhà.
    Trứng gà có thể lưu giữ được lâu và chịu đựng được nhiều biến động trước khi Đomino phải dùng đến. Lúc nào cần đến là sẵn có ngay, và lúc đói thì dĩ nhiên trứng thối nó cũng ăn.
    Đomino đã nhiều lần cất giấu mồi săn được. Một số con cáo không cất giấu thức ăn chỉ vì chúng là những thợ săn tồi chẳng bao giờ có thứ gì để cất giấu cả. Những con cáo săn mồi có kết quả đều nhanh chóng tạo ra thói quen cất giấu mồi kiếm được.
    Một tháng sau, Đomino chú ý đến những trái mận gai năm đó được mùa một cách khác thường. Nó nhai nuốt chừng vài ba trái. Tuy nhiên nó không thích lắm, bởi vì lúc này nó đang no nê và béo núc. Dù sao nó cũng thích thú nhảy lên bứt những chùm quả đỏ mọng. Ban đầu nó còn ném lung tung, nhưng về sau thì ném dồn lại thành đống.
    Cuối cùng, bản năng tích trữ lương thực nổi lên: nó giấu đống quả cây đó xuống dưới lá và đổ dấu xạ hương lại ở gốc cây bên cạnh. Khi nào cần tới nó có thể tìm được kho dự trữ đó ngay kể cả lúc tuyết phủ kín kho.
    XV – NGƯỜI THỪA KẾ ĐOMINO

    Mùa hè năm đó Đomino đi tập tễnh và không thể chạy nhanh được, nhưng may mắn thay cho nó con Ghechia “chạy nhanh”, kẻ thù của nó cũng bị què. Đomino phải kiếm ăn cho bầy con của nó, và Thiên nhiên mẹ hiền nằm đó đặc biệt hào phóng. Nó luôn luôn săn mồi có kết quả và mỗi ngày mang về hang một con thú còn sống nguyên: lúc là một con ếch nào đó khiến cho lũ cao con cứ nhảy vồ trượt đến sức đầu mẻ trán nhiều lần mới tóm được, khi lại là một con chuột đồng béo mập biết lẩn trốn dưới đám lá để cho lũ cáo con phải sục đầy cát và cỏ vào mõm trước khi một con nào đó may mắn đoạt được con mồi tinh ranh. Nhưng một bữa cáo bố tha về một loại mồi khác để tập luyện.
    Đomino đang lang thang trong màn sương mù ở gần dòng sông thì phát hiện ra nạn nhân của mình. Con vật mà nó theo dõi thoạt đầu đi trong nước ở một khúc sông hẹp rồi sau leo lên một khúc gỗ chìm trong nước và ngồi đó khéo léo cậy những con ốc nhai ngon lành. Đó là một con chuột xạ to bự. Nó dùng hàm răng cứng màu vàng nhai vỏ ốc rau ráu và do tiếng động đó mà nó không mảy may nhận ra nhà đi săn của chúng ta đang rón rén lại gần. Bộ lông đen vụt hiện ra và chỉ sau vài khoảnh khắc chiến đấu Đomino đã ngoạm được ngang cổ con chuột xạ. Con chuột vùng vẫy một cách vô ích, kêu chít chít và nghiến ken két những cái răng sắc nhọn như lưỡi cưa. Đomino chạy hết tốc lực và chỉ mười phút sau đã về tới trước hang.
    Vừa nghe thấy tiếng khịt phì phì quá quen thuộc của bố, bầy cáo con đã nhanh nhẹn phốc ra khỏi hang, con nọ xô đẩy con kia. Cáo bố thả mồi xuống. Lũ cáo con lao theo ngay, nhưng đấy là con chuột xạ còn sống và nó chống cự lại dữ dội. Nó xông tới xông lui, đẩy dạt vầy cáo con đang nhảy choi choi quanh nó như lũ chó nhảy quanh một con gấu, khiến cho lũ cáo con phải vừa kêu the thé vừa nhảy giật lùi sau khi được nếm hàm răng sắc nhọn của nó. Chỉ có một con cáo con không hề lùi bước trước con chuột xạ ngay cả sau ba lần giao chiến với nó. Con cáo này không to hơn con chuột xạ và cũng chẳng lớn hơn anh chị em nó, nhưng rõ ràng là nó có lòng dũng cảm bẩm sinh, và trong khi những con cáo khác đứng vây quanh thì nó vẫn tiếp tục chiến đấu. Đó là một cuộc quyết đấu sống mái. Con cáo con xông lại gần đầu con chuột, xáp ại gần hơn nữa và cuối cùng đớp thẳng vào cổ kẻ thù. Mó ngoạm chặt cổ con chuột cho đến khi kết liễu đời con này và sau đó cả gia đình nó xúm vào dự tiệc.
    Cáo bố và cáo mẹ rất bình tĩnh theo dõi trận đánh nhau. Tình cảm nào đã kiềm chế chúng lại, và tại sao chúng không tự ra tay giết chết con chuột? có thể mọi vệc sẽ sáng tỏ hơn nếu như chúng ta tự hỏi mình rằng, người cha giao cho cậu con trai gải một bài toán dễ đối với ông ta nhưng khó đối với đứa con cốt để làm gì.
    Con cáo con đó không phải là con lớn nhất trong bầy, nhưng là con có màu lông sẫm nhất. Sau này nó sẽ lớn lên thành người kế tục xứng đáng của cha nó, và ai muốn đều có thể đọc tiểu sử của nó trong cuốn biên niên sử vùng thượng lưu sông Soban.
    Tháng “Giông bão” kết thúc một cách chậm chạp, và bầy cáo con đã lớn lên rõ rật. Một số trong bọn chúng đả lớn bằng mẹ, và thế là bắt đầu cuộc phân chia tất yếu mối quan hệ gia đình, thoạt đầu là con cáo anh lớn nhất, rồi đến lũ cáo chị bắt đầu đi săn mồi một mình thường xuyên hơn và không về nhà vài ngày liền. Cứ thế, chúng xa nhau dần, và cuối cùng đến cuối tháng Đỏ gặt hái thì tất cả bọn chúng đã mỗi người đi một phương. Trong hang chỉ còn lại Đomino và Yếm trắng.
    Đến đầu mùa thu cẳng chân Đomino đã hoàn toàn khỏi và nó lại trở thành con cáo chạy nhanh nhất vùng Gonde. Nó lại có thể thoát thân khỏi bất kỳ con chó nào y như thời kỳ trước. Bây giờ nó lại sung sức cao độ và hoàn toàn làm chủ được sự nhanh nhẹn là cái tài năng vĩ đại nhất của nó. Trong cả vùng núi lân cận chưa có con cáo nào dám đua tài chạy thi với nó, mà cũng chưa có con chó nào đe dọa nổi nó. Phổi nó dường như có sức chịu đựng vô hạn, và chân nó cũng vững chãi chẳng khác gì phổi. Chính nó cũng thích thú về tài nhanh nhẹn của mình.
     
    Newsun thích điều này.
  4. Cuonlennho

    Cuonlennho "Cuộc đời yên ổn, năm tháng bình yên." Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    1.765
    Lượt thích:
    2.333
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    PHẦN THỨ III. THỬ THÁCH VÀ THẮNG LỢI

    XVI – NGỖNG TRỜI

    Hàng năm vào lúc tiết trời sang xuân hoặc thị lại có từng đàn ngỗng trời cổ dài bay về vùng đồi Gonde làm cho không gian náo động vì nhưng tiếng kêu inh ỏi. Chúng không dừng lại lâu ở đây, nhưng dẫu sao sự xuất hiện của chúng cũng thu hút những người đi săn kéo đến.
    Từ lâu Đomino đã đoán ra qua việc đánh hơi rằng, ngỗng trời là loại con mồi khá, nhưng nó chỉ khẳng định hoàn toàn điều này sau khi tìm thấy trong đầm lầy một con ngỗng bị trúng đạn săn nhưng cố chạy về để rồi chết ở trong đầm lầy. Ngày hôm ấy Đomino và Yếm trắng được ăn một bữa no nê.
    Ngỗng trời ăn cỏ trên đồng và trong đầm lầy, Đomino đã nhiều lần thử rình bắt chúng, nhưng tính thận trọng và khôn khéo của lũ chim này quả là hiếm có: dường như nó chỉ có thể săn bắt chim khi chúng ở trên mặt hồ phẳng lặng mà thôi. Tuy nhiên có một phương pháp tạo cơ hội cho người đa săn tiến sát một con chim đang đậu hoặc một con thỏ đang ẩn ấp. Và Đomino đã áp dụng chính phương pháp đó trong một buổi đi săn.
    Một đàn ngỗng không lớn lắm đang ăn cỏ trên một cánh đồng vừa gặt xong. Đomino và Yếm trắng tìm kiếm trọn cả ngày dọc bờ sông trong các bụi cây để xem từ đâu lao vào bầy ngỗng thì tiện lợi hơn. Nhưng khắp bốn phía đều có những khoảng trống bảo vệ bầy ngỗng, và lúc nào cũng có một cái cổ dài ngoẵng nào đó vươn cao như cái tháp canh để canh gác cho cả đàn. Đôi cáo liền tổ chức một trò chơi vẫn được áp dụng từ ngày xửa ngày xưa, không biết do ai đã nghĩ ra.
    Đomino nấp trong bụi rậm ở một đầu cánh đồng, còn Yếm trắng thì chạy về đầu cánh đồng đằng kia rồi tiến hẳn ra chỗ trống mà trổ hàng loạt trò tiêu khiển đủ kiểu. Lúc thì nó lăn tròn trên mặt đất, lúc nó nhào lộn trong không trung, lúc nó lại nằm sấp người xoài ra, đuôi ve vẩy. Đàn ngỗng nghểnh cổ về phía nó, ngạc nhiên không hiểu con cáo cho chúng xem trò biểu diễn gì quái gở thế. Lúc này con cáo ở xa và chúng cảm thấy không có gì nguy hiểm cả. Tính tò mò của bầy chim bị kích động mạnh, và chúng cứ tiếp tục giương mắt lên nhìn. Nhân cơ hội ấy Yếm trắng cứ mỗi lần nhảy lên là lại một lần xích đến gần chúng. Cuối cùng một con ngỗng già hay đa nghi bao giờ cũng phát hiện ra sự khôn lỏi của con cáo bèn lùi lại vài bước, nhưng ngỗng cũng không để lộ ra mặt và cũng không báo động bởi vì chưa có gì đặc biệt nguy hiểm. Những con ngỗng khác có lẽ ở trong cùng gia đình với nó cũng lùi lại với nó vài bước.
    Nhưng con cáo ngốc nghếch vẫn cứ tiếp tục lăn tròn và nhào lộn trên mặt đất như nắm cỏ khô bị gió thổi. Tất cả những trò đó thật là ngộ nghĩnh, nhưng con ngỗng già không bị mắc mưu nó và cứ sau mỗi cử động giảo quyệt của con cáo là ngỗng lại lùi về phía sau thêm mãi.
    Trò chơi kéo dài như thế đến mấy phút, và cuối cùng đàn ngỗng bị dồn gần như đến tận đầu cánh đồng đàng kia. Chúng đã chuẩn bị bay lên, nhưng còn lùi thêm vài bước sau chót ngăn cách chúng với bụi cây. Thế là Đomino từ đó lao vút vào chúng như tên bắn và ngoạm trúng cổ một con ngỗng khi con này chưa kịp bay vọt lên.
    Đó là một buổi đi săn phối hợp thành công mỹ mãn nhất của Đomino với Yếm trắng. Buổi săn làm cho chúng gần gũi nhau hơn, và chúng thường xuyên sát cánh bên nhau cùng chiến đấu vì cuộc sống.
    XVII – KẺ GIẾT CỪU

    Mùa đông trôi qua êm thấm hơn bình thường, bởi vì thói quen dự trữ đã cứu Đomino và bạn đời của nó thoát khỏi cái đói, mặc dù trái cây và cá để dành cho mùa đông lại hỏng đên mức ngay cả lũ cáo cũng ghê tởm khi ăn chúng. Thời kỳ yêu đương đã qua và mùa xuân đã đến gần. Một lần Đomino bắt buộc phải chứng kiến một hành vi tàn bạo trong lúc tình cờ trên đường về nhà qua núi. Bây giờ nó đã là một con cáo lõi đời và một con cáo già giàu kinh nghiệm chẳng khi nào đi ngang qua đỉnh đồi mà lại không nhìn lướt qua một lượt. Và thế là khi vừa nhẹ nhàng ngóc đầu lên khỏi đỉnh đồi Đomino nhìn thấy ở phía dưới, trên một bãi đất trống được rào kín có một đàn cừu đang chạy lung tung như một lũ mất trí. Một con chó đen to lớn đang đuổi theo bầy cừu. Đó chính là Ghechia, kẻ thù cũ của Đomino.
    Hai ba con cừu đã nằm chết thẳng cẳng, nhưng Đomino còn được thấy con quỷ dữ hạ sát hêm một con nữa. Con chó đớp lấy cổ họng con cừu, quật nó xuống đất và cấu xé thật lâu. Một dòng máu nóng hổi tuôn ra từ vết thương. Con chó lại xông vào con cừu khác.
    Không phải là sự kinh hoàng mà một sự tò mò pha lẫn ngạc nhiên làm cho Đomino như bị đóng đinh tại chỗ. Ghechia vừa đuổi theo con cừu mới thì một tiếng súng nổ vang lên và đạn cắm vào vách đá ở phía trên đầu têns át nhân. Con chó khát máu hiểu rõ cái gì đang đợi nó. Nó liền nhảy xuống khe xói và ba chân bốn cẳng chạy mất. Khe xói che chở cho nó nên không có ai phát hiện ra nó và chẳng ai có thể mách chủ nó được.
    Đomino cũng chạy qua ruộng, nhưng thật là bất hạnh, người ta đã nhận ra nó! Người chăn cừu chạy ra sau hàng rào nhìn thấy cả tá cừu bị xé xác, nhưng anh ta không thất vết chân chó bởi vì bầy cừu hoảng sợ chạy tứ tung đã xóa nhòa mất dấu. Mọi tang chứng đền chống lại Đomino rõ mồn một. Trước đó còn nhiều con cừu khác bị giết hại, và người chăn cừu thề sẽ nghiêm khắc trừng trị tất cả lũ cáo. Anh ta đã nghĩ ra một kế hoạch đáng sợ để đối phó với chúng.
    Lúc đầu anh ta chỉ được ít người ủng hộ kế hoạch của mình, nhưng đến tháng ba lại có thêm vài con cừu bị cắn cổ, trong đó một số là con giống còn non. Nhiều người khẳng định có trông thấy vết chân chó to tướng ở nơi xảy ra tội ác. Nhưng dù sao đa số vẫn tin đó là hậu quả của lũ cáo, và họ sẵn sang nhất trí đồng ý tham gia vào cuộc vây bắt. Họ khẳng định rằng tên hung thần là con cáo nâu đen.

    XVIII – VỊ CỨU TINH CỦA YẾM TRẮNG
    Tất cả vùng thượng lưu sông Soban đều ở trong tư thế sẵn sàng. Một cuộc săn cáo rầm rộ được hoạch định. Những người mất cừu tham gia vây bắt cốt tiêu diệt tên cáo ác ôn. Cánh trẻ coi chuyến săn này như một món thể thao thú vị. Mọi người còn bị lôi cuốn vì phần thưởng cho công trạng sẽ là tấm da tuyệt tác của con cáo nâu đen.
    - Tôi biết phải làm gì với món tiền đó nếu như nó rơi vào tay tôi – một người nói.
    - Quả là chẳng ngốc nghếch tí nào khi chỉ mất có một ngày đi săn mà lại kiếm được đủ tiền để tậu cả một trang trại – một người khác nhận xét.
    - Này, với bộ lông đen ấy tôi sẽ mua sắm được một cặp ngựa tốt đấy, - người thứ ba ước ao.
    Đằng nhà Juck không tham gia cuộc vây bắt, họ chẳng mất con cừu nào, ngoài ra họ còn không ăn cánh với nhà Benton. Vả lại Apne Juck vướng đi săn ở chỗ khác, và con Ghechia của cậu ta tất nhiên cũng không thèm chia sẻ công việc bận rộn đó với những người đối địch với cậu chủ của nó.
    Các chủ trại người Mỹ tham dự cuộc săn cố gắng hạ con cáo mà không làm hỏng bộ lông. Bởi vậy họ thường đi chừng hai chục người với một đàn chó. Một đoàn săn như vậy đã xuất phát vào môt buổi sáng tháng Ba.
    Loài cáo thường mỗi năm đào một hang mới, nhưng đôi lúc chúng cũng quay về hang cũ nếu như cảm thấy đó là nơi ẩn náu an toàn có nhiều kỷ niệm dễ chịu. Trong khe xói nhỏ đầy hoàn diệp liễu vân chưa có ai phát hiện được chỗ ở của Đomino và Yếm trắng do chúng rất thận trọng vào mọi lúc mọi nơi, cho nên đến tháng Ba chúng lại bắt tay vào tu sửa cái hang cũ để chuẩn bị cho lứa con mới.
    Sau khi đã quyết định cắm trụ ở đó, chúng sẽ không để kẻ thù chú ý đến nơi ấy: chúng đi về một cách vô cùng thận trọng và chỉ săn mồi ở cách xa nhà.
    Khi cuộc vây bắt khởi đầu Yếm trắng đang lang thang trên đầu nguồn con sông. Bầy chó tìm ra dấu chân nó ngay lập tức và lao đuổi theo. Thường hường các chủ trại không nhọc công phóng ngựa theo sau bầy chó. Ngay từ lúc cuộc săn bắt đầu họ đứng trên những nơi cao có tầm quan sát thuận lợi, và sau khi tiếng chó sủa giúp họ xác định được hướng đuổi bắt thì họ chiếm ngay những vị trí bao quát được cả khu vực và các thung lũng nhỏ giữa các ngọn đồi để chờ bắn con cáo khi nó sẽ chạy ngang qua.
    Vừa nghe thấy tiếng chó sủa những người đi săn đã tỏa ra các điểm quan sát cao nhất để xác định xem bầy chó đuổi con thú về đâu và chiếm lĩnh nhữngg vị trí huận lợi để chờ bắn.
    Thoáng nghe tiếng bầy chó sủa gần tới Yếm trắng cũng hình dung được ngay tức khắc tình thế và nó bỏ chạy xuống phía dưới dọc theo thung lũng suối Benton. Nó chạy qua chạy lại mấy lần trên cái cây đổ bắc qua hai bên bờ suối với dự tính là làm như thế sẽ cầm chân được bầy chó, sau đó cắm đầy cắm cổ chạy vút đi để tránh xa bầy chó hòng xóa sạch dấu vết. Vào ngày khô ráo thì vết chân nó chắc chắn sẽ hoàn toàn mất hết. Nhưng khônh may cho nó là hôm đó có gió ấm thổi nên tuyết đóng dày và tan mạnh. Con suối biến thành một dòng chảy xiết, tuyết rất xốp và con cáo mỗi lần nhảy lại một lần bị tụt chân xuống. Bầy chó cứ việc tiến theo những vết chân còn nóng hổi. Những cặp chân dài của chúng khiến cho chúng có ưu thế hơn con cáo.
    Yếm trắng chạy mỗi ngày một yếu, và khoảng cách đạt được lúc đầu rút ngắn lại rõ rệt. Tạm thời nó chưa bị ai bắn hạ nhưng rõ ràng là nó không thể cố gắng được lâu nữa. Do mặt trời sưởi ấm tuyết càng mềm hơn, và dần dần đuôi nó đã bắt đầu cụp xuống.
    Đối với con cáo cái đuôi thực sự có thể trở thành mối nguy to lớn, và tư thế của đuôi là môt bằng chứng cho thấy sức lực của con cáo còn được đến đâu. Một con cáo sức lực dồi dào, tràn đầy lòng dũng cảm trong cuộc đuổi bắt thì bao giờ cũng dựng đứng đuôi lên. Khi nó xuống tinh thần thì đuôi lập tức cụp xuống, và lúc thời tiết có tuyết ẩm ướt thì đuôi bị thấm nước còn hạ thấp xuống hơn nữa cho đến khi bắt đầu quết đất, ngập trong nước và bùn lầy để trờ thành một gánh nặng chỉ khiến cho đoạn kết đau thương đến với con thú mau hơn. Thế cho nên một con thú kiên cường thì sống sót, còn con thú mềm yếu thì ngã quỵ dọc đường.
    Yếm trắng không thiếu lòng dũng cảm, nhưng tuyết rất ướt và dày mà nó chỉ vài ngày nữa lại sinh hạ một lứa con mới. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ở trong hoàn cảnh đó cuối cùng nó đã thấy tuyệt vọng. Đúng lúc đó nó lại bắt buộc phải vượt qua con suối đầy nước trên một thân cây nhỏ mỏng manh. Nó trượt chân và rơi xuống nước. Tất nhiên nó bơi được vào bờ ngay, nhưng bây giờ tất cả bộ lông nó đều thấm nước và tình hình trở nên thật tồi tệ. Nó cố lết đến ngọn đồi gần đó, và trong tình trạng hoàn toàn kiệt sức, hoàn toàn tuyệt vọng nó cất tiếng kêu to. Tiếng kêu đó đã được đáp lại: bằng tiếng trả lời ngắn ngủi tự tin Đomino lao vút ra đón nó, cường tráng và quả cảm. Yếm trắng không thể kể lại cơn hoạn nạn của nó, mà thực ra điều đó cũng không cần thiết. Đomino không cần nghe gì cũng hiểu hết và đã xử sự như một người bạn tốt nhất, hào hiệp nhất có thể làm được: nó lãnh chịu mọi nguy hiểm về mình, nó theo dấu chân bạn mình lao ra đương đầu với lũ chó đang đuổi riết. Điều đó không có nghĩa là nó quyết định hy sinh thân mình, - không, nó chỉ cảm thấy mình có đủ sức chặn đứng đàn chó và dẫn dụ chúng thật xa theo hướng khác. Trong khi lũ chó mải đuổi theo nó, Yếm trắng sẽ an toàn chạy về nhà.
    XIX – THỬ THÁCH LÒNG DŨNG CẢM

    Đomino chạy lại đón đầu bầy chó được chừng nửa dặm thì dừng lại. Bây giờ đàn chó đã ở rất gần, chỉ cách khoảng ba trăm bước. Chúng nhanh chóng rút ngắn khoảng cách và thế là chỉ còn cách con cáo có hai trăm bước. Nhưng con cáo vẫn đứng yên. Cuối cùng nó quay ngoắt lại và tạm thời vẫn đi theo vết chân Yếm trắng. Tuy thế nó vẫn không vội chạy. Như thế để làm gì? Rất có thể nó làm như thế để tận mắt nhìn thấy lũ chó chạy hướng nào, hoặc cốt để cho lũ chó nhìn thấy nó. Và thế là chúng nó đã nhìn thấy nhau. Lũ chó sủa inh ỏi, bỏ dấu chân cũ và phóng theo con cáo nâu đen vừa thoắt cái đã biến mất. Tại chỗ cáo vừa đứng, bầy chó đánh hơi thấy mùi một con khác. Công bằng mà nói thì bầy chó hiểu ngay rằng chúng đã bỏ rơi dấu vết con cáo cái và đang đuổi theo con cáo đực khỏe mạnh. Tuy nhiên bản năng tự nhiên mách bảo chúng phải hành động đúng như vậy.
    Đomino thoạt đầu chạy chậm, cốt ý khẳng định rằng bầy chó đuổi theo nó. Thậm chí nó còn xuất hiện trước mũi lũ chó một lần nữa để hoàn toàn tin chắc rằng cuộc đuổi bắt đã hướng vào nó. Lúc đó nó mới nhanh nhẹn dẫn bầy chó theo hướng khác với hướng con đường mà bạn nó phải thepo để đi về nhà.
    Lúc Đomino chạy qua một khoảng trống, những người đi săn nhìn thấy nó qua ống nhòm, và lòng họ tràn ngập niềm vui man dại khi thấy rõ lũ chó xông vào con áo nâu đen. Tất cả các chủ trại đều biết tường tận địa hình, họ quá rành mọi đường đi lối lại. Một tiếng súng nổ vang lên và Đomino thấy đau nhói một cái: một viên đạn chì đã trúng vào sườn nó, gây nên một vết thương không sâu lắm nhưng khá đau. Con cáo nâu đen không trông thấy những người đi săn, nhưng bây giờ nó đã biết đương đầu với ai.
    Có thể nghĩ thế nào Đomino cũng vượt cắt ngang qua một thung lũng nào đó, nhưng nó hiể rằng lần này nó cần phải bám sát các quả đồi bằng bất cứ giá nào. Sau ba dặm nó đột ngột quặt vào cánh đồng và chạy dọc theo đường sắt chừng sáu dặm nữa. Sau khi chạy quá cột ghi đường tàu được trọn một dặm và đã bỏ xa lũ chó ở phía sau, nó lại chạy trở lại theo đường ray về phía cột ghi và từ đó rẽ theo nhánh đường tàu khác đi theo hướng bên. Nó chạy vòng vèo theo đúng nếp quen một hồi rồi mới yên tâm quay trở về nhà, tuy người mệt lử kèm thêm một vết thương nhức nhối nhưng đuôi vẫn vểnh cao như trước trong tư thế kẻ chiến thắng.
    Nó vừa chạy cắt ngang khu vực thượng lưu sông Soban và đói mèm phóng vào rừng để tìm thức ăn để dành trong đó, thì thình lình nghe thấy những âm thanh khiến cho tim nó đạp loạn lên vì sợ. Nó vòng qua mỗt ngọn đồi và trông thấy một đàn chó mới tinh, có tới ít nhất ba chục con và một tá thợ săn cưỡi ngựa chạy theo sau. Tiếng sủa dữ dội của bầy chó rõ ràng chứng tỏ chúng đã phát hiện ra vết chân nó và đang đuổi theo. Vào lúc khác có lẽ Đomino bỏ rơi lũ chó này chẳng có gì khó khăn, nhưng giờ đây sức lực đã chênh lệch rõ rệt.
    Nó đã kiệt sức và đói mềm, đôi chân nó mỏi nhừ sau hàng giờ đuổi bắt mà vết thương lại rát bỏng. Nó thèm khát được nghỉ ngơi. Lúc này là một cuộc săn thực thụ, không dùng vũ khí, một cuộc săn chỉ nhằm đuổi bắt chứ không cốt nhằm bộ lông. Và không biết có người nào sẽ chê trách con cáo nâu đen hay không về chuyện lần này nó cố thoát thân khỏi những người đuổi bắt tuy cũng thật nhanh nhưng không có chút hào hứng nào của một tay đua luôn tin tưởng vào thắng lợi?
    Đomino không biết rành rẽ lắm khu đồi nằm xa những chỗ nó thường lui tới này. Nhưng vùng đồi núi quen thuộc thì đã ở phía sau chừng vài dặm rồi, và ở giữa nơi đó với nó đã có án ngữ những người đi săn lăm lăm tay súng lúc này đây hẳn dang sung sướng tiếp nhận sự giúp đỡ của bầy chó sung sức mới này. Chưa bao giờ Đomino lại tỏ ra kém linh lợi đến thế khi chạy trốn những người đuổi bắt như lần này, nhưng cũng chưa bao giờ nó lại gắng hết sức lực và chạy nhanh như vậy. Hết giờ này đến giờ khác nó cứ nhảy, nhảy mãi từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác.
    Nhưng mặt trời vẫn cứ tiếp tục hun nóng và biến tất cả tuyết trong rừng thành bùn lầy lội. Mọi rãnh, hào đều ngập nước giá lạnh như băng. Mọi con suối đều đầy ứ nước. Ngay cả trên băng cứng vũng đọng những vũng nước, và cái đuôi bông xù của con cáo – ngọn cờ của lòng can đảm – giờ đây cũng bị bắn đầy nước và bùn, đã bắt đầu cụp xuống do sức nặng của chính nó.
    Đomino biết rằng ngay cả bây giờ nó vẫn có thể bắt lũ chó chạy đến kiệt sức như trước đây nó vẫn thường làm, nhưng dẫu sao lần này nó cũng mong mỏi đêm mau tới. Đêm sẽ mang giá rét về, mà giá rét lại tạo ra vỏ cứng trên mặt tuyết. Chính lúc nó mới có thể hoàn toàn yên tâm về số phận của mình.
    Tuy nhiên bây giờ nó vẫn cònt ạm thời phải tiếp tục lặn lội giữa các ngọn đồi. Tốc độ có một không hai của nó đã bị giảm đi chỉ còn một nửa, nhưng bầy chó cũng đã bắt đầu xuống sức. Tuyết và các con suối ngập nước làm cho những người đi săn cũng mệt nhoài. Chỉ có hai người số họ vẫn tiếp tục đuổi theo con cáo là người chủ chó và chàng thiếu niên cao lớn Apne Juck. Anh biết rõ con cáo mà họ đang đuổi bắt chính là con cáo nâu đen nổi tiếng vùng Gonde.
    Dù sao lợi thế vẫn nghiêng về phía bầy chó đang chạy sáp lại gần. Đomino đã không tài nào đánh lạc hướng được nữa, và chỉ còn cách sáng suốt nhất là cứ chạy thẳng. Nó chạy mãi, chạy mãi, nhưng ngày môt chậm dần, ngày một nhảy những bước ngắn hơn đồng thời bắt đầu thở hổn hển. Cứ thế nó chạy ngang qua một trang trại, rồi lại thêm một trang trại nữa, và bỗng nhiên nó nhìn thấy một em bé gái xách cái giỏ đứng bên cái cổng trại thứ ba.
    Không rõ điều gì đôi lúc thôi thúc thú rừng trong cơn tuyệt vọng tìm kiếm sự che chở của con người. Con cáo vùng Gonde đã đuối sức lao về phía cô bé và áp sát vào chân cô. Cô bé túm lấy nó lôi vào nhà và đóng sập cửa lại ngay trước mũi bầy chó hung dữ như lũ chó ngao.
    Bầy chó chồm lên và sủa giận dữ quanh nhà.
    Những người đi săn phi ngựa tới, và người chủ trại cũng vừa về đến nơi.
    - Nó là của chúng tôi, nó thuộc về bầy chó của chúng tôi, chó đã đuổi nó đến đây – người cầm đầu đoàn săn nói.
    - Nó ở trong nhà tôi tức là của tôi – người chủ trại phản đối, ông hoàn toàn không nhận ra con cáo nâu đen dưới dạng kẻ chạy trốn lấm bê bết đất sét đỏ.
    Tuy người chủ trại cũng bị mất gà nhưng ông không khao khát chiếm bộ lông cho lắm, bởi vì bây giờ xem chừng tấm lông đã hoàn toàn bị hỏng và mất hết giá trị.
    - Đã thế thì xin mời quý vị nhận lấy con cáo – cuối cùng ông ta nói với đoàn săn.
    Nhưng cô bé òa lên khóc.
    - Đừng đưa, đừng đưa, nó là của con! – cô bé kêu lên – Tự nó chạy đến với con cơ mà. Không được giết nó!
    Người chủ trại lưỡng lự.
    - Chúng tôi sẽ cư xử một cách chính trực với nó – một người thợ săn an ủi – chúng tôi sẽ để nó chạy trước một đoạn xa hơn khoảng cách lúc chúng tôi đuổi kịp nó tại đây.
    Người chủ trại vội vã bỏ đi để khỏi phải chứng kiến sự việc xảy ra. Có lẽ ông có thể quên được con thú bất hạnh bị đuổi bắt đến tìm chốn nương thân trong nhà ông, nhưng ông không đủ sức quên tiếng kêu con trẻ lúc nào cũng như vẳng bên tai ông: “các người không có quyền, không có quyền! Nó là của tôi! Ôi ba ơi! Họ sẽ giết chết nó! Ba ơi, ba thân yêu ơi!”.
    Và không phải chỉ trái tim người cha mới in dấu vết sâu đâm tiếng thét trẻ con tuyệt vọng đó.
    __________________
    XX – DÒNG SÔNG VÀ BÓNG ĐÊM
    Nhưng những người đi săn vẫn mang Đomino đi. Họ thả nó ra và cho chạy trước khoảng một phần tư dặm theo đúng thỏa ước rồi thả ba chục con chó khỏe mạnh cho đuổi một con cáo đã bị vắt kiệt sức – việc đó họ gọi là “xử sự một cách chính trực”! Thung lũng lại vang lừng tiếng chó sủa. Đomino lại nhảy chồm chồm trên tuyết dày ẩm ướt, và thoạt đầu nó còn chạy được khá xa về phía trước.
    Nó chạy hết thung lũng kéo dài của suối Benton, qua sườn đồi, vượt cả đỉnh đồi và đã bắt đầu chạy vòng trở lại, thì thình lình chính con chó Ghechia đáng nguyền rủa lao vút ra từ sân một trang trại và nhập bọn với ầy chó đang đuổi theo con cáo. Chàng thiếu niên cao lớn kêu lên thân thiện, chào đóm sự xuất hiện của con chó. Đomino làm sao thoát thân nổi khi kẻ địch của nó tiếp nhận thêm lực lượng thứ ba mới tinh như thế. Chỉ còn một hy vọng duy nhất là màn đêm sắp buông xuống, nếu như nó sẽ giá lạnh.
    Nhưng về chiều gió trở nên ấm hơn. Nước sông Soban được gió ấm thổi suốt ngày, bây giờ đổ về phía tây thành dòng nước chảy cuồn cuộn mênh mông, rồi khi đến cửa sông thì nước tràn đầy cả thung lũng nơi triền sông và cuốn theo cả những khối băng tan kêu răng rắc.
    Mặt trời đang lặn phía xa xa trên mặt nước phẳng lặng, và ráng chiều chập chờn kia quả là huyền diệu giống như đoạn cuối chói lọi của một cuộc đời cao đẹp. Nhưng cả bầy chó lẫn đoàn săn đều không dừng lại để thưởng thức cảnh đẹp ấy, họ còn vội vã lao về phía trước, chỉ chú ý đến phía trước mà thôi.
    Lũ chó thở nặng nhọc, lưỡi chúng thè sát đất và đôi mắt đỏ ngầu. Một con chó còn tươi tỉnh – nó đúng là cái con chó ngao vừa xuất hiện bất thình lình kia đó – phóng vùn vụt lên trước, bỏ xa tất cả, và chạy trước nó là con áo nâu đen. Nhưng bây giờ tất cả bộ lông mềm mại của nó đều lấm bùn, cái đuôi vốn lộng lẫy nay ướt mèm nước bẩn, còn bản thân thì rách toác để lại vết máu sau mỗi bước nhảy.
    Đomino chưa bao giờ thấy mệt đến thế. Bây giờ nó đã có thể chạy được đến con đường mòn dẫn tới gờ đá. Nhưng nhà nó ở gần con đường mòn đó, mà bản năng tự nhiên lại luôn luôn nói với nó: “Không được chạy về phía đó”. Tuy nhiên, phút cuối cùng nỗi tuyệt vọng đã xui khiến nó hướng về nơi ấy như một lối thoát duy nhất còn sót lại. Nó thu hết sức tàn phóng dọc theo bờ con sông Soban cuồn cuộn sóng. Sau một khoảng thời gian ngắn nó đã lấy lại được tốc độ như trước kia của mình, và chắc hẳn nó đã được cứu thoát nếu như không phải là con chó to bự đáng nguyền rủa kia đang chạy vượt lên trên tất cả lũ chó.
    Khi Đomino vừa tới gần vách núi thì Ghechia cất tiếng sủa. Đomino nhận ra giọng lanh lảnh, khủng khiếp của con chó, và thật khó nói được cái âm thanh đã làm tiêu tan bao nhiêu sức lực và sự nhanh nhẹn của nó. Bây giờ nó đã bị cắt đứt đường đến vách núi và bắt buộc phải chạy ngược trở lại trên bờ sông, dọc theo dòng nước chảy ầm ầm, phản chiếu ráng chiều tà. Mọi hy vọng tiêu tan, nhưng Đomino vẫn tiếp tục chạy, và thân hình nó vẫn cố nhích lên, xiêu bên nọ vẹo bên kia, hiện rõ thành một khối đen thẫm ở phía trước. Nó gần chết vì mệt, nhưng vẫn chiến đấu đến cùng để bảo vệ cuộc sống.
    Chàng thiếu niên đi săn cao lớn bây giờ là người duy nhất phi ngựa lại gần hơn. Anh biết con cáo sắp đến hồi tận số nên không tài nào rời mắt khỏi được hai cái vệt đen thẫm đang chạy trên tuyết trắng phau được ánh nắng măt trời đang lặn chiếu sáng đến lóa mắt.
    Tràng sủa đắc thắng của đàn chó vang lên bên tai kẻ gặp nạn khốn khổ. Đomino đã kiệt sức. Cái đuôi mịn lông, vẻ đẹp và niềm kiêu hãnh của nó, đã không còn phấp phới trong gió nữa mà kéo lê sát đất, ẩm sì và nặng chịch, càng gây thêm khó khăn cho việc chạy trốn vốn đã chậm. Lũ chó thấy thắng lợi đã gần kề cố phóng vùn vụt theo và sủa như một lũ điên.
    Thương thay cho Đomino bây giờ chạy dọc một doui cát nhô ra từ bờ sông làm thành một hòn đảo ở về phía tây. Con sông đã lừa dối nó. Bầy chó đuổi kịpo nó, con Ghechia phóng vùn vụt trước cả bầy, chặn đứng mọi ngả rút lui của nó và vừa chạy vừa cất tiếng sủa ồm ồm dữ tợn. Mọi việc đã rõ như trên lòng bàn tay: cái bãi bồi rộng ven sông dày đặc lũ chó vừa chạy vừa sủa, và con sông mênh mông đầy băng trôi. Cả cái trước và cái sau đều là cái chết cầm chắc. Một kẻ yếu đuối có lẽ đã hoảng hốt và bỏ mạng rồi, nhưng người mạnh mẽ thì vẫn tiếp tục giữ vững trong bất cứ hoàn cảnh nào.
    Đàn chó đang đuổi theo do Ghechia dẫn đầu đã đến doi cát và nhanh chóng phóng theo. Dòng sông gầm gào giận dữ trôi nhanh dọc theo hai bên bờ mọc đầy hoàn diệp liễu. Lũ chó tản đầy bờ sông, cũng như băg trôi đầy mặt sông. Những tảng băng rôi mỗi lúc một sát lại gần nhau, làm thành một khối dày đặc và phút chốc đã chạm vào bờ, kêu răng rắc. Và thế là Đomino đã làm một việc mà hiếm có con chó khác nào dám làm. Nó quay lại nhìn bầy chó, rồi liếc nhìn băng và … nhảy. Vừa chạm mặt băng nó lại nhảy lên và cứ thế từ từ vọt từ tảng băng này sang tảng băng khác.
    Vừa lúc đó khối băng lúc trước dồn đống lại với nhau nay lại tản ra và tiếp tục trôi. Giữa băng và bờ sông tạo thành một dải nước đen xẫm mỗi ngày một rộng thêm. Con áo đen đứng khom khom trên tảng băng xa nhất trông như cưỡi trên cái yên màu trắng đặt lên tấm lưng xẫm màu của dòng sông. Bầy chó tru lên điên cuồng bất lực, và dừng cả lại trên bờ sông, nhưng Ghechia liều mạng lao xuống tảng băng cuối cùng của khối băng đúng lúc nó tách ra mang theo nạn nhân của nó trôi đi. Dòng sông không có gì kìm hãm được nghiệt ngã cuốn tảng băng có con chó ở trên nhanh chóng rời xa bờ. Như vậy là cả con cáo bị săn đuổi và con chó đi săn đuổi đều đang được đưa đi gặp Thần Chết. Chúng trôi trên sông tràn ngập ánh hoàng hôn, còn ở trên bờ thì có lũ chó và cả chàng trai trẻ cưỡi ngựa chạy theo chúng.
    Một chủ trại nào đó ở đoàn săn khác vừa đến, thấy thế định bắn vào con cáo. Nhưng chàng trai giật cây súng khỏi tay con người ngu xuẩn đó và thốt kêu to: “Hoan hô!”. Tiếng reo tắc nghẹn làm cho đàn chó ngơ ngác.
    Gần khúc sông rẽ ngoặt băng trôi rất nhanh. Băng đã trôi tới vùng nước bao la, nơi nó sắp đổ xuống thành con thác Hacney. Chàng trai và bầy chó dừng lại, đứng nhìn ráng chiều rực hồng, trải dài ánh sáng đỏ thẫm trên dòng sông phủ đầy băng lấp lánh đang mang theo hai sinh mạng về nơi tia sáng sẽ lụi tàn. Sương mù trở nên dày đặc trên mặt nước réo ầm ầm, và những tia nắng mặt trời cuối cùng chọc thủng màn sương đã nhuộm cả con sông, các tảng băng lần con cáo nâu đen thành màu vàng rực rỡ để rồi sau đó tất cả đều bị chìm lấp trong ánh hoàng hôn đỏ rực đến lóa mắt.
    Kẻ gan dạ sắp hy sinh không hề run sợ trên tảng băng phía xa kia chẳng thèm kêu một tiếng, nhưng văng vẳng trong gió nghe rõ tiếng tru ai oán mang đầy sự chết chóc khủng khiếp của con chó.
    - Vĩnh biệt bạn thân mến! – chàng đi săn trẻ nói – Vĩnh biệt con chó đáng mến của ta! – Giọng anh lạc hẳn đi – Vĩnh biệt con cáo nâu đen! Lúc sống mày là kẻ chiến thắng và khi chết cũng vẫn là kẻ chiến thắng. Ta muốn cứu cả hai chúng mày, nhưng chúng mày đã chết một cách vinh quanh! Vĩnh biệt!
    Apne không thể nhìn thấy gì thêm nữa, còn bầy chó đứng trên bờ thì run rẩy và rên ư ử.
    Ở phía bờ đối diện dòng chảy tạo nên một xoáy nước rộng. Khi quay tròn trong xoáy nước các tảng băng gần bờ dần dần rôi ra giữa sông, còn những tảng băng ở giữa sông thì lại trôi lại gần bờ. Lợi dụng giây phút thuận tiện đó Đomino thu hết sức lực nhảy phát lên bờ. Nó đã nhảy qua được dòng nước đen ngòm đang chảy xiết và lại đặt chân lên đất cứng,. Con sông đã giúp nó thoát khỏi tai nạn hồi còn trai trẻ nay lại cứu sống nó.
    Còn ở phía sau kia, giữa đám băng đang trôi vẫn nghe thấy tiếng tru rền rĩ tuyệt vọng của con chó sắp chết. Nhưng tiếng kêu đó đã bị chìm trong tiếng nước chảy ào ào.
     
    Newsun thích điều này.
  5. Cuonlennho

    Cuonlennho "Cuộc đời yên ổn, năm tháng bình yên." Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    1.765
    Lượt thích:
    2.333
    Kinh nghiệm:
    113
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    CON NGỰA HOANG​


    I.
    Jo Celon quẳng cái yên ngựa xuống đất, thả ngựa và bước vào nhà, cựa giày kêu cọt kẹt
    - Bữa ăn trưa đâu rồi? – gã hỏi.
    - Chừng mười bảy phút nữa thì xong – người đầu bếp trả lời, mắt liếc nhìn đồng hồ với vẻ trịnh trọng của viên trưởng ga. Gã đầu bếp bao giờ cũng cực kỳ chính xác trong ngôn ngữ, nhưng trong công việc thì y lại chẳng thèm đoái hoài đến một chút chính xác nào cả.
    - Thế nào, công việc ở Perico ra sao? – bạn Jo, Scrat hỏi.
    - Tuyệt vời, - Jo trả lời – Đàn gia súc, dĩ nhiên là tốt, bê non khá đông. Tao nhìn thấy một bầy ngựa hoang xuống uống nước ở suối Sơn dương, trong bầy có cả một cặp ngựa tơ. Một con nhỏ, lông đen, đẹp mã, nòi thiên lý mã. Tao đuổi theo nó tới gần hai dặm thế mà nó luôn luôn chạy trước và không lần nào sai nước kiệu. Tao đã cố tình xua bầy ngựa để mua vui, nhưng cũng chẳng làm nó rối bước.
    - Thế sao mày không tóm lấy một con thừa trên đường về? – Scrat hỏi dò một cách thiếu tin tưởng.
    - Scrat, tốt hơn hết là mày im miệng đi! Đứa nào bò lổm ngổm bốn chân lần trước? Chẳng lẽ không phải là mày hay sao?
    - Thôi, đi ăn trưa! – Gã đầu bếp kêu to, và câu chuyện chấm dứt ngay lập tức.
    Ngày hôm sau những người chăn bò chuyển sang bãi chăn khác và bầy ngựa hoang liền bị lãng quên.
    Sau một năm người ta lại lùa đàn gia súc về đúng nơi cũ đó thuộc bang New Mexico, và những người chăn bò lại trông thấy bầy ngựa hoang.
    Con ngựa non lông đen đã lớn thành một con ngựa ô đực có những cặp chân thon chắc, hai bên sườn óng mượt, và dân chăn bò đã có nhiều người được chứng kiến cái khả năng đặc biệt của con ngựa hoang: nó đúng là nòi thiên lý mã.
    Jo cũng có mặt ở đó, và trong đầu gã nảy ngay ra ý nghĩ là nếu bắt con ngựa này thì cũng chẳng có gì là dở. Ý nghĩ này không làm người dân ở các bang miền Đông ngạc nhiên, nhưng ở miền Tây, nơi ngựa rẻ mạt, thì chẳng ai có ý định chạy theo một con ngựa hoang. Bắt nó không dễ dàng gì, mà dù cho có thành công đi chăng nữa thì đến chết nó vẫn là con vật hoang dã, hoàn toàn vô tích sự và không thuần hóa được.
    Dân chăn gia súc phần lớn thậm chí còn bắn lũ ngựa hoang, bởi vì ngựa hoang không chỉ làm hỏng bãi chăn mà còn lôi cuốn theo chúng cả lũ ngựa nhà, làm cho chúng quen nhanh chóng với cuộc sống hoang dã và không bao giờ trở về nữa.
    Jo Celon hiểu rất rành về ngựa và mọi đặc điểm của chúng. Gã nói:
    - Tao chưa bao giờ gặp con ngựa trắng nào mà lại không hiền lành, nhu mì cả. Hoặc ngựa tía, cũng không có con nào dữ tợn hết. Một con hung hăng, nếu được thuần dưỡng tốt thì thế nào cũng sẽ có kết quả. Chứ ngựa ô thì dứt khoát cứng đầu cứng cổ như lừa và hung dữ như quỷ. Thử cho nó móng vuốt mà xem, nó dám chơi cả sư tử ấy chứ.
    Như vậy, nếu ngựa hoang là loại thú vật hoàn toàn vô tích sự thì ngựa ô hoang còn vô tích sự gấp mười. Và Scrat cho rằng ý muốn của Jo “bắt con thú một tuổi phải phục tùng” là vô nghĩa.
    Tuy thế năm ấy Jo cũng chẳng làm được việc gì cả.
    Jo là một gã chăn bò bình thường, gã nhận lương hai mươi nhăm đô la một tháng và có rất ít thời giờ rảnh rỗi.
    Như phần lớn các bạn bè chăn bò khác, gã mơ ước có lúc nào đó mua được trang trại và trông coi đàn gia súc của riêng mình. Gã có một con dấu riêng, được đăng ký vào sổ một cách đàng hoàng ở Santa Fe. Mặc dù con dấu (hình một cái rào sắt dữ dằn) của gã chỉ mới được đóng lên cạnh sườn một con bò già và cũng là cả đàn gai súc của gã. Nhưng như thế là Jo đã được pháp luật công nhận có quyền đóng con dấu của mình lên bất kỳ con vật chưa đóng dấu nào. Chỉ có điều đến mùa thu khi Jo lãnh tiền công thì gã không sao chống lại nổi sức cám dỗ của việc “dạo chơi phố”. Chính vì thế mà cả gia tài của gã trước sau vẫn chỉ gồm có cái yên ngựa, gói chăn màn và con bò già mà thôi. Nhưng gã vẫn hy vọng mình sẽ “làm được một điều phi thường” gì đó, mang lại cho gã cơ hội làm giàu tức thì. Do đó trong óc gã thoáng nảy ra ý nghĩ là con ngựa ô hoang có thể mang hạnh phúc đến với gã, và gã bắt đầu chờ cơ hội thuận lợi bắt nó.
    Nhưng những người chăn bò đã rời đi xa dọc theo sông Canada, và đến mùa thu lại quay về vùng đồi Don Carlos, cho nên Jo không gặp con thiên lý mã hoang ngay được, mặc dù có nghe nói loáng thoáng về nó. Con ngựa ô hai tuổi tuyệt đẹp đã nổi tiếng khắp vùng.
    Suối Sơn dương chảy trên một bình nguyên thoáng đãng. Vào mùa lũ nó biến thành một cái hồ nhỏ, xung quanh mọc đầy cỏ lác, còn khi nước cạn thì chỉ còn là một dải đất bùn đen rộng trên đó lấp lánh vết muối trắng ở khắp mọi chỗ, và ở giữa – nơi vũng sâu – là nước trong, uống được tuy là nước tù đọng. Ở vùng này trong phạm vi vài dặm không có vũng nước nào khác cả. Bình nguyên này, hay đúng hơn là đồng cỏ cao như người ta vẫn thường gọi thế ở những miền phía bắc, đã trở thành bãi kiếm ăn ưa thích nhất của con ngựa ô non, mặc dù nơi đây cũng thường xuyên được sử dụng làm bãi chăn thả bò và ngựa nhà. Ở đây chủ yếu có đàn gia súc được đóng con dấu gồ m hai chữ L và F chồng lên nhau.
    Ông Foster, người chủ cái trang trại này là một người tháo vát. Ông cho rằng, nếu phát triển những gia súc được tuyển lựa tại vùng này thì lời lãi sẽ tăng. Ông đã có mười con ngựa cái lai giống, cao to, phát triển cân đối, có cặp mắt như mắt hươu. Xếp bên cạnh chúng thì lũ ngựa bờm xờm bình thường trở thành còm cõi đáng thương.
    Bao giờ cũng có một con trong số ngựa cái đẹp đẽ đó ở lại tàu để làm việc, còn chín con khác sau khi cho ngựa non bú xong thường được thả cho chạy rông.
    Ngựa luôn luôn biết cách tìm ra chỗ ăn tốt nhất. Và chín con ngựa cái dễ dàng tìm ra đường đến suối Sơn dương nằm cách trang trại hai mươi dặm về phía nam. Ít lâu sau, đến mùa hè Foster và người nhà đi tìm chúng và chẳng mấy chốc ông đã trông thấy bầy ngựa. Nhưng trong đám ngựa lại có cả con ngựa đực đen như mun đang chăn dắt chúng như người chủ. Nó chạy xung quanh không cho phép chúng chạy lung tung, và màu lông đen của nó nổi bật lên giữa đám lông vàng của lũ ngựa cái.
    Ngựa cái vốn tính hiền lành, cà chắc chắn chúng sẽ ngoan ngoãn quay về nhà, nếu như con ngựa ô không bỗng dưng nổi giận. Dường như nó truyền nhiễm tính hoang dã cho cả đàn ngựa cái, và những con ngựa tuyệt vời này lao vút đi, để lại tít đằng sau lưng lũ ngựa quê mùa cùng với cái trang trại.
    Điều này làm cho hai người kỵ mã phát khùng. Họ vơ lấy súng định ngắm bắn “con ngựa đực đáng nguyền rủa”. Nhưng bắn sao được khi mà chín phần mười khả năng là sẽ bắn trúng lũ ngựa cái.
    Họ mất trọn cả một ngày cố gắng vô ích. Con thiên lý mã hoang – bởi đó chính là nó – không rời gia đình nó một bước nào và dắt chúng biến mất giữa đám đồi cát miền nam.
    Những người chăn bò tức giận quay về nhà trên những con ngựa mệt nhoài, và họ thề sẽ trả thù kẻ tội phạm đã gây ra nỗi thất bại của họ.
    Điều bất hạnh là họ hiểu rõ rằng, lũ ngựa cái rất nhanh chóng sẽ trở thành hoang dã như chính con ngựa đực kia.
    Con ngựa ô cao lớn có bờm đen nhánh và đôi mắt xanh nhạt long lanh đã tuang hoành ngang dọc khắp vùng và ngày càng thu thập thêm quân số đoàn tùy tùng của nó bằng cách cuốn hút theo sau những con ngựa cái từ khắp nơi cho đến khi đàn của nó lên đến ít nhất hai mươi đầu ngựa.
    Phần đông ngựa cái đi theo nó là những con ngựa hiền lành, nhỏ bé, và nổi bật nhất là chín con ngựa cái giống mà ngựa ô dắt theo nó đầu tiên.
    Đàn ngựa được bảo vệ đắc lực và sốt sắng đến độ, hễ có con ngựa cái nào vừa ra vào đàn là coi như mất hẳn, và những người chăn bò nhanh chóng hiểu rằng con ngựa hoang định cư ở vùng họ đang gây cho họ tổn thất lớn lao.

    I.
    Jo Celon quẳng cái yên ngựa xuống đất, thả ngựa và bước vào nhà, cựa giày kêu cọt kẹt
    - Bữa ăn trưa đâu rồi? – gã hỏi.
    - Chừng mười bảy phút nữa thì xong – người đầu bếp trả lời, mắt liếc nhìn đồng hồ với vẻ trịnh trọng của viên trưởng ga. Gã đầu bếp bao giờ cũng cực kỳ chính xác trong ngôn ngữ, nhưng trong công việc thì y lại chẳng thèm đoái hoài đến một chút chính xác nào cả.
    - Thế nào, công việc ở Perico ra sao? – bạn Jo, Scrat hỏi.
    - Tuyệt vời, - Jo trả lời – Đàn gia súc, dĩ nhiên là tốt, bê non khá đông. Tao nhìn thấy một bầy ngựa hoang xuống uống nước ở suối Sơn dương, trong bầy có cả một cặp ngựa tơ. Một con nhỏ, lông đen, đẹp mã, nòi thiên lý mã. Tao đuổi theo nó tới gần hai dặm thế mà nó luôn luôn chạy trước và không lần nào sai nước kiệu. Tao đã cố tình xua bầy ngựa để mua vui, nhưng cũng chẳng làm nó rối bước.
    - Thế sao mày không tóm lấy một con thừa trên đường về? – Scrat hỏi dò một cách thiếu tin tưởng.
    - Scrat, tốt hơn hết là mày im miệng đi! Đứa nào bò lổm ngổm bốn chân lần trước? Chẳng lẽ không phải là mày hay sao?
    - Thôi, đi ăn trưa! – Gã đầu bếp kêu to, và câu chuyện chấm dứt ngay lập tức.
    Ngày hôm sau những người chăn bò chuyển sang bãi chăn khác và bầy ngựa hoang liền bị lãng quên.
    Sau một năm người ta lại lùa đàn gia súc về đúng nơi cũ đó thuộc bang New Mexico, và những người chăn bò lại trông thấy bầy ngựa hoang.
    Con ngựa non lông đen đã lớn thành một con ngựa ô đực có những cặp chân thon chắc, hai bên sườn óng mượt, và dân chăn bò đã có nhiều người được chứng kiến cái khả năng đặc biệt của con ngựa hoang: nó đúng là nòi thiên lý mã.
    Jo cũng có mặt ở đó, và trong đầu gã nảy ngay ra ý nghĩ là nếu bắt con ngựa này thì cũng chẳng có gì là dở. Ý nghĩ này không làm người dân ở các bang miền Đông ngạc nhiên, nhưng ở miền Tây, nơi ngựa rẻ mạt, thì chẳng ai có ý định chạy theo một con ngựa hoang. Bắt nó không dễ dàng gì, mà dù cho có thành công đi chăng nữa thì đến chết nó vẫn là con vật hoang dã, hoàn toàn vô tích sự và không thuần hóa được.
    Dân chăn gia súc phần lớn thậm chí còn bắn lũ ngựa hoang, bởi vì ngựa hoang không chỉ làm hỏng bãi chăn mà còn lôi cuốn theo chúng cả lũ ngựa nhà, làm cho chúng quen nhanh chóng với cuộc sống hoang dã và không bao giờ trở về nữa.
    Jo Celon hiểu rất rành về ngựa và mọi đặc điểm của chúng. Gã nói:
    - Tao chưa bao giờ gặp con ngựa trắng nào mà lại không hiền lành, nhu mì cả. Hoặc ngựa tía, cũng không có con nào dữ tợn hết. Một con hung hăng, nếu được thuần dưỡng tốt thì thế nào cũng sẽ có kết quả. Chứ ngựa ô thì dứt khoát cứng đầu cứng cổ như lừa và hung dữ như quỷ. Thử cho nó móng vuốt mà xem, nó dám chơi cả sư tử ấy chứ.
    Như vậy, nếu ngựa hoang là loại thú vật hoàn toàn vô tích sự thì ngựa ô hoang còn vô tích sự gấp mười. Và Scrat cho rằng ý muốn của Jo “bắt con thú một tuổi phải phục tùng” là vô nghĩa.
    Tuy thế năm ấy Jo cũng chẳng làm được việc gì cả.
    Jo là một gã chăn bò bình thường, gã nhận lương hai mươi nhăm đô la một tháng và có rất ít thời giờ rảnh rỗi.
    Như phần lớn các bạn bè chăn bò khác, gã mơ ước có lúc nào đó mua được trang trại và trông coi đàn gia súc của riêng mình. Gã có một con dấu riêng, được đăng ký vào sổ một cách đàng hoàng ở Santa Fe. Mặc dù con dấu (hình một cái rào sắt dữ dằn) của gã chỉ mới được đóng lên cạnh sườn một con bò già và cũng là cả đàn gai súc của gã. Nhưng như thế là Jo đã được pháp luật công nhận có quyền đóng con dấu của mình lên bất kỳ con vật chưa đóng dấu nào. Chỉ có điều đến mùa thu khi Jo lãnh tiền công thì gã không sao chống lại nổi sức cám dỗ của việc “dạo chơi phố”. Chính vì thế mà cả gia tài của gã trước sau vẫn chỉ gồm có cái yên ngựa, gói chăn màn và con bò già mà thôi. Nhưng gã vẫn hy vọng mình sẽ “làm được một điều phi thường” gì đó, mang lại cho gã cơ hội làm giàu tức thì. Do đó trong óc gã thoáng nảy ra ý nghĩ là con ngựa ô hoang có thể mang hạnh phúc đến với gã, và gã bắt đầu chờ cơ hội thuận lợi bắt nó.
    Nhưng những người chăn bò đã rời đi xa dọc theo sông Canada, và đến mùa thu lại quay về vùng đồi Don Carlos, cho nên Jo không gặp con thiên lý mã hoang ngay được, mặc dù có nghe nói loáng thoáng về nó. Con ngựa ô hai tuổi tuyệt đẹp đã nổi tiếng khắp vùng.
    Suối Sơn dương chảy trên một bình nguyên thoáng đãng. Vào mùa lũ nó biến thành một cái hồ nhỏ, xung quanh mọc đầy cỏ lác, còn khi nước cạn thì chỉ còn là một dải đất bùn đen rộng trên đó lấp lánh vết muối trắng ở khắp mọi chỗ, và ở giữa – nơi vũng sâu – là nước trong, uống được tuy là nước tù đọng. Ở vùng này trong phạm vi vài dặm không có vũng nước nào khác cả. Bình nguyên này, hay đúng hơn là đồng cỏ cao như người ta vẫn thường gọi thế ở những miền phía bắc, đã trở thành bãi kiếm ăn ưa thích nhất của con ngựa ô non, mặc dù nơi đây cũng thường xuyên được sử dụng làm bãi chăn thả bò và ngựa nhà. Ở đây chủ yếu có đàn gia súc được đóng con dấu gồ m hai chữ L và F chồng lên nhau.
    Ông Foster, người chủ cái trang trại này là một người tháo vát. Ông cho rằng, nếu phát triển những gia súc được tuyển lựa tại vùng này thì lời lãi sẽ tăng. Ông đã có mười con ngựa cái lai giống, cao to, phát triển cân đối, có cặp mắt như mắt hươu. Xếp bên cạnh chúng thì lũ ngựa bờm xờm bình thường trở thành còm cõi đáng thương.
    Bao giờ cũng có một con trong số ngựa cái đẹp đẽ đó ở lại tàu để làm việc, còn chín con khác sau khi cho ngựa non bú xong thường được thả cho chạy rông.
    Ngựa luôn luôn biết cách tìm ra chỗ ăn tốt nhất. Và chín con ngựa cái dễ dàng tìm ra đường đến suối Sơn dương nằm cách trang trại hai mươi dặm về phía nam. Ít lâu sau, đến mùa hè Foster và người nhà đi tìm chúng và chẳng mấy chốc ông đã trông thấy bầy ngựa. Nhưng trong đám ngựa lại có cả con ngựa đực đen như mun đang chăn dắt chúng như người chủ. Nó chạy xung quanh không cho phép chúng chạy lung tung, và màu lông đen của nó nổi bật lên giữa đám lông vàng của lũ ngựa cái.
    Ngựa cái vốn tính hiền lành, cà chắc chắn chúng sẽ ngoan ngoãn quay về nhà, nếu như con ngựa ô không bỗng dưng nổi giận. Dường như nó truyền nhiễm tính hoang dã cho cả đàn ngựa cái, và những con ngựa tuyệt vời này lao vút đi, để lại tít đằng sau lưng lũ ngựa quê mùa cùng với cái trang trại.
    Điều này làm cho hai người kỵ mã phát khùng. Họ vơ lấy súng định ngắm bắn “con ngựa đực đáng nguyền rủa”. Nhưng bắn sao được khi mà chín phần mười khả năng là sẽ bắn trúng lũ ngựa cái.
    Họ mất trọn cả một ngày cố gắng vô ích. Con thiên lý mã hoang – bởi đó chính là nó – không rời gia đình nó một bước nào và dắt chúng biến mất giữa đám đồi cát miền nam.
    Những người chăn bò tức giận quay về nhà trên những con ngựa mệt nhoài, và họ thề sẽ trả thù kẻ tội phạm đã gây ra nỗi thất bại của họ.
    Điều bất hạnh là họ hiểu rõ rằng, lũ ngựa cái rất nhanh chóng sẽ trở thành hoang dã như chính con ngựa đực kia.
    Con ngựa ô cao lớn có bờm đen nhánh và đôi mắt xanh nhạt long lanh đã tuang hoành ngang dọc khắp vùng và ngày càng thu thập thêm quân số đoàn tùy tùng của nó bằng cách cuốn hút theo sau những con ngựa cái từ khắp nơi cho đến khi đàn của nó lên đến ít nhất hai mươi đầu ngựa.
    Phần đông ngựa cái đi theo nó là những con ngựa hiền lành, nhỏ bé, và nổi bật nhất là chín con ngựa cái giống mà ngựa ô dắt theo nó đầu tiên.
    Đàn ngựa được bảo vệ đắc lực và sốt sắng đến độ, hễ có con ngựa cái nào vừa ra vào đàn là coi như mất hẳn, và những người chăn bò nhanh chóng hiểu rằng con ngựa hoang định cư ở vùng họ đang gây cho họ tổn thất lớn lao.

    III.
    Có một số cách bắt ngựa hoang, trong đó một cách là phóng viên đạn vào gáy ngựa làm cho nó choáng váng trong nháy mắt và tung ngay thòng lọng trói nó. Cách này gọi là “đánh quỵ ngựa”
    - Chính thế! Tôi đã chứng kiến cả trăm lần ngựa bị đánh gục bằng phương pháp này, nhưng cho đến nay chưa từng thấy con ngựa hoang nào bị “đánh quỵ” cả - anh chàng Jo tính tình hung hăng nhận xét một cách châm biếm như thế.
    Đôi lúc nếu điều kiện địa hình cho phép người ta rượt đuổi bầy ngựa cho đến lúc chúng mệt nhoài. Nếu trong tay có những con ngựa tốt thỉnh thoảng có thể rượt đuổi cả đàn, và phương pháp đơn giản nhất, đơn giản đến mức thoạt xem khó mà tin được, vẫn là “rượt đuổi” ngựa hoang (đuổi theo cho đến khi nó kiệt sức).
    Vinh quang của con ngựa xuất chúng không bao giờ chêch nước kiệu trong lúc phi nổi như cồn. Người ta kể những chuyện khó tin về nó, về tốc độ, nước phi và sức dẻo dai của nó. Và đến khi cụ Mongomeri thuộc trang trại Tam giác tuyên bố trước nhiều người làm chứng tại quán rượu Uenxo ờ Cleyton rằng sẽ thưởng một ngàn đôla cho ai đóng được hàm thiếc con ngựa đực đó vào xe chở hàng một cách chắc chắn, tất nhiên là với điều kiện là tất cả những chuyện đó đều là chuyện thực, thì có đến hàng chục chàng chăn bò trẻ thèm muốn thử vận may ngay sau khi hết thời hạn hợp đồng với các chủ trại và được tự do.
    Anh chàng Jo thô lỗ quyết định đi trước mọi người. Không thể bỏ phí thời gian thêm nữa. Và mặc dù thời hạn làm công của gã chưa hết gã vẫn dành thời trọn một đêm chuẩn bị cho cuộc săn.
    Gã vay bạn bè đủ tiền trang bị cho đoàn săn gồm hai chục con ngựa cưỡi loại tốt, một xe nhà bếp và lương thực dự trữ cho ba người dùng trong hai tuần là bản thân gã, Sacli – bạn gã và người đầu bếp.
    Họ xuất phát từ Cleyton với ý định vững vàng là “rượt đuổi” bằng được con thiên lý mã tuyệt vời. Ngày thứ ba họ tới suối Sơn dương, và vì đã gần trưa nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy con ngựa ô thiên lý xuống suối uống nước cùng với cả đàn của nó.
    Jo nấp kín không ló mặt ra cho đến khi cả đàn ngựa uống no nê, bởi vì gã biết rằng ngựa đang khát bao giờ cũng chạy khỏe hơn so với khi đã uống no nước.
    Sau đó Jo rời chỗ nấp, cưỡi ngựa bĩnh tĩnh tiến lên. Khi gã đến cách suối gần nửa dặm, con ngựa hoang hoảng hốt và lập tức lùa đàn của nó chạy về phía đông nam đến vùng cao nguyên mọc đầy cây bụi. Jo phi ngựa theo hướng ấy cho đến lúc lại trông thấy đàn ngựa, sau đó gã quay lại và hạ lệnh cho người đầu bếp đồng thời kiêm người đánh xe lên đường đi theo hướng nam đến sông Alamodo. Còn bản thân gã thì quay sang hướng đông nam, theo sát những con ngựa hoang.
    Đi được chừng hai dặm gã lại gặp đàn ngựa. Gã thả cho ngựa đi nước kiệu và tiến sát đến mức làm cho đàn ngựa hoảng sợ và lao vút về hướng nam. Nhưng Jo phi đường tắt và nửa giờ sau đã gặp lại đàn ngựa. Gã bí mật tiến sát đàn ngựa và cảnh cũ lại diễn ra: lại hoảng sợ và bỏ chạy. Sự việc cứ như thế diễn ra suốt cả ngày.
    Đàn ngựa hoang dần dần di chuyển theo hình cánh cung xuống phía nam, và lúc mặt trời xuống tới chân trời thì chúng đã đến gần sông Alamodo đúng như Jo đã dự tính. Sau khi làm cho chúng sợ hãi chạy thêm một lần nữa thì Jo quay về xe, còn người bạn gã từ trước đến giờ vẫn nghĩ ngơi thì tiếp tục cuộc rượt đuổi trên một con ngựa còn khỏe nguyên.
    Sau bữa ăn tối chiếc xe chạy tới chỗ nước nông đầu nguồn con sông Alamodo như đã tính toán trước và Jo thu xếp chỗ nghỉ đêm tại đó.
    Trong khi ấy Sacli vẫn đuổi theo đàn ngựa. Lũ ngựa hoang không bỏ chạy xa như lúc đầu vì kẻ truy đuổi chúng hình như không có ý định tấn công chúng, và chúng quen dần với sự có mặt của y. Trong ánh hoàng hôn đang buông xuống dễ tìm chúng hơn, vì trong đàn có một con ngựa cái trắng nhìn thấy rất rõ trong bóng đêm. Hơn nữa chiếu rất sáng, và Sacli tin tưởng ở tài đánh hơi của con ngựa của mình nên cứ để nó tự tìm lấy được và ung dung bám theo đàn ngựa có con ngựa trắng nổi bật giữa chúng như một bóng ma. Cuối cùng mọi vật đều nhòa trong màn đêm. Gã bèn xuống ngựa, tháo yên cương và thả cho nó gặm cỏ, còn mình thì chui vào chăn và nhanh chóng ngủ thiếp đi.
    Mới tảng sáng Sacli đã lên ngựa và chưa hết nửa dặm đã phân biệt được con ngựa trắng và sau đó là cả đàn ngựa trong cảnh tranh tối tranh sáng. Vừa trông thấy hắn con thiên lý mã đã hí vang, và đàn ngựa hoang đều bỏ chạy.
    Nhưng vừa chạy đến ngọn đồi nhỏ đầu tiên chúng đã dừng lại để xem kẻ nào đã kiên trì đuổi theo chúng đến thế. Trong khoảnh khắc con ngựa hoang con ngựa hoang đầu đàn có lẽ đã nhận rõ sự việc và quyết định phải làm gì cho nên nó lao về phía trước với nước kiệu đều đặn, không chút mệt mỏi, hệt như một vệt sao băng đen cuốn cả đàn theo sau.
    Đàn ngựa quay sang hướng tây, và sau vài lần lặp đi lặp lai cùng một thứ trò chơi: bỏ chạy, đuổi theo, gặp nhau rồi lại bỏ chạy đó, đến khoảng giữa trưa chúng tới một đồi dốc đứng xưa kia bộ lạc da đỏ từng dùng làm chòi canh. Ở đó đã có Jo đứng đợi chúng. Một làn khói dài, mỏng báo cho Sacli biết hắn có thể nghỉ cho lại sức, và Sacli lập tức dùng một cái gương nhỏ bỏ túi phát tín hiệu trả lời. Jo lao vào cuộc rượt đuổi trên một con ngựa hoàn toàn sung sức, còn Sacli thì xuống ngựa ăn uống, nghỉ ngời và sau đó đi lên phía thượng lưu sông Alamodo.
    Suốt ngày hôm sau Jo đuổi theo lũ ngựa hoang, cố giữ chúng trên một đường vòng cung lớn, có chiếc xe chạy dọc theo đường dây cung. Trước khi mặt trời lặn gã đến được bến phà, ở đó Sacli đã đợi sẵn cùng với một con ngựa khỏe khoắn và đồ ăn. Jo tiếp tục cuộc rượt đuổi thong dong suốt cả buổi chiều và cả một lúc ban đêm vì đàn ngựa có lẽ đã hơi quen với sự có mặt của kẻ lạ chẳng làm hại gì đến chúng và chúng đã theo dõi họ có phần lơ là hơn. Hơn nữa sự mệt mỏi đã bộc lộ rõ. Bãi ăn đầy cỏ mật ngon lành lùi lại tít phía xa, và dĩ nhiên đàn ngựa hoang không được lĩnh phần kiều mạch như lũ ngựa của bọn người truy đuổi,. Sự căng thẳng thần kinh liên tục cũng đã thể hiện. Nó làm đàn ngựa ăn mất ngon, nhưng lại làm tăng cơn khát. Bọn người truy đuổi để cho đàn ngựa có cơ hội uống nước nhiều và liên tục. Một con ngựa no nước chạy rất khó khăn: chân nó trở nên cứng đơ như gỗ và hơi thở nặng nề. Chính vì thế Jo hầu như không cho ngựa của mình uống nước. Và cả gã lẫn ngựa đều tươi tắn, khỏe mạnh cho đến tận lúc dừng lại nghỉ đêm ngay gần đàn ngựa đã bị quần mệt lử.
    Rạng sáng Jo dễ dàng tìm ra đàn ngựa hoang. Thoạt đầu chúng bỏ chạy, nhưng chẳng mấy chốc đã chuyển sang nước kiệu. Cuộc chiến đầu hầu như đã phân thắng bại, bởi vì điểm khó nhất của việc rượt đuổi này là làm thế nào không để mất hút đàn ngựa hoang trong hai ba ngày đầu khi chúng còn chưa mệt nhoài.
    Cả buổi sáng Jo không rời mắt khỏi đàn ngựa và hầu như thường xuyên ở gần nó. Đến mười giờ sáng Sacli đợi bên núi Khoze để thay gã. Ngày hôm đó đàn ngựa hoang chỉ chạy thêm được tất cả một phần tư dặm và không còn chạy được nhẹ nhàng như trước nữa.
    Đến chiều Sacli chuyển sang một con ngựa khỏe và tiếp tục truy đuổi.
    Ngày hôm sau đàn ngựa hoang đã gục đầu rủ rũ, và bất chấp mọi nỗ lực của con ngựa ô thiên lý chúng cứ chạy chậm dần và khoảng cách giữa chúng với những người đuổi theo đã rút ngắn chỉ còn độ một trăm bước.
    Ngày thứ tư rồi ngày thứ năm cũng qua đi như thế. Đàn ngựa lại quay về suối Sơn dương. Từ trước đến bây giờ mọi việc đều xảy ra đúng như đã định sẵn: cuộc rượt đuổi chạy theo hình vòng cung lớn, còn chiếc xe nhà bếp chạy bên trong theo đường vòng cung nhỏ hơn. Đàn ngựa hoang quay về suối hoàn toàn mệt lử, còn những người đuổi chúng thì sảng khoái cưỡi trên lưng những con ngựa tươi tỉnh.
    Mọi việc được sắp đặt không thể chê vào đâu được, giá như không có một chuyện: con ngựa ô – cái đích của cuộc săn đuổi này dường như được đúc bằng sắt. Nước phi đều đặn của nó chẳng hề thay đổi và vẫn giữ nguyên như ngày đầu tiên của cuộc săn. Nó vẫn dẫn dắt đàn không mệt mỏi như cũ, động viên đàn bằng những tiện nghi và bằng tấm gương của chính bản thân mình trong lúc chạy trốn. Nhưng sức lực của lũ ngựa đã kiệt quệ. Con ngựa cái trắng già từng giúp bọn người truy đuổi tìm ra đàn trong bóng đêm đã rớt lại cách đây mấy giờ đồng hồ do mệt quá và bây giờ đang nằm gục, thở chẳng ra hơi. Những con ngựa khác thì dường như chẳng còn biết sợ những người truy đuổi nữa và chẳng bao lâu nữa rõ ràng sẽ trở thành chiến lợi phẩm của Jo.
    Nhưng con ngựa đực, mục đích của toàn bộ những công việc vất vả này vẫn kiên cường như cũ.
    Bạn bè của Jo chẳng lạ gì tính tình cáu bẳn của gã cho nên họ sẽ không mảy may ngạc nhiên nếu như trong cơn tức giận bất thần gã có thể nảy ra ý định bắn chết con ngựa ô bách chiến bách thắng. Nhưng Jo không hề có ý định đó.
    Ròng rã suốt một tuần lễ đuổi theo con ngựa, gã chưa lần nào thấy nó chệch bước phi. Giống như bất kỳ một kỵ mã giỏi nào, Jo thực sự khâm phục con ngựa tuyệt diệu này. Sự khâm phục mỗi lúc một tăng và gã thà bắn vào con ngựa tốt nhất của chính mình chứ không thể bắn vào con vật tuyệt trần đó.
    Thậm chí gã đã thấy phân vân không biết có nên giao nộp để lãnh phần thưởng sau khi bắt được nó hay không? Phần thưởng tuy không nhỏ nhưng bản thân con ngựa này đã là một cái vốn rồi bởi vì nó có thể cho ra những thế hệ sau xuất sắc.
    Tuy nhiên trước hết cần phải bắt cho được nó đã. Cần phải chấm dứt cuộc săn.
    Jo đóng yên con ngựa tốt nhất của mình. Đó là một con ngựa cái nòi phương đông, nhưng lớn lên trên đồng cỏ Bắc Mỹ. Dĩ nhiên nếu con ngựa không có một điểm yếu thì chẳng khi nào Jo có thể tậu được con ngựa tuyệt vời như thế. Ở vùng này có một loại cỏ độc gọi là cỏ lôcô. Bình thường gia súc không bao giờ ăn thứ cỏ đó, nhưng nếu một con vật nào tình cờ nếm thử thì nó sẽ dở chứng đi tìm kiếm cỏ này khắp nơi. Tác dụng của loại cỏ này phần nào giống như tác dụng của thuốc phiện, và con vật sẽ bị nghiện, và mặc dù một thời gian dài về sau nó vẫn bình thường, nhưng cuối cùng thế nào rồi cũng chết vì bệnh điên. Dân địa phương nói rằng, con vật như vậy “bị lôcô ám”. Trong ánh mắt con ngựa tốt nhất của Jo đôi lúc thấy xuất hiện nét man dại, mà những người am hiểu đã xác định rằng nó bị mắc chính bệnh này. Nhưng con ngựa vẫn khỏe và nhanh nhẹn, cho nên Jo chọn nó để kết thúc cuộc săn.
    Jo phi nhanh về phía trước, nhằm hướng đàn ngựa. Gã ném cuộn dây thừng xuống đất, kéo nó theo mình để làm cho dây thừng thẳng ra, rồi thận trọng cuộn nó vào cánh tay trái. Lần đầu tiên trong suốt cuộc săn gã giục ngựa lao thẳng về phía con ngựa đực hoang.
    Cuộc đua ngựa điên cuồng bắt đầu. Lũ ngựa cái hết hồn chạy tán loạn khắp bốn phía, dạt hết sang bên.
    Con ngựa cái tươi khỏe phi nước đại trên thảo nguyên, còn con ngựa đực chạy phía trước với nước kiệu lừng danh không hề rối loạn y như trước.
    Điều này thật khó mà tin được. Jo thúc con ngựa của gã bằng cả tiếng hò hét lẫn cựa giày. Nó phi như chim bay, nhưng khoảng cách giữa nó và con ngựa đực không rút ngắn đi nổi lấy một tấc.
    Con ngựa ô chạy hết vùng đồng bằng, phóng qua một bình sơn nguyên mọc đầy cây bụi, lao xuống vùng cát trắng đầy phản trắc và phi sang vùng trảng cỏ nơi có bầy ngân thử đón gặp nó bằng những tràng sủa. Jo phóng ngựa theo sau. Gã không còn tin vào mắt mình nữa. Khoảng cách giữa gã và con ngựa đực chẳng những không giảm đi mà thậm chí còn hình như tăng hơn lên. Jo chửi rủa, thúc đinh giày cà giục giã ngựa, rồi cuối cùng đã đưa con vật tội nghiệp tới mức bị kích thích tột độ. Mắt nó long sòng sọc, đầu lúc lắc tứ phía, và con ngựa đã không còn nhìn xuống đất, không phân biệt đường đi nữa. Bỗng nhiên nó thụt một chân xuống hang chồn. Con ngựa ngã, và người kỵ mã cũng văng xuống đất cùng một lúc với nó. Jo bị đập xuống khá đau nhưng vẫn đứng lên được và cố nâng con vật đang chết điếng lên. Nhưng với con ngựa mọi cái đã hết: nó bị gãy chân trước rồi.
    Jo bắn một phát súng để kết thúc cơn đau cho con ngựa và mang yên cương trở về lều. Con con thiên lý mã lúc đó vẫn tiếp tục chạy cho đến lúc không trông thấy bóng dáng đâu nữa.
    Dù sao cuộc săn cũng không thể coi là thất bại bởi vì trong tay họ vẫn còn lũ ngựa cái. Jo và Sacli dồn chúng về, trả cho chủ cũ và đòi phải thưởng hậu.
    Nhưng đối với Jo như thế là quá ít. Gã mơ ước làm chủ con ngựa đực. Giờ đây khi đã rõ tất cả những ưu điểm của nó rồi, gã liền cố gắng nghĩ một kế hoạch hành động mới.

    IV.
    Trong chuyến đi lần ấy đầu bếp là Bedser – ngài Thomas Bedser, như lão tự xưng ở trạm bưu điện là nơi lão vẫn đến để nhận những bức thư và giấy chuyển tiền mà chẳng có ai nghĩ đến việc gửi thư cho lão bao giờ cả. Nhưng những người chăn bò thì gọi lão là “Tom – Bàn chân gà”, bởi vì lão đoán chắc rằng lão đã đăng ký chính con dấu đó tại Denvy. Con dấu có hình dáng một bàn chân gà tây. Bedser cũng khẳng định rằng con dấu này đã được đóng trên sườn những con bò và những con ngựa nhiều không đếm xuể, thả chăn tại những đồng bằng miền bắc chưa từng ai biết đến.
    Khi Bedser được đề nghị tham gia vào cuộc săn đuổi này với tư cách là một người góp cổ phần, thì lão nhận xét một cách khôi hài rằng bây giờ người ta bán có mười hai đô la một tá ngựa. Quả thật năm đó giá ngựa rất rẻ, vì thế lão thích than phiền ngay cả những chuyện vặt vãnh.
    Nhưng không có người nào đã từng dù chỉ một lần trông thấy con thiên lý mã mà lại có thể thờ ơ với nó được. Bàn chân gà cũng vậy, bây giờ ngay lão cũng thèm muốn được làm chủ con ngựa hoang, nhưng còn chưa biết phải làm thế nào để đạt được mục đích ấy. Một lần lão gặp anh chàng Bin Smith nào đó, thường được gọi là Bin Móng ngựa bởi vì con dấu của y có dạng một cái móng ngựa. Vừa ngốn đẫy bánh mì thịt và chiêu bằng thứ cà phê tồi Bin Móng ngựa vừa nói:
    - Bữa nay tao trông thấy con thiên lý mã đó, mà lại gần đến mức có thể tóm lấy đuôi nó cơ chứ.
    - Thế sao sao không bắn?
    - Xuýt nữa thì bắn được.
    - Không được! Mày hãy coi chừng, không được bắn nó – một gã chăn bò có con dấu hai chữ H ngồi cuối bàn đàng kia nói chen vào – Đến kỳ thượng huyền này con ngựa đực ấy sẽ được mang con dấu của tao.
    - Nhanh chân lên kẻo mày lại tìm thấy ở mạng sườn nó một hình tam giác có dấu chấm ở giữa khi mày nghĩ đến chuyện đóng dấu nó đấy.
    - Nhưng mày gặp nó ở đâu mới được chứ ?
    - Câu chuyện thế này: Tao đi ngang qua suối Sơn dương và bỗng nhiên thấy trên bùn khô ở giữa đám lau sậy có một vật gì đó đang nằm. Tao nghĩ đó là một con bò nào đó trong đàn gia súc của chúng ta, tao bèn lại gần và trông thấy rõ một con ngựa nằm sóng soài. Gió thổi từ phía nó lại, bởi thế tao mới tiến sát tới bên. Và tao nhìn thấy cái gì nào? Đó là con thiên lý mã, nằm bất động như chết rồi! Tuy nhiên nó không bị trương lên như vẫn thấy ở xác chết, mà tao cũng không thấy nó bị thương. Vả lại thân thể nó không thấy bốc mùi hôi thối. Tao chưa biết nghĩ sao thì bỗng thấy nó phe phẩy cái tai để đuổi một con ruồi vừa đậu vào. Thế là tao hiểu rằng nó chỉ ngủ thôi, tao liền rút dây thòng lọng ra cuộn lại, nhưng phát hiện ra rằng dây bị cọ đứt nhiều chỗ. Tao chỉ có mỗi một cái đai bụng ngựa, và tao đã nghĩ kĩ: con ngựa của tao chỉ nặng gần 700 funto trong khi con ngựa đực nặng tới 1200 funto. Vì thế tao tự bảo: “Không đáng mạo hiểm, mình chỉ tổ làm đứt đai bụng ngựa, đo đất và làm mất yên cương”. Tao bèn đập cán roi vào cái mỏ yên – và… giá mà chúng mày được thấy con ngựa hoang! Nó nhảy dựng lên chừng sáu foot và ba chân bốn cẳng bỏ chạy, mồm thở phì phì như đầu máy xe lửa. Nó trợn trừng mắt và phóng thẳng hướng Califonia. Có thể nó đã đang ở nơi đó rồi nếu như cứ giữ nguyên tốc độ phi ấy. Còn tao thì xin cứ đâm đầu xuống đất ở chỗ này thôi nếu như có dù chỉ một lần nó bước chệch cái nước kiệu của nó.
    Toàn bộ câu chuyện không phải là được kể lại một cách rành mạch như vậy, bởi vì Bin vừa kể vừa đệm hàng lô những lời tục tĩu, hơn thế nữa y vẫn sốt sắng nhai và nuốt thức ăn một cách rất ngon lành và chẳng thấy xấu hổ khi ăn nói nhồm nhoàm. Mọi người đều tin y vì Bin có được tiếng là con người thật thà. Trong số những người có mặt chì một mình lão Bàn chân gà không nói câu nào, nhưng dường như là lão nghe chăm chú hơn tất cả mọi người bởi vì chính câu chuyện đã gợi cho lão một kế hoạch mới.
    Hút xong tẩu thuốc su bữa ăn lão cân nhắc kỹ lưỡng kế hoạch từ đầu đến cuối, và khi đã khẳng định rằng một mình lão chẳng làm nổi trò trống gì thì lão đã tiết lộ bí mật của mình cho Bin Móng ngựa nghe. Thế là kết bạn với nhau để đi bắt con thiên lý mã, hay nói cách khác là để đi lĩnh phần thưởng năm ngàn đô la mà người ta đã hứa tặng cho những người bắt được con ngựa.
    Suối Sơn dương thành nơi uống nước ưa thích của con ngựa hoang. Mực nước đã rút xuống, giữa đám lau sậy và vũng nước hình thành một vành đai đất bùn đen khô ráo rộng rãi. Lũ thú đi xuống vũng nước đã mở ra hai đường mòn cắt ngang vành đai đất bùn đó ở hai nơi. Bầy ngựa và thú rừng ưa thích đi theo mấy lối mòn này hơn, con lũ bò thường đi xuyên thẳng qua bãi lau sậy.
    Ngang qua con đường mòn được qua lại nhiều hơn, những người săn ngựa đào một cái hố dài 15 foot, rộng 6 foot và sâu 7 foot. Họ buộc phải làm việc liên tục hai mươi giờ không nghỉ ngơi, vì cần phải hoàn thành công việc trong khoảng thời gian giữa hai lần uống nước của bọn ngựa. Công việc rất nặng nhọc. Khi cái hố đã đào xong, họ khéo léo ngụy trang nó bằng đất và cành cây khô để cho không còn nhận ra được nữa. Xong đâu đấy những người săn ngựa nấp trong mấy cái hố đào sẵn cho họ cách đó không bao xa.
    Khoảng gần trưa con thiên lý mã xuất hiện gần nơi uống nước. Bây giờ nó chỉ có một mình bởi vì đàn của nó đang bị cầm giữ. Căn cứ vào dấu chân thì lũ ngựa ít khi đi theo con đường mòn thứ hai. Nhưng dù sao lão Tom cũng đã cẩn thận quẳng nhiều lau sậy lên đó để buộc con thiên lý mã phải đi theo con đường mòn đã đào sẵn hố.
    Vị thần thiện cảnh giác nào che chở cho lũ thú hoang? Ngược lại mọi sự mong đợi, con thiên lý mã chọn con đường mòn thứ hai. Nó bình thản đi đến bên bờ nước và bắt đầu uống.
    Những người đi săn chỉ còn giải pháp cuối cùng. Lúc con thiên lý mã cúi xuống uống nước lần thứ hai, Bedser và Smith nhảy ra khỏi hố nấp, nhanh chóng chạy vòng ra sau lưng con ngựa hoang, và khi nó vừa ngửng cái đầu kiêu hãnh lên thì Smith bắn ngay một phát súng lục xuống đất phía sau chân nó.
    Con ngựa hoang cất nước kiệu lừng danh của nó lao thẳng đến chỗ cạm bẫy đặt sẵn chờ nó. Chỉ một giây nữa là nó sẽ phải sa xuống hố! Kìa, nó đang chạy trên con đường mòn có cái hố ngụy trang… Những người đi săn coi như đã bắt được nó. Chẳng mấy chốc nữa nó sẽ rơi vào tay họ.
    Nhưng một việc khó tin đã xảy ra. Bằng một cú nhảy mạnh con thiên lý mã đã vượt qua hố rồi gõ móng dồn dập lên mặt đất và biến mất hút. Nó phóng vút đi để không bao giờ trở lại suối Sơn dương nữa.

    V.
    Anh chàng Jo thô lỗ là một người tháo vát. Gã muốn bằng giá nào cũng phải bắt bằng được con ngựa hoang, và khi biết có những người khác cũng theo đuổi công việc đó thì gã liền bắt tay ngay vào việc thực hiện một kế hoạch mới. Jo quyết định áp dụng phương pháp mà sói đồng cỏ vẫn dùng để bắt con thỏ chạy nhanh và người da đỏ dùng để bắt sơn dương. Phương pháp cũ kỹ này gọi là “săn tiếp sức”.
    Khu vực con ngựa thường sống tạo thành một hình tam giác co diện tích chừng sáu mươi dặm vuông, giới hạn ở phía nam và phía bắc bởi những con sông và ở phía tây là những dãy núi. Rõ ràng là con ngựa hoang không bao giờ đi quá ranh giới vùng đó, và suối Sơn dương luôn luôn được dùng làm nơi trú chân chủ yếu của nó.
    Jo biết khá rõ địa thế khu vực này. Gã nghiên cứu tất cả các nguồn nước và khe núi. Giá như gã có khả năng kiếm được năm chục con ngựa tốt thì gã đã bố trí để có ngựa đợi sẵn ở tất cả các điểm quan trọng. Nhưng trong tay gã chỉ có hai chục con ngựa tốt và năm kỵ sĩ thành thạo.
    Bầy ngựa được cho ăn kiều mạch trong hai tuần lễ liền trước khi mở cuộc săn. Rồi chúng được lệnh xuất phát và mỗi kỵ sĩ đều được chỉ thị cặn kẽ cần phải làm gì. Họ đã có mặt tại chỗ của họ mấy ngày trước khi bắt đầu cuộc săn đuổi.
    Tới ngày đã định, Jo đi xe ngựa đến suối Sơn dương và dừng xe lại ở bên trong một thung lũng nhỏ rồi gã bắt đầu chờ đợi.
    Cuối cùng từ vùng đồi cát phía nam xuất hiện con ngựa đực đen như than, nó ung dung xuống suối uống nước, vẫn đơn độc như mọi khi. Thoạt tiên nó đi một vòng quanh suối, đánh hơi xem có kẻ thù nào ẩn nấp ở đó không. Sau đó nó tiến đến bờ nước ở đúng chỗ hoàn toàn chẳng có một lối mòn nào và bắt đầu uống.
    Jo nhìn nó và mong nó uống thật nhiều, cả một thùng đầy nước càng tốt. Nhưng con ngựa hoang vừa mới quay lại gặm cỏ Jo đã thúc con ngựa của mình tiến ra. Con ngựa hoang nghe tiếng móng gõ, nhìn thấy người kỵ sĩ liền phóng vút đi.
    Đến vùng dồng bằng nó ngoặt sang hướng nam, bước phi lừng danh của nó hơi chựng lại để lấy đà, nhưng đến vùng đồi cát thì nó đã phi nhanh như tên bắn, và khoảng cách giữa nó với người truy đuổi nó đã càng ngày càng tăng. Còn con ngựa của Jo mang người cưỡi quá nặng cứ mỗi bước chân lại lún trong cát và tụt lại sau mỗi lúc một xa.
    Chạy quá chút nữa đến vùng bình nguyên con ngựa của Jo đã có thể bù lại chút ít khoảng cách đã mất, nhưng sau đó bắt đầu là một cái dốc dài gã không dám cho ngựa phi hết sức thế là lại tụt lại phía sau.
    Tuy vậy Jo vẫn tiếp tục truy đuổi con thiên lý mã, vung roi quất và thúc cựa giày vào con ngựa của mình không thương tiếc. Một dặm, rồi một dặm nữa, lại một dặm nữa. Vách núi Ariba đã hiện lên ở phía xa xa.
    Tại nơi đó đã có những con ngựa tươi tắn đang đợi Jo, và gã lại tiếp tục phi nhanh với nguồn năng lượng dồi dào mới. Nhưng cái bờm ngựa đen như bóng đêm bay phất phới theo chiều gió mỗi lúc một bỏ xa gã.
    Cuối cùng rồi cũng tới khe núi Ariba. Gã chăn bò gác ở đó đã nấp kín và con ngựa hoang phi vút. Thoạt tiên nó bay xuống dưới dốc như cơn lốc sau đó nó lao vút lên theo đường dốc vẫn với cái nước kiệu như cũ.
    Jo nhảy lên lưng một con ngựa mới, lao theo xuống dốc rồi lại phóng ngược lên. Gã cứu thúc cựa giày vào con ngựa, phi mãi, phi mãi, nhưng không làm sao rút ngắn nổi khoảng cách thêm lấy một bước nào nữa.
    Lốp cốp, lốp cốp, lốp cốp – tiếng móng ngựa cứ gõ đều đặn. Một giờ trôi qua, một giờ nữa, lại một giờ nữa – và phía trước mặt đã là con sông Alamodo, nơi đó một trạm tiếp sức đang đợi Jo. Gã quát tháo con ngựa của mình, thúc giục nó bằng mọi cách. Con ngựa ô đang phi đến nơi định sẵn nhưng bất thình lình khi chỉ còn cách nơi đó chừng hai dặm thì nó quay ngoắt sang phía trái cứ như linh cảm thấy trước mối nguy hiểm nào đó vậy. Jo lo ngại con ngựa hoang có thể tuột khỏi tầm tay nên ra sức quất con ngựa đã mệt lử của mình nhằm hướng con ngựa hoang bằng bất cứ giá nào về phía trạm tiếp sức. Đó là một cuộc đua ngựa vô cùng vất vả. Jo thở hổn hển. Da yên ngựa nghiến cót két trên mỗi bước phi. Jo phi như bay theo đường tắt, tưởng chừng sắp đuổi kịp con thiên lý mã. Gã rút súng ra, bắn hết viên nọ đến viêng kia làm bụi tung mù mịt, và cuối cùng đã xua được con ngựa hoang quay sang phía bên phải đến chỗ bến qua sông.
    Và thế là họ đã đến bên bờ sông. Con ngựa hoang tiếp tục chạy, còn Jo thì nhảy xuống đất. Ngựa gã đã hoàn toàn kiệt sức sau khi phia nhanh ba mươi dặm, và chính bản thân Jo cũng chẳng khá hơn. Mắt gã sưng lên vì bụi cay xè, và gã hầu như không trông thấy gì đằng trước mà chỉ vẫy tay kêu với Tom để lão đuổi theo con ngựa hoang đến chỗ nông qua sông Alamodo.
    Người kỵ sĩ mới phi nước đại trên con ngựa khỏe mạnh, dẻo dai hết lên lại xuống suốt vùng đồi núi, còn con ngựa ô thì phi đàng trước. Nó sùi bọt mép trắng như tuyết, hơi thở phì phò và hai bên sườn bốc hơi dữ dội chứng tỏ nó đang trải qua những giờ phút không nhẹ nhàng gì. Nhưng dù thế nào đi nữa nó vẫn tiếp tục chạy.
    Thoạt đầu dường như Tom chiếm ưu thế về khoảng cách nhưng về sau lão đã tụt lại. Đến gần sông Alamodo một người khác cưỡi con ngựa mới tinh đã thay thế lão. Con ngựa hoang và người rượt đuổi nó rẽ sang hướng tây và phóng qua cả nơi trú ngụ của bầy ngan thử lẫn những bụi rậm gai góc và những cây xương rồng cào rách cả quần áo.
    Con ngựa ô đẫm mồ hôi và bụi đã chuyển sang màu tía hồng, nhưng vẫn không hề rối nước kiệu. Gã trai Kepinton đuổi theo nó đã làm con ngựa của hắn mệt nhoài ngay từ đầu, bây giờ lại muốn bắt nó nhảy qua một cái mương xói nhỏ mà con ngựa ô định chạy vòng qua. Một động tác không chính xác – cả kỵ sĩ lẫn con ngựa lăn nhào xuống dưới. Gã trai thót chết nhưng con ngựa bị dập thương nặng, còn con ngựa ô hoang vẫn cứ tiếp tục chạy xa hơn…
    Việc này xảy ra gần trang trại của cụ Galego, nơi Jo đã kịp nghỉ lấy lại sức đang đợi sẵn. Chưa đến nửa giờ sau gã đã lại tiếp tục đuổi theo con thiên lý mã.
    Xa xa về phía tây đã thấp thoáng thấy dãy núi Carlot. Những người và ngựa khỏe khoắn đang đợi Jo tại đó. Người kỵ sĩ không biết mệt là gì biết rõ điều đó cho nên cố sức hướng con ngựa hoang đi về phía tây. Nhưng con thiên lý mã như chợt nảy ra một ý nghĩ ngông cuồng hoặc là do linh tính mách bảo nên đã quay ngoắt sang hướng bắc. Mọi mưu mô của Jo hóa thành vô dụng; Gã thúc ngựa không thương tiếc, gào thét và bắn loạn xạ, nhưng vệt sao băng đen đã lao vút xuống dưới dọc theo một sườn đồi và Jo chẳng còn cách nào khác là đuổi theo sau nó.
    Thế là bắt đầu giai đoạn vất vả và nặng nề nhất của cuộc rượt đuổi. Jo tuy đã đối xử tàn nhẫn với con ngựa hoang nhưng đối với con ngựa của mình và cả chính bản thân mình gã còn tàn nhẫn hơn nhiều. Mặt trời thiêu đốt dữ dội, hơi nóng ngùn ngụt bao phủ khắp bình nguyên bỏng rẫy. Mắt Jo đỏ ngầu, môi gã nứt nẻ vì bụi mặn chát. Vậy mà cuộc rượt đuổi vẫn còn phải tiếp tục. Giải pháp cuối cùng để đi đến kết quả là làm sao xua được con ngựa hoang quay lại chỗ bãi sông Alamodo.
    Lần đầu tiên trong suối thời gian rượt đuổi Jo nhận thấy con ngựa ô có dấu hiệu mệt mỏi. Đuôi và bờm nó không còn tung bay phất phới như trước nữa, và khoảng cách ngắn ngủi chừng nửa dặm giữa nó với Jo đã rút xuống còn có một nửa. Nhưng nó vẫn cứ chạy phía trước, chạy mãi, chạy mãi với nước kiệu như cũ….
    Một giờ trôi qua, rồi lại thêm một giờ nữa, nhưng con ngựa vẫn cứ phi mãi. Tuy nhiên cả ngựa và người đuổi đã rẽ ngoặt được khỏi hướng thẳng trước. Đến chiều, sau khi chạy được trọn hai mươi dặm, họ đến gần bãi nông rộng qua sông Alamodo. Lúc này chính Jo lại muốn tự mình tiếp tục đuổi nên gã nhảy phắt sang một con ngựa khỏe đang đợi sẵn và tiếp tục phóng đi.
    Con ngựa gã bỏ lại, thở hắt ra, lao xuống nước và uống cho đến lúc gục xuống chết.
    Jo chùng chình giây lát, hy vọng con ngựa ô cũng uống. Nhưng sự việc không diễn ra như gã muốn! Nó chỉ hớp một hớp nước rồi lội oàm oạp sang bờ sông bên kia. Jo phi theo sát gót. Trước khi cả hai cùng mất ghút, những người chăn bò đứng gần bãi nông còn kịp nhận thấy rằng khoảng cách giữa con ngựa ô và người đuổi đã rút ngắn rõ rệt và con ngựa của Jo cứ nỗi lúc một đuổi gần hơn con ngựa ô…
    Sáng hôm sau Jo đi bộ trở về lều. Câu chuyện của gã rất ngắn gọn: tám con ngựa ngã gục, năm người hoàn toàn kiệt sức, còn con thiên lý mã phi thường vẫn nhở nhơ tự do như trước.
    - Chẳng biết làm thế nào nữa! Không thể đuổi kịp nó. Chỉ tiếc là tao đã không chọc thủng bộ da đáng nguyền rủa của nó khi mà tao có thể làm được điều ấy! Jo tuyên bố và từ đó về sau gã đoạn tuyệt với mọi mưu toan tóm bắt con thiên lý mã.


    VI.
    Trong chuyến săn cuối cùng này lão Bàn chân gà lại được chọn làm đầu bếp. Lão theo dõi cuộc rượt đuổi cũng thích thú như tất cả mọi người, nhưng khi Jo đại bại thì lão chỉ cười gằn, và liếc nhìn cái chảo mà lầm bầm giọng mũi:
    - Nếu con ngựa hoang này không rơi vào tay tao thì cứ để cho mọi người nguyền rủa tao đi!
    Do liên tục bị truy đuổi nên con thiên lý mã càng trở nên hoang dại hơn. Nhưng dù thế nào đi nữa nó cũng vẫn cứ quay về suối Sơn dương. Đó là nguồn nước uống duy nhất nằm trên một khu vực hoàn toàn quang đãng – trong khoảng một dặm quanh đó không có chỗ nào để kẻ thù có thể ẩn nấp được. Con ngựa hoang đến đây hàng ngày vào lúc gần trưa và chỉ tiến lại gần suối nước sau khi đã tin chắc là không có gì đe dọa nó.
    Bị mất đàn nó sống độc thân suốt mùa đông, Lão Bàn chân gà biết rõ điều đó và đã dựa vào đấy để xây dựng kế hoạch của mình. Một người bạn của lão có con ngựa tía cái tuyệt đẹp. Sau khi chuẩn bị đầy đủ dây buộc chân ngựa, xẻng, dây thòng lọng dự trữ và một cái cọc bự, lão đầu bếp già đóng yên con ngựa cái đó và cưỡi nó đi về phía suối.
    Một vài con sơn dương trông thấy lão, kinh hãi phóng mất hút, lũ bò nằm trên cỏ, chim sơn ca hót líu lo. Mùa đông sáng sủa, không có tuyết rơi đã trôi qua trên vùng bình nguyên này, và mùa xuân đang hối hả đến gần.
    Tom buộc chân con ngựa tía cái bé nhỏ và thả cho nó gặm cỏ, nhưng nó không ngừng ngẩng đầu lên cất tiếng hí kéo dài kêu gọi.
    Lão Bàn chân gà kiểm tra hướng gió thổi và xem xét kỹ xung quanh. Ở đó vẫn còn cái hố mà lão đã nhờ đào giúp trước đây. Bây giờ nó mở toang hoác và đầy ắp nước tù đọng. Mặt nước có lũ chuột và ngân thử chết nổi lềnh bềnh. Thú vật đến uống nước đã mở một con đường mới vòng qua hố.
    Lão đầu bếp chọn một đám lau sậy gần một khu đất trũng bằng phẳng xanh rờn, đóng sâu cái cọc xuống đất, sau đó đào một cái hố đủ to để có thể nấp trong đó, và trải cái chăn của mình xuống đáy hố.
    Lão rút ngắn dây buộc chân con ngựa tía lại chỉ để cho nó vừa đủ di chuyển chút ít, rồi rải dây thòng lọng ra đất, buộc đầu dài vào cái cọ và lấy đất cùng cỏ phủ kín dây thừng. Làm xong mọi việc lão tụt xuống cái hố của mình.
    Đến gần trưa tiếng hí gọi của con ngựa cái cuối cùng đã được đáp lại. Một tiếng hí khác vang lên từ ngọn đồi phía tây và con ngựa hoang lừng danh hiện ra, nổi bật màu đen trên nền trời.
    Nó tiến lại gần với nước kiệu gõ đều đặn, nhưng thường xuyên dừng lại với vẻ nghi ngờ, nhìn trước ngó sau và đánh tiếng. Tiếng hí của con ngựa cái có lẽ đã làm xao xuyến trái tim nó. Nó chạy đến gần, lại hí lên, nhưng bỗng dưng lo lắng và chạy vòng quanh, hai lỗ mũi đánh hơi tìm những mùi khả nghi. Nhưng con ngựa tía cái lại hí vang. Con ngựa hoang chạy thêm một vòng nữa rồi tiến lại gần hơn và cũng hí lên. Tiếng hí đáp lại của con cái chắc đã át mọi nỗi sợ hãi và trái tim nó bừng cháy.
    Nó vừa vờn vừa tiến sát lại gần con ngựa cái cho đến lúc hai mũi chạm nhau. Nhưng đúng lúc đó trong nháy mắt nó dẫm chân sau lên cái nút dây thòng lọng giết người. Lão Tom nhanh tay rút dây thừng, cái nút thắt lại và con ngựa hoang bị tóm gọn. Nó kinh hoàng nhảy bật lên cao, nhưng lão Tom lợi dụng cơ hội đó quấn chặt thêm cuộn dây thừng lần nữa chung quanh đôi chân cường tráng.
    Nỗi sợ hãi tăng sức lực con ngựa lên gấp đôi, Nó giật lùi nhưng sợi dây thừng không chịu thua nó, và nó phục xuống, bất lực, chịu bị đánh bại.
    Lão Tom nhô cái thân hình còng còng, xấu mã lên khỏi miệng hố, và vội vã củng cố thắng lợi của mình trước tạo vật tuyệt diệu của thiên nhiên. Bắp thịt của con ngựa đã tỏ ra bất lực trước trí khôn và tài sáng tạo của lão già bé nhỏ, yếu ớt. Con ngựa hoang thở phì phì và vùng vẫy một cách tuyệt vọng để vuột ra, nhưng mọi sự đều vô ích: sợi dây thừng đã cột chặt nó lại.
    Tom khéo léo quăng dây thòng lọng thứ hai chụp lấy hai chân trước con ngựa và dùng một động tác điêu luyện rút cả bốn chân nó cùng một lúc. Chỉ một phút sau con vật đang phát khùng đã nằm dài trên mặt đất, bất lực và bị trói chặt như một con lợn đực thiến.
    Con thiên lý mã bất hạnh còn tiếp tục giãy dụa hồi lâu cho đến khi hoàn toàn kiệt sức. Toàn thân nó rung lên vì những tiếng thổn thức mãnh liệt, và những giọt nước mắt lăn dài trên má. (Tội quá, ai bảo cứ mê gái cơ ^.^)
    Tom đứng nhìn và bỗng một cái gì là lạ trào dâng trong tâm hồn người chăn bò già. Toàn thân lão run rẩy, một điều chưa hề bao giờ xảy ra với lão kể từ khi lão ném chiếc thòng lọng đầu tiên để tóm con bò đực thứ nhất trong đời. Còn bây giờ lão mất đến mấy phút không thể rời khỏi chỗ đứng và cứ trân trân nhìn kẻ bị cầm tù phi thường của mình.
    Tuy thế cái cảm giác đó tan biến rất nhanh. Tom đóng yên con ngựa cái – kẻ đã giữ một vai trò vô cùng nguy hiểm, và cầm chiếc dây thòng lọng mới quàng vào cổ con ngựa hoang. Lão để con ngựa cái bên cạnh con ngựa đực. Khi đã hoàn toàn tin rằng con ngựa hoang không thể tuột khỏi tay lão, Tom đã định tháo dây thừng, nhưng lúc đó lão chợt nhớ ra một việc. Quả là lão đã quên khuấy một điều quan trọng và đã bắt tay vào công việc mà không có đủ mọi trang bị cần thiết.
    Theo luật lệ, ngựa hoang thuộc quyền sở hữu của người đầu tiên đóng con dấu của mình lên nó. Nhưng làm sao thực hiện được điều này khi mà trong vòng hai mươi dặm gần đây chẳng kiếm đâu ra dụng cụ để đóng dấu lên súc vật?
    Nhưng lão Tom là người nhanh trí. Lão lại gần con ngựa cái của mình, xem xét kỹ các móng sắt của nó. Đúng, có một cái móng không được chắc cho lắm. Tóc móc cái xẻng vào và nạy bật cái móng đó ra.
    Tìm củi đốt trên bình nguyên này chẳng phải là chuyện khó, và một thoáng sau ngọn lửa đã cháy rực. Tom cầm một đầu cái móng ngựa đã được bọc trong chiếc khăn mù soa của mình và nung đầu kia vào lửa đến đỏ rực. Sau đó lão dí cạnh bên cái móng đã nung đỏ lên vai trái con ngựa hoang nằm bất lực ba lần thành một cái gì đó thô thiển giống con dấu vết chân gà được lão dùng lần đầu tiên trong đời, cứ như trước đây lão không hề nói khoác chút nào vậy.
    Con ngựa hoang rùng mình lúc miếng sắt nung đỏ chạm vào nó. Nhưng sự việc diễn ra nhanh chóng, và thế là con thiên lý mã đã có chủ.
    Bây giờ chỉ còn có việc đưa nó về nhà. Tom tháo thừng ra. Con ngựa hoang cảm biết được điều đó, nó tưởng đã được tự do bèn đứng phắt ngay dậy và xốc tới, nhưng nó lại đổ vật xuống đất. Hai chân trước của nó đã bị buộc chặt với nhau. Và nó chỉ có thể cử động được theo cách nhảy bật lên. Nếu nó định chạy thì những cái chân bị buộc túm sẽ cản trở và nó sẽ ngã nhào. Tom cưỡi trên con ngựa cái và cố dắt nó theo sau. Lão lôi nó, thúc giục nó, cưỡng bách nó đi bằng được, nhưng tên tù cứng đầu cứng cổ, sùi đầy bọt mép không chịu khuất phục. Nó hí lên man dại và thở phì phì giận dữ, nó nhảy nhót điên cuồng và cố vùng vẫy thoát ra.
    Đó là một cuộc đọ sức kéo dài và tàn nhẫn. Hai bên sườn bóng láng của con ngựa hoang đẫm mồ hôi lẫn máu tươi. Những cái ngã dồn dập và cuộc đấu tranh vô ích hút kiệt sức nó, và ngay một cuột rượt đuổi kéo dài suốt ngày cũng không thể làm nó phờ phạc được đến như vậy. Nó cứ lao hết bên này đến bên kia, nhưng những cú nhảy cuồng nhiệt của nó cũng yếu dần đi và một đám bọt lẫn máu tươi bắn vọt từ mũi nó ra ngoài. Nhưng kẻ chiến thắng không hề biết thương xót, độc đoán và bình tĩnh, vẫn cứ thúc giục nó, bắt nó bước tiếp.
    Hai bên giằng co nhau từng bước và đã đi hết con đường dốc đến đầu một con đường mòn dẫn xuống hẻm vực. Nơi đây là ranh giới phía bắc cuối cùng của vùng lãnh địa trước đây của con thiên lý mã. Từ đây đã nhìn thấy rõ nhựng ruộng vườn và trang trại. Lão Tom hoan hỉ, nhưng con ngựa hoang đã thu hết sức tàn để thực hiện ý đồ tuyệt vọng lần chót quay về với tự do: nó lao vút lên phía trên theo sườn dốc. Nó cứ leo lên cao mãi, cao mãi, chẳng thèm để ý đến cả sợi dây thừng trói buộc chân nó lẫn phát súng mà lão Tom bắn với hy vọng hão huyền có thể khiến nó dừng bước, buộc nó phải quay trở lại.
    Con ngựa hoang cứ lao lên mãi, lên mãi và tới được mỏm đá dựng đứng. Từ trên đó nó lao xuống vực thẳmg, bay hết hai trăm foot, bay mãi, bay mãi, cho đến khi đập vào đá tan xác ra. Nó nằm lại đó, tắt thở, nhưng… được tự do.
     
    Newsun thích điều này.
Đang tải...

Chia sẻ cùng bạn bè

Đang tải...
TOP