Truyện thành ngữ, tục ngữ

Trong chuyên mục 'Tiếng Trung' đăng bởi linhhang89, 28/7/2010. — 11.791 Lượt xem

  1. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Truyện thành ngữ, tục ngữ

    Chuyện ếch ngồi đáy giếng ​
    [​IMG]

    Có một con ếch sống trong một chiếc giếng nông, ngày nào cũng rất vui vẻ. Một hôm, nó nói với một con ba ba từ biển Đông Hải đến rằng: “Tôi sung sướng biết bao, đi ra ngoài chơi, chỉ nhảy nhót trên lan can thành giếng, về nghỉ thì nằm trong vách giếng đã cũ nát; khi giẫm xuống bùn, bùn chỉ ngập đến đôi chân của tôi, nhìn những chú sâu, con cua và nòng nọc, chúng làm sao bì được với tôi, hơn nữa tôi một mình chiếm một vũng nước, muốn nhảy thì nhảy, muốn nghỉ thì nghỉ, quả là rất sướng. Anh cớ sao không xuống đây tham quan xem sao ?”
    Con ba ba biển chân trái còn chưa bước vào giếng, chân phải đã bị mắc vào vách giếng. Do đó nó lui trở ra, kể chuyện biển cả với ếch. Ba ba biển nói: “Đường xa nghìn dặm anh thấy có xa không, nhưng nó không thể hình dung được sự rộng lớn của biển; thiên nhẫn quả thực rất cao, thế nhưng nó không thể hình dung nổi độ sâu của biển. Thời Hạ Vũ, mười năm có chín năm xảy ra nạn lũ lụt, thế nhưng nước biển cũng không tăng nhiều lên; Thời Thương Thang, tám năm thì có bảy năm hạn hán, thế nhưng nước biển cũng không giảm xuống. Ôi biển cả vĩnh hằng, nó không thay đổi bởi thời gian dài hay ngắn, cũng không lên xuống vì lượng mưa nhiều hay ít. Đây mới là sự sung sướng lớn nhất của việc ở trong biển Đông Hải.”
    Ếch trong giếng nông nghe lời nói của ba ba biển, hốt hoảng lo sợ, hai mắt trố to như mất thần, cảm thấy mình quá ư nhỏ bé.
    Chuyện ngụ ngôn này khuyên bảo mọi người, chớ nên vì hiểu biết nông cạn mà dương dương tự đắc, chớ nên vì công lao cỏn con mà đắc chí.


    Trong "Truyện ngụ ngôn Việt Nam" có câu chuyện kể về một chú ếch hợm hĩnh, nông nổi, đáng thương.
    Số là, có một con ếch, do sự ngẫu nhiên nào đó, ngay từ khi sinh ra đã ở trong một cái giếng nọ. (Cũng có thể không phải do ngẫu nhiên mà còn là do sở thích của họ hàng nhà ếch nữa. Chả thế trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam có câu: Giếng đâu thì ếch đó). Sống cùng với ếch ở trong giếng chỉ có vài con nhái, cua, ốc nhỏ. Từ dưới đáy giếng nhìn lên ếch ta chỉ nhìn thấy khoảng trời bé bằng cái vung. Nó nghĩ: Tất cả vũ trụ chỉ có vậy, vì thế ếch tự coi mình là chúa tể. Hàng ngày, nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng khiến các con vật bé nhỏ kia hoảng sợ. Nó càng lấy làm oai.
    Nhưng có một năm, có thể do thái độ xấc xược "coi trời bằng vung" của ếch thấu đến tai Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nổi giận đùng đùng và quyết định phế truất "ngai vàng" nơi đáy giếng của ếch nên đã làm một trận mưa thật to. Nước trong giếng dềnh lên, tràn vào bờ, đưa ếch ta ra ngoài.
    Quen thói cũ, ếch nhâng nháo nhìn lên trời, nó bỗng thấy cả một bầu trời rộng lớn hơn nhiều cái khoảng trời nó vẫn thấy. Ếch ta không tin và thấy bực bội vì điều đó. Để ra oai, nó cất tiếng kêu ồm ộp. Vị chúa tể hy vọng là sau tiếng kêu của mình mọi thứ đều phải trở lại như cũ. Nhưng bầu trời vẫn là bầu trời. Còn nó vì mãi nhìn lên trời chả thèm để ý đến xung quanh, nên đã bị một con trâu đi qua dẫm bẹp.
    Từ cách nhìn thế giới bên ngoài chỉ thông qua miệng giếng của chú ếch nọ mà thành ngữ "Ếch ngồi đáy giếng" trước hết để chỉ "những người hiểu biết ít do điều kiện tiếp xúc hẹp". Sau nữa, lại từ thái độ nhâng nháo "coi trời bằng vung" của ếch mà thành ngữ này còn hàm ý nói về sự chủ quan, coi thường thực tế. Số phận của những người đó, nếu không giống như con ếch huênh hoang, hợm hĩnh nọ, thì chí ít, họ cũng phải trả bằng những thất bại chua xót khi tiếp xúc với thực tiễn phong phú và sinh động, mà khi hiểu ra thì sự đã rồi.
     


    ME MEO CON thích điều này.

  2. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Nam Viên Bắc Triệt

    Từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đến thế kỷ thứ 3 là thời đại chiến quốc của TQ. Lúc đó TQ có nhiều nước chư hầu không ngừng xảy ra chiến tranh, cho nên các nước xuất hiện hàng loạt mưu sĩ bày mưu đặt kế. Những mưu sĩ này thích sử dụng ví dụ có ý nghĩa sâu sắc để nhà vua chấp nhận chủ trương của mình khi khuyên nhà vua. Chuyện “Nam Viên Bắc Triệt” là chuyện đại thần nước Ngụy Quý Lương khuyên vua.​
    Thời đại chiến quốc, những nước chư hầu hùng mạnh đều muốn làm bá chủ thiên hạ. Vua Ngụy cũng muốn làm bá chủ, ông chuẩn bị̣ đánh Hàn Đan thủ đô nước Triệu trước, buộc nước Triệu khuất phục mình. Đại thần nước Ngụy Quý Lương đang làm việc ở nước khác, nghe thấy tin này, rất sốt ruột. Quý Lương vội vàng về nước Ngụy, chưa kịp rửa mặt thay quần áo đã vào hoàng cung gặp nhà vua.
    Vua Ngụy đang bố trí kế hoạch đánh nước Ngụy. Vua nhìn thấy Quý Lương rất vội vàng, cảm thấy lạ quá, hỏi Quý Lương: “Quý Lương có việc gì gấp cần gặp trẫm mà không kịp sửa áo mũ?” Quý Lương nói: “Thần vừa nghe một việc lạ trên đường. Lập tức vào bẩm bệ hạ.” Vua Ngụy tò mò hỏi việc gì. Quý Lương nói: “Tôi vừa nhìn thấy một chiếc xe ngựa đi về phía bắc. Tôi hỏi người ngồi trong xe: ‘anh đi đâu đấy?’ Người ấy nói: ‘đi nước Sở Quốc.’ Tôi rất kinh ngạc, hỏi anh ta: ‘nước Sở ở phía nam, sao anh đi về phía bắc?’ Anh ta nói; ‘con ngựa của tôi rất tốt, bất cứ chạy hướng nào cũng có thể chạy đến nước Sở.’ Thần càng thấy lạ, hỏi anh ta: ‘dù ngựa của anh rất tốt, đường này không đi về hướng nước Sở.’ Anh ta nói ‘đừng lo, tôi mang nhiều tiền lắm.’ Thần vẫn không rõ, bảo anh ta: ‘dù anh mang nhiều tiền, nhưng anh không đi theo con đường về nước Sở.’ Anh ta cười nói: ‘Không sao, kỹ thuật đi xe ngựa của tôi rất tốt.’ Tãu bệ hạ, anh ta không nghe lời khuyên của tôi, tiếp tục đánh xe đi về hướng bắc.” Vua Ngụy nghe rồi cũng cười nói: “Thiên hạ sao mà có người ngu xuẩn thế vậy.” Quý Lương tiếp tục nói: “Bệ hạ có muốn làm thủ lĩnh của các nước không? Thế thì trước hết phải dành được sự tin cậy của mọi người. Nhưng bệ hạ bây giờ cậy nước ta lớn hơn nước Triệu một chút, quân đội mạnh hơn một chút, muốn chinh phục người ta để nâng cao uy tín của mình, làm như vậy chỉ càng xa rời mục tiêu của bệ hạ, chả khác gì người đánh xe, muốn đi nước Sở ở phía nam, lại đi về phía bắc, càng đi càng xa nước Sở.”
    Vua Ngụy ngột nhiên hiểu rằng Quý Lương đang gián tiếp khuyên mình. Vua cúi đầu nghĩ một lát, cảm thấy Quý Lương nói rất đúng, cho nên từ bỏ kế hoạch tấn công nước Triệu.
    Thành ngữ “Nam Viên Bắc Triệt” chỉ xe vốn đi về phía nam song lại đi về phía bắc. Ở TQ, người ta dùng thành ngữ này ví hành động thực tế trái ngược với mục tiêu dự định.
     
    ME MEO CON thích điều này.
  3. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Bỗng chốc nổi tiếng

    Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 5 trước công nguyên, Trung Quốc ở vào thời đại chiến quốc. Trong thời gian này có mấy chục nước chư hầu, muốn tồn tại, thì việc các nước chư hầu thi hành chính sách đối nội và đối ngoại đúng đắn hữu hiệu là một việc hết sức quan trọng, bởi vậy đã hình thành một tầng lớp mưu sĩ chuyên bày mưu đặt kế cho chư hầu. Các mưu sĩ này có tư tưởng triết học và biện pháp quản lý đất nước của riêng mình, nhất là giỏi về lấy ví dụ sâu sắc sinh động để can gián người cầm quyền, khiến người cầm quyền không những không tức giận, mà còn vui lòng chấp nhận. Câu chuyện “Bỗng chốc nổi tiếng” là nói về mưu sĩ Thuần Vu Côn can gián nhà vua.
    Tề Uy Vương là nhà vua kế vị không lâu của nước Tề. Khi là thái tử, Tề Uy Vương là một thanh niên rất có tài năng, không những chăm chỉ học tập kiến thức văn võ, mà dốc nhiều sức lực học tập mưu lược quản lý quốc gia, mong mình có thể xây dựng quốc gia thành một nước lớn sau khi kế vị. Nhưng sau khi kế vị, Tề Uy Vương phát hiện nhà vua có quyền uy và các thứ hưởng lạc lớn hơn nhiều so với thái tử. Buổi chầu hàng ngày, đại thần ủng hộ, sau khi về tới nhà còn có thức ăn, rượu ngon và mỹ nữ, dần dần, chí lớn được lập lúc làm thái tử giảm thiểu.
    Hai năm trôi qua, Tề Uy Vương ngày càng say đắm trong rượu ngon và sắc đẹp, hàng ngày chỉ uống rượu và đi săn bắn, giao mọi việc đứng đắn cho đại thần đi làm. Cho nên, chính trị không đi vào nền nếp, quan lại bắt đầu tham nhũng, xao lãng bổn phận, quốc lực ngày càng yếu đuối, các nước xung quanh đều hòng nhân dịp này xâm phạm nước Tề, quan lại ngay thẳng và nhân dân hết sức lo lắng, nhưng lại không dám can gián Tề Uy Vương, sợ bị quở mắng và phạt tội.
    Có một mưu sĩ tên là Thuần Vu Côn, khẩu tài rất tốt, nói năng khéo léo, thường dùng một số ẩn ngữ thú vị để biện luận với người khác. Thuần Vu Côn biết Tề Uy Vương cũng rất thích nói ẩn ngữ để thể hiện trí tuệ của mình, nên Thuần Vu Côn quyết định tìm một cơ hội để can gián Tề Uy Vương.
    Một hôm, khi gặp Tề Uy Vương, Thuần Vu Côn nói rằng: “Thưa bệ hạ, thần có một câu đố, xin bệ hạ đoán thử.” Tề Uy Vương bèn hỏi: “Câu đố gì?”
    Thuần Vu Côn nói: “Ở một nước có một loại chim lớn, sống ở cung đình ròng rã ba năm, nhưng nó vừa không tung cánh bay lượn, vừa không ra tiếng kêu, chỉ co quắp không có mục đích nào, thần xin bệ hạ đoán chim này là chim gì?”
    Tề Uy Vương biết Thuần Vu Côn châm biếm mình là nhà vua một nước, lại không làm nên gì. Nhưng nên trả lời cái gọi là câu đố của Thuần Vu Côn như thế nào nhỉ?
    Nghĩ khá lâu, Tề Uy Vương trả lời Thuần Vu Côn rằng: “Nhà ngươi không biết gì cả, chim lớn này không bay thì thôi, nếu bay thì sẽ lên tới trời cao, nó không kêu thì thôi, nếu kêu thì chắc sẽ chấn động mọi người. Nhà ngươi cứ chờ đợi mà xem.”
    Từ đó về sau, Tề Uy Vương đóng cửa suy nghĩ những điều sai lầm của mình, quyết định ăn năn hối lỗi, phấn chấn tinh thần, làm nên những việc lớn. Tề Uy Vương trước tiên chỉnh đốn chính trị nhà nước, triệu gặp quan lại toàn quốc, khen thưởng những quan lại tận tụy với công tác, trừng phạt nghiêm ngặt những quan lại tham nhũng và không có tài năng, rồi chỉnh đốn quân sự, tăng cường lực lượng quân đội. Nước Tề thay đổi bộ mặt hoàn toàn một cách nhanh chóng, và tràn đầy sức sống bừng bừng. Được biết tin này, những nước hòng xâm lược nước Tề đều lấy làm ngạc nhiên, nói Tề Uy Vương thật giống một chim lớn, “Không kêu thì thôi, kêu thì chấn động mọi người.”
    Sau đó, “Bỗng chốc nổi tiếng” trở thành một câu thành ngữ, ví một người có tài năng khác thường, miễn là vận dụng tốt, một khi phát huy, thì sẽ làm nên những việc chấn động mọi người.
     
  4. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    "Cáo mượn oai hùm" (狐假虎譽)

    Thành ngữ “cáo mượn oai hùm” có xuất xứ từ tiếng Hán, nhằm ví kẻ ranh ma dựa vào thế lực người khác để uy hiếp mọi người. Nguyên văn câu thành ngữ này trong tiếng Hán là “hồ giả hổ uy”. Hồ ở đây là hồ ly (cáo).

    Chuyện xưa kể rằng có một con hổ đói đang đi kiếm mồi thì gặp một con cáo. Hổ định ăn thịt cáo, còn cáo biết mình khó mà thoát khỏi móng vuốt hổ bèn bình tĩnh nói với hổ rằng: “Ngươi to gan thật đấy. Ta được thần linh trên trời cử xuống đây làm vua bách thú. Ngươi mà ăn thịt ta thì không thoát khỏi sự trừng phạt của thần linh đâu.” Hổ không tin, cáo bèn bảo: “Nếu ngươi không tin thì đi đằng sau làm hộ vệ cho ta, ngươi sẽ thấy muôn loài trong khu rừng khi gặp ta đều tỏ vẻ khiếp sợ cho xem.” Hổ nghe cáo nói thì bán tín bán nghi, liền đồng ý đi sau lưng cáo. Cáo biết hổ đã mắc mưu, liền ưỡn ngực đi một cách oai vệ. Quả nhiên, mọi con vật khi thấy cáo và hổ đều sợ hãi chạy trốn cả. Hổ tin là thực nên tha cho cáo, có biết đâu rằng muôn loài hoảng sợ vì thấy hổ đi đằng sau chứ cáo thì chúng chả coi ra gì.

    Vào thời Chiến Quốc, thượng tướng quân nước Sở là Chiêu Hề Tuất thống soái quân đội, uy danh lừng lẫy bốn phương khiến các nước láng giềng đều nể sợ. Có kẻ đố kỵ, nói xấu với Sở Vương rằng tiếng tăm của Chiêu Hề Tuất đã vượt cả nhà vua. Sở Vương xưa nay vốn trọng dụng Chiêu Hề Tuất nhưng vẫn bán tín bán nghi, bèn cho gọi mấy vị cận thần đến hỏi han. Một người tâu rằng: “Quân thần bách tính láng giềng đúng là rất sợ Chiêu Hề Tuất, nhưng theo hạ thần, người mà họ sợ thực sự chính là ngài.” Nói rồi ông ta kể câu chuyện “cáo mượn oai hùm” trên đây và kết luận: “Chiêu Hề Tuất cũng giống con cáo kia vậy, còn ngài mới đích thực là con hổ”. Sở Vương nghe xong câu chuyện mới hiểu ra sự việc.
     
  5. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    “Trước thì hùng hổ, sau thì khúm núm” (前拒後恭)

    Khi giao tiếp với một người nào đó, trước tiên bằng thái độ hết sức nghạo nghễ, sau đó lại đổi thành thái độ hết sức cung kính. Trong tiếng Hán có một câu thành ngữ “Tiền cự hậu cung” hoặc “Tiền cự hậu ty” để hình dung tình huống này. Sau đây là nguồn gốc câu chuyện thành ngữ này.

    Thời Chiến Quốc Trung Quốc thế kỷ 5 trước công nguyên, cùng lúc tồn tại nhiều quốc gia, trong đó có 7 nước chủ yếu là Tần, Yến, Triệu, Tề, Sở, Hàn, Ngụy, gọi là “Chiến quốc thất hùng”. Vì thực hiện hàng loạt cải cách chính trị và kinh tế, nên nước Tần nằm ở khu vực tỉnh Thiểm Tây miền tây bắc Trung Quốc hôm nay, có sức mạnh hùng hậu nhất, đôi khi xâm lược 6 nước khác. Trong tập đoàn thống trị của 6 nước có hai phe là phe thân cận nước Tần và phe chống nước Tần; phe thân cận nước Tần chủ trương 6 nước tồn tại hòa bình với nước Tần, cố không trêu tức nước Tần, không để nước Tần có cớ mở cuộc chiến tranh, chủ tương này gọi là “Liên Hoành”; phe chống nước Tần thì chủ trương 6 nước liên hợp với nhau, chống đối nước Tần, chủ trương này gọi là “Hợp Tung”.

    Lúc đó, nhiều mưu sĩ tuyên truyền chủ tương của mình ở các nước, một khi chủ trương được tiếp nhận, mưu sĩ sẽ nổi tiếng ngay, giá trị tự thân mưu sĩ cũng được tăng lên nhiều so với ngày trước. Tô Tần chính là một mưu sĩ như vậy.

    Tô Tần trước tiên đến nước Tần, du thuyết nhà vua nước Tần, ông ra sức tuyên truyền chủ trương “Liên Hoành”, chủ trương nước Tần trước tiên xoa dịu 6 nước khác, rồi từng bước thôn tính từng nước một. Nhà vua nước Tần từ chối chủ trương của Tô Tần, lý do bề ngoài là nước Tần không có dã tâm xâm lược 6 nước khác, cho nên không có hứng thú đối với chủ trương “Liên Hoành”. Thực ra là nước Tần chưa chuẩn bị đầy đủ để thống nhất Trung Quốc. Tô Tần không có cách khác, do lâm vào cảnh túng bấn, quần áo rách nát, đành phải thui thủi trở về quê Lạc Dương.
    Thấy Tô Tần thất thểu trở về, bố mẹ không thèm nói chuyện với ông, vợ ông chỉ lo dệt vải, mặc kệ ông, ông xin chị dâu nấu cơm ăn, chị dâu không những không nấu mà còn quở trách ông một trận. Tô Tần rất buồn, bèn lập chí chăm chỉ học tập, quyết định nhất thiết phải giành vẻ vang cho mình. Tô Tần suốt ngày đêm chăm chỉ học tập, nghiên cứu phép dùng binh. Có khi đến đêm khuya, ông cũng không chịu đi ngủ. Tô Tần chuẩn bị một cái dùi, khi buồn ngủ, thì dùng dùi đâm mạnh vào đùi, sau khi tỉnh dậy, tiếp tục học tập. Do vậy đã có câu thành ngữ “Lấy dùi đâm đùi”.

    Tô Tần nghiên cứu rất kỹ tình hình các nước, cho rằng thuyết phục 6 nước tiếp nhận sách lược “Hợp Tung” để đối phó nước Tần là việc có thể thực hiện. Ông trước tiên thuyết phục nước Yến, nước Triệu, rồi từng bước khiến 6 nước Yến, Triệu, Tề, Sở, Hàn, Ngụy liên kết thành đồng minh do nước Sở dẫn đầu, để cùng đối phó nước Tần. Tô Tần kiêm Tổng Tham mưu quân đội 6 nước. Sau khi được biết tình hình này, nước Tần không dám tùy tiện xâm lược bất cứ nước nào trong 6 nước. Tình trạng này kéo dài khoảng 15 năm, cho đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc.

    Tô Tần là Tổng Tham mưu quân đội 6 nước, cho nên có địa vị rất cao trong 6 nước. Một lần, ông đi công tác, ghé qua quê Lạc Dương, quan chức địa phương cử người quét sạch đường phố, xếp hàng hoan nghênh. Bố mẹ Tô Tần chống gậy chờ đợi ở chỗ tiếp giáp giữa các nẻo đường từ lâu. Sau khi về tới nhà, vợ lánh mặt ở bên cạnh, không dám nhìn thẳng vào ông. Chị dâu Tô Tần kính cẩn lễ phép, chào liên tiếp. Tô Tần cười mà nói: “Chị ơi, sao thái độ của chị thay đổi lớn như vậy? Trước kia, chị coi khinh em, hiện nay lại khiêm tốn như vậy.” Chị dâu Tô Tần vừa run lẩy bẩy, vừa trả lời: “Hiện nay em đã làm quan lớn, phát tài, chị làm sao dám đối xử em như trước kia.” Tô Tần thở dài và nói rằng: “Người bần cùng đến bố mẹ cũng coi nhẹ, sau khi làm giàu thì người thận lại sợ, thảo nào mọi người đều coi trọng quyền thế và lợi ích!”
    Hiện này câu thành ngữ này được dùng để chỉ những người chỉ nhìn hình thức hoặc xu nịnh quyền quý, có thái độ trước sau bất nhất trong xử thế.
     
  6. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Thanh Đông Kích Tây

    Tức gây thanh thế ở phía đông, nhưng lại tiến đánh từ phía tây, cũng có thể dùng để ví về sự biến đổi khôn lường giữa lời nói và việc làm.
    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Thông điển-Binh điển lục".
    Sau khi triều nhà Tần bị diệt vong, giữa Lưu Bang và Hạng Vũ tiến hành bốn năm cuộc tranh hùng Sở Hán. Năm đó, Lưu Bang phong Hàn Tín làm Tả Thừa Tướng dẫn quân tiến đánh đại tướng Ngụy Vương Báo thủ hạ của Hạng Vũ.


    Ngụy Vương Báo sau khi được tin quân Hán tiến đến, liền phong Bách Trực làm đại tướng, thống lĩnh quân mã đến trấn giữ ở Bạc Bản bờ phía đông sông Hoàng Hà, ngăn chặn quân Hán vượt qua sông. Bách Trực bèn ra lệnh cho truyền dân rời khỏi cửa sông, không cho phép qua lại trên mặt sông.
    Khi Hàn Tín dẫn quân Hán tới bờ bên, nhìn sang thấy Bạc Bản địa hình hiểm trở, quân của Bách Trực lại canh phòng rất nghiêm ngặt, muốn đổ bộ qua sông là điều không dễ dàng. Qua suy nghĩ kỹ, Hàn Tín bèn quyết địch dùng chiến thuật "Thanh đông kích tây". Ông cho quân đóng trại đối diện với Bạc Bản, xung quanh doanh trại cắm đầy cờ xí, ban ngày thì cho quân lính thao luyện, ban đêm thì điều binh khiển tướng, hò reo ầm ĩ làm ra vẻ sắp vượt sông. Nhưng thực ra đã ngấm ngầm điều chủ lực của quân Hán đến Hạ Dương ở hướng bắc. Ngụy Vương Báo thấy quân Hán ở bờ bên làm dữ như vậy, cho là Hàn Tín sẽ cho quân vượt sông tại Bạc Bản, nên tỏ ra rất yên tâm.

    Sau khi chủ lực của quân Hán tới Hạ Dương, liền nhanh chóng làm bè vượt qua sông, ở đây không hề có quân của Ngụy Vương Báo canh giữ, nên quân Hán vượt qua sông Hoàng Hà đánh cho quân của Ngụy Vương Báo một trận tơi bời, chiếm cứ được An Ấp nơi hậu phương quan trọng của Hạng Vũ.
    Thành ngữ này tương đương với thành ngữ : "Dương Đông Kích Tây" trong tiếng Việt!
     
  7. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Thỉnh Quân Nhập Ung

    Nguyên ý của Thỉnh quân nhập ung là mời chàng vào trong chum. Còn ý chính của câu thành ngữ này là chỉ: Dùng biện pháp trị người của anh ta để trị lại anh ta. Nó tương tự như: "Gậy ông lại đập lưng ông".
    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Tư trị thông giám – Đường Kỷ".
    Võ Tắc Thiên thời nhà Đường là một vị nữ hoàng duy nhất trong lịch sử TQ. Nhằm giữ gìn ách thống trị của mình, bà đã dở thủ đoạn khủng bố mạnh mẽ và hậu thưởng cho người tố giác. Do đó, một số quan viên hà khắc của bà đã tìm đủ mọi cách để vu cáo cho người bất đồng chính kiến với mình, và không ngừng cải tiến dụng cụ tra tấn để tiến hành bức cung đối với phạm nhân. Trong đó, đại thần Chu Hưng và Lai Tuấn Thần là thối tha nhất.
    Một hôm, có người mật báo với Võ Tắc Thiên là Chu Hưng mưu làm phản, Võ Tắc Thiên bèn cử Lai Tuấn Thần đi xử lý vụ án này và ra hạn phải giải quyết xong. Lai Tuấn Thần và Chu Hưng vốn quan hệ mật thiết với nhau, nên cảm thấy rất khó xử. Ông suy đi tính lại mãi, cuối cùng đã nghĩ ra một kế. Ông mời Chu Hưng đến phủ mình chơi, rồi hỏi Chu Hưng có cách nào hay nhất để bức cung phạm nhân.

    Chu Hưng không hề hay biết ý đồ của Lai Tuấn Thần là nhằm vào mình, bèn đắc ý nói rằng, có thể đặt sẵn một cái chum, đốt lửa ở xung quanh rồi bỏ phạm nhân vào trong chum, như vậy phạm nhân không chịu được đành phải khai ra hết. Lai Tuấn Thần bèn sai người chuẩn bị mọi thứ như Chu Hưng đã nói, sau đó trở mặt nói với Chu Hưng rằng: "Nay có người cáo ông mưu làm phản, nhà vua cử tôi xét hỏi ông, bây giờ xin mời ông vào ngồi trong chum". Chu Hưng sợ mất hồn vía, không biết nói thế nào cho phải, đành ngoan ngoãn nhận tội.
    Hiện nay, người ta vẫn hay dùng câu thành ngữ này để chỉ hiện tượng dùng cách trị người của anh ta để trị lại anh ta.
     
  8. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Tung Hổ Quy Sơn

    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Tam Quốc Diễn Nghĩa", hồi thứ 21.
    Sau khi Tào Tháo dẫn quân đánh thắng Lã Bố, Lưu Bị theo Tào Tháo đến đô thành Hứa Xương. Tào Tháo sai người bí mật theo dõi Lưu Bị. Bấy giờ, Hán Hiến Đế đang ở Hứa Xương chuẩn bị mưu sát Tào Tháo. Lưu Bị cũng tham gia vào việc này. Nhằm bưng bít tai mắt của Tào Tháo, Lưu Bị hàng ngày vẫn mở cổng lớn, rồi cuốc đất trồng rau ở trong vườn.
    Mưu sĩ Trình Dục thấy vậy mới khuyên Tào Tháo rằng: "Tôi xem Lưu Bị là một người anh hùng khí khái, nếu không giết hắn đi thì tất sinh hậu hoạn ". Nhưng mưu sĩ Quách Gia thì lại cho rằng, hiện nay đang là lúc thiếu nhân tài, nếu giết Lưu Bị thì sẽ tổn hại đến danh tiếng của Tào Tháo, chẳng có ích lợi gì. Tào Tháo cũng phải thừa nhận như vậy.
    Ít lâu sau, Viên Thuật bị Tào Tháo đánh bại, muốn chạy sang ở nhờ Viên Thiệu. Tào Tháo liền cử quân ngăn chặn Viên Thuật. Lưu Bị bèn nhân cơ hội đó xin với Tào Tháo cho mình đi đuổi bắt Viên Thuật. Tào Tháo liền cấp cho Lưu Bị 50 nghìn quân kéo sang Từ Châu. Lưu Bị vội vàng dẫn quân đi ngay. Quan Vũ và Trương Phi không hiểu ra sao mới hỏi Lưu Bị tại sao lại ra đi hấp tấp như vậy. Lưu Bị nói: "Ta ở với Tào Thào có khác nào chim trong lồng, cá trong lưới, rất không an toàn, cơ bản không thể làm nên trò trống gì. Bây giờ thì khác rồi, nay chim đã bay lên trời xanh, cá về biển, ta không còn bị ràng buộc gì nữa".
    Khi mưu sĩ Quách Gia và Trình Dục đi xa về nghe nói Tào Tháo đã cử Lưu Bị đem quân đi mới than rằng: "Đây có khác nào thả hổ về rừng, thả rồng về biển".
    Thành ngữ này tương đương với thành ngữ "Thả hổ về rừng" trong tiếng việt!
     
  9. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Thiên Biến Vạn Hoá

    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Liệt Tử-Thang Vấn".
    Khi Chu Mục Vương đi thị sát ở miền tây gặp một người thợ rất tài ba tên là Yển Sư. Nhà vua hỏi ông ta rằng: "Ta nghe nói ông rất khéo tay, vậy ông biết làm những gì?" Yển Sư đáp: "Bệ hạ muốn tôi làm gì thì tôi làm việc ấy. Nay tôi đã làm được một vật, ngày mai xin đưa đến cho bệ hạ xem".
    Ngày hôm sau, Yển Sư dẫn một người đến ra mắt nhà vua, nhà vua hỏi người đó là ai? Yển Sư đáp rằng: "Đây là người có tài ca múa do tôi chế tạo ra". Nhà vua nghe vậy vô cùng kinh ngạc, vì nhìn mãi mà cũng chẳng nhận ra đó là người giả, bèn lệnh cho Yển Sư diễn giải xem sao. Yển Sư liền đến gần ấn vào cằm người nộm một cái, tức thì nó hát lên lời ca nghe thật du dương trầm bổng, Yển Sư lại ấn vào cánh tay nó một cái, thì nó liền nhảy múa nhịp nhàng theo lời hát, trông thật đẹp mắt. Sau khi biểu diễn kết thúc, Chu Mục Vương liền bảo Yển Sư tháo người nộm ra xem. Khi tháo ra thì thấy bên trong có bì, nhựa cây, sơn , và các cơ quan nội tạng được làm bằng nguyên liệu màu như: gan, mật, tim, phổi, thận, vị, ruột v v. Có đầy đủ gân mạch, xương, tóc, da, răng. Sau đó, Yển Sư lại lắp ghép lại, nó lại trở thành " người" có thể cử động được theo ý muốn.
    Chu Mục Công lệnh cho Yển Sư tháo bỏ tim, thì nó không nói năng được. Tháo bỏ gan thì nó không còn nhìn thất gì nữa. Tháo bỏ thận thì nó không đi lại được. Chu Mục Vương thấy vậy sửng sốt thốt lên rằng: "Ôi, con người quả thật là khéo léo, hầu như có thể sánh với thiên đế đã sáng tạo ra muôn vật, thực là thiên biến vạn hóa". Câu nói "Thiên biến vạn hóa" từ đó được lưu chuyền lại, dùng để ví về sự vật biến hóa khôn lường
     
  10. linhhang89

    linhhang89 Thành Viên Tiêu Cực Thành viên thân thiết

    Tham gia:
    23/6/2010
    Bài viết:
    331
    Lượt thích:
    298
    Kinh nghiệm:
    63
    Nghề nghiệp:
    Sinh Viên
    Trường:
    Phương Đông
    Tái ông thất mã, an tri họa phúc

    Một ông lão ở gần biên giới giáp với nước Hồ phía Bắc nước Tàu, gần Trường thành, có nuôi một con ngựa. Một hôm con của ông lão dẫn ngựa ra gần biên giới cho ăn cỏ, vì lơ đễnh nên con ngựa vọt chạy qua nước Hồ mất dạng. Những người trong xóm nghe tin đến chia buồn với ông lão.

    Ông lão là người thông hiểu việc đời nên rất bình tỉnh nói: - Biết đâu con ngựa chạy mất ấy đem lại điều tốt cho tôi.

    Vài tháng sau, con ngựa chạy mất ấy quay trở về, dẫn theo một con ngựa của nước Hồ, cao lớn và mạnh mẽ.

    Người trong xóm hay tin liền đến chúc mừng ông lão, và nhắc lại lời ông lão đã nói trước đây.

    Ông lão không có vẻ gì vui mừng, nói: - Biết đâu việc được ngựa Hồ nầy sẽ dẫn đến tai họa cho tôi.

    Con trai của ông lão rất thích cỡi ngựa, thấy con ngựa Hồ cao lớn mạnh mẽ thì thích lắm, liền nhảy lên lưng cỡi nó chạy đi. Con ngựa Hồ chưa thuần nết nên nhảy loạn lên. Có lần con ông lão không cẩn thận để ngựa Hồ hất xuống, té gãy xương đùi, khiến con ông lão bị què chân, tật nguyền.

    Người trong xóm vội đến chia buồn với ông lão, thật không ngờ con ngựa không tốn tiền mua nầy lại gây ra tai họa cho con trai của ông lão như thế.

    Ông lão thản nhiên nói: - Xin các vị chớ lo lắng cho tôi, con tôi bị ngã gãy chân, tuy bất hạnh đó, nhưng biết đâu nhờ họa nầy mà được phúc.

    Một năm sau, nước Hồ kéo quân sang xâm lấn Trung nguyên. Các trai tráng trong vùng biên giới đều phải sung vào quân ngũ chống ngăn giặc Hồ. Quân Hồ thiện chiến, đánh tan đạo quân mới gọi nhập ngũ, các trai tráng đều tử trận, riêng con trai ông lão vì bị què chân nên miễn đi lính, được sống sót ở gia đình."

    Sau khi kể câu chuyện trên, sách Hoài Nam Tử đưa ra luận điểm: Họa là gốc của Phúc, Phúc là gốc của Họa. Họa Phúc luân chuyển và tương sinh. Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái hậu quả của nó.

    Do đó, người đời sau lập ra thành ngữ: Tái ông thất mã, an tri họa phúc. Nghĩa là: ông lão ở biên giới mất ngựa, biết đâu là họa hay là phúc.

    Hai điều họa phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được phước thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái họa sẽ đến; khi gặp điều họa thì cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên bắt chước tái ông mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống.
     
Từ khóa:

Chia sẻ cùng bạn bè


Đang tải...