15 phát hiện gây bất ngờ về tâm lý học thức ăn

Thảo luận trong 'Kỹ năng mềm' bắt đầu bởi rubi_mos2002, 7/4/2015. — 459 Lượt xem

  1. rubi_mos2002

    rubi_mos2002 Thành viên thân thiết Thành viên thân thiết

    Gia nhập:
    28/10/2011
    Bài viết:
    824
    Lượt thích:
    725
    Kinh nghiệm:
    93
    Trường:
    Tam ly hoc

    15 phát hiện gây bất ngờ về tâm lý học thức ăn

    1. Chất béo = xấu?

    Đây là một ví dụ tuyệt vời của quy luật về những hậu quả không lường trước được.

    Nhiều người đã tin rằng thực phẩm giàu chất béo là xấu. Các chiến dịch y tế công cộng, sách, báo trong những năm 80 cổ vũ quan điểm này.

    Đây là vấn đề. Không phải mọi chất béo đều có hại; trên thực tế một số chất béo là những phần rất tốt, cần thiết của chế độ ăn của chúng ta. Kết quả là mọi người tránh những món ăn nhỏ giàu chất béo để ăn những món ăn lớn nhưng ít béo. Trên thực tế, món ăn ít béo có thể chứa nhiều calo hơn đơn giản vì nó lớn hơn.

    Vì con người nghĩ rằng chất béo = xấu, nên một số thức ăn bị xếp vào loại có hại cho sức khoẻ của chúng ta, còn những thức ăn ít béo khác thì được xem là tốt cho sức khoẻ. Điều này dẫn đến tình trạng là con người thường đánh giá thấp lượng calo trong các thức ăn ‘tốt cho sức khoẻ’ ít béo và đánh giá quá mức về lượng calo trong các thức ăn ‘xấu’ nhiều chất béo (Carels et al., 2006).

    [​IMG]

    2. Nó không bao giờ ‘chỉ là ăn trưa’.

    Ăn uống cùng nhau có những ngụ ý về mặt tâm lý mạnh mẽ.

    Ăn trưa là một chuyện nghiêm túc, đặc biệt nếu ăn cùng người yêu cũ, theo một nghiên cứu của Kniffin và Wansink (2012). Họ phát hiện thấy so với những chuyện như uống cafe hay nói chuyện qua điện thoại, khi bạn đời của họ dùng bữa trưa với người yêu cũ, việc đó gây ra cảm giác ghen tuông nhiều nhất.

    Sức mạnh biểu tượng của việc ăn uống cùng với người khác là mạnh mẽ: nó không bao giờ ‘chỉ là ăn trưa’.

    3. Vị giác mất dần với tuổi tác

    Khi chúng ta già, vị giác của chúng ta trở nên yếu hơn. Một nghiên cứu phát hiện thấy khả năng nhận ra muối bị ảnh hưởng lớn nhất, cùng với ngọt, chua, mặn và đắng (Mojet et al., 2001). Người già hơn có thể cần khoảng 2 và 9 lần các gia vị như muối để có trải nghiệm vị giác tương tự. Đàn ông dường như đặc biệt bị ảnh hưởng bởi sự mất khả năng vị giác này.

    Lý do một phần vì người lớn tuổi có ít núm vị giác hơn và cảm giác về mùi suy yếu theo tuổi tác. Chúng ta thực sự nếm nhiều thức ăn với mũi, do đó khi mũi không hoạt động tốt thì vị giác cũng bị mất.

    4. Nữ phục vụ béo = Khách hàng béo

    Đây là một trường hợp mà bối cảnh ảnh hưởng đến những món ăn bạn có thể chọn từ thực đơn ở một nhà hàng. McFerran et al. (2010) đã xem xét về cân nặng của người phục vụ của bạn có thể ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn món ăn của bạn.

    Họ phát hiện thấy những người đang ăn kiêng đã ăn nhiều hơn khi được khuyến khích chọn những đồ ăn vặt không lành mạnh bởi một nữ hầu bàn béo hơn là nữ hầu bàn gầy. Bạn có thể đã dự đoán kết quả ngược lại – một nữ hầu bàn béo sẽ khuyên bạn không ăn một số món. Nhưng thay vào đó, nó có thể về vô thức cho những người đang ăn kiêng ‘sự cho phép’ được ăn quá nhiều. Nói cách khác: nếu cô ấy có thể ăn quá nhiều thì tôi cũng có thể!

    Hiệu ứng ngược lại thấy ở những người không ăn kiêng. Họ đã ăn nhiều hơn khi cô phục vụ gầy. Điều này có thể vì người (gầy) quyến rũ có xu hướng có sức thuyết phục nhiều hơn.

    5. Bạn bè béo = tôi béo

    Có lẽ là đi quá xa khi nói có những người bạn béo làm chúng ta béo, dù đã có bằng chứng cho điều này. Christakis et al. (2007) phát hiện thấy khả năng béo phì của một người tăng đến 57% nếu họ có những người bạn béo phì.

    Con người bị tác động lớn bởi hành vi ăn uống của những người xung quanh họ. Chúng ta đã thấy trong các nghiên cứu rằng con người ăn nhiều hơn khi những người xung quanh họ ăn nhiều, và ăn ít khi những người xung quanh ăn ít. Phụ nữ dường như đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi điều này.

    Ngay cả khi ăn một mình những sự lựa chọn của chúng ta cũng bị ảnh hưởng gián tiếp bởi xã hội – các nhà tâm lý gọi nó là ‘những chuẩn tắc xã hội’. Khi những chuẩn tắc bị kiểm soát trong những thực nghiệm, người ta có thể bị làm cho ăn ít hơn hoặc nhiều hơn.

    Một ví dụ hay đó là đàn ông nam tính được nghĩ là ăn như hổ và phụ nữ nữ tính thì ăn ít.

    6. Những ý định ăn uống bị đánh bại bởi những thói quen

    Đâu là cách tốt nhất để dự đoán bạn sẽ ăn món gì vào ngày mai? Tôi nên hỏi về những ý định của bạn, những sở thích của bạn hay là những món bạn đã ăn hôm qua?

    Tất cả những gì tôi cần làm là hỏi bạn đã ăn gì hôm qua. Cách tốt nhất để dự đoán những món bạn sẽ ăn ngày mai là xem xét những thói quen của bạn. Về trung bình, các thói quen có xu hướng chiến thắng những ý định tốt nhất của chúng ta và thậm chí những sở thích của chúng ta.

    Thay đổi những thói quen ăn uống của chúng ta rất khó vì nhiều quyết định của chúng ta được thực hiện một cách tự động, để đáp lại những tình huống có tính lề thói hằng ngày và cũng vì…

    [​IMG]

    7. Ăn mà không quan tâm đến hậu quả

    Ăn giống như việc làm hằng ngày nên chúng ta dễ dàng không để ý đến. Trong khi tâm trí chúng ta đang đi lang thang thì tay chúng ta xúc thức ăn nhanh hơn và nhanh hơn.

    Các nghiên cứu cho thấy con người ăn nhiều hơn khi họ bị xao lãng, như đang xem TV hoặc nói chuyện với bạn bè (Bolhuis et al., 2013). Điều không may là khi không tập trung vào thức ăn của chúng ta, chúng ta có xu hướng ăn nhiều hơn và nhận được ít niềm vui từ nó.

    Đây là lý do tại sao một cách tiếp cận từng được dùng để đánh bại những bệnh rối loạn ăn uống và béo phì là ăn uống có chú tâm. Cắn những miếng nhỏ hơn và chú ý nhiều hơn đến những gì bạn đang ăn. Con người ta không chỉ ăn ít hơn theo cách này mà họ cũng thưởng thức nó nhiều hơn.

    8. Kìm nén những ý nghĩ về thức ăn dẫn đến ăn uống vô độ

    Những người đang ăn kiêng thường xuyên cố gắng kìm nén những ý nghĩ về thức ăn của họ có khả năng trải nghiệm những thèm khát về thức ăn cũng như có xu hướng ăn vô độ (Barnes & Tantleff-Dunn, 2010).

    Do đó, đừng cố gắng né tránh, thay vào đó hãy thử 8 lựa chọn đối với kìm nén suy nghĩ.

    9. Nếu nó lành mạnh, bạn có thể ăn nhiều hơn!

    Đây có vẻ là một niềm tin phổ biến, hoặc ít nhất là một cách hành xử. Trong các nghiên cứu, khi con người được đưa cho cùng một loại thức ăn nhưng một được dán nhãn là lành mạnh hơn, họ sẽ ăn nhiều hơn so với khi nó được dán nhãn không lành mạnh. Trong nghiên cứu củaProvencher (2009) họ ăn nhiều hơn 35%.

    Trường hợp này thì những thức ăn lành mạnh có thể có hại cho chúng ta vì chúng khuyến khích tiêu thụ nhiều hơn.

    10. Tâm trạng tệ làm bạn ăn thức ăn có hại

    ‘Ăn uống theo cảm xúc’ là quan điểm cho rằng cảm xúc, không chỉ vì đói, ảnh hưởng đến ăn cái gì và ăn như thế nào. Điều này có một số sự thật.

    Trong các thực nghiệm, nhìn chung con người bị làm cho có một tâm trạng tồi tệ, họ có nhiều khả năng tìm kiếm đồ ngọt và những đồ ăn vặt nhiều chất béo. Những cảm xúc tiêu cực cũng làm con người thích quà vặt hơn là một bữa ăn đúng và ăn ít rau hơn.

    Không may là tâm trạng tốt không nhất thiết làm bạn ăn đồ lành mạnh. Con người dường như ăn nhiều hơn khi họ đang có tâm trạng tốt, nhưng ăn nhiều hơn tất cả mọi thứ hơn là những thức ăn cụ thể.

    11. Những thức ăn lành mạnh cải thiện tâm trạng của bạn

    Chúng ta biết rằng những người ăn nhiều rau và trái cây nhìn chung thoả mãn hơn với cuộc sống và hạnh phúc hơn, nhưng chúng ta không thể chắc chắn trái cây và rau thực sự gây ra điều đó.

    Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất cho thấy ăn rau và trái cây ngày hôm nay thực sự cải thiện tâm trạng của bạn vào ngày mai (White et al., 2013). Điều này dựa trên quan điểm các vi chất dinh dưỡng như folate được tìm thấy trong trái cây và rau có thể giúp cải thiện trầm cảm.

    Trong nghiên cứu 21 ngày của White et al. (2013) yêu cầu những người tham gia ghi họ đã ăn bao nhiêu rau và trái cây cũng như tâm trạng của họ. Điều này cho thấy ăn nhiều rau và trái cây ngày hôm nay thực sự đã dự đoán được tâm trạng vào ngày mai. Tuy nhiên, họ cần ăn 7 hoặc 8 phần thức ăn để thấy hiệu quả rõ ràng. 5 phần có thể không đủ để thúc đẩy tâm trạng.

    12. Tôi sẽ không ăn những món cô ấy ăn

    Bạn đã từng vào một nhà hàng với một nhóm bạn, định chọn món bạn sẽ ăn nhưng sau đó nghe một người khác chọn món giống bạn và bạn đã thay đổi món ăn.

    Theo một nghiên cứu đây là một xu hướng dễ nhận biết (Ariely & Levav, 2000). Một trong những nguyên nhân là khao khát về sự độc đáo và nổi bật. Gọi một món ăn khác có vẻ như thể hiện sự độc đáo của bạn.

    Tuy nhiên theo nghiên cứu của Ariely & Levav, mọi người thích sự lựa chọn thứ hai của họ ít hơn lựa chọn đầu tiên.

    13. Những thay đổi nhỏ đánh bại những kiểu ăn kiêng kỳ lạ

    Nếu bạn muốn giảm cân, hãy quên đi tất cả những kiểu ăn kiêng kỳ lạ, cho dù chúng là gì. Mốt ăn kiêng mới nhất là 5:2 (năm ngày ăn bình thường và hai ngày ăn nhanh). Gần như không có bằng chứng cho thấy nó hiệu quả. Những kiểu ăn kiêng đó đòi hỏi những sự thay đổi thói quen lớn, mà thay đổi thói quen là rất khó.

    Thay vì tuân theo những kiểu ăn kiêng điên rồ đó, tốt hơn là thực hiện những thay đổi nhỏ có thể chịu được về lâu dài (nghĩa là kéo dài suốt cuộc đời còn lại của bạn). Những người tham gia trong một nghiên cứu qua mạng về ăn uống lành mạnh đã có những thay đổi nhỏ có thể chịu được đối với những thói quen của họ và đã giảm cân thành công (Kaipainen et al., 2012). Lưu ý là họ đã giảm cân mà không ăn kiêng!

    Những thói quen được áp dụng bao gồm: sử dụng những cái đĩa nhỏ hơn, uống nước với mỗi bữa ăn.

    14. Thức ăn không bao giờ chỉ là thức ăn

    Nó còn có thể đại diện cho một quan điểm và có thể ảnh hưởng cách chúng ta trải nghiệm về thức ăn.

    Allen et al. (2008) đã làm một thử thách Pepsi. Những người tham gia hoặc được cho uống Pepsi hoặc một nhãn hiệu cola của cửa hàng để đánh giá.

    Quảng cáo của Pepsi cổ vũ quan điểm là cuộc sống nên thú vị và tràn đầy niềm vui trong khi đó nhãn hiệu cola của cửa hàng không có bất kỳ thông điệp quảng cáo đặc biệt nào.

    Các kết quả cho thấy những ai cực kỳ đồng ý rằng cuộc sống nên tràn đầy niềm vui nghĩ nước cola họ được bảo là Pepsi có mùi vị ngon hơn. Nhưng thực sự họ chỉ uống nước cola nhãn hiệu của cửa hàng.

    Như vậy, không chỉ mùi vị thực sự ảnh hưởng những đánh giá của chúng ta mà còn có những niềm tin chúng ta có về thức ăn hoặc nước uống.

    15. Tôi đang ăn một ý tưởng

    Bạn đã từng ăn những món ăn kỳ lạ nào? Nhện chiên, một cái dương vật bò hoặc mắt cá ngừ?

    Theo một lý thuyết, chúng ta không chỉ ăn thức ăn, chúng ta còn ăn những ý tưởng.

    Ví dụ, người ta biết kem có vị thịt xông khói sẽ có mùi vị khác thường nhưng họ vẫn ăn. Họ muốn “sở hữu” kinh nghiệm.

    Nó cũng liên quan đến hình ảnh bản thân. Con người ta muốn xem bản thân, và được người khác xem bản thân họ là người thú vị đã chọn lựa những trải nghiệm đa dạng khác nhau cho bản thân họ.

    Rubi dịch
    Nguồn: Psy blog
     



Chia sẻ cùng bạn bè


Đang tải...