Hoàn Không Có Gì Mãi Mãi- Sidney Sheldon

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
MỞ ĐẦU
SAN FRANCISCO
Mùa xuân - 1995
Chưởng lý quận Carl Andrew đang cáu kỉnh:
- Chuyện chết tiệt gì thế này? - ông ta nói. - Ba bác sĩ sống chung phòng và làm việc trong cùng một bệnh viện. Một người khiến cho bệnh viện suýt phải đóng cửa, người thứ hai giết bệnh nhân vì một triệu đô-la, còn người thứ ba thì lại bị giết.
Andrew ngừng lại, hít một hơi rõ dài:
- Mà lại rất là đàn bà! Ba con mụ bác sĩ trời đánh! Báo chí đãi đằng chúng cứ như những danh nhân. Nào Chương trình 60 phút. Nào thì phóng sự đặc biệt của Barbara Walters. Tôi không thể cầm một tờ báo hay tạp chí nào lên mà không phải nhìn ảnh hay đọc bài viết về chúng. Chẳng mấy đâu, rồi Hollywood sẽ tung ra một bộ phim biến ba con mụ này thành những nữ kiệt? Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu Chính phủ trưng mặt các ả lên tem bưu điện như Presley vậy. Ôi, lạy Chúa, thật chịu hết nổi! - Ông ta giáng một quả đấm xuống bức hình người đàn bà in trên bìa tạp chí Time. Dòng tít viết: "Bác sĩ Paige Taylor - Thiên thần từ bi hay đồ đệ của ác quỷ?"
- Bác sĩ Paige Taylor, - giọng ông chưởng lý quận đầy ghê tởm. Ông ta quay sang Gus Venable, viên chánh công tố. - Tôi giao vụ này cho anh đấy, Gus. Tôi muốn kết án. Tội sát nhân. Phòng hơi ngạt.
- Đừng lo, - Gus Venable trầm giọng, - cứ để nó cho tôi.
Ngồi trong phòng xử án nhìn bác sĩ Paige Taylor, Gus Venable nghĩ: Cô ta lẩn tránh toà. Rồi ông ta tự cười mình. Không ai có thể lẩn tránh được toà. Cô ta dáng cao, thon thả, với đôi mắt nâu huyền nổi bật trên gương mặt nhợt nhạt. Một người quan sát thờ ơ chắc chỉ xem cô ta như một loại đàn bà quyến rũ. Người tinh ý hơn mới nhận thấy còn những điều khác.
Đó là tất cả những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời cùng tồn tại trong cô ta. Nét hớn hở vui tươi của đứa bé thêm vào vẻ băn khoăn e lệ của tuổi hoa niên và sự khôn ngoan, nỗi đau khổ của đàn bà. Có một vẻ ngây thơ nơi cô ta. Cô ta là cô gái mà một người đàn ông có thể lấy làm hãnh diện dẫn về giới thiệu với cha mẹ mình, Gus nghĩ mỉa mai, nếu cha mẹ anh ta hợp gu với những tên giết người m.áu lạnh.
Có một nét gì xa xăm, gần như huyền bí trong mắt cô ta, một vẻ gì đó nói lên rằng bác sĩ Paige Taylor đã lùi sâu vào nội tâm, tới một thời gian khác, một nơi chốn khác, xa khỏi phòng xử án lạnh lùng, cằn cỗi, nơi cô ta đã bị đẩy vào.
Phiên xử diễn ra tại Toà Công lý San Francisco tôn nghiêm, cổ kính trên phố Bryant. Nơi đặt toà án tối cao và nhà tù tiểu bang là một công trình trông đầy hăm doạ, cao bảy tầng, bằng đá vuông, xám xịt.
Khách đến dự phiên toà được lùa qua một dãy hành lang kiểm soát điện tử. Trên gác, tầng ba, là phòng xử án. Trong phòng 121, nơi xét xử những vụ giết người, ghế quan toà tựa sát mặt tường chính diện, đằng sau là lá cờ nước Mỹ. Bên trái là chỗ ngồi của bồi thẩm đoàn, chính giữa đặt hai bàn được ngăn bằng lối đi, một bàn dành cho luật sư bên nguyên, bàn kia dành cho luật sư bên bị.
Phòng xử án đã chật ních phóng viên và đầy ắp loại khán giả say mê dự các phiên toà xử tai nạn giao thông trên đường cao tốc và tội giết người. Trong các phiên xử tội giết người, đây là vụ hấp dẫn nhất. Chỉ riêng Gus Venable, luật sư công tố, cũng đáng để xem rồi. Ông ta to cao lừng lững, với bờm tóc xám, chòm râu dê, và cung cách lịch lãm của một điền chủ miền Nam, mặc dù ông chưa bao giờ ở miền Nam cả. Ông có vẻ mặt ngơ ngác vô tư và bộ óc của một cỗ máy tính. Nhãn hiệu của ông ta, đông cũng như hè là bộ complê trắng khoác ngoài chiếc sơ-mi cổ hồ cứng đã lỗi thời.
Alan Penn, luật sư của Paige Taylor, là sự tương phản với Venable, một con người rắn chắc, năng nổ, lừng danh bới tài gỡ tội cho các thân chủ của mình.
Hai luật sư này không bao giờ thiếu cơ hội để đối mặt nhau trước toà án và q.uan hệ của họ là sự nể trọng nhau miễn cưỡng và ngờ vực nhau hoàn toàn.
Venable ngạc nhiên khi thấy Alan Penn đến gặp ông vào tuần trước khi phiên xử bắt đầu.
- Hãy cảnh giác với những tay thầy cãi có tài.
- Anh đang mưu tính chuyện gì thế, Alan?
- Nghe đây, tôi chưa bàn với thân chủ của tôi, nhưng giả sử, chỉ giả sử thôi, tôi có thể thuyết phục cô ta nhận tội để xin giảm án và đỡ cho nhà nước một khoản án phí, thì sao?
- Anh định thương lượng với tôi đấy à, Alan? - Gus Venable với tay xuống bàn giấy, lục lọi - Chẳng thấy cuốn lịch chết tiệt của tôi đâu cả. Hôm nay ngày bao nhiêu nhỉ?
- Mùng 1 tháng Sáu. Sao?
- Khoan nào, tôi cứ tưởng phải là Giáng sinh cơ đấy nếu không anh đã chẳng hỏi xin một món quà như vậy.
- Gus…
Venable nhoài người về phía trước.
- Anh biết không, Alan, bình thường thì tôi có thể bị anh thuyết phục rồi đấy. Nói thật, bây giờ tôi khoái đi câu ở Alaska hơn. Nhưng câu trả lời là không. Anh biện hộ cho một tên sát nhân tàn nhẫn đã vì tiền mà giết một người bệnh bất lực. Tôi đề nghị án tử hình.
- Tôi nghĩ cô ta vô tội, và tôi…
- Không, anh không nghĩ thế đâu. Và không ai có thể làm cho bất cứ ai nghĩ như thế. Trường hợp rõ mười mươi rồi. Khách hàng của anh tội lỗi như Cain (1) vậy.
- Chưa đâu, chừng nào bồi thẩm đoàn chưa kết tội.
- Họ sẽ, - Gus để một khoảng lặng, - họ sẽ kết tội thôi.
Sau khi Alan Penn ra về, Gus Venable ngồi nghĩ lại về cuộc đối thoại vừa xảy ra. Việc Penn đến gặp ông là một dấu hiệu của sự thất bại. Penn hẳn đã hiểu mình ít có cơ thắng nổi vụ này. Venable nghĩ về những chứng cớ không thể chối bỏ mà ông đang nắm cùng các nhân chứng ông sẽ gọi ra thẩm vấn và ông thấy hài lòng.
Không còn nghi ngờ gì nữa, bác sĩ Paige Taylor sẽ vào phòng hơi ngạt.
***
Không phải dễ mà chọn được một bồi thẩm đoàn cho các vụ án nghiêm trọng. Nhất lại là vụ Paige. Nó đã chiếm lĩnh các tít lớn trên trang nhất hàng tháng liền. Sự nhẫn tâm của nó đã gây nên một làn sóng giận dữ.
Chủ toạ phiên toà là Venable Young, một luật gia người da đen tài năng, nghiêm khắc, nghe đồn sắp được bổ nhiệm vào Toà án Tối cao Liên bang. Bà không được tiếng kiên nhẫn với các luật sư, và dễ nổi nóng. Đã có một câu cách ngôn trong giới thầy cãi ở San Francisco. Nếu khách hàng của anh có tội và anh đang trông chờ sự khoan dung, hãy tránh xa phòng xử án của thẩm phán Young.
Hôm trước ngày xét xử, thẩm phán Young cho mời hai luật sư đến văn phòng của bà.
- Chúng ta sẽ đặt một số nguyên tắc cơ bản, thưa các quý ông. Bởi tính chất nghiêm trọng của phiên toà này, tôi sẽ cho các ông một vài chiếu cố để chắc chắn bị cáo được xét xử công bằng. Nhưng tôi cảnh cáo cả hai ông, chớ có mưu toan lợi dụng điều đó. Rõ chưa?
- Rõ, thưa quý toà!
- Rõ, thưa quý toà!
Gus Venable sắp kết thúc bản cáo trạng mở màn cho phiên xử.
- Thưa quý bà, quý ông trong đoàn bồi thẩm, Nhà nước sẽ chứng minh - phải, chứng minh chắc chắn bác sĩ Paige Taylor đã giết bệnh nhân của mình. Và cô ta không chỉ phạm tội giết người, mà còn giết người vì tiền… một số tiền lớn. Cô ta giết John Cronin vì một triệu đô-la.
- Hãy tin tôi, sau khi nghe tất cả bằng chứng, quý vị sẽ dễ dàng thấy tội lỗi của bác sĩ Paige Taylor là ở mức độ cao nhất. Xin cảm ơn.
Bồi thẩm đoàn ngồi im lìm, vẻ chờ đợi.
Gus Venable quay về phía chánh án.
- Thưa, nếu toà cho phép tôi xin được gọi nhân chứng thứ nhất, Gary Williams.
Khi nhân chứng đã tuyên thệ, Gus Venable hỏi:
- Anh là nhân viên phục vụ ở bệnh viện Embarcadero Country?
- Vâng, đúng vậy.
- Có phải anh làm việc ở phòng bệnh số Ba, nơi John Cronin được đưa vào năm ngoái?
- Vâng.
- Anh có thể cho biết ai là bác sĩ phụ trách trường hợp của bệnh nhân John Cronin?
- Bác sĩ Taylor.
- Anh nhận xét thế nào về mối q.uan hệ giữa bác sĩ Taylor và John Cronin?
- Phản đối! - Alan Penn đứng phắt dậy. - Phía công tố đã mớm cung cho nhân chứng.
- Chấp nhận.
- Cho phép tôi diễn đạt theo cách khác. Anh có bao giờ nghe thấy bác sĩ Taylor và John Cronin nói chuyện với nhau không?
- Ồ có chứ. Làm sao không nghe được. Tôi làm việc trong phòng bệnh liên tục mà.
- Anh có cho rằng những cuộc trò chuyện đó là thân mật không?
- Không, thưa ngài.
- Thật ư? Tại sao anh lại nói vậy?
- À tôi nhớ hôm đầu tiên ông Cronin được đưa vào và khi bác sĩ Taylor đến khám cho ông ta, ông ta đã bảo cô ấy… - Anh ta ngập ngừng. - Tôi không biết liệu tôi có thể nhắc lại lời của ông ta không?
- Cứ nói đi, anh Williams. Tôi cho là không có trẻ con trong phòng xử án này.
- Vâng, ông ta bảo cô ấy cất mẹ nó tay đi.
- Ông ta nói thế với bác sĩ Taylor?
- Vâng, thưa ngài.
- Hãy kể với toà ông còn nghe hay nhìn thấy điều gì nữa?
- Ông Cronin luôn mồm gọi bác sĩ Taylor là "con mẹ ấy", ông không muốn cho cô ta lại gần. Cứ mỗi bận bác sĩ Taylor bước vào phòng là ông ta lại nói những câu như: "Con mẹ ấy lại đến!" hoặc "Bảo con mẹ ấy để cho tôi yên", và rồi "Sao người ta không cho tôi một bác sĩ thực thụ nhỉ?
Gus Venable ngừng hỏi để nhìn sang chỗ bác sĩ Taylor ngồi, ánh mắt của cả bồi thẩm đoàn dõi theo ông. Venable lắc đầu như thể buồn bã, rồi quay lại phía nhân chứng.
- Theo anh, ông Cronin có vẻ là một người đàn ông muốn tặng một triệu đô-la cho bác sĩ Taylor không?
Alan Penn lại đứng lên.
- Phản đối! Phía công tố lại mớm cung cho nhân chứng.
Chánh án Young nói:
- Bác bỏ. Nhân chứng có thể trả lời câu hỏi?
Alan Penn nhìn Paige Taylor rồi buông mình xuống ghế.
- Đời nào. Ông ta căm ghét sự gan góc của nữ bác sĩ này.
- Bác sĩ Arthur Kane đang đứng trên bục nhân chứng. Gus Venable hỏi: - Bác sĩ Kane, ông là bác sĩ trực khi John Cronin được phát hiện là bị giết… - Đoạn Gus liếc sang chánh án Young, - bị chết bởi một liều insulin đưa vào tĩnh mạch. Đúng vậy không?
- Đúng.
- Và sau đó ông phát hiện bác sĩ Taylor là người chịu trách nhiệm về việc đó?
- Đúng thế.
- Bác sĩ Kane, tôi sẽ cho ông xem biên bản chứng tử của bệnh viện do bác sĩ Taylor ký. - Venable cầm lên một tờ giấy và đưa cho Kane. - Mời ông đọc to lên được không?
Kane đọc: "John Cronin. Nguyên nhân tử vong: Tắt thở do nhồi m.áu cơ tim gây biến chứng tác động mạch phổi".
- Còn theo ngôn ngữ ngoài chuyên môn?
- Biên bản ý nói bệnh nhân chết vì đau tim.
- Và tờ giấy đã được bác sĩ Taylor ký?
- Đúng vậy.
- Bác sĩ Kane, có phải đó là nguyên nhân thực sự dẫn đến cái chết của John Cronin?
- Không. Ông ta chết vì bị tiêm insulin.
- Như vậy, bác sĩ Taylor đã cho dùng một liều insulin tử vong rồi khai man trong biên bản?
- Vâng.
- Và ông đã báo cáo với bác sĩ Wallace, giám đốc bệnh viện, người sau đó đã thông báo cho nhà chức trách.
- Vâng. Tôi cảm thấy đó là trách nhiệm của tôi. - Giọng Kane vang lên niềm công phẫn chính đáng. - Tôi là bác sĩ. Tôi không tán thành lấy đi sinh mạng của người khác trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Nhân chứng tiếp theo được gọi là vợ goá của nạn nhân. Hazel Cronin độ xấp xỉ bốn mươi, với mái tóc đỏ rực lửa và một thân hình đầy khêu gợi mà bộ trang phục đen tuyền không giấu nổi.
Gus Venable nói:
- Tôi biết điều này thật khổ tâm, thưa bà Cronin, nhưng tôi buộc lòng phải yêu cầu bà cho toà biết về q.uan hệ của bà và người chồng mới khuất?
Bà goá Cronin chấm đôi mắt bằng một chiếc khăn tay ren lớn.
- Tôi và John sống thương yêu nhau. Anh ấy là một người đàn ông tuyệt vời. John vẫn thường nói chỉ có tôi mới mang lại cho anh ấy hạnh phúc thực sự.
- Bà làm vợ John Cronin được bao lâu rồi?
- Hai năm, và John luôn luôn bảo đó là hai năm thần tiên.
- Bà Cronin, chồng bà có bao giờ kể cho bà về bác sĩ Taylor không? Ông ấy có kể cô ta là một bác sĩ giỏi không? Hoặc cô ta có tận tuỵ với ông ấy không? Hoặc ông ấy có quý cô ta không?
- Không bao giờ.
- John có bao giờ nói tới chuyện gạt bà và các anh em của bà khỏi di chúc của ông ấy không?
- Không hề. Anh ấy là người đàn ông hào hiệp nhất thế giới. Anh ấy luôn nói với tôi rằng không có gì mà tôi không thể có, và rằng khi nào anh ấy chết… - Bà ta nức nở, - rằng khi nào anh ấy chết đi, tôi sẽ là người đàn bà giàu có, và… - Bà ta không nói tiếp được nữa.
Chánh án Young tuyên bố:
- Toà nghỉ mười lăm phút.
Ngồi ở cuối phòng xử án, Jason Curtis đầy tức giận. Anh không thể nào tin nổi những điều các nhân chứng nói về Paige Taylor. Đây là người đàn bà ta yêu người đàn bà ta sẽ cưới làm vợ.
Ngay sau khi Paige bị bắt, Jason Curtis đã tới thăm cô trong tù.
- Chúng ta sẽ chiến đấu, - anh quả quyết với cô. - Anh sẽ kiếm cho em luật sư hình sự giỏi nhất nước Mỹ.
Và một cái tên vụt xuất hiện trong đầu anh. Alan Penn, Jason liền đi gặp ông ta.
- Tôi có theo dõi vụ này trên các tài liệu. - Penn nói. - Báo chí đã xét xử và kết tội cô ta giết John Cronin vì tiền. Hơn nữa cô ta cũng đã nhận là giết ông già đó.
- Tôi biết cô ấy, - Jason Curtis nói với luật sư. - Hãy tin tôi, Paige không làm chuyện đó vì tiền đâu.
- Do cô ta nhận là đã giết, - Penn nói, - Ở đây chúng ta chỉ có thể cãi rằng đó là một hành động nhằm chấm dứt đau đớn cho bệnh nhân. Dù là căn bệnh vô phương cứu chữa, việc làm đó vẫn trái với luật pháp bang California, cũng như của nhiều bang khác. Nhưng về chuyện này có rất nhiều quan điểm trái ngược. Tôi có thể giở ngón "Chim hoạ mi Florence hót nơi công đường" và mấy cái trò chó chết khác, nhưng vấn đề là ý trung nhân của anh lại giết một người bệnh đã để lại cho cô ta một triệu đô-la trong di chúc. Cái gì xuất hiện ra trước ở đây, con gà hay quả trứng? Cô ta biết về số bạc triệu trước khi giết ông ta hay sau đó?
- Lúc ấy, Paige không hề hay biết về số tiền, - Jason quả quyết.
Giọng Penn không ra đồng tình, cũng không ra phản đối.
- Được. Đó chỉ là một ngẫu nhiên may mắn. Còn ông chưởng lý quận lại coi cô ta là sát nhân và ông ta muốn có án tử hình.
- Ông nhận vụ này hay không?
Penn lưỡng lự. Rõ ràng Jason Curtis tin vào nữ bác sĩ Taylor. Kiểu như Samson tin Delilah (2). Ông nhìn Jason và nghĩ: Hay gã chó đẻ tội nghiệp này bị cạo đầu mà không biết?
Jason chờ đợi câu trả lời.
- Tôi sẽ nhận vụ này, miễn anh biết cho đây là một chuyến leo dốc. Khó nhọc lắm đấy.
Lời nói của Alan Penn hoá ra lại quá lạc quan.
***
Khi phiên toà được tiếp tục vào sáng hôm sau, Gus Venable gọi cả chuỗi nhân chứng mới.
Một y tá được mời lên bục.
- Tôi nghe John Cronin nói với bác sĩ Taylor: "Tôi biết tôi sẽ chết trên bàn mổ. Cô sẽ giết tôi mất. Tôi hy vọng người ta biết rằng cô giết người.
Một luật sư, Roderick Pelham, được gọi làm chứng.
Gus Venable hỏi:
- Khi ông thông báo cho bác sĩ Taylor về một triệu đô-la trong tài sản của John Cronin, cô ta nói sao?
- Cô ta nói điều gì đó đại loại như: "Có vẻ không được hợp đạo lý. Ông ấy là bệnh nhân của tôi.
- Cô ta thừa nhận điều đó là trái đạo lý?
- Vâng.
- Nhưng cô ta vẫn đồng ý nhận tiền?
- Ồ vâng! Hoàn toàn đồng ý!
Đến lượt Alan Penn thẩm vấn nhân chứng:
- Ông Pelham, bác sĩ Taylor có chờ đợi ông đến không?
- Ồ, không, tôi…
- Ông không gọi điện cho cô ta và nói: "John Cronin để lại cho cô một triệu đô-la" chứ?
- Không, tôi…
- Vậy khi thông báo cho cô ta, ông đã gặp trực tiếp cô ta phải không?
- Phải.
- Và khi ông báo cho Taylor biết về số tiền, cô ta phản ứng ra sao?
- Ờ… cô ấy cô ấy có vẻ ngạc nhiên, nhưng…
- Cám ơn ông Pelham. Thế là đủ?
Phiên toà đã sang tuần thứ tư. "Khán giả" và báo chí thấy luật sư bên nguyên và luật sư bên bị đều hết sức ngoạn mục. Gus Venable mặc đồ trắng còn Alan Penn đóng bộ đen, và cả hai hoạt động trong phòng xử án như hai đấu thủ đang trong một trận cờ vua sống mái, với Paige Taylor là con tốt thí.
Gus Venable đang thắt nút.
- Nếu toà cho phép, tôi xin gọi Alma Rogers tới bục nhân chứng.
Khi nhân chứng này đã tuyên thệ, Venable hỏi:
- Bà Rogers, bà làm nghề gì.
- Cô Rogers.
- Xin cô thứ lỗi.
- Tôi làm tại hãng Du lịch Corniche.
- Hãng của cô đặt vé du lịch đi các nước, đăng ký khách sạn và thu xếp các tiện nghi khác cho khách hàng, đúng không?
- Đúng, thưa ngài.
- Tôi muốn cô hãy nhìn bị cáo. Trước đây cô đã bao giờ gặp người này chưa?
- Ồ có thưa ngài. Cô ta đến hãng du lịch của chúng tôi cách đây khoảng vài ba năm.
- Cô ta cần gì?
- Cô ta muốn một chuyến đi London, Paris, và tôi nghĩ, cả Venice nữa.
- Cô ta có yêu cầu phục vụ trọn gói không?
- Ồ không! Cô ta muốn mọi thứ đều hạng nhất… máy bay, khách sạn. Và tôi nghĩ cô ta còn muốn thuê một chiếc du thuyền.
Phòng xử án lặng ngắt. Gus Venable bước lại bàn công tố và giơ lên một tập hồ sơ.
- Cảnh sát đã tìm thấy những trang quảng cáo này trong căn hộ của bác sĩ Taylor. Đó là lịch trình các tuyến đi Paris, London và Venice, toàn đường bay và khách sạn đắt tiền, lại có cả quyển liệt kê giá thuê du thuyền.
Tiếng xì xào nổi lên trong phòng xử án.
Gus Venable mở một quyển sổ.
Đây là một vài du thuyền được hệt kê trong danh sách. - Ông ta đọc to. - "Christina O… hai mươi sáu ngàn đô-la một tuần cộng thêm chi phí… "Thời gian", hai mươi tư ngàn năm trăm đô-la một tuần… "Giấc mơ may mắn", hai bảy ngàn ba trăm đô-la một tuần". - Ông ta ngẩng lên. - Ở đây có đánh dấu bên dưới chiếc tàu "Giấc mơ may mắn". Paige Taylor đã chọn chiếc du thuyền hai mươi bảy ngàn ba trăm đô-la một tuần. Cô ta chỉ chưa chọn được nạn nhân của mình mà thôi. Chúng tôi chọn hồ sơ này là tang chứng.
Venable quay sang Alan Penn, cười mỉm. Còn Alan Penn thì liếc qua Paige. Cô đang nhìn trân trân xuống bàn, mặt tái nhợt.
- Xin dành nhân chứng cho ông. - Venable nói.
Penn đứng dậy khoan thai hỏi:
- Dịch vụ du lịch hồi đó ra sao, thưa cô Rogers?
- Tôi không hiểu?
- Tôi hỏi dịch vụ của hãng cô hồi đó ra sao. Corniche có phải là một hãng du lịch lớn không?
- Vâng, khá lớn.
- Tôi hình dung nhiều người đến hỏi han lắm nhỉ?
- Ồ, đúng vậy.
- Theo cô, có tới năm hay sáu người một ngày không?
- Ồ không? - Giọng cô ta đầy vẻ phẫn nộ. - Chúng tôi tiếp tới năm mươi khách trong một ngày ấy chứ.
- Năm mươi người một ngày? - Giọng Penn đầy ấn tượng. - Và cái ngày chúng ta đang nói tới lại cách đây những ba năm. Nếu nhân năm mươi với chín trăm ngày thì cũng độ bốn mươi lăm ngàn người.
- Khoảng chừng đó.
- Thế mà, trong cả ngần ấy người, cô lại vẫn nhớ ra bác sĩ Taylor. Vì sao vậy?
- Cô ta và hai cô bạn nữa rất sốt sắng làm một chuyến du lịch châu Âu. Tôi thấy hay hay. Các cô ấy như nữ sinh vậy. Ồ, phải. Tôi nhớ họ rất rõ, đặc biệt vì họ trông không có vẻ đủ tiền, dù chỉ để thuê một chiếc du thuyền.
- Tôi hiểu. Chắc mọi người đến hỏi xin bảng lịch trình đều đi du lịch cả chứ?
- Tất nhiên là không. Nhưng…
- Bác sĩ Taylor thực ra đã không đặt chuyến đi nào, đúng không nhỉ?
- Vâng, cô ta không đặt với hãng chúng tôi. Cô ta chỉ xem một số lịch trình.
- Như vậy không có nghĩa là cô ta đi Paris hoặc London, đúng không?
- Không, nhưng…
- Cám ơn. Bà có thể về chỗ.
Venable hướng về phía chánh án Young.
- Tôi xin được gọi bác sĩ Benjamin Wallace lên làm chứng…
- Bác sĩ Wallace, ông phụ trách bệnh viện Embarcadero Country phải không?
- Phải.
- Vậy đương nhiên, ông có biết bác sĩ Taylor cũng như công việc của cô ta?
- Đúng vậy.
- Ông có ngạc nhiên khi biết bác sĩ Taylor bị truy tố vì tội giết người không?
Penn bật dậy.
- Phản đối, thưa quý toà. Câu trả lời của bác sĩ Wallace sẽ không hơp lệ.
- Nếu tôi cắt nghĩa được. - Venable chặn ngang. - Nó có thể hợp lệ nếu cho phép tôi…
- Thôi được, để xem tiến triển thế nào. - Chánh án Young nói. - Nhưng chớ có hỏi tầm bậy đấy, ông Venable.
- Tôi xin tiếp cận câu hỏi theo cách khác, - Venable tiếp tục ông Wallace, tất cả các thầy thuốc đều phải đọc lời thề Hippocrates(3), đúng vậy không?
- Đúng.
Và một phần của lời thề đó là… - Venable đọc tờ giấy cầm trong tay "Tôi thề tránh xa mọi hành vi tội ác và tham nhũng".
- Đúng.
- Trước đây bác sĩ Taylor có làm gì khiến ông nghĩ cô ta có khả năng phá vỡ lời thề Hippocrates không?
- Phản đối! - Penn lại đứng dậy.
- Bác bỏ. - Chánh án Young gạt đi.
- Có! - Wallace trả lời câu hỏi.
- Xin ông hãy nói rõ hơn.
- Chúng tôi có một bệnh nhân mà bác sĩ Taylor quyết định cần được truyền m.áu. Nhưng gia đình người đó không chấp nhận.
- Và chuyện gì đã xảy ra?
- Bác sĩ Taylor vẫn cứ truyền cho bệnh nhân.
- Như vậy có hợp pháp không?
- Hoàn toàn không. Nếu thiếu giấy của toà án.
- Và rồi bác sĩ Taylor đã làm gì?
- Cô ta xin được giấy sau đó và chữa lại ngày tháng.
- Như vậy cô ta đã làm một việc phi pháp, lại còn giả mạo trong hồ sơ bệnh án để hòng chạy tội.
- Đúng vậy.
Alan Penn nhìn sang Paige, giận dữ. Cô ta còn giấu mình cái chết tiệt gì nữa đây? - Ông ta tự hỏi.
Nếu như ai đó trong phòng xử muốn tìm kiếm một dấu hiệu cảm xúc nào trên khuôn mặt Taylor thì họ đã thất vọng.
Lạnh như cục đá, Chủ tịch đoàn bồi thẩm -nghĩ.
Gus Venable hướng lên phía chánh án.
- Thưa quý toà, như toà đã biết, một trong những nhân chứng tôi hy vọng được mời ra đây là bác sĩ Lawrence Barker. Không may, ông Barker bị một cơn đột quỵ và không thể có mặt ở phòng xử án này được. Để thay thế, bây giờ tôi sẽ mời một số nhân viên cùng làm việc với bác sĩ Barker.
Penn đứng lên.
- Tôi phản đối. Không thể làm chuyện thay thế nhân chứng như thay áo được.
Venable chặng ngang.
- Thưa quý toà, tôi đảm bảo rằng mạch thẩm vấn của tôi hết sức phù hợp với những lời chứng mà chúng ta đã nghe. Cần phải xem xét cả năng lực chuyên môn của bị cáo.
Chánh án Young nói một cách hoài nghi.
- Chúng ta sẽ xem. Đây là phòng xử án chứ không phải rừng rậm. Tôi không chấp nhận bất cứ cuộc săn bắn nào. Ông có thể gọi nhân chứng của ông.
- Xin cám ơn.
Gus Venable quay sang người mõ toà.
- Tôi muốn gọi bác sĩ Mathew Peterson.
Một người đàn ông khoảng lục tuần, nom vẻ lịch lãm tiến tới bục nhân chứng. Sau khi ông ta tuyên thệ và đã ngồi vào chỗ, Gus Venable hỏi:
- Bác sĩ Peterson, ông đã làm việc ở bệnh viện Embarcadero Country được bao lâu rồi?
- Tám năm.
- Chuyên khoa của ông là gì?
- Phẫu thuật tim.
- Trong những năm ở bệnh viện Embarcadero Country ông có dịp nào làm việc với bác sĩ Lawrence Barker không?
- Ồ có chứ. Nhiều lần.
- Ý kiến của ông về bác sĩ Barker như thế nào?
- Cũng giống như của mọi người. Ngoài ra, có lẽ bác sĩ Barker là nhà phẫu thuật tim giỏi nhất thế giới, kể từ thời De Bakey và Cooley.
- Có phải ông đã có mặt ở phòng mổ vào sáng hôm bác sĩ Taylor mổ cho một bệnh nhân tên là… - Venable giả vờ lục xem tài liệu. -… Lance Kelly?
Sắc giọng của nhân chứng chợt thay đổi:
- Có tôi đã ở đó!
- Ông hãy kể lại điều gì đã xảy ra vào ca mổ hôm ấy?
Bác sĩ Peterson trả lời một cách miễn cưỡng:
- Ca mổ hỏng. Chúng tôi bắt đầu tuột mất bệnh nhân.
- Ông nói "tuột mất bệnh nhân", nghĩa là thế nào?
- Tim ông ta ngừng đập. Chúng tôi đã tuyệt vọng và…
- Bác sĩ Barker đã được gọi đến?
- Vâng.
- Và ông ta tới phòng mổ khi cuộc phẫu thuật đang tiếp diễn?
Đang vào hồi kết thúc. Đúng vậy. Và quá muộn để có thể xoay chuyển được gì. Chúng tôi đã không thể làm bệnh nhân sống lại.
- Và khi đó bác sĩ Barker đã nói gì với bác sĩ Taylor?
- Chúng tôi tất cả đều rất buồn, và…
- Tôi hỏi bác sĩ Barker có nói gì với bác sĩ Taylor không?
- Có.
- Bác sĩ Barker nói gì vậy?
Một khoảng lặng thinh và đúng lúc đó, bên ngoài dội lên một tiếng sấm, như tiếng nói của Chúa Trời.
Trong chớp mắt, cơn giông bùng ra, và mưa xối xả dội xuống nóc nhà toà án. Peterson trả lời:
- Bác sĩ Barker nói: "Cô giết ông ta rồi".
Cả hội trường ồn ào lên. Chánh án Young đập chiếc búa quan toà xuống.
- Đủ rồi! Các vị là bầy người sống trong hang động hay sao đó? Còn mất trật tự lần nữa các vị sẽ phải ra đứng dưới trời mưa đấy.
Trong sự im lặng dồn nén. Gus Venable hỏi lại:
- "Cô giết ông ta rồi"? Ông có chắc rằng bác sĩ Barker đã nói câu đó với bác, sĩ Taylor không?
- Tôi chắc chắn!
- Và ông cũng xác nhận bác sĩ Barker là một người rất đáng được coi trọng về mặt y học.
- Đúng?
- Cám ơn. Phần tôi đã xong, thưa bác sĩ. - Ông ta quay sang Alan Penn. - Đến lượt ông.
Penn đứng dậy và tiến đến gần nhân chứng.
- Bác sĩ Peterson, tôi chưa bao giờ được chứng kiến một ca mổ, nhưng tôi hình dung chắc phải căng thẳng ghê gớm, nhất lại là một ca nghiêm trọng như phẫu thuật tim.
- Hết sức căng thẳng.
- Trong một ca như thế tổng cộng có bao nhiêu người trong phòng? Ba hay bốn?
- Ồ không. Bao giờ cũng phải tới nửa tá hoặc hơn.
- Thật ư?
- Vâng. Thường có hai bác sĩ phẫu thuật, một người phụ mổ, đôi khi tới hai bác sĩ gây mê, một y tá chính và ít nhất một y tá lưu động.
- Ra thế. Hẳn là khá nhiều tiếng ồn. Như xin chỉ dẫn hoặc những việc tương tự chẳng hạn.
- Đúng!
- Và tôi được biết một thực tế phổ biến là người ta thường bật nhạc trong khi mổ.
- Đúng vậy!
- Khi bác sĩ Barker vào và thấy Lance Kelly đang hấp hối, chắc không khí lại càng thêm bấn loạn.
- Mọi người đều bận rộn vào việc cứu chữa bệnh nhân.
- Nhiều tiếng ồn ào, đúng không?
- Đúng, rất ồn ào.
- Thế mà, trong cảnh náo động đó, và trong tiếng nhạc, ông lại có thể nghe thấy bác sĩ Barker nói bác sĩ Taylor là đã giết bệnh nhân. Liệu ông có nghe nhầm hoặc tưởng tượng ra không nhỉ?
- Không, thưa ngài. Tôi không thể nhầm được.
- Điều gì khiến ông tin chắc thế?
Bác sĩ Peterson thở dài.
- Bởi vì tôi đứng ngay cạnh bác sĩ Barker khi ông ta nói điều đó.
Chẳng có lối thoát đẹp đẽ nào.
- Hết câu hỏi.
Penn thở dài. Vụ này lại mất rồi, và ông không thể làm gì được. Sắp sửa có lẽ còn tồi tệ hơn nhiều.
Demse Berry lên làm chứng.
- Cô là y tá tại bệnh viện Embarcadero Country?
- Vâng.
- Cô đã làm việc ở đó bao lâu?
- Năm năm.
- Trong thời gian đó, cô có nghe được cuộc đối thoại nào giữa bác sĩ Taylor và bác sĩ Barker không?
- Có chứ. Nhiều lần.
- Cô có thể nhắc lại một vài chuyện không?
Y tá Berry nhìn bác sĩ Taylor, do dự:
- Ờ, bác sĩ Barker lắm khi rất cay nghiệt…
- Y tá Berry, tôi không hỏi cô tính nết bác sĩ Barker. Tôi yêu cầu cô kể cho chúng tôi những gì cô nghe thấy ông ta nói về bác sĩ Taylor.
Một khoảng im lặng kéo dài.
- Một lần ông nói chị ấy bất tài, và…
Mặt Gus Venable khoác lên vẻ ngạc nhiên.
- Cô nghe bác sĩ Barker bảo bác sĩ Taylor là bất tài ư?
- Vâng, thưa ngài. Nhưng ông ấy luôn luôn…
- Cô còn nghe ông ta nhận xét gì khác về bác sĩ Taylor không?
Nhân chứng nói gượng gạo:
- Quả thực tôi không nhớ.
- Cô Berry, cô đã tuyên thệ…
- Thôi được, một lần tôi nghe thấy ông Barker nói… - Đoạn cuối câu chỉ còn là tiếng lầm bầm.
- Chúng tôi chẳng nghe thấy gì cả. Xin cô nói to lên. Cô nghe thấy ông ấy nói gì?
- Ông ta bảo… ông ta sẽ không cho bác sĩ Taylor mổ, ngay cả với một con chó.
Tiếng hổn hển bật ra đồng loạt trong phòng xứ án.
- Nhưng tôi tin chắc ông ấy chỉ định…
- Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều hiểu ý bác sĩ Barker, đúng như ông ta nói.
Mọi con mắt đều đổ dồn vào Paige Taylor.
Phía công tố có vẻ đã quá áp đảo. Nhưng Alan Penn vốn nổi danh là nhà ảo thuật kỳ tài trong phòng xử án đã đứng dậy. Bây giờ đến lưọt ông thể hiện phần biện hộ. Liệu ông có lôi được con thỏ nào khác từ trong mũ ra không?
Alan Penn hỏi Paige Taylor đang trên bục nhân chứng. Đây là giờ phút mọi người đều mong đợi.
- Bác sĩ Taylor, có phải John Cronin đã là bệnh nhân của bác sĩ.
- Phải.
- Cảm giác của bác sĩ về ông ta thế nào?
- Tôi thích ông ấy. Ông hiểu mình bệnh nặng đến chừng nào, nhưng ông rất dũng cảm. Ông đã phải phẫu thuật một khối u tim.
- Và chính cô đă tiến hành ca phẫu thuật đó?
- Vâng!
- Và cô đã phát hiện điều gì trong khi mổ?
- Khi mở lồng ngực ông ta, chúng tôi thấy khối u hắc tố ác tính đã di căn.
Nói cách khác, bệnh ung thư đã lan khắp cơ th.ể ông ta.
- Đúng. Nó đã di căn sang các tuyến bạch huyết.
- Có nghĩa là đã hết hy vọng? Không còn phương thuốc nào có thể cứu vãn được nữa.
- Không.
- John Cronin đã phải dùng tới các thiết bị nhân tạo?
- Đúng vậy.
- Bác sĩ Taylor, có phải cô đã chủ ý dùng một liều insulin tử vong để chấm dứt cuộc đời John Cronin?
- Tôi đã làm như thế?
Tiếng rì rầm dậy lên trong phòng xử.
Cô ả thản nhiên thật, Gus Venable nghĩ. Nghe cứ như ả cho ông ta uống một tách cà phê.
- Hãy nói cho toà biết vì sao bác sĩ quyết định chấm dứt sự sống của John Cronin?
- Bởi vì ông ấy yêu cầu tôi. Ông ấy van xin tôi.
- Ông ấy nhắn tôi đến gặp lúc nửa đêm, trong cơn đau khủng khiếp. Các thứ thuốc chúng tôi cho ông ấy dùng đã hết tác dụng từ lâu. - Giọng Taylor vẫn đều đều.
- Ông ấy nói không muốn chịu đựng sự hành hạ thêm nữa. Ông ấy biết cái chết chỉ còn là chuyện ngày một ngày hai. Ông ấy cầu xin tôi hãy kết thúc giúp cho sớm phút nào hay phút ấy. Và tôi đã làm.
- Bác sĩ, cô có hề miễn cưỡng khi thực hiện mũi tiêm ấy không? Cô có chút cảm giác tội lỗi nào không?
- Không. Một khi nhìn thấy cảnh ấy, tôi nghĩ, chăng có lý do gì để ông già phải tiếp tục bị nỗi đau hành hạ.
- Cô cho bệnh nhân dùng insulin bằng phương pháp nào?
- Tôi tiêm vào tĩnh mạch ông ta.
- Điều đó gây thêm chút đau đớn nào không?
- Không hề. Ông ấy chỉ trôi vào giấc ngủ.
Gus Venable đứng dậy liền.
- Phản đối! Tôi nghĩ bị cáo định nói ông ta trôi vào cái chết! Tôi…
Chánh án Young gõ búa.
- Ông Venable, ông mất trật tự quá. Ông sẽ có cơ hội vặn vẹo.
Viên công tố nhìn sang bồi thẩm đoàn, lắc đầu và ngồi xuống.
Penn tiếp tục hỏi:
- Bác sĩ Taylor, khi cho John Cronin dùng insulin, cô có biết rằng ông ta đã đưa cô vào di chúc với một triệu đô-la không?
- Không, tôi lấy làm sửng sốt khi biết điều đó.
Mũi cô ả chắc phải nở tướng ra, Gus Venable cay cú nghĩ bụng.
- Có bao giờ cô nói tới chuyện tiền thưởng hay hỏi xin John Cronin điều gì không?
Một thoáng ửng đỏ lan trên má Taylor.
- Không bao giờ.
- Nhưng cô đã có mối q.uan hệ thân mật với ông ta?
- Đúng! Với một bệnh nhân lâm bệnh nặng như vậy q.uan hệ bác sĩ - bệnh nhân thường là đặc biệt hơn. Chúng tôi trò chuyện về các vấn đề gia đình và kinh doanh của ông ấy.
- Nhưng cô có thể có lý do nào trông đợi điều gì ở ông ta chứ?
- Không.
- Ông ta để lại tiền cho cô bởi vì ông ta đã trở nên tôn trọng và tin tưởng cô. Xin cảm ơn bác sĩ Taylor.
Penn quay sang Gus Venable.
- Đến lượt ông.
Khi Penn trở về bàn của mình, Paige Taylor nhìn về phía cuối phòng xử án. Jason ngồi đó, gửi tới cô ánh mắt khích lệ. Bên cạnh anh là Honey. Một người lạ ngồi kế bên Honey, ở chỗ mà lẽ ra là của Kat. Nếu cô ấy còn sống. Nhưng Kat đã chết. Paige thầm nghĩ. Mình cũng đã giết cô ấy rồi.
Gus Venable đứng dậy và chậm chạp đi tới bục nhân chứng. Ông liếc nhìn vào mấy hàng ghế ký giả.
Tất cả đều đã chật, và tất cả các phóng viên đều đang mải miết ghi chép. Ta sẽ cho họ điều gì đó để viết, Venable bụng bảo dạ.
- Ông đứng trước bị cáo trong một khoảnh khắc kéo dài, quan sát cô ta. Rồi bất chợt ông cất tiếng.
- Bác sĩ Taylor… John Cronin có phải là bệnh nhân đầu tiên mà cô đã giết tại bệnh viện Embarcadero không?
Alan Penn chồm dậy giận dữ:
- Thưa quý toà, tôi…
Chánh án Young đã gõ chiếc búa của bà xuống.
- Phản đối được chấp nhận! - Bà quay về phía hai luật sư. - Toà nghỉ mười lăm phút. Tôi muốn hội ý với hai ông trong văn phòng của tôi.
Khi hai luật sư đã yên vị trong văn phòng của bà, chánh án Young quay sang Gus Venable.
- Ông có theo học trường luật không nhỉ, ông Gus?
- Tôi xin lỗi, thưa quý toà, tôi…
- Ông có thấy lều rạp căng ngoài đó không?
- Xin lỗi, tôi không hiểu.
Giọng bà chánh án như tiếng roi quất.
- Phòng xử án của tôi không phải là rạp xiếc, và tôi cũng không định để ông biến nó thành nơi diễn trò của mình. Sao ông dám đưa ra một câu hỏi kích động như vậy!
- Tôi xin lỗi, thưa quý toà. Tôi sẽ chỉnh lại câu hỏi và…
- Ông sẽ còn làm quá hơn thế - Chánh án Young gằn giọng. - Ông phải chỉnh đốn lại chính cái thái độ của ông thì có. Tôi chính thức cảnh cáo ông, thưa ông công tố. Và nếu ông còn giở trò kích động một lần nữa, tôi sẽ tuyên bố bãi bỏ phiên toà.
- Vâng, thưa ngài chánh án.
Khi họ quay trở lại phòng xử, chánh án Young nói với bồi thẩm đoàn.
- Toà hoàn toàn gạt bỏ câu hỏi sau cùng của công tố viên. - Bà quay sang Gus. - Ông có thể tiếp tục.
Gus Venable bước về bục nhân chứng.
- Bác sĩ Taylor, hẳn cô rất ngạc nhiên khi được thông báo người đàn ông mà cô giết hại đã để lại cho cô một triệu đô-la.
Alan Penn bật dậy:
- Phản đối!
- Chấp nhận. - Chánh án Young nói với Venable. - Ông đang thử thách sự kiên nhẫn của tôi đấy.
- Xin lỗi quý toà. - Venable quay lại phía bị cáo. - Cô hẳn phải có q.uan hệ rất gần gũi với bệnh nhân của mình. Ý tôi muốn nói, đâu phải ngày nào cũng có một người gần như hoàn toàn xa lạ, để lại cho ta một triệu đô-la, đúng không?
Paige Taylor hơi đỏ mặt.
- Tình bạn của chúng tôi nằm trong phạm vi q.uan hệ thầy thuốc và người bệnh.
- Có cái gì hơn thế chăng? Một người đàn ông không thể gạt người vợ yêu quý cùng gia đình mình ra khỏi di chúc và để lại một triệu đô-la cho người dưng mà không có lý do nào đó. Những chuyện cô moi được ở ông ta về công việc kinh doanh…
Chánh án Young nhoài người tới trước và nói giọng đe doạ.
- Ông Venable…
Ông công tố viên giơ hai tay lên làm cử chỉ phục tùng, rồi quay lại phía bị cáo.
- Vậy là cô và John Cronin chỉ tán chuyện thân mật. Ông ta kể cho cô những chuyện riêng tư, ông ta quý mến và tôn trọng cô. Cô cho đó là một lập luận hợp lý không, bác sĩ Taylor.
- Và chỉ vì vậy mà ông ta đã biếu cô một triệu đô-la?
Paige Taylor nhìn xuống phòng xử án. Cô im lặng. Cô không có câu trả lời.
Venable dợm bước quay trở về bàn công tố, rồi bất thần quay lại đối mặt với bị cáo.
- Bác sĩ Taylor, lúc trước cô khai rằng cô không hề biết John Cronin sẽ để lại tiền bạc gì cho cô hoặc ông ta sẽ gạt gia đình mình ra khỏi di chúc.
- Đúng vậy.
- Một bác sĩ nội trú kiếm được bao nhiêu ở bệnh viện Embarcadero?
Alan Penn nhổm dậy.
- Phản đối! Tôi không thấy…
- Đó là câu hỏi hợp lệ. Bị cáo hãy trả lời.
- Ba mươi tám ngàn đô-la một năm.
Venable nói ra chiều thông cảm.
- Thế thì chẳng là bao vào thời buổi này, đúng không nhỉ? Không đủ để dành dụm cho một chuyến đi nghỉ xa hoa, như London, Paris hay Venice chẳng hạn?
- Tôi cho là không.
- Không ư? Vậy là cô không dự định một kỳ nghỉ như thế vì cô biết mình không đủ tiền.
- Đúng vậy.
Alan Penn lại nhổm lên.
- Thưa quý toà…
Chánh án Young quay sang viên công tố.
- Ông dẫn dắt đi đâu thế ông Venable?
- Tôi chỉ muốn xác minh rằng bị cáo không thể dự kiến một chuyến đi xa xỉ như vậy nếu không nhìn trước vào số tiền của một ai đó mà cô ta sẽ biến thành của mình.
- Cô ta đã trả lời câu hỏi rồi.
Alan Penn biết mình phải làm một cái gì đó. Thâm tâm ông chẳng hào hứng gì nhưng ông vẫn tiến tới bục nhân chứng với tất cả vẻ hồ hởi của một anh chàng vừa trúng số.
- Bác sĩ Taylor, cô còn nhớ là đã lấy về những cuốn quảng cáo du lịch này chứ?
- Vâng.
- Cô định đi châu Âu hay thuê một chiếc du thuyền?
- Dĩ nhiên là không. Tất cả chỉ là một chuyện đùa, một giấc mơ không thể thành sự thực. Tôi và các bạn tôi nghĩ rằng điều đó có thể làm chúng tôi phấn chấn lên. Lúc đó chúng tôi mệt mỏi quá, bèn… nghĩ ra một chuyện vui vui. - Giọng cô nhỏ dần.
Alan Penn lén nhìn đoàn bồi thẩm. Nét mặt họ biểu lộ sự ngờ vực hoàn toàn.
Gus Venable đang hỏi bị cáo để thẩm tra lại.
- Bác sĩ Taylor, cô có quen bác sĩ Lawrence Barker?
Một ký ức chợt loé lên trong cô. Mình sẽ giết Lawrence Barker. Mình sẽ làm điều đó từ từ. Cứ để cho lão ta chịu đau đớn trước, rồi mình sẽ giết lão.
- Có. Tôi quen bác sĩ Barker.
- Ở q.uan hệ nào?
- Bác sĩ Barker và tôi thường làm việc với nhau trong hai năm vừa qua.
- Theo cô, ông ta có phải là một bác sĩ giỏi không?
Alan Penn nhảy dựng lên.
- Tôi phản đối, thưa quý toà. Nhân chứng…
Nhưng trước khi ông kịp nói hết hoặc chánh án Young kịp ra lệnh, Paige đã trả lời.
- Ông ấy còn hơn cả giỏi. Ông ấy là một tài năng tuyệt vời!
Penn ngồi sụp xuống ghế, sững sờ đến mức không nói nổi gì nữa.
- Phiền cô diễn giải chi tiết hơn được không? - Venable yêu cầu.
- Bác sĩ Barker là một trong những nhà phẫu thuật tim mạch nồi tiếng nhất thế giới: ông có phòng mạch tư rất lớn, nhưng ông đã dành cho bệnh viện Embarcadero ba ngày trong một tuần.
- Vậy cô đánh giá cao những nhận xét của ông ta về mặt y học chứ?
- Vâng.
- Theo cô, ông ta có thể xét đoán năng lực của các bác sĩ khác không?
Penn mong sao cô ta nói. "Tôi không biết".
Paige ngập ngừng:
- Có thể.
Gus Venable quay về phía đoàn bồi thẩm.
Quý vị đã nghe bị cáo khai rằng cô ta đánh giá cao nhận xét chuyên môn của bác sĩ Barker. Tôi hy vọng cô ta đã nghe rõ lời phê bình của bác sĩ Barker về khả năng… hay đúng hơn là sự thiếu khả năng của mình.
Alan Penn bật lên, giận dữ.
- Phản đối.
- Chấp nhận.
Nhưng đã quá muộn. Sự thể hỏng mất rồi.
Trong giờ giải lao. Alan Penn kéo Jason vào phòng vệ sinh nam.
- Anh lôi tôi vào cái bỏ mẹ gì vậy? - Penn cáu kỉnh. - John Cronin ghét cô ta, Barker ghét cô ta. Tôi yêu cầu khách hàng của tôi kể sự thật, và toàn bộ sự thật. Chỉ có cách đó tôi mới có thể xoay chuyển nổi tình thế. Còn như thế này, tôi không làm gì nổi. Cô bạn lòng của anh dối trá cứ trơn tuột. Và mỗi bận cô ta mở miệng là lại như đóng thêm một chiếc đinh vào cỗ áo quan của mình. Cái vụ chó chết này thua đứt rồi.
***
Chiều hôm đó, Jason Curtis đến gặp Paige.
- Bác sĩ Taylor, cô có khách.
Jason bước vào phòng giam.
- Paige…
Cô quay lại nhìn anh, nuốt lệ:
- Có vẻ tệ quá anh nhỉ?
Jason gượng cười:
- Em biết đấy, người ta nói còn nước còn tát.
- Jason, anh không tin rằng em đã giết John Cronin vì tiền chứ? Điều em làm là chỉ để giúp cho ông ấy thôi.
- Anh tin em. - Jason nói khẽ. - Anh yêu em.
Anh ôm lấy cô. Ta không muốn mất nàng. Jason thầm nghĩ. Ta không thể. Nàng là điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời ta.
- Mọi việc sẽ ổn thôi. Anh hứa với em, rồi chúng ta sẽ bên nhau mãi mãi.
Paige nép chặt vào anh và nghĩ: Không có gì là mãi mãi. Không có gì hết. Sao mọi việc lại có thể ngang trái đến mức này…
Chú thích:
(1) Theo sự tích Kinh Thánh, Cain là con của Adam và Eva, đã phạm tội giết em trai, được coi là kẻ sát nhân đầu tiên của loài người. (N.D)
(2) Sự tích trong Kinh Thánh. (N.D)
(3) Hippocrates người Hy Lạp, ông tổ của ngành y, sống vào khoảng 400-377 trước CN.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 1 -
SAN FRANSISCO, tháng 7, 1990
- Hunter Kat.
- Có.
- Taft Betty Lou.
- Có tôi.
- Taylor Paige.
- Có.
Họ là toàn bộ số phụ nữ ít ỏi giữa đám đông bác sĩ nội trú năm đầu tiên vừa đến tập trung tại giảng đường rộng lớn và xám xịt của bệnh viện Embarcadero Country này.
Embarcadero Country là bệnh viện cũ kỹ nhất San Francisco và là một trong những bệnh viện già nua nhất nước Mỹ. Trong trận động đất năm 1989, Chúa đã chơi xỏ hầu hết cư dân San Francisco nhưng lại tha cho bệnh viện này. Đó là một kiến trúc xấu xí, chiếm hơn ba lô đất vuông, với những toà nhà xây bằng gạch và đá, xám xỉn và bụi bặm.
Bên trong cổng, trước cửa toà nhà chính, là một phòng chờ rộng với những băng ghế gỗ cứng dành cho người nhà và bệnh nhân. Những bức tường tróc lở bởi quá nhiều lượt sơn chồng chất qua bao thập kỷ, những hành lang mòn vẹt, gồ ghề bởi hàng triệu lượt người ngồi xe đẩy, chống nạng và bước chân qua.
Toàn bộ khu nhà bị bao bọc trong lớp gỉ mốc meo của thời gian. Bệnh viện Embarcadero Country là một thành phố trong thành phố. Có hơn chín ngàn con người làm việc tại đây, bao gồm bốn trăm y bác sĩ, một trăm năm mươi bác sĩ tình nguyện làm ngoài giờ, tám trăm bác sĩ nội trú và ba nghìn y tá, cộng thêm các kỹ thuật viên phụ trách thiết bị và những nhân viên kỹ thuật khác. Các tầng trên gồm một khu liên hợp mười hai phòng mổ, kho tiếp liệu trung tâm, ngân hàng m.áu, phòng kế hoạch trung tâm, ba phòng cấp cứu một phòng AIDS và hơn hai ngàn gi.ường bệnh.
Hôm nay là một ngày tháng Bảy, ngày đầu tiên tiếp nhận các bác sĩ nội trú mới. Bác sĩ Benjamin Wallace, giám đốc bệnh viện lên đọc diễn văn. Wallace là một nhà chính trị thuần tuý, một người đàn ông cao lớn, trông oai vệ, chuyên môn có hạn nhưng đủ quyến rũ để dành được những sự ưu ái trên con đường thăng tiến tới địa vị hiện nay.
- Xin chào mừng tất cả các bạn, những bác sĩ nội trú mới của chúng tôi. Hai năm đầu ở trường y, các bạn đã làm việc với các xác chết. Trong hai năm cuối các bạn được làm việc với các bệnh nhân dưới sự giám sát của các bác sĩ thâm niên. Giờ đây, chính các bạn là người sẽ chịu trách nhiệm về các bệnh nhân của mình. Đó là một trách nhiệm ghê gớm. Nó đòi hỏi cả tấm lòng lẫn năng lực chuyên môn.
Mắt quét xuống giảng đường, ông nói tiếp:
- Một số trong các bạn dự định đi vào phẫu thuật. Số khác theo nội khoa. Mỗi nhóm sẽ được giao cho một bác sĩ nội trú năm trên phụ trách. Người đó sẽ chỉ dẫn công việc hàng ngày cho các bạn. Từ giờ trở đi, mỗi việc các bạn làm đều có thể là vấn đề sinh tử.
Họ nghe chăm chú, nuốt lấy từng lời.
- Embarcadero là một bệnh viện cỡ tỉnh. Điều đó có nghĩa chúng ta mở rộng cửa tiếp nhận bất cứ bệnh nhân nào. Phần lớn họ là dân nghèo, họ đến đây vì không đủ tiền vào bệnh viện tư. Các phòng cấp cứu của chúng ta bận rộn suốt hai tư giờ trong ngày. Các bạn sẽ phải làm việc quá mức và nhận lương dưới mức. Ở bệnh viện tư, năm đầu tiên các bạn chỉ được đi bám đuôi thăm bệnh. Năm thứ hai người ta mới cho các bạn mó tay vào dao mổ và đến năm thứ ba các bạn mới được phép mổ những ca thứ yếu dưới sự giám sát. Ở đây thì không nhiêu khê như vậy. Phương châm của chúng tôi là "Vừa xem, vừa làm, vừa dạy". Chúng tôi thiếu người trầm trọng, cho nên càng đưa các bạn vào công việc nhanh chừng nào càng tốt chừng ấy. Có ai hỏi gì không?
Có một triệu câu hỏi mà các tân bác sĩ nội trú muốn hỏi.
- Không à? Tốt. Mai sẽ là ngày làm việc đầu tiên của các bạn. Các bạn phải có mặt tại bàn tiếp đón chmh thức vào năm giờ ba mươi phút sáng mai. Chúc các bạn may mắn!
Lời huấn thị đã kết thúc. Mọi người ùn ùn ra cửa trong tiếng trò chuyện rì rào sôi nổi. Ba phụ nữ chợt thấy mình đứng cạnh nhau.
- Các nữ nhi khác đâu cả rồi?
- Tôi nghĩ chúng ta là tất cả rồi đấy.
- Giống hệt ở trường nhỉ. Câu lạc bộ con trai. Mình có cảm tưởng nơi này thuộc Kỷ Nguyên Đen Tối.
Người nói câu đó là một cô gái da đen tuyệt đẹp, cao gần sáu bộ (1), hơi to ngang, nhưng vô cùng duyên dáng. Tất cả nơi cô, từ bước đi, dáng điệu đến cái nhìn hờ hững, giễu cợt đều gợi lên vẻ xa cách.
- Tôi tên Kat Hunter. Mọi người gọi tôi là Kat.
- Paige Taylor. - Cô gái trẻ, trông thông minh và thân thiện tự giới thiệu.
Họ quay sang người phụ nữ thứ ba.
- Betty Lou Taft. Mọi người gọi tớ là Honey. - Cô nói giọng miền Nam mềm mại. Honey có khuôn mặt c.ởi mở, ngây thơ, đôi mắt xám tro dịu dàng và nụ cười ấm áp.
- Chị quê ở đâu? - Kat hỏi.
- Memphis, Tennessee.
Họ nhìn Paige. Cô quyết định đưa ra câu trả lời đơn giản.
- Boston.
- Minneapolis, - Kat nói. - Nơi đó gần hơn cả, cô nghĩ bụng.
- Có vẻ như tất cả chúng ta đều sống xa nhà. Các bạn ở đâu? - Paige hỏi.
- Tôi ở một khách sạn nhếch nhác, - Kat đáp. - Tôi chưa có cơ hội tìm chỗ ở.
- Mình cũng thế. - Honey nói.
Paige tươi hẳn lên.
- Mình vừa xem một vài căn hộ sáng nay. Có một căn rất tuyệt, nhưng mình không đủ tiền. Có ba phòng ngủ…
Họ chằm chằm nhìn nhau.
- Nếu chúng ta chia ba… - Kat nói.
Căn hộ nằm ở quận Marina, phố Filbert. Ba phòng ngủ, hai phòng tắm, đồ đạc cổ lỗ sĩ, nhưng sạch và ngăn nắp.
Sau khi cả ba đã xem xét kỹ, Honey tuyên bố:
- Mình thấy hay đấy.
- Mình cũng vậy? - Kat tán đồng.
Họ cùng nhìn Paige.
- Chúng ta chấp nhận đi.
Họ chuyển đến căn hộ ngay chiều hôm đó. Người coi nhà giúp họ mang hành lý lên gác.
- Thế ra các cô đi làm ở bệnh viên. - Gã hỏi. - Y tá hử?
- Bác sĩ. - Kat chỉnh lại.
Gã nhìn cô ngờ vực.
- Bác sĩ? Cô định nói là bác sĩ thật đấy chứ?
- Phải, là bác sĩ thật. - Paige bảo gã.
Gã khụt khịt.
- Nói thật với các cô, nếu tôi cần chăm sóc sức khoẻ, tôi không nghĩ là sẽ để cho đàn bà khám người tôi đâu - Chúng tôi sẽ ghi nhớ điều đó.
- Tivi để đâu nhỉ, tôi không thấy. - Kat hỏi.
- Nếu các cô cần thì hãy mua lấy một cái. Chúc vui vẻ, thưa các tiểu thư… À, bác sĩ.
Gã cười khùng khục, bỏ đi.
- Y tá hử? Kat khịt mũi, bắt chước giọng gã. - Thói tự phụ đàn ông. Thôi, chúng ta chọn phòng ngủ đi.
- Với mình, phòng nào cũng được, - Honey nói dịu dàng.
Họ xem xét ba phòng ngủ. Có một phòng rộng hơn hai phòng kia.
Tại sao cậu không dùng phòng này đi, Paige?
Cậu đã tìm ra chỗ này mà. - Kat hỏi.
Paige gật đầu:
- Cũng được.
Họ về các phòng riêng của mình và bắt đầu dỡ đồ đạc. Paige cẩn thận lôi từ trong vali ra một bức ảnh lồng khung, chụp một người cỡ ngoài ba mươi tuổi.
Anh ta trông khả ái, đôi kính gọng đen tạo cho gương mặt một vẻ học giả. Paige đặt bức ảnh bên cạnh gi.ường, gần một xấp thư.
Kat và Honey lững thững bước vào.
- Ra ngoài kiếm cái gì ăn tối chứ?
- Mình xong rồi đây. - Paige nói.
Kat nhìn tấm ảnh.
- Ai thế?
Paige mỉm cười.
- Chồng chưa cưới của mình. Anh ấy là bác sĩ, làm việc cho tổ chức Y tế Thế giới. Tên anh ấy là Alfred Turner. Anh ấy hiện đang làm việc ở châu Phi, nhưng sẽ chuyển về San Francisco nay mai thôi. Và bọn mình sẽ được sống bên nhau.
- Cậu may thật. - Honey nói bâng khuâng. - Chàng trông hay đấy.
Paige nhìn cô bạn.
- Cậu đã gắn bó với ai chưa?
- Chưa. Mình e rằng không được may mắn lắm với đàn ông.
- Biết đâu vận may của cậu sẽ thay đổi ở Embarcadero, - Kat nói.
Ba người ăn tối ở Tarantino, không xa khu nhà nơi họ ở. Trong bữa ăn họ tán gẫu về chuyện học hành và cuộc sống, nhưng câu chuyện của họ còn khá dè dặt. Họ là ba người xa lạ đang thận trọng tìm hiểu lẫn nhau.
Honey rất ít nói. Cô ấy có vẻ nhút nhát, Paige nghĩ. Dễ tổn thương. Có lẽ một anh chàng nào đó ớ Memphis đã làm cô ấy tan nát cõi lòng.
Paige nhìn Kat. Tự tin. Đầy tự trọng. Mình thích cách nói năng của cô ta. Có thể cô ta xuất thân từ một gia đình gia giáo.
Trong khi đó, Kat đang nghiên cứu Paige. Một cô gái nhà giàu, có lẽ chưa phải làm gì trong đời. Cô ta xoay xoả được là nhờ vào nhan sắc.
Honey nhìn hai cô kia. Họ thật chắc chắn, thật tự tin về bản thân mình. Công việc của họ sẽ trôi chảy.
Tất cả đều nhầm hết.
Khi trở về nhà, Paige hồi hộp không sao ngủ được. Cô nằm trên gi.ường, nghĩ về tương lai. Bên ngoài cửa sổ có tiếng đụng xe dưới đường, tiếng người la hét, và trong tâm trí Paige nó hoà lẫn vào ký ức với tiếng gào thét, tiếng cầu nguyện của dân bản xứ châu Phi, và cả tiếng súng nổ. Cô bị đưa vào một làng nhỏ trong rừng nhiệt đới, giữa cuộc chiến tranh bộ lạc tàn khốc.
Paige khiếp đảm.
- Họ giết chúng ta mất!
Cha cô ôm lấy cô.
- Họ sẽ không làm hại chúng ta đâu, cưng. Chúng ta tới đây để giúp những con người này. Họ biết chúng ta là bạn.
Và bất thần, một tộc trưởng xông vào lều của họ…
Honey nằm trên gi.ường nghĩ ngợi. Từ Memphis, Tennessee đến đây xa lắc, Betty Lou. Có lẽ mình không bao giờ trở lại đó được nữa. Không bao giờ. Cô còn nghe rõ lời ông cảnh sát trưởng. "Vì tôn trọng gia đình ông ta, chúng tôi sẽ coi cái chết của Đức cha Douglas Lipton như một tự tử không rõ nguyên nhân, nhưng tôi có lời đề nghị rằng, cô hãy cuốn gói khỏi thành phố này và đừng bao giờ quay lại nữa…"
Kat đăm đăm nhìn ra cửa sổ phòng ngủ, lắng nghe những âm thanh dưới phố. Cô nghe rõ tiếng mưa rả rích. Ta sẽ cho cả bọn họ biết mình đã lầm. Cô muôn làm bác sĩ? Một nữ bác sĩ da đen ư? Và sự từ chối cửa các trường y, "Cám ơn cô đã gửi đơn xin học. Rất tiếc hiện nay danh sách tuyển sinh của chúng tôi đã đủ. Xét hoàn cảnh cửa cô, chúng tôi nghĩ cô sẽ thuận lợi hơn ở một trường đại học nhỏ hơn".
Cô đỗ thủ khoa, nhưng trong số hai mươi nhăm trường y cô xin học, chỉ có một trường nhận cô. Ông chủ nhiệm khoa nói:
- Thời buổi này gặp được con nhà bình dân tử tế là quý rồi.
Ông ta mà biết sự thật khủng khiếp ấy…
Chú thích:
(1) Khoảng 1,80m (N.D)
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 2 -
Vào lúc 5 giờ 30 sáng, khi đám nội trú mới còn đang điểm danh, nhân viên bệnh viện đã đứng xung quanh để hướng dẫn những việc khác nhau cho họ. Thậm chí vào giờ sớm sủa như vậy, sự huyên náo đã bắt đầu.
Bệnh nhân dồn về đây suốt đêm, trên các xe cấp cứu xe cảnh sát hoặc tự lê đến. Nhân viên bệnh viện gọi tắt họ là F và J - dân trôi dạt. Họ tuôn về những phòng cấp cứu, gẫy giập, chảy m.áu, đâm chém và tai nạn giao thông, chấn thương cả thể xác lẫn tinh thần, những người không nhà cửa và vô thừa nhận, luồng chảy của nhân loại qua những cống rãnh đen tối của các thành phố lớn.
Có một cảm giác râm ran khi quan sát hiện tượng này. Đó là sự hỗn loạn có tổ chức, những chuyển động điên cuồng, những âm thanh rên rỉ và hàng tá những ca bất ngờ cùng tồn tại một lúc.
Đám nội trú mới đứng tụm lại với nhau, chuẩn bị hoà nhập với môi trường mới.
Paige, Kat và Honey đang đứng đợi ngoài hành lang thì một bác sĩ nội trú năm trên tiến lại.
- Ai trong số các bạn là bác sĩ Taft?
Honey ngẩng lên trả lời:
- Tôi đây.
Anh chàng mỉm cười và chìa tay ra:
- Rất hân hạnh được gặp cô. Người ta yêu cầu tôi đi tìm cô. Sếp nói cô đã đạt điểm thi tốt nghiệp rất cao ở trường. Bệnh viện này chưa bao giờ có một người như vậy. Chúng tôi mừng được đón cô về đây.
Honey cười, ngượng ngập.
- Cám ơn.
Kat và Paige nhìn Honey kinh ngạc. Mình không ngờ rằng cô ta lại xuất sắc đến thế. Paige nghĩ.
- Cô định theo nội khoa, đúng không, bác sĩ Taft?
- Vâng.
Anh chàng quay sang Kat.
- Cô là bác sĩ Hunter?
- Vâng.
- Cô quan tâm đến phẫu thuật thần kinh?
- Đúng vậy.
Anh ta xem danh sách.
- Cô được giao cho bác sĩ Lewis.
Cuối cùng anh ta quay sang Paige, hỏi:
- Bác sĩ Taylor?
- Vâng.
Cô định theo phẫu thuật tim?
- Đúng vậy.
- Rất tốt. Chúng tôi đã xếp cô và bác sĩ Hunter vào các tua phẫu thuật. Hai cô có thể trình diện chỗ y tá trưởng Margaret Spencer. Phía dưới ấy.
- Cám ơn.
Paige nhìn các bạn, thở dài:
- Thôi, tôi đi đây. Chúc tất cả may mắn.
Margret Spencer giống cái tàu chiến hơn là một người đàn bà. Phục phịch, với cái nhìn nghiêm nghị và cung cách thô ráp. Khi Paige đến, bà ta đang bận trong phòng y tá.
- Xin lỗi…
Bà Spencer ngẩng lên, "Vâng…"
- Tôi được yêu cầu trình diện ở đây. Tôi là bác sĩ Taylor.
Y tá Spencer nhìn vào một tờ giấy.
- Xin đợi một lát.
Bà đi vào, khuất sau cánh cửa, lát sau bà trở ra tay cầm chiếc áo choàng trắng.
- Của cô đây. Găng tay để đeo trong phòng mổ và khi đi khám bệnh. Còn trong giờ làm việc cô hãy mặc cái áo choàng trắng này.
- Xin cám ơn!
- Và đây nữa. Bà trao cho Paige một tấm biển nhỏ bằng kim loại, trên đó có dòng chữ Paige Taylor M.D(1).
Paige giữ tấm biển trong tay một lúc lâu. Paige Taylor M.D. Cô cảm tưởng như đang được trao bằng danh dự. Bao nhiêu năm học hành gói gọn cả trong mấy chữ ngắn ngủi này: Paige Taylor M.D. Y tá Spencer nhìn cô chằm chằm:
- Cô không sao chứ?
- Không sao đâu. - Paige mỉm cười. - Tôi rất khoẻ.
- Cám ơn. Tôi có thể thay quần áo ở đâu?
- Phòng thay quần áo của bác sĩ ở phía cuối hành lang. Cô sẽ phải đi tua bây giờ nên có lẽ thay quần áo đi là vừa.
Paige cám ơn rồi đi xuống cuối hành lang, vừa đi vừa ngạc nhiên về khối lượng công việc xung quanh.
Hàng lang có rất nhiều bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên, bệnh nhân đang vội vã đi lại. Những thông báo dồn dập trên hệ thống loa công cộng càng làm tăng sự căng thẳng.
- Bác sĩ Keeman phòng mổ 3… Bác sĩ Keeman phòng mổ 8.
- Bác sĩ Talbot phòng cấp cứu 1… Bác sĩ Talbot phòng cấp cứu 1.
- Bác sĩ Engel phòng 212… Bác sĩ Engel phòng 212.
Paige đi tới cánh cửa to có dòng chữ PHÒNG THAY ĐỒ BÁC SĨ và đẩy ra. Trong đó, cả tá đàn ông đang ở trong những giai đoạn thay quần áo khác nhau. Hai trong số họ hoàn toàn trần truồng. Họ quay lại nhìn trân trân về phía Paige khi cửa mở ra.
- Ôi xin lỗi.
Paige lúng búng, vội đóng cửa lại. Cô đứng sững, chưa biết phải làm gì. Vài bước gần đó có biển đề PHÒNG THAY ĐỒ Y TÁ. Paige bước tới và mở cửa ra. Phía trong, các cô y tá đang thay quần áo.
Một người ngẩng lên.
- Xin chào. Có phải cô là một y tá mới không?
- Không, tôi nhầm.
Paige đáp c.ương quyết, đóng mạnh cửa rồi quay lại phòng đầu tiên. Cô đứng đó một lát, thở một hơi sâu và bước vào. Câu chuyện phía trong đang tiếp diễn chợt ngừng lại.
Một người nói.
- Cô em. Đây là Phòng dành cho bác sĩ.
- Tôi là bác sĩ. - Paige nói với vẻ thản nhiên.
Họ quay lại nhìn nhau.
- Ồ, OK, xin chào? - Một người lên tiếng.
- Xin cám ơn. - Cô do dự trong một giây rồi mạnh dạn tiến về phía chiếc tủ còn trống. Mấy người đàn ông theo dõi cô treo quần áo bệnh viện lên mắc. Cô quay đầu nhìn đám đàn ông rồi xoay lưng về phía họ, chầm chậm c.ởi cúc áo.
Các vị bác sĩ phái mày râu trở nên lúng túng, chẳng biết phải làm gì. Cuối cùng, một trong số họ lên tiếng.
- Có lẽ chúng ta nên dành riêng cho cô bé đây một chút riêng tư, phải không các vị?
- Cô bé!
- Xin cám ơn. - Paige nói. Cô đứng đó chờ cho bọn họ rời khỏi phòng. Chẳng lẽ ngay nào mình cũng phải qua cái thủ tục này ư?
Các tua khám trong bệnh viện này có một cung cách bất di bất dịch. Bác sĩ chính đi đầu, phía sau là các bác sĩ nội trú năm cuối, tiếp theo là mấy bác sĩ nội trú khác và một vài sinh viên y khoa. Paige được xếp đi theo bác sĩ chính William Radnor. Cô đang cùng năm bác sĩ nội trú khác đứng ở hành lang chờ ông.
Trong nhóm có một bác sĩ trẻ người Hoa. Anh ta chìa tay ra:
- Tom Chang. - Anh ta tự giới thiệu. - Tôi hy vọng các bạn cũng đều đang phấp phỏng như tôi.
Paige thích anh ta ngay lập tức.
Một người đàn ông tiến về phía họ.
- Xin chào, - Ông ta nói. - Tôi là bác sĩ Radnor.
Ông ta có giọng nói nhỏ nhẹ và đôi mắt sáng màu da trời. Lần lượt các bác sĩ nội trú tự giới thiệu.
- Đây là ngày đầu tiên các bạn đi tua. Tôi muốn các bạn lưu ý mọi điều mà các bạn nghe hạy nhìn thấy. Tuy vậy cũng cần phải biết tỏ ra thư gíãn.
Paige lập tức tự nhủ. Tập trung nhưng phải làm ra vẻ thư giãn!
- Nếu bệnh nhân thấy các bạn bối rối, căng thẳng, họ lập tức sẽ căng thẳng theo và sợ đến phát chết bởi vì nghĩ rằng họ đang mắc phải một căn bệnh mà các bạn không dám nói với họ.
Không làm bệnh nhân căng thẳng!
- Nhớ rằng từ hôm nay các bạn sẽ chịu trách nhiệm về mạng sống của con người.
Từ đây mình luôn phải chịu trách nhiệm về mạng sống của một ai đó. Ôi, lạy Chúa.
Bác sĩ Radnor càng nói, Paige càng căng thẳng, và khi ông kết thúc thì lòng tự tin vốn đã chẳng nhiều nhặn gì của cô đã bay biến hết. Mình chưa sẵn sàng để làm công việc này. Cô nghĩ. Mình không biết mình đang làm gì. Có ai bảo rằng mình có thể trở thành một bác sĩ đâu. Nếu chẳng may mình làm chết người thì sao?
Bác sĩ Radnor tiếp tục:
- Tôi muốn các bạn ghi chép tỷ mỷ về bệnh nhân: Xét nghiệm, m.áu, điện tâm đồ…, mọi thứ. Rõ cả chứ?
Có tiếng lao xao: "Vâng, thưa bác sĩ".
- Ở đây có khoảng ba đến bốn mươi bệnh nhân tim mạch đang nằm chờ phẫu thuật. Công việc của các bạn phải được tổ chức cẩn thận. Bây giờ ta sẽ bắt đầu tua buổi sáng. Chiều sẽ lại làm tua nữa.
Hồi ở trường y sao mà dễ chịu thế. Paige nhớ lại bốn năm học ở đấy. Khoá của họ gồm trăm rưởi sinh viên, chỉ có mười lăm cô gái. Cô sẽ không bao giờ quên buổi đầu tiên học về giải phẫu: Sinh viên vào một phòng lớn lát men trắng có hai mươi bàn xếp thành hàng ngay ngắn, trên mặt bàn phủ một tấm vải vàng. Mỗi bàn xếp năm sinh viên.
Giáo sư nói: "Nào, hãy kéo vải phủ ra". Lúc đó, trước mặt Paige hiện ra một xác chết. Đó là xác chết đầu tiên cô nhìn thấy trong đời. Cô nghĩ mình sẽ cảm thấy choáng hoặc buồn nôn và bèn cố sức giữ bình tĩnh. Cái xác được bảo quản tốt nên nhìn cũng không khủng khiếp lắm.
Trong mấy ngày đầu, sinh viên còn cảm thấy sự nghiêm trang trong phòng học giải phẫu. Nhưng thật là ngạc nhiên đối với Paige, chỉ trong vòng một tuần là họ đã có thể ăn san-đuých ngay tại đó, trong giờ nghỉ giải lao, và làm những trò đùa tục tĩu hoặc thô bạo. Có lẽ đó là một dạng tự bảo vệ, chối bỏ cái chết trong họ. Sinh viên đặt tên cho các xác chết và nói chuyện với "chúng" như nói với bạn cũ. Paige cố bắt mình cư xử như đám bạn học nhưng cảm thấy rất khó khăn. Cô nhìn xác chết dưới tay mình và nghĩ.
Đây từng là một người có gia đình. Hàng ngày anh ta đi làm. Mỗi năm một lần cùng vợ con đi nghỉ. Có lẽ anh ta thích thể thao, xem phim, xem kịch. Anh ta đã cười thấy các con khôn lớn, chia xẻ với chúng niềm vui, nỗi buồn. Anh ta đã có những ước mơ. Mình hy vọng nó đã trở thành hiện thực… Một cảm giác buồn bã trào lên trong lòng cô: Anh ta đã chết, còn cô vẫn đang sống.
Theo thời gian, đến cả Paige cuối cùng cũng trơ ra mọi cảm xúc. Mở lồng ngực kiểm tra phổi, vùng mổ quanh tim, khám mạch m.áu, dây thần kinh…
Phần lớn thời gian trong hai năm đầu ở trường y sinh viên dành để học thuộc danh sách những bộ phận trong cơ th.ể và các thuật ngữ y học. Sinh viên còn láu cá nghĩ ra những câu có vần có điệu để giúp họ ghi nhớ. Bọn con trai là hay nghĩ những câu tục tĩu nhất.
Hai năm cuối có vẻ thú vị hơn với những môn nội khoa, ngoại khoa, tiêu hoá… và họ có thời gian làm việc trong bệnh viện địa phương. Mình lại hồi tưởng rồi. Paige nghĩ ngợi.
- Bác sĩ Taylor… - Bác sĩ nội trú năm cuối nhìn cô chăm chú.
Paige chợt tỉnh. Các bác sĩ khác đã đi được một đoạn.
- Tôi tới ngay đây!
Nơi dừng đầu tiên là một căn phòng lớn hình chữ nhật có hai dãy gi.ường kê theo hai cạnh tường, mỗi gi.ường có một cái tủ con đặt liền bên. Paige hình dung phải có màn che ngăn giữa các gi.ường, nhưng không thấy. Sự riêng tư không được phép hiện diện ở đây.
Bệnh nhân đầu tiên là một ông già với nước da phù thũng. Ông ta đang ngủ say, thở nặng nhọc. Bác sĩ Radnor đi xuống chân gi.ường xem xét biểu đồ treo tại đó rồi bước đến bên cạnh bệnh nhân và chạm vào vai ông ta.
- Ông Petter!
Bệnh nhân mở mắt.
- Cái gì?
- Chào buổi sáng. Tôi là bác sĩ Radnor. Tôi chỉ kiểm tra xem sức khoẻ ông ra sao. Ông ngủ tốt chứ?
- Cũng tạm được.
- Ông thấy đau ở đâu không?
- Vâng, vùng ngực.
- Để tôi xem nào.
Sau khi khám xong Radnor nói:
- Ông đang phục hồi tốt. Tôi sẽ nói y tá đưa ông ít thuốc để giảm cơn đau.
- Xin cám ơn bác sĩ.
- Tôi sẽ khám cho ông một lần nữa vào buổi chiều.
Đám đông rời khỏi gi.ường bệnh. Bác sĩ Radnor quay lại nói:
- Luôn cố gắng hỏi những câu người bệnh chỉ cần trả lời có hoặc không? Họ không cần phải mất sức khi trả lời bác sĩ. Và phải luôn làm họ tin tưởng vào sức khoẻ của mình. Tôi yêu cầu các bạn nghiên cứu bản theo dõi bệnh nhân và hãy ghi chép những điểm chính. Chúng ta sẽ quay lại chiều nay để xem ông ta thế nào. Phải lưu ý ghi chép cả bệnh sử, tất cả những lời phàn nàn của bệnh nhân, tình trạng sức khoẻ của gia đình và thân hữu… ông ta có uống rượu, hút thuốc không? Tôi muốn có báo cáo về tiến trình sức khoẻ của từng bệnh nhân một.
Họ đi tiếp đến gi.ường sau, của một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi.
- Xin chào ông Rawlings.
- Chào bác sĩ.
- Ông có cảm thấy khá hơn trong buổi sáng nay không?
- Không tốt lắm. Tôi. gần như mất ngủ cả đêm qua. Phần bụng đau quá.
Bác sĩ Radnor quay sang phía một bác sĩ nội trú.
- Chụp phim có thấy gì không?
- Không có bất kỳ một dấu hiệu lo ngại nào cả.
- Cho ông ấy một liều Barium enema Stat.
Anh chàng nội trú đứng cạnh Paige thì thầm vào tai cô.
- Tớ hy vọng cậu biết stat nghĩa là gì. "Lắc mông đi cô bé!"
Bác sĩ Radnor nghe thấy.
- Stat bắt nguồn từ tiếng Latinh, Statim - ngay lập tức Trong nhiều năm tới, Paige sẽ luôn phải nghe những mệnh lệnh như vậy.
Bệnh nhân tiếp sau là một bà già đã qua phẫu thuật.
- Xin chào bà Turkel.
- Các ông định giữ tôi lại đây bao lâu nữa?
- Không lâu nữa đâu. Vừa rồi, điều trị cho bà đã rất thành công. Bà sẽ được về nhà trong thời gian tới.
Quá trình hỏi đáp đó cứ lặp đi lặp lại, cả buổi sáng trôi qua nhanh chóng. Tổng cộng họ đã khám cho ba mươi bệnh nhân. Với môi bệnh nhân, các bác sĩ nội trú lại cắm cúi ghi chép và cầu cho những ghi chép ấy có ích sau này.
Có một bệnh nhân làm Paige khó hiểu. Bà ta có vẻ rất khoẻ mạnh. Cô hỏi:
- Bà ta mắc bệnh gì vậy?
Bác sĩ Radnor gật đầu:
- Bà ta chẳng có bệnh gì cả. Bà ta là Gomer (2).
Và đối với những ai trong số các bạn chưa biết, khi ở trường y, tôi xin nhắc rằng Gomer là viết tắt của câu nói: Cút khỏi phòng cấp cứu của tôi! Đó là loại người thích chí với tình trạng sức khoẻ tồi. Riêng năm vừa rồi đã sáu lần bà ta nằm ở đây.
Họ tiến lại bệnh nhân cuối cùng, một bà giờ thở bằng máy hô hấp. Bệnh nhân đang hôn mê.
- Bà ta bị nhiễm m.áu rất nặng. - Bác sĩ Radnor giải thích cho đám nội trú. - Hôn mê đã sáu tuần nay. Tuyệt vọng. Chúng ta chẳng có thể làm gì cho bà ấy nữa. Chiều nay chúng ta sẽ rút phích.
Paige cảm thấy sốc.
- Rút phích.
Bác sĩ Radnor giải thích nhẹ nhàng.
- Hội đồng đạo đức bệnh viện đã quyết định sáng nay. Bà ta đang tồn tại ở dạng thực vật. Và ngày nào chưa chết, thì có nghĩa là bà ta vẫn chỉ tồn tại ở dạng ấy. Tám mươi bảy tuổi, não đã chết. Để bà ta sống mới thật nhẫn tâm, và tổn hao tài chính cho gia đình. Tôi sẽ gặp các bạn vào tua chiều nay.
Họ nhìn theo ông khi ông đi khỏi. Paige quay lại phía bệnh nhân. Bà ta còn sống. Chỉ vài giờ nữa bà ta sẽ chết. Chúng ta sẽ rút phích chiều nay. Giết người! Paige nghĩ.
Chú thích:
(1) viết tắt của chữ Doctor of Medicme (Bác sĩ Y khoa)
(2) viết tắt của câu: Get out of my emergency room. (N.D)
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 3 -
Kết thúc chuyến tua buổi chiều, đám nội trú mới nhập bệnh viện tụ tập trong gian sảnh nhỏ ở tầng trên. Trong phòng có tám cái bàn, một tivi đen trắng cổ lỗ và hai cái quạt xua đều ra khắp phòng mùi bánh san-đuých và cà phê.
Câu chuyện ở mỗi bàn đều giống nhau.
Một người nói.
- Ngó cái họng tớ nào. Có rộp lên không?
- Mình nghĩ mình bị sốt. Ớn người lắm.
- Bụng tớ trương lên đây này. Chắc đau ruột thừa mất.
- Ngực mình thì cứ đau thắt lại. Lạy chúa, đừng để mình bị nhồi m.áu cơ tim.
Kat ngồi vào bàn với Paige và Honey.
- Công việc thế nào? - Cô hỏi.
- Tớ nghĩ ổn cả thôi. - Honey nói.
Cả hai nhìn Paige.
- Mình thấy căng thẳng, nhưng phải cố mà thư giãn. Mình lo lắng, nhưng phải cố giữ bình tĩnh. - Cô thở dài. - Một ngày dằng dặc. Mình mừng được thoát khỏi đây và tối nay định vui vầy một chút.
- Tớ cũng nghĩ vậy, - Kat tán đồng. - Tại sao chúng ta không đi ăn tối và xem xinê nhỉ?
- Tuyệt đấy.
Một nhân viên phục vụ lại bàn họ.
- Ai là bác sĩ Taylor?
Paige nhìn lên:
- Tôi đây!
- Bác sĩ Wallace muốn gặp cô.
Wallace là giám đốc bệnh viện. Mình đã làm gì sai nhỉ? Paige băn khoăn.
Người phục vụ đứng chờ.
- Bác sĩ Taylor…
- Tôi đi ngay đây. - Cô đứng lên hít thật sâu. - Mình sẽ gặp các cậu sau vậy.
- Đi đường này, bác sĩ?
Paige theo người đó vào thang máy rồi lên tầng năm, nơi đặt văn phòng của bác sĩ Wallace.
Benjamin ngồi sau bàn. Ông ta hơi ngước lên khi Paige bước vào.
- Xin chào bác sĩ Taylor.
- Xin chào!
Wallace hắng giọng:
- Hôm nay là ngày đầu tiên, Nhưng cô đã kịp gây ấn tượng rồi.
Paige nhìn ông ta, bối rối.
- Tôi, tôi chưa hiểu?
- Tôi nghe nói cô gặp phải một vấn đề nhỏ trong phòng thay đồ dành cho bác sĩ.
- Ồi! Thì ra là ch.uyện ấy.
Wallace nhìn cô mỉm cười:
- Tôi cho rằng tôi phải thu xếp thế nào đó cho cô và các cô gái khác.
- Chúng tôi… Chúng tôi là bác sĩ chứ không phải là cô gái. Chúng tôi sẽ rất cám ơn.
- Trong khi chờ đợi có lẽ cô nên thay đồ trong phòng dành cho y tá.
- Tôi không phải là y tá. - Cô rắn rỏi nói. - Tôi là bác sĩ.
- Tất nhiên, tất nhiên. Chúng tôi sẽ thu xếp cho các nữ bác sĩ.
- Cám ơn!
Ông ta trao cho Paige một tờ giấy:
- Bây giờ tôi đưa cho cô lịch làm việc. Cô sẽ trực cấp cứu trong hai mươi tư giờ, kể từ sáu giờ chiều nay. - Ông ta liếc đồng hồ. - Nghĩa là chỉ còn ba mươi phút nữa thôi.
Paige nhìn ông ta kinh ngạc. Hôm nay cô đã phải dậy từ lúc 5 giờ sáng. 24 giờ nữa? Mà đúng ra là 36 tiếng. Bởi vì ngày tiếp đó cô vẫn phải đi tua. Ba mươi sáu tiếng! Liệu mình có chịu nổi không đây?
Cô sắp được biết ngay thôi.
Paige đi tìm Kat và Honey.
- Có lẽ tớ buộc phải quên bữa tối và xinê thôi. Tớ phải trực cấp cứu và làm việc 36 tiếng liền.
Kat gật đầu.
- Chúng tớ cũng thế. Phiên tớ vào ngày mai. Honey vào thứ tư.
- Chắc sẽ không ghê gớm lắm đâu. - Paige nói vui vẻ. - Tớ biết ở đây có chỗ ngủ. Có lẽ tớ lại thích ấy chứ.
Cô đã nhầm.
Người phục vụ đưa Paige đi dọc theo hành lang dài.
- Bác sĩ Wallace nói tôi sẽ trực cấp cứu trong 36 giờ. - Paige hỏi. - Mọi người đều phải làm như vậy sao?
Trong ba năm đầu thôi. - Người dẫn đường an ủi cô.
- Tuyệt!
- Nhưng bác sĩ sẽ có một số thời gian để nghỉ.
- Thật ư?
- Đây rồi. Phòng trực ở đây!
Ông ta mở cửa. Paige bước vào. Căn phòng giống như trai phòng của tu sĩ trong một tu viện nghèo.
Vẻn vẹn một cái gi.ường đơn và một máy điện thoại đặt cạnh gi.ường.
- Bác sĩ có thể ngủ giữa các cú điện thoại. - Người nhân viên nói như an ủi.
- Cám ơn!
***
Những cuộc gọi bắt đầu khi Paige còn đang ở quầy cà phê với bữa ăn tối đơn giản.
- Bác sĩ Taylor, phòng cấp cứu số 3… Bác sĩ Taylor phòng cấp cứu số 3.
Và suốt thời gian, Paige bị săn đuổi bởi các cô y tá.
- Một bệnh nhân bị gãy xương sườn.
- Ông Henegan kêu đau vùng ngực.
- Bệnh nhân ở phòng 2 đau đầu, cho thuốc ecetaminophen được không?
Lúc nửa đêm, khi Paige vừa chợp mắt thì cô lại bị dựng dậy.
- Đến ngay phòng cấp cứu số 1.
Đó là một vết thương do dao chém. Khi Paige xử lý xong thì đã là 1 giờ 30 sáng. Vào lúc 2 giờ 15 cô lại bị dựng dậy.
- Bác sĩ Taylor… Phòng cấp cứu 2. Stat.
Paige đáp mệt nhọc.
- Vâng.
Anh chàng đó bảo stat nghĩa là gì nhỉ? Lắc mông đi cô bé.
Cô gắng sức cất mình dậy và theo hành lang đến phòng cấp cứu. Một bệnh nhân bị gẫy chân đang rống lên vì đau.
- Chụp X quang. - Paige ra lệnh. - Cho tiêm Demerol 5mg. - Cô đặt bàn tay lên cánh tay bệnh nhân. – Sẽ ổn cả thôi. Cứ yên tâm.
Mình không được hoảng loạn. Paige tự nhủ. Mình phải bình tĩnh, lạnh lùng. Nhưng cô bối rối quá, ai quan trọng hơn, người bệnh cô đang khám hay người tiếp theo?
- Ông nằm đây nhé, - cô nói đờ đẫn. - Tôi sẽ trở lại ngay.
Khi Paige lao tới phòng cấp cứu 2, cô lại nghe thấy xướng tên mình.
Bác sĩ Taylor… phòng cấp cứu 1. Bác sĩ Taylor… phòng cấp cứu 1. Stat.
- Ôi lạy Chúa. Paige nghĩ. Cô có cảm giác mình đang bị một cơn ác mộng khủng khiếp vây hăm, không có chỗ tận cùng.
Cho đến sáng, Paige bị đánh thức do những ngộ độc thức ăn, gãy tay, gãy xương sườn, thoát vị khe thực quản, vân vân. Khi quay về phòng trực, cô cảm thấy mình chỉ còn đủ sức để lăn ra gi.ường. Nhưng vừa chơp mắt thì điện thoại lại réo vang.
Cô nhoài người với điện thoại mà mắt vẫn nhắm.
- Hello…
- Bác sĩ Taylor, chúng tôi đang chờ cô đây.
- Cái gì cơ? Cô vẫn nằm đó, cố nhớ xem mình đang ở đâu.
- Tua của cô đang bắt đầu rồi, bác sĩ.
- Tua của tôi? Thật là một kiểu đùa ác. Paige nghĩ. Thật chẳng còn ra người nữa. Chẳng ai, kể cả họ, có thể làm việc như thế này. Nhưng người ta đang chờ cô.
Mười phút sau, Paige lại đi tua như hôm qua, tuy vẫn nửa tỉnh nửa mê. Cô nói lý nhí với bác sĩ Radnor.
- Tôi xin lỗi, nhưng cả đêm qua tôi chẳng được chợp mắt.
Ông đặt tay lên vai cô, thông cảm.
- Rồi cô sẽ quen thôi.
Cuối cùng, khi được rời khỏi bệnh viện, cô ngủ suốt mười bốn tiếng liền.
Áp lực của công việc quả là một hình phạt quá mức đối với các bác sĩ nội trú. Một số người đã biến khỏi bệnh viện. Mình không được làm như vậy, Paige tự nhủ.
Hậu quả thật ghê gớm. Sau một ca 36 tiếng, Paige kiệt quệ và chẳng nhớ nổi mình đang ở đâu nữa. Cô bước đến chỗ thang máy, đửng đó, không biết làm gì, đầu óc quay cuồng.
Tom Chang tiến lại:
- Cậu không sao chứ?
- Không sao. - Cô lẩm bẩm.
Anh ta nói:
- Cậu trông như ma ấy.
- Cám ơn. Họ hành hạ tụi mình làm gì nhỉ? - Paige hỏi Chang mà như tự hỏi mình.
Chang nhún vai.
- Về mặt lý thuyết làm như vậy là để củng cố q.uan hệ giữa bác sĩ với bệnh nhân. Nếu ta chỉ ở nhà, ta sẽ chẳng biết điều gì xảy ra với họ.
- Cũng có lý đấy! - Paige gật đầu. - Thực ra chẳng có lý gì cả. Làm sao chúng ta có thể quan tâm đến bệnh nhân khi mà ta cũng buồn ngủ đến mức đứng không nổi nữa.
Chang lại nhún vai.
- Tớ chẳng biết. Tất cả các bệnh viện đều như vậy hết. - Anh nhìn Paige chăm chú. - Cậu có dám coi đây là nhà của mình không?
Paige nhìn anh ta và nói tự tin.
- Tất nhiên.
- Cẩn thận đấy. - Chàng nói rồi bỏ đi.
Paige chờ cho đến khi thang máy mở ra. Trong lúc chờ, cô thiếp đi.
Hai ngày sau, Paige ngồi ăn sáng với Kat.
- Cậu có muốn nghe xưng tội không? - Paige hỏi. Rồi không chờ Kat trả lời, cô nói tiếp. - Đôi khi người ta đánh thức mình để cho bệnh nhân uống aspirin lúc 4 giờ sáng. Khi mình gà gật bước ngoài hành lang nhìn vào phòng và thấy bệnh nhân đang ngủ ngon lành, mình chỉ muốn đập vào cánh cửa hét lên: Tất cả mọi người dậy đi!
Kat chìa tay ra.
- Cùng hội cùng thuyền cả thôi.
Bệnh nhân có đủ loại hình dạng, kích thước, tuổi tác màu da. Người hốt hoảng, kẻ gan lỳ, người nhẹ nhàng, kẻ lại lắm lời. Nhưng họ giống nhau ở điểm: Đều là những con người đau đớn.
Đa số bác sĩ là những người chuyên tâm. Như trong mọi ngành nghề khác ; ở đây cũng có những ngưởi giỏi, người kém, có người trẻ, người già, người hung hăng, người ít nói, người dễ chịu, người khó chơi…
Thỉnh thoảng, một vài người gợi ý chuyện t.ình d.ục với Paige. Có người thì tế nhị, có người lại thô lỗ.
- Cô em có thấy lẻ loi không? Anh cô đơn quá. Anh tự hỏi…
- Những giờ phút trực như thế này thật là khủng khiếp phải không? Cô em có biết rằng có một việc mang lại sinh lực cho mình không? Đó là làm tình. Sao chúng ta không tận dụng nhỉ?
- Vợ tôi đi vắng mấy ngày. Tôi có một căn nhà nhỏ ở gần Carmal. Weeken này chúng ta có thể…
Rồi lại cả bệnh nhân nữa chứ. Cũng đủ kiểu gợi ý:
- Cô là bác sĩ của tôi à? Cô có biết cô đang giấu trong mình một phương thuốc có thể chữa trị cho tôi không?
- Lại gần đây cô em. Tôi muốn chạm vào cô cơ…
Paige nghiến răng và phớt lờ. Khi mình và Alfred lấy nhau, mọi phiền phức này sẽ chấm dứt. Chỉ riêng việc nghĩ về Alfred đã khiến cô rạo rực. Chàng sẽ trở về. Chẳng bao lâu nữa.
Một buổi sáng, trước khi đi tua, Paige và Kat nói chuyện với nhau về sự quấy rối t.ình d.ục mà họ đang cùng phải chịu đựng.
- Đa số bác sĩ là những người đàn ông đứng đắn.
Nhưng một vài người lại cứ nghĩ rằng chúng ta có mặt ở đây là để phục vụ họ. - Kat nói, - Trong một tuần, ít nhất cũng có một người gạ gẫm. "Em đến chỗ anh một lát đi, anh có rượu và mấy chiếc đĩa CD tuyệt lắm". Còn trong phòng phẫu thuật, tay bác sĩ mà mình phụ mổ cứ lướt tay qua ngực mình. Một thằng vắt mũi chưa sạch còn nói: "Cô em biết không. Anh thích gà. Chỗ thịt đen ấy".
Paige gật đầu.
- Họ nghĩ họ khiến ta thích thú khi coi ta là những đối tượng t.ình d.ục. Tớ chỉ muốn họ coi mình là một bác sĩ.
Nhiều người trong số họ chẳng muốn ta làm việc đâu. Họ chỉ muốn ta vào gi.ường với họ thôi. Thật không công bằng. Đàn bà luôn bị coi là thấp kém cho đến khi chứng minh được năng lực của mình. Đàn ông thì ngược lại. Họ được coi là giỏi giang cho đến khi tự phô bày là những thằng ngốc.
- Đây là vương quốc của đàn ông. - Paige nói. - Nếu tụi mình có số lượng áp đảo, ta sẽ thành lập một thế giới riêng, toàn đàn bà.
Paige có nghe nói về Arthur Kane. Trong bệnh viện người ta đồn đại không ngớt về lão. Lão được đặt biệt danh "Bác sĩ 007 - kẻ chuyên sát hại".
Mọi vấn đề, giải pháp của 007 chỉ là phẫu thuật. Tay bác sĩ này có tỷ lệ phẫu thuật cao nhất bệnh viện. Và tỷ lệ tử vong cũng cao không kém.
Arthur Kane đậm người, lùn, mũi diều hâu, răng xỉn vì thuốc lá, nói chung là quá béo. Nhưng lão lại tự cho mình là tay sát gái. Lão hay dùng thuật ngữ thịt tươi để chỉ các y tá và nữ bác sĩ nội trú mới đến.
Paige Taylor chính là loại thịt tươi đó. Kane nhìn thấy cô và sán đến ngồi bên, dù chẳng ai mời cả.
- Tôi đã theo dõi cô một thời gian. - Lão mở đầu.
Paige ngước lên ngạc nhiên.
- Tôi không hiểu.
- Tôi là bác sĩ Kane, bạn bè gọi tôi là Arthur.
Có một chút gì thâm hiểm trong giọng nói của lão.
Paige ngạc nhiên tự hỏi không biết lão có bao nhiêu bạn bè.
- Cô thấy làm việc ở đây thế nào?
Câu hỏi làm Paige bất ngờ.
- Tôi nghĩ rằng… tốt thôi.
Lão nhoài người về phía trước.
- Đây là bệnh viện lớn. Rất dễ lạc ở đây. Cô hiểu tôi nói gì chứ?
Paige lo lắng.
- Không hoàn toàn.
- Cô quá xinh đẹp với một nữ bác sĩ. Nếu cô muốn có vị trí ở đây, cô cần một người có thể giúp cô. Một người biết về những đường đi nước bước.
Câu chuyện càng lúc càng trở nên khó chịu.
- Và ông thích giúp tôi ư?
- Đúng vậy. - Lão nhe hai hàm răng xỉn. - Chúng ta có thể thảo luận chuyện này vào một bữa ăn tối nào đó.
- Chẳng có gì để mà thảo luận cả, thưa bác sĩ Kane. Tôi không quan tâm.
Arthur Kane nhìn theo Paige đi khuất, mặt lão đanh lại.
Trong năm nội trú đầu tiên, các bác sĩ cứ hai tháng một lần phải chuyển từ khoa này sang khoa khác: sản, rồi xương, rồi tiết niệu, rồi phẫu thuật…
Paige hiểu rằng thật là nguy hiểm khi nhập viện, nhất là vào mùa hè, nếu chẳng may bạn bị mắc một bệnh nghiêm trọng. Khi đó các bác sĩ chính thường nghỉ hè và số phận bệnh nhân được phó mặc cho các bác sĩ trẻ, đang nội trú.
Hầu như tất cả các bác sĩ đều thích bật nhạc trong phòng mổ. Một bác sĩ có biệt hiệu là Mozart, người khác lại có tên Axi Rose, do sở thích âm nhạc của họ.
Chẳng hiểu sao các ca mổ đều làm người ta đói ngấu. Họ thường xuyên thảo luận về các món ăn. Ví dụ trong ca mổ cắt bên thận hỏng của một bệnh nhân, bác sĩ mổ chính có thể thản nhiên nói:
- Hôm qua mình được một bữa tuyệt vời ở Bardelli hiệu ăn Ý ngon nhất San Francisco.
Hoặc người nào đó bình thản hỏi.
- Các bạn đã được thử loại bánh của ở Câu lạc bộ Sip chưa?
- Còn muốn ăn thịt bò, hãy thử ở Prime Rib ở Van Ness ấy.
Cũng trong lúc đó, các y tá đang cọ m.áu bệnh nhân vương ra sàn.
Khi nào không nói về thức ăn, họ nói về các trận bóng chày, bóng bầu dục.
- Cậu có xem thằng 49 chơi hôm chủ nhật vừa rồi không? Tớ cam đoan là bọn này để sổng mất cup Joe Montana.
Cứ như thế, câu chuyện tiếp diễn.
- Kafka(1) Paige nghĩ. Kafka thế nào cũng thích những cảnh này.
Một lần, vào khoảng 3 giờ sáng, khi Paige đang ngủ trong phòng trực thì điện thoại réo vang.
Một giọng nói vang lên:
Khi họ đã ở ngoài hành lang, Kat hỏi.
- Thưa bác sĩ, ông ta bị bệnh gì đấy ạ.
- Đây là loại GOK(2), tức là chỉ có Chúa mới biết. Chúng ta đã làm mọi xét nghiệm X quang, scan, sinh thiết… tất tật. Nhưng chẳng phát hiện ra bệnh ở đâu.
Họ tiến lại một bệnh nhân trẻ. Đầu quấn đầy băng, anh ta đang ngủ ngon lành. Khi bác sĩ Hutton mở băng ra, anh ta choàng tỉnh dậy.
- Chuyện gì vậy?
- Ngồi dậy. - Bác sĩ Hutton nói. Người thanh niên run lẩy bẩy.
Mình sẽ không bao giờ đối xử với bệnh nhân như thế. Kat tự nói với mình.
Bệnh nhân tiếp sau là một ông già khoảng bảy mươi nhưng còn khoẻ mạnh.
Khi bác sĩ Hutton tiến lại gần, ông ta gầm lên.
- Đồ chó, tao sẽ đưa mày ra toà.
- Bình tĩnh, thưa ông Sparolini.
- Đừng gọi tao là ông Sparolini. Mày đã biến tao thành một hoạn quan rồi còn gì.
Nghịch cảnh, Kat nghĩ.
- Ông Sparolini, chính ông đã đồng ý phẫu thuật và…
- Đấy là mưu mô của mụ vợ tao. Đồ chó cái chết bằm. Tao mà về đến nhà thì nó chết?
Họ bỏ đi, để mặc ông ta lảm nhảm một mình.
- Sao thế? - Một bác sĩ nội trú hỏi.
- Ông ta bị mắc căn bệnh của loài dê. Bà vợ tuy trẻ, nhưng đã có tới sáu đứa con và không muốn đẻ thêm nữa.
Tiếp theo là một cô bé mười tuổi. Bác sĩ Hutton xem biểu đồ và nói.
- Ta sẽ tiêm để đuổi mấy con sâu trong người cháu.
Cô y tá với ống tiêm tiến lại.
- Không đau đâu, bé con. - Cô y tá an ủi.
Kat nhớ lại những từ ấy.
"Không đau đâu, bé con… Đó là lời cha dượng thì thầm vào tai cô trong bóng tối kinh hoàng. Sẽ rất tuyệt. Dạng chân ra. Nào, chó con". Và lão đã cưỡng bức cô. Tay lão bịt mồm cô để ngăn tiếng thét phát ra. Năm đó cô mười ba tuổi. Và sau đó, hàng đêm, lão đều mò vào phòng Kat. "Mày thật may mắn có một người đàn ông như tao dạy dỗ". Không một sự van xin, kêu khóc nào có thề khiến lão ta dừng lại.
Kat không biết cha mình là ai. Mẹ cô là người quét dọn trong các toà công sở. Bà thường làm việc ban đêm. Cha dượng của cô là một người đàn ông to lớn bị thương tật trong một tai nạn ở xưởng luyện thép, suốt ngày ở nhà và uống rượu. Đêm đến, khi vợ đi khỏi là lão mò vào phòng của Kat. "Nếu mày hở ra với mẹ và em mày thì tao sẽ giết hết". Lão thường nói như thế. Mình không thể để ông ta làm hại Mike.
Mike kém Kat năm tuổi. Cô rất quý em và lo cho em, thực sự như một bà mẹ. Mike là điểm sáng duy nhất trong cuộc đời cô.
Một buổi sáng, khiếp sợ vì những lời doạ nạt của cha dượng, Kat quyết định phải nói cho mẹ hay. Mẹ sẽ làm mọi việc để chấm dứt chuyện này và bảo vệ cô.
- Mẹ ơi, dượng vào phòng con khi mẹ đi làm, ông ấy ép con.
Mẹ Kat nhìn sững một giây rồi thẳng tay tát vào mặt con gái.
- Mày dám dựng lên câu chuyện bẩn thỉu đến thế ư? Con đĩ.
Kat không bao giờ nói tới chuyện đó nữa. Nguyên nhân duy nhất làm cô còn ở lại ngôi nhà này là Mike.
Nó sẽ bị hại nếu chẳng có mình, Kat nghĩ. Nhưng vào cái ngày Kat biết rằng mình đã có mang, cô trốn khỏi nhà và đến với bà thím ở Mineapolis. Cuộc sống của cô thay đổi từ đó.
- Cháu không cần kể cho cô chuyện gì đã xảy ra. - Thím Sophie nói. - Cháu có biết trên phố Sesame người ta hát gì không? "Tuổi thanh xuân đâu dễ có". Cưng ạ, cuộc sống với người da đen chẳng dễ chịu gì. Cháu có hai lựa chọn. Cháu có thể cứ như thế này, giấu mặt đi và lên án xã hội đã gây ra những bất công hoặc là cháu đứng dậy làm cho mình thành người quan trọng.
- Cháu phải làm thế nào?
- Cháu phải biết giữ gìn phẩm giá của mình. Đầu tiên phải có một ý niệm về con người mà mình sẽ trở thành sau này. Và sau đó là làm việc để trở thành người như thế.
- Cháu không muốn sanh con. - Kat nói. - Cháu muốn nạo thai.
Chuyện đó được thực hiện một cách lặng lẽ, do một bà đỡ là bạn của thím Sophie. Sau vụ đó, Kat tự nhủ. Mình sẽ không bao giờ cho phép một người đàn ông nào đụng đến mình. Không bao giờ.
Minneapolis là một xứ sở thần tiên với Kat. Cứ cách vài khối nhà lại có một hồ nước, dòng suối hoặc nhánh sông. Và có tới hơn tán ngàn acrơ công viên phong cảnh. Cô bơi thuyền trên các hồ trong thành phố và đi thuyền dạo chơi trên sông Mississippi.
Cô đi thăm "Vườn thú lớn" với thím Sophie và đến "Thung lũng giải trí" vào các ngày chủ nhật. Cô cưỡi ngựa ở "Trang trại Tuyết tùng", và xem các hiệp sĩ mặc áo giáp đấu thương trong các lễ hội Phục hưng.
Thím Sophie nhìn Kat vui chơi và nghĩ thầm, "Con bé chẳng hề có tuổi thơ".
Dần dần, Kat lại vui vẻ như không hề có chuyện gì xảy ra, nhưng thím Sophie cảm thấy trong sâu lắng tâm hồn cháu bà có một điểm chẳng ai hiểu được, một thanh chắn mà con bé dựng lên hòng tránh những hiểm nguy.
Ở trường Kat cũng có bạn nhưng không hề có đứa con trai nào. Mấy đứa bạn gái của Kat bắt đầu hẹn hò, nhưng Kat vẫn cô đơn và cô quá tự hào để không than vãn, kể lể về chuyện đó. Cô gái chỉ nhìn vào bà thím của mình, người mà cô rất mực yêu quý.
Trước đây Kat chẳng có hứng thú gì với trường lớp sách vở nhưng thím Sophie đã làm mọi cái thay đổi. Nhà thím đầy sách và lòng ham thích đọc sách của thím rất dễ lây lan.
- Trong sách có những thế giới tuyệt vời. - Thím bảo cháu gái - Đọc đi, rồi cháu sẽ hiểu mình từ đâu đến và sẽ đi đến đâu. Cô có cảm giác một ngày nào đó cháu sẽ trở nên nổi tiếng. Cháu có thể trở thành người cháu muốn. Lúc này cháu chỉ là một người da đen nghèo. Nhưng nhiều nhà nghị sĩ, ngôi sao điện ảnh, nhà khoa học cũng đã từng nghèo như vậy. Vào một ngày nào đó chúng ta sẽ có tổng thống da đen. Tất cả phụ thuộc vào cháu. Đó là sự khởi đầu.
Kat trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Cô đọc rất nhiều. Trong thư viện trường, một hôm cô đọc được cuốn "Rèn mũi tên" của Sinclair Lewis và cô say mê với câu chuyện về một bác sĩ trẻ. Cô đọc thêm truyện "Lời hứa phải giữ" của Agnes Coofur và "Nữ bác sĩ" của Else Rose. Những câu chuyện này mở ra một thế giới mới trong cô. Cô phát hiện trong thế giới này không hiếm những người tự nguyện dành cả cuộc đời cho việc giúp đỡ, cứu sống người khác. Một ngày, Kat tử trường về nhà, nói với thím Sophie:
- Cháu sẽ trở thành bác sĩ. Một bác sĩ nổi tiếng!
Chú thích:
(1) Franz Kafka (1883-1924), nhà văn Tiệp gốc Do Thái.
(2) viết tắt của câu "God only know" (N.D)
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 4 -
Sáng thứ hai, ba biểu đồ bệnh án của Paige biến mất. Cô liền bị khiển trách.
Thứ tư, Paige bị đánh thức lúc 4 giờ sáng trong phòng trực cấp cứu. Ngái ngủ, cô nhấc ống nghe.
- Bác sĩ Taylor đây.
Im lặng.
- Alô… alô.
Cô nghe rõ tiếng thở ở đầu dây bên kia. Sau đó là tiếng dập máy.
Paige nằm thao thức đến hết đêm. Sáng ra, cô kể cho Kat chuyện xảy ra đêm qua.
- Hoặc mình mắc chứng hoang tưởng hoặc là có kẻ nào đó thù mình. -
- Bệnh nhân đôi khi trở nên hằn học với bác sĩ, - Kat nói. - Cậu có nghĩ ai đó…
Paige thở dài.
- Hàng chục người.
- Mình tin là chẳng có gì đáng ngại đâu.
Paige mong sao mình có thể tin được như vậy.
***
Bức điện kỳ diệu đã đến vào cuối hè. Nó nằm đợi sẵn khi Paige về đến căn hộ khuya hôm đó. Bức điện viết: "Đến San Francisco trưa chủ nhật. Nóng lòng gặp em. Yêu, Alfred"
Cuối cùng thì anh cũng trở về với cô. Paige đọc đi đọc lại bức điện, lần sau nỗi sung sướng của cô lại dâng lên cao hơn lần trước. Alfred. Tên chàng mở ra cả một ký ức xao động.
Paige và Alfred đã cùng lớn lên bên nhau. Cha họ cùng là thành viên trong đoàn cán bộ y tế của WHO(1) tới các nước Thế giới thứ ba để chiến đấu với những căn bệnh vi rút ác tính. Paige và mẹ đi cùng cha cô, bác sĩ Taylor, trưởng đoàn.
Paige và Alfred đã có một tuổi thơ kỳ diệu. Ở Ấn Độ, Paige học nói tiếng Hinđu. Hai tuổi, cô bé đã biết gọi tên túp lều tranh họ ở là basha. Cha cô là gorashaib, người đàn ông da trắng, còn cô là nani, em gái bé bỏng. Người ta gọi cha của Paige là abadhan, thủ lĩnh hoặc baba, người cha.
Khi bố mẹ vắng nhà, cô uống bhanga, một thứ rượu cất từ lá basit, và ăn chapati với ghi.
Rồi họ lên đường đi Phi châu. Một chuyến phiêu lưu khác.
Paige và Alfred thường bơi lội vùng vẫy ở những khúc sông có cá sấu và hà mã. Thú cảnh của hai đứa là lũ ngựa vằn, báo và rắn con. Chúng lớn lên trong những túp lều tranh vách đất quây tròn, không cửa sổ sàn đất nện bẩn thỉu và mái hình chóp lơp rơm.
Một ngày nào đó. Paige tự hứa với mình, ta sẽ sống trong một ngôi nhà thật sự, một căn nhà đẹp với bãi cỏ xanh và hàng rào trắng.
Đối với các bác sĩ đó là một cuộc sống khó khăn, cực nhọc. Nhưng đối với hai đứa trẻ, đó là một cuộc phiêu lưu không ngừng trên mảnh đất của sư tử, hươu cao cổ và voi. Chúng đi học trong những ngôi trường xây bằng đá xỉ, và ở nơi không có trường, chúng có gia sư.
Paige là đứa trẻ sáng dạ, trí óc như miếng bọt biển, thấm hết mọi thứ. Alfred ngưỡng mộ cô.
- Paige, một ngày nào đó anh sẽ cưới em làm vợ. - Alfred nói khi cô bạn mười hai tuổi, còn cậu mười bốn.
- Em cũng sẽ lấy anh làm chồng, Alfred.
Chúng là hai đứa trẻ nghiêm túc, quyết tâm sống trọn cuộc đời bên nhau.
Các bác sĩ của tổ chức WHO là những con người quên mình, dành cả cuộc đời cho sự nghiệp. Ở châu Phi, họ phải cạnh tranh với wogesha, các thầy lang bản xứ, với những phương thuốc thô thiển được truyền từ đời cha sang đời con, và thường gây hậu quả chết người. Phương thuốc truyền thống chữa trị vết thương trên da của người Masai là olklorite một hỗn hợp tiết bò, thịt sống và tinh chất của một thứ rễ cây bí truyền. Phương thuốc chữa đậu mùa của người Kikuyu là đánh đuổi bệnh tật cho trẻ con bằng gậy.
- Các ông phải chấm dứt ngay chuyện đó. - Bác sĩ Taylor bảo họ. - Không có tác dụng gì đâu.
- Còn hơn là ông đâm những cái kim nhọn vào d.a thịt chúng tôi. - Họ đáp lại.
Trạm y tế là những chiếc bàn xếp thành dãy dưới tán cây. Các thầy thuốc phải khám cho hàng trăm bệnh nhân một ngày và luôn luôn có một hàng dài người chờ đợi họ - những người mắc bệnh phong, rồi những buồng phổi nhiễm lao, những cơn ho rũ rượi, rồi đậu mùa, kiết lỵ…
Paige và Alfred quấn quýt bên nhau. Khi lớn hơn, chúng cùng đi chợ ở một bản xa hàng dặm đường. Và chúng trò chuyện với nhau về những dự định tương lai.
Y học là một phần trong tuổi hoa niên của Paige. Cô đã học chăm sóc bệnh nhân, học kê đơn thuốc và cô đoán trước được khi nào thì cha cần cái gì, để giúp đỡ cha.
Paige yêu quý cha. Curt Taylor là người đàn ông tận tuy, quên mình nhất mà cô từng biết. Ông thực sự yêu thương con người, dành cả cuộc đời để cứu giúp những người cần đến ông và lòng say mê đó đã truyền sang Paige. Dù bận bịu đến đâu ông vẫn tìm được thời gian dành cho con gái. Ông biến sự thiếu tiện nghi trong những nơi ở sơ sài của họ thành niềm vui.
q.uan hệ của Paige với mẹ cô lại khác. Mẹ cô là một hoa khôi của giới thượng lưu. Vẻ lãnh đạm của bà làm cho Paige e ngại. Cưới một bác sĩ rồi theo chồng đến những vùng xa xôi hẻo lánh, nghe thì thật lãng mạn, nhưng thực tế khắc nghiệt đã khiến bà cay đắng. Bà không phải một phụ nữ trìu mến, đáng yêu và Paige có cảm giác như bà luôn luôn than vãn.
- Tại sao chúng ta lại phải đến mảnh đất Chúa bỏ quên này hả, Curt?
- Con người ở đây sống như con vật. Chúng ta sẽ mắc một căn bệnh kinh tởm nào đó của họ mất thôi.
- Tại sao anh không hành nghề ở Mỹ và kiếm tiền như những bác sĩ khác?
Và cứ thế, triền miên.
Mẹ cô càng nhiếc móc, Paige càng yêu quý cha hơn.
Khi Paige mười lăm tuổi, mẹ cô biến mất cùng với tay chủ đồn điền cacao ở Brazil.
- Mẹ không quay trở lại nữa hả ba? - Paige hỏi.
- Không, cưng ạ. Ba xin lỗi.
"Càng tốt!" - Cô không định nói như vậy. Cô chỉ đau khổ thấy mẹ ghét bỏ hai cha con đến mức có thể bỏ lại tất cả mà đi.
Chuyện xảy ra đã khiến Paige càng gần gũi với Alfred Turner hơn. Họ cùng vui chơi, cùng đi thám hiểm, và chia xẻ với nhau những mơ ước của mình.
- Khi nào lớn lên, anh cũng làm thầy thuốc. - Alfred tâm sự. - Chúng ta sẽ sống với nhau và sẽ làm việc cùng nhau.
- Và chúng ta sẽ đẻ thật nhiều con.
- Được thôi. Nếu như em thích.
Vào đêm sinh nhật lần thứ mười sáu của Paige, sự gắn bó tình cảm của họ đã chuyền sang một giai đoạn mới. Tại một làng nhỏ ở Đông Phi, các bác sĩ bị gọi đi hết vì một ca cấp cứu, do có bệnh dịch trong vùng, chỉ còn Paige, Alfred và người đầu bếp ở lại trông nom trạm.
Họ ăn tối rồi đi ngủ. Đến nửa đêm, Paige choàng tỉnh vì tiếng gầm xa xa của đàn thú rừng chạy trốn.
Cô nằm trong lều, nghe tiếng chân chạy và tiếng gầm rú mỗi phút càng gần hơn, và cô bắt đầu thấy sợ. Cô thở gấp. Không biết lúc nào cha cô và những người khác mới về.
Cô nhỏm dậy. Lán của Alfred chỉ cách đó có vài bước chân. Khiếp hãi, cô đứng lên, nhấc cửa lều và chạy sang đó.
Anh chàng đang ngủ.
- Alfred.
Cậu ngồi dậy, tỉnh ngủ ngay lập tức.
- Paige, hả? Có chuyện gì thế?
- Em sợ. Em có thể nằm vào gi.ường anh một lát không?
- Tất nhiên. - Họ nằm đó, lắng nghe tiếng thú rừng chạy lồng qua các bụi rậm.
Mấy phút sau, tiếng rầm rập lắng xuống.
Alfred bắt đầu nhận thấy cơ th.ể ấm áp của Paige bên cạnh mình.
- Paige, anh nghĩ em nên trở về lều của mình đi.
Paige cảm thấy cái vật đàn ông của Alfred áp vào cô rắn đanh.
Tất cả nỗi thèm khát dồn nén bấy lâu sôi lên dữ dội.
- Alfred.
- Gì cơ? - Giọng cậu khàn khàn.
- Chúng ta sẽ cưới nhau chứ?
- Ừ!
- Thế thì được.
Tiếng động của rừng nhiệt đới xung quanh họ biến mất. Họ bắt đầu thám hiểm và khám phá một thế giới mà ngoài họ ra chưa từng có ai biết đến. Họ là những tình nhân đầu tiên trong thế giới này và họ hãnh diện về sự huyền diệu của nó.
Rạng đông, Paige lẻn về lều của mình, và cô nghĩ một cách sung sướng. Mình đã là đàn bà.
Thỉnh thoảng, Curt Taylor lại gợi ý cho con gái trở về Mỹ sống với em trai ông trong ngôi nhà đẹp đẽ ở Deerfield, phía Bắc Chicago.
- Vì sao? - Paige hỏi.
- Để con có thể lớn lên thành một thiếu nữ đứng đắn.
- Con là một thiếu nữ đứng đắn đấy chứ.
Các thiếu nữ đứng đắn không trêu chọc khỉ rừng và cưỡi lên lưng lũ ngựa vằn như con.
Câu trả lời bao giờ cũng như nhau:
- Con không bỏ ba đâu.
***
Khi Paige mười bảy tuổi, đoàn y tế WHO đi tới một làng rong rừng rậm Nam Phi để thanh toán dịch. Các bác sĩ vừa đến thì chiến tranh đã nổ ra giữa hai bộ lạc địa phương. Curt Taylor được khuyến cáo là nên rời đi.
- Vì Chúa, không thể được. Các bệnh nhân của tôi sẽ chết mất nếu tôi bỏ mặc họ.
Bốn ngày sau, ngôi làng bị tấn công. Paige và cha cô nép trong căn lều của họ, lắng nghe tiếng hò hét và tiếng súng nổ bên ngoài.
Paige khiếp đảm.
- Họ sẽ giết chúng ta mất.
Cha cô ôm cô vào lòng.
- Họ sẽ không làm hại chúng ta đâu, cưng. Chúng ta đến đây để giúp những con người này. Họ biết chúng ta là bạn.
Và ông đã nói đúng.
Một tù trưởng xông vào lều của hai cha con với một số chiến binh.
- Đừng lo. Chúng tôi sẽ bảo vệ ông.
Và họ đã giữ lời hứa.
Trận chiến cuối cùng cũng kết thúc, nhưng sáng ra Curt Taylor đã đi đến quyết định.
- Ông đánh một bức điện cho người em trai. Gửi Paige về chuyến bay tới. Sẽ điện chi tiết sau. Đón cháu ở sân bay.
Paige phản ứng dữ dội khi biết tin. Cô bị đưa đi, khóc như điên, tới một sân bay nhỏ bụi bặm, nơi một chiếc Piper Cub đang chờ để chở cô lên thị trấn, ở đó cô có thể đón máy bay đi Johannesburg.
- Ba tống con đi cho rảnh nợ chứ gì? - Cô gào lên.
- Ông xiết chặt con gái vào lòng.
- Ba thương con hơn bất cứ thứ gì trên đời, bé ạ. Ba sẽ nhớ con từng giây phút. Nhưng ba sẽ sớm trở về Mỹ, và chúng ta sẽ lại ở bên nhau.
- Ba hứa chứ?
- Ba hứa.
Alfred cũng đi tiễn Paige.
- Đừng lo, - cậu bảo người yêu. - Khi nào được là anh sẽ về cưới em ngay. Em sẽ đợi anh chứ?
Câu hỏi khá là ngốc nghếch, sau ngần ấy năm.
- Tất nhiên em sẽ đợi.
Ba ngày sau, khi máy bay đáp xuống phi trường O Hara ở Chicago, chú Richard đã có mặt để đón Paige.
Cô chưa bao giờ gặp chú. Cô chỉ biết rằng chú là một thương nhân rất giàu và vợ đã mất cách đây vài năm.
"Chú là người thành đạt nhất trong gia đình", cha cô thường nói vậy.
Câu đầu tiên của ông chú làm cô choáng váng.
- Chú rất buồn phải thông báo cho cháu, Paige ạ, nhưng chú vừa nhận được điện báo ba cháu đã bị chết trong một cuộc giao tranh của thổ dân.
Thế giới của cô vỡ tan trong phút chốc. Nỗi đau mạnh đến mức cô nghĩ sẽ không thể chịu nổi. Mình sẽ không để cho chú thấy mình khóc. Paige tự nhủ.
- Không! Lẽ ra mình không được bỏ đi. Mình sẽ quay về nơi đó.
Trên đường từ sân bay về, Paige gườm gườm nhìn dòng xe cộ dày đặc.
Cháu ghét Chicago.
- Sao thế, Paige?
- Một khu rừng rậm.
Richard không cho Paige quay lại châu Phi dự tang cha và điều đó khiến cho cô phát khùng.
- Paige, người ta đã chôn cất cha cháu rồi. Chẳng có lý do gì mà quay lại.
Có một lý do. Alfred đang ở đó. Ít ngày sau khi Paige đến, ông chú tỏ ý bàn bạc về tương lai của cô.
- Không có gì phải bàn hết, - Paige tuyên bố. - Cháu sẽ làm bác sĩ.
Hai mốt tuổi, tốt nghiệp cao đẳng, Paige đầu đơn vào mười đại học y và cả mười trường đều nhận. Cô chọn trường ở Boston.
Phải mất hai ngày mới gọi được cho Alfred ở Zaire, nơi anh đang làm việc ngoài giờ cho một đơn vị của Tổ chức Y tế Thế giới.
Khi Paige báo tin, chàng nói:
- Thật tuyệt, em yêu. Anh cũng gần tốt nghiệp khoá y khoa rồi. Anh sẽ làm việc cho WHO thêm một thời gian nữa, sau đó chúng ta sẽ hành nghề cùng nhau.
"Cùng nhau". Một từ tuyệt diệu.
- Paige, anh thèm gặp em quá. Nếu anh xin nghỉ được ít ngày, em có thể đến với anh ở Hawaii không?
- Vâng. - Không một chút do dự.
Cả hai cùng cố gắng. Sau đó, Paige hiểu Alfred đã phải khó khăn đến mức nào mới thu xếp được chuyến đi dài như vậy, nhưng anh không hề đả động tới chuyện đó.
Họ sống ba ngày kỳ diệu trong một khách sạn nhỏ ở Hawaii có tên là Vũng Nắng, và dường như họ chưa bao giờ chia ly. Paige muốn Alfred trở về Boston với cô biết chừng nào, nhưng cô biết như vậy là ích kỷ. Công việc anh đang làm quá quan trọng.
Ngày cuối cùng bên nhau, khi họ mặc quần áo, Paige hỏi.
- Người ta sẽ phái anh đi đâu, Alfred?
- Gambia, hoặc có thể là Bangladesh.
Để cứu vót những sinh mạng, để giúp những con người cần đến anh biết bao. Cô ghì chặt lấy Alfred và nhắm mắt lại. Cô không bao giờ muốn anh đi.
Như đọc được ý nghĩ của cô, anh nói:
- Anh hứa rồi sẽ không để em phải xa anh.
Thư từ đều đặn. Dù đang ở chân trời góc bể nào, Alfred cũng cố gọi cho cô vào những dịp Giáng sinh và sinh nhật. Ngay trước đêm giao thừa năm thứ hai đại học của Paige, Alfred gọi điện về.
- Paige!
- Anh yêu! Anh đang ở đâu thế?
- Anh ở Senegal. Anh tính chỉ cách khách sạn Vũng Nắng tám trăm dặm thôi.
Cô lặng đi một phút.
- Anh định nói…
- Em có thể đến Hawaii đón năm mới với anh không?
- Ôi vâng! Vâng!
Alfred đã đi gần nửa vòng trái đất để gặp cô, và lần này phép màu còn mạnh hơn lần trước. Thời gian ngừng lại cho hai người.
- Sang năm, anh sẽ phụ trách một đoàn cán bộ WHO, - Alfred nói. - Khi nào em tốt nghiệp, anh muốn chúng ta cưới nhau.
Họ còn được ở bên nhau một đêm nữa, và khi không thể gặp mặt, thư từ của họ vẫn băng qua không gian và thời gian.
Khi Paige đọc bức điện của Alfred đến lần thứ năm, cô nghĩ, anh ấy sắp về San Francisco.
Kat và Honey đã về phòng ngủ. Paige lay họ dậy.
- Alfred sắp về! Anh ấy sắp về rồi? Anh ấy sẽ đến đây vào chủ nhật!
- Tuyệt, - Kat lầm bầm. - Sao không đợi chủ nhật hẵng dựng người ta dậy. Vừa mới chợp mắt…
Honey hưởng ứng hơn. Cô ngồi dậy và nói.
- Tuyệt vời! Mình mong gặp chàng của cậu chết đi được Cậu xa anh ta bao lâu rồi?
- Hai năm, - Paige đáp, - nhưng bọn mình vẫn liên hệ thường xuyên.
- Cậu là cô nàng may mắn. - Kat thở dài. - Dậy cả thôi. Tớ sẽ pha cà phê.
Ba người ngồi vào bàn dưới bếp.
- Sao chúng ta không làm một bữa tiệc đón Alfred nhỉ? - Honey gợi ý. - Đại loại một bữa "Chúc mừng chú rể" ấy mà.
- Ý kiến hay đấy, - Kat đồng ý.
- Chúng ta sẽ làm một buổi lễ hẳn hoi, bánh gatô, bóng bay, mọi thứ.
- Chúng ta sẽ nấu bữa tối cho Alfred ngay tại đây, - Honey nói.
Kat lắc đầu.
- Tôi đã nếm thử tài nấu nướng của các bà rồi. Đi đặt nhà hàng thôi!
Còn bốn ngày nữa mới đến chủ nhật và họ dành hết cả thời gian rảnh rỗi để bàn tính việc đón tiếp Alfred. Bằng một phép màu nào đó, cả ba cô đều không phải trực vào hôm đó.
Thứ bảy, Paige cố thu xếp một buổi đi mỹ viện.
Cô mua về và khoe ngay một bộ váy mới.
- Trông tớ tươm tất chưa? Liệu anh ấy có ưng không nhỉ?
- Trông cậu thật mê ly! - Honey trấn an bạn. - Mình hy vọng chàng xứng đáng với cậu.
Paige mỉm cười.
- Mình lại hy vọng sẽ xứng đáng với Alfred. Các cậu cũng sẽ mê anh ấy cho mà xem. Anh ấy kỳ diệu lắm.
Hôm chủ nhật, một bữa trưa được chuẩn bị công phu đặt trên bàn ăn với một chai sâm banh ướp đá.
Ba người đàn bà đứng quanh bàn, hồi hộp chờ đợi sự xuất hiện của Alfred.
Hai giờ chiều, tiếng chuông reo lên, Paige lao ra mở cửa. Đó là Alfred. Trông chàng hơi mệt mỏi, gầy đi Nhưng vẫn là Alfred của cô. Đứng cạnh chàng là một phụ nữ tóc đen, khoảng chừng ba mươi tuổi.
Paige ôm chầm lấy anh. Rồi cô quay lại Honey và Kat, nói đầy hãnh diện.
- Đây là Alfred Turner. Alfred, đây là các bạn cùng phòng của em, Honey Taft và Kat Hunter.
- Hân hạnh được gặp các cô. - Alfred nói. - Rồi anh quay sang người đàn bà bên cạnh. - Còn đây là Karen Turner, vợ tôi.
Ba cô gái đứng chết lặng.
- Vợ anh? - Paige chậm chạp hỏi lại.
- Ừ - Chàng cau mày. - Em không… không nhận được thư anh sao?
- Thư?
- Ừ? Anh gửi cách đây mấy tuần.
- Không…
- Ôi anh… anh vô cùng xin lỗi. Anh đã giải thích tất cả trong thư… nhưng tất nhiên, nếu em không nhận được… - Giọng anh nhỏ dần. - Anh thực sự xin lỗi, Paige. Chúng mình xa nhau quá lâu… và rồi anh gặp Karen… em hiểu thế nào rồi đấy…
- Em hiểu. - Paige nói giọng đờ đẫn. Cô quay sang Karen, cố nở nụ cười. - Tôi… tôi hy vọng chị và Alfred sẽ rất hạnh phúc.
- Cám ơn.
Tiếp đó là một quãng im lặng ngượng ngùng.
- Chúng ta nên đi thôi, anh yêu ạ. - Karen nói.
- Đúng. Anh chị nên đi thì hơn. - Kat nói.
Alfred lùa tay vào tóc.
- Anh thật tình xin lỗi, Paige. Anh… thôi… tạm biệt em.
- Tạm biệt, Alfred.
Ba người đàn bà đứng đó, nhìn theo cặp vợ chồng bước xa dần.
- Tên đểu! - Kat thốt lên. - Đê tiện đến thế là cùng.
Mắt Paige đã đầy lệ.
- Mình… anh ấy không phải người như thế đâu… mình muốn nói… chắc anh ấy đã giải thích tất cả trong thư.
Honey vòng tay ôm Paige.
- Cần phải ra một đạo luật thiến hết bọn đàn ông đi.
- Mình sẽ uống mừng luật đó. - Kat nói.
- Xin lỗi. - Paige lắp bắp. Cô cắm cúi chạy về phòng và đóng sập của lại.
Cô không ra khỏi phòng suốt ngày hôm đó.
Chú thích:
(1) Tổ chức Y tế thế giới.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 5 - DỊCH TỪ NGUYÊN BẢN: NOTHING LAST FOREVER
Mấy tháng sau đó, Paige hoạ hoằn mới gặp được Kat và Honey. Họ ăn bữa sáng vội vàng trong căng tin và thỉnh thoảng lướt qua nhau trong các hành lang bệnh viện. Họ trao đổi chủ yếu bằng những mầu giấy nhắn để lại ở căn hộ.
"Bữa tối trong tủ lạnh"
"Lò vi sóng đã tắt"
"Xin lỗi, mình không có thời gian dọn dẹp".
"Thứ bảy chúng ta đi ăn tiệm được không?"
Những giờ làm việc kéo dài, bận rộn quá sức chịu đựng vẫn tiếp tục, là sự hành hạ cũng như thử thách lòng kiên nhẫn của tất cả các bác sĩ nội trú.
Paige cám ơn sự căng thẳng đó. Nó không cho cô lúc nào để mà nghĩ về Alfred và tương lai tuyệt diệu mà họ đã cùng vẽ nên bên nhau. Thế nhưng cô không sao gạt được Alfred ra khỏi tâm trí. Điều anh làm đã để lại nỗi đau sâu thẳm và nó không chịu buông tha cô. Cô tự hành hạ mình bằng trò chơi vô nghĩa "giá như".
Giá như mình ờ lại châu Phi với Alfred.
Giá như chàng về Chicago với mình.
Giá như chàng không gặp Karen.
Giá như…
Một hôm, thứ sáu, khi Paige vào phòng thay quần áo để đi găng tay, hai chữ "con đĩ" đã được viết trên tủ áo cô bằng một loại bút đánh dấu đen.
Ngày hôm sau, khi Paige đi tìm cuốn sổ trực của cô, nó đã mất tăm. Tất cả ghi chép của cô cũng đã biến mất. Chắc mình để lạc đâu đó, Paige nghĩ.
Nhưng cô không thể nào tin được.
Thế giới bên ngoài nhà thương đã ngừng tồn tại.
Paige biết tin Irag xâm lược Kuwait, nhưng cuộc chiến vẫn bị lu mờ bởi nỗi thương tâm trước một bệnh nhân mười lăm tuổi đang hấp hối vì bệnh m.áu trắng. Ngày Đông và Tây Đức thống nhất, Paige còn đang mải cứu sống một bệnh nhân bị bệnh đái đường. Margaret Thatcher đã thôi giữ chức Thủ tướng Vương quốc Anh, nhưng quan trọng hơn, bệnh nhân phòng 214 đã đi lại được. Các đồng nghiệp đã giúp Paige đứng vững. Trừ một vài ngoại lệ, còn họ đều chuyên tâm, hết lòng chữa bệnh, giảm nhẹ đau đớn và cứu sống con người.
Paige quan sát những phép màu họ làm ra mỗi ngày, lòng đầy hãnh diện.
Những giờ dài dằng dặc ở bệnh viện và sự khẩn trương trong công việc đã gây cho các y bác sĩ sự căng thẳng cao độ. Tỷ lệ ly hôn tăng vọt, và những vụ ngoại tình trở nên phồ biến.
Tom Chang là một trong số người có vấn đề. Anh kể với Paige trong lúc uống cà phê.
- Mình có thể điều khiển giờ giấc. - Chang tâm sự - nhưng vợ mình không chịu. Cô ấy than phiền rằng chẳng cách nào gặp được mình nữa, và mình đã thành xa lạ với đứa con gái nhỏ. Cô ấy nói đúng. Mình không biết phải làm sao bây giờ.
- Vợ cậu đã đến thăm bệnh viện này chưa?
- Chưa.
- Sao cậu không mời cô ấy đến đây ăn trưa hả - Tom? Hãy để cho cô ấy biết cậu làm gì ở đây và công việc đó quan trọng đến mức nào.
Chang tươi tỉnh hẳn.
- Sáng kiến hay quá. Cám ơn Paige. Mình sẽ làm như vậy. Bạn cùng ăn trưa với vợ chồng mình được không?
- Rất sẵn lòng.
Sye, vợ Chang, hoá ra là một thiếu phụ đáng yêu, với sắc đẹp hài hoà không có tuổi. Chang dẫn vợ đi tham quan bệnh viện, và sau đó họ ăn trưa trong căng tin với Paige.
Chang cho Paige biết Sye sinh ra và lớn lên ở Hồng Kông.
- Chị thích San Francisco không? - Paige hỏi.
Im lặng một thoáng.
- Thành phố này cũng hay, - Sye đáp lịch sự, - nhưng em có cảm giác ở đây em là một kẻ xa lạ. Quá lớn, quá ồn.
- Nhưng theo tôi hiểu, Hồng Kông cũng lớn và ồn ào đấy chứ.
- Em quê ở một làng nhỏ cách Hồng Kông một tiếng đi đường. Ở đó không có xe cộ ầm ỹ và mọi người đều quen biết nhau. - Cô nhìn sang chồng. - Tom và em cùng đứa con gái đã sống rất hạnh phúc ở đó. Đó là một làng rất đẹp trên đảo Lamma. Bờ biển trắng phau và những trang trại xinh xắn, bên cạnh là làng chài nhỏ Sak Kwu Wan. Thật thanh bình biết bao.
Giọng người đàn bà đượm nỗi tiếc nuối quê hương.
- Dạo ấy, vợ chồng em lúc nào cũng bên nhau, đúng nghĩa là một gia đình. Ở đây, em chẳng bao giờ gặp được anh ấy.
- Chị Chang, tôi hiểu lúc này thật khó khăn cho chị, nhưng chỉ vài năm nữa thôi Tom sẽ được mở phòng khám tư, và khi đó công việc cũng như giờ giấc của Chang sẽ dễ chịu hơn nhiều.
Tom Chang nắm lấy tay vợ.
- Em thấy chưa? Mọi việc sẽ ổn cả thôi, Sye. Em phải kiên nhẫn chứ.
- Em hiểu rồi. - Người vợ nói. Giọng cô ta không mấy tin tưởng.
Trong khi họ nói chuyện, một người đàn ông bước vào căng tin. Khi anh ta dừng lại ở cửa, Paige chỉ nhìn thấy gáy người đó. Tim cô đập dồn dập. Người đàn ông quay lại. Đó là một người lạ hoàn toàn.
Chang nhìn Paige.
- Bạn không sao chứ?
- Không, - Paige nói dối. Mình phải quên Alfred đi. Chuyện đã qua rồi. Nhưng còn kỷ niệm của bao nhiêu năm tuyệt vời ấy, niềm vui, nỗi sung sướng, tình yêu họ đã dành cho nhau… Làm sao mình có thể quên đi tất cả? Hay là thuyết phục một bác sĩ nào đó phẫu thuật thuỳ não cho mình?
Paige chạy ngang qua Honey trong hành lang. Honey thở không ra hơi và lo lắng.
- Mọi việc ổn cả chử? - Paige hỏi.
Honey mỉm cười bối rối.
- Ừ ổn. - Cô cắm cúi đi tiếp.
Honey mới được giao cho một bác sĩ hướng dẫn tên là Charles Isler, người nổi tiếng khắp bệnh viện là một tay quân phiệt.
Ngay tua trực đầu tiên của Honey, ông ta đã nói.
- Bác sĩ Taft, tôi rất mong được làm việc với cô. Bác sĩ Wallace đã kể cho tôi về thành tích xuất sắc của cô ở trường y. Tôi được biết bác sĩ sẽ thực hành nội khoa.
- Vâng.
- Tốt. Vậy là chúng tôi còn có được bác sĩ ở đây ba năm nữa.
Họ bắt đầu tua trực.
Bệnh nhân đầu tiên của họ là một thanh niên người Mexico. Isler bỏ qua các bác sĩ nội trú khác và quay sang Honey.
- Bác sĩ Taft, tôi nghĩ bác sĩ sẽ thấy đây là một ca đáng chú ý. Bệnh nhân cỏ tất cả những biểu hiện và triệu chứng kinh điển: Kém ăn, sụt cân, đắng miệng, mệt mỏi, thiếu m.áu, dễ cáu kỉnh và rời rã. - Ông nheo mắt nhìn Taft. - Bác sĩ chẩn đoán thế nào?
Và ông mỉm cười chờ đợi.
Honey ngó ông ta trừng trừng:
- À. có thể là một số bệnh… đúng không à?
Bác sĩ Isler nhìn lại khiến cô bối rối. Ông gợi ý:
- Đây là một trường hợp rõ ràng của bệnh…
Một bác sĩ nội trú tiếp lời.
- Ngộ độc chì?
- Đúng! - Isler đáp.
Honey mỉm cười.
- Hiển nhiên rồi. Ngộ độc chì.
Bác sĩ Isler lại quay sang Honey.
- Cách điều trị ra sao?
Honey nói một cách lẩn tránh.
- À có một số cách điều trị khác nhau, phải không ạ?
Một bác sĩ nội trú khác phát biểu.
- Nếu bệnh nhân đã bị nhiễm độc lâu ngày, cần phải được chữa trị như một ca tiềm chứa viêm não.
Bác sĩ Isler gật đầu.
- Đúng. Đó là điều chúng ta đang làm. Chúng ta đang điều trị chelat.
Ông nhìn sang Honey. Cô gật đầu đồng ý.
Bệnh nhân tiếp theo là một ông lão tám mươi tuổi. Mắt ông ta đỏ ngầu và hai mí mắt gần như dính chặt với nhau.
- Chúng tôi sẽ chăm sóc cụ ngay đây, - bác sĩ Isler trấn an ông lão. - Cụ cảm thấy thế nào?
- Ồ không đến nỗi quá tệ với một lão già như tôi.
Bác sĩ Isler lật tấm chăn, để lộ đầu gối và mắt cá chân sưng tấy của người bệnh. Có những thương tổn trên bàn chân ông lão.
Bác sĩ Isler quay sang đám nội trú.
- Sưng do viêm khớp. - Ông nhìn Hunter. - Kèm theo thương tổn da và viêm kết mạc. Tôi tin chắc bác sĩ có thể chẩn đoán đó là bệnh gì.
Honey chậm chạp nói.
- Có thể là… bác sĩ biết đấy…
- Hội chứng Reiter, - một bác sĩ nội trú lên tiếng.
- Nguyên nhân chưa rõ. Thường có kèm theo sốt nhẹ.
Bác sĩ Isler gật đầu.
- Đúng. - Ông lại nhìn Honey. - Tiên lượng bệnh ra sao?
- Tiên lượng?
Anh chàng kia lại đáp.
- Tiên lượng chưa rõ. Có thể điều trị bằng các loại thuốc chống viêm.
- Rất tốt, - bác sĩ Isler nói.
Họ khám cho mười hai bệnh nhân, và khi tua thăm bệnh kết thúc, Honey nói với bác sĩ Isler.
- Bác sĩ Isler, em có thể gặp riêng bác sĩ một lát không ạ?
- Được! Đến phòng tôi.
Khi họ đã ngồi trong phòng làm việc của Isler, Honey nói.
- Em biết bác sĩ thất vọng về em.
- Tôi phải thừa nhận là tôi hơi ngạc nhiên…
Honey ngắt lời.
- Em biết, thưa bác sĩ Isler. Đêm qua, em không sao chợp mắt nổi. Nói thực là… em hồi hộp quá vì được làm việc với ông, đến nỗi em… em không sao ngủ được.
Ông ta nhìn cô ngạc nhiên.
- À, ra thế. Tôi đã nghĩ chắc phải có nguyên nhân… Thành tích học tập của cô tuyệt thế kia mà. Điều gì đã khiến cô quyết định trở thành bác sĩ?
Honey cụp mắt xuống giây lát, rồi nhẹ nhàng nói.
- Em có một cậu em trai bị tai nạn. Các bác sĩ đã làm tất cả những gì có thể để cứu cậu ấy… nhưng em đã phải nhìn cậu ấy chết. Chết dần dần, mà em thì bất lực làm sao. Đó là lúc em quyết định dành cả đời mình để giúp cho những người khác khoẻ mạnh. - Nước mắt cô tuôn xuống.
Cô ấy yếu đuối thậ1! - Isler nghĩ.
- Vui lòng được trò chuyện với cô. - Ông nói như một kết luận, cũng là tế nhị thông báo đã hết giờ tiếp khách.
Honey nhìn ông ta và nghĩ. Ông ta tin mình.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 6 -
Phía bên kia thành phố, phóng viên báo chí và tivi đang đứng trực đầy đường chờ Lou Dinetto khi gã ra khỏi phòng xử án, mỉm cười vây vây, kiểu chào của hoàng tộc với đám dân đen.
Đi kèm hai bên Lou là hai tên vệ sĩ, một cao, gầy đét, có biệt hiệu Shadow và một to vật tên là Rhino. Lou Dinetto bao giờ cũng ăn mặc chải chuốt, đắt tiền, complê lụa sẫm, sơ-mi trắng, cà vạt xanh, giày da cá sấu. Quần áo của gã được cắt may rất khéo, tạo cho gã dáng thanh mảnh, bởi thực ra gã lùn mập, lại bị tật chân cong. Gã luôn tươi cười niềm nở với báo chí, và báo chí cũng thích đưa tin về gã.
Dinetto đã bị khởi tố ba lần vì đủ loại tội, từ gây hoả hoạn đến cướp bóc, giết người, nhưng lần nào gã cũng trắng án.
Bây giờ, khi gã rời phòng xử, một phóng viên hét với theo.
- Ông biết rồi ông vẫn sẽ được tha bổng chứ, ông Dinetto?
Dinetto cười.
- Tất nhiên, tôi biết. Tôi là nhà kinh doanh vô tội. Chính phủ chẳng có việc gì làm nên lôi tôi ra toà đấy thôi. Đó là nguyên nhân khiến chúng ta phải è cổ ra mà đóng thuế.
Một camera truyền hình chĩa tới. Lou Dinetto dừng lại để mỉm cười vào máy.
- Ông Dinetto, ông có thể giải thích vì sao hai nhân chứng lại lẩn trốn mất không?
- Tất nhiên tôi có thể giải thích. - Dinetto nói. - Họ là những công dân trọng danh dự, và họ không muốn nói dối.
- Chính phủ cho rằng ông là trùm maphia miền Tây và ông đã sắp đặt…
- Điều duy nhất mà tôi sắp đặt là chỗ ngồi các vị khách trong nhà hàng của tôi. Tôi muốn mọi người cảm thấy thoải mái. - Gã cười rộng miệng, hướng về phía đám phóng viên. - Tôi mời tất cả các bạn đến nhà hàng của tôi tối nay. Không phải trả tiền. Gã tiến lại phía chiếc xe đen bóng đang chờ.
- Ông Dinetto…
- Ông Dinetto…
- Tôi sẽ gặp lại các bạn tối nay, ở nhà hàng của tôi. Các bạn đều đã biết địa chỉ đấy.
Lou Dinetto ngồi vào xe. Rhino đóng cửa rồi ngồi lên ghế trước. Shadow trườn vào theo.
- Thật tuyệt, thưa sếp! - Rhino nói. - Sếp đối đáp rất tuyệt.
- Ta đi đâu bây giờ? - Shadow hỏi.
- Về nhà, tao muốn tắm nước nóng và ăn thịt bò rán.
Chiếc xe lao đi.
- Tao không thích câu hỏi về nhân chứng. - Dinetto nói. - Chú mày chắc chắn rằng chúng nó đã không thể nói được chứ?
- Trừ trường hợp chúng sống lại từ đáy hồ, thưa ông chủ.
Dinetto gật đầu: "Tốt". Rồi gã cười gằn, hỏi:
- Mày có thấy phản ứng trên nét mặt của chưởng lý quận khi quan toà bác bỏ…
Một con chó bỗng dưng xuất hiện lao thẳng vào xe. Shadow quay mạnh tay lái và chồm lên phanh chân. Chiếc xe lao lên vỉa hè rồi tông luôn vào cột đèn bên đường. Đầu Rhino chúi về phía trước, đập vào kính chắn gió.
- Mày làm cái quỷ gì thế? - Dinetto gào lên. - Mày định giết tao à?
Shadow run bần bật.
- Em xin lỗi, có con chó chạy ngang…
- Mày coi mạng con chó hơn mạng tao à? Đồ ngu.
Rhino rên khe khẽ. Dinetto trông thấy m.áu chảy trên trán của hắn.
- Lạy Chúa! - Dinetto hét lên. - Mày trông này…
- Em không sao đâu. - Rhino lẩm bẩm.
- Mày thật hậu đậu. - Dinetto quay sang phía Shadow. - Đưa nó đi bệnh viện.
Shadow cho xe lùi lại.
- Bệnh viện Embarcadero ở gần đây thôi. Đưa nó vào phòng cấp cứu.
- Vâng. Thưa sếp.
Dinetto ngồi ngả về phía sau:
- Một con chó. - Hắn nói ghê tởm. - Lạy Chúa!
Kat đang ở phòng cấp cứu khi Dinetto, Shadow và Rhino kéo vào. Rhino chảy m.áu nhiều.
Dinetto gọi với.
- Này cô kia!
Kat quay lại.
- Ông nói với tôi đấy à?
- Tôi còn nói với ai ở đây được nữa. Người này chảy m.áu nhiều. Chữa ngay đi.
- Còn cả chục người đến trước. - Kat nói nhẹ nhàng. - Anh ta cũng phải đợi thôi.
- Nó chẳng phải đợi ai hết. - Dinetto nói với Kat. - Phải làm cho nó lập tức.
Kat đi đến chỗ Rhino, khám qua loa rồi đưa một mảnh bông, áp vào vết thương.
- Giữ lấy. Tôi sẽ quay lại.
- Tôi nói chữa cho nó cơ mà.
Kat quay lại phía Dinetto.
- Đây là phòng cấp cứu bệnh viện. Tôi là bác sĩ trực. Cho nên ông, hoặc là im lặng hoặc ra ngay khỏi đây.
Shadow nói:
- Cô kia, cô không biết đang nói chuyện với ai à? Tốt nhất là hãy làm theo lời ông ta. Đây là ngài Lou Dinetto.
- Nào, bây giờ biết nhau rồi, - Dinetto nói giọng sốt ruột. - Chữa ngay cho người này đi.
- Tai ông có vấn đề rồi, - Kat nói. - Tôi nhắc lại, hoặc là im lặng hoặc ra khỏi đây.
Rhino gầm gừ.
- Cô không thể ăn nói như thế với…
Dinetto quay sang Rhino quát.
- Câm mồm đi! - Rồi gã nhìn lại Kat, đổi giọng.
- Tôi sẽ rất cám ơn nếu cô chữa cho ông này càng nhanh càng tốt.
- Tôi sẽ làm tất cả. - Kat đáp rồi bảo Rhino nằm xuống gi.ường. - Tôi sẽ quay lại sau vài phút. - Rồi cô nói với Dinetto. - Đằng kia có mấy cái ghế đó.
Dinetto và Shadow nhìn cô rồi đi về phía mấy bệnh nhân khác.
- Lạy Chúa. - Shadow nói. - Cô ta chẳng hề biết ông là ai.
- Tao chẳng cho rằng điều đó có ý nghĩa gì. Nó là một đứa con gái có cái đầu đấy.
Mười lăm phút sau, Kat quay lại chỗ Rhino và khám cho gã.
- Không có gì nghiêm trọng đâu, - cô nói. - Ông gặp may rồi. Đây chỉ là một vết thương xoàng.
Dinetto đứng nhìn Kat khâu vết thương trên trán cho Rhino một cách thành thạo.
Khi Kat hoàn thành vết khâu, cô nói.
- Vết thương sẽ liền nhanh thôi. Sau năm ngày ông hãy quay lại đây để tôi rút chỉ.
Dinetto tiến lại xem xét cái trán của Rhino.
- Vết khâu rất đẹp. - Gã trầm trồ.
- Cám ơn. - Kat nói. - Xin ông tha lỗi những lời tôi nói ban nãy.
- Đợi một chút. - Dinetto nói rồi quay lại Shadow. - Đưa cô ấy một vé.
Shadow rút tờ 100 đô-la chìa cho Kat.
- Đây.
- Nơi thu tiền ở bên ngoài. - Kat nói.
- Đây không phải cho bệnh viện, cho riêng cô đấy.
- Không, cám ơn.
Dinetto nhìn theo Kat đi tới chăm sóc bệnh nhân khác. Shadow nói.
- Hay là chê ít?
Dinetto lắc đầu.
- Cô ấy là một người tự chủ và tự trọng. Ta thích điều này. - Gã im lặng một lát. - Evans đang xin nghỉ à?
- Vâng!
Ta muốn chú mày thu thập thông tin về cô bác sĩ này.
- Để làm gì?
- Đòn bẩy. Tao nghĩ sẽ có lúc cần đến cô ta đấy.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 7 -
Bệnh viện được các y tá điều hành. Margaret Spencer, y tá trưởng, đã làm việc ở Embarcadero hơn hai mươi năm, và bà biết tất cả các xác chết được chôn ở đâu, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Y tá Spencer là người phụ trách bệnh viện này, và bác sĩ nào không nhận ra điều đó, thường sẽ gặp rắc rối. Bà biết bác sĩ nào nghiện ma tuý, hay rượu, những ai trình độ kém và những ai đáng được bà ủng hộ. Bà cai quản các y tá phòng mổ. Chính Margaret Spencer là người bố trí y tá cho các ca mổ, mà y tá cũng có ba bảy loại, từ những người đắc lực đến những kẻ bất tài. Điều này khiến các bác sĩ càng phải nể vì Spencer. Bà có quyền xếp một cô y tá vụng về nhất cho một ca mổ thận phức tạp nhất hoặc gứi một y tá xuất sắc nhất cho một ca cắt amidan, nếu bà ghét hay ưa bác sĩ phụ trách ca đó. Một trong những định kiến của Margaret Spencer là sự ác cảm với các nữ bác sĩ và người da đen.
Kat Hunter vừa là nữ bác sĩ lại vừa là người da đen.
Kat làm việc thật vất vả. Không ai nói gì hay làm gì công khai, nhưng những định kiến, bằng nhiều cách, cứ len lỏi tới gây cản trở cho công việc của cô.
Cô không thể có những y tá theo đúng yêu cầu. Họ toàn gửi những người hầu như không có năng lực.
Kat nhận thấy mình thường xuyên phải khám cho các bệnh nhân nam mắc bệnh da liễu. Lúc đầu cô coi chuyện đó là bình thường, nhưng có một hôm, sau khi phải khám liền một hơi cho cả nửa tá người bệnh da liễu cô bắt đầu thấy nghi ngờ.
Trong một bữa ăn trưa, cô hỏi Paige.
- Cậu đã phải khám cho bao nhiêu đàn ông mắc bệnh da liễu?
Paige nghĩ một lát.
- Tuần trước mình phải khám cho một người.
- Mình phải làm một điều gì đó mới được. Kat nghĩ.
Bà Spencer dự định buộc Kat ra đi bằng cách hành hạ cô, nhưng bà không tính đến nghị lực cùng quyết tâm của Kat. Từng bước, từng bước cô dành được thiện cảm của những người làm việc với mình. Cô có một khả năng bẩm sinh trong việc gây ấn tượng với đồng nghiệp và bệnh nhân. Nhưng sự kiện gây chấn động nhất của Kat là vụ "truyền m.áu lợn".
Hôm đó, Kat đi tua cùng với một bác sĩ nội trú năm trên tên là Dundas. Họ đến bên gi.ường một bệnh nhân đang bất tỉnh.
- Ông Levi bị một tai nạn giao thông. - Dundas thông báo cho những bác sĩ nội trú khác. - Ông ta mất nhiều m.áu, cần phải truyền ngay lập tức. Bây giờ bệnh viện đang thiếu m.áu. Gia đình ông ta lại từ chối cho m.áu. Thật là bực hết chỗ nói.
- Thân nhân ông ta hiện ở đâu? - Kat hỏi.
- Ở ngoài phòng đợi. - Bác sĩ Dundas nói.
- Anh cho phép tôi nói chuyện với họ chứ? - Kat hỏi.
- Chẳng ích gì đâu. Tôi đã giải thích cặn kẽ cho họ rồi. Họ nhất định không chịu.
Kat ra phòng đợi. Ở đó có vợ, con trai lớn và con gái nạn nhân. Người con trai đeo một thứ bùa tôn giáo.
- Bà Levi? - Kat hỏi người đàn bà.
Bà ta đứng dậy.
- Chồng tôi sao? Họ có định mổ cho chồng tôi không?
- Có. - Kat nói.
- Nhưng đừng yêu cầu chúng tôi cho m.áu. Ngày nay việc đó quá nguy hiểm với AIDS và các loại bệnh khác.
- Bà Levi, - Kat nói, - bà không thể mắc AIDS bằng cách cho m.áu.
- Đừng giải thích với tôi nữa. Tôi đã đọc báo. Tôi biết.
Kat nhìn bà một lát.
- Tôi hiểu rồi. Được thôi. Bà Levi, hiện giờ bệnh viện đang thiếu m.áu nhưng chúng tôi đã có cách giải quyết.
- Tốt lắm!
- Chúng tôi sẽ truyền cho chồng bà m.áu lợn.
Hai mẹ con nhìn Kat choáng váng.
- Cái gì?
- m.áu lợn. - Kat nói vui vẻ. - Có lẽ cũng chẳng hại gì đâu.
Cô nói xong rồi quay đi.
- Chờ một chút. - Bà Levi kêu lên.
Kat dừng lại:
- Sao?
- Cho chúng tôi bàn bạc một chút.
- Tất nhiên.
Mười lăm phút sau, Kat lên gặp bác sĩ Dundas.
- Anh không cần băn khoăn về gia đình Levi nữa. Họ đã sẵn sàng cho m.áu rồi.
Câu chuyện lập tức lan nhanh trong bệnh viện.
Các bác sĩ, y tá trước đây phớt lờ cô nay đều tìm cách bắt chuyện với cô.
Vài ngày sau, Kat vào kiểm tra phòng cá nhân của Toni Leonard, một bệnh nhân bị mụn nhọt. Ông đang chén một bữa ăn khổng lồ mua ở một hiệu ăn gần đó.
Kat tiến lại.
- Ông đang làm gì đây?
- Ông ta nhìn lên và mỉm cười.
- Ăn một bữa tử tế, đổi món chút thôi. Xin mời cô cùng dùng: Nhiều thức ăn lắm.
Kat rung chuông gọi y tá.
- Gì vậy, thưa bác sĩ?
- Mang thức ăn ra khỏi đây. Ông Leonard đang trong chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt của bệnh viện. Cô không đọc biểu đồ này à?
- Dạ có, nhưng ông ta cứ đòi.
- Mang đi, làm ơn ngay cho.
- Này, đợi chút, - Leonard phản đối. - Tôi không nuốt nổi những thứ ở bệnh viện này.
- Ông sẽ ăn, nếu ông muốn khỏi mụn nhọt. - Kat nhìn y tá. - Mang đi ngay.
Ba mươi phút sau, Kat bị gọi lên phòng Giám đốc bệnh viện.
- Ông cần gặp tôi, thưa bác sĩ Wallace.
- Đúng, cô ngồi xuống, Toni Leonard là bệnh nhân của cô phải không?
- Đúng vậy, tôi thấy ông ta ăn những món nóng như san-đuých với thịt hun khói và dưa, xa lát khoai và nhiều thứ khác.
- Và cô cho mang thức ăn đi?
- Tất nhiên.
Wallace nhoài người khỏi chiếc ghế dựa.
- Bác sĩ, cô có lẽ không rõ Toni Leonard có chân trong hội đồng giám sát bệnh viện này. Phải để ông ấy hài lòng. Hiểu rồi chứ?
Kat nhìn ông ta và nói bướng bỉnh.
- Chưa hiểu, thưa ông.
Ông ta chớp mắt.
- Sao?
- Tôi cho rằng cách Toni Leonard hài lòng là làm ông ấy khoẻ mạnh. Ông ta sẽ không thể khỏi nếu như cứ tiếp tục hành hạ dạ dày của mình.
Benjamin Wallace gượng một nụ cười.
- Sao chúng ta không để ông ta tự lựa chọn nhỉ?
Kat đứng lên.
- Bởi vì tôi là bác sĩ của ông ta. Còn gì nữa không ạ?
- Tôi… à… không. Chỉ thế thôi!
Kat đứng dậy ra khỏi phòng.
Benjamin Wallace ngồi đó, tức run lên. Đàn bà làm bác sĩ!
***
Kat đang trực đêm, bỗng có điện thoại gọi.
- Bác sĩ Hunter, phòng 320 cần có cô.
- Tôi lên ngay đây?
Bệnh nhân ở phòng 320 là bà Molloy, mắc chứng ung thư. Bà đã ngoài tám mươi, sức khoẻ tồi tệ. Khi đi tới gần cửa, Kat đã nghe nhiều giọng lao xao phía trong. Cô bước nhanh vào.
Bà Molloy nằm trên gi.ường, mệt nhọc nhưng tỉnh táo. Con gái và con trai bà cũng ở trong phòng.
Người con trai nói.
- Chúng ta chia gia tài làm ba phần.
- Không! - Một cô con gái nói. - Laurie và tôi là những người chăm sôc mẹ. Ai là người nấu nướng, tắm giặt cho bà? Chúng tôi phải được toàn bộ tiền bạc và…
- Tôi cũng là m.áu thịt của bà ấy như các cô. - Người đàn ông kêu lên.
Bà Molloy nằm trên gi.ường, bất động, lắng nghe.
Kat bừng tức giận.
- Xin lỗi. - Cô nói.
Một người đàn bà quay lại nhìn cô.
- Lát nữa cô hãy đến, cô y tá, chúng tôi đang bận.
Kat nói giận dữ.
- Đây là bệnh nhân của tôi. Tôi cho các vị mười giây để ra khỏi phòng này. Các vị có thể chờ ngoài phòng đợi. Bây giờ các vị hãy tự đi ra trước khi tôi gọi bảo vệ đến.
Người đàn ông định nói gì đó nhưng ánh mắt Kat đã khiến ông ta phải ngừng lại. Ông ta quay sang hai bà chị, nhún vai.
- Chúng ta ra ngoài nói tiếp vậy.
Kat nhìn theo ba người đi ra rồi quay lại chỗ bà Molloy và chạm nhẹ vào đầu bà lão.
- Họ chỉ nói vở vẩn thôi mà.
Kat nói nhẹ nhàng và ngồi xuống bên cạnh bà, cầm lấy bàn tay, và nhìn bà già đang chìm đắm dần vào giấc ngủ.
Chúng ta đều đang chết! - Kat nghĩ - Hãy quên đi những điều Dylan Thomas nói: "Chân lý đích thực là đi vào buổi đêm vĩnh hằng đó sao cho thật êm đềm?
Kat đang chữa cho bệnh nhân thì một người phục vụ đến và nói.
- Đằng kia có một người cần gặp cô qua điện thoại, thưa bác sĩ.
Kat cau mày.
- Cám ơn. - Rồi cô quay về phía bệnh nhân đang băng bó. - Tôi sẽ trở lại ngay.
Kat đi về phía trực tầng, nhấc điện thoại.
- Ai đấy?
- Chào chị, em đây.
- Mike? - Cô rất vui sướng và ngạc nhiên khi nghe giọng của em. Nhưng sự ngạc nhiên chuyển ngay thành nỗi lo lắng.
- Mike, chị đã nói em đừng gọi về đây. Chị có điện thoại ở nhà.
- Vâng, em xin lỗi, nhưng không chờ được. Có một vấn đề nhỏ.
Kat biết ngay là có chuyện.
- Em có vay người bạn ít tiền để đầu tư vào một vụ…
Kat chẳng buồn hỏi xem vụ đó là gì, nói luôn.
- Và đã thất bại?
- Vâng, bây giờ anh ta đòi lại tiền.
- Bao nhiêu, Mike?
- Độ năm ngàn?
- Bao nhiêu?
Cô y tá trực nhìn Kat ngạc nhiên.
- Năm ngàn đô-la.
Kat hạ giọng.
- Chị không có chừng ấy. Nhưng chị có thể gửi cho em một nửa số ấy. Còn lại chị sẽ gửi sau vài tuần nữa. Thế là được chứ gì?
- Có lẽ vậy. Em chẳng muốn phiền chị, nhưng gấp quá.
Kat biết chuyện gì đã xảy ra. Em trai cô mới hai hai tuổi nhưng luôn dính vào những vụ làm ăn bí hiểm. Nó chơi bời với đám thanh niên lêu lổng. Chỉ trời mới biết rồi tương lai nó sẽ ra sao. Nhưng Kat cảm thấy phải có trách nhiệm với nó. Đấy là lỗi của mình, Kat nghĩ. Nếu mình không đi khỏi nhà và bỏ mặc nó…
- Cẩn thận nhé em. Chị yêu em. - Cô nói rồi gác máy.
Mình phải kiếm số tiền ấy. - Kat nghĩ. - Mike là tất cả những gì mình có trên đời.
Bác sĩ Isler đang đợi làm việc với Honey Taft một lần nữa. Ông đã tha thứ cho sự thụ động và chậm chạp của cô lần trước nhưng thật ra ông cũng khá hài lòng trước sự cảm phục của cô. Còn lần này, cô luôn đứng sau các bác sĩ nội trú khác, không bao giờ xung phong trả lời các câu hỏi của ông.
Sau khi tua ba mươi phút, bác sĩ Isler ngồi trong phòng Benjamin Wallace.
- Chuyện gì vậy? - Wallace hỏi.
- Về Taft.
Wallace ngạc nhiên.
- Taft. Cô ta có lời giới thiệu tốt nhất mà tôi từng đọc.
- Điều ấy làm tôi khó hiểu, - bác sĩ Isler nói. - Tôi nhận được báo cáo của một số bác sĩ nội trú. Cô ta luôn chẩn đoán sai và mắc những lỗi nghiêm trọng.
- Tôi chỉ muốn biết sự thật là cái quái gì vậy.
- Tôi chưa hiểu. Cô ta học ở trường y tốt lắm.
- Có lẽ ông phải gọi điện về cho chủ nhiệm khoa, nơi cô ta học. - Bác sĩ Isler đề nghị.
- Đấy là Jim Pearson. Một cha rất hay. Tôi sẽ gọi ngay đây.
Vài phút sau, Wallace đã nối được với Jim Pearson.
Họ trao đổi xã giao vài câu, sau đó Wallace nói.
- Tôi gọi về chuyện cô Betty Lou Taft, sinh viên cũ của ông.
Một thoáng im lặng.
- Sao?
- Chúng tôi có một vài vấn đề với cô ta, Jim ạ. Cô ta được nhận thực tập ở đây với lời giới thiệu rất tốt của ông.
- Đúng vậy.
- Và cô ta xứng đáng theo đuổi nghề y?
- Vâng.
- Ông có chút nghi ngờ gì không?
- Không! - Bác sĩ Pearson nói chắc nịch. - Chẳng có gì đâu. Cô ta có lẽ hơi lúng túng. Cô ta hay xúc động lắm. Hãy cho cô ta thêm một cơ hội nữa. Tôi tin rằng sẽ tốt đẹp cả thôi.
- Được rồi. Tôi cám ơn. Chúng tôi sẽ cho cô ta cơ hội.
Cuộc nói chuyện chấm dứt.
Jim Pearson ngồi đó, tự xỉ vả mình về những việc đã làm. Nhưng phải nghĩ đến vợ con trước đã.
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 8 -
- Không may cho Honey Taft đã sinh vào một gia đình quá thành đạt. Ông bố đẹp trai của cô là người sáng lập và chủ tịch một hãng máy tính lớn ở Memphis Tennessee, bà mẹ duyên dáng là nhà di truyền học, và hai chị gái sinh đôi của cô cũng quyến rũ, thông minh và đầy tham vọng như cha mẹ họ. Nhà họ Taft nằm trong số những gia đình xuất chúng nhất ở Memphis.
Honey xuất hiện một cách phiền toái khi các chị cô được sáu tuổi - Honey là một sơ xuất nhỏ của chúng tôi, - mẹ cô nói với bạn bè. - Tôi đã muốn phá thai nhưng Fred phản đối. Bây giờ thì anh ấy lại tiếc.
Trong khi các cô chị nồi trội ở mọi nơi mọi lúc thì Honey chỉ luôn ở mức làng nhàng. Họ sáng láng, còn Honey mờ nhạt. Các chị cô học nói khi chín tháng còn Honey cho đến lúc gần hai tuổi mới thốt ra được từ đầu tiên.
- Chúng tôi gọi nó là "con lật đật". - Cha cô cười. - Honey là con vịt xấu xí của.gia đình Taft. Có điều tôi không bao giờ nghĩ sẽ có ngày nó hoá thành thiên nga.
- Không phải Honey xấu xí, nhưng cũng chẳng thể bảo cô bé là xinh đẹp. Cô trông bình thường, với khuôn mặt gày quắt, một nhúm tóc vàng hoe và một thân hình chẳng đáng ghen tỵ. Cái mà Honey có là tâm tính vui tươi, hiền dịu lạ thường, một phẩn chất chẳng lấy gì làm quý hoá trong một gia đình ganh đua nhau về tham vọng như vậy.
Từ khi còn bé tý, mong ước lớn nhất của Honey đã làm sao cho bố mẹ cùng các chị vừa lòng và yêu quý cô. Đó là một cố gắng vô ích. Bố mẹ cô bận rộn với sự nghiệp của họ, và các chị cô còn mải đoạt vương miện trong các cuộc thi hoa hậu và giành học bổng.
Vô tình hay hữu ý, cả gia đình đã gieo vào Honey mặc cảm thua kém sâu xa.
Ở trường trung học, Honey nổi tiếng với biệt hiệu "cô dựa tường". Cô một mình đến dự các bữa tiệc khiêu vũ của trường, luôn cười mỉm, cố không tỏ ra mình thảm hại đến mức nào, vì cô không muốn làm người khác mất vui. Cô nhìn các chị được những chàng trai nổi tiếng nhất trường đến tận nhà đón đi, để rồi sau đó lủi thủi về phòng mình đánh vật với bài tập. Và cố nén khóc.
Vào những dịp cuối tuần và kỳ nghỉ hè, Honey kiếm được tiền tiêu vặt nhờ trông trẻ. Cô thích chăm sóc trẻ con, và lũ trẻ yêu quý cô. Khi nào không làm việc, Honey đi thám hiểm Memphis một mình. Cô đi thăm Graceland nơi Elvis Presley đã từng sống và đi dạo phố Beale, nơi nhạc blue ra đời. Cô lang thang khắp bảo tàng Pink Palace và Cung thiên văn. Cô tham quan bể cá.
Honey luôn luôn đơn độc.
Cô không hề biết cuộc đời cô sắp biến đổi hoàn toàn.
Honey biết nhiều bạn gái cùng lớp cô đã được nếm mùi tình ái. Họ bàn luận không ngớt ở trường:
- Đằng ấy đã ngủ với Ricky chưa? Thật đáng mặt lắm…
- Joe tới được cực điểm rồi đấy…
- Đêm qua tớ đi với Tony. Mệt quá! Anh chàng hung thật! Đêm nay tớ phải "làm lại" mới được…
Honey đứng nghe bọn họ xì xào, lòng đầy nỗi ghen ty cay đắng và một cảm giác rằng cô sẽ không bao giờ được biết nó ra sao. Ai cần đến mình cơ chứ!
Một tối thứ sáu, trường có vũ hội. Honey đã định không đi, nhưng cha cô bảo.
- Này con, bố thấy lo đấy. Bố nghe các chị con kể, con là "cô dựa tường", và con không đi khiêu vũ vì con không có ai hẹn hò cả.
Honey đỏ mặt.
- Không đúng, - Cô nói. - Có người hẹn con rồi, và con sẽ đi.
Lạy trời đừng cho bố hỏi ai hẹn với mình, Honey thầm khấn.
Bố cô không hỏi.
Thế là Honey lại lóc cóc đến vũ hội, ngồi trong xó quen thuộc của cô nhìn mọi người nhảy và vui thú.
Và rồi phép màu đã xuất hiện.
Roger Merton, đội trưởng đội bóng đá và là chàng trai được ái mộ nhất trường đang cãi nhau với cô bồ trên sàn nhảy. Gã đang say.
- Đồ khốn nạn ích kỷ! - Cô ta hét.
- Đồ con đĩ ngu ngốc!
- Đi mà bắt vít lấy một mình.
- Tao mà lại phải bắt vít một mình. Tao sẽ bắt vít con khác. Bất cứ con nào, tao muốn là được.
- Cứ việc! - Cô ả đùng đùng bỏ ra khỏi sàn nhảy.
Honey không thể bỏ ngoài tai câu chuyện.
Merton bất chợt thấy cô đang giương mắt ngó gã.
- Nhìn cái con mẹ gì hả? - Gã nói líu ríu.
- Có gì đâu. - Honey nói. - Tôi sẽ cho con đĩ ấy biết tay? Cô tưởng tôi không cho nó biết tay được hả?
- Tôi… có.
- Đúng rồi. Làm một… ly nhé!
Honey ngập ngừng. Merton rõ ràng đang xỉn.
- Tôi không…
- Tuyệt! Tôi có một chai trong xe.
- Tôi không nghĩ là tôi…
Gã chụp lấy cánh tay Honey và lôi cô ra khỏi phòng. Cô đi theo bởi vì không muốn gây lộn khiến mọi người chú ý tới.
Ra ngoài, Honey cố gỡ ra.
- Roger, tôi chẳng chẳng hay ho gì đâu, tôi…
- Cô em là cái đếch gì vậy, chim non hả?
- Không, tôi…
- Thế thì được. Tới đi.
Gã dòng cô tới xe và mở cửa. Honey đứng ngẩn ra giây lát.
- Vào đi - Tôi chỉ ngồi một lát thôi đấy, - cô nói.
Cô chui vào xe chỉ vì không muốn làm phiền lòng Roger. Gã nhảy vào ngồi cạnh.
- Chúng ta sẽ cho con ngốc ấy biết thế nào là lễ độ - Gã lôi ra chai bourbon. - Đây!
Honey mới chỉ uống một lần và cô ghét rượu. Nhưng đây là Roger mời. Hắn còn muốn gì ở cô nữa nhỉ?
Cô nhìn gã và miễn cưỡng nhấp một ngụm nhỏ.
- Cô em được đấy, - gã nói. - Mới chuyển đến trường này hả?
Honey đã học với gã được ba năm.
- Không, - Honey ấp úng, - tôi…
Gã nhoài tới và thọc tay vào ngực cô.
Hoảng hốt, Honey né người ra.
- Này! Thôi đi. Cô em không muốn làm vừa lòng anh sao? - Roger lè nhè hỏi.
Đó là một câu phù phép. Honey muốn làm vừa lòng tất cả mọi người, và nếu đây là dịp để làm điều đó.
Trên băng ghế sau chật chội của chiếc xe Merton, lần đầu tiên trong đời Honey được biết thế nào là t.ình d.ục và nó đã mở ra cho cô một thế giới mới đầy kinh ngạc. Honey không mê s.ex lắm, nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là Merton thấy khoái.
Mà gã khoái ghê thật điều khiến Honey lấy làm ngạc nhiên. Gã sướng cứ mê tơi. Cô chưa từng thấy ai thích cái gì nhiều đến thế. Vậy ra đó là cách để làm vừa lòng một người đàn ông, Honey nghĩ.
Đó là một phát hiện.
***
Honey không thể tin nổi điều kỳ diệu vừa xảy ra.
Cô nằm trên gi.ường, nghĩ tới cái vật cứng ngắc của Merton bên trong mình, tới rồi lui hối hả, gấp gáp, và rồi tiếng rên rỉ của gã.
- Ôi thế, thế… lạy Chúa, em tuyệt quá, Sally…
Honey chẳng lấy thế làm phiền. Cô đã được làm vừa lòng đội trưởng đội bóng đá! Chàng trai nổi tiếng nhất trường! Thậm chí mình không biết mình làm gì lúc đó, Honey nghĩ. Giá mà mình học được cách làm cho đàn ông sung sướng nhỉ…
Đó là lúc Honey có phát hiện thứ hai.
***
Sáng hôm sau, Honey đến Pleasure Chest, một hiệu sách t.ình d.ục trên phố Poplar và mua nửa tá sách về đề tài đó. Cô bí mật mang về nhà và đọc lén trong phòng riêng. Cô sửng sốt về những gì mình đang "thu nhập".
Cô lật lấy lật để những trang sách Vườn hoang, Kama Sutra, Nghệ thuật yêu đương của người Tibet, Thuật giả kim kh.oái lạc, rồi giở lại đọc từ đầu. Cô nghiền ngẫm những lời của Gedum Chopel và những bí quyết của Kanchinatha.
Cô nghiên cứu loạt tranh đầy kích động về ba mươi bảy tư thế làm tình và cô học ý nghĩa của các tư thế Trăng khuyết, Vòng tròn, Cánh sen, Vân đẳng.
Honey đọc đến mức thành thạo tám kiểu làm tình và mười sáu con đường kh.oái lạc. Cô đã biết cách dạy đàn ông thực hiện karuma để tăng mạnh thêm khoái cảm của họ, ít nhất về mặt lý thuyết.
Honey cảm thấy giờ đây cô đã sẵn sàng áp dụng kiến thức vào thực tế.
Trong Kama Sutra có mấy chương về k.ích th.ích t.ình d.ục cho người đàn ông, nhưng vì Honey không biết kiếm đâu ra Hedysarum gungeticum, loại cây kshirika hay xanthochymus pictonus nên cô đành phải tìm cách thay thế riêng của mình.
Tuần sau, khi gặp Roger Merton ở lớp, Honey lại gần gã và nói.
- Em rất thích tối hôm nọ đấy. Chúng ta có thể làm lại được không?
Phải mất một lúc gã mới nhớ ra Honey là ai.
- Ồ. Tất nhiên. Tại sao lại không nhỉ? Tối nay các cụ nhà anh đi vắng. Tám giờ đến anh nhé.
Khi Honey đến nhà Merton tối hôm đó, cô mang theo một chai xi rô nhỏ.
- Đề làm gì thế? - Merton hỏi.
- Em sẽ làm cho anh xem, - Honey nói.
Và cô đã làm cho gã xem thật.
Hôm sau, Merton kể với đám bạn trai của gã ở trường về Honey.
- Cô ta thật kỳ lạ, - gã nói. - Chúng mày không thể tin được cô ả có thể làm gì với một chai xi rô nhỏ ấm áp đâu.
Chiều hôm đó, tới nửa tá bọn con trai xin hẹn với Honey. Từ đó trở đi, tối nào cô cũng vắng nhà.
Bọn con trai sướng điên, và điều đó làm Honey rất hạnh phúc.
Bố mẹ Honey mừng rỡ trước sự nổi tiếng của con gái.
- Con bé nhà tôi nảy nở hơi muộn. - Bố cô hãnh diện khoe. - Nhưng giờ đây nó là một Taft thật sự rồi.
Honey luôn bị điểm kém về môn toán, và cô biết mình sẽ trưọt thẳng cẳng trong kỳ thi cuối năm. Giáo viên toán của cô, thầy Janson còn độc thân và ở ngay gần trường. Một tối nọ, Honey đến thăm thầy. Ông mở cửa và nhìn cô ngạc nhiên.
- Honey! Có chuyện gì thế?
- Em cần thầy giúp đỡ. - Honey nói. - Bố em sẽ giết em nếu em trượt kỳ này. Em có mấy bài toán khó, thầy có vui lòng giảng giùm em không ạ?
Thầy Janson lưỡng lự.
- Thế này thì hơi bất thường, nhưng… thôi được.
Thầy Janson rất quý Honey. Cô không như những cô gái khác trong lớp. Họ ồn ào mà lãnh đạm, trong khi Honey mẫn cảm và chu đáo, luôn tha thiết làm vừa ý mọi người. Giá mà cô có khả năng hơn về môn toán.
Thầy Janson ngồi cạnh Honey trên đi văng và bắt đầu giảng về những rối rắm của logarit.
Honey không quan tâm đến logarit. Trong khi nghe Janson nói, cô nhích gần vào thầy, mỗi lúc một sát hơn. Cô bắt đầu thở vào cổ, vào tai thầy, và trước khi kịp hiểu điều gì đang xảy ra, thầy Janson thấy quần mình đã bị kéo khoá.
Ông nhìn Honey kinh ngạc.
- Em làm cái gì vậy?
- Em đã thèm muốn ngay từ lần đầu tiên gặp thầy, Honey nói. Cô lôi trong bóp ra một hộp kem trứng.
- Cái gì thế này?
Rồi thầy sẽ biết…
Honey được điểm A môn toán.
Không phải chỉ những món phụ trợ mà Honey sử dụng đã làm nên tiếng tăm cho cô mà chính là những kiến thức cô lượm lặt được từ tất cả những cuốn sách t.ình d.ục cổ đại. Cô hiến cho bạn tình những kỹ xảo họ chưa bao giờ biết tới, vì chúng đã bị lãng quên hàng ngàn năm. Cô đã mang lại một ý nghĩa mới cho từ "kh.oái lạc".
Điểm số của cô tăng vùn vụt, và cô bỗng nhiên còn nổi tiếng hơn cả các chị mình hồi trung học. Cô ăn tối ở quán Con Mắt Phòng Kín và Câu lạc bộ Xe Đạp Bombay, cô được mời đi trượt băng ở Memphis Mall. Bọn con trai rủ cô đi trượt tuyết ở vách núi Cedar và bay nhảo lộn ở phi trường Landis.
Những năm học cao đẳng của Honey cũng tưng bừng như vậy. Một hôm, vào bữa tối, cha cô bảo:
- Con sắp tốt nghiệp rồi. Đã đến lúc phải suy nghĩ về tương lai của con. Con đã biết mình muốn làm nghề gì chưa?
Cô trả lời ngay.
- Con muốn làm y tá.
Mặt cha cô đỏ tía lên.
- Ý con nói là bác sĩ.
- Không, bố ơi. Con…
- Con là một Taft. Nếu muốn vào ngành y, con phải là bác sĩ. Hiểu chưa.
- Vâng, thưa bố.
Honey đã rất thành thật khi nói với cha là cô muốn trở thành y tá. Cô thích săn sóc con người, chăm chút đỡ đần cho họ. Cô kinh hoàng khi nghĩ đến việc phải trở thành thầy thuốc, phải chịu trách nhiệm trước sinh mạng của bệnh nhân nhưng Honey biết cô không được làm cha cô thất vọng. Con là một Taft.
Điểm học cao đẳng của Honey không đủ để cô được nhận vào trường y, nhưng thế lực của cha cô lại đủ. Ông là người có đóng góp lớn cho một trong những trường đại học y ở Knoxville, Tennessee. Ông đến gặp tiến sĩ Jim Pearson, chủ nhiệm khoa.
- Ông đã đòi hỏi một sự chiếu cố lớn, - Pearson nói. - Nhưng hãy thoả thuận thế này. Tôi sẽ nhận Honey vào năm dự bị. Sau sáu tháng, nếu thấy cô ta không đủ sức học tiếp chúng tôi buộc phải…
- Vậy là được rồi - Taft ngắt lời. - Con bé sẽ khiến ông ngạc nhiên cho mà xem.
Ông Taft đã nói đúng.
Cha Honey thu xếp cho cô ở Knoxville với một người anh họ của ông, đức cha Douglas Lipton.
Douglas Lipton là mục sư của nhà thờ đạo Tin Lành. Ông đã ngoài sáu mươi, có bà vợ trẻ hơn chục tuổi. Ông mục sư rất vui vì có Honey trong nhà.
- Cô bé như một luồng gió mới. - Ông nói với bà.
Ông chưa từng gặp ai tha thiết làm vui lòng mọi người đến thế.
Ở trường y, Honey học hành không đến nỗi não, nhưng cô thiếu chăm chỉ. Cô vào đây chẳng qua là để vừa lòng cha.
Các giáo viên quý Honey. Có một vẻ dễ mến thực sự nơi cô khiến họ đều muốn cô học giỏi.
Thật trớ trêu, cô lại đặc biệt yếu môn gìải phẫu.
Đến tuần thứ tám, giáo viên giải phẫu gọi cô lên.
- Tôi e phải đánh trượt em mất thôi. - Ông nói buồn bã.
Mình không thể trượt, Honey nghĩ. Mình không thể làm nhục cha mình. Boccaccio (1) khuyên thế nào ấy nhỉ?
Honey tiến lại gần vị giáo sư.
- Em xin vào trường này là vì thầy. Em đã nghe tiếng thầy bao lâu nay. - Cô tiến sát hơn nữa. - Em muốn được như thầy. - Và sát hơn nữa. - Làm bác sĩ là tất cả đối với em. - Và sát hơn nữa. - Xin thầy giúp em với.
Một tiếng sau, khi Honey rời khỏi phòng làm việc của ông ta, cô đã có đáp án cho kỳ thi tới.
Trước khi tốt nghiệp trường y, Honey đã chài được một vài thầy giáo. Ở cô có một vẻ yếu đuối khiến họ không thể không muốn được bảo vệ, che chở cho cô.
Tất cả họ đều tưởng chính mình mới là người cám dỗ cô và họ cảm thấy có tội là đã lợi dụng sự ngây thơ của cô.
Tiến sĩ Jim Pearson là người cuối cùng không cưỡng nổi ý muốn tốt đẹp ấy. Những báo cáo về Honey khiến ông ta nổi cơn tò mò. Có nhiều lời đồn đại về những ngón làm tình kỳ lạ của cô. Một hôm, ông ta cho vời Honey đến để bàn về việc học tập. Cô mang theo một gói bột đường nhỏ, và cho tới cuối buổi chiều, tiến sĩ Pearson cũng không khác gì những ông thầy khác.
Honey làm cho ông ta cảm thấy mình trẻ trung và h.am m.uốn vô độ. Cô cho ông cảm thấy quyền lực của vua chúa với nô lệ, của thần thánh với tín đồ.
Ông cố không nghĩ đến vợ con.
Honey thực sự quý mến đức cha Douglas Lipton, và cô lấy làm buồn thấy vợ ông là một người đàn bà lạnh lùng, lãnh cảm, luôn luôn dè bỉu ông. Honey cảm thấy ông đáng thương quá. Ông không đáng phải chịu như thế, cô nghĩ. Ông cần được an ủi.
Một hôm, bà Lipton đi qua đêm thăm bà chị gái.
Nửa đêm hôm đó, Honey bước vào phòng ngủ của ông mục sư. Cô khoả thân hoàn toàn.
Douglas…
Ông mở choàng mắt.
- Honey? Cháu làm sao thế?
- Không. - Cô đáp. - Có thể nói chuyện với ông được không ạ.
- Tất nhiên. - Ông với tay định bật đèn.
- Đừng bật. - Cô trườn vào gi.ường, lăn tới cạnh ông.
- Có chuyện gì thế? Cháu có ốm không?
- Em lo lắm.
- Chuyện gì vậy?
- Lo cho ông. Ông xứng đáng được yêu. Em muốn làm tình với ông.
Ông già tỉnh hẳn.
- Lạy Chúa tôi! Cháu còn trẻ con. Cháu đùa đấy hả?
- Không. Vợ ông chẳng cho ông chút tình yêu nào…
- Honey, thật quá quắt! Quay về phòng cháu ngay và…
Ông cảm thấy rõ tấm thân trần của Honey áp sát vào mình.
- Honey, không thể như thế được. Bác…
Môi cô đã gắn lấy môi ông, th.ân thể cô đã trùm lên thân hình ông, và ông hoàn toàn bị cuốn theo. Cô ở trên gi.ường ông suốt đêm hôm đó.
Sáu giờ sáng, cửa phòng ngủ mở toang, bà Lipton bước vào. Bà đứng đó, chòng chọc nhìn hai người, rói bỏ đi không nói một câu.
Hai giờ sau, cha Douglas Lipton tự sát trong gara của mình.
Honey choáng váng khi hay tin. Cô không thể tin nổi điều đã xảy ra.
Cảnh sát trưởng đến nhà và nói chuyện với bà Lipton. Xong việc, ông ta đến tìm Honey.
- Vì tôn trọng gia đình ông ấy, chúng tôi sẽ lập biên bản cái chết của đức cha Douglas Lipton như một vụ "tự sát không rõ nguyên nhân". Nhưng tôi có lời đề nghị cô hãy cuốn gói khỏi thành phố này và đừng bao giờ quay lại nữa.
Honey đến bệnh viện Embarcadero Country ở San Francisco.
Với lời giới thiệu đầy tán tụng của tiến sĩ Jim Pearson.
Chú thích:
(1) Giovanni Boccacio (1313-1375), nhà văn Italia, nổi tiếng với tác phẩm "Mười ngày".
 

Monmunmon

Thành viên thân thiết
Thành viên thân thiết
Tham gia
1/1/2012
Bài viết
4.527
CHƯƠNG 9 -
Thế giới đã mất hết ý nghĩa đối với Paige. Không có đầu và không có cuối, ngày và đêm chảy vào nhau theo một nhịp điệu vô tận. Bệnh viện đã trở thành toàn bộ cuộc sống của cô. Thế giới bên ngoài là một hành tinh xa lạ.
Lễ Giáng sinh đến rồi đi, và một năm mới bắt đầu ở thế giới bên ngoài, quân đội Mỹ đã giải phóng Kuwait. Không có một lời của Alfred. Chàng sẽ hiểu rằng mình đã sai lầm, Paige nghĩ. Chàng sẽ quay lại với ta.
Những cú phôn quái gở vào sáng sớm đã chấm dứt đột ngột như khi chúng bắt đầu. Paige an tâm thấy không ai có tai nạn hoặc hăm doạ bí ẩn nào xảy đến với cô. Dường như tất cả chỉ là cơn ác mộng… nhưng lại không phải như vậy, tất nhiên. Công việc hàng ngày vẫn tiếp tục với nhịp độ quay cuồng. Không còn thì giờ để nhận biết bệnh nhân nữa. Họ chỉ là những túi mật, những buồng gan bệnh hoạn, những xương đùi đứt gãy, những tấm lưng đau nhức.
Bệnh viện là một khu rừng rậm đầy yêu ma máy móc - máy hô hấp, máy kiểm tra X quang. Và mỗi thứ máy lại phát ra một âm thanh riêng. Tiếng rin rít tiếng ỳ ầm, tiếng lé ré không ngớt trên hệ thống liên lạc nội bộ, tất cả trộn lẫn với nhau thành một tạp âm ồn ào, điên loạn.
Năm thứ hai nội trú là một lễ trưởng thành. Họ được tin cậy hơn, đồng thời cũng phải nhận lấy những công việc nặng nề hơn, những trách nhiệm lớn lao hơn. Họ nhìn đám nội trú mới đến với một cảm giác vừa khinh thị vừa kiêu hãnh.
- Lũ khốn khổ, - Kat bảo với Paige, - chúng không hề biết mình đang lâm vào tình cảnh nào. Rồi chúng sẽ biết ngay thôi.
Paige và Honey bắt đầu lo lắng cho Kat. Cô bị sụt cân, và có vẻ phiền muộn. Đang trò chuyện, họ thường chợt bắt gặp Kat nhìn vào khoảng không như mải lo nghĩ điều gì. Thỉnh thoảng Kat lại nhận được một cú phôn bí ẩn và sau mỗi lần, tình trạng u uất của cô càng trầm trọng hơn. Paige và Honey quyết định tìm hiểu cô bạn.
- Cậu làm sao vậy? - Paige hỏi. - Cậu biết bọn mình đều yêu quý cậu, và nếu cậu có vấn đề gì, bọn mình muốn được giúp đỡ.
- Cám ơn. Mình hiểu các bạn, nhưng các bạn không làm gì được đâu. Đây là chuyện tiền bạc.
Honey ngạc nhiên nhìn Kat.
- Cậu cần tiền để làm gì. Chúng ta chẳng bao giờ đi đâu Chúng ta chẳng có thời gian để mua sắm thứ gì. Chúng ta…
- Không phải cho mình. Cho thằng em mình cơ. - Trước giờ Kat chưa bao giờ nhắc đến cậu em trai.
- Mình không biết là cậu có em trai. - Paige nói.
- Cậu ấy có ở San Francisco không? - Honey hỏi.
Kat ngập ngừng.
- Không. Nó ở Detroit. Rồi các cậu sẽ gặp nó.
- Hay lắm. Cậu ấy làm nghề gì?
- Đại loại là thầu khoán, - Kat đáp mơ hồ. - Lúc này vận may của Mike hơi xuống nhưng rồi nó sẽ lại bật lên. Nó luôn luôn như vậy. Cầu Chúa cho mình nói đúng, Kat nghĩ.
Harry Bowman được chuyển về từ một chương trình thực tập nội trú ở Iowa. Đó là một anh chàng vui nhộn, vô tư, thân thiện với tất cả mọi người.
Một hôm, anh ta bảo Paige:
- Tối nay tôi làm một bữa tiệc nhỏ. Nếu cô với bác sĩ Hunter và bác sĩ Taft đến được thì hay quá. Tôi nghĩ các cô sẽ có một dịp vui.
- Đồng ý, - Paige nói. - Chúng tôi mang gì đến nào.
Bowman cười.
- Không phải mang gì hết.
- Anh có chắc không? - Paige hỏi. - Một chai rượu, hoặc…
- Quên đi! Tôi sẽ làm ở căn hộ nhỏ của mình.
Căn hộ nhỏ của Bowman hoá ra là một dãy mười phòng tầng mái, chất đầy đồ cổ.
Ba người đàn bà bước vào, trố mắt kinh ngạc.
- Chúa ơi! - Kat thốt lên. - Tất cả những thứ này ở đâu ra vậy?
- Tôi tốt phước có được một ông bố giỏi giang. - Bowman nói. - Ông đã để lại cho tôi toàn bộ gia tài.
- Vậy mà anh vẫn đi làm? - Kat thán phục.
Bowman mỉm cười.
- Tôi thích làm bác sĩ.
Bữa tiệc đứng bao gồm trứng cá Beluga, paté de campagne, cá hồi Scotch xông khói, sò tách vỏ, càng cua bể, xa lát trộn hẹ tây và sâm banh Cristal.
Bowman nói đúng. Bọn họ đã có một buổi tối tuyệt vời Không biết cám ơn anh thế nào cho đủ, - Paige nói với Bowman trước khi họ ra về.
- Thứ bảy các cô có rỗi không? - Anh hỏi.
- Có.
- Tôi có một chiếc xuống máy nhỏ. Tôi sẽ cho các cô đi dạo một chuyến.
- Thế thì còn gì bằng.
***
Lúc bốn giờ sáng, Kat bị lôi dậy từ giấc ngủ ngon lành trong phòng trực.
- Bác sĩ Hunter, phòng cấp cứu số 3… Bác sĩ Hunter, phòng cấp cứu số 3.
Kat lê ra khỏi gi.ường, cô cưỡng lại mệt nhọc. Giụi mắt cho khỏi cơn buồn ngủ, cô theo thang máy xuống phòng cấp cứu.
Một nhân viên đón cô ở cửa.
- Ông ta đang co rúm trong góc kia kìa. Ông ta đau quá.
Kat bước lại chỗ người bệnh.
- Bác sĩ Hunter đây, - cô nói giọng ngái ngủ.
Anh ta rên lên.
Lạy Chúa, bác sĩ ơi. Hãy làm gì đi. Cái lưng nó giết tôi mất.
Kat cố kìm một cái ngáp.
- Anh đau bao lâu rồi.
- Hai tuần.
Kat nhìn anh ta, bối rối.
- Hai tuần? Sao anh không đến sớm hơn?
Anh ta cố cử động, và nhăn nhó.
- Nói thật với bác sĩ tôi ghét bệnh viện.
- Thế sao anh còn đến đây?
Mặt anh ta giãn ra.
- Sắp tới có một giải golf lớn, nếu bác sĩ không chữa lưng cho tôi thì tôi không chơi được mất.
Kat hít một hơi dài.
- Giải golf ư?
- Vâng.
Kat cố gắng kiềm chế.
- Tôi bảo cho mà biết. Về nhà đi. Uống hai viên aspirin, và nếu sáng mai chưa đỡ, lúc ấy hẵng gọi tôi.
Cô đùng đùng ra khỏi phòng, để mặc anh ta há hốc miệng nhìn theo.
***
Xuồng máy nhỏ của Harry Bowman hoá ra là một du thuyền tám động cơ dài năm mươi bộ.
- Xin mời lên boong! - Anh ta đón Paige, Kat và Honey ở bến tàu.
Ba người đàn bà ngó chiếc thuyền, thán phục.
- Đẹp quá! Paige nói.
Họ du ngoạn trong vịnh ba tiếng liền, thưởng thức một ngày nắng ấm. Suốt mấy tuần lễ, đây là lần đầu tíên họ được xả hơi.
Khi họ thả neo ngoài đảo Angel, ăn một bữa trưa ngon lành, Kat nói:
- Thế này mới là sống. Thôi đừng lên bờ nữa.
- Nói được đấy. - Honey nói.
Tóm lại, đó là một buổi thần tiên.
Khi họ trở lại bến tàu, Paige nói.
- Không thể tả được tôi thích thú đến thế nào.
- Tôi rất mừng, - Bowman vỗ vào tay cô, - chúng ta sẽ còn đi nữa. Bất cứ lúc nào. Tôi luôn sẵn sàng đón ba cô.
Thật là một người đàn ông dễ thương, Paige nghĩ.
Honey thích làm việc ở khoa sản. Đó là một phòng bệnh tràn đầy hy vọng và sự sống, trong một nghi lễ hân hoan bất tận. Những người làm mẹ lần đầu thì vừa hăm hở vừa sợ hãi. Những cựu sản phụ thì chỉ mong chóng xong việc.
Một bà sắp đẻ nói với Honey.
- Ơn Chúa! Tôi sắp được thấy lại ngón chân tôi rồi!
Nếu Paige có một quyển nhật ký, hẳn cô đã đánh dấu ngày 15 tháng Tám bằng chữ đỏ. Đó là ngày Jimmy Ford đi vào cuộc đời cô.
Jimmy là một nhân viên phục vụ bệnh viện, với nụ cười rạng rỡ và tâm tính yêu đời nhất mà Paige từng gặp. Anh gầy nhỏ, trông như mới mười bảy. Nhưng thực tế đã hai nhăm tuổi, và di chuyển khắp các hành lang bệnh viện như một cơn bão vui tươi.
Không có gì là quá buồn phiền với Jimmy. Anh thường xuyên chạy việc vặt cho tất cả mọi người, hoàn toàn không có cảm giác về địa vị và đối xử với bác sĩ, y tá hay người gác cổng hệt như nhau.
Jimmy Ford thích kể chuyện cười.
- Các vị đã nghe chuyện một bệnh nhân bị bó cứng người chưa? Thằng cha nằm gi.ường bên cạnh hỏi anh ta làm nghề gì. "Tôi làm nghề lau cửa sổ ở cao ốc Empire State Building". Gã kia lại hỏi: "Anh bỏ nghề khi nào?". Người bó bột đáp: "Trên đường rơi xuống".
Jimmy ngoác miệng cười rồi vội vàng đi giúp một ai đó.
Jimmy ngưỡng mộ Paige.
- Một ngày kia tôi sẽ trở thành bác sĩ. Tôi muốn được như chị.
Anh ta hay mang cho Paige những món quà nhỏ vài thanh kẹo, dăm thứ đồ chơi ngộ nghĩnh. Và mỗi tặng vật lại kèm theo một chuyện cười.
- Ở Houston, một người đàn ông chặn một khách bộ hành lại và hỏi: "Đến bệnh viện theo đường nào nhanh nhất?". Người kia trả lời: "Hãy nói điều gì đó tồi tệ về Texas".
Những chuyện đùa dễ sợ, nhưng Jimmy đã làm cho chúng nghe thật khôi hài.
Anh ta đến bệnh viện cùng một giờ với Paige, và phóng xe máy tới chỗ cô.
Một bệnh nhân hỏi: "Ca mổ của tôi có nguy hiểm không?". "Ông không thể có một ca mổ nguy hiểm với hai trăm đô-la".
Và anh ta lại phóng đi.
Khi cả Paige, Kat và Honey cùng được một ngày rảnh rỗi, họ đi khám phá San Francisco. Họ thăm quan Cối xay gió Hà Lan và Vườn trà Nhật Bản. Họ ra Bến tàu đánh cá và đi xe cáp treo. Họ xem kịch ở Nhà hát Curran và ăn tối ở quán Maharani trên đường Post. Tất cả bồi bàn đều là người ấn, và trước sự ngạc nhiên của Kat và Honey, Paige nói chuyện với họ bằng tiếng Hindu.
Hum Hindustani baht babut ocho bolta hi và từ giây phút đó, quán ăn thuộc về họ.
- Cậu học nói tiếng Ấn ở đâu ra vậy? - Honey hỏi.
- Tiếng Hindu chứ, - Paige nói. Rồi ngập ngừng. - Bọn mình… mình có sống ở Ấn Độ một thời gian.
"Vẫn còn sâu đậm quá. - Cô và Alfred đứng ở Agla, dán mắt vào Taj Mahal. - Vua Jahan đã xây ngôi đền này để tưởng niệm vợ ông ta. Mất hai mươi năm đấy, Alfred.
"Anh sẽ xây cho em một Taj Mahal. Lâu bao nhiêu anh không cần biết!
"Đây là Karen Turner. Vợ tôi.
Cô nghe gọi tên mình, và tỉnh lại.
- Paige… Mặt Kat lộ vẻ lo lắng. - Cậu có sao không thế?
- Không. Mình không sao cả.
Những ngày giờ không chịu nồi vẫn tiếp tục. Một năm mới nữa đến và đi, năm thứ hai lướt vào năm thứ ba, và vẫn không có gì thay đổi. Bệnh viện vô cảm với thế giới bên ngoài. Chiến tranh, nạn đói và thảm hoạ ở những đất nước xa xôi thật mờ nhạt với những cơn bệnh sống chết mà họ phải đối phó hai mươi tư giờ trong một ngày.
Hễ khi nào Kat và Paige gặp nhau trong hành lang bệnh viện, Kat lại toét miệng cười và hỏi.
- Thở được chứ hả?
- Cậu ngủ lần cuối cùng khi nào? - Paige hỏi lại.
Kat thở dài.
- Ai mà nhớ được!
Họ hối hả hết ngày này sang đêm khác, cố bắt kịp sự khẩn cấp triền miên, nuốt vội vài miếng san-đuých khi có dịp và uống cà phê nguội ngắt trong những chiếc tách bằng giấy.
Sự quấy rối t.ình d.ục dường như đã trở thành một phần trong đời sống của Kat. Không chỉ các bác sĩ liên tục buông lời gợi ý, mà cả các bệnh nhân cũng toan rủ cô lên gi.ường. Họ cũng nhận được phản ứng như đám bác sĩ. Không có gã đàn ông nào trên đời được động vào ta. Và cô thực sự tin điều đó.
Lại một cú phôn nữa của Mike đến vào giữa buổi sáng bận rộn.
- Chào chị.
Kat biết điều gì sẽ đến. Cô đã gửi cho Mike tất cả tiền dành dụm được, nhưng sâu trong tâm thức, cô hiểu dù cô có gửi bao nhiêu cũng không bao giờ đủ.
- Kat, em tự rủa mình phải phiền tới chị. Thật đấy mà. Nhưng em hơi kẹt. - Giọng cậu ta méo mó.
- Mike… em có làm sao không?
- Ồ có. Nhưng không nghiêm trọng đâu. Chỉ vì em nợ tiền một người mà hắn lại cần trả ngay. Không biết…
- Để chị xem có thể làm được gì. - Kat ngao ngán nói.
- Cám ơn. Em có thể luôn luôn trông cậy vào chị, đúng không? Em thương chị lắm.
- Chị cũng thương em, Mike ạ.
Một hôm, Kat hỏi Paige và Honey.
- Các cậu có biết cả lũ chúng ta cần cái gì không?
- Ngủ một tháng chứ gì?
- Một kỳ nghỉ. Đó là cái chúng ta phải làm, dạo chơi Cham-Elysees và dí mũi vào những cửa hàng đắt tiền ở đó.
- Đúng rồi. Làm một chuyến tàu hạng nhất, - Paige cười khúc khích. - Chúng ta sẽ ngủ suốt ngày và chơi suốt đêm.
Honey phá ra cười.
- Nghe được đấy.
- Mấy tháng nữa chúng ta có kỳ nghỉ phép rồi. - Paige gợi ý. - Tại sao chúng ta không lên kế hoạch đi đâu đó một chuyến?
- Sáng kiến tuyệt diệu. - Kat hăng hái nói. - Thứ bảy ghé qua một hàng du lịch nhé.
Họ dành ba ngày sôi nổi vạch kế hoạch.
- Mình thèm đến London chết đi được. Biết đâu chúng mình lại được thấy Nữ hoàng.
- Paris mới là nơi mình muốn đến. Nó được coi là thành phố lãng mạn nhất thế giới.
- Mình lại muốn bơi thuyền gondola dưới ánh trăng Venice.
"Có lẽ chúng ta sẽ đi Venice hưởng tuần trăng mật, Paige nhỉ, Alfred từng nói thế. Em có thích không".
"Ôi thích chứ!"
Cô tự hỏi Alfred có đưa Karen đi Venice hưởng tuần trăng mật của họ không.
***
Sáng thứ bảy, ba cô gái ghé qua hãng du lịch Cormche trên đường Powell.
Người đàn bà sau quầy đon đả.
- Các cô cần chuyến nào ạ?
- Chúng tôi muốn đi châu Âu: London, Paris, Venice…
- Hay quá, chúng tôi có một số tua trọn gói hạng rẻ đây.
- Không, không, không. - Paige nhìn Honey và toét miệng cười. - Hạng nhất.
- Đúng. Máy bay hạng nhất. - Kat đế vào.
- Khách sạn hạng nhất. Honey thêm.
- Có ngay, tôi có thể giới thiệu khách sạn Ritz ở London, Crillon ở Paris, Cipriam ở Venice và…
- Sao chúng ta không xin vài cuốn quảng cáo nhỉ? - Paige nói. - Chúng ta có thể xem xét và quyết định.
- Thế cũng được, - người đại lý du lịch nói.
Paige xem một cuốn quảng cáo.
- Hãng có nhận cho thuê du thuyền nữa à?
- Vâng.
- Tốt. Chúng ta có thể thuê một cái.
- Tuyệt. - Người đại lý vơ một tập quảng cáo và đưa cho Paige. Khi nào các cô sẵn sàng hãy báo cho tôi biết. Tôi rất sung sướng được phục vụ các cô.
- Chúng tôi sẽ gọi cho bà, - Honey hứa.
Khi họ ra đến ngoài, Kat cười rũ và nói:
- Chẳng có gì giống như một mơ ước hão, đúng không?
- Đứng lo, - Paige quả quyết. - Một ngày kia chúng ta sẽ có thể đến tất cả những nơi đó.
 
Top