Hoàn Hỡi anh chồng cũ tôi ơi...! - Phương Uyên

Trong chuyên mục 'Truyện ngắn' đăng bởi PhuongUyen286, 19/8/2019. — 534 Lượt xem

?

Bạn đánh giá truyện ngắn "Hỡi anh chồng cũ tôi ơi...!" được bao nhiêu điểm?

  1. 5

    0 phiếu
    0,0%
  2. 4

    0 phiếu
    0,0%
  3. 3

    0 phiếu
    0,0%
  4. 2

    0 phiếu
    0,0%
  5. 1

    0 phiếu
    0,0%
  1. PhuongUyen286

    PhuongUyen286 Thành viên mới

    Hỡi anh chồng cũ tôi ơi...! - Phương Uyên

    Ghi chú: Truyện lấy cảm hứng từ chất liệu dân gian như tích Vợ chàng Trương, Hòn Vọng Phu, Nàng Tô Thị hóa đá và các sáng tác như Trường ca Hòn Vọng Phu 1 – 2 – 3, Lạy anh em đi lấy chồng, Nước non ngàn dặm ra đi, Chinh phụ ngâm, Người đàn bà hóa đá… Mọi sáng tạo của tác giả chỉ nhằm phục vụ nội dung truyện, xin đừng đánh đồng tình tiết trong truyện và bản gốc lưu truyền trong dân gian.

    [​IMG]

    HỠI ANH CHỒNG CŨ TÔI ƠI...!
    I.

    “Lấy chồng cái thuở chiến chinh
    Ái ân đến nửa đường tình đã tan
    Bế con lên núi mà than
    Oán trời gieo cảnh dở dang trêu người.”

    Ông trời quả thật thích tạo cảnh trớ trêu, lấy đi của tôi tấm chồng rồi bù lại một mẹ già một con thơ. Tôi từ thân liễu yếu đào tơ bỗng chốc hóa lưng dài vai rộng. Ngày xưa có thầy mẹ nâng niu, lúc mồ côi đi ở nhà ông lý chỉ nấu cơm hầu chè cho cậu ấm thứ ba, chừng vài năm thì chồng tôi mang cau trầu đến rước. Lửa chưa đủ đượm, hương chưa đủ nồng, quan gia ở kinh thành lại hạ lệnh mộ binh để đánh nước Chiêm Thành mãi tận phía nam, chồng tôi phải ra đi giữa lúc tôi đương bụng mang dạ chửa. Ngày tiễn chàng ra trận, tôi nước mắt vắn dài:

    - Em không cần ông lập công làm quan lớn, em chỉ cần ông trở về với em. Em ít học, không có ông em biết làm sao dạy con trẻ lớn khôn?

    Giữa bao ánh nhìn thương cảm, chàng chỉ có thể buồn buồn vén mấy sợi tóc mai phơ phất trước mặt vợ, xoa xoa cái bụng chưa kịp đẫy đà, dặn dò mấy câu rồi lạy mẹ ra đi. Tháng lại ngày qua, con tôi đã sắp lên ba mà người đi vẫn bóng chim tăm cá.

    Mẹ chồng tôi cứ hoàng hôn lại tựa cửa ngóng về phía núi, lưng mỗi ngày một cong, mắt mỗi ngày một yếu, những cơn ho lúc trời trở gió cũng dày hơn. Mỗi lần thấy cánh chim lạc bầy dáo dác lượn tìm chỗ trú đêm, bà lại chép miệng thở dài:

    - “Trai khôn tìm vợ chợ đông…”, thầy của con lúc sinh thời vốn minh mẫn, không hiểu sao lại chọn mẹ về làm vợ. Phải chi mẹ tháo vát được như những người đàn bà khác, nhà ta có của ăn của để, thằng Nghĩa đã không cần đi lính làm gì. Thục ạ, mẹ có tội với con…

    - Mẹ đừng nói vậy. Dẫu cảnh nhà ta đủ sức xoay sở lấy lòng quan trên mà thoát vạ, chồng con vẫn sẽ chọn ra đi thôi mẹ ạ. Chàng tên cũng như người, phải đâu giống mấy kẻ lắm của thừa tiền, vung bạc vàng ra rồi sống đời hèn mọn…

    Tôi nói một thôi một hồi mà không biết cậu ba Quân – quý tử nhà ông lý trưởng – vừa đến ngõ. Cậu đứng như trời trồng giữa sân, hàm cứng lại, mãi mới nói được một câu:

    - Hóa ra trong mắt mày, cậu là kẻ hèn kém đáng khinh như vậy?

    - Cậu… cậu ba… - Mẹ chồng tôi lắp bắp.

    - Con… con nói mấy người trên huyện chứ nào dám vô phép với cậu. – Tôi đảo mắt tìm cách nói tránh đi. – Sao cậu đến mà không cho người báo trước, hôm nay con chỉ nấu cơm có ba phần…

    - Hôm kia đứa nào than cái giậu tre sau nhà bị đổ, sợ thằng Đản chạy ra ngoài? Cậu thương tình vác rựa sang dựng hộ, vừa hay nghe được mấy câu thật lòng, từ nay nhà mày sống chết gì mặc xác, cậu không ngó nữa.

    - Cái Thục trẻ người non dạ, cậu ba đừng bắt tội… - Mẹ tôi cố gọi với theo người đang quay lưng đi ra ngõ.

    - Cậu, cậu ơi! – Tôi chạy đến đỡ mẹ. – Chết dở chưa, xem ra lần này cậu giận thật rồi mẹ ạ. Mấy năm qua cậu hờn mát được vài hôm lại đến lấy cớ này cớ kia bắt chuyện, đâu có kiên quyết thế này…

    Mẹ bấu vào tay tôi ý nhắc ăn nói phải dè chừng, dẫu cậu ba Quân nổi tiếng cợt nhã, dẫu tôi hầu cậu từ thuở thiếu niên nên ít nhiều thân thiết, cậu vẫn là người trên, lũ nghèo như chúng tôi mãi mãi là kẻ dưới. Ngày tôi xuất giá, cậu đang lên tỉnh làm việc cho ông lý, khi trở về biết chuyện liền nổi trận lôi đình, đi trong làng có tình cờ chạm mặt cậu cũng ngó lơ. Mãi đến khi chồng tôi đã đi xa, tôi vác bụng mang trầu lên chợ bán mới gặp cậu đang chè chén say sưa ở đầu làng, cậu lại lên cơn thịnh nộ:

    - Cậu tưởng mày gặp mối duyên mơ nên gả vội gả vàng. Lấy chồng mà cực khổ thế này sao không đợi cậu tìm nơi danh giá cho hở Thục?

    Trong số những con hầu ở phủ nhà ông lý, tôi là đứa nấu ăn hợp ý cậu nhất nên được cậu ưu ái, thường ngày quở trách cũng bớt vài câu, có món gì hay hay cũng ban cho một ít. Thảng hoặc, cậu cao hứng bảo sẽ tìm cho tôi một tấm chồng tốt để yên ổn nửa đời sau, tôi chỉ cười cười cho qua chuyện.

    - Phận mồ côi mồ cút nghèo khổ như con được bà lý làm chủ hôn, được cưới gả đàng hoàng đã là phúc đức mấy đời tổ tiên để lại, con còn dám đòi hỏi gì thêm. Chồng con tên Nghĩa, từ nay xin cậu…

    - Mày theo cậu bao lâu mà vẫn cái thói tự xem thường mình, vậy từ nay đừng mong cậu tôn trọng nữa! – Cậu còn lớn tiếng hơn ban nãy.

    Mấy ngày sau, cậu ba Quân đến nhà đòi ăn cơm tôi nấu. Vừa hớp ngụm canh, cậu bỗng ném cả bát xuống nền nhà, vỡ tung tóe:

    - Chỉ có bọn dân cày suốt ngày mướt mồ hôi mới ăn thứ canh mặn thế này. Thục, mày rời nhà chưa tròn năm đã quên khẩu vị của cậu thế nào phỏng?

    Mắng thì mắng, trách thì trách, sau hôm ấy bữa nào cậu cũng sai người ở đến lấy thức ăn, để lại rau củ cá thịt nấu bữa sau và một chút tiền, đôi ba hôm lại đích thân mang đến mấy thang thuốc bổ bảo tôi sắc cho cậu uống, mà phần thuốc bao giờ cũng rất nhiều không thể đun hết một lần, cũng không thể để đến hôm sau. Ban đầu tôi ngại mẹ phật lòng, từ chối cậu lại không xong nên ngỏ ý sang phủ ông lý nấu mỗi ngày, vừa mở miệng đã bị cậu gạt phắt đi:

    - Mày chửa vượt mặt thế kia còn đòi ngày ngày lội mấy con đê, chồng mày chưa biết chết sống thế nào, nhỡ sảy chân lại than trời trách đất. Nhà cậu lắm kẻ ăn người ở, bọn nó không phải sang chỗ mày cũng phải lên huyện mua món ngon cho cậu, mày không cần lo chuyện lôi thôi!

    Cứ như thế, suốt ba năm chồng trẩy, tuy tôi vẫn phải làm những việc nặng nhọc trong nhà nhưng cũng không đến mức đói ăn thiếu mặc. Khi cu Đản lên hai, tôi muốn nhờ mẹ chồng trông giúp để đi làm thuê cho người thì cậu ba lại mắng cho một trận. Tôi lớn gan giở chứng kêu sợ người đời dị nghị nên không nấu nữa, cậu liền tìm đến tận nơi, cứ ngồi lì trước ngõ giang nắng từ sớm đến trưa, tôi đành phải mời cậu vào xơi cơm kẻo lại đói lả người khiến mẹ con tôi phải tội. Chừng nghe tôi lèm bèm mãi, cậu mới bảo tôi làm nem chua như trước khi hay gói hầu ông bà lý, cậu sẽ cho người mang lên chợ bán giúp để tai cậu được thảnh thơi. Món nem ấy cũng là thứ chồng tôi ưng nên tôi lấy làm hăng hái lắm, mỗi ngày xong việc cơm nước là lại bò ra gói, báo hại người ở của cậu ba ngày nào cũng phải ở đến lúc chợ tan.

    Lần đầu tiên tôi gặp mặt chồng là ngày chàng đến rước dâu. Bà lý ra chợ huyện phải gió, được mẹ chồng tôi tình cờ giúp đỡ, lại thấy Trương Nghĩa con của mẹ biết đôi chữ thánh hiền, tính nết thiện lương nên nhớ đến con hầu hay được cậu ba khen ngợi hết lời là tôi. Đám rước tuy chẳng quá rộn ràng múa trống khua chiêng nhưng đủ đầy lễ nghi, tôi nghĩ thầy mẹ tôi chốn suối vàng cũng không tủi hổ. Đêm tân hôn, đôi vợ chồng mới cưới ngượng nghịu nhìn nhau, chồng tôi bảo:

    - Nhà tôi không to như phủ ông lý, chắc em Thục ở không quen. Em cứ ngủ trên giường, tôi trải chiếu nằm dưới sàn cũng được.

    Tôi lúng túng chẳng biết đáp thế nào, bèn gật đầu cho qua chuyện. Tôi nằm xoay mặt vào vách, cả đêm cứ chập chờn cơn mê cơn tỉnh. Đến gần sáng, tôi cảm giác như có người ở sau lưng, vội quay lại thì thấy chồng tôi đang lăm lăm con dao nhỏ. Nhanh như cắt, chàng liếc một đường trên tay mình rồi chùi cả ngón tay đang bê bết máu lên chiếc chiếu hoa bà lý tặng cho. Tôi hốt hoảng đến cầm tay chàng xem vết đứt, thấy lòng như cũng bị ai nhè nhẹ cứa vào:

    - Ông làm thế làm gì? Đây là bổn phận của em mà…

    - Tôi muốn mẹ vui lòng. – Chàng nhìn sâu vào mắt tôi. – Tôi cũng muốn vợ tôi nguyện ý.

    - Em vốn chỉ là con ở, ông đâu cần… - Tôi nghèn nghẹn nhưng ánh mắt cương nghị của chàng không cho phép tôi nói thêm gì nữa.

    Từ hôm ấy, tôi ở nhà trồng rau, nuôi gà, chăm sóc mẹ chồng, chàng vẫn ngày ngày lên chợ, vừa bán rượu vừa bày một hàng thư pháp cạnh bên bán chữ. Người ta có vợ hiền tảo tần nuôi ăn học đến ngày đỗ đạt thành tài, người vợ như tôi lại trở thành gánh nặng. Nghe tôi nói thế, chàng chỉ tự cười mình là anh hàng rượu, là kẻ võ biền chứ nào phải thư sinh. Chàng sớm lạc khỏi gia đình, may mắn được vợ chồng họ Trương nhận làm con. Tôi nghĩ bất cứ ai làm vợ chàng cũng sẽ được nâng niu bảo bọc hết lòng vì một mái nhà đầm ấm là điều chàng luôn mơ ước.

    Kẻ trên giường người dưới đất ngót nửa năm, có một ngày trời nổi cơn giông, chái bếp sau nhà bị gió thổi bay phên liếp, tôi tất tả đội mưa xuống tìm cách che cho khỏi ướt. Mưa chưa kịp thấm vai thì ai đó đã trùm lên người tôi manh áo tơi rồi kéo xộc vào nhà. Đến lúc hoàn hồn, tôi thấy Trương Nghĩa người ướt sũng, bàn tay rắn chắc đang siết từng nuột lạt để cố định tấm phên. Xong việc, chàng lại tất tả đun nước giục tôi tắm nhanh kẻo ốm. Mấy thanh củi bị thấm nước mưa không chịu cháy báo hại chàng phải thổi đến bở hơi tai, nước mắt ròng ròng. Giữa bão giông, làn khói mỏng vấn vít trong gian bếp đơn sơ bất giác trở nên ấm sực.

    Tối hôm ấy, chàng bị cảm lạnh, người sốt hầm hập vẫn toan tìm manh chiếu trải. Tôi níu tay chàng, kiên quyết bảo:

    - Ông đang ốm, đừng nằm đất kẻo bệnh nặng thêm!

    Chàng thả chiếc chiếu nhỏ xuống sàn, bước lại gần tôi:

    - Thục muốn tôi lên giường nghỉ?

    Tôi gật. Chàng cười cười nói tiếp:

    - Không chỉ đêm nay?

    - …

    Về sau, khi cu Đản đã tượng hình trong bụng mẹ, chồng tôi cứ hay chòng ghẹo làm tôi ngượng muốn chui xuống đất:

    “Trời mưa thì mặc trời mưa

    Mình cứ làm bừa dưới tấm áo tơi.”


    ***


    Mỗi khi nhớ chồng, tôi thường bế con lên núi ngắm mặt trời từ từ chìm xuống phía bên kia. Ngày chàng tòng quân tôi cũng đứng ở nơi này dõi mắt trông đến khi đoàn người ngựa đi khuất hẳn. Dưới chân núi là một vùng rộng lớn ngát xanh màu lúa mới, xa xa thấp thoáng một dãy đồi, người trong làng kháo rằng ở đó có nhiều hang động, còn có vài ngôi chùa rất linh thiêng, thuở xưa chồng tôi từng bảo muốn đưa mẹ con tôi đi cầu phúc. Mấy lần tôi muốn đến nhưng không tiện vì còn mẹ già và con nhỏ phải chăm lo, mẹ tôi dạo này lại hay đau ốm, tôi chỉ biết mỗi ngày nhìn lên không van vái Phật Trời cho chàng sớm quay về với gia đình. Nghĩ đến đây lại thấy mắt cay cay, tôi bèn ôm chặt đứa con thơ dại trong lòng, cất giọng ngâm nga:

    “Ba cô đội gạo lên chùa

    Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

    Sư về sư ốm tương tư

    Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu

    Ai làm cho dạ sư sầu

    Cho ruột sư héo như bầu đứt dây?”[1]

    Sau lưng bỗng vang tên tiếng cười khùng khục. Cậu ba Quân ôm bụng cười đến đỏ mặt tía tai:

    - Thục ơi là Thục, mày ru con hay dạy hư con đấy?

    Mấy năm qua, trăm ngày như một, cậu luôn là kẻ phá tan cảnh chiều tà ấm êm của mẹ con tôi. Khi thì dọa rằng hẳn Trương Nghĩa tử trận từ lâu nên mới mãi không về, khi lại bóng gió chồng tôi đã chán cảnh vợ dại con thơ, sớm tìm vui nơi trời xa xứ lạ. Tôi biết cái bụng cậu lành, cái tâm cậu thiện, nên cái mồm cậu độc địa thế nào tôi cũng nghe tai này lọt tai kia. Nhưng mà, cậu hoài nghi tấm lòng thương con của tôi thì không thể chấp nhận được, tôi cố trấn áp cái ruột đang quặn lên từng cơn run rẩy, đáp trả đầy phẫn nộ:

    - Con ít chữ, có thuộc được mấy câu đâu? Bài này lúc ở phủ lý con chẳng nghe cậu đọc suốt, bây giờ lại trách con là cớ làm sao?

    Cậu công tử kia cũng chẳng bao giờ chịu lép vế:

    - Mày không biết câu nào dùng vào lúc nào thì đừng có đọc bừa!

    - Trước giờ con đã làm mẹ đâu mà biết! – Tôi cong cớn. – Đợi chồng con về, con đẻ thêm đứa nữa, chừng đó con chăm em bé khéo nhất cái làng này cho cậu thấy!

    Mặt cậu ba bỗng trở lạnh như băng. Tôi xốc đứa trẻ bên hông, tiến đến ngang chỗ cậu, vẻ mặt ngông nghênh kia cứ ì ra. Tôi không còn biết sợ là gì nữa:

    - Cậu ba rỗi việc lắm sao mà ngày nào cũng theo mẹ con con? Mấy đứa ở nhà ông lý thiếu gì đứa xinh non mơn mởn?

    - Cậu thèm vào! Chẳng qua cái dáng ôm con trông chồng của mày ngồ ngộ hay hay…

    - Con biết thừa cậu ba hoa liễu chán chê mới sang chọc phá con. Con nghèo nàn ít học, đời này chỉ biết một chữ “chân thành”, không tiếp được những trò cợt đùa của cậu. Con còn phải về thổi cơm chiều, xin cậu tránh đường cho!

    Cậu nghiêng người để tôi bước qua, tay vẫn phe phẩy quạt, không ngừng liếng thoắng:

    - Đừng bảo cậu không nhắc nhở mày, mai có lên đây nhớ khoác thêm manh áo. Kẻo trúng gió chết lại phiền cậu ma chay.

    - Con có chầu ông bà thì mẹ con, chồng con mai táng, quẫn lắm thì thả trôi sông, nào dám phiền đến cậu!

    Tôi tưởng kẻ sau lưng đã chịu lặng im, chẳng ngờ tôi xuống đến chân núi rồi vẫn nghe tiếng léo nhéo vọng theo:

    - Chân thành, chân ái, chân tình… thằng nào mà chả có chân? Mày chết vì chồng thì cũng sớm có ngày chồng mày dắt vợ mới đi tảo mộ.


    ***


    Không phải tôi chưa từng biết đến cái sự bạc lòng của giống đàn ông. Thuở bé, tôi từng có một người anh thương tôi như ngọc như ngà. Nhà tôi tuy không giàu nhưng cũng chẳng thiếu thốn, lúc nào cũng vẳng tiếng nói cười. Khi tôi lên sáu, có một hôm thầy mẹ đi làm đồng, tôi vòi anh trai róc mía ăn cho đỡ khát. Chắc hôm trước đó tôi nhỡ tay nhón tí mứt gừng trong hộp quà mẹ mang đi biếu nên bị trời quở trách, lúc anh tôi đưa dao chặt xuống thì lưỡi dao sút ra khỏi cán, bay vào đầu tôi cắt một đường dài sau gáy. Tôi ngã lăn quay chẳng biết gì nữa, đến khi tỉnh lại, nghe mọi người nói anh tôi đã trốn đi xa, tìm thế nào cũng không thấy. Thầy tôi ngũ tuần mới có một mụn con trai nên bao nhiêu hy vọng đều đặt cả vào anh, anh bỏ đi khiến thầy buồn khổ rồi sinh bệnh qua đời chỉ hai năm sau đó. Cảnh nhà tôi trở nên túng thiếu, tôi đành đi ở cho nhà ông lý trưởng, thân phụ của cậu ba Quân. Không ít lần tôi thầm than trách, dù biết khi ấy anh tôi chỉ mới là đứa trẻ mười một tuổi, nhưng đã mang thân trai tráng, nhẽ ra nên dám làm dám chịu. Nhỡ tôi có chết ngay lúc ấy, anh càng phải phụng dưỡng thầy mẹ cả phần tôi, có đâu lại đi biền biệt để thoát tội nợ mình. Anh thì nhẹ lòng rồi, những người còn lại biết sống làm sao? Phải chăng trời đất sinh ra cái giống nam nhi là để rong ruổi tứ phương, còn thân đàn bà dĩ nhiên phải tựa cửa ngóng chờ?

    Cậu ba nhà ông lý, tên đầy đủ là Phạm Trung Quân, lại khiến lòng tin của tôi về một đấng trượng phu giảm thêm chút nữa. Tuy cậu hay chữ lại thạo việc làm ăn của gia đình nên được ông lý dễ dãi bỏ qua tật xấu, nhưng tiếng trăng hoa của cậu làng trên xóm dưới ai nấy đều hay. Hôm nay cậu say bí tỉ trong lòng cô này, mai âu yếm cầm tay cô khác. Thiên kim tiểu thư không thiếu, mà đám đào hát lại càng nhiều. Cũng may, tôi vào phủ sau bọn con Mận, con Hồng, đã thấy chúng nó khóc như cha chết vì yêu thầm mà phải dâng cơm hầu chè cho tình nhân của cậu, nên tôi luôn tự răn mình giữ phận. Nếu không, dù biết mình ngu dại mới nghĩ chuyện đèo bòng, nhưng bởi dung mạo và phong thái kia, cộng thêm sự quan tâm rất đỗi tận tình của chủ, tim lòng gan ruột tôi sớm đã bị cậu giày vò đến nát như tương.

    Cũng có lẽ vì thế, cái sự từ tốn và giữ kẽ của Trương Nghĩa mới khiến lòng tôi khe khẽ rung rinh. Tôi ít chữ, nghe những lời hay ý đẹp cũng chẳng biết người kia muốn nói gì, chỉ biết nhìn những việc họ làm, phải có yêu có thương thì người ta mới sợ mình đau, sợ mình buồn, sợ mình vất vả, mới tình nguyện thay mình gánh vác cả những việc cỏn con, đời người có mấy ai được một lần đội đá vá trời mà mỏi mắt trông chờ chuyện đao to búa lớn.

    Tiếc thay, các đấng anh hào không hiểu được niềm mong mỏi nhỏ nhoi ấy của bọn đàn bà nông cạn chúng tôi. Như ông huyện mới về nhậm chức ở tận đẩu đâu, vô tình ăn được cái nem trên chợ làng tôi đã mang bạc vàng đến ngõ, tôi từ chối thế nào cũng không xong. Cứ nhác thấy bóng ông phía xa xa, tôi lại lẻn vào đường mòn trốn ra phía núi. Chồng tôi còn sống, mẹ chồng vẫn sờ sờ thế mà bướm ong cứ thi nhau vờn lượn, cảnh nhà tôi đơn chiếc, chỉ có thể tìm cách lần khân chứ nào dám từ chối thẳng thừng, nhiều đêm tôi gác tay lên trán nghĩ mà cười ra nước mắt.

    Hôm nay cũng không ngoại lệ, đất trời đang vần vũ nổi cơn giông mà mẹ con tôi lại chưa thể về nhà. Tôi ôm cu Đản nép sát vào hốc đá, lầm rầm khấn vái. Bất chợt, một giọng nói quen thuộc lanh lảnh vang lên:

    - Quan cẩn thận khéo trượt chân, chỗ này dốc lắm, hôm qua trời mưa nên vẫn còn lầy.

    - Cậu lý có chắc cô Thục trốn ở chỗ này không?

    - Con bé ấy trước hầu ở phủ nhà tôi, tính tình ương bướng. Tôi thấy nó ngang ngược khó bảo, được quan ưu ái mà không biết mang ơn nên lấy làm bất bình lắm. Tôi cho người theo dõi thì biết nó hay trốn trên này nên vội vã báo quan. Khốn khổ cái thân cậu lý tôi đây, vì mướn thêm người lo mấy việc thế này nên tiền công cho bọn tá điền phải giảm đi đôi chút…

    Giọng ông huyện thoảng chút mỉa mai:

    - Nhọc thân cậu ba rồi, biết đâu khi tìm được cô Thục về phủ quan, cô ấy lại chẳng sẩy tay làm cháy mất tờ đơn kiện của bọn tá điền…

    - Quan nói chí phải, con bé ấy vụng về nên mẹ tôi mới gả đi cho chóng đấy!

    Tôi giận run người, hóa ra bấy lâu tôi thầm cảm kích, mang ơn cậu là ngốc nghếch biết bao! Cũng may tôi nấp ở nơi này, nếu không còn biết trốn đi đường nào nữa.

    Tiếng bước chân giẫm lên đá xa dần, hướng về phía sau núi, không phải nơi tôi thường đứng. Cơn tò mò trỗi dậy, tôi khẽ dặn cu Đản trốn kỹ ở nơi này rồi đánh liều bám theo. Cậu ba dẫn ông huyện leo lên mỏm đá chìa hẳn ra ngoài, tôi chỉ có thể nép ở phía xa. Giọng cậu lại thất thanh:

    - Rõ ràng chiều nào nó cũng bế con đứng ở đây mà?

    - Cậu lý lại đây xem. – Tiếng ông huyện khẽ khàng. – Khối đá này có phải…

    Sự im lặng kéo dài một hồi lâu, rồi ông huyện lại kêu lên như khóc:

    - Quan đã hại cô Thục rồi! Hôm qua mưa to gió lớn, sấm sét đầy trời, chắc cô Thục đứng ở đây để lánh quan nên…

    - Sao… sao lại có chuyện như thế được?

    - Cậu ít đọc sách nên không biết đó thôi, tự cổ chí kim, ở nước Nam hay phương Bắc đều đâu thiếu những câu chuyện người hóa đá…

    Ông huyện đấm tay lên nền đá rên rỉ một đỗi rồi thất thểu đi xuống núi, cậu ba gọi thế nào cũng không nghe. Tôi đợi người đi khuất hẳn mới dám đến gần nhìn thử, giữa sấm vang chớp giật, khối đá tạc rõ hình thù thiếu phụ bế con dáng lưng thẳng tắp, sừng sững đứng trên mỏm non cao trông về phía ải xa, đinh ninh một lời thề như chém đinh chặt sắt. Những giọt mưa đầu tiên rơi xuống ướt đẫm mặt tôi.

    - Mày cứ đứng đó rồi trời đánh thật, chừng có tận hai ả chinh phụ thì cậu lại không biết giải thích với ông huyện thế nào đâu.

    Tôi xoay lại nhìn kẻ nọ, trong một chốc không biết nên nói gì. Cậu ba cười cười rồi hất hàm đầy khoái trá:

    - Ai bảo mày muốn chồng vội quá, hồi trước mà ở lại phủ với cậu vài năm để học hỏi thì giờ này đâu có cuống lên vì một chuyện bé tẹo thế này!

    - Hóa ra bấy lâu nay cậu thập thò ở đây là để… - Tôi nghẹn giọng.

    - Mày bớt tưởng bở đi Thục ạ. Cậu đã bảo cái dáng trông chồng của mày ngồ ngộ nên xem như vật mẫu để cậu luyện nghề đẽo đá. Vừa hay thằng huyện thích đọc mấy cái tích vớ va vớ vẩn. – Tôi chợt nhớ ra hồi ở nhà cậu thường loay hoay cả ngày với những khối đá có hình thù kỳ dị, nhưng ông bà lý trưởng cho rằng đó là thú vui tầm phào khiến cậu xao nhãng việc buôn bán của gia đình nên ra sức ngăn cấm. – Mà không, cũng do cậu mày tài năng trác tuyệt, đẽo tượng hệt như người mới lừa được hắn!

    - Chết rồi! Cu Đản đang ở một mình… - Tôi sực nhớ đến con, ba chân bốn cẳng chạy đi tìm.

    Từ hôm ấy, ông huyện đã không đến phiền mẹ con tôi nữa, nhưng tôi đã hóa đá nên cũng không thể làm nem chua để bán như trước. Thật ra dù không có việc giả chết ấy, tôi cũng bận tối mũi chăm sóc mẹ chồng đương trở cơn đau nặng. Không biết vì tuổi già, vì trời trở gió hay vì mòn mỏi nhớ thương con, bệnh của mẹ tôi càng trầm trọng, những cơn ho nối nhau chẳng dứt, thuốc thang thế nào cũng không thuyên giảm.

    - Mẹ cố uống thuốc cho chóng khỏi. Con nghe nói quân của quan gia thắng giòn giã ở phía nam, chắc chồng con cũng sắp về rồi!

    Những ngày đó, cậu ba Quân không quan tâm người trong làng sẽ thêu dệt gì nữa, cứ rỗi ra là đến. Cũng may có cậu giúp tôi trông cu Đản, nhưng mỗi lần nghe hai người trò chuyện, tôi chỉ muốn mời cậu về cho:

    - Coi cái mặt mếu kia! Cậu kể làm mày sợ phỏng? Đừng lo, ban ngày ma quỷ không dám ló mặt ra đâu!

    - Thật không? Ban đêm mới có ma hả cậu?

    - Ừ. Cậu gạt con nít làm gì.

    - Vậy ma quỷ cũng giống thầy Đản, chỉ ban đêm mới đến!

    - Thầy mày mờ ám như thế thì mày xui mẹ bỏ đi, mày nhận cậu làm thầy, ngày nào cậu cũng kể chuyện ma tha hồ nghe!

    - Không chịu đâu! Cậu béo hơn thầy của Đản, lại đến cả ngày, ăn tranh cơm của Đản!


    II.

    “Nghìn năm chẳng đặng thương hoài
    Trăm năm sum họp biết ai một lòng?”

    Cũng vào một ngày trời mưa như trút, có khách đến gõ cửa nhà tôi.

    Người nọ xưng là bạn chiến đấu của Trương Nghĩa, đến để đưa tin dữ.

    - Ông Nghĩa võ nghệ đã giỏi mà lòng nhân cũng hơn người, năm lần bảy lượt cứu tôi thoát chết. Khi quân ta rút khỏi đất Chiêm thì bị một toán tàn quân đánh úp, ông tranh cả ngọn giáo của địch với tôi… - Người đàn ông họ Nguyễn quỳ mọp, run run đưa tấm áo rách bươm lên cao quá đầu.

    Tai tôi không nghe được gì thêm. Cu Đản không hiểu chuyện gì, bước đến ôm chân mẹ, tôi sụp xuống ôm chặt con trẻ vào lòng, hàm nghiến chặt, mắt vẫn ráo hoảnh. Chuyện này không thể nào là thật được, chàng biết tôi đang chờ, mẹ đang mong, con trai đang nhớ, sao nỡ lòng bỏ mà đi?

    - Bác! Bác ơi! – Tiếng người kia kêu thất thanh khiến tôi sực tỉnh.

    Mẹ chồng tôi nhìn tấm áo tự tay khâu cho con, nấc lên một tiếng, khuỵu xuống, từ đó không dậy nữa, mặc tôi lay gọi đến khàn giọng. Bà ốm liệt giường suốt mười ngày rồi thác.

    Tôi gác hết mọi suy nghĩ trong đầu, lo hậu sự cho bà tươm tất, đắp một nấm mộ cạnh nhà hương khói cẩn thận. Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi gửi cu Đản lại cho cậu ba Quân trông giúp ít lâu rồi khăn gói lên đường.

    - Có phải cậu chưa từng thấy cái bản mặt mít ướt của mày đâu. Hồi ở phủ lý mày chẳng khóc nhè suốt đấy thôi, giờ vờ vịt kiềm chế làm gì?

    - Giờ con yếu đuối cho ai xem hả cậu? – Tôi đáp, cố không để cậu thấy đôi vai đang run rẩy.

    Mãi không nghe cậu trả lời, tôi bèn quay lại cúi chào:

    - Con đi tìm chồng mấy tháng, dù tìm thấy hay không con cũng về đón bé Đản, không dám phiền cậu quá lâu. Ơn nghĩa cậu giúp mẹ con con, kiếp này con làm trâu ngựa cũng cam lòng.

    Cậu ba đỡ tôi đứng dậy, lẳng lặng bỏ vào túi hành lý thêm ít bạc, giọng nói ít nhiều mệt mỏi:

    - Nhà cậu nhiều trâu nhiều ngựa lắm rồi. Mày vác cái thân lành lặn về gặp cậu là đủ. Đi nhanh kẻo nắng lên!

    Tôi đã khẽ thề trước vong linh của mẹ tôi là sẽ đưa Trương Nghĩa trở về nhà, dù chỉ là một mảnh thi hài. Không hiểu sao, linh cảm của người vợ nói với tôi rằng chồng tôi chưa chết, vì năm xưa chàng chỉ bị rựa cắt nhẹ lúc làm đồng, tôi ở nhà đã nghe nhoi nhói trong tim. Tin như thế nhưng lại không dám kỳ vọng quá nhiều, tôi cứ nhắm hướng chiến trường phía Nam, vừa đi vừa hỏi. Ròng rã ba tháng trời, bạc mang theo đã hết mà sức lực cũng mỏi mòn, nhớ thương con quặn thắt ruột gan, tôi tự nhủ sẽ tìm thêm một tháng nữa rồi trở về nhà. Không phải tôi bỏ cuộc, nhưng tôi còn có trách nhiệm lớn hơn với chồng, với mẹ chồng, với cả chính mình là nuôi đứa trẻ kia khôn lớn, nối dòng nối dõi cho họ Trương. Khi cu Đản cứng cáp hơn, mẹ con tôi sẽ cùng nhau đi tìm lần nữa!

    Ngay lúc đó người nhà ông lý trưởng đến truyền tin bảo tôi lập tức quay về. Đón tôi không chỉ có cậu ba Quân, còn có người tôi mải miết kiếm tìm, Trương Nghĩa.

    Nghe nói chàng đến viếng mộ mẹ trong đêm tối rồi không kiềm được xúc động mà bật khóc, người làm của cậu ba ở gần đó nghe thấy chạy đến rồi chia nhau đi tìm để báo cho tôi.

    Tôi vừa đến ngõ đã thấy dáng người cao lớn thân thương, gương mặt đã đen sạm vì sương gió nhưng ánh mắt vẫn như xưa, nửa trìu mến, nửa ngập ngừng. Không kiềm được xúc động, tôi sà đến ôm chặt gối chàng nức nở.

    - Em biết ông còn sống… Em biết ông sẽ về mà… – Mãi lâu sau tôi mới lắp bắp được mấy từ.

    Bàn tay ấm áp phủ lên vai tôi, khẽ siết. Tôi vội lùi ra sau, cúi đầu sát đất:

    - Xin lỗi ông, em không giữ được mẹ đợi gặp ông. Xin lỗi…!

    Chồng tôi toan nâng tôi dậy, lừng khừng mãi rồi cũng gục xuống đất ôm chặt lấy vợ khóc òa:

    - Không! Thục ơi! Tôi mới là kẻ có tội… Sao tôi không chết quách cho rồi?

    - Ông chết thật thì em biết sống sao? – Tôi đưa tay che miệng không cho chàng nói gở.

    Vợ chồng tôi ôm nhau mừng mừng tủi tủi hồi lâu, quên hết những người đang có mặt xung quanh. Đến khi nghe tiếng hắng giọng của cậu ba, bọn tôi mới giật mình ngẩng đầu lên:

    - Mẹ cậu rất thích thằng cu Đản, thích tới nỗi mắng lây sang cậu không chịu lấy vợ để có cháu cho bà bế. Chúng mày cứ thong thả mà tình tự, để nó chơi với bà thêm vài hôm nữa rồi cậu mang đến trả.

    Cậu khoát tay ra hiệu bọn hầu cận rút cả đi. Trương Nghĩa tiễn cậu ra tận cổng, cúi gập người. Tôi hơi ngạc nhiên vì trước giờ chàng vốn coi thường cậu chỉ biết cậy quyền cậy thế ăn chơi, sao hôm nay bỗng cung kính lạ thường. Rất nhanh, nỗi thắc mắc ấy bị lãng quên bởi tôi quá mừng vui vì chàng đã bình an vô sự. Đám người của cậu ba vừa khuất dạng, tôi lại nắm chặt tay chàng, định cọ dụi một phen cho thỏa nỗi nhớ mong. Chẳng ngờ chàng rụt tay lại rất nhanh, sải bước vào nhà.

    - Ông Nghĩa…

    - Xin lỗi Thục, tôi hơi mệt. Vả lại, đang kỳ tang mẹ.

    Tôi tự trách mình vô ý rồi không dám nói thêm gì nữa, lặng lẽ giúp chàng xếp chỗ nghỉ ngơi, lại là người dưới đất, kẻ trên giường.

    Trừ việc tránh chuyện vợ chồng gần gũi, chàng vẫn chu đáo như xưa. Ngày ngày giúp tôi gánh nước, chẻ củi, trồng rau, cậu ba và những người hầu của cậu cũng không cần lui tới nữa. Những ngày đầu tiên tràn ngập niềm vui sum họp, ấm áp như đôi trai gái làng mới phải lòng nhau. Tôi ngỏ ý đi đón cu Đản về cho cha con gặp mặt, chàng còn gạt đi bảo muốn tận hưởng cuộc sống hai người thêm mấy ngày nữa.

    Đương nhiên không thể tránh khỏi những lúc thật buồn.

    Có lẽ vì dãi dầu nơi tiền tuyến lâu ngày, mồ hôi thấm lương khô mà sống, mỗi lần đến bữa cơm chàng đều trầm ngâm, gắp một miếng thịt, miếng rau do vợ nấu cho vào mồm mà ngậm ngùi đến rơi lệ. Những lúc ấy tôi chỉ biết rót một chén chè cho chàng rồi ngồi lặng lẽ cạnh bên.

    Cũng có thể, chiến trường vốn là một nơi tàn khốc. Chồng tôi bản tính thiện lương, vì bất đắc dĩ mà phải ra tay lấy mạng quân địch nên nỗi ám ảnh ấy len cả vào cơn mơ. Có nhiều đêm tôi thấy chàng ú ớ trong giấc ngủ, tay chân vung vẩy như đang đánh nhau, miệng không ngừng kêu lên:

    - Tôi không biết! Tôi không cố ý!

    - Ông Nghĩa! Ông Nghĩa ơi, mau tỉnh dậy! – Tôi cố lay chàng thật mạnh.

    Chồng tôi choàng tỉnh, ôm chặt vợ vào lòng, người mướt mồ hôi. Hơi thở vừa chậm lại, chàng đã vội đẩy tôi ra, đập đầu vào vách nghe chan chát. Sáng hôm sau, chàng vẫn tươi tỉnh như đêm qua chẳng hề mộng mị.

    Mỗi khi chiều xuống, chàng lại ra mộ mẹ, ngồi như thầm thì kể lể điều gì đó, lúc nào trở vào nhà mắt cũng hoe hoe đỏ. Tôi thầm ngưỡng mộ tình cảm của gia đình chàng, tuy chẳng máu mủ nhưng không khác gì ruột thịt. Có lần tôi đứng sau lưng chàng mãi một lúc lâu, khi thấy bờ vai rộng ấy run lên trong cơn xúc động, tôi liền bước đến vòng tay ôm chặt, thầm thì bên tai chàng:

    - Mẹ luôn mong ông sống thật tốt, thật mạnh khỏe. Chúng mình sẽ sinh thêm thật nhiều con, để trong nhà